Files
tudien/dict/Tu-dien-Dao-Uyen.tab
T
2026-10-02 22:54:53 +08:00

3263 lines
2.6 MiB
Plaintext
Raw Blame History

This file contains invisible Unicode characters
This file contains invisible Unicode characters that are indistinguishable to humans but may be processed differently by a computer. If you think that this is intentional, you can safely ignore this warning. Use the Escape button to reveal them.
This file contains Unicode characters that might be confused with other characters. If you think that this is intentional, you can safely ignore this warning. Use the Escape button to reveal them.
A-chin-ta S: aciṅta, aciṅtapa; cũng gọi A-chin-ta-pa, với biệt danh là »Nhà tu hành mê của«;| Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, được xem là đệ tử của Kam-ba-la (s: kam­ba­la), sống trong cuối thế kỉ thứ 9.| Ông là một người đốn củi nghèo tại Ða-ni-ru-pa (s: dhanirupa), chỉ mong được giàu có. Bị ý nghĩ này hành hạ, ông trốn vào rừng sống độc cư và gặp Du-già sư (s: yogin) Kam-ba-la. Kam-ba-la hướng dẫn ông vào Saṃ-va-ra-tan-tra, dạy cho ông phép đối trị lòng tham muốn giàu sang:| Tham muốn là những gì?| Tham muốn là con trai,| của một người đàn bà| mất khả năng sinh sản.| Hãy giải thoát khỏi nó.| Quán thân là bầu trời,| lúc đó Thần giàu sang,| sẽ tự hiện trước mắt,| và ước nguyện thành tựu.| A-chin-ta quán tưởng đúng như lời Ðạo sư chỉ dạy. Tâm thức thèm khát của ông biến mất trong ánh sáng đầy tinh tú, tinh tú lại biến mất trong không gian rộng lớn nên tâm thức ông trống rỗng. Ông báo lại với thầy tâm mình đã trống, Kam-ba-la dạy tiếp: | Tự tính bầu trời ư?| Có vật gì không nào?| Ngươi còn thèm vật gì, | không màu sắc, hình tướng?| Còn gì để quán tưởng?| Khi A-chin-ta nghe câu nói này, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Thánh đạo ca (s: dohā) của ông như sau:| Trong Ðại ấn vô tướng,| vạn tư duy giả dối,| đã biến thành trống rỗng.| Mọi hiện tượng chỉ là,| tâm thức đang biến hiện,| thật tại ta chính là,| Ðại thủ ấn không khác.
A-đề Phật 阿 提 佛; S: ādibuddha; dịch nghĩa là Bản sơ Phật (本 初 佛), tức là vị Phật gốc, Phật cội nguồn. Xem thêm: Phổ Hiền.
A-đề-sa 阿 提 沙; S: atīśa, atiśa; A-đề-sa là cách đọc theo âm Hán Việt, dịch ý là »Người xuất chúng, xuất sắc«, cũng được gọi là Nhiên Ðăng Cát Tường Trí (燃 燈 吉 祥 智; s: dī­paṅ­­ka­raśrī­jñā­na);| Ðại sư người Ðông Ấn (982-1054), người đã đóng góp rất nhiều trong việc truyền Phật giáo sang Tây Tạng. Sư chuyên nghiên cứu các phương pháp phát triển Bồ-đề tâm (s: bo­dhi­­­citta). Là Tổ của dòng Ma-kiệt-đa (s: ma­ga­dha) và thuyết sư tại đại học Siêu Giới (s: vi­­kramaś­īla), Sư được mời qua Tây Tạng và sống ở đó 12 năm cuối đời mình. Sư là người sáng lập trường phái Cam-đan (t: ka­dam­pa), gây ảnh hưởng rất lớn cho nền Phật giáo Tây Tạng, nhất là dòng Cách-lỗ (t: ge­­lugpa) của Tông-khách-ba (t: tsong-kha-pa). Ðệ tử quan trọng nhất của Sư là Lạc-mẫu-đông (hoặc Ðông-đốn [t: drom­ton], 1003-1064). | Thế kỉ thứ 10 được xem là thời đại truyền pháp lần thứ hai từ Ấn Ðộ qua Tây Tạng, thông qua vương triều miền Tây. Ban đầu nhà vua cử sứ giả qua Ấn Ðộ thỉnh kinh, như dịch giả Lâm-thân Tang-pha (t: rinchen sangpo). Về sau nhà vua mời hẳn một Luận sư Ấn Ðộ và người đó là A-đề-sa. Năm 1042, Sư bước chân vào đất Tây Tạng, sống ở Netang và bắt đầu giáo hoá.| Trong tác phẩm Bồ-đề đạo đăng (s: bo­dhi­pa­tha­­pra­dīpa), Sư trình bày toàn cảnh giáo pháp Ðại thừa và chia hành giả theo ba căn cơ khác nhau: 1. Hạ sĩ: loại người mong được tái sinh nơi tốt lành, 2. Trung sĩ: loại người tu vì sự giác ngộ của chính mình (Tiểu thừa) và 3. Thượng sĩ: loại người tu vì sự Giác ngộ của tất cả chúng sinh (Bồ Tát). Công trình chính của A-đề-sa là xếp đặt thứ tự kinh sách, không phổ biến bừa bãi. Sư là người đưa Ða-la (s: tārā) trở thành một vị nữ Hộ Thần quan trọng trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng. Trong các trứ tác, Sư thống nhất hai trường phái chính của giáo pháp Bát-nhã ba-la-mật: quan điểm tính Không (s: śūnyatā) của Long Thụ (s: nāgārjuna) và tính bao trùm của tâm thức giác ngộ theo Vô Trước (s: a­saṅ­ga).
A-di-đà 阿 彌 陀; danh từ dịch âm từ chữ amita, dạng viết tắt của hai chữ Phạn (sanskrit) là Amitābha và A­mitāyus. Amitābha nghĩa là Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng, Amitāyus là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng; | Tên của một vị Phật quan trọng, được tôn thờ nhiều nhất trong Ðại thừa (s: ma­hā­yāna). A-di-đà là giáo chủ của cõi Cực lạc (s: su­khāvatī) ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Tịnh độ tông tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ.| | H 1: A-di-đà Phật| Trong Phật gia (s: buddhakula) thì Phật A-di-đà được tôn thờ sớm nhất trong lịch sử, vào khoảng thế kỉ thứ nhất sau Công nguyên. Thân hình của Ngài thường được vẽ bằng màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây. Tay của Ngài bắt Ấn thiền định, giữ Bát, dấu hiệu của một giáo chủ. Những trái cây trong bình bát tượng trưng cho trí huệ phong phú của Ngài. Tao sen tượng trưng cho sự thanh tịnh và hai con công là biểu hiện của sự thoát hiểm, thoát khổ. Tại Ấn Ðộ và Tây Tạng, người ta tin rằng con công có thể ăn tất cả những chất độc mà không bị ảnh hưởng gì.| Phật A-di-đà cũng thường được trình bày với hình tượng mang vương miện kết bằng ngọc quý, có khi dưới dạng của Pháp Tạng tỉ-khâu, đầu cạo trọc, một dạng tiền kiếp của Ngài. Thông thường, A-di-đà được vẽ ngồi trên toà sen, tay Ngài bắt ấn thiền hay ấn giáo hoá. Cùng được thờ chung với A-di-đà là hai vị Ðại Bồ Tát, đó là Quán Thế Âm (s: avaloki­te­śva­ra), đứng bên trái và Ðại Thế Chí (s: ma­hā­sthā­ma­prāpta), đứng bên mặt của Ngài. Có khi người ta trình bày Ngài đứng chung với Phật Dược Sư (s: bhai­­ṣajyaguru-­bud­dha). Tương truyền rằng A-di-đà từng là một nhà vua. Sau khi phát tâm mộ đạo, Ngài từ bỏ ngôi báu và trở thành một tỉ-khâu với tên Pháp Tạng (s: dhar­mā­kara). Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và nguyện giúp chúng sinh sống trong cõi Cực lạc của mình cũng sẽ thành Phật. Ngài lập 48 đại nguyện nhằm giúp chúng sinh giải thoát. Các lời nguyện quan trọng nhất là:| (18) »Sau khi ta đạt chính quả, chúng sinh trong khắp mười phương thế giới chỉ cần nghe đến tên ta là đã khởi niệm cầu đạt quả vô thượng. Lúc họ chết mà nhớ nghĩ đến ta, ta sẽ hiện đến cùng quyến thuộc xung quanh để giúp họ khỏi sợ hãi. Nếu không được như thế thì ta quyết không thành Phật«; (19) »Sau khi ta đạt chính quả, chúng sinh trong vô số thế giới chỉ cần nghe đến tên ta, muốn thác sinh trong Tịnh độ của ta để trau dồi thiện nghiệp thì họ phải được toại nguyện. Nếu không được như thế thì ta quyết không thành Phật.« Nhờ phúc đức tu học, cuối cùng Pháp Tạng trở thành Phật A-di-đà, giáo chủ cõi Cực lạc.| Trong lịch sử đạo Phật, việc tôn xưng A-di-đà là một mốc phát triển quan trọng. Phép niệm A-di-đà là một cách tu dưỡng mới của Phật tử, không phải trải qua vô số kiếp. Ðây là cách tu dưỡng dựa vào Tha lực, dựa vào đại nguyện của một vị Phật – một phép tu »nhanh chóng, dễ dàng« hơn chứ không phải dựa vào tự lực của chính mình. Ðó là phép tu nhất tâm niệm danh hiệu »Nam-mô A-di-đà Phật« lúc lâm chung để được sinh vào cõi của Ngài.
A-di-đà kinh 阿 彌 陀 經; S: amitābha-sūtra; chính là bản ngắn của Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh.| Một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của tông Tịnh độ, lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Nhật và Việt Nam. Kinh này trình bày phương pháp nhất tâm niệm danh hiệu A-di-đà và sẽ được Ngài tiếp độ về cõi Cực lạc lúc lâm chung (Niệm Phật). Ngày nay, nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) của kinh này đã thất lạc, người ta chỉ còn tìm thấy những bản chữ Hán của hai dịch giả lừng danh là Cưu-ma-la-thập và Huyền Trang.
A-dục 阿 育; S: aśoka; P: asoka; cũng gọi là A-du-ca, dịch nghĩa là Vô Ưu, không ưu sầu, lo nghĩ;| Tên của một vị vua xứ Maurya miền Bắc Ấn Ðộ, trị vì từ năm 272 đến 236 trước Công nguyên, mất năm 231. Trong lịch sử Ấn Ðộ, ông đã để lại nhiều dấu tích quan trọng. Sau một cuộc viễn chinh đẫm máu năm 260 ông có dịp được nghe Phật pháp và tỉnh ngộ, quyết định thành lập một »Vương quốc phụng sự Phật pháp.« Ông đích thân đi khắp các miền trong nước để bảo vệ luật lệ và chính pháp. Ông cũng là người cổ vũ việc ăn chay và chống tệ nạn giết thú vật cúng tế. Trong thời A-dục vương, đạo Phật phát triển mạnh ở Tích Lan. Người con trai của A-dục vương là Ma-hi-đà (mahinda) cũng góp phần rất nhiều trong việc truyền bá đạo Phật.| Tài liệu về A-dục rất nhiều sai khác. Theo tài liệu từ văn hệ Pā-li thì ông là một quốc vương chỉ phụng sự cho đạo Phật. Theo một số tài liệu của giới khảo cổ, nhất là tư liệu khắc trên đá do chính A-dục cho ghi lại thì ông cũng ủng hộ rất mạnh các giáo phái khác, đúng như trách nhiệm của một nhà vua. Các tư liệu khắc trên đá hay dùng chữ »Pháp« (s: dharma). Người ta thấy rằng Pháp nói ở đây không chỉ phải là Phật pháp mà là một hệ thống luân lí do nhiều trào lưu tôn giáo thời đó tổng hợp lại. Quan điểm của A-dục vương là làm sao thần dân có một cuộc đời hạnh phúc; trong đó gồm sự tự do, lòng từ bi, tránh chém giết, biết tuân lời, tôn trọng sự thật, hướng nội… | Dưới thời A-dục vương có một sự can thiệp của triều đình vào Tăng-già khi Tăng-già đứng trước nạn chia rẽ. Lần đó, một số tỉ-khâu bị loại ra khỏi giáo hội, buộc phải hoàn tục.
A-hàm 阿 含; S: āgama; A-hàm là dịch theo âm Hán Việt, dịch nghĩa là Pháp quy, Vô tỉ pháp, tức là cái »gốc của giáo pháp«;| Tên đặt cho các bộ kinh căn bản của Phật giáo viết bằng văn hệ chữ Phạn (sanskrit), nội dung giống các Bộ kinh (p: ni­kā­ya) thuộc văn hệ Pā-li. Có bốn bộ A-hàm: 1. Trường a-hàm (s: dīr­ghāgama) gồm 30 bản kinh; 2. Trung a-hàm (s: mā­dh­­yamā­gama), tập trung về các vấn đề siêu nhiên; 3. Tạp a-hàm (s: saṃyuk­tāga­ma), với nhiều đề tài khác nhau như quán tưởng và thiền định; 4. Tăng nhất a-hàm (s: ekottarikāgama).| A-hàm tập hợp các giáo lí cơ bản của Tiểu thừa mà đức Phật đã từng thuyết giảng như Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Mười hai nhân duyên, Nghiệp… Các Bộ kinh thuộc văn hệ Pā-li của Tiểu thừa phần lớn đều trùng hợp với A-hàm, nhưng Bộ kinh thì có thêm phần thứ năm là Tiểu bộ kinh (p: khud­daka-nikāya).
A-jan-ta S: ajaṇṭā; Hán Việt: A-chiên-đà;| Một thành phố phía Tây Ấn Ðộ, nổi tiếng với những hang động có di tích đạo Phật. Cố đô này được kiến tạo giữa năm 200 và 700 sau Công nguyên. Người ta tìm thấy tổng cộng 29 động, dài trên 5,6 km với các bức tranh vẽ trên tường, được xem là còn nguyên vẹn nhất trên thế giới. Ðây là di tích quý báu nhất của Ấn Ðộ về nghệ thuật hội hoạ Phật giáo, cho phép người ta tìm hiểu sự phát triển của nền nghệ thuật này suốt gần một thế kỉ.| Các bức tranh trên tường diễn tả lại cuộc đời của Phật Thích-ca Cồ-đàm như kinh sách truyền lại: Thái tử Tất-đạt-đa ra bốn cửa thành; hành động mê hoặc của Ma vương; lúc Ngài sắp thành đạo, nhập Niết-bàn… Một số tranh khác diễn tả các tiền kiếp của Ngài. Qua các bức tranh, người ta có thể biết thêm về cuộc sống Ấn Ðộ trong thời gian đầu Công nguyên. Ðặc biệt trong bốn hang động, người ta còn tìm thấy các dạng Tháp (s: stūpa) thời đó.
A-jô-gi S: ajogi, āyogipāda, với biệt danh là »Kẻ vô dụng bị hất hủi.«|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, sống ở Hoa Thị thành (s: pāṭa¬lipu¬tra). |Ông là người lười biếng vô cùng, chỉ biết ăn ngủ đến nỗi người mập phệ. Ông không làm được việc gì, hoàn toàn vô tích sự, đến mức cha mẹ cho ra ở trên bãi thiêu xác. Một Du-già sư (s: yogin) đi ngang, chỉ ông phép quán tưởng như sau: »Hãy tưởng tượng một chấm tròn, không lớn hơn một hạt cải, chấm đó nằm trên đầu mũi ngươi, trên cửa hơi thở ra vào của ngươi, và quán tưởng trong hạt cải đó một trăm triệu thế giới.« |A-jô-gi nghe lời và sau chín năm thiền định tinh cần, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Phép quán tưởng mà ông tu học chính là phép quán tính Không, để cho tư tưởng hoà tan trong Không. Ðối tượng quán sát này cũng làm ta nhớ lời Phật, đại ý »trên đầu ngọn cỏ là cả một thế giới.«|Chứng đạo ca của A-jô-gi như sau:|Theo lời dạy của thầy,|quán trên mũi điểm Không.|Khi tâm đọng trên điểm,|thì thế gian tan biến.
A-la-hán 阿 羅 漢; S: arhat; P: arahat, arahant; T: dgra com pa; dịch nghĩa là Sát Tặc (殺 賊), là diệt hết bọn giặc phiền não, ô nhiễm; Ứng Cung (應 供), là người đáng được cúng dường; Bất Sinh (不 生) hoặc Vô Sinh (無 生), là người đã đạt Niết-bàn, đoạn diệt sinh tử.|A-la-hán là danh từ chỉ một Thánh nhân, người đã đạt cấp »vô học« của Thánh đạo (s: āryamārga; p: ariyamagga), không bị ô nhiễm (s: āśrava; p: āsava) và Phiền não (s: kleśa; p: kilesa) chi phối. Thánh quả A-la-hán có khi được gọi là Hữu dư niết-bàn (s: sopadhiśeṣanirvāṇa; p: savupadisesanibbāna).|A-la-hán là hiện thân của sự Giác ngộ trong thời Phật giáo nguyên thuỷ. Khác với hình ảnh của Bồ Tát, hiện thân của Phật giáo Ðại thừa của thời hậu thế với mục đích Giải thoát mọi chúng sinh, A-la-hán tu tập nhằm giải thoát riêng mình. A-la-hán là các vị đã giải thoát 10 Trói buộc thế gian như: Ngã kiến, Nghi ngờ, chấp đắm giới luật, tham, sân hận, sắc tham, vô sắc tham, kiêu mạn, hồi hộp không yên (trạo), Vô minh. A-la-hán được xem là người đã từ bỏ ô nhiễm, bỏ các gánh nặng, đã đạt mục đích và tâm thức đã được giải thoát.
A-lại-da thức 阿 賴 耶 識; S: ālayavijñāna; dịch nghĩa là Tạng thức (藏).|Khái niệm quan trọng của Duy thức tông (s: vijñānavāda), một trong hai nhánh chính của Phật giáo Ðại thừa (s: ma-hāyāna). Trong trường phái này, A-lại-da thức được xem là thức căn bản của mọi hiện tượng. Thức này chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần.|Khái niệm A-lại-da thức là cơ sở của Duy thức tông, qua đó người ta giải thích sự hiện hữu của »con người«, của »cá nhân«. Theo đó, các Chủng tử (s: bīja) của Nghiệp (s: karma; p: kamma) được chứa đựng trong A-lại-da thức và đợi nhân duyên đầy đủ sẽ hiện thành tư tưởng. Các tư tưởng có tính riêng tư đó tác động trong mối liên hệ với Vô minh (s: avidyā) và Ngã (s: ātman) chấp làm cho mỗi người tưởng rằng có một con người đứng sau mọi hành động của mình. Tư tưởng đó lại gây tiếp các chủng tử của nghiệp, và nghiệp lại tiếp tục tạo tác. Vòng lẩn quẩn này chỉ được đối trị bằng quan điểm cho rằng, không hề có một thế giới độc lập ngoài Tâm. Theo đó thế giới chỉ là phản ánh của A-lại-da thức, con người chỉ thấy bóng dáng của chính tâm thức nó. A-lại-da thức thường được xem như là »sự thật cuối cùng«, có khi được gọi là Chân như (s: tathatā). Theo một quan điểm Phật giáo khác thì A-lại-da thức chỉ là nơi tập hợp của mọi nghiệp xưa cũ (Pháp tướng tông).
A-ma-ra-va-ti S: amāravatī; Hán Việt: A-ma-la-bà-đề 阿 摩 羅 婆 提;|Thành phố miền Nam Ấn Ðộ, là một trung tâm nghệ thuật Phật giáo quan trọng ở thế kỉ 2-3. Những di tích ở đây phản ánh lại thời gian đầu của Ðại thừa Phật pháp. Sự nối tiếp giữa nghệ thuật thời Phật giáo nguyên thuỷ và nghệ thuật vùng Càn-đà-la (s: gandhāra) đã gây ảnh hưởng lớn cho nền văn hoá nghệ thuật ở những vùng Nam á, nhất là ở Thái Lan, Nam Dương (indonesia) và Tích Lan (śrī laṅkā).|Di tích nghệ thuật quan trọng nhất của vùng này là một Bảo Tháp (s: stūpa) nằm ở phía Ðông, theo truyền thuyết có chứa đựng Xá-lị của đức Phật lịch sử. Việc phát hiện một trụ đá với những lời viết của vua A-dục (s: aśoka) chứng tỏ rằng, ông chính là người thúc đẩy việc xây dựng Bảo tháp này. A-ma-ra-va-ti cũng là trung tâm của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika). Các người hành hương mộ đạo từ mọi nơi – ngay cả Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) – đều đến chiêm bái trung tâm Phật học này. Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang thuật lại rằng, trong thời hưng thịnh, hơn 20 tu viện tầm cỡ được kiến lập tại đây.
A-na Bồ-đề 阿 那 菩 提; S: ānabodhi;|Tổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Ðộ, là Mã Minh (aśvaghoṣa).
A-na-ha-na J: anahana; S: ānāpāna;|Cách đọc tiếng Nhật của chữ Phạn ānāpāna, nói về sự kiểm soát hơi thở trong Du-già Ấn Ðộ. Ngược với Du-già Ấn Ðộ, trong Thiền tông người ta không kiểm soát hay điều hoà hơi thở, A-na-ha-na có mục đích để cho hơi thở ở trong dạng tự nhiên nhất của nó. Trong phép Toạ thiền (j: zazen), hơi thở đóng một vai trò quan trọng, nhưng hành giả chỉ ý thức và tỉnh giác về nó, chứ không hề tìm cách điều khiển theo ý mình.|Nếu Du-già Ấn Ðộ cho rằng sự kiểm soát hơi thở kéo theo một tâm thức sâu lắng thì Thiền tông cho rằng sự tỉnh giác tâm ý sẽ đưa hơi thở trở về trạng thái tự nhiên và cho rằng sự cố ý kiểm soát hơi thở chỉ gây thêm căng thẳng nội tâm và chỉ làm hành giả mất tỉnh giác. Vì vậy, hành giả Thiền tông thường chỉ học phép đếm hơi thở và không áp dụng thêm các thuật khác của Du-già (An-ban thủ ý).
A-na-hàm 阿 那 含; S, P: anāgāmin; dịch ý là Bất hoàn;|Bất hoàn.
A-na-luật 1. 阿 那 律; S, P: aniruddha; gọi đủ là A-na Luật-đà, dịch nghĩa là Như Ý, Vô Tham;|Em họ và một trong Mười đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni. Trong mười đại đệ tử của đức Phật, mỗi vị đều có một thứ bậc cao nhất và A-na-luật là Thiên nhãn đệ nhất.|2. 阿 那 律; S, P: anuruddha;|Một Luận sư của Thượng toạ bộ (p: the-ravāda), sống giữa thế kỉ thứ 8 và 12, là người biên soạn tác phẩm danh tiếng A-tì-đạt-ma giáo nghĩa cương yếu (阿 毘 達 摩 教 義 綱 要; p: abhidhammatthasaṅgaha), luận giải toàn bộ giáo pháp của phái này. Trong nhiều điểm, quan niệm của Sư rất giống với Thanh tịnh đạo (p: visuddhimagga) của Phật Âm (s: buddhaghoṣa; p: buddhaghosa) nhưng cách trình bày ngắn hơn, khó hiểu hơn. Trong bộ luận này, Sư chú trọng nhiều đến những khía cạnh tâm lí của Phật pháp.|Người ta cũng xem Sư là tác giả của hai bộ luận khác là Nāmarūpapariccheda (»Danh và sắc, hai yếu tố tạo một cá nhân«) và Paramatthavinicchaya (»Lượng định về đệ nhất nghĩa«).
A-nan-đà 阿 難 陀; S, P: ānanda; cũng gọi ngắn là A-nan, dịch nghĩa là Khánh Hỉ (慶 喜), Hoan Hỉ (歡 喜);|1. Một trong Mười đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni. Cùng họ với Phật, A-nan-đà gia nhập giáo hội hai năm sau ngày thành lập, trở thành người hầu cận của Ðức Phật. Tôn giả nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy. Tôn giả là người xây dựng cơ bản giáo pháp trong lần kết tập thứ nhất và được xem là Nhị tổ của Thiền tông Ấn Ðộ.|Theo kinh sách, A-nan-đà được xem là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật. Tôn giả chỉ chấp nhận làm người hầu cận cho Phật khi được Phật hứa rằng, không vì thế mà được quan tâm hơn các vị khác. A-nan-đà cũng chính là người khám phá và trừ bỏ âm mưu giết Phật của Ðề-bà Ðạt-đa. Hơn ai hết, A-nan-đà bênh vực cho việc nữ giới được học hỏi giáo pháp. Nhờ sự can thiệp của Tôn giả mà Phật chấp nhận thành lập ni đoàn. Chính vì điều này mà trong lần Kết tập thứ nhất, A-nan-đà bị Tăng-già chê trách. Tương truyền rằng, sau khi Phật nhập Niết-bàn, A-nan-đà mới giác ngộ, đắc quả A-la-hán trong đêm trước lần kết tập thứ nhất.|2. Nếu định nghĩa theo Ấn Ðộ giáo (e: hindu-ism) thì A-nan-đà không phải là tâm trạng khánh hỉ được tạo ra bởi một đối tượng mà hơn nữa, nó là một niềm vui của một trạng thái nằm trên mọi tư duy nhị nguyên, những cặp đối đãi. Hệ thống triết lí Vê-đan-ta (s: vedānta) quan niệm rằng, một tâm thức thoát khỏi suy nghĩ – nghĩa là tâm thức không còn vướng mắc những khái niệm như sinh, tử, khổ não, nói chung là mọi tư duy – chính là A-nan-đà, sự an vui thuần tuý. Khi mô tả, diễn giải những danh từ rất trừu tượng như »Brahman«, hệ thống Vê-đan-ta sử dụng thành ngữ »Sat-Cit-Ānanda«, nghĩa là »Chân lí – Nhận thức tuyệt đối – A-nan-đà« và A-na-đà ở đây là sự an vui tuyệt đối, vô lượng mà hành giả chỉ có thể cảm nhận được trong lúc nhập Ðịnh (s: samādhi). Trong các dòng tu theo truyền thống của Ðại sư Shan-ka-ra (s: śaṅkara) thì A-nan-đà là chữ cuối của nhiều danh hiệu, ví dụ như Vi-ve-ka-a-nan-đà (s: vivekānanda).
A-nan-ga-pa S: anaṅgapa, với biệt danh là »Kẻ cuồng bảnh trai«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống giữa thế kỉ thứ 9, sống tại Gau-đa (s: gauḍa).|Nhờ nghiệp nhẫn nhục đời trước, ông là người rất bảnh trai và rất hãnh diện với vẻ đẹp của mình. Ngày nọ có một Du-già sư khất thực đi qua, ông cho mời vào nhà tiếp đãi nồng hậu. Hỏi ý kiến vị này về cuộc đời hai người, ông nghe vị này phê bình mình là kẻ dại dột kiêu hãnh về những điều không thật, không sáng tạo. Trong lúc đó vị Du-già sư là người tu tập Phật pháp, có đầy đủ khả năng, kể cả khả năng đạt những hảo tướng của một vị Phật. Ông cầu khẩn xin học và sẵn sàng ngồi yên thiền định. Vị này truyền cho ông bí mật của Cha-kra sam-va-ra tan-tra và thuyết giảng cho ông về các trí nằm trong sáu giác quan:|Mọi hiện tượng muôn vẻ,|chẳng là gì khác hơn,|Tự tính của tâm thức.|Hãy để yên đối tượng,|của cả sáu giác quan,|và an trú trong niệm,|tự tại không dính mắc.|A-nan-ga-pa thực hành Nghi quỹ (s: sādhana) như được dạy và chỉ sáu tháng sau, ông đạt thánh quả. Bài kệ ngộ đạo của ông như sau:|Sinh tử như giấc mộng,|không có gì thật chất.|Thân thể như cầu vồng,|nhiễm độc Tham Sân Si|Vì thế ham bám giữ,|thấy ảo ảnh, tưởng thật.|Hãy thoát vòng vướng mắc,|như giấc mơ độc địa,|Sinh tử thoắt biến thành,|Pháp thân thường thường trụ.
A-nu-ra-đa-pu-ra S, P: anurādhapura; Hán Việt: A-nô-la-đà;|Ðến thế kỉ thứ 10 là thủ đô của Tích Lan. Ðây cũng là trung tâm của Phật giáo với hai chùa danh tiếng là Ðại tự (p: mahāvihāra) và Vô Uý Sơn tự (p: abhayagiri-vihāra). Trong lúc truyền bá Phật pháp sang Tích Lan, con trai của A-dục vương (s: aśoka) là Ma-hi-đà (s, p: mahinda) có kế hoạch xây dựng một đạo trường tại đây. Ðạo trường này chính là Ðại tự, một trung tâm văn hoá, giáo dục quan trọng của Thượng toạ bộ (p: thera-vāda). Về mặt giáo lí thì trường phái chùa Vô Uý Sơn nghiêng về Ðại thừa Phật pháp. Khi Tích Lan dời thủ đô, thành phố A-nu-ra-đa-pu-ra đã rơi vào quên lãng. Những di tích lịch sử Phật giáo quan trọng ở đây cũng mới được nghiên cứu từ thế kỉ 19 đến nay.|Nơi đây, người ta có thể chiêm ngưỡng hai Bảo tháp vĩ đại là Kim Phấn (ruwanweli) và Tháp Viên (p: thūparāma). Hai Tháp này đã được xây dựng trước Công nguyên, tượng trưng cho dạng Bảo tháp nguyên thuỷ nhất trong lịch sử Phật giáo. Tương truyền cây con của cây Bồ-đề, nơi thái tử Tất-đạt-đa đắc đạo thành Phật, đã được mang đến đây trồng.
A-súc Phật 阿 閦 佛; S: akṣobhya, là tên dịch âm Hán Việt, dịch nghĩa là Bất Ðộng Phật 不 動 佛.|Bất Ðộng Phật.
A-tì-đạt-ma 阿 毗 達 磨; S: abhidharma; P: abhidhamma; T: chos mngon pa; cũng được gọi là A-tì-đàm (阿 毗 曇). Dịch nghĩa là Luận tạng, Thắng pháp tập yếu luận, có nghĩa là Thắng pháp (勝 法) hoặc là Vô tỉ pháp (無 比 法), vì nó vượt (abhi) trên các Pháp (dharma), giải thích Trí huệ;|Tên của tạng thứ ba trong Tam tạng. Tạng này chứa đựng các bài giảng của đức Phật và các đệ tử với các bài phân tích về Tâm và hiện tượng của tâm. A-tì-đạt-ma là gốc của Tiểu thừa lẫn Ðại thừa, xem như được thành hình giữa thế kỉ thứ 3 trước và thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Lần kết tập cuối cùng của A-tì-đạt-ma là khoảng giữa năm 400 và 450 sau Công nguyên. Có nhiều dạng A-tì-đạt-ma như dạng của Thượng toạ bộ (p: theravāda), của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvās-tivāda)… A-tì-đạt-ma là gốc của mọi trường phái và người ta dùng nó để luận giảng các bài Kinh (s: sūtra; p: sutta). |A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ được Phật Âm (佛 音; s: buddhaghoṣa) hoàn chỉnh, được viết bằng văn hệ Pā-li và bao gồm bảy bộ: 1. Pháp tập luận (法 集 論; p: dhammasaṅgaṇi): nói về các tâm pháp, sắp xếp theo từng cách thiền định khác nhau và các pháp bên ngoài, xắp xếp theo nhóm; 2. Phân biệt luận (分 別 論; p: vibhaṅga): nêu và giảng nghĩa, phân biệt những thuật ngữ như Ngũ uẩn (五 蘊; p: pañcakhandha), Xứ (處; s, p: āyatana), Căn (根; s, p: indriya) v.v.; 3. Luận sự (論 事; p: kathāvatthu): nêu 219 quan điểm được tranh luận nhiều nhất và đóng góp nhiều cho nền triết lí Phật giáo; 4. Nhân thi thiết luận (人 施 設 論; p: puggalapaññati): nói về các hạng người và Thánh nhân; 5. Giới thuyết luận (界 說 論; p: dhātukathā): nói về các Giới (界; s, p: dhātu); 6. Song luận (雙 論; p: yamaka): luận về các câu hỏi bằng hai cách, phủ định và xác định; 7. Phát thú luận (發 趣 論; paṭṭhāna hoặc mahāprakaraṇa): nói về những mối liên hệ giữa các Pháp (p: dhamma).|Trong Nhất thiết hữu bộ, A-tì-đạt-ma được viết bằng Phạn ngữ (sanskrit) và Thế Thân (世 親; s: vasubandhu) là người tổng hợp. A-tì-đạt-ma này cũng bao gồm bảy bộ khác nhau, cụ thể là: 1. Tập dị môn túc luận (集 異 門 足 論; s: saṅgītipar-yāya): bao gồm những bài giảng theo hệ thống số, tương tự như Tăng-nhất bộ kinh; 2. Pháp uẩn túc luận (法 蘊 足 論; s: dharmaskandha): gần giống như Phân biệt luận trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ; 3. Thi thiết túc luận (施 設 足 論; s: pra-jñaptiśāstra): trình bày dưới dạng Kệ những bằng chứng cho những sự việc siêu nhiên, thần bí; 4. Thức thân túc luận (識 身 足 論; s: vijñānakāya): nói về các vấn đề nhận thức. Có vài chương nói về những điểm tranh luận giống Luận sự (kathāvat-thu), Giới luận (dhātukathā) và Phát thú luận (paṭṭhāna) trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ; 5. Giới thân túc luận (界 身 足 論; s: dhātukāya): gần giống Giới thuyết luận (p: dhātukathā) của Thượng toạ bộ; 6. Phẩm loại túc luận (品 類 足 論; s: prakaraṇa): bao gồm cách xác định những thành phần được giảng dạy và sự phân loại của chúng; 7. Phát trí luận (發 智 論; s: jñānaprasthāna): xử lí những khía cạnh tâm lí của Phật pháp như Tuỳ miên (隨 眠; s: anuśaya), Trí (智; jñāna), Thiền (禪; s: dhyāna) v.v… (xem thêm Tâm sở).
A-tì-đạt-ma câu-xá luận 阿 毗 達 磨 俱 舍 論; S: abhidharmakośa-śā-stra, thường được gọi tắt là Câu-xá luận, nghĩa là »Báu vật của A-tì-đạt-ma«, Thông minh luận (通 明 論); |Bộ luận quan trọng nhất của Nhất thiết hữu bộ, được Thế Thân (s: vasubandhu) soạn vào thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên tại Kashmir. Luận gồm có hai phần: sưu tập khoảng 600 kệ A-tì-đạt-ma câu-xá luận bản tụng (s: abhidharmakośa-kārikā) và A-tì-đạt-ma câu-xá luận thích (abhidharmakośa-bhāṣya), bình giải về những câu kệ đó. Ngày nay người ta còn giữ bản tiếng Hán và tiếng Tây Tạng của luận này, đó là những tác phẩm đầy đủ nhất để trả lời các câu hỏi về kinh điển.|A-tì-đạt-ma câu-xá luận phản ánh sự tiếp nối của giáo lí từ Tiểu thừa đến Ðại thừa và cũng là tác phẩm nền tảng của các tông phái Phật giáo Trung Quốc, đóng góp phần chính trong việc truyền bá và phát triển đạo Phật nơi này. Có 9 điểm được phân tích và xử lí trong luận: 1. Giới phẩm (界 品; s: dhātunirdeśa): nói về cái thể của các Giới (pháp); 2. Căn phẩm (根 品; s: indriyanirdeśa): nói về cái dụng của chư pháp; Hai phẩm trên nói về thể và dụng chung cho Hữu lậu (有 漏; s: sāśrava, tức là còn bị Ô nhiễm) và Vô lậu (無 漏; s: anāśrava, không bị ô nhiễm); 3. Thế gian phẩm (世 間 品; s: lokanirdeśa): nói về các thế giới, Lục đạo, Ba thế giới; 4. Nghiệp phẩm (業 品; s: karmanirdeśa); 5. Tuỳ miên phẩm (隨 眠 品; s: anuśayanirdeśa); Các điểm 3., 4. và 5. nói về Hữu lậu, trong đó 3. là Quả (果; kết quả), 4. là Nhân (因) và 5. là Duyên (緣); 6. Hiền thánh phẩm (賢 聖 品; s: pudgalamārga-nirdeśa); 7. Trí phẩm (智 品; s: jñānanirdeśa): nói về mười loại trí; 8. Ðịnh phẩm (定 品; s: samādhi-nirdeśa); Các điểm 6., 7. và 8. nói về Vô lậu, trong đó 6. là Quả, 7. là Nhân và 8. là Duyên; 9. Phá ngã phẩm (破 我 品; s: pudgalaviniścaya): nói về lí Vô ngã (s: anātman), phá tà, chống lại thuyết của Ðộc Tử bộ. Phẩm này là một phẩm độc lập và cũng là phẩm cuối của bộ luận.
A-tì-đạt-ma đại tì-bà-sa luận 阿 毗 達 磨 大 毗 婆 沙 論; S: abhidharma-ma-hāvibhāṣā; cũng được gọi là Ðại tì-bà-sa luận hoặc Tì-bà-sa luận.|Một bài luận do 500 vị A-la-hán biên soạn trong một cuộc hội họp do vua Ca-nị-sắc-ca (s: kaniṣka) ở nước Càn-đà-la (s: gandhāra) đề xướng. Luận này giảng giải Phát trí luận (s: jñānaprasthāna-śāstra) của Già-đa-diễn-ni tử (s: kātyāyanīputra), được Huyền Trang dịch sang Hán ngữ.
A-tu-la 阿 修 羅; S: āsura; dịch nghĩa là Thần (神), Phi Thiên (非 天), là hạng Thiên nhưng không có hình thể đoan chính;|Một trong sáu nẻo tái sinh (Lục đạo), khi thì được xem là hạnh phúc hơn người, khi bị xem là đau khổ hơn (Ðọa xứ). Loại A-tu-la »hạnh phúc« là các loài chư thiên cấp thấp, sống trên núi Tu-di (s: meru) hoặc trong các »lâu đài trong hư không«. Loại A-tu-la »đau khổ« là loài chống lại chư Thiên (s, p: deva). Trong Kinh sách của nhiều trường phái Tiểu thừa (s: hīnayāna) có lúc thiếu hẳn phần nói về loài này.
A-xà-lê 阿 闍 梨; S: ācārya; P: ācāriya; T: lobpon [slob-dpon]; J: ajari; dịch nghĩa là Giáo thụ (教 授) – thầy dạy đạo, ở đây đạo là pháp, là Quỹ phạm (軌 範) – thầy có đủ nghi quỹ, phép tắc hay Chính hạnh (政 行) – thầy dạy và sửa những hành vi của đệ tử;|Một trong hai vị thầy của một Sa-di hoặc Tỉ-khâu. Vị thứ hai là Hoà thượng (s: upādh-yāya). Ai mới nhập Tăng-già đều tự chọn hai vị nói trên làm thầy trực tiếp chỉ dạy.|Trong thời gian đầu, A-xà-lê được hiểu là một vị chỉ chuyên dạy về lí thuyết Phật pháp, trả lời tất cả những thắc mắc, câu hỏi về nó, như vậy có thể hiểu là một Pháp sư và vị Hoà thượng chuyên lo dạy về Giới luật và nghi lễ. Trong Phật giáo nguyên thuỷ, chức vị Hoà thượng được coi trọng hơn nhưng sau đó (sau thế kỉ thứ 5), chức vị A-xà-lê lại được đặt cao hơn Hoà thượng. A-xà-lê được dùng để chỉ những vị Cao tăng phát triển những tư tưởng mầm mống trong Phật giáo, viết những Luận giải (s: śāstra) quan trọng. Các Ðại sư Ấn Ðộ đều mang danh hiệu này trước tên chính của họ, ví dụ như A-xà-lê Long Thụ (s: ācārya nāgārjuna), A-xà-lê Thánh Thiên (ācārya āryadeva), A-xà-lê Vô Trước (ācārya asaṅga) vv…|A-xà-lê khác với một Ðạo sư ở một điểm, đó là các vị tu tập trong khuôn khổ của một tu viện, Thụ giới đầy đủ và dựa trên kinh điển giảng dạy. Danh từ Ðạo sư thì bao trùm hơn (dựa theo nguyên ngữ Phạn guru), vị này có thể, nhưng không nhất thiết phải giảng dạy trong một Chùa hoặc thiền viện và đặc biệt trong các hệ thống Tan-tra của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), danh từ Ðạo sư dùng để chỉ những người có đầy đủ các Phương tiện giáo hoá chúng sinh, hướng dẫn khác thường, tuỳ cơ ứng biến, không cứ gì phải tu học từ trong kinh sách.|Trong Thiền tông, danh từ A-xà-lê, hoặc gọi tắt là Xà-lê được dùng chỉ chung các vị tăng, tương tự như danh từ Lạt-ma tại Tây Tạng. Tại Nhật, danh xưng này chuyên chỉ các vị cao tăng của các tông Thiên Thai và Chân ngôn.
A-xà-thế 阿 闍 世; S: ajātaśatru; P: ajātasattu;|Vua xứ Ma-kiệt-đà (magadha), người trị vì trong 8 năm cuối cùng tại thế của Phật Thích-ca Mâu-ni và 24 năm kế tiếp (khoảng từ 494-462 trước Công nguyên). Ông là người giết vua cha Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra) và cùng Ðề-bà Ðạt-đa (s, p: deva-datta) định ám hại đức Phật, nhưng không thành. Cuối cùng ông tỉnh ngộ theo Phật và phụng sự đạo Phật.|A-xà-thế có nghĩa là »Vị sinh oán« (未 生 怨) – với ý kết oán trước khi sinh – là kẻ được tiên đoán sẽ giết cha. A-xà-thế muốn đoạt quyền cha quá sớm, cùng với Ðề-bà Ðạt-đa đạt đa âm mưu vừa giết Phật vừa giết vua cha. Âm mưu này bại lộ, vua cha tha tội cho con và giao ngai vàng. A-xà-thế vẫn không yên tâm vì cha còn sống, hạ ngục và bỏ đói cả cha lẫn mẹ. Về sau A-xà-thế hỏi ý kiến đức Phật có nên xâm chiếm nước Bạt-kì (p: vajjī) vốn là một nước dân chủ. Ðức Phật cho biết Bạt-kì không bao giờ thua vì dân nước đó rất đoàn kết. Từ đó A-xà-thế coi trọng dân chủ, coi trọng Tăng-già và nhân đây được tỉnh ngộ. Sau khi đức Phật nhập Niết-bàn, A-xà-thế lập một Tháp thờ Xá-lị của Phật. Ông cũng là người xây dựng một thuyết đường lớn trong lần Kết tập thứ nhất.
Ác bình đẳng 惡 平 等; J: akubyōdō;|Nghĩa là bình đẳng sai lầm, bất thiện; ác bình đẳng được dùng để chỉ sự hiểu sai về bình đẳng quan, cho rằng tất cả là một, là như nhau. Theo Thiền tông thì bình đẳng quan, sự chứng ngộ được sự bình đẳng của vạn vật là một cấp bậc tu chứng – nhưng nó cũng chỉ là một trong nhiều cấp bậc. Hành giả phải vượt qua nó để đạt được kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu hơn. Ai dừng bước tại đây vì quá ngỡ ngàng trước sự bình đẳng của vạn vật, mà quên đi cái dị biệt của chúng thì đó chính là ác bình đẳng.
Ai 哀; C: āi; J: ai;|Có các nghĩa sau: 1. Có thiện cảm, thương xót, thương tiếc, xót xa. Than ôi! 2. Nỗi đau buồn, sự buồn phiền, điều bất hạnh, lòng trắc ẩn; 3. Yêu quý, tha thiết.
Ái 愛; S: tṛṣṇā; P: taṇhā; nghĩa là »ham muốn«, »sự thèm khát«;|Khái niệm quan trọng của đạo Phật. Ái chỉ mọi ham muốn xuất phát từ sự tiếp xúc của giác quan với đối tượng của giác quan đó. Cần hiểu rằng, con người gồm có năm giác quan thông thường và ý (khả năng suy nghĩ, ý nghĩ, xem Lục căn) là sáu. Vì vậy Ái bao gồm hai lĩnh vực: vật chất và tinh thần. Sự tham muốn đó biểu lộ bằng tâm vướng bận và đó chính là Khổ (s: duḥkha), là nguyên do tại sao loài hữu tình cứ mãi trôi nổi trong Vòng sinh tử. Muốn thoát khỏi Ái, người ta cần phòng hộ các giác quan (Nhiếp căn), không để cho thèm khát và ham muốn nổi lên, nhờ đó có thể chấm dứt cái khổ.|Có nhiều cách phân loại Ái: 1. Dục ái (欲 愛; s: kāmatṛṣṇā), Hữu ái (有 愛; s: bhavatṛṣṇā) và Phi hữu ái (非 有 愛; hoặc Ðoạn ái, ái muốn tiêu diệt, s: vibhavatṛṣṇā). Ba loại ái này là nội dung của chân lí thứ hai (tập đế) trong Tứ diệu đế; 2. Dựa trên giác quan, người ta phân biệt ái thuộc sắc, thanh âm, mùi thơm, vị ngon ngọt, tiếp xúc và tư tưởng; 3. Dựa trên Ba thế giới có thứ Ái thuộc dục giới, Ái thuộc sắc giới (色 愛; sắc ái; s: rūpatṛṣṇā) và vô sắc giới (無 色 愛; vô sắc ái; s: arūpa-tṛṣṇā).|Trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-sa-mutpāda), Ái do Thụ (受; s: vedanā) sinh ra, và bản thân Ái lại sinh ra Thủ (取; s: upādāna).|Trong giai đoạn Phật giáo nguyên thuỷ, người ta tin rằng Ái là nguyên nhân duy nhất của khổ và vì vậy xem nó là nguyên nhân của sinh tử, Luân hồi. Về sau, người ta thấy rằng thoát khỏi Ái chưa đủ mà cần phải dứt bỏ sự chấp Ngã (Vô ngã) mới được giải thoát. Ngã là gốc của Ái vì nếu xem Ngã là một thể tồn tại độc lập thì mọi thứ liên quan đến Ngã đều dễ sinh ra Ái. Người ta tiến đến giải thoát bằng tri kiến »cái này không phải là ta, cái này không phải của ta« và như thế, Ái tự hoại diệt.
Ai mẫn 哀 愍; C: āimǐn; J: aimin; |Lòng thương xót, lòng trắc ẩn, niềm thông cảm, mối thương cảm (s: karṇāyamāna).
Ai thán 哀 歎; C: āi tàn; J: aitan; |Buồn than, sự thê lương.
Ám tế 暗 蔽; C: ànbì; J: anbei; |Tối tăm, mù quáng, mờ mịt.
Án 案; C: àn; J: an;|1. Cái án, cái bàn, cái giá; 2. Hướng dẫn; 3. Một vụ kiện, sự kêu nài, một trạng huống; 4. Suy nghĩ, suy tưởng, quyết định.
Ấn 印; S: mudrā;| Một dấu hiệu thân thể. Trong tranh tượng, các đức Phật thường được trình bày với một kiểu tay đặc biệt, vừa là một cử chỉ tự nhiên, vừa là một dấu hiệu của tính chất Phật (Phật tính). Trong Ðại thừa, các Thủ ấn (chỉ các ấn nơi tay, còn Khế ấn là những tư thế khác như cầm ngọc, toạ thiền…) này đều có một ý nghĩa đặc biệt, nhất là trong các tông phái như Thiên Thai, Kim cương thừa và các ấn này thường đi đôi với Man-tra. Ngoài ra, các ấn này giúp hành giả chứng được các cấp tâm thức nội tại, bằng cách giữ vững những vị trí thân thể nhất định và tạo mối liên hệ giữa hành giả với các vị Phật hoặc Ðạo sư trong lúc hành trì một Nghi quỹ (s: sādha-na).| Các ấn quan trọng nhất là: 1. Ấn thiền (禪 印; dhyāni-mudrā), 2. Ấn giáo hoá (教 化 印; vitarka-mudrā), 3. Ấn chuyển pháp luân (轉 法 輪 印; dharmacakrapravartana-mudrā), 4. Ấn xúc địa (觸 地 印; bhūmisparśa-mudrā), 5. Ấn vô uý (無 畏 印; abhaya-mudrā), 6. Ấn thí nguyện (施 願 印; varada-mudrā), cũng được gọi là Dữ nguyện ấn (與 願 印), Thí dữ ấn (施 與 印), 7. Ấn tối thượng bồ-đề (無 上 菩 提 印; uttarabodhi-mudrā), 8. Ấn trí huệ vô thượng (無 上 智 印; bodhyagri-mudrā), 9. Ấn hiệp chưởng (合 掌 印; añjali-mudrā, 10. Ấn kim cương hiệp chưởng (金 剛 合 掌 印; vaj-rapradama-mudrā). | | | H 2: Ấn thiền|| 1. Ấn thiền (s: dhyāni-mudrā): lưng bàn tay mặt để trên lòng bàn tay trái, hai ngón cái chạm nhau. Hai bàn tay để trên lòng, ngang bụng. Bàn tay mặt phía trên tượng trưng cho tâm thức giác ngộ, bàn tay trái phía dưới tượng trưng thế giới hiện tượng. Ấn quyết này biểu lộ sự giác ngộ đã vượt lên thế giới hiện tượng, nó cũng biểu lộ tâm thức giác ngộ đã vượt qua tâm thức phân biệt, trong đó Luân hồi hay Niết-bàn chỉ là một.| Ấn thiền có một dạng khác, trong đó các ngón tay giữa, ngón đeo nhẫn và ngón út của hai bàn tay nằm lên nhau, ngón cái và ngón trỏ mỗi tay tạo thành hai vòng tròn chạm nhau, hai vòng tròn đó biểu tượng thế giới chân như và thế giới hiện tượng. Ấn này hay được tạo hình nơi tranh tượng của Phật A-di-đà và hay được gọi là »Ấn thiền A-di-đà«. Trong Thiền tông, thiền giả lại để bàn tay trái trên bàn tay mặt lúc Toạ thiền. Ðiều này thể hiện thân trái (tĩnh) nằm trên thân phải (động), nhằm chỉ rõ thái độ trầm lắng của Thiền tông.| |H 3: Ấn giáo hoá|| 2. Ấn giáo hoá (s: vitarka-mudrā): tay mặt chỉ lên, tay trái chỉ xuống, hai lòng bàn tay chỉ tới trước. Trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau, làm vòng tròn. Bàn tai mặt đưa ngang vai, bàn tay trái ngang bụng. Trong một dạng khác của ấn giáo hoá, lòng bàn tay trái hướng lên, để ngang bụng, tay mặt ngang vai, ngón tay trỏ và tay cái làm hình tròn. Trong một dạng khác thì ngón trỏ và ngón út duỗi thẳng, ngón giữa và đeo nhẫn co lại. Lòng bàn tay trái hướng lên, tay mặt hướng xuống. Người ta hay bắt gặp ấn giáo hoá nơi tranh tượng Phật A-di-đà, có khi nơi Ðại Nhật Phật (s: mahāvairoca-na).| |H 4: Ấn chuyển pháp luân|| 3. Ấn chuyển pháp luân (s: dharmacakrapravarta-na-mudrā): tay trái hướng vào thân, tay mặt hướng ra. Trong mỗi tay, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn, hai vòng tròn đó chạm nhau. Người ta hay thấy ấn chuyển pháp luân nơi tranh tượng của Phật Thích-ca, A-di-đà, Ðại Nhật và Di-lặc.| |H 5: Ấn xúc địa|| 4. Ấn xúc địa (bhūmisparśa-mudrā): tay trái hướng lên, đặt ngang bụng, tay mặt chỉ xuống, lưng tay mặt xoay tới trước. Ðó là ấn quyết mà đức Thích-ca gọi thổ địa chứng minh mình đạt Phật quả và cũng là dấu hiệu của sự không lay chuyển, vì vậy Bất Ðộng Phật (s: akṣobhya) cũng hay được trình bày với ấn này.| |H 6: Ấn vô uý|| 5. Ấn vô uý (s: abhaya-mudrā): tay mặt với các ngón tay duỗi ra chỉ về phía trước, ngang tầm vai. Ðây là ấn quyết mà Phật Thích-ca sử dụng ngay sau khi đắc đạo. Phật Bất Không Thành Tựu (s: amoghasiddhi) cũng hay được trình bày với ấn này| |H 7: Ấn thí nguyện|| 6. Ấn thí nguyện (s: varada-mudrā): thí nguyện là cho phép được toại nguyện, lòng tay mặt hướng về phía trước, bàn tay chỉ xuống. Nếu ở tượng Phật Thích-ca là đó biểu hiện gọi trời (xem ấn xúc địa) chứng minh Phật quả. Phật Bảo Sinh (s: ratnasam-bhava) cũng hay được diễn tả với ấn quyết này. Trong một dạng khác, ngón trỏ và ngón cái chạm nhau thành vòng tròn. Ấn vô uý và ấn thí nguyện hay được trình bày chung trong một tranh tượng. Thường tay mặt bắt ấn vô uý, tay trái ấn thí nguyện. Tượng đứng của các vị Phật hay có hai ấn này. | |H 8: Ấn tối thượng Bồ-đề|| 7. Ấn tối thượng Bồ-đề (s: uttarabodhi-mudrā): hai bàn tay chắp ngang ngực, hai ngón trỏ duỗi thẳng chạm vào nhau, như mũi nhọn của một Kim cương chử. Các ngón khác lồng vào nhau, hai ngón cái chạm nhau hay để lên nhau. Tranh tượng của Phật Ðại Nhật hay được trình bày với ấn này. | |H 9: Ấn trí huệ vô thượng|| 8. Ấn trí huệ vô thượng (s: bodhyagri-mudrā): ngón tay trỏ của bàn tay mặt được năm ngón kia của tay trái nắm lấy. Ấn này người ta hay thấy nơi Phật Ðại Nhật. Trong Mật tông có nhiều cách giải thích ấn này, nhưng nói chung một ngón tay chỉ rõ sự nhất thể của vạn sự và năm ngón kia chỉ tướng trạng vô cùng của thế giới hiện tượng.| |H 10: Ấn hiệp chưởng|| 9. Ấn hiệp chưởng (s: añjali-mudrā): hai bàn tay chắp trước ngực, được sử dụng để tán thán, ca ngợi, và cũng là cử chỉ chào hỏi thông thường tại Ấn Ðộ. Với dạng ấn, hai bàn tay chắp lại chỉ Chân như. Trong các tranh tượng, Phật và các vị Bồ Tát không bao giờ được trình bày với ấn này vì trong Ba thế giới, không có ai vượt ngoài trí huệ của chư vị và vì vậy, chư vị không cần phải tán thán ai cả.| |H 11: Ấn kim cương hiệp chưởng|| 10. Ấn kim cương hiệp chưởng (s: vajrapradama-mudrā): đầu ngón tay của hai bàn tay chắp vào nhau. Ấn này là biểu hiện của tín tâm bất động, vững chắc như Kim cương (s: vajra).
An-ban thủ ý 安 般 守 意; P: ānāpānasati; dịch nghĩa là Nhập tức xuất tức niệm (入 息 出 息 念), là sự tỉnh giác trong lúc thở, thở ra, thở vào.|Một trong những phép tu cơ bản quan trọng nhất để đạt Bốn xứ hay Ðịnh (s: samādhi). Phép này tập trung nơi hơi thở, qua đó tâm thức đạt yên tĩnh, là phép tu của hầu hết mọi trường phái Phật giáo. Từ phép niệm hơi thở, hành giả dễ dàng tiến tới phép tập giác tỉnh (念; niệm; s: smṛti; p: sati) trong hơi thở. Sau đó hành giả tập giác tỉnh trong mọi diễn biến về tâm và về thân.|Kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta) viết: »Hành giả hít vào chậm rãi, người đó biết ›tôi hít vào chậm rãi‹; thở ra chậm rãi, người đó biết ›tôi thở ra chậm rãi‹; hít vào ngắn, người đó biết ›tôi hít vào ngắn‹; thở ra ngắn, người đó biết ›tôi thở ra ngắn‹; người đó nghĩ rằng ›tôi hít vào, cả thân thể tiếp nhận‹; người đó nghĩ rằng ›tôi thở ra, cả thân thể tiếp nhận‹; người đó nghĩ rằng ›mọi bộ phận thân thể đều được trong sạch, tôi hít vào‹; người đó nghĩ rằng ›mọi bộ phận thân thể đều được trong sạch, tôi thở ra‹; ›cảm nhận an lành…‹, người đó nghĩ rằng ›tâm thức an lành‹, ›tâm thức rực sáng‹, ›tâm thức chú ý‹; ›quán vô thường‹; ›quán xả bỏ‹… tôi hít vào, tôi thở ra.« |Ðây là một trong những bài kinh đầu tiên được truyền bá tại Việt Nam, được Khang Tăng Hội đề tựa.
An cư 安 居; J: ango;|Chỉ thời gian ba tháng tu dưỡng trong một Thiền viện trong thời gian mùa hè, hay có mưa. Vì vậy người ta cũng thường gọi là Hạ an cư (夏 安 居; j: ge-ango) – an cư mùa hè hoặc là Vũ an cư (雨 安 居; j: u-ango) – an cư mùa mưa.
An Huệ 安 慧; S: sthiramati; tk. 6;|Một trong Mười đại Luận sư xuất sắc của Duy thức tông (s: vijñānavāda). Sư viết những luận văn quan trọng về các tác phẩm của Thế Thân (s: vasubandhu) như A-tì-đạt-ma câu-xá luận thật nghĩa sớ, Duy thức tam thập tụng thích. Ngoài ra Sư còn viết luận về những tác phẩm của Long Thụ (s: nāgārju-na) như Ðại thừa trung quán thích luận. Sư là người ôn hoà, cố gắng dung hoà tư tưởng của Duy thức và Trung quán (s: madhyama-ka).|Các tác phẩm của Sư (trích): 1. A-tì-đạt-ma câu-xá luận thật nghĩa sớ (s: abhidharmakośa-bhāṣya-ṭīkā-tattvārtha-nāma); 2. Duy thức tam thập tụng thích luận (s: vijñāptimātratāsiddhitriṃśikā-bhāṣya), còn bản Phạn ngữ (sanskrit) và Tạng ngữ; 3. Ðại thừa trung quán thích luận, chú giải Trung quán luận (s: madhyamaka-śāstra) của Long Thụ, chỉ còn Hán văn; 4. Ðại thừa a-tì-đạt-ma tạp tập luận (s: abhi-dharmasamuccaya-bhāṣya), còn bản Hán và Tạng ngữ; 5. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận nghĩa thích (s: sūtralaṅkāravṛttibhāṣya), chỉ còn bản Tạng ngữ; 6. Trung biên phân biệt luận sớ hoặc Biện trung biên luận sớ (s: madhyāntavibhāga-kārikā), còn bản Hán và Tạng ngữ, một bài luận giải về Biện trung biên luận (s: madhyānta-vibhāga-kārikā) của Di-lặc hoặc Mai-tre-ya-na-tha (maitreyanātha); 7. Ðại bảo tích kinh luận (s: ārya-mahāratnakūṭa-dharma-par-yāya-śatasāhasrikāparivartakāśyapa-parivartaṭīkā), bản Hán và Tạng ngữ; 8. Ngũ uẩn luận thích hoặc Ðại thừa quảng ngũ uẩn luận (s: pañcaskandhaka-bhāyṣa) luận về Ngũ uẩn luận (s: pañcaskandhaka) của Thế Thân.
Ấn khả chứng minh 印 可 證 明; J: inka shōmei; cũng thường được gọi tắt là ấn chứng;|Thuật ngữ thường được dùng trong Thiền tông chỉ sự xác nhận của thầy rằng môn đệ của mình đã hoàn tất đầy đủ việc làm dưới sự hướng dẫn của mình, có thể nói là »thành đạo.«|Nếu những vị thầy sử dụng Công án (j: kōan) trong chương trình giảng dạy thì việc ấn khả có nghĩa là thiền sinh đã giải tất cả những công án và vị thầy đã hài lòng với các kết quả đạt được. Nếu vị thầy không sử dụng công án thì sự ấn khả đồng nghĩa với sự hài lòng của vị thầy về mức độ thông đạt chân lí của đệ tử. Chỉ sau khi được ấn khả và khi những yếu tố quan trọng khác – ví như khả năng am hiểu người để hướng dẫn họ – đã sẵn có hoặc đã tu luyện thành đạt thì người được ấn khả này mới được hướng dẫn môn đệ trên thiền đạo và tự gọi mình là Pháp tự (法 嗣) của vị thầy và mang danh hiệu Lão sư (j: rōshi). Nhưng ngay khi tất cả những điều kiện trên đã đạt và thiền sinh đã được ấn khả thì việc này không có nghĩa rằng, thiền sinh đã chấm dứt việc tu tập trên con đường thiền. Càng nhìn rõ xuyên suốt thiền sinh càng thấy rằng, việc tu tập thiền không bao giờ đến nơi cùng tận và kéo dài vô số kiếp. Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền bảo rằng, ngay cả đức Phật Thích-ca cũng còn đang trên đường tu tập.|Với sự ấn chứng, vị thầy xác định rằng, thiền sinh đã ít nhất đạt được cấp bậc Kiến tính (j: kenshō) như chính mình và từ nay có thể tự đứng vững một mình. Theo truyền thống của Thiền tông thì vị thầy lúc nào cũng phải cố gắng dạy học trò vượt hẳn chính mình (về mặt giác ngộ). Nếu trình độ của đệ tử chỉ bằng thầy thì nguy cơ suy tàn của tâm ấn trong những thế hệ sau đó rất lớn.
Ẩn Nguyên Long Kì 隱 元 隆 琦; C: yǐnyuán lóngqí; J: ingen ryūki, 1592-1673;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế. Năm 1564, Sư nhận lời mời của nhà sư Nhật tên Dật Nhiên, sang Nhật Bản truyền tông Hoàng Bá (j: ōbaku-shū). Sau Sư được Nhật hoàng ban cho hiệu Ðại Quang Phổ Chiếu Quốc sư (j: daikō fushō kokushi).|Sư họ Lâm, quê ở Phúc Châu. Năm lên 16, nhân một buổi nằm dưới cây tùng nhìn thiên hà tinh tú vận chuyển, Sư bỗng thấy làm lạ nghĩ rằng, ngoài Tiên, Phật ra không ai có thể hiểu được những hiện tượng này và phát sinh ý nghĩ đi tu để thành Phật. Năm 22 tuổi, Sư đến núi Phổ-đà theo Hoà thượng Triều Âm học hỏi, ngày ngày rót trà hầu chúng. Năm 29 tuổi, Sư đến núi Hoàng Bá chính thức cạo đầu tu hành. Sau, Sư tham vấn Thiền sư Mật Vân Viên Ngộ và được Ấn khả. Năm thứ 6 niên hiệu Sùng Trinh (1633), Thiền sư Phí Ẩn Thông Dung chủ trì núi Hoàng Bá, cử Sư làm Tây đường, năm thứ 10 cử làm chủ pháp tịch Hoàng Bá. Trong hệ thống truyền thừa, Sư được xem là kế thừa Phí Ẩn Thông Dung (費 隱 通 容; 1593-1661). Năm 1654, Sư cùng hơn 20 đệ tử cất bước sang Nhật.|Sư vốn xuất thân từ tông môn Lâm Tế nhưng sống vào cuối đời Minh (1368-1644) đầu đời nhà Thanh (1644-1911) sau Thiền sư Vân Thê Châu Hoằng. Vì thế Sư chịu ảnh hưởng rất nặng tư tưởng »Thiền Tịnh hợp nhất« của Vân Thê Ðại sư và khi đến Nhật Bản hoằng hoá, tông chỉ của Sư cũng không trùng hợp với tông chỉ Lâm Tế được truyền thời Liêm Thương (j: kamakura) tại Nhật. Nhưng cũng vì sự khác biệt này mà Sư và các đệ tử được tiếp đón rất nồng hậu, Thiền tăng Nhật Bản tranh nhau đến tham vấn học hỏi và sau này, dòng thiền của Sư được chính thức công nhận là một tông phái riêng biệt, được gọi là Hoàng Bá tông.|Sư tịch năm 1673 tại Nhật Bản.
Án sơn 案 山; C: ànshān; J: anzan; |Ngọn núi chắn ngang trước hang động hay toà nhà. Khi rặng núi có nhiều đỉnh liên tiếp nhau, thì những ngọn núi gần được gọi là Nội án sơn (内 案 山), những ngọn núi xa được gọi là Ngoại án sơn (外 案 山).
An tâm 安 心; J: anjin;|Là trạng thái yên tĩnh của tâm thức, chỉ thật sự đạt được khi đã có kinh nghiệm Giác ngộ. Theo Thiền tông thì phép Toạ thiền là con đường ngắn nhất để đạt tâm thức an lạc.
An Thế Cao 安 世 高; C: ān shìgāo, tk. 2;|Cao tăng xứ An Tức, đến Trung Quốc năm 148 và là người đầu tiên dịch Kinh sách Phật giáo ra tiếng Hán, nhất là kinh sách về các phép tu thiền, như An-ban thủ ý (s: ānā-pānasati). Vì vậy Sư được xem là người lập ra Thiền tông trong thời Phật pháp được truyền qua Trung Quốc lần đầu.|An Thế Cao là hoàng tử nước An Tức (e: parthie) nhưng xuất gia đi tu và sang Trung Quốc, sống trên 20 năm ở đây. Sư là danh nhân đầu tiên được ghi rõ trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc, là người đã thúc đẩy các công việc dịch kinh điển có hệ thống. Ðể đạt được như vậy, Sư thành lập những văn phòng chuyên dịch kinh sách. Số lượng những bản dịch của Sư được ghi chép lại từ 34 đến 176. Những bản dịch này được chia làm hai loại: 1. Những tác phẩm chuyên về Thiền (s: dhyāna) với những kĩ thuật như An-ban thủ ý, quán Biến xứ (p: kasiṇa), Quán thân (p: kāyagāta-sati)…. 2. Kinh sách với những nội dung xếp đặt theo hệ số – ví dụ như Ngũ uẩn (s: pañcaskandha), Lục xứ. Sư thường sử dụng từ ngữ đạo Lão (Lão Tử) để dịch kinh sách sang Hán văn.
Ăng-kor Wat Di tích quan trọng tại Campuchia, được xem là tuyệt đỉnh của nghệ thuật và kiến trúc Khmer.|Ðược xây dựng dưới thời vua Surja-warman II (1113-1150), Ăng-kor Wat mới đầu để thờ thần Viśnu của Ấn Ðộ giáo. Về sau, khi vương triều Khmer theo Phật giáo, Ăng-kor Wat trở thành linh đền thờ Phật. Sau khi bị người Thái Lan huỷ diệt và các nhà vua Khmer bỏ về Phnom Penh trong thế kỉ 15, Ăng-kor Wat rơi vào quên lãng, bị rừng già vây phủ và được khám phá lại trong thế kỉ thứ 19.
Ảo ảnh 幻 影; S, P: māyā; dịch âm là Ma-da, cũng được gọi là giả tướng (假 相), đọc đúng là »Huyễn ảnh«;|Danh từ được dùng để chỉ thế giới hiện tượng đang liên tục thay đổi này. Ðối với người chưa giác ngộ thì thế giới này là thế giới duy nhất có thật. Ảo ảnh được dùng để chỉ tất cả các hiện tượng sinh diệt, không thuộc thật tại cuối cùng (Ba thân). Một khi thấu hiểu rằng mọi Pháp đều là ảo ảnh thì điều đó đồng nghĩa với Giác ngộ (Bồ-đề) và đạt Niết-bàn. |Theo quan niệm Phật giáo thì »thấy« thế giới, tự chủ rằng có »một người« đang nhận thức và có »vật được nhận thức«, có »ta« có »vật« có thế giới luân chuyển này chưa phải là sai lầm. Sai lầm là ở chỗ cho rằng sự vật bất biến, trường tồn và thế giới này là duy nhất, có thật. Ðây mới là Kiến giải bất thiện vì nó ngăn trở những tri kiến bổ ích khác. Thật sự thì cái tương đối và cái tuyệt đối không hề rời nhau; và như thế, ảo ảnh (mê) và Bồ-đề (ngộ) bản tính không hai. Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác trình bày rất tuyệt vời sự việc này ngay trong phần đầu của bài Chứng đạo ca:|君不見|絕學無爲閑道人。不除妄想不求真|無明實性即佛性。幻化空身即法身|法身覺了無一物。本源自性天真佛|Quân bất kiến!|Tuyệt học vô vi nhàn đạo nhân|Bất trừ vọng tưởng bất cầu chân|Vô minh thật tính tức Phật tính|Huyễn hoá không thân tức pháp thân|Pháp thân giác liễu vô nhất vật|Bản nguyên tự tính Thiên chân Phật…|Bạn chẳng thấy sao!|Tuyệt học, vô vi – đạo nhân nhàn|Chẳng trừ vọng tưởng – chẳng cầu chân|Thật tính của vô minh – chính Phật tính|Thân huyễn hoá trống rỗng này – chính Pháp thân|Chứng Pháp thân – chẳng một vật|Tự tính nguyên là Thiên chân Phật!…
Ba ải Hán Việt: Tam quan (三 關);|Chỉ thân (s: kāya), khẩu (s: vāk), ý (s: citta), ba động cơ tạo Nghiệp (s: karma) của con người. Việc phòng hộ ba ải này rất được chú trọng trong đạo Phật (Thân, khẩu, ý).
Ba-ba-ha S: babhaha, bhalaha, bhaṁva, babhani, baha, bapabhati; còn mang biệt danh là »Kẻ đam mê tự tại«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ đệ tử của ai, sống trong thời nào. Ông là một hoàng tử ham mê sắc dục. Lần nọ có một vị Du-già sư đến lâu đài ông khất thực, ông tỏ lòng mến mộ và hỏi vị này có phép tu tập nào kết hợp với nhục dục chăng. Vị Du-già sư ban phép lành và truyền cho ông phép Du-già đặc biệt:|Hãy tìm một phụ nữ,|có khả năng thù thắng.|Hãy trộn trong hoa sen,|Man-đa-la người đó,|tinh sắc trắng của ngươi,|với huyết đỏ của nàng.|Hấp thụ tinh chất đó,|cho nó dâng lên cao,|cho nó chan hoà khắp.|Sự hoan lạc của ngươi,|sẽ không bao giờ dứt.|Rồi Ðại lạc nối tiếp,|cái này sau cái kia.|Quán tưởng Ðại lạc đó,|không hề khác tính Không.|Sau 12 năm liên tục tu tập theo phép này, vị hoàng tử bỗng thấy trong tâm không còn Ô nhiễm và ông đạt Tất-địa. Ông trình bài kệ:|Như con thiên nga trắng,|loại bỏ nước trong sữa.|Lời dạy của Ðạo sư,|làm tinh chất thăng hoa.|Bài ca ngộ đạo của ông như sau:|Dục lạc, lạc tuyệt đối,|vô điều kiện, sở cầu,|Tư duy đã là lạc,|Ôi, Ðại lạc bí ẩn, |Ðại lạc không thấu đạt.
Ba-câu-lô 波 拘 盧; S: bakkula; C: bōjūlú; J: bakuro;|xem Bạc-câu-la (薄 拘 羅).
Ba chân lí Hán Việt: Tam đế (三 諦), Thiên Thai tam quán (天 台 三 觀); |Ba quan điểm quan trọng của Thiên Thai tông về thật tướng của vạn sự. Ðó là ba tính chất đặc trưng của vạn vật là Không (空; s: śūnyatā), giả (假; Ảo ảnh) và trung (中). Sự vật vốn không, nhưng vẫn có một hình tướng giả tạm, đó là quan điểm Trung đạo (中 道; s: mādhyamāpratipāda).
Ba cửa giải thoát Giải thoát: S: vimokṣa; P: vimokkha; gọi theo Hán Việt là Tam giải thoát môn (三 解 脫 門);|I. Phép quán nhằm giác ngộ Không (空; s: śūnyatā), Vô tướng (無 相; s: ānimitta) và Vô nguyện (無 願; s: apraṇihita), không còn ham muốn để đạt Niết-bàn. Ba giải thoát này là nhận biết Ngã và Pháp đều trống không, nhận biết ngã và pháp là bình đẳng, vô tướng, nhận biết sinh tử là Khổ (xem thêm Tám giải thoát); II. 1. Theo Kim Cương kinh thì ba cửa giải thoát là Không giải thoát môn (空 解 脫 門), Kim Cương giải thoát môn (金 剛 解 脫 門) và Huệ giải thoát môn (慧 解 脫 門).
Ba độc Hán Việt: Tam độc (三 毒);|Một thuật ngữ chỉ ba yếu tố chính trói buộc con người vào Luân hồi (s: saṃsāra), đó là tham (貪; s: rāga, lobha), sân (瞋; s: dveṣa) và Si (痴; s: moha hoặc Vô minh, s: avidyā).
Ba-đra-pa S: bhadrapa; còn mang biệt hiệu là »Bà-la-môn kiêu mạn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là sống trong thế kỉ thứ 10.|Ông là một Bà-la-môn quý tộc, sống một cuộc đời sung túc. Ngày nọ lúc đang tắm thì có một Du-già sư (s: yogin) đến khất thực. Ông lên tiếng chê bai vị này dơ bẩn thì nghe trả lời:|Thầy tu như hoàng đế,|Không ai bằng Bồ Tát.|Muốn sạch Thân, khẩu ý,|Ðạo sư dòng giáo hoá,|mới cho sự thanh tịnh,|Tắm rửa thân thể ư?|không mang lại điều gì.|Tâm thức vô sở cầu|là bữa tiệc linh đình |là bữa ăn ngon nhất,|đâu phải sữa, đề hồ.|Những lời đó chấn động tâm tư ông nhưng vì ngại quyến thuộc, ông không cho vị Du-già sư vào nhà mà xin gặp lại ngay tối hôm đó. Vị Du-già sư đòi ông mang theo rượu thịt, thứ mà người theo đạo Bà-la-môn phải tránh xa. Mới đầu ông từ chối nhưng cuối cùng nghe lời, ông cùng ăn thịt uống rượu với vị Du-già sư. Sau đó vị này khai thị, cho ông nhập môn, ở lại và phải làm các công việc hết sức hạ tiện. Dần dần lòng kiêu mạn của ông biến mất, nhường chỗ cho Như thật tri kiến đích thật. Sau sáu năm, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa nhờ biết dẹp bỏ được sự gò bó nội tâm do xã hội quy định.|Tri kiến đã sai lầm,|chỉ có thể thanh lọc |bằng giác ngộ tính Không.|Hành động đã sai trái,|chỉ có thể đối trị |bằng cách quán Từ Bi.|Thiền dẫn đến chứng thật,|rằng trong chốn Thật tại,|cái muôn hình là một,|và mục đích cuối cùng,|chỉ còn có Một vị.
Ba-la-ca-phả mật-đa-la 波 羅 迦 頗 蜜 多 羅; S: prabhākaramitra, 564-633|Tên có nghĩa là »Minh Hữu«, gọi tắt là Ba-la-phả-mật-đa-la (波 羅 頗 蜜 多 羅) và Ba-phả 波 頗. Tăng sĩ xuất thân từ Ma-kiệt-đà (s: maghada), đệ tử của Giới Hiền (戒 賢; s: śīlabhadra) khi sư theo học với ngài ở chùa Na-lan-đà (那 爛 陀; s: nalanda). Sư sang Trường An năm 627, đầu tiên trở thành thầy dạy đạo cho Hoàng gia, sau đó sư dịch kinh Phật sang tiếng Hán, gồm Đại thừa trang nghiêm kinh luận (大 乘 莊 嚴 經 論; s: mahāyānasūtra-laṃkāra) và Bát-nhã đăng luận (般 若 燈 論).
Ba-la-đề mộc-xoa 波 羅 提 木 叉; S: prātimokṣa; P: pātimokkha; Hán Việt: Biệt giải thoát (別 解 脫), Tuỳ thuận giải thoát (隨 順 解 脫), Cấm giới (禁 戒);|Phiên âm chữ prātimokṣa từ tiếng Phạn và chữ pātimokkha trong tiếng Pāli. Còn phiên âm khác là Bà-la-đề-mộc-xoa (婆 羅 提 木 叉). Hán dịch là Biệt giải thoát và Xứ xứ giải thoát. 1. Chỉ sự giải thoát, sự tự tại đối với mọi phiền não. 2. Giới tướng mà chư tăng ni phải giữ. 227 (250) điều giới của chư tăng và 348 (350) của chư ni phải đọc tụng vào mỗi kì lễ Bố-tát (s: uposatha). Vào những kì lễ nầy, chư tăng ni sám hối khi phạm những điều giới trên.
Ba-la-di 波 羅 夷; S: pārājika; P: pārājika; C: bōluóyí; J: harai;|Sự vi phạm bốn giới cấm nghiêm trọng; khi mắc phải tội nầy, tăng ni sẽ bị tẩn xuất khỏi tăng đoàn. Tứ trọng tội (四 重 罪).
Ba-la-lị-phất đa-la 波 羅 利 弗 多 羅; S: pāṭaliputra; C: bōluólìfú-duōluó; J: hararifutara.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-la-mật 波 羅 蜜; C: bōluómì; J: haramitsu.|Phiên âm chữ pāramitā từ tiếng Phạn, có nghĩa là »đến bờ bên kia«, còn được dịch sang tiếng Anh là »perfection« tức »viên mãn«. Còn được Phiên âm là Ba-la-mật-đa (波 羅 蜜多) và Ba-la-nhĩ-đa (波 囉 弭 多), Hán dịch là Đáo bỉ ngạn (到 彼 岸, qua đến bờ bên kia), Độ vô cực (度 無 極, đến nơi không giới hạn), Độ (度, vượt qua), Sự cứu cánh (事 究 竟, viên mãn rốt ráo sự việc). Thuật ngữ đề cập đến pháp tu tập nền tảng Tính không của hàng Bồ Tát Đại thừa để đưa chúng sinh đến bờ giải thoát. Phật giáo Đại thừa có dạy pháp tu Lục Ba-la-mật và Thập Ba-la-mật để được đến bờ giải thoát.
Ba-la-mật-đa 波 羅 蜜 多; S: pāramitā; C: bōluómìduō; J: haramitta. Cũng được gọi ngắn là Ba-la-mật, dịch nghĩa là »Ðáo bỉ ngạn« (到 彼 岸) – cái đã sang bờ bên kia, hoặc »Ðộ« (度), cái dìu dắt, đưa người qua bờ bên kia;|Một thuật ngữ quan trọng của đạo Phật, chỉ »mặt kia, mặt chuyển hoá« của hiện tượng. Cũng có thể dịch là »hoàn tất, hoàn hảo, viên mãn.« Những phép Ba-la-mật-đa là những đức hạnh toàn hảo của một Bồ Tát trên đường tu học (Thập địa, Lục độ).
Bà-la-môn 婆 羅 門; S, P: brāhmaṇa;|Danh từ chỉ một cấp, một hạng người tại Ấn Ðộ. Thuộc về cấp Bà-la-môn là các tu sĩ, triết gia, học giả và các vị lĩnh đạo tôn giáo. Dân chúng Ấn Ðộ rất tôn trọng cấp người này.|Trong thời đức Phật hoằng hoá, cấp này là cấp thứ hai của bốn cấp (sau thời đức Phật đến bây giờ là cấp cao nhất) trong hệ thống xã hội và vì vậy, họ rất kiêu mạn. Nhiều Bà-la-môn cho rằng, chỉ họ mới mang dòng máu »trắng« là dòng máu trong sạch và tất cả các hạng người còn lại chỉ sống để phụng thờ họ. Trong những bài kinh thuộc văn hệ Pā-li (Bộ kinh), Phật không hề chống đối giai cấp Bà-la-môn nhưng lại bảo rằng, không phải sinh ra trong một gia đình, dòng dõi Bà-la-môn, là tự nhiên trở thành một Bà-la-môn. Người ta »trở thành« một Bà-la-môn với những hành động, những ý nghĩ cao thượng và đó chính là những tiêu chuẩn đích thật. Bất cứ người nào cũng có thể được gọi là Bà-la-môn nếu họ đạt những tư cách nói trên. Ðây là một chiến thuật tuyệt vời của đức Phật khi Ngài chuyển ý nghĩa »giai cấp Bà-la-môn« thành một danh từ đạo đức Bà-la-môn, tức là một người có đầy đủ đức hạnh, vượt mọi giai cấp xã hội thời đó (Tập bộ kinh).|Phật thuyết trong Tiểu bộ kinh (Tự thuyết I. 5, udāna):|Ai lìa bất thiện nghiệp|Ði trên đường thanh tịnh|Tinh tiến, thoát trói buộc|Ta gọi Bà-la-môn
Ba-la-nại 波 羅 奈; S: vārāṇasī; C: bōluónài; J: harana.|Xem Ba-la-nại quốc (波 羅 奈 國).
Ba-la-nại quốc 波 羅 奈 國; S: vārāṇasī; C: bōluónàiguó; J: haranakoku.|Một quốc gia thời Ấn Độ cổ đại, nằm phía Tây xứ Ma-kiệt-đà (摩 掲 陀; s: magadha) và phía Bắc xứ Kośala. Thủ đô còn được gọi là Vārāṇasī, ngày nay là Ba-la-nại (s: benares). Là nơi ban đầu Đức Phật Thích-ca Mâu-ni truyền dạy pháp giác ngộ cho 5 vị đệ tử đầu tiên.
Ba-la-nại-tư 波 羅 奈 斯 S: vārāṇasī; C: bōluónàisī; J: haranashi.|Xem Ba-la-nại quốc (波 羅 奈 國).
Ba-la-nhĩ-đa 波 囉 弭 多; C: bōluōmĭduō; J: haramita.|Tiếng phiên âm ít thông dụng của chữ pāramitā trong tiếng Phạn. Phiên âm thường dùng là Ba-la-mật-đa (波 羅 蜜 多).
Ba-la-phả mật-đa-la 波 羅 頗 蜜 多 羅|Xem Ba-la-ca-phả-mật-đa-la (波 羅 迦 頗 蜜 多 羅).
Ba Lăng Hạo Giám 巴 陵 顥 鋻; C: bālíng hàojiàn; J: haryō kōkan; tk. 10;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Vân Môn Văn Yển.|Sử sách không lưu lại nhiều tài liệu về Sư, chỉ biết là Sư thường Hành cước, không lưu lại lâu dài nơi Vân Môn và cũng chưa được thầy ấn chứng nơi đây. Sau khi rời Vân Môn chu du, Sư chẳng gửi thư từ gì, chỉ dâng lên ba chuyển ngữ cho sư phụ, đó là 1. Thế nào là Ðạo? – »Người mắt sáng rơi giếng (明 眼 人 落 井)«; 2. Thế nào là Xuy mao kiếm (吹 毛 劍; là thanh kiếm cực bén, chỉ cần thổi sợi lông qua liền đứt)? – »Cành san hô chống đến trăng« (珊 瑚 枝 枝 撐 著 月); 3. Thế nào là tông Ðề-bà (Thánh Thiên)? – »Trong chén bạc đựng tuyết (銀 椀 裏 盛 雪).« Vân Môn đọc qua liền ấn chứng qua thư từ và hơn nữa, rất hài lòng với ba chuyển ngữ này, căn dặn môn đệ đến ngày kị chẳng cần làm gì, chỉ dâng ba chuyển ngữ này là đủ.|Khác với những câu trả lời ngắn gọn của Vân Môn (Nhất tự quan), Sư thường sử dụng văn vần để trả lời những câu hỏi của thiền khách. Vì vậy Sư cũng mang biệt hiệu »Giám đa khẩu.«
Bà-lật-thấp-bà 婆 栗 濕 婆; S: pārśva;|Tổ thứ 10 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Ba-lật-thấp-phọc 波 栗 濕 縛; S: pārśva; C: bōlìshīfú; J: bari-shiba.|Bậc thượng thủ trong Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư. Hiếp Tôn giả (脅 尊 者).
Ba-mi-yan S: bāmiyan;|Một vùng hang động ở Afghanistan có nhiều dấu tích đạo Phật. Vùng này được xây dựng trong khoảng giữa 300 và 600 sau Công nguyên. Trên một vách đá dài khoảng 2 km cao thấp khác nhau, có rất nhiều hang động được khắc đẽo công phu, ngày xưa dùng làm nơi tụ họp và thiền định của các vị tăng sĩ. Phật giáo thời này thuộc về Ðại thừa (s: mahāyāna) và bị tàn lụi sau các cuộc chiến tranh ở thế kỉ thứ 13.|Một điểm đặc biệt đáng lưu ý là trần của các hang động được khắc đẽo hình tượng các Tịnh độ và các vị Phật, các hình vẽ đó tạo thành một Man-đa-la. Giữa các hang, người ta tìm thấy hai tượng Phật vĩ đại, cao 35m và 53m, cả hai ngày nay đã bị hư hại nhiều. Ngày xưa, các tượng này được nạm vàng và trang trí nhưng nay khuôn mặt của hai tượng đã mất. Hình tượng cho thấy, các vị Phật được trình bày như là nhân cách hoá của toàn vũ trụ và vô số các tượng Phật khác là dạng xuất hiện của vũ trụ.
Ba môn học S: triśikṣā; P: tisso-sikkhā; Hán Việt: Tam học (三 學);|Chỉ ba môn học của người theo đạo Phật: 1. Giới học (s: adhiśīla-śikṣā); 2. Ðịnh học (s: adhicitta-śikṣā) và 3. Huệ học (s: adhipra-jñā-śikṣā), cả ba thường được gọi chung là Giới, Ðịnh (hoặc Thiền), Huệ (Bát-nhã).|Giới (s: śīla; p: sīla) được hiểu chung là tránh các nghiệp. Ðịnh (samādhi) là sự chú tâm, sự tỉnh giác trong mọi hành động và Huệ (s: prajñā; p: paññā) là sự phát triển tâm Bát-nhã để ngộ được những sự thật cao nhất. Ba phép tu hành này phụ thuộc chặt chẽ với nhau, nếu hành giả chỉ tập trung vào một nhánh thì không thể đạt Giải thoát.
Ba mươi hai tướng tốt S: dvatriṃśadvara-lakṣaṇa; Hán Việt: Tam thập nhị hảo tướng (三 十 二 好 相);|Ba mươi hai tướng tốt của một Chuyển luân vương (s: cakravartī-rāja), nhất là của một vị Phật. Ngoài ba mươi hai tướng tốt đó, người ta còn kể 80 vẻ đẹp khác.|Ba mươi hai tướng tốt là: lòng bàn chân bằng phẳng, bàn chân có bánh xe ngàn cánh, ngón tay thon dài, gót chân rộng, ngón tay ngón chân cong lại, tay chân mềm mại, sống chân cong lên, thân người như con sơn dương, tay dài quá gối, nam căn ẩn kín, thân thể mạnh mẽ, thân thể nhiều lông, lông tóc hình xoáy, thân thể vàng rực, thân phát ánh sáng, da mềm, tay vai và đầu tròn, hai nách đầy đặn, thân người như sư tử, thân thẳng, vai mạnh mẽ, bốn mươi răng, răng đều đặn, răng trắng, hàm như sư tử, nước miếng có chất thơm ngon, lưỡi rộng, giọng nói như Phạm thiên, mắt xanh trong, lông mi như bị rừng, lông xoáy giữa hai chân mày (bạch hào), chóp nổi cao trên đỉnh đầu.|Một số tướng tốt nói trên được đặc biệt chú ý trong tranh tượng – nhất là hào quang, một dấu hiệu rõ rệt của thánh nhân theo quan điểm Ấn Ðộ, không bao giờ thiếu trong các tượng Phật. Có lúc hào quang được vẽ như vòng lửa xuất phát từ đầu đến vai. Tướng lông xoáy giữa hai chân mày tượng trưng cho Trí huệ có khi được trình bày như một chấm vàng, hay được thay thế bằng ngọc quý. Tướng chóp nổi cao ở đỉnh đầu (肉 髻; nhục kế, s: uṣṇīṣa) được trình bày mỗi nơi mỗi khác, tại Ấn Ðộ và Trung Quốc hình bán cầu, tại Cam-pu-chia hình nón và tại Thái Lan hình nhọn đầu hay có dạng một ngọn lửa.|Xem thêm chi tiết ở mục Tam thập nhị tướng (三 十 二 相).
Ba-nhã (nhược) 波 若; C: bōruò; J: hannya;|1. Phiên âm chữ prajñā từ tiếng Phạn, có nghĩa là »trí huệ«, đặc biệt là trí huệ trong Phật pháp, nhận ra được nhân không và pháp không; 2. Ba Nhược (562-613?): Tên một vị tăng nguyên thuộc dòng Cao-cú-lệ (k: koguryŏ), được biết sư từng tham học với ngài Trí Khải (智 顗), Tổ sư tông Thiên Thai.
Ba-phả 波 頗;|Viết tắt của Ba-la-ca-phả-mật-đa-la (波 羅 迦 頗 蜜 多 羅; s: prabkaramitra).
Ba quy y S: triśaraṇa; P: tisaraṇa; Hán Việt: Tam quy y;|Là quy y Tam bảo: Phật, Pháp, Tăng. Hành giả niệm ba quy y, tự nhận Phật là đạo sư, Pháp là »thuốc chữa bệnh« và Tăng-già là bạn đồng học. Ba quy y là một phần quan trọng trong mỗi buổi hành Lễ.
Ba thân S: trikāya; Hán Việt: Tam thân (三 身);|Chỉ ba loại thân của một vị Phật, theo quan điểm Ðại thừa (s: mahāyāna). Quan điểm này xuất phát từ tư tưởng cho rằng Phật – như Ngài đã xuất hiện trên thế gian để hoằng hoá, tiếp độ chúng sinh – chính là biểu hiện của sự Tuyệt đối, của Chân như và Phật có khi hiện thân thành nhiều hình tướng khác nhau chỉ vì lợi ích của chúng sinh. Quan niệm ba thân Phật được nêu ra nhằm nói lên quan điểm đó. Ba thân gồm:|1. Pháp thân (法 身; s: dharmakāya): là thể tính thật sự của Phật, đồng nghĩa với Chân như, là thể của vũ trụ. Pháp thân là thể mà Phật và chúng sinh đều có chung. Pháp thân cũng chính là Pháp (s: dharma), là quy luật vận hành trong vũ trụ, là giáo pháp do đức Phật truyền dạy.|2. Báo thân (報 身; s: saṃbhogakāya), cũng được dịch là Thụ dụng thân (受 用 身): chỉ thân Phật xuất hiện trong các Tịnh độ.|3. Ứng thân (應 身; s: nirmāṇakāya, cũng được gọi là Ứng hoá thân hoặc Hoá thân): là thân Phật xuất hiện trên trái đất, với nhân trạng, với mục đích cứu độ con người.|Pháp thân được xem chính là Phật pháp (s: bud-dha-dharma) như Phật Thích-ca giảng dạy trong thời còn tại thế. Sau này người ta mới nói đến hai thân kia. Pháp thân được xem là thường hằng, vô tướng, nhất nguyên, là thể tính chung của các vị Phật, là dạng tồn tại thật sự của chư Phật. Pháp thân có nhiều tên gọi khác nhau, tuỳ trường hợp sử dụng. Có lúc người ta xem nó là thể tính của mọi sự (Pháp giới [dharmadhātu, dharmatā], Chân như [s: tathatā, bhūtatathatā], Không [s: śūnyatā], A-lại-da thức [s: ālayavijñāna]) hay xem nó là Phật (Phật, Phật tính [s: buddhatā], Như Lai tạng [s: ta-thāgata-garbha]). Trong nhiều trường phái, người ta xem Pháp thân là thể trừu tượng không có nhân trạng, có trường phái khác lại xem Pháp thân hầu như có nhân trạng (xem kinh Nhập Lăng-già, kinh Hoa nghiêm). Ðạt Trí huệ siêu việt đồng nghĩa với sự trực chứng được Pháp thân.|Báo thân là thân do thiện nghiệp và sự giác ngộ của các Bồ Tát mà hoá hiện cho thấy – cũng vì vậy mà có lúc được gọi là Thụ dụng thân, là thân hưởng thụ được qua những thiện nghiệp đã tạo. Báo thân thường mang Ba mươi hai tướng tốt (s: dvā-triṃśadvara-lakṣaṇa) và tám mươi vẻ đẹp của một vị Phật và chỉ Bồ Tát mới thấy được trong giai đoạn cuối cùng của Thập địa (s: daśabhūmi). Người ta hay trình bày Báo thân Phật lúc ngồi thiền định và lúc giảng pháp Ðại thừa. Các trường phái thuộc Tịnh độ tông cũng tin rằng Báo thân Phật thường xuất hiện trong các Tịnh độ.|Ứng thân là thân Phật và Bồ Tát hiện diện trên trái đất. Ứng thân do Báo thân chiếu hiện, dựa trên lòng Từ bi và có mục đích giáo hoá chúng sinh. Như thân người, Ứng thân chịu mọi đau khổ của già chết bệnh tật, nhưng Ứng thân có thần thông như thiên nhãn thông và thiên nhĩ thông. Sau khi chết, Ứng thân tự tiêu diệt.|Ba thân Phật nói ở trên có lẽ đầu tiên được Vô Trước (s: asaṅga) trình bày rõ nhất, xuất phát từ quan điểm của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và về sau được Ðại thừa tiếp nhận. Ðáng chú ý nhất là quan điểm Pháp thân nhấn mạnh đến thể tính tuyệt đối của một vị Phật và không chú trọng lắm đến Ứng thân của vị Phật lịch sử. Như thế, Phật là thể tính thanh tịnh của toàn vũ trụ, thường hằng, toàn năng. Các vị Phật xuất hiện trên trái đất chính là hiện thân của Pháp thân, vì lòng từ bi mà đến với con người, vì lợi ích của con người.|Với quan điểm Ba thân này người ta tiến tới khái niệm không gian vô tận với vô lượng thế giới. Trong các thế giới đó có vô số chúng sinh đã được giác ngộ, với vô số Phật và Bồ Tát.|Ðối với Thiền tông thì ba thân Phật là ba cấp của Chân như, nhưng liên hệ lẫn nhau trong một thể thống nhất. Pháp thân là »tâm thức« của vũ trụ, là thể tính nằm ngoài suy luận. Ðó là nơi phát sinh tất cả, từ loài Hữu tình đến vô tình, tất cả những hoạt động thuộc tâm thức. Pháp thân đó hiện thân thành Phật Ðại Nhật (s: vairocana). Cũng theo Thiền tông thì Báo thân là tâm thức hỉ lạc khi đạt Giác ngộ, Kiến tính, ngộ được tâm chư Phật và tâm mình là một. Báo thân hiện thân thành Phật A-di-đà. Ứng thân là thân Phật hoá thành thân người, là đức Thích-ca Mâu-ni.|Mối liên hệ của Ba thân Phật theo quan điểm Thiền tông được thí dụ như sau: nếu xem Pháp thân là toàn bộ kiến thức y học thì Báo thân là chương trình học tập của một y sĩ và Ứng thân là y sĩ đó áp dụng kiến thức y học mà chữa bịnh cho người.|Trong Kim cương thừa thì Ba thân là ba cấp của kinh nghiệm giác ngộ. Chứng được Pháp thân chính là tri kiến được tự tính sâu xa nhất của muôn vật, và tự tính này chính là tính Không, trống rỗng. Báo thân và Ứng thân là thân của sắc giới, là phương tiện tạm thời giúp hành giả chứng ngộ được tính Không. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta xem Thân, khẩu, ý của một vị Ðạo sư (s: gu-ru) đồng nghĩa với ba thân nói trên.|Trong Kim cương thừa, quan điểm Ba thân có mục đích phát biểu các tầng cấp khác nhau của kinh nghiệm giác ngộ. Pháp thân là tính Không, là Chân như tuyệt đối, bao trùm mọi sự, tự nó là Giác ngộ. Báo thân và Ứng thân là các thể có sắc tướng, được xem là phương tiện nhằm đạt tới kinh nghiệm về một cái tuyệt đối. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta xem thân, khẩu, ý của một vị đạo sư chính là Ba thân, được biểu tượng bằng thần chú OṂ-AH-HUNG (gọi theo tiếng Tây Tạng). Sức mạnh toàn năng của Pháp thân được thể hiện ở đây bằng Phổ Hiền (s: samantabhadra). Các giáo pháp Ðại thủ ấn và Ðại cứu kính (t: dzogchen) giúp hành giả đạt được kinh nghiệm về tâm thức vô tận của Pháp thân. Báo thân được xem là một dạng của »thân giáo hoá.« Các Báo thân xuất hiện dưới dạng Ngũ Phật và được xem là phương tiện để tiếp cận với Chân như tuyệt đối. Báo thân xuất hiện dưới nhiều hình tướng khác nhau, tịch tĩnh (s: śānta) hay phẫn nộ (s: krodha), có khi được trình bày với các vị Hộ Thần (t: yidam) hay Hộ Pháp (s: dharmapāla).|Ứng thân là một dạng »thân giáo hoá« với nhân trạng. Trong Kim cương thừa, Ứng thân hay được hiểu là các vị Bồ Tát tái sinh (Chu-cô [t: tulku]).|Ba thân nêu trên không phải là ba trạng thái độc lập mà là biểu hiện của một đơn vị duy nhất, thỉnh thoảng được mô tả bằng thân thứ tư là Tự tính (Tự nhiên) thân (s: svābhāvikakāya). Trong một vài Tan-tra, thân thứ tư này được gọi là Ðại lạc thân (s: mahāsukhakāya).
Ba thế giới S: triloka, traidhātuka; Hán Việt: Tam giới (三 界), Tam hữu (三 有);|Ba thế giới của Vòng sinh tử, là nơi mà loài Hữu tình tái sinh trong Lục đạo (s: gati), có thể hiểu là Vũ trụ quan của đạo Phật. Ba thế giới bao gồm:|1. Dục giới (欲 界; s, p: kāmaloka, kāmadhā-tu), có Ái dục về giới tính và những ái dục khác.|Trong dục giới có những loại Hữu tình sau:|Ngạ quỷ (餓 鬼; preta)|Ðịa ngục (地 獄; naraka);| Loài người (人 世; nāra)| Súc sinh (畜 生; paśu)| A-tu-la (阿 修 羅; āsura)| Sáu cõi Thiên (天; deva):|Tứ thiên vương (四 天 王; cāturmahārājikade-va);|Ðao lị (忉 利) hay Tam thập tam thiên (三 十 三 天; s: trāyastriṃśa-deva);|Dạ-ma (夜 摩; s: yāmadeva) hoặc Tu-dạ-ma thiên (須 夜 摩 天; s: suyāmadeva);|Ðâu-suất thiên (兜 率 天; s: tuṣita);|Hoá lạc thiên (化 樂 天; s: nirmāṇarati-deva);|Tha hoá tự tại thiên (他 化 自 在 天; s: paranirmi-tavaśavarti-deva);|2. Sắc giới (色 界; s: rūpaloka, rūpadhātu): các vị ở đây thuộc nam tính nhưng đã chấm dứt mọi dục tính, ăn uống, nhưng còn có khoái lạc. Ðây là thế giới của các thiên nhân trong cõi Thiền (s: dhyāna). Hành giả tu tập thiền định có thể tái sinh trong cõi sắc.|Sắc giới gồm bốn cõi, mỗi cõi lại được chia làm nhiều cõi thiên khác nhau:| Sơ thiền thiên (初 禪 天) với ba cõi thiên sau:|Phạm thân thiên (梵 身 天; s: brahmakāyika);|Phạm phụ thiên (梵 輔 天; s: brahmapurohita);|Ðại phạm thiên (大 梵 天; s: mahābrahmā).|Có hệ thống ghi thêm cõi thiên thứ tư của Sơ thiền thiên là Phạm chúng thiên (梵 眾 天; s: brahma-parśadya).| Nhị thiền thiên (二 禪 天) với ba cõi sau:|Thiểu quang thiên (少 光 天; parīttābha);|Vô lượng quang thiên (無 量 光 天; apramāṇā-bha);|Cực quang tịnh thiên (極 光 淨 天; abhāsvara, cựu dịch là Quang âm thiên; 光 音 天).| Tam thiền thiên (三 禪 天) bao gồm:|Thiểu tịnh thiên (少 淨 天; parīttaśubha);|Vô lượng tịnh thiên (無 量 淨 天; apramāṇaśu-bha);|Biến tịnh thiên (遍 淨 天; śubhakṛtsna).| Tứ thiền thiên (四 禪 天) gồm có:|Vô vân thiên (無 雲 天; anabhraka);|Phúc sinh thiên (福 生 天; puṇyaprasava);|Quảng quả thiên (廣 果 天; bṛhatphala);|Vô tưởng thiên (無 想 天; avṛha);|Vô phiền thiên (無 煩 天; atapa);|Vô nhiệt thiên (無 熱 天; sudṛśa);|Thiện kiến thiên (善 見 天; sudarśana);|Sắc cứu kính thiên (色 究 竟 天; akaniṣṭha);|Hoà âm thiên (和 音 天; aghaniṣṭha);|Ðại tự tại thiên (大 自 在 天; mahāmaheśvara).|Có sách xếp 2.4.4.- 2.4.9. dưới tên Tịnh phạm thiên (淨 梵 天), không thuộc về Tứ thiền thiên.|3. Vô sắc giới (無 色 界; arūpaloka, arūpa-dhātu): thế giới này được tạo dựng thuần tuý bằng tâm thức và gồm Bốn xứ (arūpasamā-dhi). Vô sắc giới gồm:| Không vô biên xứ (空 無 邊 處; ākāśanantyāyata-na);| Thức vô biên xứ (識 無 邊 處; vijñānanantyāyata-na);| Vô sở hữu xứ (無 所 有 處; ākiṃcanyāyata-na);| Phi tưởng phi phi tưởng xứ (非 想 非 非 想 處; naivasaṃjñā-nāsaṃjñāyatana)|Hành giả tu học Tứ thiền bát định có thể tái sinh vào bốn xứ này.
Ba thời Phật Hán Việt: Tam thế Phật (三 世 佛);|Chỉ Phật quá khứ, hiện tại và vị lai, đó là các vị Ca-diếp (s: kāśyapa), Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni) và Di-lặc (s: maitreya). Có khi tranh tượng trình bày Phật Nhiên Ðăng (s: dīpaṅkara) là Phật quá khứ.
Ba thừa S: triyāna; Hán Việt: Tam thừa (三 乘);|Ba cỗ xe đưa đến Niết-bàn, đó là Thanh văn thừa (聲 聞 乘; s: śrāvakayāna), Ðộc giác thừa (獨 覺 乘; s: pratyekayāna) và Bồ Tát thừa (菩 薩 乘; s: bodhisattvayāna). Ðại thừa gọi Thanh văn thừa là Tiểu thừa (s: hīna-yāna) với sự đắc quả A-la-hán (s: arhat) là mục đích, Ðộc giác thừa là Trung thừa (s: madhyamāyāna) với quả Ðộc giác Phật. Bồ Tát thừa được xem là Ðại thừa (s: mahā-yāna) vì nó có thể cứu độ tất cả chúng sinh và hành giả trên xe này cũng có thể đắc quả cao nhất, quả Vô thượng chính đẳng chính giác (s: anuttarasamyaksaṃbodhi).|Trong kinh Diệu pháp liên hoa (s: saddharmapuṇ-ḍarīka-sūtra), đức Phật nói rằng ba cỗ xe nói trên cũng chỉ là thành phần của một cỗ xe (Nhất thừa) và được chỉ dạy tuỳ theo khả năng tiếp thu của các đệ tử. Ba thành phần này được so sánh với ba cỗ xe được kéo bằng con dê, hươu và bò.
Ba thừa mười hai phần giáo Hán Việt: Tam thừa thập nhị bộ phần giáo (三 乘 十 二 部 分 教), gọi đúng hơn là Ba thừa mười hai thể loại kinh;|Là ba cỗ xe Thanh văn (Tiểu thừa), Ðộc giác (Trung thừa) và Bồ Tát (Ðại thừa). Mười hai phần giáo là một cách phân loại Tam tạng kinh điển khác của người Trung Quốc.|Mười hai phần giáo bao gồm: 1. Kinh (經; s: sūtra) hoặc Khế kinh (契 經), cũng được gọi theo âm là Tu-đa-la (修 多 羅), chỉ những bài kinh chính đức Phật thuyết; 2. Trùng tụng (重 頌; s: geya) hoặc Ứng tụng (應 頌), gọi theo âm là Kì-dạ (祇 夜). Một dạng kệ tụng mà trong đó nhiều câu được lặp đi lặp lại; 3. Thụ kí (受 記; s: vyākaraṇa), âm là Hoa-già-la-na (華 遮 羅 那), chỉ những lời do đức Phật thụ kí, chứng nhận cho các vị Bồ Tát, đệ tử mai sau thành Phật và những việc sẽ xảy ra…; 4. Kệ-đà (偈 陀; s: gāthā), cũng được gọi là Kí chú (記 註) hay Phúng tụng (諷 頌), những bài thơ ca không thuật lại văn trường hàng, xem Kệ; 5. (Vô vấn) Tự thuyết ([無 問]自 說; s: udāna) hoặc Tán thán kinh (讚 歎 經), âm là Ưu-đà-na (憂 陀 那), chỉ những bài kinh mà Phật tự thuyết, không phải đợi người thỉnh cầu mới trình bày; 6. Nhân duyên (因 緣; s: nidāna) hay Quảng thuyết (廣 說), gọi theo âm là Ni-đà-na (尼 陀 那), chỉ những bài kinh nói về nhân duyên khi Phật thuyết pháp và người nghe pháp…; 7. Thí dụ (譬 喻; s: avadana) hoặc Diễn thuyết giải ngộ kinh (演 說 解 悟 經), âm là A-ba-đà-na (阿 波 陀 那), chỉ những loại kinh mà trong đó Phật sử dụng những thí dụ, ẩn dụ để người nghe dễ hiểu hơn; 8. Như thị pháp hiện (如 是 法 現; s: itivṛttaka) hoặc Bản sự kinh (本 事 經), âm là Y-đế-mục-đa-già (醫 帝 目 多 伽), chỉ những bài kinh nói về sự tu nhân chứng quả của các vị đệ tử trong quá khứ, vị lai; 9. Bản sinh kinh (本 生 經; s: jātaka), gọi theo âm là Xà-đà-già (闍 陀 伽); 10. Phương quảng (方 廣), Phương đẳng (方 等; s: vaipulya) hoặc Quảng đại kinh (廣 大 經), gọi theo âm là Tì-phật-lược (毗 佛 略); 11. Hi pháp (希 法; s: addhutadharma) hoặc Vị tằng hữu (未 曾 有), âm là A-phù-đà đạt-ma (阿 浮 陀 達 磨), kinh nói về thần lực chư Phật thị hiện, cảnh giới kì diệu, hi hữu mà phàm phu không hội nổi; 12. Luận nghị (論 議; s: upadeśa), cũng được gọi là Cận sự thỉnh vấn kinh (近 事 請 問 經) hoặc theo âm là Ưu-ba-đề-xá (優 波 提 舍), chỉ những bài kinh có tính cách vấn đáp với lí luận cho rõ lí tà, chính.
Ba Tiêu 芭 蕉; J: bashō;|Tùng Vĩ Ba Tiêu (松 尾 芭 蕉).
Ba Tiêu Huệ Thanh 芭 蕉 慧 清; C: bājiāo huìqīng; J: bashō esei; tk. 10; |Thiền sư Triều Tiên, thuộc tông Quy Ngưỡng. Năm 28 tuổi, Sư đến yết kiến Nam Tháp Quang Dũng và được Ấn khả. Nối pháp của Sư có 4 vị, trong đó Hưng Dương Thanh Nhượng và U Cốc Pháp Mãn là hàng đầu. Sư sau trụ trì tại núi Ba Tiêu, rất nhiều người theo học.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là nước Ba Tiêu (cây chuối)?« Sư đáp: »Mùa đông ấm mùa hạ mát.« Tăng hỏi: »Thế nào là xuy mao kiếm (吹 毛 劍; kiếm bén thổi sợi lông qua liền đứt)?« Sư tiến ba bước. Hỏi: »Thế nào là Hoà thượng một câu vì người?« Sư đáp: »Chỉ e Xà-lê chẳng hỏi.«|Sư thượng đường cầm gậy đưa lên bảo chúng: »Các ông có cây gậy thì ta cho các ông cây gậy, các ông không có gậy thì ta cướp cây gậy các ông.« Sư chống gậy đứng rồi bước xuống toà.|Lời dạy bất hủ này đã được ghi lại trong Vô môn quan, Công án 44.
Ba-trá-la 波 吒 羅; C: bōzhàluó; J: hatara.|1. Phiên âm pāṭala, tên một loại cây/hoa có màu sắc. 2. Một cách phiên âm của Pāṭaliputra, Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-lê-da 波 吒 梨 耶; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlíyé; J: hatariya.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-li 波 吒 釐; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlí; J: hatari.|Tên một thành phố ở Ma-kiệt-đà (摩 竭 陀; s: magadha), nay là thành phố Patna. Tên thành phố nầy xuất phát từ loại cây Pāṭala được trồng nhiều ở đây, đó là một loại cây mà hoa có sắc màu đỏ. Thành phố nầy là nơi kết tập kinh điển lần thứ 3 (Đệ tam kết tập 第 三 結 集).
Ba-trá-lị-phất 波 吒 利 弗; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlìfú; J: hatairifutsu.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-li tử 波 吒 釐 子; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlízǐ; J: hatarishi.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba-trá-li tử thành 波 吒 釐 子 城; S: pāṭaliputra; C: bōzhàlízǐ-chéng; J: hatarishijō.|Xem Ba-trá-li (波 吒 釐).
Ba trí huệ Hán Việt: Tam huệ (三 慧);|Ba dạng hiểu biết, được chia ra như sau:|1. Văn huệ (聞 慧; s: śrutimayō-prajñā), trí huệ đạt được thông qua sách vở; 2. Tư huệ (思 慧; s: cintāmayō-prajñā), trí huệ đạt được sau khi phân tích, suy ngẫm (chính tư duy trong Bát chính đạo); 3. Tu huệ (修 慧; s: bhāvanāmayō-prajñā), trí huệ xuất phát từ Thiền định.
Bà-tu-mật 婆 修 蜜; S: vasumitra; cũng được gọi theo lối dịch nghĩa là Thế Hữu (世 友);|Tổ thứ bảy của Thiền tông Ấn Ðộ, dịch nghĩa là Thế Hữu.
Ba-tư-nặc vương 波 斯 匿 王; S, P: prasenajit;|Vua Ba-tư-nặc của xứ Kosala, ở thành Xá-vệ (s: śrāvastī), sinh cùng năm với Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Vua cùng với Hoàng hậu và Thái tử Kì-đà (s: jeta) con mình, trở thành hàng cư sĩ quan trọng đầu tiên trong tăng đoàn.
Ba tự tính S: trisvabhāva; Hán Việt: Tam tự tính (三 自 性);|Chỉ cách phân chia đặc điểm của các Pháp theo Duy thức tông.
Ba-tuần 波 旬; C: pōxún; J: hajun.|Phiên âm chữ pāpīyas hoặc pāpīyan trong tiếng Phạn, có nghĩa là »ác độc«, »ác ma« hoặc »ma vương«. Là người có những ý định xấu ác. Đồng nghĩa với chữ māra trong tiếng Phạn và Pā-li, có nghĩa là »kẻ giết người«. Xem kinh Thủ-lăng-nghiêm.
Ba tướng S: trilakṣaṇa; P: tilakkhaṇa; Hán Việt: Tam tướng (三 相);|Ba đặc tính của thế giới hiện tượng là Vô thường (s: anitya), Khổ (duḥkha) và Vô ngã (s: anātman).
Ba-xa 波 奢; S: pārśva; C: bōshē; J: basha.|Bậc thượng thủ trong Hội nghị kết tập kinh điển lần thứ tư. Hiếp Tôn giả (脅 尊 者).
Ba-xà-ba-đề 波 闍 波 提; S: prajāpati; C: bōshébōtí; J: pajapadai;|Xem Ma-ha Ba-xà-ba-đề (摩 訶 波 闍 波 提).
Bà-xá Tư-đa 婆 舍 私 多; S: baśaṣita;|Tổ thứ 25 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Bắc câu lô châu 北倶盧洲; C: bĕijùlú zhōu; J: hokkurushū; S: uttara-kuru.|Nơi cực Bắc của Tứ đại châu (四大洲) trong vũ trụ quan Phật giáo Ấn Độ. |Bắc phương tì-sa-môn thiên vương tuỳ quân hộ pháp chân ngôn |北方毘沙門天王隨軍護法眞言; C: bĕifāng píshāméntiānwáng suíjūn hùfă zhēnyán; J: hoppō bishamontennō zuigun gohō shingon; |1 quyển; Bất Không (不空; s: amoghavajra) dịch. Một số tư liệu gốc cho rằng kinh nầy ảnh hưởng Phật giáo Ấn Độ, một số nguồn khác cho rằng kinh ấy rõ ràng là bản nguỵ tạo bằng chữ Hán.
Bắc sơn lục 北山録; C: bĕishān lù; J: hokusan-roku; |Tác phẩm ồm 10 quyển; của Thần Thanh (神清).
Bắc tông thiền 北宗禪; C: běizōng-chán;|Chỉ phương pháp thiền theo thuyết Tiệm ngộ, tức là giác ngộ theo cấp bậc, ngược với phép tu Ðốn ngộ của Nam tông (Thần Tú, Huệ Năng).
Bắc Uất-đan-việt 北鬱單越; C: bĕiyùdān yuè; J: hoku uttannotsu; |Xem Bắc câu-lô châu (北倶盧洲).
Bạch Ẩn Huệ Hạc 白 隱 慧 鶴; J: hakuin ekaku; 1686-1769;|Thiền sư Nhật Bản, một trong những Thiền sư quan trọng nhất của tông Lâm Tế (j: rin-zai). Mặc dù dòng Lâm Tế đã có từ lâu tại Nhật, nhưng Sư là người đã phục hưng, cải cách lại thiền phái này, vốn đã bắt đầu tàn lụi từ thế kỉ thứ 14. Sư là người tổng kết lại các Công án và nhấn mạnh đến tầm quan trọng của việc Toạ thiền vì Sư nhận thấy rằng nhiều người đã ham thích suy tư về công án mà quên hẳn tu tập thiền định. Công án »Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay?« của Sư là công án nổi tiếng nhất của một Thiền sư Nhật. Con người thiên tài này không phải chỉ là một vị Thiền sư mà là một hoạ, văn và nghệ sĩ tạc tượng xuất chúng. Các tranh mực tàu của Sư là những kiệt tác của thiền hoạ Nhật (Mặc tích).|Người ta kể lại rằng, hồi lên 7, 8, Sư cùng mẹ viếng chùa. Lần đó, Sư nghe các vị tăng tụng kinh tả lại cảnh Ðịa ngục. Cảnh đau khổ đó làm Sư không bao giờ quên và quyết đi tu, học để đạt tới cảnh »vào lửa không cháy, vào nước không chìm.« Mặc dù cha mẹ không cho đi tu, Sư vào chùa năm 15 tuổi, suốt ngày lo tụng kinh niệm Phật. Năm 19 tuổi, nhân khi đọc tiểu sử Thiền sư Trung Quốc Nham Ðầu Toàn Hoát (Sư bị giặc cướp đâm, rống lên một tiếng thật to vang xa mười dặm rồi tịch), Sư nghĩ rằng, cả Thiền sư đắc đạo cũng có người không thoát một cái chết đau khổ và mất lòng tin nơi Phật pháp, tìm thú vui nơi văn chương|Năm 22 tuổi, nhân nghe một câu kinh, Sư bỗng có ngộ nhập, càng quyết tâm đi tìm phép »an tâm« và tập trung vào công án »Vô«. Sư thuật lại như sau trong Viễn la thiên phủ (j: orategama):||H 12: Bạch Ẩn Huệ Hạc (tranh tự hoạ)|»… Một đêm nọ, khi nghe tiếng chuông chùa vang, ta hoát nhiên nhiên tỉnh ngộ… Ta tự biết, chính mình là Thiền sư Nham Ðầu, chẳng mang thương tích gì trong tam thế. Tất cả mọi lo sợ đeo đuổi từ xưa bỗng nhiên biến mất. Ta gọi lớn ›Tuyệt vời! Tuyệt vời! Chẳng cần vượt khỏi sinh tử, chẳng cần giác ngộ. Một ngàn bảy trăm công án chẳng có giá trị gì‹«.|Kinh nghiệm lần đó quá lớn lao, Sư tưởng mình là người duy nhất giác ngộ trong thiên hạ. Về sau Sư kể lại: »Lòng tự hào của ta vọt lên như núi cao, lòng kiêu mạn tràn như thác đổ.« Sư đến tham vấn Thiền sư Ðạo Kính Huệ Ðoan (道 鏡 慧 端; j: dō-kyō etan) để kể lại kinh nghiệm giác ngộ của mình. Huệ Ðoan nhận ra ngay lòng kiêu mạn đó và không ấn chứng cho Sư nhưng nhận Sư làm môn đệ. Trong những năm sau, Sư chịu đựng một thời gian tham thiền khắc nghiệt và cứ mỗi lần Sư trình bày sở đắc của mình lại bị thầy chê là »một chúng sinh đáng thương sống trong địa ngục.« Ðạo Kính Huệ Ðoan chính là người đã nhận ra tài năng xuất chúng của Sư, và đã thúc đẩy Sư càng tiến sâu vào những tầng sâu giác ngộ. Chính vì vậy ông từ chối không ấn chứng gì cho Sư cả. Mãi đến sau khi Huệ Ðoan chết, Sư mới hiểu hết giáo pháp của thầy mình và ngày nay người ta xem Sư chính là truyền nhân của Ðạo Kính.|Với những đệ tử quan trọng như Ðông Lĩnh Viên Từ (東 嶺 圓 慈), Nga Sơn Từ Ðiệu (峨 山 慈 掉), Tuý Ông Nguyên Lư (醉 翁 元 盧)… (xem biểu đồ cuổi sách), phép tu thiền của Bạch Ẩn Thiền sư ngày nay còn truyền lại trong dòng Thiền Lâm Tế Nhật Bản, gọi là phái Học Lâm. Theo Sư, hành giả cần 3 yếu tố sau đây mới toạ thiền thành công: Ðại tín căn, Ðại nghi đoàn và Ðại phấn chí. Sư coi trọng phép quán công án và xếp đặt các công án trong một hệ thống mà hành giả cần giải đáp theo thứ tự nhất định. Công án »Vô« của Triệu Châu và »bàn tay« được Sư xem là những bài học hay nhất. Sau quá trình giải công án, hành giả được ấn chứng và tiếp tục sống một đời sống viễn li cô tịch trong một thời gian vài năm để chiêm nghiệm và tiếp tục đạt thêm những kinh nghiệm giác ngộ. Sau đó hành giả mới được giáo hoá với tính cách một Thiền sư.|Sư cũng coi trọng một đời sống nghiêm túc trong thiền viện với giới luật nghiêm minh cũng như lao động hằng ngày (Bách Trượng Hoài Hải), xem lao động cũng là một phần của thiền định.|Trong tác phẩm Viễn la thiên phủ (遠 羅 天 釜; j: orategama), Sư viết như sau về »Thiền trong hoạt động«:|»… Ðừng hiểu sai ta và cho rằng cần dẹp bỏ toạ thiền và tìm một hoạt động nào đó. Ðiều đáng quý nhất chính là phép quán công án, phép này không cần quan tâm đến việc các ông đang yên tĩnh hay đang hoạt động. Thiền sinh nếu quán công án khi đi không biết mình đi, khi ngồi không biết mình ngồi. Nhằm đạt đến chiều sâu nhất của tâm và chứng ngộ cái sống thật sự của nó thì trong mọi tình huống không có cách nào khác hơn là đạt một tự tâm lắng đọng sâu xa ngay trong những hoạt động của mình.«|Sư chăm lo, quản lí hướng dẫn nhiều thiền viện, những nơi mà ngày nay vẫn còn mang đậm tính Thiền của Sư. Sư cũng để lại nhiều tác phẩm đặc sắc, mang lại niềm cảm hứng bất tận cho giới hâm mộ thiền ngày nay.|Bạch Ẩn Thiền sư toạ thiền hoà tán|白 隱 禪 師 坐 禪 和 讚; J: hakuin zenji zazen wasan;|Một bài ca tụng Toạ thiền (j: zazen) của vị Thiền sư Nhật Bản nổi danh Bạch Ẩn Huệ Hạc, được tụng nhiều trong các Thiền viện tại Nhật. Bắt đầu bằng câu »Tất cả chúng sinh bản lai là Phật«, Sư tán tụng toạ thiền là phương pháp tối trọng để thức tỉnh, về đến chân lí của đạo Phật.|Nguyên văn Toạ thiền hoà tán (bản dịch của Trúc Thiên & Tuệ Sĩ từ bản Anh ngữ, trích từ Thiền luận của D. T. Su-zu-ki):|Tất cả chúng sinh bản lai là Phật|Cũng như băng với nước|Ngoài nước, không đâu có băng|Ngoài chúng sinh, tìm đâu ra Phật?|Ðạo gần bên mình mà chẳng biết|Bao người tìm kiếm xa vời – Ðáng thương!|Ðó cũng như người nằm trong nước|Gào khát cổ xin được giải khát|Ðó cũng như con trai của trưởng giả|Lang thang sống với phường nghèo khổ|Nguyên do ta luân hồi trong sáu cõi|Là tại ta chìm đắm trong vô minh|Mãi lạc xa, xa mãi trong u minh|Biết bao giờ thoát li sinh tử?|Pháp môn toạ thiền của Ðại thừa|Ta không đủ lời để tán tụng|Những pháp hạnh cao quý như bố thí và trì giới|Như niệm hồng danh Phật, sám hối và khổ hạnh|Và biết bao công đức khác|Tất cả đều là kết quả của toạ thiền|Thậm chí những người chỉ ngồi qua một lần|Cũng diệt trừ được tất cả ác nghiệp|Không đâu tìm thấy ác đạo nữa|Mà Tịnh độ vẫn sát kề bên|Xin hãy cung kính nghe nói cái thật ấy|Dầu chỉ một lần|Hãy tán thán, hãy hoan hỉ ôm choàng lấy|Và sẽ được muôn vàn phúc huệ|Ví như người tự mình phản tỉnh|Chứng vào cái Thật của Tự tính|Cái Thật của Tự tính là Vô tự tính|Người ấy thật đã thoát ngoài điên đảo vọng tưởng|Ðã mở ra cánh cửa đồng nhất của nhân và quả|Và thênh thang con đường pháp phi nhị phi tam|Trụ nơi Bất dị giữa những cái dị|Dầu tới dầu lui cũng không bao giờ động|Nắm cái Vô niệm trong cái niệm|Trong mọi thi vi đều nghe tiếng pháp|Trời tam-muội lồng lộng vô biên|Trăng Tứ trí sáng ngời viên mãn|Ấy là lúc họ thiếu gì đâu?|Ðạo (chân lí) bản lai thanh tịnh hiện thành|Thế giới này là thế giới của Liên hoa tạng|Và thân này là Pháp thân của Phật.
Bạch chỉ 白 紙; J: hakushi; nghĩa là »trang giấy trắng«;|Một danh từ chỉ một tâm trạng đạt được qua quá trình Toạ thiền (j: zazen) và một trong những yếu tố để đạt Giác ngộ. Bạch chỉ là một tâm trạng – nói theo nhà hiền triết châu Âu Eckart – »trống rỗng không có một vật«. Ðể đạt được tâm trạng này thì tất cả những ý nghĩ, thành kiến, hình ảnh… phải biến mất, như chư vị Thiền sư thường nhấn mạnh.|Bạch Vân An Cốc – một vị Thiền sư hiện đại người Nhật – khuyên rằng: »Nếu đầu óc, thâm tâm của quý vị còn chức đựng bất cứ một cái gì, ghi lại một cái gì thì quý vị sẽ không bao giờ Kiến tính. Quý vị phải buông xả tất cả. Tâm của quý vị phải trống rỗng, không một dấu vết như một tờ giấy trắng trong sạch, Bạch chỉ!«
Bạch liên hoa xã 白 蓮 華 社|Xem Tịnh độ tông.
Bạch Mã tự 白 馬 寺; C: báimǎ-sì;|Chùa cổ nhất Trung Quốc gần Lạc Dương, được xây dựng từ thế kỉ thứ 1 sau Công nguyên. Chùa được tu bổ nhiều lần, lần cuối vào đời nhà Minh. Chùa thuộc về Thiền tông, là nơi bộ kinh Tứ thập nhị chương được hai Cao tăng Ấn Ðộ là Ca-diếp Ma-đằng (迦 葉 摩 騰; s: kāśyapa mātaṅga) và Trúc Pháp Lan (竺 法 蘭; gobharaṇa hoặc dharmarakṣa) dịch ra chữ Hán. Ðây là bộ kinh đầu tiên được dịch sang Hán ngữ. Tháp của hai vị còn đứng bên cạnh chùa này.
Bách Trượng Hoài Hải 百 丈 懷 海; C: bǎizhàng huáihǎi; J: hyakujō e-kai; 720-814;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những Thiền sư danh tiếng nhất đời Ðường, nối pháp Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất. Học nhân đến Sư tham vấn rất đông, trong đó Hoàng Bá Hi Vận và Quy Sơn Linh Hựu là hai vị thượng thủ.|Sư là người đầu tiên trong Thiền tông lập và kết tập những quy luật hành động hằng ngày của thiền sinh trong một thiền đường. Trước đó tất cả những thiền sinh chỉ là »khách« trong những chùa của tông phái khác – thường là Luật viện (Luật tông) – với những nghi quỹ họ phải tuân theo. Từ lúc Sư lập ra quy luật mới, nhiều thiền đường được thành lập với những điều kiện thuận lợi đáp ứng nhu cầu của thiền sinh. Sư nhấn mạnh sự kết hợp giữa thiền và các việc lao động trong và ngoài thiền viện như làm ruộng, cuốc đất trồng cây. Câu nói của Sư »một ngày không làm, một ngày không ăn« (一 日 不 作 一 日 不 食; nhất nhật bất tác, nhất nhật bất thực) đã gây ấn tượng đến ngày nay. Theo quy luật mới, thiền sinh làm việc tự nuôi sống (các Tỉ-khâu thời Phật Thích-ca không được phép làm việc) nhưng song song với công việc hằng ngày, Sư vẫn giữ lại truyền thống đi khất thực và cho đó là một phương tiện tu luyện tâm. Những quy luật mới này được ghi lại trong Bách Trượng thanh quy. Mặc dù nguyên bản của quyển sách này đã mất nhưng các quy luật này vẫn còn được tuân hành nghiêm chỉnh cho đến ngày nay.|Sư họ Vương, quê ở Trường Lạc, Phúc Châu. Lúc nhỏ theo mẹ đi chùa lễ Phật, Sư chỉ tượng Phật hỏi mẹ: »Ðây là gì?« Mẹ bảo: »Phật« Sư nói: »Hình dung không khác gì với người, con sau cũng sẽ làm Phật.« Sư xuất gia lúc còn để chỏm và chuyên cần tu học Giới, Ðịnh, Huệ. Sau, Sư đến tham học với Mã Tổ làm thị giả và được Mã Tổ truyền tâm ấn. Câu chuyện Mã Tổ mở mắt cho Sư rất thú vị: Sư theo hầu Mã Tổ đi dạo, thấy một bầy vòt trời bay qua, Tổ hỏi: »Ðó là cái gì?« Sư đáp: »Con vòt trời« Tổ hỏi: »Bay đi đâu?« Sư đáp: »Bay qua.« Mã Tổ bèn nắm lỗ mũi Sư kéo mạnh, đau quá Sư la thất thanh. Mã Tổ bảo: »Lại nói bay qua đi!« Nghe câu ấy, Sư tỉnh ngộ.|Sư để lại nhiều bài thuyết giảng quý báu trong Bách Trượng quảng lục và Bách Trượng ngữ lục. Trong đó Sư đề cao việc »lìa bỏ tất cả những vọng tưởng tức như như Phật« và khuyên thiền sinh tu tập pháp môn vô phân biệt, Bất nhị:|»Phàm người học đạo nếu gặp các thứ khổ vui, việc vừa ý không vừa ý tâm không lui sụt, chẳng để tâm đến danh dự lợi dưỡng ăn mặc, chẳng tham tất cả phúc đức lợi ích, không bị các pháp thế gian buộc ngại, không thân mến khổ vui, tâm hằng bình đẳng, ăn cơm hẩm cốt nuôi mệnh sống, mặc áo vá chỉ để ngừa lạnh, ngơ ngơ như ngu như điếc, sẽ được ít phần tương ưng. Nếu trong tâm ham học rộng biết nhiều, cầu phúc cầu trí, đều là ở trong sinh tử, đối với lí đạo thật vô ích, lại bị gió hiểu biết thổi trôi giạt trong biển sinh tử.«|Có vị tăng hỏi: »Như nay Thụ giới rồi thân khẩu được thanh tịnh, lại làm đủ các việc thiện, như thế được giải thoát chăng?« Sư đáp: »Ðược ít phần giải thoát, chưa được tâm giải thoát, chưa được tất cả chỗ giải thoát.«|Tăng hỏi: »Thế nào là tâm giải thoát và tất cả chỗ giải thoát?« Sư đáp: »Chẳng cầu Phật, Pháp, Tăng, cho đến chẳng cầu phúc trí tri giải, tình cảm nhơ sạch hết, chẳng chấp tâm không cầu là phải, chẳng trụ chỗ hết, cũng chẳng mến thiên đường sợ địa ngục, trói buộc cởi mở không ngại, tức thân tâm và tất cả chỗ đều gọi giải thoát. Ngươi chớ có cho ít phần giới thân khẩu ý tịnh là xong, đâu biết môn giới định huệ như hà sa, mà vô lậu giải thoát toàn chưa dính một mảy….|Cố gắng! Nhằm hiện nay cố tìm xét lấy, đừng đợi mắt mờ, tai điếc, tóc bạc, mặt nhăn, già khổ đến thân, buồn thảm triền miên mắt hằng rơi lệ, trong tâm hoảng sợ không còn một nơi y cứ, chẳng biết chỗ đi. Ðến khi ấy, muốn nghiêm chỉnh tay chân cũng không thể kiềm được, dù có phúc trí, danh dự lợi dưỡng trọn không cứu được. Vì mắt tâm chưa mở, chỉ nhớ các cảnh, không biết phản chiếu, lại chẳng thấy Phật đạo. Một đời có tạo việc thiện ác đều thảy hiện ở trước, hoặc vui hoặc sợ, Lục đạo Ngũ uẩn cả đều hiện tiền. Trang sức, nhà cửa, ghe thuyền, xe cộ đẹp đẽ hiển hách, đều từ tham ái của mình hiện ra, tất cả cảnh ác đều biến thành cảnh thù thắng. Chỉ tuỳ tâm tham ái chỗ nào nặng, nghiệp thức dẫn đến thụ sinh, hoàn toàn không có phần tự do, rồng súc tốt xấu trọn chưa định được…«|Ðời Ðường niên hiệu Nguyên Hoà năm thứ 9 ngày 17 tháng giêng (814), Sư quy tịch, thọ 95 tuổi. Vua ban hiệu là Ðại Trí Thiền sư.
Bạch Vân An Cốc 白雲安谷; J: hakuun yasutani; 1885-1973;|Thiền sư Nhật Bản, là vị Thiền sư đầu tiên giảng dạy ở Mĩ. Xuất gia năm 11 tuổi, Sư tu tập dưới sự hướng dẫn của nhiều vị Thiền sư. Sau khi làm thầy giáo (trường phổ thông) 16 năm, Sư được Ðại Vân Tổ Nhạc Nguyên Ðiền (j: daiun sōgaku harada) nhận làm môn đệ và được ấn chứng (1943).|Sư đến Mĩ nhiều lần (1962-1969) và hướng dẫn nhiều thiền sinh Mĩ và các nước khác tu tập. Những bài luận về Bích nham lục, Vô môn quan và Thong dong lục của Sư rất được phổ biến. Phương pháp giảng dạy của Sư được truyền bá rộng rãi ở Tây phương qua quyển sách The Three Pillars of Zen của Philip Kapleau (Việt ngữ: Ba Trụ Thiền).
Bạch Vân Thủ Ðoan 白雲守端; C: báiyún shǒuduàn; J: hakuun shu-tan; 1025-1072;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc phái Dương Kì tông Lâm Tế đời thứ 9. Sư là pháp tự của Dương Kì Phương Hội Thiền sư. Người nối pháp danh tiếng nhất của Sư là Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Cát, quê ở Hàn Dương. Thuở nhỏ học Nho, đến 20 tuổi theo Úc Sơn Chủ ở Trà Lăng xuất gia. Sư đến tham vấn Dương Kì. Một hôm Dương Kì hỏi: »Bản sư ngươi là ai?« Sư thưa: »Hoà thượng Úc ở Trà Lăng«. Dương Kì bảo: »Ta nghe ông ấy qua cầu bị té có tỉnh, làm một bài kệ kì đặc, ngươi có nhớ chăng?« Sư tụng lại bài kệ:|我有明珠一顆。久被塵勞關鎖|今朝塵盡光生。照破山河萬朵|Ngã hữu minh châu nhất khoả|Cửu bị trần lao quan toả|Kim triêu trần tận quang sinh|Chiếu phá sơn hà vạn đoá|*Ta có một viên minh châu|Ðã lâu vùi tại trần lao|Hôm nay trần sạch sáng chiếu|Soi tột núi sông muôn thứ.|Dương Kì cười rồi đi. Sư ngạc nhiên suốt đêm không ngủ. Hôm sau Sư đến thưa hỏi, gặp ngày cuối năm, Dương Kì hỏi: »Ngươi thấy mấy người hát sơn đông hôm qua chăng?« Sư thưa: »Thấy« Dương Kì bảo: »Ngươi còn thua y một bậc.« Sư lấy làm lạ thưa: »Ý chỉ thế nào?« Dương Kì bảo: »Y thích người cười, ngươi sợ người cười.« Nhân đây Sư liễu ngộ.|Sư thượng đường: »Cổ nhân để lại một lời nửa câu, khi chưa thấu sờ đến giống hệt vách sắt, bỗng nhiên một hôm sau khi nhìn được thấu, mới biết chính mình là vách sắt. Hiện nay làm sao thấu?« Sư lại nói: »Vách sắt! Vách sắt!«|Niên hiệu Hi Ninh thứ năm Sư viên tịch, thọ 48 tuổi.
Bạch Y Quan Âm 白衣觀音; J: byakue-kannon;|Một dạng hiện thân của Quán Thế Âm Bồ Tát. Tại Nhật, Quán Thế Âm cũng hay được trình bày dưới dạng »Phật bà« Quan Âm và là một đối tượng quan trọng trong nền hội hoạ của Thiền tông Nhật Bản.
Bái 唄; C: bài; J: bai; |Bài kinh tán thán đức hạnh chư Phật; tán tụng các bài kệ.
Bài cú 排句; J: haiku; cũng được gọi là Bài giới (j: hai-kai), cũng có lúc được gọi là Hài cú;|Một dạng thơ với 17 âm được xếp theo cách 5-7-5. Thi hào nổi danh nhất với dạng Bài cú là Tùng Vĩ Ba Tiêu (j: matsuo bashō, 1643-1715). Những bài Bài cú hay nhất của ông được xem là thước đo cho tất cả những thi hào người Nhật sau này. Chúng thấm nhuần vị Thiền và trình bày một cách trọn vẹn lối nhìn phi nhị nguyên của Thiền tông.
Bản 本; C: běn; J: hon;|1. Gốc rễ, cội nguồn, căn nguyên, cốt lõi, nền tảng; 2. Bắt rễ vào, có căn nguyên từ; 3. Sách, tư liệu; 4. Trong kinh Phật, thường được dùng chung với »bản tính«, »bản giác«, »bản Phật«, biểu thị bản tâm con người là ở trong tinh thể, không nhiễm ô và trong sáng.
Bản 板; C: băn; J: han, ban;|1. Ghế ngồi thiền của thiền sinh trong thiền đường; 2. Là một tấm bản bằng gỗ với kích thước khoảng 45x30x8 cm, thường được treo trong một thiền viện. Tấm bản này được gõ ba lần trong ngày: bình minh, hoàng hôn và trước khi đi ngủ. Người ta thường thấy những câu sau đây được khắc trên bản:|Hãy nghe đây chư tăng! Hãy tinh tiến trong việc tu tập! Thời gian bay qua nhanh như một mũi tên; nó chẳng chờ ai đâu!
Bạn 伴; C: bàn; J: han;|Có các nghĩa: 1. Đi cùng, đi kèm; được hộ tống, bị liên luỵ vào; 2. Bầu bạn, tùy tùng, bạn, người cộng sự; 3. Thính chúng trong một pháp hội thuyết giảng Phật pháp.
Bản chất 本質; C: běnzhí; j: honzetsu;|1. »Nguyên mẫu«. Cốt tuỷ của mọi vật. Bản tính căn nguyên của một vật được phản chiếu trong gương; 2. Theo giáo lí Duy thức, môi giới giữa tâm và cảnh là kết quả từ biến dịch và biểu hiện của vô số đối tượng khác nhau của tâm và tâm sở. Nó được xem là Tướng phần của thức A-lại-da. Là »trung gian« giữa thức thứ 6 và thế giới bên ngoài. Đặc tính đa dạng trong phương diện nầy giải thích cho sự đa dạng trong năng lực nhận thức của con người.
Ban-đê-pa S: bhandepa, bhadepa, bade, batalipa; còn có biệt danh: »Thiên nhân ganh tị«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, có lẽ sống trong cuối thế kỉ thứ 10.|Ban-đê-pa là một thiên nhân (có sách cho rằng ông là một người chuyên vẽ hình thiên nhân) sống tại Xá-vệ, nơi đức Phật Thích-ca lưu trú 25 mùa mưa. Ngày nọ, ông thấy một người toả hào quang rực rỡ, hỏi Phổ Nghiệp (s: viśvakārmān), chúa tể thiên nhân thì mới biết đó là một vị A-la-hán. Ông phát lòng tu học, đến Kan-ha-pa (s: kāṅhapa) xin học. Vị Ðạo sư hướng dẫn ông vào Man-đa-la của Bí mật tập hội (s: guhyasamāja) và dạy cho ông thực hành Bốn phạm trú: Từ là tri kiến, Bi là thiền định, Hỉ thái độ toàn hảo và Xả là mục đích tu tập. Nhờ tu tập thiền định mà Ban-đê-pa thanh lọc mọi vọng tưởng và ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa.|Khi Phổ Nghiệp (s: viśvakārmān) thấy ông về lại trên trời, Ngài hỏi ông học được những gì. Ban-đê-pa trả lời:|Ta đã đạt Tri kiến,|thấy Cảnh phi tự thể.|Thiền định không ngôi nghỉ.|Hành động thật toàn hảo,|như cha mẹ thương con.|Và hỏi mục đích ư?|mục đích rỗng như trời.|Bốn thứ đó là một.|Ham muốn dính mắc đâu?|Tuyệt vời thay, Ðạo sư!|Trí giả nên phụng sự.|Ông còn ca tụng Chân như như sau:|Hỉ tột cùng: buông bỏ|Từ tột cùng: chứng thật|Bi tột cùng: hỉ lạc|Xả tột cùng: đạo vị.
Bán già phu toạ 半跏趺坐; J: hanka-fusa;|Kiểu ngồi »nửa phần kết già«, chỉ một chân được gác qua bắp vế của chân khác. Bán già phu toạ là thế ngồi thiền dành cho những người không thể ngồi kết già (Kết già phu toạ) lâu được, mặc dù thế ngồi này không cân bằng, vững chắc như thế kết già. Bán già phu toạ cũng được gọi là »Bồ Tát toạ« (j: bosatsu-za).
Bản giác 本覺; C: běnjué; J: hongaku; |Đức tính giác ngộ sáng suốt mọi chúng sinh đều có như là bản tính của chúng, có nghĩa sự giác ngộ là điều gì đó không thể đạt được, hay như là một mục tiêu bên ngoài, mà nó hiện hữu rất thực ngay ở đây và trong giây phút hiện tại, do vậy nên mọi người chỉ cần nhận biết về nó. Đây là ý niệm thường được diễn đạt trong các kinh văn Đại thừa phát xuất ở Đông Á như luận Đại thừa khởi tín và kinh Viên Giác. Vì ở đây không có những thuật ngữ trực tiếp mang tinh thần Ấn Độ để diễn đạt tận căn nguyên ý niệm nầy, nên dẫn đến sự tán đồng những kinh văn có nguồn gốc Á Đông nầy. Đặc biệt trong luận Đại thừa khởi tín, nền tảng học thuyết nầy được phát triển rất chi tiết; trong đó giải thích một cách tương phản với Bản giác là Thuỷ giác (始覺), như là tính giác siêu việt đối đãi nhị nguyên, đối nghịch là Bất giác (不覺).
Bàn Khuê Vĩnh Trác 盤珪永琢; J: bankei yōtaku (eitaku); 1622-1693, cũng được gọi là Bàn Khuê Quốc sư (j: bankei kokushi);|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Diệu Tâm tự (j: myōshin-ji). Sư một trong những Thiền sư danh tiếng nhất trong lịch sử Phật giáo Nhật Bản, là người đã phổ biến thiền học dưới lớp quần chúng.|Sư sinh trưởng trong một gia đình theo Nho giáo, sinh sống bằng nghề y học Trung Quốc. Sư mất cha năm lên mười và một năm sau đó, Sư được gửi vào trường học. Một hôm, nhân lúc đọc quyển Ðại học (j: daigaku) – một trong bốn quyển sách chính (Tứ thư) của Nho giáo – đến câu »Ðại học làm sáng tỏ minh đức«, Sư hỏi thầy: »Minh đức (明德; j: meitoku) là gì?« Thầy trả lời: »Minh đức là tính tốt tự nhiên có sẵn của mỗi người« Sư hỏi đi hỏi lại nhiều lần nhưng những câu trả lời của vị thầy này không làm thoả mãn nỗi thắc mắc của Sư. Cuối cùng, Sư tìm học ở các vị Thiền sư để tìm câu giải đáp.|Ðến Thiền sư Vân Phủ Toàn Tường (雲甫全祥; j: umpō zenjō, 1568-1653), Sư được hướng dẫn vào phương pháp Toạ thiền (j: zazen) và có ngộ nhập nơi đây. Vân Phủ khuyên Sư đến các vị Thiền sư khác để trắc nghiệm sự giác ngộ của mình. Sư vâng lời thầy yết kiến nhiều Thiền sư nhưng không ai có thể Ấn chứng cho Sư. Nhân nghe danh một vị Thiền sư Trung Quốc là Ðạo Giả Siêu Nguyên (道者超元; c: dàozhě chāoyuán; j: dōsha chōgen) – một vị Thiền sư hoằng hoá đồng thời với Ẩn Nguyên Long Kì – đang trụ trì tại Sùng Phúc tự (j: sōfukuji), Sư đến tham học và được vị này ấn khả.|Vì thấy rằng, rất ít người hiểu được những lời thuyết pháp của mình nên Sư ẩn cư nhiều năm trước khi nhập thế hoằng hoá. Môn đệ của Sư sau này có đến cả ngàn người, xuất xứ từ mọi tầng cấp xã hội. Hầu hết tất cả những bài thuyết pháp của Sư đều xoay quanh hai chữ »Bất sinh« (不生; s: anutpāda; j: fushō), »Tâm bất sinh« những danh từ được Sư giảng nghĩa tường tận. Mặc dù Sư nghiêm cấm các đệ tử ghi chép lại pháp ngữ của mình nhưng các bài thuyết pháp của Sư vẫn còn được lưu lại.|Một Cư sĩ trình: »Con chẳng nghi ngờ rằng trong bản tâm không có vọng niệm; nhưng con không tìm thấy sự gián đoạn giữa hai niệm. Con không thể nào trụ trong cõi bất sinh.« Sư dạy: »Ngươi ra đời với chẳng cái nào khác ngoài Phật tâm bất sinh. Chỉ từ khi ngươi trưởng thành, nghe và thấy những người khác hành động trong trạng thái vô minh của họ, ngươi cũng dần dần bước theo vào cõi vô minh…. Theo năm tháng, cái vô minh của ngươi đã chiếm đoạt tất cả. Nhưng không một vọng niệm nào đã tự có sẵn. Vọng niệm tự chấm dứt trong tâm đã tự chứng được sự bất sinh…«|Một vị tăng hỏi: »Con không thể nào khắc phục được những vọng niệm trong tâm. Vậy con nên làm gì?« Sư đáp: »Ý nghĩ ›phải khắc phục những vọng niệm‹ cũng là một vọng niệm. Không một ý nghĩ nào đã có từ đầu. Chỉ vì ngươi khởi tâm phân biệt nên chúng mới xuất hiện.«|Năm 1672, Sư được Vương triều mời trụ trì Diệu Tâm tự tại Kinh Ðô (j: kyōto). Nhờ kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu và tài thuyết pháp xuất chúng của Sư – đặc biệt là lối thuyết pháp theo ngôn ngữ của người bình dân, dễ hiểu, dễ thâm nhập – nên tông Lâm Tế tại Nhật lại phất lên như một ngọn lửa sau một thời gian chết cứng trong các sắc thái bề ngoài. Về mặt này thì Sư chính là vị dẫn đường cho một vị Thiền sư Nhật xuất chúng sau này là Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku) – sinh sau Sư 61 năm. Mặc dù môn đệ của Sư rất đông nhưng Sư chỉ ấn khả ít người. Ba năm trước khi viên tịch, Sư được Nhật hoàng phong danh hiệu Phật Trí Hoằng Tế Thiền sư (j: butchi kōsai zenji).|Trước khi quy tịch, các đệ tử thỉnh Sư viết kệ. Sư bảo: »Ta sống 72 năm. 45 năm ta đã giáo hoá chúng. Tất cả những gì ta thuyết trong thời gian này là kệ lưu niệm của ta. Ta sẽ không làm một bài kệ khác nữa chỉ vì tất cả những người khác làm.« Nói xong, Sư ngồi kết già thị tịch. Năm 1740, 47 năm sau khi Sư tịch, Nhật hoàng lại phong danh hiệu khác là Ðại Pháp Chính Nhãn Quốc sư (大法正眼國師; j: daihō shōgen kokushi).
Bản lai 本來; C: běnlái; J: honrai;|Căn nguyên, từ lúc bắt đầu.
Bản lai diện mục 本來面目; C: běnláimiànmù; J: honrai-(no)-memmoku; nghĩa là »Gương mặt từ xưa đến nay«;|Một ẩn dụ nổi tiếng trong Thiền tông, được dùng để chỉ Phật tính, Chân như trong mỗi chúng sinh.|Dưới dạng câu hỏi »Gương mặt xưa nay của ngươi là gì?« chư vị Thiền sư thường hay trắc nghiệm kinh nghiệm ngộ đạo của đệ tử. Thấy »gương mặt xưa nay« tức là Kiến tính, ngộ được bản tính thanh tịnh sẵn có.
Bản lai thành Phật 本來成佛; C: běnlái chéngfó; J: honrai-jōbutsu;|Phật tính từ căn nguyên. Tất cả chúng sinh xư nay vốn là Phật. Câu nầy thường thấy trong nhiều kinh văn Đại thừa, như trong Đại thừa khởi tín luận và kinh Viên Giác.
Bản lai tự tính thanh tịnh niết-bàn 本來自性清淨涅槃; C: běnlái zìxìng qīng-jìng nièpán; J: honraijishō shōjōnehan;|Là một trong 4 loại niết-bàn theo giáo lí của Duy thức tông. Thuật ngữ nầy đề cập đến nguyên lí chân như như là bản tính của tất cả mọi hiện tượng.
Bản mạt 本末; C: běnmò; J: honmatsu;|»Gốc rễ và cành nhánh«; đầu và cuối, thiết yếu và vô dụng, v.v…
Bản mạt cứu cánh đẳng 本末究竟等; C: běnmò jiùjìngděng; J: hon-matsu kyūkyōdō; |Toàn thể nền tảng đều thành tựu; Toàn thể phần cơ bản đều trọn vẹn. Một trong 10 như thị theo kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是).
Bản nghiệp anh lạc kinh sớ 本業瓔珞經疏; C: běnyè yīngluò jīng shū; J: hongyō yōraku kyō so; |1 quyển.
Bản nghiệp kinh 本業經; C: běnyè jīng; J: hongyō kyō;|Tên gọi tắt của 1 trong 2 bản kinh khác nhau, hoặc là Bồ Tát anh lạc bản nghiệp kinh (菩薩瓔珞本業經), hoặc là Phật thuyết Bồ Tát bản nghiệp kinh (佛説菩薩本業經).
Bản phần 本分; C: běnfèn; J: honbun;|Phương diện mà con người thường hiện hữu với Phật tính vốn có.
Bản phần nhân 本分人; C: běnfèn rén; J: honbunnin;|Người vận dụng một cách rõ ràng Phật tính vốn có trong mình thành hiện thực.
Bản sinh 本生; C: běnshēng; J: honshō; |Hán dịch chữ Xà-đa-già (闍多伽, s: jātaka) từ tiếng Phạn, là 1 trong 12 thể loại kinh văn Phật giáo.
Bản sinh kinh 本生經; S, P: jātaka;|Là phần lớn nhất của Tiểu bộ kinh (p: khud-daka-nikāya), gồm 547 bài. Kinh này kể lại sự tích, các tiền kiếp của đức Phật Thích-ca, nói về các đệ tử và các người chống đối Ngài và chỉ rõ các Nghiệp (s: karma) đời trước đóng vai trò thế nào trong đời này.|Nhiều truyện trong Bản sinh kinh là truyện cổ Ấn Ðộ có trước cả thời đức Phật, nhưng phù hợp với nội dung cuốn kinh nên được đưa vào. Phần lớn các câu chuyện đều có những bài kệ và chính các câu kệ mới là tinh hoa của tập kinh này. Các tập truyện này trở thành nguồn cảm hứng của nhiều tranh tượng trong các đền chùa Phật giáo và thường được quần chúng Ðông nam á ưa thích. Ngày nay, Bản sinh kinh chỉ còn bản chữ Pā-li và chữ Hán, bản chữ Hán có lẽ được dịch từ một bản Phạn ngữ (sanskrit) đã thất truyền.
Bàn Sơn Bảo Tích 盤山寶積; C: pánshān bǎojī; J: banzan hōsha-ku; 720-814;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ và người nối pháp Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất. Sau khi được truyền tâm ấn, Sư đến Bàn Sơn, ngọn núi ở miền Bắc Trung Quốc cạnh biên giới Bắc Triều Tiên. Tắc 37 trong Bích nham lục có nói đến Sư.|Tương truyền rằng, Sư Kiến tính ở giữa chợ, trong lúc theo dõi câu chuyện giữa ông bán thịt và một người khách. Người khách yêu cầu: »Cắt cho tôi một miếng thịt ngon.« Ông bán thịt để dao xuống, khoanh tay đáp: »Miếng nào lại không ngon!« Sư nghe được có chút tỉnh. Nhân sau, lúc chứng cảnh xung quanh một đám ma, nghe người hát câu (T. Phước Hảo & T. Thông Phương dịch):|紅輪決定沉西去。未委魂靈往那方|幕下孝子哭哀哀|Hồng luân quyết định trầm Tây khứ|Vị uỷ hồn linh vãng na phương|Mạc hạ hiếu tử khốc ai ai.|»Vầng hồng quyết định về Tây lặn|Chưa biết hồn linh đến chỗ nào?|Dưới tấm màn hiếu tử khóc hu hu!«|tâm Sư bừng sáng. Về thuật lại Mã Tổ, Tổ liền Ấn khả.
Bản sư 本師; C: běnshī; J: honshi;|Là vị thầy gốc, chân sư. Danh hiệu này được hiểu theo nhiều cách: 1. Phật Thích-ca Mâu-ni, người sáng lập Phật giáo; 2. Vị Khai tổ của một tông phái Phật giáo; 3. Vị thầy đã truyền giới cho một người; 4. Vị thầy đã Ấn khả chứng minh cho một người. Rất có thể rằng, một thiền sinh đã tu học với nhiều vị Lão sư nhưng Bản sư chỉ là người đích thân ấn khả cho thiền sinh – một cách hiểu theo Thiền tông.
Bản sự 本事; C: běnshì; J: honji;|Tiếng Hán dịch từ chữ Y-đế-mục-đa-già (伊帝目多伽, s: itivṛttaka) trong tiếng Phạn, có nghĩa là vô số công hạnh trong quá khứ của Đức Phật và đệ tử. Một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經).
Bản sự kinh 本事經; C: běnshì jīng; J: honji kyō;|1. Một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo, ghi lại vô số công hạnh trong quá khứ của Đức Phật và đệ tử (s: itivṛttaka); 2. Bản sự kinh, 7 quyển, Huyền Trang dịch năm 650.
Bản tắc 本則; J: honsoku, nghĩa là »Quy tắc căn bản«;|Một cách gọi khác của một Công án, được sử dụng trong hai tập công án Bích nham lục và Vô môn quan để phân biệt với những thành phần khác của công án như »thuỳ thị«, »trước ngữ,« »bình xướng«.
Bản Tế 本濟; C: běnjǐ; J: honsai; 562~615; |Tăng sĩ Trung Hoa, đời Tuỳ; là đệ tử của Tín Hành, vị tổ sáng lập Tam giai giáo.
Bản tế 本際; C: běnjì; j: honzai; S: koti. |1. Căn nguyên của thực tại; bản chất nguyên thuỷ của mọi hiện tượng; 2. Nguyên nhân ban đầu. Trước tiên, đã rồi; 3. Căn nguyên, Chân đế, sự thật tuyệt đối, chân như (s: bhūta-koti).
Ban-thiền Lạt-ma 班禪喇嘛; T: panchen lama;|Danh hiệu Ðạt-lại Lạt-ma thứ 5 tặng cho thầy mình là vị trụ trì chùa Ta-shi Lhun-po trong thế kỉ thứ 17. Vì Ðạt-lại Lạt-ma được xem là hoá thân của Quán Thế Âm nên lúc đó Ban-thiền Lạt-ma được gọi là hoá thân của Phật A-di-đà. Như dòng Ðạt-lai, dòng Ban-thiền cũng được xem là một dòng tái sinh (Chu-cô [tulku]) nhưng Ban-thiền Lạt-ma không có trách nhiệm lĩnh đạo chính trị. Ðến thế kỉ 20, Ban-thiền Lạt-ma mới nhận một số nhiệm vụ này.
Bản thức 本識; C: běnshì; J: honjiki; |Thức căn bản – A-lại-da thức (阿頼耶識). Đây là thuật ngữ tiếng Hán mà Chân Đế thường dùng, có lẽ căn cứ vào nhận thức của Hữu bộ về một thức căn bản.
Bản Tịch 本寂|Xem Tào Sơn Bản Tịch
Bản Tịch 本寂; ?-1140;|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Sư nối pháp Thiền sư Thuần Chân và sau truyền lại cho đệ tử là Khánh Hỉ.|Sư thuở nhỏ đã có tư cách khác thường. Một vị tăng lạ thấy vậy khen: »Ðứa bé này cốt tướng phi thường, nếu xuất gia ắt thành tựu giống pháp chân thật.«|Lớn lên, Sư theo Thiền sư Thuần Chân tu học và sớm ngộ được ý chỉ của thầy. Sau đó, Sư đến trụ trì chùa Chúc Thánh, làng Nghĩa Trụ, xiển dương tông chỉ.|Niên hiệu Thiệu Minh năm thứ ba, ngày 14 tháng 6, Sư gọi chúng lại bảo: »Vô sự! Vô sự!« rồi sau đó viên tịch.
Bản tính 本性; C: běnxìng; J: honshō; S: prakṛti. |Bản chất, tự tính. Một bản chất chủ yếu của mọi vật, thường tương đương với khái niệm Tự tính (自性, s: svabhāva; p: sabhāva). Đặc biệt trong Phật giáo Đại thừa, thường loại trừ ý niệm của một bản tính cố hữu như là một nhận thức sai lầm. Nhưng mặt khác, theo quan niệm chung của triết học Trung Hoa thì bản tính con người vốn là thiện, các kinh văn khác cũng ám chỉ bản tâm vốn thường trong sáng và thanh tịnh. Xin xem kinh Viên Giác để biết thêm về Bản tính.
Bản Tịnh 本淨; 1100-1176;|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 9. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Mãn Giác.|Sư họ Kiều, quê ở Phù Diễn, Vĩnh Khương. Sư thuở nhỏ đã rất hiếu học, thông cả Nho và Phật giáo. Lớn lên, Sư xuất gia tu học với Thiền sư Mãn Giác, đạt được yếu chỉ của Thiền tông.|Sau, Sư nhận lời mời đến chùa Kiều An hoằng pháp. Sư thường phát nguyện: »Nguyện con đời đời chẳng lầm tông chỉ của Phật, hạnh tự giác giác tha không bao giờ gián cách, dùng phương tiện dẫn dắt các người đồng vào một đạo.«|Trước khi tịch, Sư gọi chúng đến dạy:|一揆一揆。石貓搖尾|擲身捉鼠。還化爲鬼|若要分明。金生麗水|Nhất quỹ nhất quỹ, thạch miêu diêu vĩ|Trịch thân xúc thử, hoàn hoá vi quỷ|Nhược yếu phân minh, kim sinh lệ thuỷ.|*Một đạo một đạo, mèo đá vẫy đuôi|Nhảy bổ chụp chuột, lại hoá thành quỷ|Nếu cần rành rõ, vàng sinh sông lệ|Và nói kệ:|幻身本自空寂生。猶如鏡形像|覺了一切空幻身。須臾證實相|Huyễn thân bản tự không tịch sinh|Du như kính hình tượng|Giác liễu nhất thiết không huyễn thân|Tu du chứng thật tướng.|*Thân huyễn vốn từ không tịch sinh|Dường tợ trong gương hiện bóng hình|Giác rành tất cả không thân huyễn|Chớp mắt liền hay chứng tướng chân|Nói kệ xong, Sư viên tịch.
Bản tính giới 本性界; C: honshōkai; J: běnxìngjiè; |Xem Bản tính trú chủng tính.
Bản tính trú 本性住; C: běnxìngzhù; J: honshōjū;|Xem Bản tính trú chủng tính (本性住種姓)
Bản tính trú chủng 本性住種; C: běnxìngzhùzhŏng; J: hon-shōjūshu;|Xem Bản tính trú chủng tính (本性住種姓)
Bản tính trú chủng tính 本性住種姓; C: běnxìngzhùzhŏngxìng; J: honshōjūshushō;|Chủng tử trong A-lại-da thức vốn đã có ngay lúc sinh ra như là kết quả của những hành vi trong kiép trước. Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ cho những hạt giống sẽ quyết định khuynh hướng tâm linh của mình, như là sự khác nhau giữa bản chất Thanh Văn, Bồ Tát v.v… Còn gọi là Bản hữu chủng tử (本有種子). Những chủng tử nầy vi tế hơn những chủng tử được gieo trồng trong đời nầy (tập thành chủng tính 習成種姓).
Bản trí 本智; C: běnzhì; J: honchi; |Trí huệ bản hữu; trí huệ bẩm sinh.
Bản tuỳ 本隨; C: běnsuí; j: honzui; |Căn bản và thứ yếu; Bản tuỳ nhị hoặc (本隨二惑).
Bản tuỳ nhị hoặc 本隨二惑; C: běnsuíèrhuò; j: honzuiniwaku; |Hai phạm trù phiền não: Sáu phiền não chính (lục phiền não 六煩惱) và Hai mươi thứ phiền não phụ (Tuỳ phiền não 隨煩惱).
Bàng sinh 傍生; C: bāngshēng; J: bōshō;|Loài súc vật, một trong 5 (hoặc 6) cõi chúng sinh thụ báo (s: tiryag-yoni).
Bàng Uẩn 龐蘊; C: pángyùn; 740-808/11;|Cư sĩ Trung Quốc nổi danh nhất trong Thiền tông đời Ðường, được phong danh là Duy-ma-cật của Ðông độ. Ông là môn đệ của hai vị Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất và Thạch Ðầu Hi Thiên và cũng kết bạn rất thân với Thiền sư Ðan Hà Thiên Nhiên. Những lời vấn đáp và Pháp chiến của ông với các Thiền sư danh tiếng cùng thời đã được ghi chép lại trong Bàng cư sĩ ngữ lục, được xem là những bài văn kệ gây cảm hứng nhất trong Thiền ngữ.|Bàng cư sĩ theo nghiệp Nho gia, sống cuộc đời rất thanh đạm. Vợ và con gái ông cũng chăm chỉ học thiền. Lần đầu yết kiến Thiền sư Thạch Ðầu, ông hỏi: »Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì ?« Thạch Ðầu liền lấy tay bụm miệng ông – ông bỗng nhiên có ngộ nhập. Một hôm Thạch Ðầu hỏi: »Từ ngày ông thấy lão Tăng đến nay hằng ngày làm việc gì?« Ông đáp: »Nếu hỏi việc làm hằng ngày tức không có chỗ mở miệng« và trình bài kệ sau:|日用事無別。唯吾自偶諧|頭頭非取捨。處處勿張乖|朱紫誰爲貴。丘山絕點埃|神通并妙用。運水及般柴|Nhật dụng sự vô biệt, duy ngô tự ngẫu hài|Ðầu đầu phi thủ xả, xứ xứ vật trương quai|Châu tử thuỳ vi quý, khâu sơn tuyệt điểm ai|Thần thông tịnh diệu dụng, vận thuỷ cập ban sài!|*Hằng ngày không việc khác|Mình ta ta hoà chung|Việc việc không nắm bỏ|Nơi nơi chẳng trệ ngưng|Quan chức có gì quý|Ðồi núi bặt bụi hồng|Thần thông cùng diệu dụng|Gánh nước bửa củi tài!|Sau đó ông đến tham vấn Mã Tổ, hỏi: »Chẳng cùng muôn pháp làm bạn là người gì?« Mã Tổ đáp: »Ðợi miệng ông hút hết nước Tây giang, ta sẽ nói với ông.« Nhân đây ông Ðại ngộ. Sau đó ông về nhà lấy thuyền chở của cải đem đổ xuống sông Tương và cất một thất nhỏ để tu hành. Con gái của ông là Linh Chiếu theo hầu hạ, chuyên việc chẻ tre bện sáo bán nuôi cha. Ông có làm bài kệ:|有男不婚,有女不嫁|大家團樂頭,共說無生話|Hữu nam bất thú|Hữu nữ bất giá|Ðại gia đoàn biến đầu|Cộng thuyết vô sinh thoại.|*Có trai không cưới|Con gái không gả|Cả nhà chung hội họp|Ðồng bàn lời vô sinh|Ông đến viếng Thiền sư Ðan Hà Thiên Nhiên. Ðan Hà làm thế chạy, ông bèn nói: »Vẫn là thế phóng thân, thế nào là thế tần thân?« Ðan Hà liền ngồi. Ông thấy vậy vẽ dưới đất chữ Thất. Ðan Hà vẽ đáp chữ Nhất. Ông nói: »Nhân bảy thấy một, thấy một quên bảy.« Ðan Hà đứng dậy đi. Ông gọi: »Hãy ngồi nán một chút, vẫn còn câu thứ hai.« Ðan Hà bảo: »Trong ấy nói được sao?« Ông bèn khóc ra đi.|Sắp tịch, ông bảo Linh Chiếu ra xem mặt trời đúng ngọ vào cho ông hay. Linh Chiếu ra xem vào thưa: »Mặt trời đã đúng ngọ, mà sao bị sao thiên cẩu ăn mất.« Tưởng thật, ông rời chỗ ngồi bước ra xem thì Linh Chiếu lên toà ngồi chỗ cha, thu thần hoá xác. Ông vào thấy vậy cười nói: »Con gái ta lanh lợi quá« rồi chờ bảy ngày sau mới hoá. Vợ ông hay được, nói: »Con gái ngu si với ông già vô tri, không báo tin mà đi sao đành vậy!« Bà ra báo tin cho con trai ngoài đồng. Người con trai đang cuốc đất nghe tin xong bèn đứng mà tịch. Rồi Long Bà cũng lặng lẽ tịch theo.
Bành Thành 彭城|Một trong hai trung tâm Phật giáo quan trọng phía Bắc Trung Quốc ở thế kỉ thứ 2. Trung tâm kia là Lạc Dương. Lạc Dương và Bành Thành phát triển song song với Luy Lâu, thuộc Giao Chỉ (Việt Nam).
Báo 報; C: bào; J: hō; |Có các nghĩa sau: 1. Báo đáp, kết quả (s: phala). Sự báo đáp, sự thưởng phạt. Điều đem lại cho chính mình do những việc làm từ trước; 2. Công bố, tiết lộ, báo tin, tường thuật, tuyên bố; 3. Trả lời, đáp lại, đền ơn, hồi âm; 4. Đối xử, đối đãi; 5. Một trong 10 Như thị đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是).
Bảo Giám 寶鑒; ?-1173|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 9. Sư kế thừa Thiền sư Ða Vân.|Sư họ Kiều, tên Phù, quê ở làng Trung Thuỵ. Sư bẩm chất thông minh, thông cả Nho giáo và nổi danh là viết chữ đẹp. Sư làm quan đến chức Cung hậu xá nhân đời vua Lí Anh Tông.|Năm lên 30, Sư từ quan đến chùa Bảo Phúc quận Mĩ Lương thụ giáo xuất gia với Thiền sư Ða Vân. Khi Ða Vân tịch, Sư ở lại trụ trì chùa này.|Sư thường dạy chúng: »Muốn tiến đến tông thừa của Phật là phải siêng năng, nhưng thành Phật chính giác phải nhờ Trí huệ. Ví như nhắm bắn cái đích ngoài trăm bước, mũi tên đến được là nhờ sức mạnh, nhưng trúng được đích không phải do sức.«|Sắp viên tịch, Sư nói kệ:|得成正覺罕憑修。祇爲牢籠智慧優|認得摩尼玄妙理。祇如天上顯金烏|智者猶如月照天。光含塵殺照無邊|若人要識須分別。嶺上扶疏鎖暮煙|Ðắc thành chính giác hãn bằng tu|Chỉ vi lao lung trí huệ ưu|Nhận đắc ma-ni huyền diệu lí|Chỉ như thiên thượng hiển kim ô.|Trí giả du như nguyệt chiếu thiên|Quang hàm trần sát chiếu vô biên|Nhược nhân yếu thức tu phân biệt|Lãnh thượng phù sơ toả mộ yên|*Ðược thành chính giác ít nhờ tu|Ấy chỉ nhọc nhằn, trí huệ ưu|Nhận được ma-ni lí huyền diệu|Ví thể trên không hiện vầng hồng.|Trí giả khác nào trăng rọi không|Chiếu soi khắp cõi sáng khôn ngần|Nếu người cần biết nên phân biệt|Khói phù man mác phủ non chiều.|Sư dạy thêm: »Tâm ý Như Lai đều không thể được, chỉ nên gọi là Vô lượng trí. Cho nên biết, tâm Như Lai như hư không, là chỗ nương của tất cả, trí huệ của Như Lai cũng như thế.« Nói xong, Sư viên tịch.
Báo hoá Phật 報化佛; C: bàohuàfó; J: hōkebutsu; |Báo thân Phật (s: saṃbhoga-kāya) và Hoá thân Phật (s: nirmāna-kāya).
Bảo Lâm tự 寶林寺; C: bǎolín-sì; J: hōrin-ji;|Một trong những ngôi chùa danh tiếng nhất Trung Quốc, được xây dựng năm 504 ở miền Nam. Lục tổ Huệ Năng trụ trì và hoằng hoá một thời gian ở đây.
Bạo lưu 暴流; C: bàoliú; J: bōru;|Dòng chảy siết của con suối hoặc sông (s: ogha; t: chu bo). 1. Theo A-tì-đạt-ma thì đây là thuật ngữ chỉ phiền não; 2. Theo Du-già hành tông, đó là dòng chảy không ngừng của A-lại-da thức trong vòng luân hồi.
Bảo Phong Khắc Văn 寶峰克文; C: bǎofēng kèwén; J: hōbō koku-mon; 1025-1102; cũng được gọi là Chân Tịnh 眞淨;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Hoàng Long. Sư đắc pháp nơi Hoàng Long Huệ Nam và truyền lại cho Ðâu-suất Tòng Duyệt.|Sư họ Trịnh, quê ở Văn Hương Thiểm Phủ. Mẹ mất sớm, dưỡng mẫu lại khắc khe nên cha khuyên Sư đi du phương. Ðến Phục Châu nghe Thiền sư Quảng Công thuyết pháp, Sư cảm động ở lại học. Nhân gặp một tượng tỉ-khâu mắt như ở trong định, Sư bỗng giật mình tự nhủ: »Chỗ ta chất chứa thật như Ngô Ðạo Tử vẽ người, tuy thật là khéo nhưng không phải sống.« Sư quyết định về Nam học đạo và đến tham vấn Thiền Sư Huệ Nam. Nơi đây Sư được ấn khả.|Sau khi đắc pháp của Hoàng Long, Sư trụ trì nhiều chùa, tuỳ cơ tuỳ thời tiếp độ, được vua ban hiệu là Chân Tịnh Thiền sư. Niên hiệu Sùng Ninh năm đầu, ngày 16 tháng 10, Sư lên toà ngồi thế Kết già. Chúng thỉnh Sư thuyết pháp, Sư chỉ cười nói kệ:|Năm nay bảy mươi tám|Tứ đại sắp rời rã|Gió lửa đã li tán|Sắp đi còn gì nói.|Nói xong, Sư viên tịch, thọ 78 tuổi.
Bảo Sinh Phật 寶生佛; S: ratnasambhava;|Một trong năm vị Phật trong Phật gia. Phật Ca-diếp (s: kāśyapa) và Bảo Thủ Bồ Tát (s: ratnapāṇi) được xem là thuộc tính của Bảo Sinh Phật. Ấn của Bảo Sinh Như Lai là Ấn thí nguyện. Trong tranh tượng, Bảo Sinh Phật hay được vẽ ngồi trên lưng sư tử hay lưng ngựa.||H 13: Bảo Sinh Phật. Trong hình này Phật Bảo Sinh được trình bày với ấn thí nguyện. Bình bát trên tay trái là dấu hiệu chức giáo chủ Tịnh độ phương Nam và ba viên ngọc dưới toà sen tượng trưng cho Phật, Pháp và Tăng (Tam bảo).
Báo thân 報身; C: bàoshēn; J: hōshin; S: saṃbhogakāya; cũng được gọi là Thụ dụng thân (受用身);|Báo thân Phật (s: saṃbhoga-kāya). Thân lí tưởng của Đức Phật, đạt được sau khi thành Phật do lời nguyện đã phát ra trong khi thực hành công hạnh Bồ Tát. A-di-đà được xem là Báo thân Phật. Duy thức gọi thân nầy là Thụ dụng thân (受用身). Ba thân.
Bảo Tính 寶性; ?-1034;|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ bảy. Sư thường được nhắc với một vị khác là Minh Tâm và cả hai sau đều nhập hoả quang tam-muội.|Cuộc đời của hai vị có nhiều nét giống nhau. Hai sư quê ở Chu Minh, sư Bảo Tính họ Nghiêm, sư Minh Tâm họ Phạm. Cả hai cùng xuất gia thờ Thiền sư Ðịnh Hương làm thầy. Sau khi được truyền tâm ấn, hai sư cùng trụ chùa Cảm Ứng ở Sơn Ấp, phủ Thiên Ðức.|Tháng 4 niên hiệu Thiên Thành thứ 7, hai sư có ý định thiêu thân. Ðược tin, vua Thái Tông cho sứ thỉnh về Triều, lập hội giảng kinh. Giảng xong, hai sư đồng nhập Hoả quang tam-muội viên tịch. Vua ra chiếu lưu hài cốt để ở chùa Trường Khánh cúng dường. Vì có điềm linh xảy ra, vua đổi tên là Nguyên Thông Tự Tháp.
Báo ứng 報應; C: bàoyìng; J: hōō; |Kết quả, sự đáp lại, sự phản ứng. Hoạt động của nguyên lí nghiệp. Mối quan hệ hoàn thiện của nhân và quả. Tương tự như quả (果).
Bát 鉢 (缽); S: pātra; P: patta; nguyên âm là Bát-đa-la (鉢多羅); Hán Việt: Ứng lượng khí (應量器), nghĩa là »dụng cụ chứa đựng vừa đủ«;|Chỉ dụng cụ đựng thức ăn khi khất thực của các Tỉ-khâu. Truyền thống ôm bát đi khất thực vẫn còn giữ trong các nước theo Phật giáo Nam truyền. Trong các tranh tượng, bát là dấu hiệu của một vị giáo chủ khi vị này ngồi thế Kết già với tay cầm bát (Bảo Sinh Phật).
Bất 不; C: bù; J: fu;|Không, không phải, không… (s: akaraṇa; t: cha ma yin pa).
Bát bất 八不; C: bābù; J: hachifu;|Tám phạm trù phủ định của Long Thụ (龍樹; s: nāgārjuna): Bất sinh, Bất diệt, Bất thường, Bất đoạn, Bất nhất, Bất dị, Bất khứ, Bất lai.
Bát bộ 八部; C: bābù; J: hachibu;|Tám loại thần thường được giới thiệu ở cuối mỗi bản kinh Phật như là những vị Hộ pháp. Xem Bát bộ chúng (八部衆).
Bát bộ chúng 八部衆; C: bābù zhòng; J: hachibuju;|Tám loài hữu tình trong thần thoại Phật giáo. Trước kia họ hung ác, nay được đức Phật chuyển hoá, họ trở thành những vị hộ trì Phật pháp. Đó là: 1. Thiên (天; s: deva): loài ở trời; 2. Long (龍; s: nāga): vua loài rắn (rồng); 3. Dạ-xoa (夜叉; s: yakṣa): quỷ thần phi hành ban đêm; 4. Càn-thát-bà (乾闥婆; s: gandharva): bán quỷ thần âm nhạc; 5. A-tu-la (阿修羅; s: asura): Á thần tính hung dữ; 6. Ca-lâu-la (迦樓羅; s: garuḍa): chim cánh vàng (kim sí điểu) thường ăn rồng; 7. Khẩn-na-la (緊那羅; s: kiṃnara): nhạc thần, chẳng phải người chẳng phải không phải người (mình người đầu ngựa); 8. Ma-hầu-la-già (摩睺羅迦; s: mahoraga): rắn thần.
Bát chính đạo 八正道; C: bāzhèngdào; J: hasshōdō; S: aṣṭāṅ-gika-mārga; P: aṭṭhāṅgika-magga;|Con đường tám nhánh giải thoát khỏi Khổ (s: duḥkha), là chân lí cuối cùng của Tứ diệu đế. Bát chính đạo là một trong 37 Bồ-đề phần hay 37 giác chi (s: bodhipākṣika-dharma).|Bát chính đạo bao gồm:|1. Chính kiến (正見; p: sammā-diṭṭhi; s: samyag-dṛṣṭi): gìn giữ một quan niệm xác đáng về Tứ diệu đế và giáo lí Vô ngã; 2. Chính tư duy (正思唯; p: sammā-saṅkappa; s: samyak-saṃkalpa): suy nghĩ hay là có một mục đích đúng đắn, suy xét về ý nghĩa của bốn chân lí một cách không sai lầm; 3. Chính ngữ (正語; p: sammā-vācā; s: sam-yag-vāc): không nói dối, nói phù phiếm; 4. Chính nghiệp (正業; p: sammā-kammanta; s: samyak-karmānta): tránh phạm giới luật; 5. Chính mệnh (正命; p: sammā-ājīva; s: sam-yag-ājīva): tránh các nghề nghiệp mang lại giết hại như đồ tể, thợ săn, buôn vũ khí, buôn thuốc phiện; 6. Chính tinh tiến (正精進; p: sammā-vāyāma; s: samyag-vyāyāma): phát triển nghiệp tốt, diệt trừ nghiệp xấu; 7. Chính niệm (正念; p: sammā-sati; s: sam-yag-smṛti): tỉnh giác trên ba phương diện Thân, khẩu, ý; 8. Chính định (正定; p: sam-mā-samādhi; s: samyak-samādhi): tập trung tâm ý đạt bốn định xuất thế gian (s: arūpa-samādhi, Bốn xứ).|Bát chính đạo không nên hiểu là những »con đường« riêng biệt. Theo Ba môn học, hành giả phải thực hành Giới (chính đạo 3-5), sau đó là Ðịnh (chính đạo 6-8) và cuối cùng là Huệ (chính đạo 1-2). Chính kiến (1) là điều kiện tiên quyết để đi vào Thánh đạo (s: ārya-mārga) và đạt Niết-bàn.|Phật giáo Ðại thừa hiểu Bát chính đạo có phần khác với Tiểu thừa. Nếu Tiểu thừa xem Bát chính đạo là con đường dẫn đến Niết-bàn thì Ðại thừa đặc biệt coi trọng sự giải thoát khỏi Vô minh để giác ngộ tính Không (s: śūnyatā), là thể tính của mọi sự. Trong tinh thần đó, Luận sư Thanh Biện (s: bhāva-viveka) giải thích như sau: 1. Chính kiến là tri kiến về Pháp thân (Ba thân), 2. Chính tư duy là từ bỏ mọi chấp trước, 3. Chính ngữ là thấu hiểu rằng, pháp vượt trên mọi ngôn ngữ, 4. Chính nghiệp là tránh mọi hành động tạo nghiệp, kể cả thiện nghiệp, 5. Chính mệnh là tri kiến rằng, tất cả các Pháp (s: dharma; p: dhamma) không hề sinh thành biến hoại, 6. Chính tinh tiến là an trú trong tâm thức vô sở cầu, 7. Chính niệm là từ bỏ mọi thắc mắc về có (Hữu), không (vô), 8. Chính định là giữ tâm vô phân biệt bằng cách vô niệm.
Bất chính tri 不正知; C: bùzhèngzhī; J: fushōchi; S: asaṃ-prajanya; T: śes bshin ma yin.|Không sáng suốt, không có sự hiểu biết chân chính. Một trong 20 Tùy phiền não trong giáo lí của Du-già hành phái (瑜伽行派). Tâm hành sinh khởi vọng kiến do nhận thức sai lầm vì tiếp xúc với vật một cách không đúng (theo Thành duy thức luận 成唯識論).
Bát chủng phân biệt 八種分別; C: bāzhǒng fēnbié; J: hasshu fun-betsu;|Tám thứ vọng tưởng phân biệt trong tư tưởng triết học Duy thức. Còn gọi là Bát vọng tưởng (八妄想). Đó là: Tự tính phân biệt (自性分別); Sai biệt phân biệt (差別分別; Tổng chấp phân biệt (總執分別, còn gọi là Nhiếp thụ tích tụ vọng tưởng 攝受積聚妄想); Ngã phân biệt (我分別); Ngã sở phân biệt (我所分別); Ái phân biệt (愛分別); Bất ái phân biệt (不愛分別), và Ái bất ái phân biệt (愛不愛分別, theo Nhị chướng nghĩa 二障義, Du-già luận 瑜伽論 và Hiển dương luận 顯揚論).
Bất cộng 不共; C: bùgòng; J: fugu;|Một pháp không tương hợp hay thích ứng với pháp khác. Không có sự cộng thông với các pháp khác. Có cách dùng đặc biệt chuyên môn trong thuật ngữ Bất cộng bất định (不共不定), Bất cộng vô minh (不共無明).
Bất cộng bát-nhã 不共般若; C: bùgòngpánruò; J: fugu han-nya;|Theo kinh Đại Bát-nhã-ba-la-mật-đa thì đây là giáo lí Tính không dành cho hàng Bồ Tát tu tập và thực chứng (theo Đại trí độ luận 大智度論).
Bất cộng giáo 不共教; C: bùgòng jiāo; J: fugu kyō;|Giáo lí riêng biệt áp dụng cho một nhóm người học đạo nào đó. Thường nói đến giáo lí áp dụng cho hàng Bồ Tát, mà không áp dụng cho hàng Nhị thừa. Khác biệt với Cộng giáo.
Bất cộng nghiệp 不共業; C: bùgòngyè; J: fugugō;|Nghiệp riêng của từng người. Nghiệp tạo tác do ảnh hưởng của cá nhân. Có nhiều dạng nghiệp khác nhau; phản nghĩa với Cộng nghiệp.
Bất cộng pháp 不共法; C: bùgòngfǎ; J: fuguhō;|1. Những đặc tính riêng của mỗi cá nhân con người. Thân thể từng người là sự thụ bẩm thông qua nghiệp riêng mà họ đã tạo; 2. Những đặc điểm riêng của đức Phật. Bất cộng Phật pháp.
Bất cộng Phật pháp 不共佛法; C: bùgòngfófǎ; J: fugu buppō;|Những đặc tính riêng Đức Phật mới có, mà chúng sinh không dự phần vào được. Thập bát pháp bất cộng.
Bất cộng sở y 不共所依; C: bùgòng suǒyī; J: fugu shoe;|Một cơ sở không thể được chia xẻ bởi thực thể khác. Cũng như Bất cộng y.
Bất cộng tướng 不共相; C: bùgòngxiāng; J: fugusō;|Đặc tính riêng biệt của một cá nhân, không chia sẻ với những chúng sinh khác được.
Bất cộng vô minh 不共無明; C: bùgòng wúmíng; J: fugu mu-myō;|Vô minh có một không hai. Đối lại với Tương ưng vô minh (相應無明). I. Theo Câu-xá luận, thuật ngữ nầy đề cập đến loại vô minh sinh khởi tùy theo tâm thức mà không tương ưng với 10 Tùy miên phiền não (Thập tùy miên 十隨眠). Cũng gọi là Độc đầu vô minh (獨頭無明); II. Theo Du-già hành tông thì có 2 loại Bất cộng vô minh: 1. Hằng hành bất cộng vô minh (恒行不共無明): là tên gọi loại vô minh tương ưng cùng Mạt-na thức (末那識). (Vô minh nầy được gọi là Bất cộng vì nó hoạt động tương tục, trong khi loại vô minh tương ưng với thức thứ 6 thì chịu sự gián đoạn); 2. Độc hành bất cộng vô minh (獨行不共無明): là tên gọi loại vô minh tương ưng với thức thứ 6 (vô minh nầy được gọi là bất cộng vì nó tự sinh khởi nhưng không hoạt động tương quan với bất kì một Căn bản phiền não 根本煩惱 nào khác).
Bất cộng y 不共依; C: bùgòngyī; J: fugu e;|Một cơ sở không thể được chia xẻ bởi một thật thể khác. Ví dụ, Mạt-na thức (s: manas) trong nhiều trường hợp, có sự khác biệt căn bản với Ý thức (s: mano-vijñāna).
Bát cú nghĩa 八句義; C: bājùyì; J: hachikugi;|Tám câu diễn đạt tinh thần tự thể hiện yếu tính của Thiền, quan tâm đến sự thực chứng, hơn là học hỏi tri thức: 1. Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏); 2. Niết-bàn diệu tâm (涅槃妙心); 3. Thật tướng vô tướng (實相無相); 4. Vi diệu pháp môn (微妙法門); 5. Bất lập văn tự (不立文字); 6. Giáo ngoại biệt truyền (教外別傳); 7. Trực chỉ nhân tâm (直指人心); 8. Kiến tính thành Phật (見性成佛).
Bát Đại Bồ Tát Man-đồ-la kinh 八大菩薩曼荼羅經; C: bā dàpúsà màntúluó jīng; J: hachi daibosatsu mandara kyō; S: aṣṭa-maṇḍalaka; t: ['phags pa] dKyil 'khor brgyad pa shes bya ba theg pa chen po'i mdo.|Có 2 bản dịch tiếng Hán cùng tên: 1. Bất Không (s: amoghavajra) dịch, 1 quyển; 2. Pháp Hiền (法賢) dịch, 2 quyển.
Bất đãn không 不但空; C: bùdànkōng; J: futan-kū; nghĩa là »không chỉ là Không«; |Thuật ngữ dùng để chỉ sự nhận thức rằng, Chân tính hoặc Phật tính của tất cả các hiện tượng, của hiện hữu chẳng thuộc »có« thuộc »không« là cả hai, nhưng lại không phải là cái này hoặc cái kia, tuỳ theo lập trường của người quán sát sự vật. Theo Tâm kinh thì có thể gọi là »Không tức thị sắc, sắc tức thị không.«|Danh từ »Bất đãn không« được dùng để đối lại quan niệm »Ðãn không« (j: tan-kū), »chỉ có không«, một cách nhìn rất giới hạn của một vài tông phái Phật giáo. Các phái này sử dụng phương pháp biện chứng để chứng minh rằng, tất cả đều là không, là trống rỗng và từ đó, họ phủ nhận cả sự hiện hữu của vạn vật – có thể gọi là »chấp không.« Cái đơn vị, nhất thể của Không và Sắc như Tâm kinh chỉ dạy không thể đạt được qua sự biện luận chứng minh, mà chỉ được trực nhận khi hành giả Kiến tính, ngộ đạo thâm sâu.
Bát danh phổ mật đà-la-ni kinh 八名普密陀羅尼經; C: bāmíng pǔmì tuó-luóní jīng; J: hachimyō fumitsu darani kyō;|Kinh, 1 quyển, Huyền Trang dịch năm 654. Nội dung Đức Phật giảng dạy 8 loại đà-la-ni cho Bồ Tát Kim Cương Thủ (金剛手; s: vajrasattva).
Bát đế 八諦; C: bādì; J: hachitai;|Tám sự thật, Tám chân lí, còn gọi là Bát thánh đế. |I. Như được dạy trong kinh Thắng Man (s: śrīmālā-sūtra), số 8 có được là do sự hợp thành của 2 cách giải thích Tứ diệu đế, gọi là Hữu tác tứ đế (有作四諦) và Vô tác tứ đế (無作四諦). Loại trước được hiểu một cách không hoàn chỉnh bởi hàng Nhị thừa, loại sau là nhận thức đúng đắn của hàng Bồ Tát (theo phẩm Pháp thân trong kinh Thắng Man, Nhân vương bát-nhã kinh sớ, quyển 3 勝鬘經法身品、仁王般若經疏卷三); |II. Như được dạy trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra): 1. Hành khổ đế (行苦諦): các pháp hữu vi sinh khởi, đoạn diệt không ngừng; 2. Hoại khổ đế (壞苦諦): Chúng sinh đau khổ vì các pháp mình ưa thích bị tan hoại; 3. Khổ khổ đế (苦苦諦): Thường phải gặp điều không ưa thích; 4. Lưu chuyển đế (流轉諦): là phần đoạn sinh tử (分段生死); 5. Lưu tức đế (流息諦): tức Niết-bàn; 6. Tạp nhiễm đế (雜染諦): là phiền não (煩惱); 7. Thanh tịnh đế (清淨諦): khi đã giải trừ được phiền não, nhận rõ bản tính (thanh tịnh) vô vi của mình; 8. Chính phương tiện đế (正方便諦; theo Du-già sư địa luận, quyển 46. Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương, quyển nhị, mạt 瑜伽師地論卷四十六、大乘法苑義林章卷二末).
Bát địa 八地; C: bādì; J: hachiji;|Giai vị thứ tám trong Thập địa. Giai vị khắc nghiệt trong quá trình tu đạo, qua đây, mọi phiền não hiện hành đều được giải trừ (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Bất diệt 不滅; C: bùmiè; J: fumetsu; S: aniruddha, anirodha.|Không chấm dứt, không thể hoại diệt (theo kinh Pháp Hoa 法華經).
Bất định 不定; C: bùdìng; J: fujō;|1. Một trong 6 loại Tâm sở hữu pháp, được gọi tên như vậy là do nó sinh khởi không có quy luật và không có khuynh hướng về thiện hay ác. Trường phái A-tì-đàm liệt kê 8 loại, gọi là Bất định địa pháp (不定地法). Du-già hành phái liệt kê 4 loại, gọi là Bất định pháp (不定法); 2. Một trong 2 dạng phạm giới của Tỉ-khâu, chưa biết rõ tính chất chính xác thuộc loại nào và sự quyết định phạm giới chưa được rõ ràng; 3. Không có thật, không tồn tại; 4. Tâm ý không an định, không thể nhập vào thiền định; 5. Loại chúng sinh căn cơ nghiệp lực bất định (Bất định chúng 不定衆).
Bất định địa pháp 不定地法; C: bùdìngdì fǎ; J: fujōchi hō;|Theo thuyết của A-tì-đạt-ma thì đây là những chức năng bất định của tâm thức, không có một bản chất thiện hoặc ác cố định nào, mà cũng không phải lúc nào cũng hoạt động tương ứng với tâm và những trạng thái của tâm (s: aniyatā-bhūmika). Bất định địa pháp bao gồm: Tầm (尋), tứ (伺), miên (眠), ác tác (惡作), tham (貪), sân (瞋), mạn (慢), và nghi (疑). Tương đồng với chủng loại này trong Du-già hành phái là bốn chức năng bất định của tâm thức, Tứ bất định (四不定).
Bất định pháp 不定法; C: bùdìng fǎ; J: fujōhō;|Các pháp bất định không nhất thiết sinh khởi trong mọi tướng trạng của tâm, do vậy không có khuynh hướng thiện hay ác. Theo A-tì-đạt-ma thì có 8 tâm sở hữu pháp trong mục nầy, gọi chính xác hơn là Bất định địa pháp (不定地法). Theo giáo lí của Du-già hành phái thì có 4 tâm sở hữu pháp: Truy hối (追悔), Thùy miên (睡眠), Tầm (尋) và Tứ (伺). Còn gọi là Tứ bất định (四不定).
Bạt Ðội Ðắc Thắng 拔隊得勝; J: bassui tokushō; 1327-1387;|Thiền sư Nhật Bản lỗi lạc, thuộc tông Lâm Tế, dòng Tâm Ðịa Giác Tâm (j: shinchi kaku-shin), kế thừa Thiền sư Cô Phong Giác Minh (j: kohō kakumyō).|Cách hoằng hoá và hệ thống hoá Thiền của Sư có những điểm rất giống với một vị Thiền sư Nhật không kém danh tiếng sau này là Bạch Ẩn Huệ Hạc. Ðiểm xuất phát đi tìm Ðạo của Sư chính là sự nghi ngờ, sau được Thiền sư Bạch Ẩn gọi là Ðại nghi đoàn (j: dai-gidan), »Một khối nghi lớn«.|Cái khối nghi lớn này bắt đầu theo đuổi lúc Sư lên sáu, khi Sư đang chăm chú theo dõi một Thiền tăng thực hiện nghi lễ cúng cầu siêu cho cha mình mất trước đó ba năm. Nhìn thấy những vật cúng trên bàn thờ, Sư hỏi vị tăng: »Cha con đã chết, không còn hình tướng thì sao đến ăn được?« Vị tăng đáp: »Mặc dù thân thể đã tiêu huỷ nhưng linh hồn vẫn đến nhận vật cúng dường.« Sư kết luận rằng, trong thân mình cũng có một linh hồn và bắt đầu tư duy về hình thái của linh hồn này. Mối nghi này không để Sư yên tâm và cũng vì vậy Sư được vài lần nếm vị Giác ngộ qua phương pháp tu tập thiền định.|Năm 28 tuổi, Sư xuất gia nhập môn, nhưng không sống trong chùa vì những thói quen, nghi lễ rườm rà và sự sống an nhàn ở đây không thích hợp với nếp sống và chủ trương của Sư. Trong những cuộc Hành cước Sư nhất định không tạm trú ở thiền đường nào dù chỉ là một đêm, chỉ trú trong một túp lều trên núi đồi hoang vắng để có điều kiện tu tập thiền định từng giờ từng phút. Ðể kháng cự lại sự buồn ngủ, Sư thường leo lên cành cây ngồi và tập trung quán công án »Ai là ông chủ?« bất chấp cả gió mưa, quên cả ăn ngủ. Sáng sớm Sư xuống thiền đường để tham kiến các Thiền sư. Dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Cô Phong, Sư tìm được chỗ an trú của tâm. »Tất cả những văn tự, tin tưởng trước đây đã bị ngọn lửa giác ngộ hoàn toàn thiêu đốt« và đại nghi của Sư đã chấm dứt. Sư được Cô Phong ban cho pháp danh »Bạt Ðội« – nghĩa là vượt qua bọn Phàm phu trung bình.|Sau khi được truyền Tâm ấn, Sư tiếp tục lang thang đây đó và nhiều lần từ chối thu nhận đệ tử. Mãi đến năm 50 tuổi Sư mới dừng bước ở một am nhỏ trên núi và những người tham học bốn phương sau đến đông đúc. Cuối cùng Sư chấp nhận sự cầu thỉnh của nhiều người, trụ trì một thiền đường. Trước khi qua đời Sư ngồi kết già và nói với những đệ tử xung quanh: »Các người đừng để bị lừa! Xem rõ đây! Cái gì?« Sư lặp lại câu này và viên tịch, thọ 60.|Sư để lại không nhiều trứ tác nhưng những pháp ngữ và thư của Sư viết cho những đệ tử có sức mạnh hùng hồn, sâu sắc. Trong một lá thư, Sư viết cho một »Nam nhi ở Kumasaka«: »Tất cả những hiện tượng là cuồng điên, không có thật. Chư Phật và chúng sinh là những phản chiếu trên mặt nước. Ai không nhìn thấy được bản tính thì cho rằng phản ánh là sự thật. Và cũng như vậy, trạng thái yên tĩnh của Không đạt được nhờ sự quán tưởng cứ bị lầm là thật. Nó cũng chỉ là ảnh phản chiếu. Phải vượt qua giai đoạn nhận thức lí trí và đạt được trạng thái cao siêu hơn. Nếu không còn nhận thức được gì nữa thì hãy nhìn nó kĩ. Nó là gì? Nó chỉ trở thành người thân khi cây gậy sừng thỏ đã bị gẫy và cục sắt đã được đập tan trong lửa. Bây giờ hãy tả xem, ai là bạn thân? Hôm nay là mồng bảy, ngày mai là mười ba.«
Bất động địa 不動地; C: bùdòngdì; J: fudōji; S: acalā.|Địa vị Bất động, địa thứ 8 trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Giai vị mà các công đức lành có thể xuất sinh một cách dễ dàng. Theo kinh Giải thâm mật, những phiền não vi tế nhất đều được trừ sạch trong địa vị nầy (theo Giải thâm mật kinh 解深密經).
Bất động hạnh 不動行; C: bùdòngxíng; J: fudōgyō;|Như Bất động nghiệp.
Bất động nghiệp 不動業; C: bùdòngyè; J: fudōgō;|Hành vi (nghiệp) dẫn tới kết quả chẳng lành chẳng dữ (theo Du-già luận 瑜伽論).
Bất Động Phật 不動佛; S: akṣobhya; cũng được gọi theo âm Phạn ngữ là A-súc, A-súc-bệ Phật, A-sơ Phật;|Vị Phật giáo hoá ở Ðiều hỉ quốc (s: abhirati) phương Ðông. Cần hiểu »Ðiều hỉ quốc« không phải là một vị trí địa lí mà là một trạng thái tâm thức. Mỗi cõi được xếp vào một vị Phật với những tính chất nhất định (Tịnh độ).|||H 14: Bất Ðộng Phật. Phật Bất Ðộng tượng trưng cho sự chiến thắng lòng đam mê, thường được trình bày có thân màu xanh thẩm hay vàng rực, cỡi voi tượng trưng sự bất động, tay bắt ấn xúc địa (Ấn). Kim cương chử dưới toà sen biểu hiện sự cứng rắn tuyệt đối, không thể phá huỷ.|Cách đây vô lượng kiếp, Bất Ðộng Phật còn là tăng sĩ, từng thệ nguyện với đức Phật giáo chủ Ðiều hỉ quốc sẽ không bao giờ khinh khi hay giận giữ với bất cứ chúng sinh nào. Thực hiện lời thề đó, Ngài không lay chuyển trước trở lực nào, trở thành »bất động« danh hiệu của Ngài và thành Phật của Ðiều hỉ tịnh độ. Chúng sinh nào tái sinh vào quốc độ của Phật Bất Ðộng sẽ không bao giờ rơi trở lại cõi thấp kém hơn, và muốn như thế, hành giả cũng phải thệ nguyện như Ngài (Phật gia).
Bất động vô vi 不動無爲; C: bùdòng wúwéi; J: fudō mui;|Không còn thô động bởi khổ lạc. Lìa ý tưởng ở cõi đệ tam thiền thuộc Sắc giới, nhập cõi Tứ thiền, nơi thụ tưởng khổ lạc đều tiêu sạch, chỉ còn ý niệm xả thụ khổ lạc. Theo Duy Thức tông thì đây một trong sáu Vô vi pháp. Là chân tế, xa lìa được thô động của khổ lạc.
Bất dữ thủ 不與取; C: bùyǔqǔ; J: fuyoshu;|Lấy vật mà người khác không cho. Một dạng của trộm cắp (thâu đạo 偸盜). dạng thứ ba trong Thập ác (十惡).
Bất giác 不覺; C: bùjué; J: fukaku;|1. Không giác ngộ; 2. Phiền não căn bản đối nghịch với Bản giác, nguyên nhân gây ra sự hạn chế khả năng nhận ra bản tính của tâm chính là chân như của chúng sinh. Đây là một khái niệm cơ bản trong Đại thừa khởi tín luận.
Bát giải thoát 八解脫; C: bā jiětuō; J: hachigedatsu;|Xem Tám giải thoát.
Bất hại 不害; C: bù hài; J: fugai; S, P: ahiṃsā; cũng gọi Bất sát sinh (不殺生; pāṇāṭipātā paṭivirati, pāṇāṭipātā veramaṇī);|I. Một trong những tư tưởng, giới luật quan trọng nhất của đạo Phật.Tư tưởng Bất hại lúc nào cũng giữ một vai trò quan trọng trong các tôn giáo Ấn Ðộ thời trước Phật Thích-ca nhưng Ngài – cùng với một vị giáo chủ ngoại đạo là Ni-kiền-tử Nhã-đề-tử (p: nigaṇṭha nātaputta) – là người đầu tiên hệ thống hoá và dùng lí thuyết tâm lí để chứng minh, lấy nó làm cơ bản cho tư tưởng này. Từ đó, tư tưởng Bất hại đã trở thành một nguyên lí đạo đức vô song trong các tôn giáo Ấn Ðộ, đặc biệt trong tất cả các trường phái Phật giáo.|Về mặt tâm lí, đạo đức thì lí do chính vì sao mọi người nên thực hành đạo lí Bất hại rất đơn giản: bởi vì ai cũng yêu quý cuộc sống của chính mình, không muốn bị hành hạ hoặc giết hại. Từ tình yêu thương chính mình, lấy đó suy ra hoàn cảnh của tất cả các động vật khác (Hữu tình), không kể là người hay là thú, là con voi hoặc con kiến, đặt mình vào trạng thái của chúng sinh và cảm nhận tình trạng đó, người ta sẽ từ bỏ việc sát hại. Tư tưởng Bất hại của đạo Phật được giải nghĩa bằng lí luận nêu trên. Ðức Phật thuyết trong kinh Pháp cú (p: dhammapada, 129; bản dịch và thi hoá của Tịnh Minh):|Hình phạt ai cũng sợ|Mất mệnh, ai cũng khiếp|Lấy ta suy ra người|Chớ giết, chớ bảo giết|Như vậy, tư tưởng Bất hại xuất phát từ lòng Bi (s, p: karuṇā) và lòng Từ (s: maitrī; p: mettā) đối với tất cả chúng sinh. Ai có lòng từ bi, người đó không bao giờ sát hại. Mặt khác, tư tưởng Bất hại cũng mang lợi ích, niềm vui cụ thể cho chính người thực hành, không chỉ là niềm »vui cùng với người« và niềm vui về việc đã thực hiện, một »hành động cao quý« nhất thời. Về mặt này thì đạo Phật có quan niệm khác với những tôn giáo khác. Theo luật nhân quả (Nghiệp, s: karma) thì người làm lành, không giết hại sẽ gặp hạnh phúc và không bị hại. Từ đó người ta có thể suy ngược lại rằng, ai ôm ấp tư tưởng sát hại, không có lòng từ bi sẽ tự đưa mình đến những hoàn cảnh bất hạnh. Ðức Phật trình bày rất rõ trong kệ thứ năm và 225 của Pháp cú kinh (bản dịch và thi hoá của Tịnh Minh):|*Hận thù diệt hận thù|Ðời này không thể có|Từ bi diệt hận thù|Là định luật nghìn thu|*Hiền sĩ không sát hại|Ðiều phục thân mệnh hoài|Ðạt cảnh giới bất tử|Giải thoát hết bi ai|Vì những lí do nêu trên mà tăng ni trong phần lớn các tông phái Phật giáo cũng như nhiều Phật tử tại gia đều ăn chay.|II. Một trong 10 Đại thiện địa pháp theo A-tì-đat-ma Câu-xá luận, là 1 trong 10 Thiện tâm sở trong giáo lí của Du-già hành phái. Là tâm sở pháp không hãm hại loài khác. Theo giáo lí Duy thức, Bất hại chỉ là danh xưng giả lập từ tâm sở Vô sân (無瞋), nó sinh khởi tùy theo tác dụng của Vô sân.
Bất hành nhi hành 不行而行; J: fugyō-ni-gyō;|Là »Không làm nhưng vẫn làm«. Một câu nói thường được dùng trong Thiền tông để chỉ những hành động không có tác ý, không để lại dấu vết gì trong tâm của người làm.|Bất hành nhi hành là một cách làm không có sự tính toán trước – tuỳ cơ ứng biến – nhưng lúc nào cũng phù hợp với thời điểm, lúc nào cũng đúng. Một yếu tố cần thiết để đạt được trình độ này chính là sự phát triển Ðịnh lực, nhưng chỉ có định lực thôi cũng không đủ để đạt đến trình độ »Bất hành nhi hành«. Hành giả cần phải giữ tâm trạng không vướng mắc vào những kết quả của những hành động của mình, nói một cách khác: không tự biết mình làm, không tự biết rằng có »ta« thực hiện và có »một vật« được hoàn tất. Không có kinh nghiệm Kiến tính thì không ai có thể thực hiện những điều kiện trên.|Tuy nhiên, trạng thái bất hành nhi hành nêu trên không phải là một cái gì riêng tư, một phát minh của Thiền tông. Các hiền triết của đạo Lão (Lão Tử, Trang Tử) cũng đã đề cao tâm trạng này và gọi nó là »Vô vi« nghĩa là »không làm«. Biểu thị »Vô vi« đã gây không ít sự hiểu lầm cho các nhà triết học phương Tây và vì vậy cũng có lúc họ kết luận sai lầm rằng, các hiền triết phương Ðông chỉ chuộng cái tĩnh tịnh, sự im lặng mà bỏ quên cái động, một mặt khác của sự thật.
Bất hoà hợp tính 不和合性; C: bùhéhéxìng; J: fuwagōshō; S: asāmagrī;|Không hoà hợp, không tương ưng. Một trong 24 tâm Bất tương ưng hành pháp theo giáo lí của tông Duy thức. Đối lại là Hoà hợp tính. Một pháp tạm thời đề cập đến khả năng của mọi loại hữu tình trong sự chia chẻ, đối kháng và can thiệp vào nhau.
Bất hoại 不壞; C: bùhuài; J: fu-e; S: abhinna, abheda, avināśitva.|1. Không thể huỷ hoại được (s: abhinna, abheda, avināśitva); 2. Giai vị thứ 2 của 10 bậc trong Thập hồi hướng (十廻向) của Bồ Tát đạo. Theo Du-già hành phái (瑜伽行派) thì đây là giai vị khi Bồ Tát nhận ra tính Không một cách dễ dàng không cần phải phân tích sự hiện hữu.
Bất hoàn 不還; C: bùhuán; J: fugen; S, P: anāgāmin; cũng được dịch âm là A-na-hàm;|Không trở lại, phiên âm từ tiếng Phạn là A-na-hàm (阿那含). Là 1 giai vị tu đạo của hàng Thanh văn, khi đạt đến quả vị thứ 3 trong Tứ quả (四果), là khi đã được tự tại đối với sinh tử trong cõi Dục (Dục giới 欲界). Quả vị nầy được chia làm hai giai đoạn: thể nhập vào giai vị, gọi là Bất hoàn hướng (不還向); hoàn tất các công hạnh tu tập rồi, gọi là Bất hoàn quả (不還果). Còn được dịch là Bất lai (不來).
Bất hoàn hướng 不還向; C: bùhuánxiàng; J: fugenkō;|Thể nhập vào quả vị Bất hoàn.
Bất hoàn quả 不還果; C: bùhuánguǒ; J: fugenka;|Hoàn tất các công hạnh tu tập của quả vị Bất hoàn rồi. Bất hoàn.
Bất hưu tức 不休息; C: bùxiūxí; J: fukusoku;|1. Tự mình tu tập tinh cần không lơi lỏng; 2. Tên của một vị Bồ Tát trong kinh Pháp Hoa.
Bất khả đắc 不可得; C: bùkě dé; J: fukatoku; nghĩa là »Không thể nắm bắt được.«|Không thể đạt được, không thể hiểu được. Là điều không thể biết được, bất cứ nhọc công tìm kiếm như thế nào. 1. Trong đạo Phật, không thể nào tìm thấy một ngã thể bất biến, nguyên si trong tất cả mọi hiện hữu (s: nāvadhāryate, anupalabdhi); 2. Không thể, không thể đạt, không thể thực hiện; 3. Không tồn tại; 4. Sự vắng mặt của chấp trước vào một cơ sở tự tồn.
Bất khả thuyết 不可說; C: bùkě shuō; J: fukasetsu; |1. Nghĩa là cái »không thể nói được.« Như tất cả những Thánh nhân của các thời đại, các nền văn hoá khác nhau, đạo Phật – nhất là Thiền tông – nhấn mạnh rằng, các kinh nghiệm Giác ngộ (Kiến tính) vượt qua mọi ngôn ngữ, văn tự. Người đã kiến tính tương tự một »người câm nằm chiêm bao« – như Thiền sư Vô Môn Huệ Khai bình giảng trong Công án thứ nhất của tập Vô môn quan – không thể trình bày giấc mộng của mình cho người khác. Cũng vì lí do này nên các vị Thiền sư thường khuyên đệ tử không nên bám chặt vào văn tự trong kinh sách, cho rằng, kinh sách chỉ là »ngón tay chỉ mặt trăng«, nhưng »không phải chính là mặt trăng.«|Vì thế nên các vị Thiền sư thường sử dụng bốn câu sau để diễn tả phương pháp tu tập của Thiền tông (theo truyền thuyết thì Bồ-đề Ðạt-ma khởi xướng thuyết này nhưng các học giả cho rằng, sư Nam Tuyền Phổ Nguyện chính là người sử dụng đầu tiên): »Giáo ngoại biệt truyền (j: kyōge betsuden), bất lập văn tự (furyū monji), trực chỉ nhân tâm (jikishi ninshin), kiến tính thành Phật (kenshō jōbutsu)«.|Cái »không thể diễn bày« của kinh nghiệm giác ngộ là lí do chính vì sao chư vị Thiền sư thường sử dụng những dấu hiệu thân thể như vặn mũi, dựng Phất tử… thay vì dùng lời để trả lời trong những buổi Ðộc tham, những cuộc Vấn đáp, Pháp chiến. Tuy nhiên, Thiền chính là tông phái lưu lại nhiều văn tự nhất trong các tông phái Phật giáo tại Trung Quốc. Ðiều đó cho thấy rằng, cái hữu ích của văn tự không hoàn toàn bị bác bỏ; nhưng các tác giả lại thường nhấn mạnh rằng, không một loại văn tự nào có thể chứa đựng hoặc trình bày trọn vẹn Chân như. Chỉ người nào đã tự chứng ngộ chân lí mới có thấu suốt được huyền nghĩa nằm trong văn tự.|2. Tự ngã chẳng đồng nhất chẳng khác biệt với ngũ uẩn.
Bất khả tư nghị 不可思議; C: bùkěsīyì; S: aciṅtya; P: aciṅteyya; J: fukashigi;|Nghĩa là »không thể nào suy nghĩ bàn luận ra được«, vượt ngoài lí luận; câu này dùng để tả cái Tuyệt đối, chỉ có ai đạt Giác ngộ mới biết. Cũng gọi là Bất tư nghị (不思議)|Phật Thích-ca khuyên: »Có bốn hiện tượng bất khả tư nghị, này tỉ-khâu, bốn trường hợp mà người ta không nên suy ngẫm, đó là: năng lực của một vị Phật (p: buddha-visaya), Ðịnh lực (p: jhāna-visaya), nghiệp lực (p: kamma-visaya) và suy nghẫm, tìm hiểu thế giới (p: lokaciṅtā)…« (Tăng nhất bộ kinh, IV. 77).
Bát khổ 八苦; C: bākǔ; J: hakku;|Tám loại khổ được Phật Thích-ca Mâu-ni trình bày khi giảng về Tứ đế (四諦). Thường được gọi là Tứ khổ Bát khổ (四苦八苦, xem mục nầy để được giải thích rõ hơn).
Bất không 不空; C: bùkōng; J: fukū;|1. Chẳng phải Không (s: aśūnya); 2. Tên người (s: amoghavajra); Bất Không Kim Cương (不空金剛).
Bất Không Kim Cương 不空金剛; C: bùkōng jīngāng; J: fukū kongō; S: amoghavajra; cũng được gọi ngắn là Bất Không (amogha), còn mang hiệu là Trí Tạng (智藏); 705-774;|Một Ðại sư của Mật tông và cũng là một trong bốn dịch giả danh tiếng nhất của Phật giáo kinh điển tại Trung Quốc – song song với Cưu-ma-la-thập, Chân Ðế và Huyền Trang. Sư được xem là vị Tổ thứ sáu của Mật giáo tại đây.|Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc, Sư sinh năm 705 tại nước Sư Tử (siṃhala, nước Tích Lan bây giờ), sớm tu học Phật pháp. Năm lên 14, Sư gặp Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi) tại Ja-va (s: yavadvīpa) và cùng với vị này sang Trung Quốc. Năm 720, Sư đến Lạc Dương và cũng tại đây, Sư thụ giới cụ túc tại chùa Quảng Phúc (724) theo truyền thống của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvās-tivāda). Suốt 18 năm sau đó, Sư một mặt nghiên cứu kinh, luật, luận bằng cả hai ngôn ngữ, Phạn và Hoa; mặt khác, Sư cũng giúp thầy mình là Kim Cương Trí trong việc phiên dịch và chú giải kinh sách.|Năm 741, Sư cùng thầy trở về Ấn Ðộ nhưng giữa đường Kim Cương Trí lâm bệnh và thị tịch. Sư cùng với hai vị Hàm Quang và Huệ Biện tiếp tục cuộc hành trình. Ðến Tích Lan, Sư lĩnh thụ giáo pháp Mật tông nơi A-xà-lê Phổ Hiền, được vị này truyền mật ấn. Trong cuộc hành hương nầy tương truyền sư cũng đã gặp được Long Trí (龍智; s: nagabodhi), thầy của Kim Cương Trí và được học hệ thống kinh Kim Cương đỉnh (金剛頂經; s: tattvasaṃgraha) với đầy đủ chi tiết. Năm 746, Sư trở về kinh đô Trường An với chừng 500 cuốn kinh, trụ trì chùa Tịnh. Năm 750, sư rời trụ xứ tham gia quân đội với chức vụ thủ lĩnh của Ca Thư Hàn (哥舒翰) và sư truyền khá nhiều phép Quán đỉnh (灌頂) công phu ngay trong doanh trại chỉ huy cho ông ta. Năm 754, sư dịch phần đầu kinh Kim Cương đỉnh (Đại chính số 865), bộ kinh chủ yếu của Mật tông Phật giáo, sau nầy trở nên một trong những thành tựu nổi bật nhất của sư. Sư xem giáo lí trong kinh đó như là phương pháp hữu hiệu nhất để đạt được giác ngộ còn được lưu truyền lại, và sư đã kết tập lại giáo nghĩa cơ bản của kinh trong nhiều luận giải của mình. Bất Không Kim Cương bị bắt trong biến loạn của An Lộc Sơn (安祿山), nhưng vào năm 757, sư được trả tự do nhờ áp lức của hoàng triều. Sau đó sư thiết đàn tràng để làm lễ tẩy tịnh cho kinh đô và củng cố sự bảo vệ cho triều đại nhà Đường. Hai năm sau, sư làm lễ quán đỉnh cho Hoàng đế Túc Tông (肅宗) như một vị Chuyển Luân vương. Năm 765, Bất Không Kim Cương ứng dụng kinh Nhân vương (仁王經) vừa mới dịch xong vào trong một buổi lễ nghi thức rất công phu để ngăn chặn cuộc tấn công của 200.000 quân lính tinh nhuệ của Tây Tạng và Duy Ngô Nhĩ (e: uighurs) khi họ sẵn sàng để thôn tính Trường An (長安). Thủ lĩnh đội quân ấy, Bộc Cố Hoài Ân (僕固懷恩) gục chết trong doanh trại và binh lính tan rã. Kim Các tự (金閣寺), ngôi chùa tráng lệ trên núi Ngũ Đài, là công trình độc đáo nhất của Bất Không, được hoàn thành năm 767, là một trong những nỗ lực của sư nhằm xiển dương Bồ Tát Văn-thù Sư-lợi như là người bảo hộ đất nước Trung Hoa. Bất Không Kim Cương còn lập những đàn tràng để tiêu trừ tai chướng theo lời thỉnh cầu của Hoàng đế Thái Tông (太宗).|Năm 771, Sư dâng biểu xin phép đưa những bản kinh đã dịch xong vào Ðại tạng. Năm 774, giữa tháng 6, Sư biết thời điểm sắp đến liền từ biệt chúng rồi nhập diệt. Sư được truy tặng chức Tư Không, thuỵ hiệu là Ðại Biện Chính. Tháp được xây tại chùa Ðại Hưng Thiện. Sư có rất nhiều đệ tử và người được đích truyền là sư Huệ Quả (惠果), được xem là Tổ thứ 7 của Mật tông Trung Quốc. Một đệ tử quan trọng khác là Huệ Lâm (慧琳). Người ta liệt kê được 77 bản dịch của sư được mặc dù có thể còn nhiều hơn, gồm những tác phẩm luận giải đích thật được xếp vào Hán tạng dưới tên của sư. Những tài liệu ghi chép hành trạng của sư gồm: [Đại chính 2120], gồm nhưng ghi chép về thư từ cá nhân, [Đại chính 2156] nói về sự truyền thừa; có một bản tiểu sử của sư trong Phó Pháp tạng nhân duyên lục phó (付法藏因縁傅) [Đại chính 2058], và một số ghi chép về chuyến hành hương của sư được ghi trong [Đại chính 2157].
Bất không quyên sách chú tâm kinh 不空羂索呪心經; C: bùkōng juànsuǒ zhòu-xīn jīng; J: fukū kenjaku jushinkyō; S: amogha-pāśakalpa-hṛdayadhāraṇī; T: ['phags pa] don yod shags pa'i snying po shes bya ba theg pa chen po'i mdo;|Đà-la-ni này bắt đầu với Bồ Tát Quán Thế Âm nói trong đại pháp hội do Đức Thế Tôn chứng minh. Bồ Tát tuyên thuyết Bất Không Quyên Sách chú vốn nhận được từ Quán Tự Tại vương đời thứ 91. Những công năng của thần chú nầy bao gồm việc đạt được Bất không như trí định (不空如智; s: asaṃmo-hajñānavyūha), tạo phúc đức và tịnh hoá các ác nghiệp như thân thể bệnh tật; thêm vào đó, người nào tụng niệm chú này vì chú này mà giữ trai giới một ngày nhất định nào đó sẽ đạt được 20 công đức (功德; s: anuśamṣa), và 8 pháp. Sau đó, Bồ Tát Quán Thế Âm sẽ truyền trao toàn văn thần chú, gồm những chỉ dẫn về pháp chữa bệnh, pháp cứu độ bằng cách sử dụng hình tượng, nghi quỹ. Trong các bản dịch bằng tiếng Hán, bản của Bồ-đề Lưu-chí II gần với bản tiếng Phạn đang lưu hành nhất.|Các bản dịch gồm có: 1. Bất Không Quyên Sách Chú kinh (不空羂索呪經), Xà-na Quật-đa (闍那崛多; s: jñānagupta) dịch; 2. Bất Không Quyên Sách thần chú tâm kinh (不空羂索神呪心經), Huyền Trang dịch; 3. Bất Không Quyên Sách chú tâm kinh (不空羂索呪心經), Bồ-đề Lưu-chí II (菩提流志; s: bodhiruci) dịch; 4. Thánh Quán Tự Tại Bồ Tát Bất Không Vương bí mật tâm đà-la-ni kinh (聖觀自在菩薩不空王祕密心陀羅尼經), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch. Về nhưng bản dịch tiếng Anh từ tiếng Hán, Tây Tạng, và Phạn, xin tham khảo Meisezahl (1962).
Bất không quyên sách kinh 不空羂索經; C: bùkōng juànsuǒ jīng; J: fukū kensaku kyō;|Tên gọi tắt của Bất Không Quyên Sách thần biến chân ngôn kinh.
Bất không quyên sách thần biến chân ngôn kinh 不空羂索神變眞言經; C: bùkōng juànsuǒ shénbiàn zhēnyán jīng; J: fukū kenjaku shimpen shingon kyō; S: amoghapāśa-kalparāja; T: ['phags pa] don yod pa'i shags pa'i cho ga shib mo'i rgyal po;|Gồm 78 chương trong 30 quyển. Gọi tắt là Bất Không Quyên Sách kinh (不空羂索經) do Bồ-đề Lưu-chí II (菩提流志) dịch vào năm 709 sau TL. Chương đầu của kinh văn đưa ra một bài Bất Không Quyên Sách chú tâm kinh (s: amoghapāśa-hṛdayadhāraṇī), còn được lưu hành như một bản kinh riêng biệt. Những chương khác trình bày nhiều nghi quỹ và Man-đa-la dưới nhiều dạng với Bất Không Quyên Sách Quan Âm (不空羂索觀音; s: amoghapāśalokeśvara) làm trung tâm. Đáng kể là những đồ hình Man-đa-la được mô tả trong chương 12, 22, 46 có tương quan với các đồ hình Man-đa-la của kinh Đại Nhật (s: vairocana-abhisaṃbodhi) và bản duyệt lại của Kim Cương Trí về Kim cương đỉnh kinh (s: tattvasaṃgrāha). Những xuất xứ khác còn có: Đại phẩm Bát-nhã kinh (大品般若經; s: mahā-prajñāparamitā-sūtra), Thập Nhất Diện Quán Thế Âm thần chú kinh (十一面觀世音神呪經; s: avalokiteśvara-ekadaśamuk-ha-dhāraṇī). Về những chi tiết liên quan đến luận giải kinh nầy, xin xem Soeda (1931).
Bất không quyên sách thần chú tâm kinh 不空羂索神咒心經; C: bùkōng juànsuǒ shénzhòu xīn jīng; J: fukū kensaku jinju shin kyō;|Bản dịch Bất Không Quyên Sách chú tâm kinh (不空羂索呪心經; s: amoghapāśa-kalpa-hṛdayadhāraṇī) của Huyền Trang (vào năm 659).
Bất không quyên sách Tì-lô-giá-na Phật đại quán đỉnh quang chân ngôn 不空羂索毘盧遮那佛大灌頂光眞言; C: bùkōng juànsuǒ pílúzhēnăfó dàguàndǐng guāngzhēnyán; J: fukū kenjaku birushanabutsu daikanjō kōshingon;|Viết tắt là Đại quán đỉnh quang chân ngôn (大灌頂光眞言), Quang Minh chân ngôn kinh (光明眞言經), được Bất Không (不空) dịch. Là nguồn gốc chính để tu tập Quang Minh chân ngôn (光明眞言). Luận giải bằng tiếng Nhật của Cao Biện (高辯) có tên: Bất Không Quyên Sách Tì-lô Giá-na Phật đại quán đỉnh quang chân ngôn cú nghĩa thích (不空羂索毘盧遮那佛大灌頂光眞言句義釋).
Bất Không Thành Tựu 不空成就; C: bùkōng chéngjiù; J: fukū jōshū;|Bất Không Thành Tựu Phật (不空成就佛).
Bất Không Thành Tựu Như Lai 不空成就如來; C: bùkōngchéngjiùrúlái; J: fukūjōshūnyorai;|Bất Không Thành Tựu Phật (不空成就佛).
Bất Không Thành Tựu Phật 不空成就佛; C: bùkōngchéngjiù fó; J: fukūjōshū butsu; S: amoghasiddhi;|Một trong năm vị Phật trong Phật gia. Phật Di-lặc và Bồ Tát Phổ chử thủ (s: viśvapāṇi) được xem là Hoá thân của vị Phật này. Phật Bất Không Thành Tựu tượng trưng cho vô uý (Ấn), cầm báu vật là Kim cương chử (s: vajra).|Bất Không Thành Tựu Phật là giáo chủ Bắc phương Tịnh độ và dấu hiệu đó chính là bình bát trên tay trái của Ngài. Tay phải Ngài bắt ấn vô uý. Dưới toà sen có hai Ca-lâu-la (s: garuḍa, cũng được gọi là Kim sí điểu, một loài thần điểu nửa người nửa chim). Ðặc biệt là trong hào quang của Ngài có nhiều Long vương (s: nāga) bảo vệ. Truyền thuyết nói rằng phương Bắc là nơi trú ẩn của Long vương. Dân tộc Nepal thường cúng thờ Phật Bất Không Thành Tựu khi cầu Long vương xuất hiện (mưa). Phật Bất Không Thành Tựu cũng giúp đỡ khi dân bị lũ lụt. Trong trường hợp này, Ca-lâu-la của Ngài được thả ra xua đuổi tất cả loài rồng rắn và nước.||H 15: Bất Không Thành Tựu Phật
Bất lai 不來; C: bùlái; J: furai;|Tiếng Hán dịch từ thuật ngữ anāgāmin (A-na-hàm 阿那含), có nghĩa là »không trở lại« thường dịch là Bất hoàn.
Bất liễu 不了; C: bùliǎo; J: furyō;|1. Không hiểu, không lĩnh hội được; 2. Không diễn đạt rõ ràng toàn vẹn được; 3. Không thể hiểu được lời giải thích.
Bất muội 不昧; C: bùmèi; J: fumai;|Không bị che mờ, không tối tăm, không bị che đậy (s: asaṃmūḍha).
Bát nạn 八難; C: bānán; J: hachinan; S: aṣṭāvakṣanā;|Là tám nạn, tám trường hợp không may có thể xảy ra trên con đường đạt giác ngộ của một tu sĩ. Bát nạn bao gồm:|1. Ðịa ngục (地獄; s: naraka); 2. Súc sinh (畜生; s: tiryañc); 3. Ngạ quỷ (餓鬼; s: preta); 4. Trường thọ thiên (長壽天; s: dīrghāyur-deva), là cõi trời thuộc sắc giới với thọ mệnh cao. Thọ mệnh cao cũng là một chướng ngại vì nó làm mê hoặc hành giả, làm hành giả dễ quên những nỗi khổ của sinh lão bệnh tử trong Luân hồi; 5. Biên địa (邊地; s: prat-yantajanapāda), là những vùng không nằm nơi trung tâm, không thuận tiện cho việc tu học chính pháp; 6. Căn khuyết (根缺; s: indriyavaikalya), không có đủ giác quan hoặc các giác quan bị tật nguyền như mù, điếc…; 7. Tà kiến (雅見; s: mithyādarśana), những kiến giải sai lệch, bất thiện; 8. Như Lai bất xuất sinh (如來不出生; s: tathāga-tānām anutpāda), nghĩa là sinh sống trong thời gian không có Phật xuất hiện hoặc giáo pháp của Ngài.
Bát-nhã 般若; S: prajñā; P: pañña; danh từ dịch âm, dịch nghĩa là Trí huệ, Huệ, Nhận thức;|Một khái niệm trung tâm của Phật giáo Ðại thừa, chỉ một thứ trí huệ không phải do suy luận hay kiến thức mà có (Trí), mà là thứ trí huệ chớp nhoáng lúc trực nhận tính Không (s: śūnyatā), là thể tính của vạn sự. Ðạt được trí Bát-nhã được xem là đồng nghĩa với Giác ngộ và là một trong những yếu tố quan trọng của Phật quả. Bát-nhã là một trong những hạnh Ba-la-mật-đa mà một Bồ Tát phải đạt đến (Thập địa).
Bát-nhã ba-la-mật-đa 般若波羅蜜多; S: prajñāpāramitā; dịch nghĩa là Huệ đáo bỉ ngạn (慧到彼岸), Trí độ (智度), Trí huệ độ người sang bờ bên kia;|Tên của một thể loại kinh nhấn mạnh về tính Không của các Pháp Hữu vi, (Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh).
Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 般若波羅蜜多經; S: prajñāpāramitā-sūtra; cũng được gọi là Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa kinh, dịch nghĩa là Huệ đáo bỉ ngạn kinh, »Kinh với trí huệ đưa người qua bờ bên kia,«|Là một bộ kinh bao gồm khoảng 40 bài kinh Ðại thừa được gọi chung dưới tên này với nội dung, mục đích hướng dẫn hành giả đạt được trí Bát-nhã (s: prajñā). Bộ kinh này là một phần quan trọng của bộ kinh Phương đẳng (s: vaipulya-sūtra), có lẽ được ghi lại khoảng đầu Công nguyên. Ngày nay, phần lớn kinh này chỉ còn trong dạng chữ Hán hoặc chữ Tây Tạng, không mấy còn trong dạng Phạn ngữ (sanskrit). Trong bộ kinh này thì hai tập Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (s: vajracchedikā-prajñāpāramitā-sū-tra) và Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh (s: mahāprajñāpāramitā-hṛdaya-sūtra) là nổi tiếng nhất, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng, kể cả Anh, Pháp và Ðức ngữ. Luận sư quan trọng nhất của kinh Bát-nhã là Long Thụ.|Bộ kinh này có tính giáo khoa rất cao, tương tự như các bộ kinh văn hệ Pā-li. Phần lớn các bài kinh là những lời khai thị cho Tu-bồ-đề (s, p: subhūti), được Phật thuyết giảng trên đỉnh Linh Thứu (s: gṛdhrakūṭa). Phần cổ nhất của kinh này là Bát-nhã bát thiên tụng (s: aṣṭasāhasrikā) – cũng được gọi là Tiểu phẩm bát-nhã – một bộ kinh gồm 8000 câu kệ Phật giảng cho nhiều đệ tử cùng nghe. Ðây cũng là cơ sở cho tất cả bộ kinh Bát-nhã khác, mỗi bộ gồm từ 300-100 000 câu kệ với vô số bài luận và phiên dịch. Bản dịch chữ Hán đầu tiên ra đời khoảng năm 179.|Những kinh điển trong Bát-nhã bộ còn nguyên văn Phạn ngữ: 1. Adyardhaśatikā-prajāpāramitā: Bát-nhã lí thú phần; 2. Aṣṭasāhasrikā-p. : Bát thiên tụng bát-nhã hay Tiểu phẩm bát-nhã; 3. Mahāprajñā-pāramitā-hṛdaya: Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh; 4. Mañjuśrīparivarta-p. = Saptaśatikā-p.: Văn-thù Sư-lị sở thuyết bát-nhã ba-la-mật kinh, gọi ngắn là Văn-thù bát-nhã kinh; 5. Pañcaviṃśatisāhasrikā-p.: Nhị vạn ngũ thiên bát-nhã tụng hoặc Ðại phẩm bát-nhã kinh hoặc Phóng quang bát-nhã; 6. Śata-sāhasrikā-p.: Ðại bát-nhã sơ phần; 7. Suvikrānta-vikrāmīparipṛcchā-p. = Sārdhadvisāhasrikā-p.: Thắng Thiên vương bát-nhã ba-la-mật kinh; 8. Va-jracchedikā-p. = Triśatikā-p.: Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa.
Bát-nhã Ða-la 般若多羅; S: prajñādhāra hoặc prajñātā-ra;|Tổ thứ 27 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Bát nhân 八仁; C: bārén; J: hachinin;|Còn gọi là Bát nhẫn (八忍). Giai vị thứ ba trong Thập địa. Bát nhân địa (giai vị tu 8 pháp nhẫn để đoạn Kiến hoặc).
Bát nhẫn 八忍; C: bārěn; J: hachinin;|Tám loại nhẫn nhục, kết hợp với Tám trí (Bát trí 八智) để cấu thành Mười sáu tâm (Thập lục tâm 十六心). Mỗi loại nhẫn (hay nhân) đứng trước một nội quán mà nó có tương quan. Những loại nhẫn nầy được trải qua trong giai vị Kiến đạo. Đó là: 1. Khổ pháp nhẫn (苦法忍); 2. Khổ loại nhẫn (苦類忍); 3. Tập pháp nhẫn (集法忍); 4. Tập loại nhẫn (集類忍); 5. Diệt pháp nhẫn (滅法忍); 6. Diệt loại nhẫn (滅類忍); 7. Đạo pháp nhẫn (道法忍); 8. Đạo loại nhẫn (道類忍).
Bất nhị 不二; C: bùèr; J: funi;|Không hai.
Bất nhị pháp môn 不二法門; Bất nhị: S: advaya, advaita;|Lí nhất thật, như như bình đẳng mà không có sự khác biệt giữa cái này với cái kia. Phật pháp có 84.000 môn và Pháp môn bất nhị là tối thượng. Trong kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra) Văn-thù Bồ Tát hỏi Cư sĩ Duy-ma-cật những gì là Bất nhị pháp môn, nhưng Duy-ma-cật im lặng (Mặc nhiên) không trả lời. Văn-thù hiểu được cái im lặng sấm sét này (默如雷; mặc như lôi), liền bảo: »Hay lắm! Hay lắm! Không có văn tự ngôn thuyết, đó là Bất nhị pháp môn.«|Tín Tâm Minh:|要急相應。唯言不二|不二皆同。無不包容|十方智者。皆入此宗|宗非促延。一念萬年|…|信心不二。不二信心|Yêu cấp tương ưng, duy ngôn bất nhị|Bất nhị giai đồng, vô bất bao dung|Thập phương Trí giả, giai nhập thử tông|Tông phi xúc diên, nhất niệm vạn niên|. . .|Tín tâm bất nhị, bất nhị tín tâm|*Gấp muốn tương ưng – chỉ nói bất nhị|Bất nhị thì hoà đồng|Không gì chẳng bao dung|Người trí thập phương đều vào tông này|Tông này vốn tự tại – khoảnh khắc là vạn niên|. . .|Tin tự tâm là bất nhị – bất nhị phải tin tự tâm.
Bất nhiễm ô vô tri 不染汚無知; C: bùrănwū wúzhī; J: fuzenra muchi;|Bất nhiễm vô tri.
Bất nhiễm vô tri 不染無知; C: bùrăn wúzhī; J: fuzen muchi;|Dạng vi tế nhất của vô minh ngăn ngại sự giải thoát của những hành giả tinh tiến nhất. Dạng vô minh nầy chỉ có thể được tẩy trừ khi công phu đạt đến bậc Câu giải thoát (倶解脱). Còn gọi là Bất nhiễm ô vô tri (不染汚無知). (Theo Nhị chướng nghĩa 二障義.)
Bát nhiệt địa ngục 八熱地獄; C: bārè dìyù; J: hachinetsu jigo-ku;|Tám địa ngục nóng: 1. Đẳng hoạt địa ngục (等活地獄; s: saṃjīva-naraka): nơi chúng sinh bị hành hình, chết rồi sống lại và chịu tội báo như những lần trước; 2. Hắc thằng địa ngục (黒繩地獄; s: kāla-sūtra-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị trói bằng dây sắt; 3. Chúng hợp địa ngục (衆合地獄; s: saṃghāta-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị (núi đá) ép chặt; 4. Hào khiếu địa ngục (號叫地獄; s: raurava-naraka): địa ngục nơi chúng sinh kêu la thảm thiết; 5. Đại khiếu địa ngục (大叫地獄; s: mahāraurava-naraka): địa ngục nơi chúng sinh kêu la rất thống thiết; 6. Viêm nhiệt địa ngục (炎熱地獄; s: tāpana-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị hành hình bằng thiêu đốt; 7. Đại nhiệt địa ngục (大熱地獄; s: pratāpana-naraka): địa ngục nơi chúng sinh bị hành hình bằng sự thiêu đốt rất khổ sở; 8. Vô gián địa ngục (無間地獄; s: avīci-naraka): nơi chúng sinh bị hành hình liên tục không gián đoạn, tội nhân không thể chết, phải bỏ thân nầy thụ thân khác trả quả báo cho đến khi hết sạch.
Bất-như Mật-đa 不如密多; S: puṇyamitra;|Tổ thứ 26 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Bát-niết-bàn 般涅槃; S: parinirvāṇa; P: parinibbāna;|Ðồng nghĩa với Niết-bàn (s: nirvāṇa). Thường thường người ta hiểu Bát-niết-bàn là Niết-bàn vô dư, nhưng cũng có người hiểu Bát-niết-bàn là Niết-bàn hữu dư, thậm chí có người hiểu cái chết một vị tăng, ni cũng là Bát-niết-bàn.
Bất phân biệt 不分別; C: bùfēnbié; J: fufunbetsu; S: avikal-pa.|Không phân biệt. Thường được gọi là Vô phân biệt (無分別).
Bát phong 八風; S: aṣṭalokadharma; Nghĩa là tám ngọn gió.|Chỉ tám sự việc ràng buộc người vào thế gian, lay chuyển lòng người, đó là: 1./2. Ðược (利; lợi; s: lābha), mất (衰; suy; s: alābha); 3./4. Vinh (稱; xưng; s: yaśa), nhục (譏; cơ; s: ayaśa); 5./6. Khen (譽; dự; s: praśaṅsa), chê (毀; huỷ; s: nindā); 7./8. Vui (樂; lạc; s: sukha), khổ (苦; khổ; s: duḥkha).
Bất phóng dật 不放逸; C: bùfàngyì; J: fuhōitsu;|Không xao lãng, chú tâm. Một trong 10 Đại thiện địa pháp được liệt kê trong A-tì-đạt-ma câu-xá luận; một trong các thiện tâm sở pháp theo giáo lí của Du-già hành phái. Là thiện tâm sở ngăn ngừa mọi việc ác và nuôi dưỡng những việc thiện. Theo Du-già hành phái (瑜伽行派), Bất phóng dật được xem như một pháp giả tạm hơn là một pháp có thật.
Bất sinh 不生; C: bùshēng; S: anutpāda; J: fushō;|Danh từ được dùng chỉ cái Tuyệt đối, không phát sinh, không sinh ra, không sinh khởi; 1. Một thuật ngữ để gọi một vị A-la-hán, là người không còn sinh khởi các nghiệp; 2. Đồng nghĩa với Niết-bàn.
Bất sinh bất diệt 不生不滅; C: bùshēng bùmiè; J: fujōfumetsu; S: anutpāda-anirodha;|Không sinh trưởng, chẳng ngừng diệt. Vì mọi hiện hữu là Không nên rốt ráo là bất sinh bất diệt. Đây là một trong những quan điểm căn bản của các tông phái Đại thừa.
Bát tà 八邪; C: bāxié; J: hachija; |Tám thứ vọng kiến sai lầm: Tà kiến, Tà tư duy, tà ngữ, tà nghiệp, tà mệnh, tà niệm, tà tinh tiến, tà định.
Bát tạng 八藏; C: bāzàng; J: hachizō;|Theo Nakamura, đó là Thai hoá tạng (胎化藏), Trung ấm tạng (中陰藏), Ma-ha-diễn phương đẳng tạng (摩訶衍方等藏), Giới luật tạng (戒律藏), Thập trú tạng (十住藏), Tạp tạng (雜藏), Kim cương tạng (金剛藏) và Phật tạng (佛藏).
Bất tăng bất giảm kinh 不増不減經; C: bùzēng bùjiǎn jīng; J: fusō fugen kyō;|Một bộ kinh được Bồ-đề Lưu-chi dịch năm 525. Là bản kinh ngắn nhưng có ảnh hưởng, nói về thuyết Như Lai tạng, giải thích về sự tương quan giữa chúng sinh và Pháp thân (法身; s: dharmakāya, hay Pháp giới 法界; s: dharmadhātu) như là một trong sự tương đương với trung gian của Như Lai tạng. Kinh mở đầu với câu hỏi của Tôn giả Xá-lợi-phất như vô số chúng sinh luân hồi trong ba cõi sáu đường thì có tăng có giảm chăng. Đức Phật đáp lại bằng cách giải thích quan niệm tăng giảm như thế nào để khỏi rơi vào tà kiến chấp thường chấp đoạn. Rồi Đức Phật giải thích sâu hơn về bản thể Như Lai tạng trong mối tương quan với Pháp thân và chúng hữu tình. Tên đầy đủ của kinh là: Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh (佛説不増不減經).
Bát thắng giải 八勝解; C: bāshèngjiě; J: hachishōge;|Tám loại giải thoát thù thắng. Như Bát giải thoát (八解脫).
Bát thánh đạo 八聖道; C: bāshèngdào; J: hasshōdō; S: āryā-ṣṭāṅgo-mārgo;|Con đường chân chính tu đạo gồm tám phần, được Phật Thích-ca Mâu-ni giảng trong bài thuyết pháp đầu tiên, và vẫn còn là nền tảng trong việc tu tập Phật pháp. Bát chính đạo (八正道).
Bát thánh đế 八聖諦; C: bāshèngdì; J: hachishōtai;|Bát đế (八諦).
Bát thập bát sử 八十八使; C: bāshíbā shǐ; J: hachijūhasshi;|88 tâm trạng phiền não của thế giới hữu vi.
Bát thập chủng hảo 八十種好; C: bāshízhǒng hăo; J: hachijisshu gō;|Tám mươi vẻ đẹp phụ trên thân đức Phật (s: aśīty-anuvyañjanāni), tương truyền các tướng tốt nầy cần phải tu hành một trăm đại kiếp mới đạt được. Bản liệt kê 80 vẻ đẹp nầy không thấy ghi trong các kinh văn nguyên thuỷ, nhưng rất thường thấy đề cập trong tiểu sử đức Phật và các kinh văn Đại thừa. Có lẽ nó có xuất xứ từ các đại biểu của Thuyết nhất thiết hữu bộ, nhưng nó lại được sử dụng thường xuyên trong văn học Đại thừa.|I. Kinh văn đầu tiên liệt kê đầy đủ 80 vẻ đẹp có lẽ được tìm thấy trong Phật bản hạnh tập kinh (佛本行集經; s: abhiniṣkramaṇa-sūtra), là bản ghi trọn vẹn lịch sử đức Phật nhất trong Hán tạng. Bản dịch tóm tắt của S. Beal ghi 80 vẻ đẹp như sau: |1. Móng tay màu như đồng; 2. Móng tay mềm dịu; 3. Móng tay nổi bật; 4. Móng tay tròn đều; 5. Ngón tay thon gầy; 6. Các ngón tay phát triển cân xứng; 7. Các tĩnh mạch ẩn kín; 8. Các tĩnh mạch dãn ra; 9. Mắt cá chân ẩn kín; 10. Lòng bàn chân bằng phẳng; 11. Dáng đi như sư tử; 12. Dáng đi như voi chúa; 13. Dáng đi như ngỗng chúa; 14. Dáng đi như trâu chúa; 15. Dáng đi thường hướng về bên phải; 16. Dáng đi tự tại; 17. Dáng đi vững chãi; 18. Thân thể tròn đầy; 19. Thân thể mềm dịu; 20. Thân thể cân đối; 21. Thân thể thanh tịnh; 22. Thân thể dịu dàng; 23. Thân thể không tì vết; 24. Bộ phận sinh dục hoàn chỉnh; 25. Thân thể tráng kiện, các chi thanh nhã; 26. Bước đi khoan thai; 27. Thân thể khỏe mạnh; 28. Thân thể an khang; 29. Thân thể đoan nghiêm; 30. Thân thể nghiêm túc, viên mãn; 31. Tứ chi cân đối với các phần thân thể; 32. Thị lực trong sáng; 33. Thân tướng viên mãn; 34. Thân tướng nhẹ nhàng; 35. Thân tướng cân đối; 36. Bụng phẳng; 37. Rốn sâu; 38. Rốn cuộn theo chiều kim đồng hồ; 39. Làm vui lòng mọi người khi giao tiếp; 40. Giới hạnh thanh tịnh; 42. Da không bị cháy nắng và tàn nhang; 43. Chỉ tay rất đẹp; 44. Chỉ tay sâu; 45. Chỉ tay dài; 46. Miệng không quá rộng; 47. Môi đỏ như trái tần-bà (bimba); 48. Lưỡi mềm mại; 49. Lưỡi mỏng và nhỏ; 50. Lưỡi màu đỏ; 51. Tiếng nói như voi gầm hoặc sấm rền; 52. Tiếng nói rõ ràng, lôi cuốn và hoà nhã; 53. Răng cửa tròn; 54. Răng cửa nhọn; 55. Răng cửa trắng; 56. Răng cửa bằng phẳng; 57. Răng cửa đều đặn; 58. Mũi cao; 59. Mũi gọn và đẹp; 60. Mắt sáng; 61. Mắt lớn; 62. Lông mi đen; 63. Lòng trắng và đen của mắt đẹp (như) những cánh hoa sen trắng và xanh sẫm; 64. Lông mày dài; 65. Lông mày mềm; 66. Lông mày phẳng; 67. Lông mày mịn; 68. Tai dài và dày; 69. Tai bằng phẳng; 70. Thính giác nguyên toàn; 71. Trán cân đối; 72. Trán cao; 73. Đầu rất nở nang; 74. Tóc đen như ong chúa; 75. Tóc dày; 76. Tóc mềm; 77. Tóc đều đặn, vén khéo; 78. Tóc xoăn, mềm; 79. Tóc có mùi thơm; 80. Lòng bàn tay, lòng bàn chân có có những hình chữ śrīvatsa, (chữ vạn 卍) svastika, nadyavarta, và lalita.|II. Dưới đây là bản liệt kê 80 vẻ đẹp bằng tiếng Hán trong Phật Quang đại từ điển (đã được dịch): 1. Chỉ trảo hiệp trường, bạc nhuận quang khiết (指爪狹長,薄潤光潔): Móng tay thon dài, mảnh và sáng bóng; 2. Thủ túc chi chỉ viên nhi tiêm trường, nhu nhuyễn (手足之指圓而纖長、柔軟): Ngón tay, ngón chân tron, thon dài, mềm dịu; 3. Thủ túc các đẳng vô sai, chư chỉ gian giai sung mật (手足各等無差,諸指間皆充密): Tay chân cân xứng, các ngón khi khép lại thì kín đầy; 4. Thủ túc quang trạch hồng nhuận (手足光澤紅潤): Tay chân sáng bóng, tươi hồng; 5. Cân cốt ẩn nhi bất hiện (筋骨隱而不現): Gân xương ẩn kín, không lộ ra; 6. Lưỡng khoả câu ẩn (兩踝倶隱): Hai mắt cá chân ẩn kín; 7. Hành bộ trực tiến, uy nghi hoà mục như long tượng vương (行歩直進,威儀和穆如龍象王): dáng di hướng thẳng phía trước, uy nghi khoan thai như rồng chúa, voi chúa; 8. Hành bộ uy dung tề túc như sư tử vương (行歩威容齊肅如獅子王): Dáng đi oai vệ như sư tử chúa; 9. Hành bộ an bình do như ngưu vương (行歩安平猶如牛王): Dáng đi bình thản nhr trâu chúa; 10. Tiến chỉ nghi nhã uyển như nga vương (進止儀雅宛如鵝王): Phong thái tiến, dừng thanh nhã, uyển chuyển như ngỗng chúa; 11. Hồi cố tất giai hữu toàn như long tượng vương chi cử thân tùy chuyển (迴顧必皆右旋如龍象王之舉身隨轉): Quay nhìn đều theo bên phải như voi chúa nhấc mình để di chuyển; 12. Chi tiết quân vân viên diệu (肢節均勻圓妙): Các khớp tay chân đều tròn và đẹp; 13. Cốt tiết giao kết do nhược long bàn (骨節交結猶若龍盤): Các đốt xương liên kết nhau như rồng cuốn; 14. Tất luân viên mãn (膝輪圓滿): Đầu gối tròn đầy; 15. Ẩn xứ chi văn diệu hảo thanh tịnh (隱處之紋妙好清淨): Chỗ ẩn vân tốt đẹp và thanh tịnh; 16. Thân chi nhuận hoạt khiết tịnh (身肢潤滑潔淨): Thân và tay chân tươi nhuận, trơn láng, thanh tịnh; 17. Thân dung đôn túc vô uý (身容敦肅無畏): Phong thái đôn hậu, vô uý; 18. Thân chi kiện tráng (身肢健壯): Thân thể tráng kiện; 19. Thân thể an khang viên mãn (身體安康圓滿); 20. Thân tướng do như tiên vương, chu táp đoan nghiêm quang tịnh (身相猶如仙王,周匝端嚴光淨): Thân tướng như tiên chúa, toàn thân đoan nghiêm sáng sạch; 21. Thân chi chu táp viên quang, đản tự nhiên diệu (身之周匝圓光,恒自照耀): Có hào quang thường chiếu sáng quanh thân; 22. Phúc hình phương chính, trang nghiêm (腹形方正、莊嚴): Bụng vuông vức, trang nghiêm; 23. Tề thâm hữu toàn (臍深右旋): Rốn sâu, xoay về hướng phải; 24. Tề hậu bất ao bất đột (臍厚不凹不凸): Rốn đầy, không lõm không lồi; 25. Bì phu vô giới tiển (皮膚無疥癬): Da không ghẻ lác; 26. Thủ chưởng nhu nhuyến, túc hạ an bình (手掌柔軟,足下安平): Bàn tay mềm mại, lòng bàn chân bằng phẳng; 27. Thủ văn thâm trường minh trực (手紋深長明直): Chỉ tay sâu, dày, rõ ràng; 28. Thần sắc quang nhuận đan huy (唇色光潤丹暉): Môi đỏ thắm, sáng và tươi nhuần; 29. Diện môn bất trường bất đoản, bất đại bất tiểu như lượng đoan nghiêm (面門不長不短,不大不小如量端嚴): Mặt không dài không ngắn, không lớn không nhỏ, vừa vặn, đoan nghiêm; 30. Thiệt tướng nhu nhuyễn quảng trường (舌相軟薄廣長): Lưỡi mềm, dài, rộng; 31. Thanh âm uy viễn thanh triệt (聲音威遠清澈): Tiếng nói oai hùng, vang xa, trong suốt; 32. Thanh vận mĩ diệu như thâm cốc hưởng (音韻美妙如深谷響): Âm vận hay đẹp như tiếng vang nơi hang sâu; 33. Tỉ cao thả trực, kì khổng bất hiện (鼻高且直,其孔不現): Mũi cao và thẳng, lỗ mũi kín; 34. Xỉ phương chỉnh tiên bạch (齒方整鮮白): Răng đều đặn, trắng đẹp; 35. Nha viên bạch quang khiết phong lợi (牙圓白光潔鋒利): Răng trắng tròn, sáng sạch, bén nhọn; 36. Nhãn tịnh thanh bạch phân minh (眼淨青白分明): Mắt trong, lòng đen lòng trắng phân minh; 37. Nhãn tướng tu quảng (眼相脩廣): Mắt dài rộng; 38. Nhãn tiệp tề chỉnh trù mật (眼睫齊整稠密): Lông mi đều và dày; 39. Song mi trường nhi tế nhuyễn (雙眉長而細軟): Lông mày dài và mịn; 40. Song mi trình cam lưu li sắc (雙眉呈紺琉璃色): Lông mày xanh biếc như lưu li; 41. Mi cao hiển hình như sơ nguyệt (眉高顯形如初月): Lông mày cách xa mắt và cong như trăng lưỡi liềm; 42. Nhĩ hậu quảng đại tu trường luân đoá thành tựu (耳厚廣大脩長輪埵成就): Vành tai rộng, đoá tai dài thòng xuống; 43. Lưỡng nhĩ tề bình, li chúng quá thất (兩耳齊平,離衆過失): Hai vành tai bằng nhau, không có sai khuyết; 44. Dung nghi linh kiến giả giai sinh ái kính (容儀令見者皆生愛敬): Phong cách uy nghi, khiến người thấy liền sinh kính mến; 45. Tảng quảng bình chính (額廣平正): Trán rộng, bằng phẳng; 46. Thân uy nghiêm cụ túc (身威嚴具足): Thân đầy đủ tướng oai nghiêm; 47. Phát tu trường cam thanh, mật nhi bất bạch (髮脩長紺青,密而不白): Tóc dài xanh biếc, dày mà không bạc; 48. Phát hương khiết tế nhuận (髮香潔細潤): Tóc mịn, toả hương thanh khiết; 49. Phát tề bất giao tạp (髮齊不交雜): Tóc ngay ngắn không rối; 50: Phát bất đoạn lạc (髮不斷落): Tóc không đứt rụng; 51. Phát quang hoạt thù diệu, trần cấu bất trước (髮光滑殊妙,塵垢不著): Tóc trơn bóng, bụi không dính; 52. Thân thể kiên cố sung thật (身體堅固充實): Thân thể vững chắc đầy đặn; 53. Thân thể trường đại đoan trực (身體長大端直): Thân thể cao lớn đoan chính; 54. Chư khiếu thanh tịnh viên hảo (諸竅清淨圓好): Các huyệt thanh tịnh tròn đẹp; 55: Thân lực thù thắng vô dư đẳng giả (身力殊勝無與等者): Sức mạnh thù thắng, không ai sánh bằng; 56. Thân tướng chúng sở lạc quán (身相衆所樂觀): Thân tướng được mọi người ưa nhìn; 57. Diện như thu mãn nguyệt (面如秋滿月): Khuôn mặt như trăng tròn mùa thu; 58. Nhan mạo thư thái (顏貌舒泰): Vẻ mặt thư thái; 59. Diện mạo quang trạch vô hữu tần xúc (面貌光澤無有顰蹙): Gương mặt sáng bóng không vết nhăn; 60. Thân bì thanh tịnh vô cấu, thường vô xú uế (身皮清淨無垢,常無臭穢): Da sạch không cáu ghét, thường không có mùi hôi; 61. Chư mao khổng thường xuất diệu hương (諸毛孔常出妙香): Các lỗ chân lông thường toả hương thơm; 62. Diện môn thường xuất tối thù thắng hương (面門常出最上殊勝香): Diện môn thường toả mùi hương thù thắng; 63. Tướng chu viên diệu hảo (相周圓妙好): Tướng tròn đầy tốt đẹp; 64. Thân mao cam thanh quang tịnh (身毛紺青光淨): Lông trên mình xanh biếc sạch sẽ; 65. Pháp âm tùy chúng, ứng hiện vô sai (法音隨衆,應理無差): Pháp âm tùy theo đại chúng mà ứng hiện, bình đẳng không sai biệt; 66. Đỉnh tướng vô năng kiến giả (頂相無能見者): Tướng đỉnh đầu không ai thấy được; 67. Thủ túc chỉ cương phân minh (手足指網分明): Đường vân của ngón tay, ngón chân phân minh; 68. Hành thời kì túc li địa (行時其足離地): Khi đi, hai chân đều cách mặt đất; 69. Tự trì bất thị tha vệ (自持不待他衛): Tự giữ gìn, không nhờ người khác hộ vệ; 70. Uy đức nhiếp nhất thiết (威德攝一切): Uy đức nhiếp phục hết thảy; 71. Âm thanh bất ti bất kháng, tùy chúng sinh ý (音聲不卑不亢,隨衆生意): Thanh âm nói ra không thấp không cao, vừa sự tiếp thu của chúng sinh; 72. Tùy chư hữu tình, nhạo vi thuyết pháp (隨諸有情,樂為説法): Tùy theo sự ưa thích của chúng sinh mà thuyết pháp; 73. Nhất âm diễn thuyết chính pháp, tùy hữu tình loại các linh đắc giải (一音演説正法,隨有情類各令得解): Diễn thuyết chính pháp chỉ bằng một âm thanh, tùy các loài chúng sinh nghe đều được giải thoát; 74. Thuyết pháp y thứ đệ, tuần nhân duyên (説法依次第,循因縁): Thuyết pháp theo thứ lớp, tùy nhân duyên; 75. Quán hữu tình, tán thiện huỷ ác nhi vô ái tắng (觀有情,讚善毀惡而無愛憎): Quán sát chúng sinh, khen thiện chê ác, nhưng không có tâm yêu ghét; 76. Sở vi tiên quán hậu tác, cụ túc quỹ phạm (所為先觀後作,具足軌範): Trước quan sát kĩ các việc rồi sau mới làm, tuân thủ đúng quy tắc; 77. Tướng hảo, hữu tình vô năng quán tận (相好,有情無能觀盡): Tướng tốt đẹp, chúng sinh không thể nào thấy hết được; 78. Đỉnh cốt kiên thật viên mãn (頂骨堅實圓滿): Xương đầu cứng chắc, tròn đầy; 79. Nhan dung thường thiếu bất lão (顏容常少不老): Dung nhan trẻ mãi không già; 80. Thủ túc cập hung ức tiền, câu hữu cát tường hỉ toàn đức tướng (手足及胸臆前,倶有吉祥喜旋德相): Nơi chân tay và trước lồng ngực đều có tướng tốt cát tường hỉ (chữ Vạn 卍) xoay vần.
Bất thiện 不善; C: bùshàn; J: fuzen; S: akuśala; P: aku-sala;|Chỉ tất cả các Nghiệp xuất phát từ gốc bất thiện mang mầm mống đau Khổ cho đời sống kế tiếp. Gốc bất thiện gồm tham (s, p: lobha), sân (s: dveṣa; p: dosa), Si (s, p: moha).|Tham là tình trạng tâm thức bị cuốn hút đến một đối tượng cần được thoả mãn và được đối trị bằng Bố thí (s, p: dāna). Sân là tình trạng tâm thức khó chịu, giận dữ khi không được thoả mãn, được đối trị bằng Từ bi (s: maitrī-karuṇā; p: mettā-karuṇā). Si chỉ một hành động hoặc tư tưởng không phù hợp với Chân như và được đối trị bằng chính tri kiến (Bát chính đạo). Ba gốc bất thiện nói trên là những yếu tố cơ bản trói buộc loài hữu tình nằm trong Vòng sinh tử và cần được đoạn diệt để tiến tới giác ngộ. Có khi tham sân si được hình tượng hoá bằng ba con vật; gà (tham), rắn (sân), lợn (si).
Bất thiện hạnh 不善行; C: bùshànxíng; J: fuzengyō;|Hành vi xấu, nghiệp ác. Hành vi mang đến những kết quả xấu. Cũng như Bất thiện nghiệp (不善業; theo Đối pháp luận 對法論)
Bất thiện nghiệp 不善業; C: bùshànyè; J: fuzengyō;|Hành vi xấu, nghiệp ác. Hành vi mang đến những kết quả xấu. Cũng như Bất thiện hạnh (不善行).
Bất thiện tính 不善性; C: bùshànxìng; J: fuzenshō;|Phẩm tính không lành mạnh, xấu ác. Nói đến những hành vi trái đạo đức, sẽ mang đến quả báo đau khổ. Đây là 1 trong 3 phẩm tính của nghiệp (Tam tính 三性); 2 tính kia là Thiện tính (善性) và Vô kí tính (無記性). Bất thiện ở trên (theo Du-già luận 瑜伽論).
Bất thối 不退; C: bùtuì; J: futai;|Không trở nên yếu đuối, hay từ bỏ (s: akilāsitva, akhinna, akheda). Không thối lui, đặc biệt là trong dụng ngữ tu đạo của Phật giáo, căn cứ trên sự ưu tiên tích tập công đức, hoặc vào việc tu tập giác ngộ. Căn cứ vào nhiều kinh luận khác nhau, người ta có thể tìm thấy nhiều giai vị tu chứng khác nhau được gọi là »Bất thối vị«. Chẳng hạn nhiều bản kinh Đại thừa có ghi Bất thối vị là giai vị thứ 7 trong Thập trú. Nhưng theo Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācāra-bhūmi-śāstra), Bất thối vị là giai vị thứ nhất trong Thập địa, lại nữa, trong Phật tính luận (佛性論), Bất thối vị là giai vị thứ nhất trong Thập hồi hướng.
Bất thối chuyển pháp luân kinh 不退轉法輪經; C: bùtuì zhuănfǎlún jīng; J: futai tenbourin kyō;|Kinh, 4 quyển. Dịch giả không rõ.
Bất thối trú 不退住; C: bùtuì zhù; J: futai jū;|Giai vị thứ 7 trong Thập trú. Giai vị mà hành giả không còn rơi trở lại vào chấp không, không rơi vào chấp tướng và tham muốn nữa.
Bất thối vị 不退位; C: bùtuìwèi; J: futaii;|Quả vị bất thối chuyển (s: avinirvatanīya, avivartika), giai vị tu chứng của hàng Bồ Tát, sau khi chứng được quả vị nầy sẽ không bao giờ lui sụt nữa. Bất thối.
Bát thức 八識; C: bāshì; J: hachishiki;|Tám thức (s: aṣṭa-vijñānāni), tên gọi sự lập thành lĩnh vực cốt tuỷ và đặc biệt nhất trong giáo lí của Du-già hành tông Phật giáo, được biết đến ở Đông Á với tên Pháp tướng tông (法相) và Duy thức tông (唯識). Theo giáo lí của tông nầy, mỗi chúng sinh đều có 8 lớp thức riêng biệt, năm thức đầu tiên tương ứng với 5 giác quan, thức thứ 6 tương ứng với tâm hay suy nghĩ (ý thức 意識), thức thứ 7, Mạt-na thức (末那識) tương ứng với ý niệm về bản ngã, thức thứ 8 (A-lại-da thức) là kho chứa mọi dấu ấn từ kinh nghiệm của mình. Vì 7 thức đầu sinh khởi y cứ vào thức thứ 8, nên được gọi là chuyển thức (轉識). Ngược lại, thức thứ 8 được gọi là Bản thức (本識), Tạng thức (藏識) hay Chủng tử thức (種子識; theo Thành duy thức luận 成唯識論).
Bát thức quy củ tụng 八識規矩頌; C: bāshì guījǔ sòng; J: hasshiki kiku shō;|Tác phẩm của Huyền Trang (玄奘). Kinh văn nầy không thấy trong Đại chính tân tu đại tạng kinh, tuy nhiên luận giải về bản tụng nầy của Phổ Thái (普泰) lặp lại rằng bản gốc của Tụng bản nầy được tìm thấy trong mục số Đại chính 1865.45.467-476, nhan đề là Bát thức quy củ bổ chú (八識規矩補註), nhưng được sắp xếp khác hơn. Bản dịch tiếng Anh về bản gốc của Huyền Trang của Ronald Epstein có thể được tìm thấy trên mạng quốc tế.
Bất tín 不信; C: bùxìn; J: fushin; P: assaddhiya; S: aśraddha|1. Không tin, thiếu niềm tin; 2. Theo luận A-tì-đạt-ma Câu-xá, bất tín là 1 trong những Đại phiền não địa pháp; 3. Theo Duy Thức tông, bất tín là không tin vào sự hiện hữu ngay đời nầy và có hậu quả (theo Thành duy thức luận 成唯識論).
Bất tịnh 不淨; S: aśubha; P: asubha;|Ngoài nghĩa »bất tịnh« thông thường còn chỉ phép quán mười đối tượng bất tịnh, là một trong 40 phép tu tập (s, p: bhāvanā) được chỉ rõ trong Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga). Có khi phép này cũng được hiểu là phép quán 32 thân phần (Bốn niệm xứ; p: satipaṭṭhāna).
Bất tĩnh địa 不靜地; C: bùjìngdì; J: fujōchi;|Trạng thái tinh thần thiếu an định, thiếu sự tập trung tâm ý.
Bát tông cương yếu 八宗綱要; C: bāzōng gāngyào; J: hasshūkōyō; |Tác phẩm của Ngưng Nhiên (凝然; j: gyōnen); hoàn thành năm 1286. Là một giới thiệu tổng quát phác hoạ về lịch sử, giáo pháp và những Tổ sư của 8 tông phái Phật giáo được lưu truyền đến Nhật Bản trong thời kì Phật giáo Nại Lương (j: nara). Phổ biến như một giới thiệu về Phật giáo cho các sinh viên khoa tôn giáo ở Nhật Bản đến ngày nay. Tác phẩm nầy, trong khi giá trị của nó như một nguồn tài liệu, có khuynh hướng rất nồng nhiệt, lại hoàn toàn không đề cập đến vai trò của Hàn Quốc trong việc truyền thừa Phật giáo từ Trung Hoa đến Nhật Bản. Tác phẩm nầy đã được Leo Pruden dịch sang tiếng Anh trong chương trình Numata với nhan đề The Essentials of the Eight Traditions.
Bát trí 八智; C: bāzhì; J: hacchi;|Tám trí, kết hợp với Tám nhẫn (Bát nhẫn 八忍) để cấu thành Mười sáu tâm thức (Thập lục tâm 十六心). Mỗi loại nhẫn (hay nhân) đứng trước một nội quán mà nó kết hợp. Những loại nhẫn nầy được trải qua trong giai vị Kiến đạo. Đó là: 1. Khổ pháp trí (苦法忍); 2. Khổ loại trí (苦類忍); 3. Tập pháp trí (集法忍); 4. Tập loại trí (集類忍); 5. Diệt pháp trí (滅法忍); 6. Diệt loại trí (滅類忍); 7. Đạo pháp trí (道法忍); 8. Đạo loại trí (道類忍).
Bất tử kiểu loạn 不死矯亂; C: bùsǐ jiǎoluàn; J: fushi kyōran;|Bất tử kiểu loạn tông (theo Du-già luận 瑜伽論).
Bất tử kiểu loạn luận 不死矯亂論; C: bùsǐ jiǎoluàn lùn; J: fushi kyōran ron;|Bất tử kiểu loạn tông.
Bất tử kiểu loạn tông 不死矯亂宗; C: bùsǐ jiǎoluànzōng; J: fushi kyōran shū;|Dịch từ chữ Amarāvikkhepa của tiếng Pa-li, là tên 1 trường phái triết học dựa vào sự tranh luận tinh tế, khéo léo, trườn uốn luồn lách, hoài nghi. Đó là chủ thuyết của Sañjāya (theo Du-già luận 瑜伽論).
Bất tư nghị 不思議; C: bùsīyì; J: fushigi;|1. Không thể hiểu được. Siêu việt mọi suy nghĩ, nhận thức. Vượt ra ngoài sự diễn tả bằng ngôn ngữ (s: acintya, atarkika); 2. Vô tâm, vô niệm, vắng bặt sự chấp thủ các tâm sở pháp (s: grāhaka-citta-abhāva); 3. Những điều không thể hiểu được hoặc không thể suy nghĩ được.
Bất tư nghị huân 不思議薫; C: bùsīyìxūn; J: fushigikun;|Sự huân tập bất khả tư nghị. Sự huân tập vô minh hoặc trí huệ vào tâm thể chân như thanh tịnh rồi biểu hiện qua thế giới hiện tượng.
Bất tư thiện bất tư ác 不思善。不思惡; J: fushizen-fushiaku;|Một cách diễn tả của Thiền tông, chỉ sự chuyển hoá cách nhìn phân biệt theo lối nhị nguyên như »thiện« »ác« yêu, ghét… Bất tư thiện bất tư ác là một tâm trạng chỉ có thể đạt được khi chứng ngộ được »vạn vật bình đẳng,« hành giả đã Kiến tính, ngộ đạo.|Câu »Bất tư thiện, bất tư ác« xuất phát từ một câu chuyện rất nổi tiếng của Thiền tông, được lưu lại trong tập Vô môn quan, Công án thứ 23. Sau khi Huệ Năng – Tổ thứ sáu của Thiền tông tại Trung Quốc – được truyền y bát, được chính thức công nhận là kế thừa Ngũ tổ Hoằng Nhẫn, Sư bị những người thân cận của Thần Tú đuổi theo với ý định đoạt lại y bát. Trong phần đầu của Vô môn quan, sự kiện này được viết lại như sau (Bản dịch của Trần Tuấn Mẫn):|»Lục tổ bị Thượng toạ Huệ Minh đuổi theo đến núi Ðại Dữu Lĩnh. Tổ thấy Huệ Minh đến liền quẳng y bát lên tảng đá mà nói: ›Áo này vốn để làm tin, há tranh đoạt được ư? Ông cứ việc lấy đi!‹. Huệ Minh toan lấy áo lên, thấy nặng trịch như núi, tần ngần run sợ nói: ›Tôi đến cầu pháp, chẳng phải vì áo, xin hành giả khai thị cho.‹ Tổ nói: ›Bất tư thiện, bất tư ác, ngay lúc ấy thì mặt mũi xưa nay của Thượng toạ Huệ Minh là gì?‹. Huệ Minh liền ngộ, khắp mình đẫm mồ hôi.«
Bất tương ưng 不相應; C: bùxiāngyīng; J: fusōō; S: ayukta, visaṃyuktatva;|Không tương ưng, không khế hợp, không quan hệ với. Xem thêm Tâm bất tương ưng hành pháp (心不相應行法).
Bất tương ưng hành pháp 不相應行法; C: bùxiāngyīngxíngfǎ; J: fusōōgyōhō;|Tâm Bất tương ưng hành pháp (心不相應行法).
Bất ứng 不應; C: bù yīng; J: fuō;|Không đúng, không thể ứng dụng được, không hợp lí, không tương ưng.
Bát vọng tưởng 八妄想; C: bāwàngxiǎng; J: hachimōsō;|Tám thứ vọng tưởng. Xem Bát chủng phân biệt (八種分別, theo Hiển dương luận 顯揚論).
Bảy giác chi S: saptabodhyaṅga; Hán Việt: Thất giác chi (七覺支) – bảy Bồ-đề phần;|Nhóm thứ sáu trong ba mươi bảy Bồ-đề phần (s: bodhipākṣikadharma), gồm có: Trạch pháp (擇法; s: dharmapravicaya; phân tích, biết phân biệt đúng sai), tinh tiến (精進; s: vīrya), hỉ (喜; s: prīti), khinh an (輕安; s: praśabdhi), Niệm (念; s: smṛti), Ðịnh (定; s: samādhi), Xả (捨; s: upekṣā).
Bế quan 閉關; J: heikan;|Tức là đóng cửa tâm (đồng nghĩa với sáu giác quan) lại để tu tập thiền định. Bế quan không có nghĩa là bỏ qua, trốn tránh những việc làm thế gian hàng ngày. Bế quan thật sự là không để cho những việc thế tục vương vấn tịnh tâm, làm việc nhưng không phụ thuộc vào kết quả.
Bi 悲; S, P: karuṇā;|Lòng thương yêu, đau xót, thông cảm cùng với chúng sinh; một đặc tính quan trọng của Chư Bồ Tát và Chư Phật, là một trong Bốn phạm trú (s, p: brahmavihāra). Lòng thương yêu này trải rộng vô phân biệt đến tất cả các loài Hữu tình, xuất phát từ trí huệ nhận ra rằng tất cả là một, là biểu hiện cu thể của trí huệ đạt được qua Giác ngộ (s, p: bodhi). Vì vậy, lòng bi luôn luôn cùng đi với Trí huệ (s: prajñā). Người ta cho rằng đức Quán Thế Âm Bồ Tát là hiện thân của lòng Bi và vì vậy, Ngài cũng mang danh hiệu Ðại Bi (s: mahākaruṇika).|Trong Ðại thừa, lòng Từ (s: maitrī; p: mettā) và bi được xem là đức hạnh chính yếu, trong lúc Tiểu thừa xem Trí huệ (s: prajñā) quan trọng hơn trong bước đường giác ngộ. Trong Tịnh độ tông thì lòng từ bi của Phật A-di-đà được xem là cao cả nhất (xem Bất hại)
Bí mật tập hội tan-tra 祕密集會; S: guhyasamāja-tantra, cũng được gọi là Tam nghiệp bí mật kinh;|Tan-tra đầu tiên của Phật giáo, được biên soạn giữa thế kỉ 3 và 7, được xếp vào Vô thượng du-già tan-tra.
Bích-chi-ca Phật-đà 辟支迦佛陀; S: pratyekabuddha; P: pacceka-buddha; dịch nghĩa Hán Việt: Duyên Giác Phật, Ðộc Giác Phật.|Ðộc giác Phật
Bích-chi Phật 辟支佛; S: pratyekabuddha; P: paccekabuddha; dịch nghĩa Hán Việt: Duyên Giác Phật, Ðộc Giác Phật.|Ðộc Giác Phật
Bích nham lục 碧巖錄; C: bíyánlù; J: hekigan-roku;|Tên của tập Công án quan trọng nhất trong Thiền tông song song với Vô môn quan, được mọi người hâm mộ trong giới thiền gọi là »Tông môn đệ nhất thư« (宗門第一書). Quyển sách này được biên soạn dưới tay Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả ở đầu thế kỉ 12 và được truyền lại đến ngày nay dưới dạng này.|Nhưng nguồn gốc chính của sách này xuất phát từ Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển. Sư chọn lựa trong nội điển, ngoại điển và văn sử một trăm tắc công án và viết thêm vào những câu tụng để hướng dẫn những người hiếu học, được gọi là Tuyết Ðậu tụng cổ (雪竇頌古). Những lời tụng này là những tuyệt tác trong thiền ngữ và văn thơ Trung Quốc. Thiền sư Viên Ngộ lấy trứ tác này làm sườn và bổ sung thêm. Nhìn chung, cấu trúc của mỗi công án trong Bích nham lục có thể được nêu như sau:|1. Thuỳ thị (垂示; j: suiji), lời dẫn của Thiền sư Viên Ngộ nhằm giúp thiền sinh hướng tâm về nội dung chính của bản công án; 2. Bản tắc (本則; j: soku), bản công án chính của Thiền sư Tuyết Ðậu, thỉnh thoảng cũng được kèm theo lời bình; 3. Trước ngữ (著語; j: jakugo), những câu bình của Viên Ngộ xen vào công án của Tuyết Ðậu; 4. Bình xướng (評唱; j: hyōshō), lời bình giải của Viên Ngộ, nêu rõ chi tiết, thời điểm, nguyên do công án này được hình thành…; 5. Tụng (頌; j: ru), chỉ bài tụng của Tuyết Ðậu về công án; 6. Trước ngữ của sư Viên Ngộ về bài tụng của Tuyết Ðậu; 7. Bình xướng của Viên Ngộ về bài tụng của Tuyết Ðậu.|Vì cấu trúc của bản văn có nhiều tầng lớp nên Bích nham lục cũng nổi danh là một quyển sách cực kì phức tạp trong tất cả các loại thiền ngữ. Về sau, đồ đệ của Viên Ngộ là Phổ Chiếu biên chép lại để tên là Bích nham lục – vì tấm bảng trên ngạch trượng thất tại viện Linh Tuyền đề là Bích Nham.||H 16: Công án thứ 27 trong Bích nham lục: »Một vị tăng hỏi sư Vân Môn Văn Yển: ›Ðó là thời điểm nào, khi cây cỏ thay màu, khi muôn lá rơi rụng?‹ Sư đáp: ›Lúc ấy chính là lúc mà ngọn gió vàng hiện bày cái thể của nó‹ (Thể lộ kim phong)« (bút pháp của Thiện Thuận).|Chính vì tinh hoa và trình độ văn chương quá tuyệt hảo của Bích nham lục nên nhiều Thiền sư sau này không thích dùng nó chỉ dạy thiền sinh mà chú trọng quyển Vô môn quan hơn. Khả năng đam mê chữ nghĩa khi đọc Bích nham lục của những thiền sinh rất lớn và chính đệ tử của Viên Ngộ là Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo cũng đã nhận thấy điều này. Sư chứng kiến được cảnh đệ tử chỉ nhớ tụng ngôn cú trong sách làm nhu yếu biện luận tri giải mà quên lời dạy của những Tổ sư »Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự.« Vì thế, Sư đem tất cả những bản có sẵn ra đốt sạch và hai trăm năm sau đó ít ai thấy được quyển sách này. Ðầu thế kỉ 14 có vị Cư sĩ tên Trương Minh Viễn góp nhặt các bản còn sót mọi nơi, tham khảo bổ túc qua lại và cũng từ đây Bích nham lục lại được ra mắt độc giả.|Văn hào nổi danh của CHLB Ðức Hermann Hesse viết như sau về Bích nham lục sau khi đọc bản dịch của giáo sư W. Gundert, xuất bản năm 1960: »Tác phẩm vĩ đại này là một món quà thượng thặng với những nội dung huyền diệu mà tôi không thể nào thưởng thức trọn vẹn trong đoạn đời còn lại. Mà ngay cả một cuộc đời trinh nguyên cũng không đủ để thực hiện điều này. Những tâm hồn cao cả nhất, sùng đạo nhất của Trung Quốc và Nhật Bản đã uống nước nơi nguồn này hơn 800 năm nay, nhưng vẫn không uống cạn, đã nghiên cứu quyển sách này đến tận cùng, nhai đi nhai lại những lời nói bí ẩn trong đây, nếm được vị ngọt ngào của nó, họ chỉ biết âm thầm tôn kính mức độ thâm sâu và đáp lại những nét hóm hỉnh của nó với một nụ cười am hiểu.«
Biến kế sở chấp 遍計所執; S: parikalpita;|Là cái »tưởng tượng«, cũng được gọi là huyễn giác, thác giác. Theo Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) thì tất cả những ngoại cảnh, những vật bên ngoài đều là cái chính mình tưởng ra, là thức biến, không thật. Như vậy có nghĩa rằng: thế giới hiện hữu chỉ là huyễn, là Ảo ảnh (Pháp tướng tông). Biến kế sở chấp là một trong ba tính (三自性; Tam tự tính; s: trisvabhāva) của hiện hữu được Duy thức tông nêu ra. Hai tính khác là y tha khởi (s: paratantra) và Viên thành thật (s: pariniṣpanna).
Biến xứ 變處; S: kṛtsnā; P: kasiṇa;|Tên gọi một vật dùng để phát sinh và phát triển sự tập trung để đạt đến bốn định an chỉ (Tứ thiền).|Người tu hành tập trung toàn triệt vào một đối tượng thấy được trước mắt (sắc pháp, ở đây là một biến xứ) gọi là chuẩn bị tướng, như một điểm màu hay một cái dĩa có màu, một miếng đất,… cho đến lúc dù nhắm mắt người ấy vẫn thấy hình ảnh nó trong tâm gọi là thô tướng (hay học tướng; p: uggaha).|Trong khi tiếp tục định tâm vào hình ảnh ấy, hành giả có thể thấy một hình ảnh bất động vô nhiễm khởi lên gọi là quang tướng (p: patibhāga-nimitta) và khi đó sẽ đắc cận hành định (p: upacāra-samādhi). Tiếp tục định tâm trên đối tượng ấy, người tu hành sẽ đạt đến một trạng thái tâm lí, ở đó mọi hoạt động giác quan đều ngưng, không còn thấy, nghe, cảm giác, đó là sơ thiền. Mười biến xứ được kể là: đất, nước, lửa, gió, sắc xanh, sắc vàng, sắc đỏ, sắc trắng, Hư không (p: ākāsa) và Thức (p: viññāṇa).
Biệt 別; C: bié; J: betsu; |1. Phân biệt, phân tích. Sự phân biệt (s: vikalpa); 2. Tách ra, bị chia ra, bị lìa ra; Cái khác, đặc biệt, riêng lẻ, trường hợp ngoại hạng, khác, đặc điểm; 4. Dạy hoặc thuyết giảng riêng.
Biệt báo 別報; C: biébào; J: beppō; |Nghiệp báo đặc biệt, cũng được viết là Mãn nghiệp (滿業). Có liên quan đến những hành động dẫn đến những nghiệp báo khác nhau giữa chúng sinh, ví như sinh trong gia đình nghèo hoặc giàu, đẹp hoặc xấu… Biệt báo tương phản với Tổng báo (總報), là những kết quả tổng quát hơn của nghiệp như sinh trong cõi nào, là loài chúng sinh gì…. Cũng gần giống như ý nghĩa của Y báo (衣報, theo Nhị chướng nghĩa).
Biệt báo nghiệp 別報; C: biébàoyè; J: beppōgyō; |Biệt báo (別報).
Biệt cảnh 別境; C: bié jìng; J: bekkyō; S: vibhāvanā.|Chỉ những tâm ý, hoặc các trạng thái tâm thức xuất hiện tuỳ theo những đối tượng hoặc điều kiện mà tâm đang hướng đến. Một chức năng đặc biệt của tâm thức, không tất nhiên phải hiện hành trong bất cứ trạng thái tâm thức nào mà thay vào đó, xuất hiện tuỳ theo Tâm vương nào đang hiện hành. Một tâm trạng có chức năng phán định những đối tượng đặc biệt. Sự bổ sung của những Biến hành (遍行) tâm sở. Theo Pháp tướng tông thì nhóm này thuộc về loại Tâm sở (心所). Biệt cảnh tâm sở bao gồm năm: Dục (欲); Thắng giải (勝解); Niệm (念); Định (定); và Huệ (慧).
Biệt cảnh tâm sở 別境心所; C: biéjìng xīnsuǒ; J: bekkyō shinsho; |Biệt cảnh (別境).
Biệt đương 別當; C: biédāng; J: bettō;|Từ chỉ vị chủ trì, cai quản một tu viện lớn. Thuật ngữ này không còn thông dụng.
Biệt giải thoát 別解脱; C: biéjiětuō; J: betsugedatsu;|Hán dịch ý chữ prātimokṣa trong Phạn ngữ. Dịch âm là Ba-la-đề Mộc-xoa (波羅提木叉).
Biệt giáo nhất thừa 別教一乘; C: biéjiāo yīshèng; J: bekkyō-ichijō;|Giáo lí của Nhất thừa, khác với giáo lí được dạy theo thuyết Tam thừa. Đây là giáo lí của kinh Hoa Nghiêm.
Biệt hạnh 別行; C: biéxíng; J: betsugyō;|Sai biệt chính hạnh (差別正行; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Biệt kí 別記; C: biéjì; J: bekki; K: pyǒlgi.|Viết tắt của Đại thừa khởi tín luận biệt kí (大乘起信論別記).
Biệt môn 別門; C: biémén; J: betsumon;|Đến với sự việt bằng một cách khác biệt; một cách nhìn Phật pháp khác biệt, v.v… thường được một tông phái riêng biệt đề cao, tương phản với Thông môn (通門), cách nhìn chung (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Biệt pháp 別法; C: biéfǎ; J: beppō;|1. Bản chất riêng, một vật riêng; một hiện tượng cá biệt; 2. Theo thiên Thai tông thì đây Biệt pháp ở đây là một giáo lí riêng biệt (Biệt giáo 別教) dành cho hàng Bồ Tát; 3. Một giáo lí riêng biệt, Tiểu thừa, Đại thừa…; 4. Trong Tam giai giáo thì Biệt pháp chỉ cho những giáo lí riêng lẻ, khác biệt hoặc giáo lí chứa những điểm phân biệt; những giáo lí này tốt dành cho chúng sinh có khả năng tu tập theo Tam thừa hoặc Nhất thừa, nhưng khác biệt với loại Phổ pháp (普法), giáo pháp toàn thể dành cho chúng hữu tình vô minh, mù ám thuộc cấp bậc thứ ba (Tam giai 三階).
Biệt tập khí 別習氣; C: biéxíqì; J: betsujikke;|Những tập khí khác biệt được tích tụ trong cuộc sống này. Tập khí này thô thiển hơn những loại Thông tập khí (通習氣) và vì vậy, được xếp vào loại Phiềng não chướng (煩惱障), được diệt trừ bởi những hành giả bên dưới cấp bậc Bồ Tát. Nguyên Hiểu (元曉; k: wǒnhyo) đưa ra ví dụ của một người đang có uy thế trong cuộc sống, phát triển, tích tụ Biệt tập khí kiêu mạn trong suốt cuộc đời của mình (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Biệt thân 別申; C: biéshēn; J: besshin;|Một cách giải thích chi tiết một bài văn, một học thuyết. Giải thích một khía cạnh đặc biệt, chi tiết của một học thuyết.
Biệt tôn tạp kí 別尊雜記; C: biézūn zájì; J: besson zakki; |Tác phẩm nói về các bậc Thánh, Tôn túc, 57 quyển, được Tâm Giác (心覺; j: shinkaku, 1117-1180) biên tập. Một trong những tác phẩm đồ tượng quan trọng nhất trong truyền thống Mật giáo Nhật Bản, trình bày nhiều vị Thánh thần, những Ấn tâm (印心), Quán pháp (觀法; s: sādhana), Man-đa-la và những hình tượng hệ thuộc. Đứng trên cơ sở Thiên Thai và Chân Ngôn, tập này phân chia những đối tượng được tôn sùng, gọi là Bản tôn (本尊) thành Phật, Bồ Tát, Quan Âm, Minh vương (s: vidhyarāja), Thiên và v.v… Những hình tượng thật hay được gắn kèm vào những đoạn dẫn trích (thường được lặp đi lặp lại) từ những kinh văn bí mật.
Biệt truyền tâm pháp nghị 別傳心法議; C: biéchuán xīnfǎ yì; J: betsuden shinhō gi; |Luận.
Biệt tướng 別相; C: biéxiāng; J: bessō;|Sai biệt, phân biệt theo dạng (s: bheda; t: bye brag); 2. Đoạn, phần, đơn vị; 3. Khía cạnh khác biệt, khía cạnh phân biệt, một tính chất khác biệt có thể được nhận ra của một vật. Một trong Lục tướng trong học thuyết của Hoa Nghiêm tông.
Bik-sa-na-pa S: bhikṣanapa, bhikhanapa, dhikṣana, bhakana; »Tất-đạt hai răng«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông sống tại thành Hoa Thị (s: pāṭaliputra), thừa hưởng một gia tài lớn nhưng ăn tiêu hết sạch. Lần nọ, ông buồn rầu ngồi một nơi vắng vẻ thì một Không hành nữ (s: ḍākinī) hiện ra hỏi han. Nữ thần hứa truyền yếu chỉ cho ông để thoả mãn mọi ước nguyện. Khi hỏi ông có thể cúng dường gì thì ông liền nhổ tất cả các răng cúng dường, chỉ dành lại cho mình hai chiếc. (Có sách kể rằng trước đó ông chỉ còn hai chiếc răng và nhổ hai chiếc cuối cùng này cúng dường). Nữ thần truyền cho ông phép thiền định, phối hợp hai mặt Phương tiện và Trí huệ. Sau bảy năm, ông chứng thật sự giao phối này, đạt đại hạnh và sức mạnh của Phật quả. Người đời gọi ông là »Ðạo sư hai răng.« Thánh ca của ông như sau:|Ðại đạo không thể lường,|dẫn đường đến Ðại lạc,|dẫn đến chứng Thánh quả.|Nhờ Ðạo sư khai thị,|Du-già sư khôn khéo,|đạt quân bình tuyệt đối.
Bình đẳng tính trí 平等性智; S: samatājñāna;|Trí giúp người nhận thức rằng, không có sự khác biệt giữa ta và vật đối tượng, xem Năm trí.
Bình thường tâm thị đạo 平常心是道; J: heijōshin kore dō;|»Tâm bình thường tức là Ðạo,« một câu nói nổi tiếng của Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện.|Câu này là một phần của một cuộc Vấn đáp giữa Nam Tuyền và môn đệ thượng thủ là Triệu Châu Tòng Thẩm, được Thiền sư Vô Môn Huệ Khai lưu lại trong Vô môn quan, Công án 19:||H 17: »Tâm bình thường là Ðạo«, lời khai thị của sư Nam Tuyền Phổ Nguyện cho Thiền sư Triệu Châu (bút pháp của Thiện Thuận).|»Triệu Châu hỏi: ›Thế nào là đạo?‹. Nam Tuyền đáp: ›Tâm bình thường là đạo.‹ Triệu Châu lại hỏi: ›Nhắm hướng đến đó được không?‹. Nam Tuyền đáp: ›Hướng đến càng xa.‹ Triệu Châu hỏi: ›Nếu không nghĩ đến thì sao biết được đó là đạo?‹. Nam Tuyền đáp: ›Ðạo không thuộc về biết hay không biết. Biết là biết sai, không biết là vô kí. Nếu thật sự đạt đạo thì bấy giờ cũng như thái hư, trống rỗng thênh thang, còn gượng chấp phải trái sao?‹ Ngay câu này, Triệu Châu Ðốn ngộ.«
Bố Đại 布袋|Thiền sư Trung Quốc ở thế kỉ thứ 10. Tương truyền Sư hay mang trên vai một bao bố, có nhiều phép mầu và có những hành động lạ lùng mang tính chất »cuồng thiền«. Lúc viên tịch, Sư mới thổ lộ cho biết chính Sư là hiện thân của Di-lặc, vị Phật tương lai. Trong nhiều chùa tại Trung Quốc và Việt Nam, người ta hay trình bày tượng Di-lặc dưới dạng của Bố Ðại mập tròn vui vẻ, trẻ con đeo chung quanh.||H 19: Bố Ðại Hoà thượng|Bố Ðại ở Phụng Hoá Minh Châu triều Lương đời Ngũ Ðại, tự xưng là Khế Thử (契此). Hình dạng Sư thì lùn, mập, nói năng tự tại, ăn ngủ tuỳ tiện. Sư thường mang một bao bố trên vai để bị vào đó những vật người cúng dường. Sư được quần chúng mến phục vì có tài tiên tri thời tiết mưa nắng. Một khi Sư ngủ ngoài đường, mọi người biết trời sẽ tốt, ngược lại lúc Sư đi giày dép và kiếm chỗ tạm trú thì trời sẽ mưa.|Tính tình của Sư rất ngược đời, đúng như tinh thần Thiền tông. Trả lời câu hỏi già trẻ bao nhiêu, Sư nói »già như hư không.« Giữa chợ, có người hỏi tìm gì, »ta tìm con người«, Sư trả lời. Một hôm có vị tăng đi phía trước, Sư liền vỗ vai ông ta nói: »Cho tôi xin một đồng tiền.« Vị tăng bảo: »Nói được thì tôi cho ông một đồng tiền.« Sư liền bỏ bao xuống đất đứng im lặng khoanh tay.|Sư có nhiều thần thông, ngủ ngoài tuyết, tuyết không rơi vào mình. Trước khi tịch, Sư ngâm câu kệ:|彌勒真彌勒。分身千百億|時時示時人。時人自不識|Di-lặc, Chân Di-lặc|Phân thân thiên bách ức|Thời thời thị thời nhân|Thời nhân tự bất thức.|*Di-lặc, chân Di-lặc|Phân thân trăm ngàn ức|Luôn luôn bảo người đời|Người đời tự chẳng biết.|Sau khi chết, có người vẫn thấy Sư ở nơi khác tại Trung Quốc. Người đời sau vẽ lại hình Sư với bị gạo và từ đó sinh ra hình Di-lặc, ngày nay ở đâu cũng có.
Bồ-đề 菩提; S, P: bodhi; dịch nghĩa là Tỉnh thức, Giác ngộ (覺悟);|Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ, Bồ-đề là từ chỉ trạng thái chứng được bốn cấp trong Thánh đạo (s: āryamārga) bằng cách hành trì 37 Bồ-đề phần và diệt trừ Vô minh, liễu ngộ được Tứ diệu đế.|Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), Bồ-đề là chứng được Tứ diệu đế, thoát khổ. Ở đây người ta phân biệt ba giai đoạn: tu và chứng quả Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), tu và chứng quả Ðộc giác Phật (s: pratye-kabuddha) và cuối cùng là đạt quả vị Phật tam-miệu (s: samyak-saṃbuddha), tức là đạt Nhất thiết trí (s: sarvajñatā), có khi gọi là Ðại bồ-đề (s, p: mahābodhi).|Trong Ðại thừa, Bồ-đề được hiểu là trí huệ nhận ra rằng không có sự sai khác giữa Niết-bàn (s: nirvāṇa) và Luân hồi (s: saṃsāra), giữa khách thể và chủ thể. Bồ-đề là chứng được trí Bát-nhã (s: prajñā), nhận ra Phật tính của chính mình hay của muôn loài, nhận ra tính Không của thế gian, nhận biết »sự thật như nó là« (Chân như).|Ðại thừa phân biệt ra ba loại Bồ-đề: giác ngộ cho chính mình (giác ngộ của một vị A-la-hán), giải thoát cho chúng sinh (giác ngộ của một vị Bồ Tát) và giác ngộ hoàn toàn của một vị Phật. Trong quan điểm này, mỗi trường phái Ðại thừa lại có một cách giải thích khác nhau.
Bồ-đề đạo đăng luận 菩提道燈論; S: bodhipathapradīpa;|Trứ tác của Ðại sư A-đề-sa, người truyền Phật pháp sang Tây Tạng. Tác phẩm này là nền tảng của hầu hết các tông phái Phật giáo tại đây. Ðại ý của tác phẩm này là việc chia ra thứ bậc trong việc tu hành Phật pháp do căn cơ của người ta không giống nhau. Người phát đại tâm là Ðại thừa, người chỉ phát tâm xuất li là Tiểu thừa. Vì vậy cùng là Bố thí, trì Giới (s: śīla), Ðịnh (s, p: samādhi), Huệ (s: prajñā) nhưng kết quả lại không giống nhau. Căn cơ kém của con người ta là do tu tập mà thành, không phải do chủng tộc từ vô thuỷ đến nay đã có sẵn, không thể thay đổi được. Ngay cả con đường tu tập cũng phải tuần tự theo các thứ bậc mà tiến lên, không thể bỏ nhảy vượt qua được, nếu không thì không bao giờ đạt phúc đức vô thượng cả.|Bài tụng từ thứ 2 đến thứ 5 mở đầu của bài luận này là làm rõ hành tướng và thứ bậc ba hạng người được gọi là »Tam sĩ hành tướng thứ đệ« (三士行相次第): 1. Người lang thang trong Vòng sinh tử, nhưng không cho là khổ, cho là vui, lấy việc cầu mong tự lợi làm mục đích. Loại người này được gọi là »hạ sĩ«; 2. Người tuy chán ghét luân hồi sinh tử, xa rời tội nghiệp, nhưng vẫn còn tâm tự lợi. Loại người này được gọi là »trung sĩ«; 3. Người đã dứt hết được mọi đau khổ của mình, muốn cứu giúp chúng sinh, nguyện dứt bỏ mọi nỗi đau khổ cho các loài hữu tình. Loại người này được gọi là »thượng sĩ«.|Trong ba hạng người trên chỉ thượng sĩ có thể đảm nhiệm Ðại thừa nhưng thiện nghiệp của hạng phàm phu, bậc nhị thừa cũng không vứt bỏ. Cái sau hơn cái trước, cái trước được thu nhiếp trong cái sau, đó chính là thứ bậc của sự tu hành.|A-đề-sa chia hạnh của Bồ Tát thành hai loại Hiển-Mật: lấy Bát-nhã của Hiển giáo làm nhân, lấy Vô thượng du-già (s: anuttarayogatantra) làm quả. Giữa khoảng nhân quả thì lấy việc phát Bồ-đề tâm (s, p: bodhicitta) để kết nối quán thông. Thứ bậc trong khoảng đó thì trước hết là Hiển-Mật cùng tu hành, lấy Ba quy y, Ba môn học làm cơ sở. Từ giới đạt định, từ định phát sinh huệ rồi sản sinh những hạnh lợi tha. Sau đó cùng vận dụng cả trí huệ và phương tiện. Ðó chính là phát tâm đại dũng, thực hiện chính hạnh Bồ Tát. Do vận dụng đủ cả bi và trí để tích tập phúc đức trí huệ, sau đó lại tu hành riêng theo Mật thừa, Bồ Tát nhanh chóng chứng đắc Vô thượng bồ-đề.|Tam quy đây tức là yếu chỉ giải thoát, là chổ sở y để phát tâm Bồ-đề. Bồ Tát phải cúng dường tài vật cho Tam bảo. Ðến khi thành Phật thì vẫn phải lấy tâm bất thoái chuyển bảy lần cúng dường nữa, rồi lại lấy cái tâm kiên quyết dứt khoát ấy ba lần dâng Tam bảo nữa thì mới được gọi là thànhk tựu quy y. Lấy Tam quy đó làm căn bản, nẩy nở tâm đại bi (s: mahākaruṇā) với tất cả các loài Hữu tình, quán sát suy nghĩ vì sao các loài chúng sinh đang trôi lăn trong trong vòng sinh tử. Sau khi hiểu rõ thì lại thi hành phương tiện cứu vớt họ và nẩy nở tâm Bồ-đề không lay chuyển (無倒; vô đảo). Tam học đây chính là »Tam tăng thượng học« (三增上學) được giới thiệu như sau:|1. Tăng thượng giới học (增上戒學): Luật nghi của bảy hàng Thanh văn nên thực hành song song với Bồ Tát giới, tuân thủ theo nghi quỹ trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra) của Vô Trước và Tập Bồ Tát học luận (s: śikṣāsamuccaya) của Tịch Thiên (s: śāntideva);|2. Tăng thượng định học (增上定學): Do giới mà sinh định, định được sản sinh thì có rất nhiều phần, tuân theo chín phần của Giác Hiền (s: bud-dhabhadra), tức là: 1. Lìa ma nghiệp; 2. Lấy việc nghe pháp để hướng dẫn; 3. Vứt bỏ lí luận; 4. Không tham nói rộng; 5. Dựa vào tướng mà tác ý; 6. Niệm định phúc đức; 7. Chăm chỉ đối trị; 8. Hoà hội chỉ quán, 9. Hiểu rõ ở, ăn chỉ là phương tiện. Sau khi đầy đủ chín điều kiện này rồi dùng Phương tiện thiện xảo (善巧方便; s: upāyakauśalya) như thế nào để thật tế tu định thì phải có thầy đích thân truyền cho, vì đó không phải là điều văn tự trình bày được hết;|3. Tăng thượng huệ học (增上慧學): Ðịnh (s: samādhi) là một loại công phu của Chỉ (s: śamatha) nhưng tu chỉ vẫn chưa đủ để cắt đứt các chướng ngại như nghiệp, hoặc,… Vì vậy phải thêm công phu Quán (s: vipaśyanā).|Ðó chính là Huệ học mà Bát-nhã và Du-già đã nói nhưng chỉ có trí huệ không thôi thì chưa đạt được cứu kính, phải có thêm phương tiện mới thành tựu được. Trong đây, A-đề-sa dựa vào kiến giải của Giác Hiền (không phải Giác Hiền qua Trung Quốc dịch kinh), chia sáu Ba-la-mật thành hai loại: 1. Gồm: Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền định là thuộc phương tiện; 2. Bát-nhã là thuộc trí huệ. Lấy phương tiện giúp tăng thượng để tu trí huệ, chứng đắc Bồ-đề, tức là không còn chướng ngại.|Ðây mới chỉ là nói về phương pháp tu hành chung cho Hiển và Mật giáo. Từ Hiển vào Mật giáo thì không cần phải phát tâm nào khác, chỉ cần tuân theo tất cả nghi quỹ chung mà bắt đầu tu tập theo những Tan-tra. Còn như Mật pháp tu hành cụ thể như thế nào phải đích thân Ðạo sư truyền giảng cho, vì đây là điều không mô tả bằng văn tự được.|(Theo Thánh Nghiêm).
Bồ-đề đạo thứ đệ luận 菩提道次第論; T: lam-rim;|Tên chung của một số bản luận do những vị Ðại sư của Phật giáo Tây Tạng sáng tác, dựa theo tác phẩm Bồ-đề đạo đăng luận của A-đề-sa. Những bộ luận này nêu rõ từng chi tiết từ lúc nhập môn đến khi đạt Bồ-đề. Ðiểm đặc sắc nhất là khía cạnh nào của Phật pháp cũng được đề cập đến. Tác phẩm cổ nhất thuộc loại này là bộ Bồ-đề đạo thứ đệ tuỳ phá tông trang nghiêm của Ðạt-bảo Cáp-giải (t: dvags-po lha-rje) và theo gương quyển này, Tông-khách-ba soạn quyển Bồ-đề đạo thứ đệ và Chân ngôn đạo thứ đệ (một bài luận về Mật giáo). Những bộ sách này rất được ưa chuộng vì vậy được biên soạn và phổ biến rộng rãi trong tất cả các tông phái Phật giáo Tây Tạng.|Bồ-đề đạo thứ đệ tuỳ phá tông trang nghiêm của Ðạt-bảo Cáp-giải (dvags-po lha-rje hoặc gam-popa) tuyên truyền Bồ-đề đạo đăng luận của A-đề-sa và phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) của Mật-lặc Nhật-ba (s: milarepa [milaras-pa]). Sách này được chia thành sáu chương:|1. Thuyết quan trọng trong chương này là thuyết Như Lai tạng (s: tathāgata-garbha), có nghĩa rằng, tất cả chúng sinh đều có Phật tính. Thuyết này cũng là đối tượng tranh cãi quyết liệt trong Phật giáo nơi đây và cũng vì vậy, trong tác phẩm Bồ-đề đạo thứ đệ, Tông-khách-ba không đả động đến thuyết này nữa;|2. Kiếp người là cơ hội thuận tiện nhất để đắc Bồ-đề thành Phật. Vì vậy chúng sinh không nên bỏ lỡ cơ hội hiếm có này.|3. Ðiều kiện quan trọng nhất để đắc đạo là sự hướng dẫn của một bạn đạo, đây có nghĩa là một vị Ðạo sư (ở Tây tạng là một Lạt-ma).|4. Phương tiện để đạt Phật quả là những lời hướng dẫn của vị Ðạo sư. Sự hướng dẫn này thường bao gồm những bài giảng về nỗi đau Khổ của tất cả chúng sinh trong Luân hồi, luật Nghiệp báo, tác dụng của tâm Từ bi, việc phát triển Bồ-đề tâm, thực hiện sáu hạnh Ba-la-mật-đa (→Lục độ), →Ngũ đạo;|5. Những lời hướng dẫn này đưa hành giả đến những cấp bậc tiếp thu trực giác, đạt Bồ-đề (Ba thân);|6. Hành giả không đạt Bồ-đề cho chính mình. Bồ-đề chỉ trở thành ý nghĩa cao cả khi hành giả xả thân cứu độ tất cả chúng sinh.|Cách trình bày của những bộ luận Bồ-đề đạo thứ đệ khác cũng tương tự như trên. Chỉ có những điểm quan trọng là được sắp xếp khác nhau. Trong Bồ-đề đạo thứ đệ của Tông-khách-ba thì phép tu Chỉ và Quán được chú trọng đặc biệt, trong khi những bộ thuộc dòng Ninh-mã (t: nyingmapa [rnying-ma]) lại để ý đến phương tiện Ðại cứu kính (s: atiyoga; t: dzogchen [rgzogs chen]) hơn.
Bồ-đề đạo trường 菩提道場; S, P: bodhimaṇḍala|Tên gọi của nơi Phật Thích-ca Toạ thiền, đạt Bồ-đề ở Giác Thành (s: bodhgayā). Những chỗ trang nghiêm thờ Phật cũng được gọi là Bồ-đề đạo trường.
Bồ-đề Đạt-ma 菩提達磨; S: bodhidharma; dịch nghĩa là Ðạo Pháp (道法); ~ 470-543.|Tổ thứ 28 sau Phật Thích-ca Mâu-ni của dòng Thiền Ấn Ðộ và là Sơ tổ của Thiền tông Trung Quốc. Bồ-đề Ðạt-ma là đệ tử và truyền nhân của Tổ thứ 27, Bát-nhã Ða-la (s: prajñādhāra) và là thầy của Huệ Khả, Nhị tổ Thiền Trung Quốc. Sự tích truyền pháp của Bát-nhã Ða-la cho Bồ Ðề Ðạt-ma được truyền lại như sau:||H 20: Bồ-đề Ðạt-ma|Tổ hỏi: »Trong mọi thứ, thứ gì vô sắc?« Bồ-đề Ðạt-ma đáp: »Vô sinh vô sắc.« Tổ hỏi tiếp: »Trong mọi thứ cái gì vĩ đại nhất?« Bồ-Ðề Đạt-ma đáp: »Phật pháp vĩ đại nhất«.|Sau khi trở thành Tổ thứ 28, Bồ-đề Ðạt-ma đi thuyền qua Nam Trung Quốc năm 520. Sau khi truyền đạo cho Lương Vũ Ðế không thành, Bồ-đề Ðạt-ma đến Lạc Dương, lên chùa Thiếu Lâm trên rặng Tung Sơn. Nơi đây, Bồ-đề Ðạt-ma tu thiền định, chín năm quay mặt vào vách không nói và cũng tại đây, Huệ Khả, Nhị tổ thiền Trung Quốc đã gặp Bồ-đề Ðạt-ma, để lại truyền thuyết bất hủ về việc quyết tâm học đạo của mình.|Tư liệu về cuộc đời của Bồ-đề Ðạt-ma là một vương tử Nam Ấn Ðộ không rõ ràng. Có truyền thuyết cho rằng, sư phụ của Bồ-đề Ðạt-ma là Bát-nhã Ða-la từng dặn Sư hãy đợi 60 năm sau khi mình chết mới được đi Trung Quốc. Như thế Bồ-đề Ðạt-ma phải cao tuổi lắm lúc đến Trung Quốc. Theo tài liệu khác thì Bồ-đề Ðạt-ma đến Trung Quốc lúc 60 tuổi. Cả hai thuyết này không phù hợp với cuộc đời Sư, từ 470-543, là ngày tháng được phần lớn nguồn tài liệu công nhận. Sau khi đến, Sư nhận lời mời của Vũ Ðế đi Nam Kinh. Trong Bích nham lục, Công án đầu tiên kể lại cuộc gặp giữa Bồ-đề Ðạt-ma và Vũ Ðế. Là một người phụng sự đạo Phật, Lương Vũ Ðế đã cho xây trong nước mình nhiều chùa chiền, tháp. Vũ Ðế hỏi nhà sư từ Ấn Ðộ, nhà vua đã tạo nên phúc đức gì cho kiếp sau, Bồ-đề Ðạt-ma đáp ngắn gọn »Không có phúc đức gì cả.« Hỏi về »Ý nghĩa cao nhất của Phật pháp«, Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Trống rỗng, không có gì là cao cả.« Cuối cùng Vũ Ðế hỏi »Ai đứng trước mặt ta đây?« Bồ-đề Ðạt-ma đáp »không biết.« Ðó là những lời khai thị về yếu tính Phật pháp rất rõ ràng, nhưng Vũ Ðế không lĩnh hội.|Cuộc gặp với Lương Vũ Ðế cho Bồ-đề Ðạt-ma thấy rõ là chưa đến thời truyền pháp tại Trung Quốc. Sau đó – theo truyền thuyết – Sư vượt sông Dương Tử bằng một chiếc thuyền con (chiếc thuyền về sau trở thành một đề tài của hội hoạ thiền), đến chùa Thiếu Lâm ở Bắc Trung Quốc. Người ta không biết rõ Sư mất tại đó hay rời Thiếu Lâm sau khi truyền tâm ấn cho Huệ Khả. Theo một truyền thuyết thì Bồ-đề Ðạt-ma về lại Ấn Ðộ sau chín năm lưu lại Trung Quốc. |Trước khi về, Sư gọi đệ tử trình bày sở đắc. Người đầu tiên cho rằng, không nên dựa vào văn tự cũng không nên bài bác, nên xem nó là phương tiện trên con đường đạo. Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Ngươi đã được phần da của ta.« Người kế là một vị ni sư cho rằng, chân như được ví như quốc độ các vị Phật, chỉ thấy một lần rồi thôi. Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Ngươi đã được phần thịt của ta.« Vị đệ tử kế tiếp cho rằng, Tứ đại chủng chỉ là Không và Ngũ uẩn không có thật. Thật tế không có gì để chứng cả. Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Ngươi đã được phần xương của ta.« Cuối cùng tới phiên Huệ Khả. Huệ Khả không nói gì, chỉ nghiêng mình im lặng. Bồ-đề Ðạt-ma đáp »Ngươi đã được phần tuỷ của ta.«|Theo một thuyết khác thì Bồ-đề Ðạt-ma sống đến 150 tuổi, cuối cùng bị đầu độc và được chôn ở Hồ Nam. Sau đó một vị tăng đi hành hương ở Ấn Ðộ về gặp Bồ-đề Ðạt-ma trên núi Hùng Nhĩ. Bồ-đề Ðạt-ma, tay cầm một chiếc dép, cho biết mình trên đường về Ấn Ðộ và Trung Quốc sẽ tiếp nối dòng Thiền của mình. Về tới Trung Quốc vị tăng này vội báo cho đệ tử, đệ tử mở áo quan ra thì không thấy gì cả, chỉ còn một chiếc dép. Vì tích này, tranh tượng của Bồ-đề Ðạt-ma hay được vẽ vai vác gậy mang một chiếc dép.|Bồ-đề Ðạt-ma truyền phép thiền định mang truyền thống Ðại thừa Ấn Ðộ, đặc biệt Sư chú trọng đến bộ kinh Nhập Lăng-già (s: laṅkāvatāra-sūtra). Tuy nhiên, Thiền tông Trung Quốc chỉ thành hình thật sự với Huệ Năng, Tổ thứ sáu, kết hợp giữa thiền (s: dhyāna) Ấn Ðộ và truyền thống đạo Lão, được xem là một trường phái đặc biệt »nằm ngoài giáo pháp nguyên thuỷ«. Thiền tông Trung Quốc phát triển rực rỡ kể từ đời Ðường.|Theo Nguyễn Lang trong Việt Nam Phật giáo sử luận thì Bồ-đề Ðạt-ma có thể từng đến Việt Nam (Giao Châu) cuối đời nhà Tống (420-447) cùng với một vị sư Ấn Ðộ tên là Pháp Thiên (s: dharmadeva).
Bồ-đề Lưu-chi 菩提流支; S: bodhiruci; dịch nghĩa là Ðạo Hỉ; tk. 5-6;|Cao tăng Bắc Ấn Ðộ đến Trung Quốc năm 508, cùng với Lặc-na Ma-đề (s: ratnamati) và Phật-đà Phiến-đa (s: buddhaśānta) dịch Thập địa kinh (s: daśabhūmika-sūtra) và Thập địa kinh luận (s: daśabhūmika-śāstra) ra chữ Hán.|Bên cạnh đó, Sư cũng giảng giải giáo pháp của Tịnh độ tông và làm quen với Ðàm Loan trong năm 530. Ðàm Loan trở thành đại diện của tông phái này tại Trung Quốc.
Bồ-đề phần 菩提分; S: bodhipākṣika-dharma; P: bodhipak-khiya-dhamma;|Nguyên nghĩa là »Những điều cần thiết để đạt Bồ-đề«, bao gồm 37 Bồ-đề phần (三十七助道品; 37 trợ đạo phẩm; s: saptatriṃ-ṣaḍbodhipākṣika-dharma), được chia làm 7 nhóm:|1. Bốn niệm xứ (四念處; Tứ niệm xứ; s: catuḥsmṛtyupasthāna); 2. Bốn tinh tiến (四正勤; Tứ chính cần; s: samyak-prahānāni); 3. Bốn Như ý túc (四如意足; Tứ như ý túc; s: ṛddhipāda); 4. Năm Căn (五根; Ngũ căn; s: pañcendriya); 5. Năm lực (無力; Ngũ lực; s, p: pañcabala); 6. Bảy giác chi (七覺支; Thất giác chi; s: sapta-bodhyaṅga); 7. Bát chính đạo (八正道; s: aṣṭāṅgika-mārga).
Bồ-đề tâm 菩提心; S: bodhicitta; t: byang chub kyi sems; còn được gọi là Giác tâm (覺心);|Tâm hướng về Giác ngộ, một trong những thuật ngữ quan trọng của Ðại thừa. Theo cách định nghĩa của Phật giáo Tây Tạng thì Bồ-đề tâm có hai dạng, tương đối và tuyệt đối. Bồ-đề tâm tương đối lại được chia làm hai cấp bậc: 1. Xuất phát từ lòng từ bi, hành giả quyết tâm giải thoát để cứu độ chúng sinh; 2. Hành giả hành trì thiền định, mục đích đạt được phương tiện thiện xảo, để biến ước mơ thành hành động.|Bồ-đề tâm tuyệt đối chính là sự chứng ngộ được tính Không của mọi hiện tượng. Ðó là một dấu hiệu chứng tỏ rằng, hành giả đã bắt đầu bước vào cấp Kiến đạo (見道; s: darśanamārga) của Ngũ đạo, đã trở thành một Thánh nhân và từ lúc này trở đi, mỗi khi hành giả trực nhận được tính Không thì tâm thức nội tại lúc ấy của họ chính là Bồ-đề tâm tuyệt đối.|Luận sư A-đề-sa là người đã đưa ra nhiều phương cách để tu dưỡng tâm Bồ-đề, có nhiều ảnh hưởng lên truyền thống Phật giáo Tây Tạng.|Khác với quan niệm nói trên, truyền thống Mật tông tại Tây tạng xem Bồ-đề tâm là một sự thật cụ thể. Sự tiếp cận với sự thật này có thể đưa đến một dạng giác ngộ mà toàn thân thể của một hành giả có thể cảm nhận thật sự.
Bồ-đề Tát-đoá 菩提薩埵; S: bodhisattva; P: bodhisatta;|Bồ Tát
Bồ-đề thụ 菩提樹; S: bodhidruma; cũng được gọi là Giác thụ, có tên Ấn Ðộ là Pipal, Pipphala, Assattha; |Một loại cây với tên khoa học là Ficus religiosa, thuộc họ Dâu tằm (l: moraceae), có nguồn gốc từ châu Á (Ấn Ðộ). Tương truyền rằng, thái tử Tất-đạt-đa Cồ-đàm (s: siddhārtha gautama) đã giác ngộ hoàn toàn dưới một cây Bồ-đề.|Tại Giác Thành (bodhgayā) ngày nay, bên cạnh đền Ðại Bồ-đề (mahābodhi) còn một cây con của cây Bồ-đề mà ngày xưa đức Phật đã ngồi thiền định 49 ngày sau khi đắc Vô thượng chính đẳng chính giác. Cây Bồ-đề ngày đó đã bị vua Bengale là Śaṣaṅka phá huỷ hồi thế kỉ thứ 7, cây con của cây đó bị bão thổi trốc gốc năm 1876. Cây con ngày nay lấy từ một nhánh của cây Bồ-đề gốc đã được vua A-dục tặng vua Tích Lan trong thế kỉ thứ 3. Ngày nay, tại cố đô Tích Lan A-nu-ra-đa-pu-ra (p: anurādhapura), cây Bồ-đề đó vẫn còn xanh tốt.
Bồ đoàn 蒲團; J: buton; |Toạ bồ đoàn
Bộ kinh 部經; P: nikāya;|Danh từ chỉ những bộ kinh trong Kinh tạng văn hệ Pā-li. Danh từ »Bộ« (部; p: nikāya) của Pā-li đây đồng nghĩa với A-hàm (阿含; s: āgama) của Phạn ngữ (sanskrit). Kinh tạng Pā-li bao gồm năm bộ kinh: Trường bộ (p: dīgha-nikāya), Trung bộ (p: majjhima-nikā-ya), Tương ưng bộ (p: saṃyutta-nikāya), Tăng-nhất bộ (p: aṅguttara-nikāya) và Tiểu bộ (p: khuddaka-nikāya).
Bô-rô-bu-đua E: borobudur;|Dấu tích Phật giáo nổi tiếng tại Java/Nam Dương. Bô-rô-bu-đua được xây dựng vào thế kỉ thứ 9, trình bày con đường giác ngộ bằng các Man-đa-la (s: maṇḍala), tổng cộng gồm các sân lộ thiên, vô số hình tượng đức Phật và 72 Tháp. |||H 18: Man-đa-la tại Bô-rô-bu-đua (borobudur).|Man-đa-la tại đền Bô-rô-bu-đua được nhận ra rõ với thứ tự của các vị Phật trên bốn sân đầu tiên của đền: Phật Bất Ðộng tại phía Ðông, Phật Bảo Sinh ở phía Nam, Phật A-di-đà ở phía Tây và Phật Bất Không Thành Tựu ở phía Bắc. Phật trung tâm là  Ðại Nhật được đặt tại sân thứ năm, nhìn ra bốn phía. Cách kiến trúc của nền làm cho khách thăm viếng cảm thấy mình dần dần lên cấp bậc cao hơn của giác ngộ. Tầng thấp nhất gồm có các tranh tượng nói về dục giới (Ba thế giới) và địa ngục. Tầng trên đó gồm nhiều tranh tượng diễn tả Phật Thích-ca đang thuyết pháp; trên đó nữa là hình ảnh bảo tháp và biểu tượng của tầng trời sắc giới. Cao hơn là sân hình tròn tượng trưng cho vô sắc giới và tính Không.
Bố-tát 布薩; S: upavasatha; P: uposatha; J: fusatsu;|Là ngày thanh tịnh, trai giới, lễ sám hối; một trong những ngày lễ quan trọng nhất tại các nước theo Phật giáo Nam truyền, Thượng toạ bộ. Ðó là những ngày 1, 8, 15, 23 âm lịch trong tháng, trong đó các Phật tử tại gia tưởng niệm đến Phật pháp, giữ nhiều giới luật hơn những ngày khác như đi thăm viếng chùa chiền, học tập giáo pháp. Trong ngày này nhiều người giữ tám giới (tám giới đầu của mười giới, xem dưới Giới) hoặc thực hành thiền định. Ðặc biệt trong hai ngày rằm và ba mươi thì các Thượng toạ lại thuyết giảng giới luật của Tăng-già trước đại chúng (Ba-la-đề mộc-xoa).|Các tỉ-khâu bắt buộc phải tham dự các buổi lễ Bố-tát và những buổi lễ này được tổ chức trong một phòng đặc biệt của một Tinh xá (p: vihāra). Phòng này phải đủ lớn để chứa được tất cả tăng chúng. Nếu một tỉ-khâu nào đó mắc bận thì phải tự nói lí do cho một tỉ-khâu khác và bảo đảm rằng, ông ta không tự biết mình vi phạm cấm giới (Ba-la-đề mộc-xoa). Lễ này không thể được tổ chức nếu một tỉ-khâu nào đó không tham dự được vì một lí do khác ngoài bệnh. Các tỉ-khâu nào phạm giới đều phải tự thú với một tỉ-khâu khác trước buổi lễ. Trong buổi lễ chính, vị trụ trì thuyết Ba-la-đề mộc-xoa và yêu cầu ba lần các vị phạm giới tự kiểm điểm. Cư sĩ, Tỉ-khâu-ni, Sa-di và các tỉ-khâu bị trục xuất ra khỏi tăng-già không được tham dự buổi lễ này.|Trong một Thiền viện tại Nhật thì lễ Bố-tát được thực hành hai lần trong tháng và trong hai lần này, thiền sinh phải tự phát lộ những hành vi phạm giới, sám hối và lặp lại Tứ hoằng thệ nguyện.
Bồ Tát 菩薩; viết tắt của danh từ dịch âm Bồ-đề Tát-đoá (菩薩薩埵; s: bodhisattva; p: bodhisatta); nguyên nghĩa là »Giác hữu tình« (覺有情), cũng được dịch nghĩa là Ðại sĩ (大士);|Trong Ðại thừa, Bồ Tát là hành giả sau khi hành trì Ba-la-mật-đa (s: pāramitā; Lục độ) đã đạt Phật quả, nhưng nguyện không nhập Niết-bàn, khi chúng sinh chưa giác ngộ. Yếu tố cơ bản của Bồ Tát là lòng Bi (s, p: karuṇā), đi song song với Trí huệ (s: pra-jñā) Chư Bồ Tát thường cứu độ chúng sinh và sẵn sàng thụ lãnh tất cả mọi đau khổ của chúng sinh cũng như hồi hướng phúc đức mình cho kẻ khác. Con đường tu học của Bồ Tát bắt đầu bằng luyện tâm Bồ-đề (s: bodhicitta) và giữ Bồ-tát hạnh nguyện (s: praṇidhāna). Hành trình tu học của Bồ Tát được chia làm mười giai đoạn, Thập địa (s: daśabhūmi). Hình ảnh Bồ tát của Ðại thừa tương tự như A-la-hán (s: arhat) của Tiểu thừa, trong đó A-la-hán tập trung vào sự giải thoát cho chính mình.|Thật sự thì khái niệm Bồ Tát đã được tìm thấy trong các kinh Tiểu thừa, nhất là khi nói về các tiền thân đức Phật Thích-ca (Bản sinh kinh). Trong Ðại thừa, khi nói đến Bồ Tát, người ta xem đó là tiền thân của các vị Phật tương lai. Ðại thừa chia làm hai hạng Bồ Tát: Bồ Tát đang sống trên trái đất và Bồ Tát siêu việt (e: trans-cendent). Các vị đang sống trên trái đất là những người đầy lòng từ bi, giúp đỡ chúng sinh, hướng về Phật quả. Các vị Bồ Tát siêu việt là người đã đạt các hạnh Ba-la-mật và Phật quả – nhưng chưa nhập Niết-bàn. Ðó là các vị đã đạt Nhất thiết trí, không còn ở trong Luân hồi, xuất hiện trong thế gian dưới nhiều dạng khác nhau để cứu độ chúng sinh. Ðó là các vị được Phật tử tôn thờ và đỉnh lễ, quan trọng nhất là các vị Quán Thế Âm (觀世音; s: avalokiteśvara), Văn-thù (文殊; s: mañjuśrī), Ðịa Tạng (地藏; s: kṣitigarbha), Ðại Thế Chí (大勢至; s: mahāsthā-maprāpta) và Phổ Hiền (普賢; s: sa-mantabhadra).
Bồ Tát giới 菩薩戒; S: bodhisattvaśīla;|Là giới luật của một vị Bồ Tát trong Ðại thừa. Kinh Phạm võng (s: brahmajāla-sūtra) ghi rõ 58 điều mà 10 điều cấm kị nhất là: 1. Giết hại, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Nói dối, 5. Say rượu, 6. Nói xấu người khác, 7. Khen mình chê người, 8. Ghanh ghét, 9. Hờn giận, 10. Huỷ báng tam bảo. Phật tử Ðại thừa nguyện phải giữ Bồ Tát giới này và lễ thụ giới này thường là một nghi lễ trang trọng.|Giới luật của Ðại thừa có khác biệt với giới của Tiểu thừa. Ðại thừa thường hướng đến ích lợi của người khác, trong lúc Tiểu thừa tập trung đạt phúc đức cho mình. Giới luật Ðại thừa thường có dạng »đại nguyện« – có thể là những phát biểu âm thầm của hành giả, không cần ai chứng minh. Giới luật trong Ðại thừa cốt giữ nơi tinh thần và nếu có bị vi phạm vì ích lợi của một kẻ khác thì có thể được tha thứ. Ngược lại trong Tiểu thừa, vi phạm giới luật quan trọng thường dẫn đến việc bị trục xuất ra khỏi Tăng-già.
Bồ Tát hạnh nguyện 菩薩行願; S: bodhisattvacāryapraṇidhāna;|Là hạnh nguyện của một vị Bồ Tát, quyết tâm đạt Bồ-đề vì lợi ích của loài hữu tình, nhằm dẫn dắt cho họ đến Niết-bàn. Hạnh nguyện này là hiện thân của Bồ-đề tâm (s: bodhicitta), được các Tỉ-khâu cũng như Cư sĩ trong Ðại thừa phát nguyện (Tứ hoằng thệ nguyện).
Bồ Tát thập địa 菩薩十地|Thập địa
Bồ Tát thừa 菩薩乘; S: bodhisattvayāna;|Tên gọi khác của Ðại thừa (s: mahāyāna) với khái niệm Bồ Tát.
Bố thí 布施; S, P: dāna;|Hành động hiến tặng vật chất, năng lực hoặc trí huệ cho người khác, được xem là hạnh quan trọng nhất trong Phật pháp. Bố thí là một trong sáu hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ), một trong mười Tuỳ niệm (p: anussati) và là một đức hạnh quan trọng để nuôi dưỡng Công đức (s: puṇya). |Trong Tiểu thừa, bố thí được xem là phương tiện để đối trị tính tham ái, ích kỉ và được thực hành để tránh khổ đau của đời sau. Theo Ðại thừa, bố thí là biểu hiện của lòng Từ bi và là phương tiện để dẫn dắt chúng sinh đến giác ngộ. Hành động bố thí thức ăn cho các vị Khất sĩ hiện nay vẫn còn phổ biến tại các nước theo Phật pháp Nam truyền. Phật tử tại các nước này cúng tặng tiền bạc và phẩm vật cho chùa chiền và tăng sĩ, ngược lại các vị tỉ-khâu »bố thí« Phật pháp, hướng dẫn tu học. Hành động này cũng được xem là để nuôi dưỡng phúc đức.
Bội li dục 倍離欲; C: bèilíyù; J: bairiyoku;|(Tâm) rời khỏi tham dục mạnh gấp đôi. Tình thế khi hành giả phải chế ngự »gấp đôi« căn bản phiền não của mình, mà nơi đó vẫn còn nhiều việc phải làm. Một trong Tam li dục (三離欲) đề cập trong Du-già sư địa luận; đến đây tương đương với hành giả chứng được quả vị Nhất lai (一來果, theo Du-già luận 瑜伽論).
Bội-sát-nhĩ-da-ngu-lỗ 偝殺爾耶虞嚕; C: bèishāěryé yúlū; J: bai-satsuniya guro;|Phiên âm của chữ Bhaiṣajya-guru trong tiếng Phạn, nghĩa là Dược Sư Phật.
Bốn cách sinh S, P: caturyoni; Hán Việt: Tứ sinh (四生);|Bốn cách sinh của sáu loài Hữu tình (Lục đạo; s: gati): 1. Sinh con (胎生; thai sinh; s: jarāyuja): loài người, loài có vú; 2. Sinh trứng (卵生; noãn sinh; s: aṇḍaja): chim, bò sát; 3. Sinh nơi ẩm ướt (濕生; thấp sinh; s: saṃsvedaja): côn trùng; 4. Hoá sinh (化生; s: aupapāduka), không do mẹ sinh, do Nghiệp lực (s: karma) sinh (thiên giới, địa ngục, loài sinh trong một thế giới vừa hình thành).
Bôn giáo T: bon; nguyên nghĩa của chữ Bôn là »thỉnh cầu«, »tụng niệm«;|Danh từ dùng chỉ các trường phái tôn giáo khác nhau trước khi đạo Phật được Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) đưa vào Tây Tạng. Danh từ Bôn-pô (t: bonpo) ban đầu được dùng để chỉ các Ðạo sư với những chức năng khác nhau như gọi thần phù hộ, thực hành nghi lễ mai táng… Dần dần về sau, một hệ thống lí thuyết được thành lập với sự ảnh hưởng lớn của các người du nhập từ phương Tây. Shang-Shung – được xem là một miền đất phía Tây của Tây Tạng – đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành Bôn giáo. Bắt đầu từ thế kỉ 11, Bôn giáo chính thức xuất hiện như một tông phái tự lập. Sự khác biệt chính của giáo phái này với các tông phái Phật giáo tại đây chính là sự gìn giữ, tiếp nối truyền thống của Bôn giáo thời xưa của phái này. Ngày nay, Bôn giáo vẫn còn lưu hành và có nhiều điểm tương đồng với giáo lí của phái Ninh-mã (t: nyingmapa).|Truyền thống Tây Tạng quan niệm rằng, dân Tây Tạng – đặc biệt là nhà vua – được ba nhóm sau đây hộ trì trước khi Phật pháp được truyền sang: 1. Những người theo đạo Bôn, được gọi là Bôn-pô (bonpo); 2. Những thi hào với những bài thơ, bài hát của họ và 3. Những trò chơi, những câu đố đặc biệt. Dần dần, bản phận của các vị Bôn-pô thay đổi, được mở rộng và trong thời gian sau, người ta phân biệt ba thời kì.|»Bôn giáo sơ khởi« là giai đoạn đầu, chưa lập văn tự. Trong thời gian này, các vị Bôn-pô sử dụng những phương tiện khác nhau để »dưới chinh phục ma quỷ, trên cầu chư thiên, ở giữa làm sạch bếp lửa.« Các phương pháp tiên tri như sử dụng dây cầu xin, vấn linh được áp dụng thường xuyên và các lời giải đáp được xem như là quyết định của »Bề trên.«|Với sự giết hại của Tri-gum – một vị vua được nhắc đến trong truyền thuyết – thời »Bôn giáo đổi hướng« bắt đầu. Bản phận của các vị Bôn-pô trong thời này là việc mai táng nhà vua theo đúng nghi lễ. Cũng trong thời gian này, các vị Bôn-pô ở đây bắt mối liên hệ với những Bôn-pô nằm ngoài Tây Tạng, phần lớn xuất xứ từ phía Tây. Giáo lí của họ được mở rộng và hệ thống hoá.|Trong thời »Bôn giáo chuyển biến« hệ thống triết lí của đạo Bôn thâu nhập rất nhiều thành phần của Phật pháp nhưng vẫn giữ những yếu tố truyền thống. Thời gian này trùng hợp với giai đoạn hoằng hoá Phật pháp của hai vị Ðại sư Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) và Liên Hoa Sinh, bắt đầu từ thế kỉ thứ 8 và kéo dài đến thế kỉ thứ 10. Một nhân vật quan trọng của Bôn giáo xuất hiện trong thời gian này, đó là Shen-rab, được nhiều người xem là người chính thống sáng lập Bôn giáo.|Trong thời gian sau, giáo lí căn bản của Bôn giáo được hệ thống hoá và kết tập trong một Ðại tạng vối cấu trúc tương tự như Ðại tạng của Phật giáo Tây Tạng (Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ). Shen-rab chia giáo lí của đạo Bôn thành chín thừa. Bốn thừa đầu được gọi là »Nhân thừa« (因乘), bốn thừa kế tiếp được gọi là »Quả thừa« (果乘) và song song với dòng Ninh-mã, họ cũng có một hệ thống Ðại cứu kính (t: rdzogchen) riêng biệt.
Bốn lời nguyện lớn Xem Tứ hoằng thệ nguyện
Bốn niệm xứ S: smṛtyupasthāna; P: satipaṭṭhāna; Hán Việt: Tứ niệm xứ (四念處);|Bốn phép Quán cơ bản về sự tỉnh giác. Phương pháp thiền quán của Phật giáo nguyên thuỷ gồm quán thân, Thụ (s, p: veda-nā), Tâm (s: citta) và các Pháp (tức là những ý nghĩ, khái niệm). Phương pháp quán này được nói rõ trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta) và đức Phật từng nói rằng, pháp này có thể đưa đến Niết-bàn. Ngày nay tại phương Tây, phép quán bốn niệm xứ được phổ biến rộng, trong đó hành giả ngồi (Toạ thiền) hay áp dụng phép quán này trong các hoạt động hàng ngày.|Quán Thân bao gồm sự tỉnh giác trong hơi thở, thở ra, thở vào (p: ānāpānasati), cũng như tỉnh giác trong bốn dạng cơ bản của thân (đi, đứng, nằm, ngồi). Tỉnh giác trong mọi hoạt động của thân thể, quán sát 32 phần thân thể, quán sát yếu tố tạo thành thân cũng như quán tử thi.|Quán Thụ là nhận biết rõ những cảm giác, cảm xúc dấy lên trong tâm, biết chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính, nhận biết chúng là thế gian hay xuất thế, biết tính vô thường của chúng.|Quán Tâm là chú ý đến các tâm pháp (ý nghĩ) đang hiện hành, biết nó là tham hay vô tham, sân hay vô sân, si hay vô si (Tâm sở).|Quán Pháp là biết rõ mọi pháp đều phụ thuộc lẫn nhau, đều Vô ngã; biết rõ Năm chướng ngại có hiện hành hay không, biết rõ con người chỉ là Ngũ uẩn đang hoạt động, biết rõ gốc hiện hành của các pháp và hiểu rõ Tứ diệu đế.|Trong Ðại thừa, các phép niệm xứ được hiểu là quán thân, thụ, tâm, pháp; bốn thứ đều là dạng của tính Không.
Bốn niệm xứ kinh S: smṛtyupasthāna-sūtra; P: satipaṭṭhāna-sutta; Hán Việt: Tứ niệm xứ kinh (四念處經);|Một bài kinh giảng rõ phép quán Bốn niệm xứ, được trình bày trong Trường bộ kinh và Trung bộ kinh, một trong những phép thiền quán quan trọng của Tiểu thừa.
Bốn phạm trú S, P: catur-brahmavihāra; Hán Việt: Tứ phạm trú (四梵住), cũng được gọi là Tứ vô lượng tâm (四無量心);|Một phép thiền định, trong đó hành giả tạo điều kiện cho bốn tâm thức cao thượng phát sinh. Bốn phạm trú là: Từ (s: maitrī) vô lượng, Bi (s, p: karuṇā) vô lượng, Hỉ (s, p: muditā) vô lượng và Xả (s: upekṣā) vô lượng. Bốn tâm này đối trị bốn phiền não là sân hận, ganh tị, buồn bực và tham muốn. Trong Ðại thừa, Bốn phạm trú cũng được gọi là hạnh Ba-la-mật (s: pāramitā; Lục độ). Ðó là tâm thức của Bồ Tát muốn cứu độ chúng sinh. Thực hành Bốn phạm trú, thiền giả sẽ tái sinh tại cõi Thiên (s, p: deva). Có khi Bốn phạm trú cũng được gọi là »bốn vô lượng« (vô lượng; s: apramāṇa; p: appa-maññā).|Ðức Phật giảng về phép thiền định này như sau: »Có bốn vô lượng. Hỡi các tỉ-khâu, một người tràn đầy tâm từ (bi, hỉ, xả) sẽ phóng tâm đó đi một phương, hai phương, ba phương, bốn phương, rồi phía trên, phía dưới, xung quanh mình. Người đó phóng tâm đi khắp thế giới, chiếu rọi khắp nơi với tâm từ (bi, hỉ, xả), tâm thức vô lượng vắng bóng sân hận và phiền não.«
Bốn tinh tiến S: samyak-prahāṇāni; P: sammā-padhāṇa; Hán Việt: Tứ chính cần (四正勤);|Một phép quán tưởng được đức Phật khuyên làm, nhằm loại trừ bất thiện pháp. Bốn tinh tiến là:|1. Tinh tiến tránh làm các điều ác chưa sinh (s: anutpannapāpakākuśaladharma); 2. Tinh tiến vượt qua những điều ác đã sinh (s: utpanna-pāpakākuśala-dharma); 3. Tinh tiến phát huy các điều thiện đã có (s: utpan-nakuśala-dharma), nhất là tu học Bảy giác chi; 4. Tinh tiến làm cho các điều thiện phát sinh (s: anutpannakuśala-dharma). Bốn tinh tiến chính là Chính tinh tiến trong Bát chính đạo.
Bốn tự tín S: catur-vaiśaradya; P: catuvesārajja; Hán Việt: Tứ vô uý (四無畏), Tứ vô sở uý (四無所畏);|Bốn niềm tự tin của một vị Phật: 1. Tự tin rằng mình thành Phật, bậc Chính đẳng chính giác; 2. Tự tin rằng không còn Ô nhiễm (s: āśrava) sót lại; 3. Tự tin rằng đã vượt qua mọi chướng ngại; 4. Tự tin rằng đã giảng giáo pháp thoát khỏi Luân hồi.
Bốn xứ S, P: arūpasamādhi; dịch đúng là »Vô sắc giới định«, nhưng vì định này bao gồm bốn cấp nên được gọi như trên.|Chỉ bốn cõi tâm thức mà phép tu thiền định của Phật giáo nguyên thuỷ có thể dẫn đến. Bốn xứ này nằm trong vô sắc giới (Ba thế giới, Tứ thiền bát định).
Bổng hát 棒喝; J: bōkatsu;|Nghĩa là »Gậy và Quát«; là phương thức tiếp dẫn giáo hoá đệ tử của các vị Tổ sư trong Thiền tông. Các vị khi tiếp dẫn người học để lấp tuyệt tư duy hư vọng, hoặc khảo nghiệm cảnh ngộ thì dùng gậy hoặc quát to. Người ta cho rằng dùng gậy thì bắt đầu từ Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám, tiếng quát (Hát) bắt đầu từ Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền.|Ðức Sơn nổi danh vì cây gậy trên tay không kém tiếng quát của Lâm Tế. Thiền sư Nhật Bản Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun) đề cao phương pháp hoằng hoá này trong một thời mà Thiền tông đang trên đường suy vi, chết cứng trong các sắc thái, nghi lễ rườm rà bên ngoài. Với một âm điệu chế nhạo – đặc trưng cho thiền – Sư ca ngợi phong cách của hai vị tiền bối. Tự gọi mình là »Cuồng vân« (狂雲; j: kyōun), Sư viết như sau trong một bài kệ được lưu lại trong Cuồng vân tập (狂雲集; j: kyōunshū):|Cuồng vân, cuồng phong|Hỏi ta đó là gì?|Sớm lang thang trên núi,|Chiều lại đến thành đô.|Vung cây gậy đúng lúc,|Lâm Tế cùng Ðức Sơn,|Gương mặt đầy hổ thẹn.
Bùi Hưu 裴休; C: péixīu; J: haikyū;|Một vị Cư sĩ có duyên lớn với cuộc đời hoằng hoá của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận và là người biên tập tác phẩm Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu.|Năm Hội Xương thứ hai đời Ðường Vũ Tông (842), ông giữ một chức quan ở huyện Chung Lăng (nay là huyện Tiến Hiền, tỉnh Giang Tây), thỉnh Sư về mở pháp hội tại chùa Long Hưng. Năm Ðại Trung thứ hai đời Ðường Tuyên Tông (848), cư sĩ đổi về huyện Uyển Lăng (nay là huyện Nghi Thành, tỉnh An Huy), lại thỉnh Sư về đó mở pháp hội tại chùa Khai Nguyên. Trong hai lần pháp hội này, ông đã ghi chép lại những lời dạy của Sư mà ngày nay được biết dưới tên Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu. Ngoài ra, ông cũng đến tham học với các vị danh tiếng cùng thời như Khuê Phong Tông Mật và Quy Sơn Linh Hựu.
Bụt S, P: buddha; cũng gọi là Bụt-đà;|Một cách dịch âm khác của danh từ Buddha, xem Phật.
Ca-diếp 迦葉; S: kāśyapa; P: kassapa; dịch nghĩa là Ẩm Quang (飲光; »uống ánh sáng«);|Là tên người, Phật. Có nhiều vị mang tên này:|1. Vị Phật của thời kiếp trước thời kiếp này, xem Phật;|2. Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa; p: mahā-kassapa), một đệ tử xuất sắc của Phật Thích-ca. Ca-diếp nổi tiếng có hạnh Ðầu-đà (tu khổ hạnh) nghiêm túc nhất và là người đứng đầu Tăng-già sau khi Phật nhập diệt. Ca-diếp là Sơ tổ của Thiền tông Ấn Ðộ, là người được đức Phật Thích-ca truyền tâm ấn (Niêm hoa vi tiếu);|3. Tên của ba anh em tu sĩ thời đức Phật, ban đầu theo đạo Bà-la-môn, thờ thần lửa, nước, được đức Phật giáo hoá. Ba vị này là Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (p: uruvela-kassapa), Già-da Ca-diếp (p: gayā-kassapa) và Na-đề Ca-diếp (p: nadī-kassapa).
Ca-lâu-la 迦樓羅; S: garuḍa; còn được gọi là Kim sí điểu;|Một loài thần điểu, nửa người nửa chim. Ca-lâu-la được xem là một trong »thiên long bát bộ«, là thần vật của Phật Bất Không Thành Tựu (s: amoghasiddhi). Tương truyền lúc Phật giảng kinh Diệu pháp liên hoa tại núi Linh Thứu, vô số Ca-lâu-la đã đến nghe.
Ca-lợi 歌利; C: gēlì; J: kari;|1. Phiên âm chữ kali trong tiếng Phạn. Kali-yuga, trong vũ trụ quan cổ đại Ấn Độ nay là thời ác trược; 2. Nữ thần Kali.
Ca-lợi vương 歌利王; C: gē lì wáng; J: kariō; S: kalinga-rāja. |Phiên âm chữ kalinga-rāja từ tiếng Phạn, có nghĩa là »Vua ác«, Hán dịch là Ác vương. Vua Ca-lợi là ác vương trong thói quá khứ đã làn lượt cắt đứt chân tay Đức Phật Thích-ca Mâu-ni (trong một đời trước) để thử năng lực nhẫn nhục của Đức Phật. Ca-lợi được đề cập trong kinh Kim Cương, nhưng chuyển kể đầy đủ về ông có trong tạng Pāli nguyên thuỷ.
Ca nhạc thần 歌樂神; C: gēlèshén; J: kagakujin;|Thần âm nhạc. Dịch nghĩa từ chữ kiṃnara. Khẩn-na-la (緊那羅).
Ca-nhĩ-cư phái 迦爾居派; T: kagyupa [bKa'-brgyud-pa]; dịch nghĩa là »Thánh ngữ tương thừa giả«;|Một trong bốn tông lớn của Phật giáo Tây Tạng. Tông này chủ trương thực hành giáo pháp Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) và Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) của Na-rô-pa (t: nāropa). Vào thế kỉ thứ 11, Mã-nhĩ-ba (t: marpa) là người đưa giáo pháp này từ Ấn Ðộ qua Tây Tạng, truyền cho Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa [mi-la-ras-pa]), rồi Ðạt-bảo Cáp-giải – môn đệ chính của Mật-lặc Nhật-ba – trao truyền các ấn quyết đó trong tông này. Từ tông này phát sinh ra những bộ phái khác như Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kag-yu). Phái Ca-nhĩ-cư rất chú trọng đến việc tâm truyền tâm, từ Ðạo sư trực tiếp đến đến đệ tử.|Giáo pháp của Ca-nhĩ-cư bắt nguồn từ Bản sơ Phật (s: ādibuddha) Phổ Hiền (s: samantabhadra), được xem là hoá thân của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân) và được Tai-lô-pa (s: tilopa) truyền cho Na-rô-pa (t: nāropa). Mã-nhĩ-ba (t: marpa) – nhà dịch thuật – mang qua Tây Tạng và người lĩnh hội hết các điểm tinh yếu của giáo pháp này là Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) sau những năm dài tu khổ hạnh. Trong thế kỉ thứ 12, trường phái này hấp thụ thêm giáo pháp của Cam-đan (t: kadampa) và từ đó trở thành một tông lớn, lấy nơi sinh của người sáng lập là Dag-po Kag-yu làm danh hiệu. Chỉ trong thế hệ sau, tông này đã phân thành bốn nhánh: 1. Kam-tshang hay Cát-mã Ca-nhĩ-cư (karma-kagyu), 2. Tsal-pa Kag-yu, 3. Ba-ram Kag-yu, 4. Phag-mo Druk-pa Kag-yu. Nhánh cuối cùng (4.) lại chia làm 8 bộ phái, trong đó Druk-pa Kag-yu và Dri-gung Ka-gyu còn tồn tại tới ngày nay.|Một tông phái khác có liên hệ với phái Ca-nhĩ-cư do Khyun-po Nal-jor (sinh 1310) thành lập. Tên phái này là Shang-pa Kag-yu và phái này có một hệ thống Ðại thủ ấn riêng do em gái của Na-rô-pa là Ni-gu-ma truyền lại. Ngày nay truyền thống này vẫn còn tồn tại.
Ca thần 歌神; C: gēshén; J: kajin;|Thần âm nhạc. Dịch nghĩa từ chữ kiṃnara. Xem Khẩn-na-la (緊那羅).
Ca-tì-la-vệ 迦毗羅衛; S: kapilavastu; P: kapilavatthu;|Thành phố sinh trưởng của đức Phật lịch sử, Tất-đạt-đa Cồ-đàm (s: siddhārtha gautama), dưới chân Hi-mã-lạp sơn, ngày nay thuộc nước Nepal. Ca-tì-la-vệ ngày xưa là thủ đô của dòng họ Thích-ca (s: śākya). Ðức Phật được sinh ra tại Lam-tì-ni (s: lumbinī) gần đó và sống thời niên thiếu tại Ca-tì-la-vệ.|Năm 1898, người ta tìm thấy tại Ca-tì-la-vệ di cốt của đức Phật. Trong một ngôi tháp, người ta tìm ra một cái hủ với một hộp đá gồm có năm bình nhỏ. Một trong năm bình có mang dòng chữ »Hộp này đựng di cốt của vị Phật dòng Thích-ca, là phẩm vật của Sukiti cũng như của toàn thể các anh chị em, con trai và các phu nhân.«
Ca-tì-ma-la 迦毗摩羅; S: kapimala;|Tổ thứ 13 của Thiền tông Ấn Ðộ
Ca vũ 歌舞; C: gēwŭ; J: kabu;|Ca hát và khiêu vũ, vốn tăng sĩ Phật giáo không được phép. Xem giải thích rộng trong tác phẩm của Iwanami Bukkyō jiten, p. 128.
Ca vũ quan thính 歌舞觀聽; C: gēwŭguāntīng; J: kabukan-chō;|Xem nghe trình diễn âm nhạc khiêu vũ. Theo 10 giới, tăng sĩ Phật giáo không được dự vào việc nầy.
Các biệt 各別; C: gèbié; J: kakubetsu; |Tách rời, khác biệt, mỗi thứ đều khác nhau.
Các các 各各; C: gègè; J: kakukaku; |Mỗi cái, từng cái, riêng từng cái, từng người một (s: prati-prati).
Cách 格; C: gé; J: kaku; |1. Biết rõ. Tìm hiểu chắc chắn; 2. Đạt đến, trở thành, đạt được; 3. Đạt được kết quả; nắm bắt được nguyên tắc; 4. Hiệu chỉnh; 5. Phép tắc, giới hạn. mô thức, nguyên tắc; 6. Khôn ngoan, thông minh, thông thái; 7. Kháng cự, công kích.
Cách-lỗ phái 格魯派; T: gelugpa [dGe-lugs-pa]; nguyên nghĩa »tông của những hiền nhân«, cũng được gọi là Hoàng mạo phái (黃帽派) vì các vị tăng phái này mang mũ màu vàng;|Một trong bốn tông tại Tây Tạng do Tông-khách-ba thành lập. Tông này đặc biệt nhấn mạnh đến Luật tạng (s, p: vinaya) và nghiên cứu kinh điển. Căn bản của cách tu tập trong tông này là những bộ luận Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim) và những tác phẩm nói về học thuyết của các trường phái. Kể từ thế kỉ thứ 17 tông này có trách nhiệm chính trị tại Tây Tạng, với sự có mặt của Ðạt-lại Lạt-ma, được xem là người lĩnh đạo chính trị và tinh thần của nước này.|Giáo pháp của phái Cách-lỗ dựa trên các bộ luận của Tông-khách-ba và hai vị đại đệ tử là Gyaltshab (1364-1432) và Kherub (1385-1483). Sau một cuộc gặp Văn-thù Sư-lị trong lúc nhập định, Sư biên soạn một bộ sách về giáo lí Trung quán (s: madhyamaka) có ảnh hưởng trực tiếp đến tông Cách-lỗ. Trong những tập sách giảng giải về các phương pháp thiền quán, Tông-khách-ba chỉ rất rõ phương tiện để hành giả có thể đạt được tri kiến Trung luận đó. Tập sách đó bắt đầu bằng nói về sự không toàn diện của Luân hồi và cách phát triển Bồ-đề tâm. Sau đó là phần khai thị để chứng được tính Không.|Phép tu thật sự nằm ở chỗ làm sao đạt được Ðịnh. Sư hướng dẫn rất rõ trong các tác phẩm của mình, hành giả phải phối hợp cân đối giữa Chỉ (s: śamatha) và Quán (s: vipaśyanā) thế nào để đạt được mục đích đó. Song song với cách tu luyện này, giáo pháp Tan-tra cũng được xem là phương pháp đặc biệt để đạt sự phối hợp cân đối đó.
Cách nghĩa 格義; C: géyì; J: kakugi; |»Làm cho hợp nghĩa«. Danh xưng được đề ra cho phương pháp dịch thuật kinh điển Phật học Ấn Độ sang tiếng Hán trong thời kì đầu. Những thuật ngữ Ấn Độ như śūnyatā (không) được dịch sang tiếng Hán với khái niệm tương đương là »vô« (無), kết quả từ sự hiểu lầm ý nghĩa căn gốc của Phật pháp.
Cách ngôn 格言; C: géyán; J: kakugen; |Những lời nói mang tính trí tuệ.
Cái triền 蓋纏; Danh từ Hán Việt được dịch từ Phạn ngữ. Cái (s: āvarāṇa) nghĩa là sự che đậy, gò bó và Triền (s: paryavasthāna) nghĩa là vấn xung quanh, vây bọc xung quanh.|Có thể hiểu là những Phiền não, những gì trói buộc con người, gây chướng ngại trên con đường đạt Giải thoát.|Cái bao gồm: 1. Dục tham (欲貪; kāmachanda); 2. Thận khuể (慎恚; s: vyāpāda), nghĩa là sự tức giận; 3. Thuỵ miên (睡眠; s: middha); 4. Trạo hối (掉悔; s: uddhaccha), chỉ lòng hối tiếc không yên; 5. Nghi (疑; s: vicikitsā), tâm trạng nghi ngờ.|Triền gồm có: 1. Vô tàm (無慚; s: āhrīkya), không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 2. Vô quý (無愧; s: anapatrāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội; 3. Tật (嫉; s: īrṣyā), ganh ghét vì thấy người ta hơn mình; 4. Xan (慳; s: mātsarya), xan tham, ích kỉ; 5. Hối (悔; s: kaukṛtya), hối hận; 6. Miên (眠; s: middha), giấc ngủ; 7. Trạo cử (掉舉; s: auddhatya), hồi hộp không yên; 8. Hôn trầm (昏沉; s: styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, thiếu nhạy bén; 9. Phẫn (忿; s: krodha); 10. Phú (覆; s: mrakṣa), che dấu tội lỗi, đạo đức giả (xem thêm Tâm sở).
Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ 甘珠爾丹珠爾; T: kangyur/tengyur [bK'-'gyur/ bsTan-'gyur];|Tên của Ðại tạng tại Tây Tạng, bao gồm toàn bộ kinh điển của Phật giáo tại đây. Ðại tạng này bao gồm hơn 300 bộ kinh, được dịch từ văn hệ Phạn ngữ (sanskrit). Cam-châu-nhĩ là Kinh tạng với những lời giáo hoá của Phật Thích-ca, gồm 92 bộ với 1055 bài; Ðan-châu-nhĩ bao gồm các bộ luận của các Ðại sư Ấn Ðộ, có thể gọi là Luận tạng, gồm 224 bộ với 3626 bài.|Kinh luận Phật giáo phát xuất từ Ấn Ðộ ngày nay hầu như chỉ còn trong dạng chữ Hán và Tây Tạng. Trong thời kì đầu của Phật giáo Tây Tạng, nhiều kinh sách được phiên dịch nhưng sau đó vì mất bản gốc chữ Phạn nên các bản dịch đó không được chính thức thừa nhận. Ðến khoảng thế kỉ thứ 11, người ta mới xét lại các bản dịch và cho vào thư mục Ðan-châu-nhĩ/Cam-châu-nhĩ.|Cam-châu-nhĩ được chia làm sáu phần: 1. Mật bộ (Tan-tra); 2. Bát-nhã ba-la-mật bộ (s: prajñāpāra-mitā); 3. Bảo tích bộ (s: ratnakūṭa); 4. Hoa nghiêm bộ (s: buddhāvataṃsaka); 5. Kinh bộ (s: sūtra, giáo pháp Ðại thừa, Tiểu thừa) và 6. Luật bộ (s: vi-naya).|Ðan-châu-nhĩ được chia làm 3 phần: 1. Tán tụng (s: stotra); 2. Tan-tra; 3. Kinh luận. Các tập luận về kinh chứa đựng các tác phẩm Bát-nhã, Trung quán, Duy thức học cũng như A-tì-đạt-ma, và còn có thêm những luận giải về Nhân minh học (lí luận lo-gic), thơ văn, y khoa và ngữ pháp. Văn học Tây Tạng cũng dựa vào các bản dịch mà dần dần phát triển một cách toàn diện.
Cam-đan phái 甘丹派; T: kadampa [bKa'-gdams-pa]; nguyên nghĩa là »khai thị bằng lời«;|Một tông phái của Phật giáo Tây Tạng do Ðại sư A-đề-sa sáng lập. Tông này chủ trương thiết lập lại kinh điển sau khi thấy Phật giáo suy tàn ở thế kỉ thứ 10 tại Tây Tạng. Giáo pháp quan trọng nhất được gọi là Lo-jong (sám hối). Tông này không còn truyền đến ngày nay, nhưng học thuyết lại được các tông khác hấp thụ, nhất là phái Cách-lỗ (t: gelugpa).|Ðóng góp lớn nhất của tông này vào Phật giáo Tây Tạng là một số phép tu thiền, ngày nay được gọi là »phép sám hối.« Phép này dựa trên quan điểm Bồ Tát đạo và được xem như một cách tu để phát triển Bồ-đề tâm. Trong thời A-đề-sa, phép tu này chỉ được truyền miệng, về sau mới được ghi chép lại. Hai văn bản quan trong nhất là »Tám câu sám hối« của Kadampa Geshe Langri Thangpa và »Bảy ý nghĩa của sám hối.« Câu kệ sau đây là của Lạt-ma Ðông-đốn (t: dromton, 1008-1064), một vị Lạt-ma quan trọng của tông Cam-đan:|Nếu nghe lời không đẹp,|Hãy xem là tiếng dội.|Nếu thân chịu khổ ải,|Xem đó là tiền nghiệp.|Sáu bộ luận căn bản (s: ṣaḍājñādeśa) của phái này: 1. Bồ Tát địa luận (s: bodhisattvabhūmi); 2. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (s: mahāyānasūtra-laṅkara); 3. Tập Bồ Tát học luận (s: śikṣāsamuc-caya); 4. Nhập Bồ Tát hạnh (s: bodhisattvacāryā-vatāra) hoặc Nhập bồ-đề hành luận (s: bodhicaryā-vatāra); 5. Bản sinh kinh (s: jātakamala); 6. Tự thuyết (s: udāna).
Cảm Thành 感誠; ?-860|Thiền sư Việt Nam. Sư nối pháp Thiền sư Vô Ngôn Thông.|Sư quê ở Tiên Du. Mới đầu Sư ở tại quận nhà lo việc tụng niệm, lấy hiệu là Lập Ðức. Sau có một hương hào họ Nguyễn ở làng Phù Ðổng mến mộ Sư, tình nguyện đem gia sản cúng cho Sư làm chùa. Sư từ chối (theo Thiền uyển tập anh), nhưng đêm nằm mộng thấy thần nhân đến khuyên nên nhận đất làm chùa, Sư mới nhận, và đó là chùa Kiến Sơ của làng Phù Ðổng sau này. Quả nhiên trụ trì chưa bao lâu thì Thiền sư Vô Ngôn Thông, Tổ dòng thiền Vô Ngôn Thông từ Trung Quốc sang Việt Nam, đến chùa. Sư hết lòng thờ kính Tổ, được Tổ đổi hiệu là Cảm Thành. Ngày nọ, Tổ gọi Sư lại và trình bày rõ nguồn gốc của Thiền tông, từ đức Thích-ca đến Tổ Bồ-đề Ðạt-ma, Tổ Bách Trượng Hoài Hải và nguyên do đến phương Nam giáo hoá. Sau khi Tổ đọc bài kệ, Sư liền lĩnh hội yếu chỉ.|Có vị tăng đến hỏi Sư: »Thế nào là Phật?« Sư đáp: »Khắp tất cả các nơi.« Lại hỏi: »Thế nào là tâm Phật?« Sư đáp: »Chưa từng che dấu.« Tăng hỏi: »Riêng con chẳng hội?« Sư bảo: »Ðã lầm qua rồi.«|Năm 860, Sư không bệnh, an nhiên mà tịch.
Căn 根; S: indriya, jñānendriya, buddhīndriya; P: in-driya; C: gēn; J: kon; nghĩa là giác quan;|Cách vận hành, cơ cấu, tính năng, năng lực. 1. Căn gốc của thảo mộc và cây cối, hàm ý khả năng sinh trưởng từ trong dạng tĩnh để trở thành thân và nhánh; trong nghĩa nầy được gọi là rễ cây; 2. Thuật ngữ con có nghĩa là »cơ quan« – nơi phát sinh sự nhận biết. Do đó, nó được dùng như tên gọi 5 giác quan (ngũ căn 五根). 5 giác quan nầy không thể được nhìn thấy và chúng được tạo nên do sự chuyển hoá của tứ đại, và có năng lực thấy, nghe v.v… Dù chúng vô hình và thanh tịnh; về mặt lí thuyết, chúng có trong khắp mọi nơi, do vậy nên chúng được hệ thống giáo lí Pháp tướng tông xếp vào »sắc« pháp; 3. Khả năng, năng lực, bản tính, tính năng của người hoặc vật, thông thường là bén nhạy, bình thường, và chậm lụt. Năng lực cá biệt mà một cá nhân nào đó có để nhận thức về một tầng bậc giáo lí nhất định và chứng ngộ. Xem Cơ (機); 4. Những điều khuyến khích sự giác ngộ trong con người, gọi là Ngũ căn: tín, tiến, niệm, định, huệ. |Người ta phân biệt 22 căn, tức là tất cả khả năng tâm lí và thể chất, gồm có: sáu căn cơ bản (Lục căn; s: ṣaḍāyatana), nam căn, nữ căn (bộ phận sinh dục); các khả năng thuộc thân như biết đau đớn, biết vui thích, biết buồn rầu, và vô kí (trung hoà); năm cơ sở tâm lí có thể biến thành Năm lực, đó là Tín (s: śraddhā), Tinh tiến (s: vīrya), chính niệm, Ðịnh (s: samādhi) và Bát-nhã (s: prajñā); ba khả năng xuất thế: lòng tin chắc chắn mình sẽ khám phá nhiều điều chưa khám phá được trong giai đoạn đầu của Thánh đạo (s: ārya-mārga), trí huệ cao nhất lúc đạt quả Dự lưu (s: śrotāpanna; p: sotā-panna) và cuối cùng là khả năng của hành giả đã đạt tới thánh quả A-la-hán (s: arhat).
Cần 勤; C: qín; J: gon; |Có hai nghĩa: 1. Sự nỗ lực, sự phấn đấu, tiến hành (s: virya); 2. Siêng năng, cần cù, ý chí tích cực.
Căn bản 根本; C: gēnběn; J: konpon; |1. Gốc, căn nguyên, căn bản (s: mūla); 2. Nguồn gốc sinh khởi mọi hiện tượng (s: vastu; t: gshi).
Căn bản phiền não 根本煩惱; C: gēnběn fánnăo; J: konpon bonnō; |Sáu thứ phiền não chính, từ đó mà các tuỳ phiền não (隨煩惱) phát sinh: tham (貪, còn gọi là ái 愛), sân (瞋), si (癡, hoặc vô minh 無明), mạn (慢), nghi (疑), và (tà) kiến (見). Còn gọi là Lục phiền não (六煩惱).|Mười thứ phiền não chính được giải trừ khi tu tập đạt đến giai vị Kiến đạo. Năm thứ phiền não đầu, là đặc điểm mà hành giả có công phu tu tập đạt đến năng lực nhận thức cao thường gặp, đó là: thân kiến (身見), biên kiến (邊見), tà kiến (邪見), kiến thủ kiến (見取見), và giới cấm thủ kiến (戒禁取見). Năm thứ phiền não kế là đặc điểm của những hành giả chưa phát huy được công phu tinh nhạy, đó là: dục, sân, si, mạn, nghi. Đồng nghĩa với Thập sử (十使), Thập hoặc (十惑).
Căn bản thức 根本識; C: gēnběnshì; J: konponshiki; S: mūla-vijñāna; T: rtsa baḥi rnam.|Được Đại chúng bộ (大衆部, s: mahā-sāṃghika) thừa nhận, được hiểu đó là thức nối kết với sinh tử luân hồi. Khái niệm nầy là một tiên phong cho ý tưởng về một thức gom chứa được Du-già hành tông đề xướng. Đồng nghĩa với A-lại-da thức trong Du-già hành tông.
Căn bản trí 根本智; C: gēnběnzhì; J: konponchi;|Trí huệ bản hữu mà người ta dùng để thể nhập chân tính thực tại – chân đế, chân lí tối thượng (s: jñāna-sattva). Sau đó, chư Bồ Tát phát khởi Hậu đắc trí (後得智) để cứu độ chúng sinh.
Căn bản vô minh 根本無明; C: gēnběn wúmíng; J: konpon mumyō; |Cội gốc vô minh, hay vô minh vốn có. Vô thuỷ vô minh (無始無明).
Căn cơ 根機; C: gēnjī; J: konki; |Năng lực tu tập căn bản của mình. Năng lực tâm linh (s: indriya). Đồng nghĩa với Cơ căn (機根).
Càn-đà-la 乾陀羅; S, P: gandhāra; tên dịch theo âm Hán Việt, cũng đọc là Kiền-đà-la;|Một vùng miền Tây bắc Ấn Ðộ, ngày nay thuộc về Afganistan và một phần của Pakis-tan. Ngày xưa Càn-đà-la là một trung tâm Phật giáo và văn hoá nghệ thuật đạo Phật. Trong thế kỉ thứ 1, 2, Phật giáo Ðại thừa cũng bắt đầu xuất hiện tại đây. Ngày nay, các đạo trường Phật giáo không còn bao nhiêu dấu tích vì bị phá huỷ trong thế kỉ thứ 5. Theo kí sự của Huyền Trang Pháp sư thì đạo Phật tại đây đã bị huỷ diệt trong khoảng thế kỉ thứ bảy.|Khác với giai đoạn đầu của nghệ thuật Phật giáo, đức Phật được diễn tả như một con người tại Càn-đà-la. Phần lớn các hình ảnh của Phật được tạc trên đá, nhắc lại các tiền thân và tiểu sử của Ngài. Người ta trình bày Phật như một vị tu sĩ với một thân tâm hoàn toàn tự tại, có khi người ta xem Ngài như một vị thầy, luôn luôn giữ phong cách vô vi và hướng nội. Một số tranh khác diễn tả Ngài sống khổ hạnh, thân thể hao mòn chỉ còn xương da. Nghệ thuật tại đây đã đạt tới tình trạng trừu tượng, các tranh tượng đều có vẽ các Ấn và các hảo tướng của Phật. Người ta cũng chú ý đến các trình bày y phục của Phật, một sáng tạo nghệ thuật đặc sắc Càn-đà-la.
Càn-đạp-bà 乾沓婆; C: gāntàpó; J: kantōba;|Dịch từ chữ gandharva tiếng Phạn. Càn-thát-bà.
Càn-đạp-hoà 乾沓和; C: gāntàhé; J: kantōwa;|Dịch từ chữ gandharva tiếng Phạn. Càn-thát-bà.
Căn-đôn Châu-ba, 1. Ðạt-lại Lạt-ma 根敦珠巴; T: gendun drub [dGe-’dun grug]; S: saṅghasiddhi; 1391-15. 01. 1475; Giáo chủ của tông Cách-lỗ từ 1438-1475; thuỵ hiệu là Ðạt-lại Lạt-ma thứ I;|Ðại sư Tây Tạng, thuộc tông Cách-lỗ, một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Tông-khách-ba. Sư được phong danh hiệu Gyalwang – »Người chiến thắng« – và sắc thuỵ là 1. Ðạt-lại Lạt-ma. Sư sáng lập rất nhiều ngôi chùa, trong số đó, chùa Ta-shi-lhun-pô (t: tashilhunpo) nổi danh hơn hết. Sư được xem là người đầu tiên trong dòng Cách-lỗ đề xướng việc duy trì chính pháp bằng một dòng tái sinh. Sau khi Sư qua đời, môn đệ bắt đầu tìm một hiện thân mới của Sư, đó cũng chính là sự bắt nguồn của dòng Ðạt-lại Lạt-ma, được truyền cho đến ngày nay. Hiện thân kế thừa Sư là Căn-đôn Gia-mục-thố (t: gendun gyatso), 2. Ðạt-lại Lạt-ma.|Sư sinh năm 1391, trong một gia đình du mục trong tỉnh Tsang. Cha mất khi Sư lên bảy và ngay sau đó, Sư được mẹ gửi đến một vị thầy danh tiếng bấy giờ là Drub-pa She-rab, vị Tổ thứ 14 của dòng Nar-thang. Nơi đây, Sư thụ giới Sa-di.|Năm lên 20, Sư thụ giới cụ túc và trong khoảng thời gian sau đó, Sư tham học dưới sự hướng dẫn của nhiều vị thầy, chuyên cần nghiên cứu kinh, luận của các vị Ðại luận sư Ấn Ðộ như Long Thụ, Vô Trước và A-đề-sa. Ngoài ra, Sư cũng tinh thông các ngành như thi pháp, từ điển học (e: lexicography), văn phạm… Học lực vĩ đại của Sư có thể giảng nghĩa phần nào việc nắm giữ chính quyền của các vị Ðạt-lại Lạt-ma sau này song song với việc duy trì Phật pháp. So với khả năng, tài sức của các vương triều trước đây thì quả nhiên là khả năng của các vị Ðạt-lại Lạt-ma vượt trội hơn nhiều.|Tông-khách-ba trực tiếp hướng dẫn Sư vào thuyết Trung quán qua Căn bản trung quán luận tụng (s: mūlamadhyamaka-śāstra-kārikā) của Long Thụ, Nhập trung luận (s: madhyamakāvatāta) của Nguyệt Xứng (s: candrakīrti). Ngoài ra, Sư cũng thông hiểu Nhân minh học (s: hetuvidyā), tự tay dịch và chú Lượng thích luận (s: pramāṇavarttika-kārikā) của Pháp Xứng (s: dharmakīrti).|Sư sống rất đơn giản, rất khiêm tốn và thường tự nhắc nhở: »Chư Phật chẳng để tâm đến những việc như vinh nhục, khen chê (Bát phong)…; và vì thế, ta cũng chẳng nên lưu ý đến chúng.« Sư thường răn chúng đệ tử như sau: »Chớ nên tranh cãi với người khác và cũng đừng hài lòng với những lời nói suông, rỗng tuếch. Hãy thực nghiệm ý nghĩa của giáo pháp mà các ngươi đã học được vì chỉ như thế, các ngươi mới bước đi trên Phật đạo. Các vị Tổ thường dạy: giữ lòng từ bi đối với tất cả những loài Hữu tình, tôn trọng những người thực hành Phật pháp. Hãy chinh phục cái Ngã.«|Trước khi tịch, Sư căn dặn các vị đệ tử là không nên xây một bảo tháp xa hoa, chỉ đốt xác và lấy tro nắn thành 1000 tượng Phật Bất Ðộng. |Ngày 15. 01. 1475 (dương lịch), Sư viên tịch, thọ 83 tuổi. Tương truyền rằng, một sự yên lặng lạ lùng kéo dài 13 ngày sau khi Sư tịch, không một con chim nào hót, đất, nước tự nhiên nóng lên, cây cối rủ cành.
Cần khổ 勤苦; C: qínkŭ; J: gonku; |Có hai nghĩa: 1. Tự gắng sức, tinh tấn, phấn đấu; 2. Sự đau khổ trong thế gian. Sự gian khó trong nỗ lực. Sự hành xác để hối lỗi; sự khổ hạnh.
Căn môn 根門; C: gēnmén; J: konmon; |Cửa của các giác quan, qua đó mà thoát ra tham dục và chấp trước.
Cận sự nam 近事男; S, P: upāsaka; dịch theo âm Hán Việt là Ưu-bà-tắc;|Cư sĩ
Cận sự nữ 近事女; S, P: upāsikā; dịch theo âm Hán Việt là Ưu-bà-di; |Cư sĩ
Càn-thát-bà 乾闥婆; C: gāntàpó; J: kendatsuba; S: gan-dharva; tên dịch âm Hán Việt, dịch nghĩa là Hương thần (香神), Nhạc thần (樂神);|Càn-thát-bà (p: gandhabba) cùng với (thần) Khẩn-na-la (緊那羅; s: kiṃnara) chuyên hoà tấu nhạc ở cõi trời, là một trong 8 bộ chúng thường hộ trì Phật pháp như trong kinh luận Đại thừa có đề cập đến. Có khi thuật ngữ tiếng Anh gọi là Centaur (trong thiên văn học, đó là chòm sao nhân mã có hình người ngựa). Theo truyền thuyết, thần nầy không uống rượu ăn thịt, chỉ sống bằng ngửi mùi hương. Thân họ có nhiều màu sắc, nổi tiếng về việc cướp trinh tiết của cô dâu trước đêm cưới. Có nhiều từ phiên âm thuật ngữ nầy như: Kiện-đạt-phọc (健達縛), Kiện-thát-bà (犍闥婆), Ngạn-đạt-bà (彥達婆), Càn-đạp-bà (乾沓婆), Càn-đạp-hoà (乾沓和), v. v… Còn được dịch là Thực hương (食香), Tầm hương hành (尋香行), Hương ấm (香陰), Hương thần (香神), Tầm hương (尋香) v. v…
Căn trần 根塵; C: gēn chén; J: konjin; |Sáu cơ quan nhận thức và đối tượng của nó. Sáu đối tượng được xem là nguyên nhân khách quan của phiền não, vì thế nên được đề cập với tính chất tiêu cực là »bụi« hoặc »dơ«.
Cần tu 勤修; C: qínxiū; J: gonshū;|Sự nỗ lực, tinh tấn tu tập (s: prayujyate, vīrya, prayoga).
Cận tử nghiệp 近死業|Là Nghiệp, là hành động hoặc tư tưởng ngay trước khi chết; là tất cả những hoạt động cơ thể, tâm lí của người sắp lâm chung. Cận tử nghiệp rất quan trọng vì nó trực tiếp quyết định điều kiện, môi trường sinh sống trong cuộc đời kế tiếp của người chết (Tử).|Ðặc biệt tại Tây Tạng, các Phật tử rất chú tâm đến cận tử nghiệp và Kim cương thừa – nhất là theo hệ thống Vô thượng du-già (s: anuttarayogatantra) – có rất nhiều phương pháp để chuyển hoá cận tử nghiệp thành một Phương tiện để đạt Giác ngộ. Người ta cho rằng, ý nghĩ (niệm) cuối cùng trước khi chết là nguyên nhân chính tạo các hoàn cảnh của cuộc đời sau.|Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 thường thuyết giảng về khoảng thời gian cận tử và nêu rất rõ những hiện tượng mà các Du-già sư uyên thâm đều tự chứng được. Chính Sư cũng bảo rằng, trong khi thiền định (khoảng 3-4 tiếng), Sư bước qua lại ngưỡng cửa sinh tử 6-7 lần với mục đích trau dồi kinh nghiệm để chinh phục được cửa ải quan trọng này. Sư thuyết trình như sau:|»…Con người chết với một trong ba tâm trạng: thiện, ác và trung tính. Trong trường hợp đầu thì người chết chú tâm đến một đối tượng thiện tính như Tam bảo hoặc vị Chân sư và vì thế tự tạo cho mình một tâm trạng đầy niềm tin sâu thẳm, hoặc người ấy phát lòng từ, bi, hỉ, xả vô lượng (Bốn Phạm trú), hoặc tư duy về tính Không (s: śūnyatā) Người này chỉ có thể thực hiện những đức hạnh nêu trên khi họ đã từng trau dồi chúng trong lúc còn sống. Nếu trước khi chết mà người ta có thể phát khởi những tâm trạng thiện trên thì một sự tái sinh hạnh phúc hơn được xem như là chắc chắn. Chết như thế thì tốt.|Nhưng cũng có lúc thân quyến làm xao động tâm trạng của người sắp chết và làm cho người ấy – tuy là vô tình – khởi tâm sân hận. Có khi thân quyến hội họp xung quanh, khóc lóc than thở làm cho người ấy quyến luyến, tham ái. Nếu người ấy chết với một trong hai tâm trạng trên – và hơn nữa, một tâm trạng mà người ấy rất thường phát triển trong cuộc sống trước đây – thì đó là một mối nguy lớn. Cũng có người chết với một tâm trạng trung tính không thiện không ác… Trong mọi trường hợp thì tâm trạng trước khi chết rất quan trọng. Ngay cả một người đã có chút ít tiến triển trên con đường tu tập cũng có thể không tự chủ, để tâm tán loạn trước khi chết, trực tiếp tạo điều kiện cho sân và ái hiện hành. Nguyên nhân là những Nghiệp (s: karma), những Chủng tử (s: bīja) đã được tích luỹ (熏習; huân tập; s: vāsanā) từ lâu; chúng chỉ chờ đợi những điều kiện thuận lợi – ở đây là những duyên bất thiện – để mặc sức hiện hành. Chính những chủng tử này tạo điều kiện để người chết tái sinh trong ba ác đạo: súc sinh, Ngạ quỷ và Ðịa ngục… Cũng như thế, người nào bình thường chỉ biết làm những việc ác nhưng chết với một tâm trạng thiện lành cũng có thể tái sinh trong một môi trường hạnh phúc hơn…|Trong một cuộc sống sinh hoạt bình thường thì các tâm trạng như tham ái, sân, ganh ghét v.v… xuất hiện ngay với những yếu tố nhỏ nhặt (duyên) – những tâm trạng đã khắc sâu đến tận cốt tuỷ của con người. Một tâm trạng mà người ta không quen phát triển – nếu muốn được hiển bày thì phải cần một sự kích thích, ví dụ như sự tư duy, tập trung cao độ. Vì thế mà trước khi chết, những tư tưởng đã đi sâu vào cốt tuỷ của con người là tâm trạng chính, là yếu tố chính quyết định sự tái sinh…« (trích lời dẫn nhập của Ðạt-lại Lạt-ma trong Death, Intermediate State and Rebirth in Tibetan Bud-dhism, Lati Rinpoche/Jeffrey Hopkins).
Cánh 更; C: gèng; J: kō; |1. Mặt khác, thay vì, hơm là. Lại nữa, lại lần nữa, mặt khác. Thêm nữa, hơn nữa; 2. Trong Phật pháp, Cánh đôi khi có nghĩa tương đương với »xúc« (觸, s: sparśa), là 1 chi phần trong 12 nhân duyên); 3. Thụ nhận cảm giác khổ.
Cảnh 境; C: jìng; J: kyō;|Có các nghĩa sau: 1. Đối tượng, khách thể. Hiện tượng, trình hiện. Hoàn cảnh, tình hình, vấn đề; Những gì được cảm nhận và nhận biết qua tâm và các giác quan. Thuật ngữ thường đề cập đến các đối tượng làm sinh khởi sự nhận thức của các giác quan; như Lục cảnh (六境). Vì những cảnh nầy làm ô nhiễm tâm thức con người, nên thuật ngữ Trần (塵) còn được dùng chung với Cảnh (境, s: visaya, gocara, artha); 2. Đối tượng của nhận thức. Đối tượng của mọi phán lượng; đồng nghĩa với Sở thủ (所取); 3. Đối tượng của 5 giác quan, nên dẫn đến có 5 trần cảnh. Thêm đối tượng của tâm ý vào thì có Lục trần như đã được nêu ở trên; 4. Sự nhận thức về Phật pháp, đối tượng của trí huệ siêu việt; 5. Trạng thái tâm thức hay điều kiện; lĩnh vực, quan điểm; 6. Theo giáo lí tông Duy thức, có ba loại cảnh được phân biệt theo đặc tính của chúng: »tính cảnh« (性境), »độc ảnh cảnh« (獨影境) và »đới chất cảnh« (帶質境); 7. Thế giới, cõi giới. Thế giới khách quan; 8. Ranh giới, giới hạn, biên giới, môi trường, hoàn cảnh (s: ālam-bana).
Cảnh địa 境地; C: jìngdì; J: kyōchi; |Điều kiện, tình huống, trạng thái, trường hợp; giai đoạn, mức độ.
Cảnh Ðức truyền đăng lục 景德傳燈錄; C: jǐngdé chuándēng-lù; J: kei-toku-dentōroku;|Tác phẩm lịch sử cổ nhất của Thiền tông Trung Quốc, được một vị Thiền sư thuộc tông Pháp Nhãn là Ðạo Nguyên – môn đệ của Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều – biên soạn vào năm Cảnh Ðức, đời Tống Nhân Tông (1004). Bộ sách này nói về cơ duyên của các chư tổ cho đến Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích (885-958).|Cảnh Ðức truyền đăng lục bao gồm 30 quyển, ghi chép những lời nói và hành trạng của hơn 600 vị Thiền sư. Bộ sách này là nguồn tham khảo quan trọng nhất trong Thiền tông và rất nhiều Công án được nhắc đến lần đầu ở đây.
Cảnh giới 境界; C: jìngjiè; J: kyōkai; |Có các nghĩa sau: 1. Phạm vi, tình trạng, quan điểm (s: visaya, gocara); 2. Đối tượng nhận thức được bởi các giác quan và ý thức. Lĩnh vực của nhận thức (s: visaya, jñeya); 3. Lĩnh vực, trạng thái, tình hình; 4. Cảm giác, cảm nhận, tâm trạng. Trạng thái của tâm thức, điều kiện, tình trạng, hoàn cảnh; 5. Trạng thái kết quả mà mỗi chúng sinh nhận chịu tương ứng với hành động của họ: »quả«, »quả báo«; 6. Lĩnh vực chuyên môn, phạm vi của một người
Cảnh giới ái 境界愛; C: jìngjiè ài; J: kyōgai ai; |Dính mắc vào các hiện tượng chung quanh mình, chẳng hạn như gia đình, nhà cửa, tài sản sở hữu đặc biệt lúc họ đang tiếp cận cái chết. Một trong Tam ái (三愛).
Cảnh Huyền 警玄|Thái Dương Cảnh Huyền
Cảnh không thức hữu 境空識有; C: jìngkōng shìyŏu; J: kyōkūshikiu; |Cảnh giới khách quan không có, thức thì có.
Cảnh Nhàn 景閑; C: jĭngxián; J: kyōkan; K: kyŏnghan, 1299-1375|Thiền sư danh tiếng Hàn Quốc, còn được biết với pháp danh là Bạch Vân (白雲, k: paegun). Sư được truyền thụ Phật pháp do ngài Thạch Ốc (石屋), là người cùng thời và là pháp hữu của Thiền sư nổi tiếng Thái Cổ Phổ Ngu (太古普愚, k: t'aego pou).
Cảnh thức câu mẫn 境識倶泯; C: jìngshì jùǐn; J: kyōshiki gumin; |Cảnh giới và thức đều quên (từ khước).
Cảnh thượng 境上; C: jìng shàng; J: kyōjō; |Trong phạm vi thế giới.
Cảnh trí 境智; C: jìngzhì; J: kyōchi; S: jñeya-jñāna|Chức năng nhận thức về thế giới khách quan.
Cáo 告; C: gào; J: koku, kō;|Có các nghĩa sau: 1. Nói với, kể chuyện, trò chuỵên, nói; dạy, thông báo, tường trình, thức tỉnh cho; công bố cho; 2. Kết tội; 3. Thường được dùng trong văn kinh khi đức Phật dạy cho đệ tử, có nghĩa rộng là nói bằng âm thanh lớn cho thính chúng đông đảo.
Cao Sa-di 高沙彌; tk. 8/9, cũng được gọi là Dược Sơn Cao Sa-di (c: yàoshān gāo shāmí);|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm.|Không rõ quê quán của Sư ở đâu. Ban đầu, Sư đến vấn Dược Sơn, Dược Sơn hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ Nam Nhạc đến.« Dược Sơn hỏi: »Ði về đâu?« Sư thưa: »Ði Giang Lăng Thụ giới« Dược Sơn hỏi: »Thụ giới mong làm gì?« Sư thưa: »Mong thoát khỏi sinh tử.« Dược Sơn hỏi thêm: »Có một người không thụ giới, cũng không sinh tử để khỏi, ông biết chăng?« Sư hỏi: »Thế ấy thì giới luật của Phật dùng để làm gì?« Dược Sơn bảo: »Cái ông sa-di này còn môi lưỡi.« Sư nhân đây tỉnh ngộ, lễ bái rồi lui.|Ðến chiều, Dược Sơn thượng đường gọi: »Sa-di đến hồi sớm ở đâu?« Sư bước ra, Dược Sơn hỏi: »Ta nghe Trường An náo loạn, ông có biết chăng?« Sư thưa: »Nước con an ổn.« Dược Sơn hỏi: »Ông do xem kinh được, hay thưa hỏi được?« Sư thưa: »Chẳng do xem kinh, cũng chẳng do thưa hỏi.« Dược Sơn hỏi lại: »Có lắm người chẳng xem kinh, cũng chẳng thưa hỏi, vì sao họ chẳng được?« Sư thưa: »Chẳng nói họ chẳng được, chỉ vì chẳng chịu nhận.«|Sư từ giã Dược Sơn, Dược Sơn hỏi: »Ði đâu?« Sư thưa: »Con ở trong chúng có ngại nên đến bên đường cất một am tranh tiếp đãi trà nước cho khách qua lại.« Dược Sơn hỏi: »Sinh tử là việc lớn, sao chẳng thụ giới đi?« (có nghĩa là thụ giới để chính thức trở thành một Tỉ-khâu). Sư thưa: »Biết thì những việc ấy liền thôi, lại gọi cái gì là Giới?« Dược Sơn hài lòng bảo: »Ông đã biết như thế chẳng được lìa xa ta. Có lúc ta cùng ông lại cần gặp nhau.«|Không biết Sư tịch nơi nào.
Cấp Cô Ðộc 給孤獨; S, P: anāthapiṇḍika; cũng được gọi là Tu-đạt-đa (s, p: sudatta);|Trưởng giả ở Xá-vệ (s: śrāvāsti), sống trong thời Phật Thích-ca tại thế và là một trong những người cư sĩ nhiệt thành nhất thời đó. Ông bỏ tiền mua Kì viên (s, p: jetavana) cúng dường Phật và Tăng-già. Ðức Phật lưu lại đây phần lớn trong mùa mưa. Trong kinh sách, trưởng giả Cấp Cô Ðộc được nhắc tới như là người cúng dường nhiều nhất. Có nhiều bài giảng của đức Phật cho ông được ghi lại trong Tăng-nhất bộ kinh (p: aṅgutta-ra-nikāya).
Cát (kiết) tường 吉祥; C: jíxiáng; J: kichijō; |1. Tốt lành, có điềm tốt lành, nhiều triển vọng (s: dhanya); 2. Dịch từ chữ Śrī, một tước hiệu của Ấn Độ; 3. Tên của một vị Bồ Tát.
Cát đằng 葛藤; J: kattō; nghĩa là »dây leo« (chằng chòt), thường được dịch là dây »bìm bìm«, »sắn bìm«;|Một danh từ thường được sử dụng trong Thiền tông để chỉ việc lạm dụng ngôn ngữ văn tự để trình bày, giải thích Phật pháp. Danh từ »Cát đằng thiền« (kattō-zen) cũng thường được sử dụng để chỉ sự chấp trước, quá chú tâm vào văn tự được ghi trong kinh sách thay vì cố gắng tìm hiểu tu tập để trực nhận được chân lí được diễn bày trong nó.
Cát-mã-ba 葛嗎波; T: karmapa; cũng được dịch là Hạt-mã-la, Hạt-mã-ba, có thể hiểu là »Người hành động theo Phật«;|Tên của một dòng cao tăng lĩnh đạo Cát-mã Ca-nhĩ-cư phái và là dòng tái sinh (Chu-cơ; t: tulku) lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Tương truyền sự hiện diện của dòng cao tăng này đã được Phật Thích-ca cũng như Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) tiên đoán trước. Tới nay đã có 16 lần tái sinh của dòng Cát-mã-ba, được xem là những vị »tái sinh vì lợi ích của chúng sinh.« Kể từ thế kỉ 15, mỗi vị được xác nhận là tái sinh kế thừa được mang một vương miện màu đen trong một buổi lễ đặc biệt. Vương miện đó được xem là hiện thân của đức Quán Thế Âm.|Lịch sử cho thấy các vị Cát-mã-ba tái sinh dưới nhiều dạng khác nhau, làm bậc trí thức, tu khổ hạnh, nhà nghệ thuật, người làm thơ. Mục đích quan trọng nhất của dòng tái sinh Cát-mã-ba là giữ Kim cương thừa (s: vajrayāna) được lưu hành. |Các vị Cát-mã-ba có tên như sau: 1. Cát-mã-ba Cầu-tùng Khẳng-ba (karmapa dusum khyenpa, 1110-1193); 2. Cát-mã-ba Cát-mã Ba-hi (karma pakshi, 1204-1283); 3. Cát-mã-ba Lãng-tuấn Ða-kiệt (rangjung dorje, 1284-1339); 4. Cát-mã-ba La-bồi Ða-kiệt (rolpe dorje, 1340-1383); 5. Cát-mã-ba Ðức-hân Hỉ-ba (deshin shegpa, 1384-1415); 6. Cát-mã-ba Thắng-ngỏa Ðông-đốn (tongwa donden, 1416-1453); 7. Cát-mã-ba Thu-trác Kiết-thố (chodrag gyatsho, 1454-1506); 8. Cát-mã-ba Mễ-khước Ða-kiệt (mikyo dorje, 1507-1554); 9. Cát-mã-ba Uông-thu Ða-kiệt (wangchuk dorje, 1556-1603); 10. Cát-mã-ba Xác-ánh Ða-kiệt (choying dorje, 1604-1674); 11. Cát-mã-ba Da-hi Ða-kiệt (yeshe dorje, 1676-1702); 12. Cát-mã-ba Cường-thu Ða-kiệt (changchub dorje, 1703-1732); 13. Cát-mã-ba Ðô-đoạt Ða-kiệt (dudul dorje, 1733-1797); 14. Cát-mã-ba Ðức-xác Ða-kiệt (thegchog dorje, 1798-1868); 15. Cát-mã-ba Tạp-nhã Ða-kiệt (khakh yab dorje, 1871-1922); 16. Cát-mã-ba Lãng-tuấn Lôi-tỉ Ða-kiệt (rangjung rigpe dorje, 1924-1982).|Hiện nay có một thiếu niên sinh năm 1985 được xem là Cát-mã-ba thứ 17 đang sống tại Tây Tạng.
Cát-mã Ca-nhĩ-cư phái 葛嗎迦爾居派; T: karma-kagyu [kar-ma bKa'bgyud]; hoặc Cát-mã phái;|Một phái thuộc tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa [bKa'-brgyud-pa]), phái được đưa vào Tây Tạng trong thế kỉ thứ 12, do Cầu-tùng Khẳng-ba (dusum khyenpa, Cát-mã-ba thứ nhất) sáng lập. Giáo pháp của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư rất gần với dòng tái sinh Cát-mã-ba (t: karmapa).|Tên gọi của dòng này có ý nghĩa huyền bí: Ca-nhĩ (kagyu) là một vương miện kết bằng tóc của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và Cát-mã (t, s: karma) được xem là toàn bộ thiện nghiệp của chư Phật. Giáo lí của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư hiện được truyền bá nhiều tại Tây phương.|Cát-mã-ba thứ nhất (1110-1193) thành lập ba tu viện lớn cho tông phái này và sống tại Tsurphu. Với Cát-mã-ba thứ hai (1204-1283), ảnh hưởng của của phái Cát-mã-ba lớn mạnh đến Mông Cổ. Cát-mã-ba thứ ba (1284-1339) viết một số tác phẩm quan trọng cho tông phái mình và là người tổng hoà giáo lí của Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) và Ðại cứu kính (t: dzogchen). Cát-mã-ba thứ năm (1384-1415) là giáo thụ của đại đế Trung Quốc và là người nhận được vương miện đen của nhà vua. Cát-mã-ba thứ tám (1507-1554) là tác giả xuất sắc trên mọi lĩnh vực của triết lí Phật giáo. Cát-mã-ba thứ chín (1556-1603) là người viết nhiều tác phẩm hướng dẫn thực hành thiền định (xem tài liệu tham khảo cuối sách). Cát-mã-ba thứ 16 (1924-1982) là người đã giữ và bảo vệ được truyền thống giáo phái, đã sống và giáo hoá tại Sikkim/Ấn Ðộ.|Dòng Cát-mã-ba được sự hỗ trợ của ba dòng Chu-cô (t: tulku) là Ha-mã Chu-cô (t: shamar-tulku), Thư-đố Chu-cô (t: situ-tulku) và Gyalashab-Tulku. Một Ðại sư nổi tiếng của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư trong thế kỉ 19 là Jam-gon Kong-trul với những kiệt tác bao gồm mọi lĩnh vực Phật giáo.
Cát Tạng 吉藏; C: jízàng; J: kichizō; cũng được gọi là Gia Tường Ðại sư Cát Tạng, 549-623;|Một trong những danh nhân của Tam luận tông (三論宗) và là đệ tử giỏi nhất của Pháp Lãng. Sư viết nhiều bài luận nổi tiếng về ba bài luận (tam luận) căn bản của tông này, đó là Trung quán luận (s: madhyamaka-śāstra), Thập nhị môn luận (s: dvādaśadvā-ra-śāstra) của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Bách luận (s: śata-śāstra) của Thánh Thiên (s: āryadeva). Sư cũng viết nhiều bài luận về những bộ kinh Ðại thừa, một luận nói về lí thuyết Tam luận tông (Tam luận huyền nghĩa 三論玄義). Sư được xem là người đã đưa giáo lí Tam luận tông đến tuyệt đỉnh. Lúc còn trú tại chùa Gia Tường (嘉祥寺), sư thường được gọi là Đại Sư Gia Tường.|Sư người gốc An Tức (parthie) và một thời gian ngắn sau khi Sư ra đời (549 ở Nam Kinh) thì cha của Sư xuất gia học đạo. Năm bảy tuổi Sư vào một chùa thuộc về Tam luận tông và bắt đần học hỏi những kinh luận của Trung quán tông. Vì tình thế chính trị lúc đó căng thẳng nên Sư phải lánh về phía Nam Trung Quốc và trong thời gian viễn li này Sư viết những bộ luận tuyệt hảo đã nêu trên. Lí luận của Sư về »hai chân lí« (Nhị đế; s: satyadvaya) rất quan trọng và được chia làm ba cấp:|Chân lí tương đối (Thế tục đế; s: saṃvṛti-satya): 1. Chấp Hữu, cho rằng tất cả đều có; 2. Chấp hữu hoặc chấp vô; 3. Chấp hoặc không chấp cả hữu lẫn vô.|Chân lí tuyệt đối (Chân đế; s: paramārtha-satya): 1. Chấp vô, cho rằng tất cả là không; 2. Không chấp cả hữu lẫn vô; 3. Không chấp và cũng không không chấp cả hữu lẫn vô.|Từ lí thuyết này Sư đạt được (qua nhiều phủ nhận) một giai cấp, nơi cả hữu lẫn vô đều có ý nghĩa. Ðây chính là mức độ cao nhất của Trung đạo (s: madhyamā-pratipadā).|Tiếng tăm lừng lẫy của Sư vang đến Vương triều và vì vậy Sư được Vua thỉnh về Trường An truyền pháp. Người theo học pháp với Sư có lúc lên đến hàng vạn. Vì sự đóng góp phát triển Phật giáo Trung Quốc quá lớn nên đời sau xếp Sư vào mười vị Ðại sư đời Hậu tuỳ (618-626).
Câu 倶; C: jù; J: ku;|Có các nghĩa sau: 1. Cùng với… (s: sardham, sahita); 2. Cả hai, hai cái cùng nhau (s: ubhaya); 3. Gắn bó cùng nhau (s: samyuta); 4. Tạo ra cùng với nhau, cùng nhau sinh ra; 5. Đồng thời.
Cấu 垢; C: gòu; J: ku; S: mala; danh từ Hán Việt, nghĩa là cấu uế, dơ bẩn, xấu xa trong ý nghĩa vật chất cũng như đạo lí.|Có các nghĩa sau: 1. Bẩn thỉu, điều ô trọc (s: mala); 2. Tên gọi phiền não. Đặc tính của phiền não bất tịnh, nó huân tập vào tâm và làm ô nhiễm; 3. Viết tắt của phiền não cấu (煩惱垢), là »lục cấu« phát sinh từ căn bản phiền não. Đó là não, hại, hận, xiểm, cuống, kiêu.|Trong Phật pháp, cấu được hiểu là kiến giải sai lầm, là Vô minh, cho rằng giữa người nhận thức và vật – cái được nhận thức – có một sự khác biệt, có chủ thể, có khách thể. Nếu những cặp đối đãi nêu trên còn tồn tại thì hành giả không thể nào Kiến tính, ngộ đạo.
Cầu 求; C: qiú; J: gu;|1. Theo đuổi, tìm kiếm, mong ước, cầu xin, thỉnh cầu (s: mṛgyate, anveṣaṇa); 2. Theo đuổi công việc hết sức và trọn vẹn; kết thúc hoàn chỉnh, hoàn thành (Cứu thông 究通, chung 終); 3. Bình đẳng, đều đặn (等); 4. Đồng nghĩa với Thụ (受, s: vedanā). Chi phần thứ 7 trong 12 nhân duyên.
Cầu bất đắc khổ 求不得苦; C: qiúbùdékŭ; J: gufutokuku; |Khổ do mong muốn mà không đạt được, khổ ta trải qua khi không đạt được điều ta ưa thích. Đây là một trong »Tứ khổ bát khổ« (四苦八苦) do Đức Phật dạy trong Tứ diệu đế.
Câu cảng 溝港; C: gōugăng; J: kōkō;|Cựu dịch chữ srota-āpatti từ tiếng Phạn và chữ sota-āpanna từ tiếng Pā-li. Tân dịch là Dự lưu (預流).
Câu Chi 俱胝; C: jūzhī; J: gutei; cũng được gọi là Kim Hoa Câu Chi; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc dòng Mã Tổ Ðạo Nhất. Sư nối pháp Thiền sư Hàng Châu Thiên Long. Sử sách không viết gì nhiều về Sư ngoài »Thiền một ngón tay« (Bích nham lục, Công án 19 và Vô môn quan, công án 3). Tương truyền rằng, hể ai hỏi gì về thiền, Sư chỉ đưa một ngón tay lên.|Sự tích Giác ngộ của Sư cũng thuộc vào hạng »độc nhất vô nhị« – như ngón tay thiền Sư đã dùng hướng dẫn thiền sinh. Một hôm có vị ni tên Thật Tế đến am, đi thẳng vào chẳng lột nón, cầm tích trượng đi nhiễu giường thiền ba vòng, nói: »Nói được thì cởi nón.« Hỏi như thế ba lần, Sư không đáp được. Vị ni liền đi. Sư bèn mời ở lại nghỉ vì đã chiều. Ni liền nói: »Nói được thì ở lại.« Sư cũng chẳng đáp được. Vị ni liền đi. Sư tự than rằng: »Ta tuy mang hình trượng phu mà không có khí trượng phu«, tự hổ thẹn, quyết rõ được việc này. Sư dự tính bỏ am đi các nơi tham thỉnh, làm người Hành cước tu luyện nhưng đêm ấy có Sơn thần đến mách rằng »Chẳng cần rời chỗ này, ngày mai có nhục thân Bồ Tát đến vì Hoà thượng giảng pháp.« Ðúng ngày hôm sau có Hoà thượng Thiên Long (nối pháp Ðại Mai Pháp Thường) đến am. Nghe Sư thưa rõ việc xong Hoà thượng chỉ đưa một ngón tay lên chỉ đó. Sư bỗng nhiên đại ngộ.|Sau này có ai hỏi, Sư liền đưa một ngón tay lên. Trong am của Sư có đứa bé, ra ngoài có người hỏi: »Bình thường Hoà thượng lấy pháp gì dạy người?« Ðứa bé cũng đưa một ngón tay lên. Trở về am nó thưa lại, Sư bèn lấy dao chặt ngón tay, đau quá nó chạy kêu khóc. Sư gọi một tiếng, nó quay đầu lại, Sư đưa một ngón tay lên, nó hoát nhiên tỉnh ngộ.|Khi sắp tịch, Sư dạy chúng: »Ta được Thiền một ngón tay của Thiên Long, bình sinh dùng chẳng hết, cần hiểu chăng?« Nói xong Sư viên tịch.
Cầu danh Bồ Tát 求名菩薩; C: qiúmíng púsà; J: gumyō bosatsu; |Tên của Bồ Tát Di-lặc (彌勒) trong một kiếp trước.
Cầu đạo 求道; C: qiúdào; J: gudō; |Mong cầu (tu tập, tinh tiến) để được giác ngộ.
Cầu đạo giả 求道者; C: qiúdàozhĕ; J: gudōsha;|Người tu đạo, hành giả, người mong cầu giác ngộ (s: mokṣin).
Cầu đạo nhân 求道人; C: qiúdàorén; J: gudōnin;|Người tu đạo, hành giả, người mong cầu giác ngộ (s: yoga-avacara).
Cầu đạo tâm 求道心; C: qiúdàoxīn; J: gudōshin; |Tâm dốc lòng tìm cầu giác ngộ. Đồng nghĩa với Cầu pháp tâm (求法心).
Câu giải thoát 倶解脱; C: jùjiětuō; J: gugedatsu;|Đồng thời giải thoát. Phân biệt với Huệ giải thoát, là trường hợp hành giả chỉ dùng trí huệ để được hoàn toàn tự tại đối với Phiền não chướng (煩惱障), thay vì hành giả dung cả hai loại Huệ và Định để giải thoát mình khỏi phiền não chướng và giải thoát chướng (解脱障). Nhờ sự giải thoát nầy mà hành giả đạt được Diệt tận định (滅盡定). Một trong 27 bậc Kiên thánh (二十七堅聖), và là 1 trong 9 bậc Vô học (Cửu vô học 九無學, theo Du-già luận 瑜伽論).
Câu hành 倶行; C: jùxíng; J: kugyō;|Xảy ra đồng thời. Tương tác với nhau (theo Du-già luận 瑜伽論).
Câu hữu 倶有; C: jùyǒu; J: kuu;|Có hai nghĩa: 1. Cùng tồn tại; 2. Vốn có, bẩm sinh (theo Du-già luận 瑜伽論).
Câu-lô châu 倶盧洲; C: jùlúzhōu; J: kurushū;|Bắc-câu-lô châu (北倶盧洲).
Cầu-na 求那; C: qiúnà; J: guna;|Phiên âm từ chữ guṇa trong tiếng Phạn. 1. Trong Phật học, thuật ngữ nầy chỉ chung cho ý niệm về tướng (相), đức (德), hay phẩm chất (質); 2. Trong triết học phái Số luận (s: saṃkhyā) Ấn Độ, nó chỉ cho 3 loại phẩm chất căn bản của hợp thể cấu thành sự hiện hữu: tịnh, ưu, và ám.
Cầu-na Bạt-đà-la 求那跋陀羅; C: qiúnàbátuóluó; J: gunabaddara; S: guṇabhadra; dịch nghĩa là Công Ðức Hiền; 394-468;|Hán dịch theo nghĩa là Công Đức Hiền (功徳賢). Là tăng sĩ dịch kinh vào thời Lưu Tống (劉宋). Sư sinh ở vùng Trung Ấn, sau đó qua Tích Lan, rồi qua Quảng Châu bằng đường biển. Sư tiến hành dịch nhiều kinh luận Đại, Tiểu thừa nhất khi sư ở chùa Kì Hoàn tại Kiến Khang (建康) và Tân tự (辛寺) ở Hình Châu (c荊州). Trong số hơn 30 bản dịch của sư, tác phẩm quan trọng nhất là Tạp A-hàm kinh (雜阿含經), kinh Thắng Man, và kinh Nhập Lăng-già (s: laṅkāvatāra-sūtra) sang Hán ngữ – bản dịch thứ hai sau bản của Ðàm-vô-sấm (曇無讖; s: dharmarakṣa). Các trứ tác của sư gây ảnh hưởng nhiều đến tư tưởng Phật giáo Đông Á. Sư được vương triều ở Hồ Nam kính trọng.|Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo cho rằng, Sư chính là người đề xướng phương pháp tu theo thuyết »Trực chỉ chân tâm, kiến tính thành Phật« – và nếu như vậy, Sư cũng là người sáng lập Thiền tông. Sư mất tại Trung Quốc năm 468, thọ 75 tuổi.
Cầu sách (tác) 求索; C: qiúsuŏ; J: gusaku;|1. Cầu mong, tìm cầu; 2. Người tìm cầu.
Câu sinh 倶生; C: jùshēng; J: gushō;|Có hai nghĩa: 1. Cùng sinh (khởi, tạo ra) với nhau (s: sama-utpatti); 2. Vốn có (cố hữu), bẩm sinh; một phần của bản tính con người (s: sahaja, theo Du-già luận 瑜伽論).
Câu sinh chướng 倶生障; C: jùshēng zhàng; J: kushōshō;|»Nghiệp chướng phát sinh đồng thời« hoặc »nghiệp chướng bẩm sinh«. Thuật ngữ thường dùng trong Du-già hành tông. Nghiệp chướng sinh khởi cùng với tâm thức. Khi chấp vào ngã, thì có sự chấp trước do phân biệt một bản ngã trong tâm. Nên ngay khi có ý định kềm chế niệm tưởng phân biệt nầy, thì có một niệm chấp trước sinh khởi đồng thời với Ngã (chấp). Cho dù người ta cố gắng không để cho niệm tưởng phân biệt ấy sinh khởi và cố gắng uốn dẹp Ngã kiến, nhưng vẫn có một niệm chấp vào ngã sinh khởi. Đây được gọi là »sinh khởi đồng thời với tâm thức«. Chấp trước nầy sinh khởi trong thức thứ 7 cũng như thức thứ 6. Chủng tử phát sinh từ chướng này khác với những chủng tử phát sinh bởi »phân biệt chướng« (分別障). Vì Phân biệt chướng được trừ diệt khi hành giả giác ngộ lí nhân duyên, nó được trừ sạch một lúc khi đạt đến giai vị Kiến đạo. Tuy vậy, Câu sinh chướng là tập khí nhiều đời, thế nên dù hành giả là người đã hiểu đạo, nghiệp chướng vẫn sinh khởi. Nên khi tập khí đã sinh khởi, hành giả phải thường xuyên quán sát lí duyên sinh để diệt trừ câu sinh chướng nầy. Xem thêm Câu sinh khởi (倶生起). Còn gọi là Câu sinh phiền não (倶生煩惱).
Câu sinh khởi 俱生起; C: jùshēngqǐ; J: kushōki; S: sahaja; nghĩa là »Ðược tạo cùng lúc«, »Xuất phát cùng lúc«, »song sinh«, cũng có thể hiểu là »Cái đã có sẵn«, »Cái tuyệt đối có sẵn«; |Có các nghĩa sau: 1. Vốn đã sinh khởi; bẩm sinh; 2. Đặc biệt đề cập đến Câu sinh phiền não (倶生煩惱) vốn hiện hữu trong tâm thức một người do nghiệp từ đời sống trước. Đồng nghĩa với Nhậm vận khởi (任運起); 3. Phiền não bẩm sinh vốn được giải trừ trong tiền trình Tu đạo.|Một trường phái tu tập Tan-tra của Ðại Bà-la-môn Sa-ra-ha được gọi là Câu sinh khởi thừa (s: sahajayāna)
Câu sinh phiền não 倶生煩惱; C: jùshēngfánnăo; J: gushōbonnō; |(Bốn) loại phiền não bẩm sinh đi kèm với thức thứ 7 (Mạt-na thức 末那識), đồng nghĩa với Nhậm vận phiền não (任運煩惱). Xem Câu sinh chướng (倶生障) và Câu sinh khởi (倶生起). Những phiền não, nghiệp chướng… được mang theo từ kiếp trước, do vậy đeo bám rất sâu. Những phiền não nầy thường được giải trừ trong giai vị Tu đạo (修道). Ngược lại, những phiền não phát sinh do (trí) phân biệt trong đời nầy (phân biệt phiền não 分別煩惱), có thể được giải trừ sớm hơn trong giai vị Kiến đạo (見道).
Câu-thi-na 拘尸那; S: kuṣinagara; P: kusināra; còn gọi ngắn là Câu-thi.|Ngày nay là thành phố Kasia của tiểu bang Uttar Pradesh Ấn Ðộ. Câu-thi-na là nơi Phật Thích-ca nhập Niết-bàn (s: nirvāṇa). Sau khi Phật nhập diệt, lễ hoả táng được cử hành gần Câu-thi-na và một phần Xá-lị được thờ trong một Tháp tại đây. Câu-thi-na trở thành một thánh địa Phật giáo, nhưng thành phố này đã tàn lụi từ thế kỉ thứ 7 – theo kí sự của Huyền Trang.
Cầu văn trì pháp 求聞持法; C: qiúwén chífă; J: gubun jihō;|1. Tên gọi một nghi lễ trong Mật giáo, được xem là làm tăng trưởng trí nhớ. Bản tôn là Hư Không Tạng Bồ Tát (虚空藏菩薩, s: ākāśagarbha). Nghi thức gồm dâng cúng các phẩm vật và tụng đà-la-ni của ngài.|2. Viết tắt của Hư Không Tạng Bồ Tát năng mãn chư nguyện tối thắng tâm đà-la-ni cầu văn trì pháp (虚空藏菩薩能滿諸願最勝心陀羅尼求聞持法), được dạy trong nghi thức ghi ở phần 1.
Câu-xá 倶舍; C: jùshè; J: kusha;|Có các nghĩa sau: 1. Bao gồm, giữ, chứa, duy trì. Dịch sang tiếng Hán là Tạng; 2. Chỉ A-tì-đạt-ma Câu-xá luận (阿毘達磨倶舍論) hay A-tì-đàm tông của Phật giáo.
Câu-xá luận 倶舍論; C: jùshèlùn; J: kusharon;|Tên gọi tắt thông dụng của A-tì-đạt-ma câu-xá luận (阿毘達磨倶舍論).
Câu-xá tông 俱舍宗; J: kusha-shū;|Một phái Phật giáo Trung Quốc, lấy A-tì-đạt-ma câu-xá luận làm cơ sở. Câu-xá luận do Thế Thân (s: vasubandhu) soạn, được Chân Ðế (s: paramārtha) và Huyền Trang dịch ra chữ Hán. Câu-xá tông được xem là Tiểu thừa, chấp nhận mọi Pháp (s: dharma) trong quá khứ, hiện tại và vị lai đều có hiện hữu.|Câu-xá tông chỉ tồn tại trong đời Ðường. Kể từ năm 793, tông này được xem như một bộ phái của Pháp tướng tông, được truyền sang Nhật trong thế kỉ thứ 7, thứ 8.|Câu-xá tông cho rằng chư Pháp chính là yếu tố của tất cả hiện hữu và chia chúng ra thành hai loại: Hữu vi pháp (s: saṃskṛtadharma) và Vô vi pháp (s: asaṃskṛtadharma). Các pháp lúc nào cũng tồn tại (Nhất thiết hữu bộ) nhưng các tướng mà chúng tạo ra đều Vô thường, biến chuyển.|Các pháp hữu vi (72 pháp) được Câu-xá tông chia làm bốn nhóm: 1. Sắc, 11 pháp; 2. Thức, 1 pháp; 3. Tâm sở (s: cetasika), 46 pháp; 4. Tâm bất tương ưng hành pháp, nghĩa là chẳng thuộc tâm mà cũng chẳng thuộc vật, 14 pháp, trong đó có sinh, trụ, diệt… Ðược xếp vào vô vi pháp có ba loại: 1. Trạch diệt (s: pratisaṃkhyā-nirodha); 2. Phi trạch diệt (s: apratisaṃkhyā-nirodha) và 3. Hư không (s: ākāśa). 75 pháp trên có liên hệ với nhau về nhân quả và sự quan hệ này lại được chia ra 6 nhân (nguyên nhân), 4 duyên và 5 quả.
Cha-ba-ri-pa S: carbaripa, javari, caparipa, cavaripa, capā-lipa, cārpaṭi; biệt danh »Người biến hoá đá«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, có lẽ sống trong cuối thế kỉ 9, đầu thứ 10.|Thời nọ có một nông dân giàu có tại Ma-kiệt-đà, có hàng ngàn bị ngựa. Lúc đám tang cha, ông ra sông Hằng cầu nguyện, vợ con ông ở nhà. Khi ông đi vắng thì Cha-ba-ri-pa đến nhà khất thực, người vợ lúc đầu không dám bố thí, sợ chồng la rầy nhưng cuối cùng bố thí và được nghe thuyết pháp. Ðến lúc gia đình chồng về, bị mẹ chồng la mắng, người vợ tủi thân bồng con đi tìm Cha-ba-ri-pa. Vị Du-già sư này rảy nước thánh lên hai mẹ con và biến hai người thành tượng Phật bằng đá. Trong lúc đó người chồng về nhà, tìm vợ không thấy, cuối cùng ông đến chỗ Cha-ba-ri-pa. Người chồng cũng bị biến thành tượng đá. Cuối cùng cả gia đình đi tìm rồi ai cũng thành tượng đá cả, tổng cộng 300 người và bị con đều thành đá.|Trong số người hoá đá đó thì người con trai nhỏ của nông dân nọ đạt tám Tất-địa và nổi tiếng khắp vùng. Nhà vua Cham-pa (s: campā) quý trọng, cho dựng một ngôi đền để thờ người con trai và ba trăm tượng đá. Ở đền này có nhiều chuyện lạ xảy ra và người ta nói rằng đền này vẫn còn đứng vững để chờ Phật Di-lặc ra đời. Cha-ba-ri-pa được gọi là »người biến hoá đá«, để lại chứng đạo ca như sau:|Thờ cúng Phật cao nhất,|thật không có gì bằng,|tự mình chứng giác ngộ.|Ai tự mình chứng thật,|Tâm thanh tịnh vô thuỷ,|người đó có tri kiến,|như tất cả chư Phật.|Cha-kra sam-va-ra tan-tra|S: cakrasaṃvara-tantra; cũng được gọi ngắn là Saṃ-va-ra tan-tra;|Một Tan-tra, được biên soạn trong thế kỉ thứ 8. Cha-kra sam-va-ra có nghĩa là »Người chặn đứng bánh xe (Luân hồi)« Nhiều Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) tu học và đạt thánh quả với Tan-tra này.
Cha-ma-ri-pa S: cāmāripa, hoặc cāmāri, cāmāra; biệt danh là »Người đóng giày«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là người thợ giày, nhưng không hài lòng với nghề nghiệp. Một ngày nọ gặp một Sa-môn, ông liền mời vào nhà tiếp đãi ân cần rồi quì xuống lạy nói: »Tôi chán, tôi bệnh vì cái khổ nhọc, cái vô minh, tham vọng của thế giới này. Hãy chỉ dạy cho tôi con đường giải thoát.« Vị Sa-môn liền dạy một phương pháp thiền quán thích hợp với khả năng của ông. Ông vâng lời tu tập ngay trong lúc đóng giày, có khi vị Hộ thần của nghề thủ công là Phổ Nghiệp (s: viśvakārmān) xuất hiện, làm thay ông để ông rảnh rổi tu tập. Sau 12 năm, ông đạt thánh quả, quy phục được rất nhiều người theo Phật pháp. Thánh đạo ca của ông như sau:|Ta lấy da thành kiến|và miếng da khái niệm,|đem cắt thành dạng hình|Không tính và Từ bi;|Lấy giùi của trực giác|may bằng sợi chỉ đời|vô thuỷ lẫn vô chung.|Ta đã giải thoát khỏi,|tám bận tâm thế gian (Bát phong),|may chiếc giày Pháp thân|Không một chút lo nghĩ.
Cha-tra-pa S: catrapa; biệt danh: »Khất sĩ hạnh phúc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, không định rõ được thời đại.|Ông là một người ăn xin nhưng lúc nào cũng mang theo một tập sách trên tay. Một lần nọ, một vị Du-già sư đi ngang qua, thương hại ông và cho phép ông tu tập Hô kim cương tan-tra (s: hevajratantra), dạy phép quán tất cả đều từ tâm sinh. Sau sáu năm tu tập, ông đạt Tất-địa (s: siddhi). Bài ca ngộ đạo của ông như sau:|Những gì mà ta thấy,|đều là bài giáo hoá.|Tri kiến rốt ráo rằng,|vạn sự đều vô sinh,|tri kiến đó: vị thầy.|Chứng được phi nhị nguyên,|đó mới thật là đạo.|Tác động của thiện ác,|đã biến thành một thứ.
Cham-pa-ka S: campaka; với biệt hiệu là »Nhà vua ái hoa«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là nhà vua xứ Cham-pa (s: campā), Cham-pa cũng là tên của một loài hoa sắc trắng, vàng. Vương quốc của ông phồn vinh và trong thời trẻ tuổi, ông không hề nghĩ gì đến kiếp sau của mình. Lần nọ, có một vị Du-già sư (s: yogin) đến khất thực, ông tiếp đãi nồng hậu và hãnh diện hỏi có nước nào thơm tho trong sạch như nước ông. Vị Du-già sư trả lời rằng hoa thì thơm thật nhưng thân thể ông không thơm bằng và một ngày nào nó ông sẽ từ giã cõi đời, trong tay không có gì cả. Nhà vua giật mình tỉnh ngộ và xin học Phật pháp. Vì nhà vua không quên được mùi thơm của hoa nên vị này dạy ông quán tưởng như sau:|Hãy quán mọi hiện tượng,|đều là tính Không cả,|đó là đoá hoa thơm,|của lời khai thị này.|Ong bướm trên cành hoa,|đó chính là tâm thức.|Nhuỵ hoa, nguồn bất tận.|Hoa, bướm cùng với nhuỵ,|cả ba đều là một,|mật mới là Ðại lạc.|Ðó là chân ngôn của,|Bậc Ðại Trì Kim Cương,|Phật thứ sáu, không sai.|(Phật thứ sáu Ma-ha Kim Cương Trì [s: mahāvajra-dhāra] là Bản sơ Phật s: ādibuddha], xem Phổ Hiền).
Chân đế 真諦; S: paramārtha-satya;|Có hai nghĩa:|1. Chân lí tuyệt đối, ngược lại với Chân lí quy ước, chân lí tương đối (s: saṃvṛti-satya).|2. Chân Ðế (paramārtha, 499-569), một vị Cao tăng, chuyên dịch kinh ra tiếng Hán. Sư người Ấn Ðộ, đến Trung Quốc năm 546. Ban đầu Sư ở Nam Kinh, nhưng không bắt đầu ngay được công trình dịch thuật mà đợi đến khi về Quảng Ðông, Sư mới bắt đầu dịch các tác phẩm quan trọng của Duy thức tông (s: vijñānavāda) như Nhiếp đại thừa luận (s: mahāyāna-saṃgraha) của Vô Trước (s: asaṅga), A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhi-dharmakośa), Duy thức nhị thập luận tụng (vijñāptimātratāviṃśatikā-kārikā) của Thế Thân (s: vasubandhu) và kinh Kim cương ra chữ Hán. Tổng cộng, Sư dịch 64 tác phẩm với 278 tập.|Với các tác phẩm dịch thuật của mình, Chân Ðế đã giúp đưa Duy thức tông vào Trung Quốc với dạng Pháp tướng tông mà người sáng lập là Huyền Trang và Khuy Cơ. Bản dịch Câu-xá luận của Sư đã trở thành giáo pháp của Câu-xá tông tại Trung Quốc.
Chân Dung Tông Diễn 真融宗演; 1640-1711|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Tào Ðộng đời thứ 37, dòng được truyền sang miền Bắc. Sư nối pháp Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt.|Sử sách không ghi rõ tên tục của Sư, chỉ biết rằng, Sư mất cha lúc còn nhỏ và được mẹ nuôi nấng. Một hôm, mẹ Sư dặn ở nhà nấu canh cáy (là con còng, một loài cua). Thấy những con cáy sủi bọt dường như khóc, Sư không nỡ bỏ vào cối giã và đem phóng sinh hết. Vì trái ý mẹ nên Sư bị ăn đòn và sợ hãi, quay lưng chạy một mạch đi biệt tích.|Cuộc đời phiêu bạt của Sư sau đó không được nghe nhắc đến. Chỉ biết rằng, nghe tin Thiền sư Thông Giác từ Trung Quốc trở về trụ trì chùa Vọng Lão trên núi Yên Tử, Sư đến yết kiến. Thông Giác hỏi: »Như khi ta đang nghỉ, đợi đến bao giờ mới có tin tức?« Sư đáp: »Ðúng Ngọ thấy bóng tròn, giờ Dần mặt trời mọc.« Thông Giác hỏi: »Bảo nhậm thế nào?« Sư trình kệ:|應有萬緣有。隨無一切無|有無俱不立。日耿本當晡|Ưng hữu vạn duyên hữu|Tuỳ vô nhất thiết vô|Hữu vô câu bất lập|Nhật cảnh bản đương phô|*Cần có muôn duyên có|Ưng không tất cả không|Có không, hai chẳng lập|Ánh nhật hiện lên cao.|Thông Giác bước xuống bảo: »Tào Ðộng hợp quân thần, tiếp nối dòng của ta. Nên cho ngươi pháp danh Tông Diễn« và nói kệ truyền pháp:|一切法不生。一切法不滅|佛佛祖祖傳。蘊空蓮頭舌|Nhất thiết pháp bất sinh|Nhất thiết pháp bất diệt|Phật Phật Tổ Tổ truyền|Uẩn không liên đầu thiệt.|*Tất cả pháp chẳng sinh|Tất cả pháp chẳng diệt|Phật Phật Tổ Tổ truyền|Uẩn không sen đầu lưỡi.|Hơn ba mươi năm sau, khi đã trở thành một Hoà thượng trụ trì, Sư nhớ đến mẹ liền về quê cũ tìm kiếm. Gặp mẹ tại một quán nước, Sư nhận ra ngay sau vài câu dọ hỏi. Sư mời bà về chùa ở cùng với tăng chúng – lúc này Sư vẫn không để lộ tung tích của chính mình – và tuỳ khả năng mà tu tập hoặc phụ giúp chúng công tác. Mỗi ngày, Sư phân công bà làm những việc nhỏ như nhổ cỏ, quét sân và luôn luôn nhắc nhở bà tu hành.|Một thời gian sau, bà tịch trong lúc Sư vắng mặt. Vì biết trước sự việc này nên Sư căn dặn đệ tử không đậy nắp áo quan và đợi Sư về. Về đến chùa, Sư nhìn mặt mẹ lần cuối rồi đậy nắp quan lại, nói to: »Như lời Phật dạy: một người tu hành ngộ đạo cha mẹ sinh thiên, nếu lời ấy không ngoa xin cho quan tài bay lên hư không để chứng minh lời Phật« Sư liền cầm Tích trượng gõ ba cái, quan tài từ từ bay lên hư không rồi hạ xuống. Nhân đây mọi người mới biết bà lão là mẹ của Sư.|Niên hiệu Vĩnh Trị đời nhà Lê, vua Lê Hi Tông chiếu chỉ đuổi tăng ni già trẻ vào rừng núi. Thấy tình cảnh như thế, Sư vận dụng tất cả tài năng của mình để thuyết phục được vua. Vì những lời giảng chân thật, đầy thuyết phục của Sư về các vấn đề an dân trị nước theo nguyên lí đạo Phật nên vua nghe theo, lệnh thu hồi chiếu chỉ. Vì đã thấm nhuần Phật pháp nên vua cũng sai đúc tượng vua quì mọp trên lưng vác tượng Phật để sám hối.|Sau, Sư trụ trì chùa Hồng Phúc (hay chùa Hoè Nhai nằm ở phố Hàng Than, Hà Nội), thường tới lui giảng đạo cho vua chúa nghe.|Sắp đến ngày viên tịch, Sư gọi đệ tử đến phó chúc và nói kệ:|花開春方到。葉落便智秋|枝頭霜瑩玉。萼上雪連珠|清晨雲散產龍甲。白日霞光裸象軀|豹文雖見一。鳳眾體全俱|達摩西來傳何法。蘆花涉海水浮浮|Hoa khai xuân phương đáo|Diệp lạc tiện tri thu|Chi đầu sương oánh ngọc|Ngạc thượng tuyết liên châu|Thanh thần vân tán sản long giáp|Bạch nhật hà quang loả tượng khu|Báo văn tuy kiến nhất|Phụng chúng thể toàn câu|Ðạt-ma Tây lai truyền hà pháp?|Lô hoa thiệp hải thuỷ phù phù.|*Xuân đến hoa chớm nở|Thu về lá vàng rơi|Ðầu cành sương lóng lánh|Cánh hoa tuyết rạng ngời|Buổi sáng trời trong rồng bày vẩy|Ngày trưa mây sáng voi hiện hình|Vằn cọp tuy thấy một|Bầy phụng thể toàn đồng|Ðạt-ma Tây sang truyền pháp gì?|Cành lau qua biển thổi phau phau.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Báo thân của ta đến đây đã hết« rồi ngồi trên giường thiền yên lặng thị tịch, thọ 72 tuổi.
Chân Không 真空; 1045/46-1100|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 16. Sư nối pháp Thiền sư Thảo Nhất. Sư có hai vị kế thừa nổi danh là Thiền sư Viên Học và Ni sư Diệu Nhân.|Sư họ Vương, quê ở làng Phù Ðổng, huyện Tiên Du. Thuở nhỏ, Sư chỉ thích ở riêng một mình, siêng năng đọc sách và đến năm 15 tuổi đã tinh thông sách sử. Lên 20, Sư xuất gia dạo khắp tùng lâm tìm đạo.|Ðến chùa Tĩnh Lự núi Ðông Cứu, Sư nghe giảng kinh Pháp Hoa bỗng nhiên tỉnh ngộ. Sư ở lại đây sáu năm và được truyền tâm ấn. Sau, Sư đến núi Từ Sơn dừng trụ, hai mươi năm không hề xuống núi. Ðạo hạnh của Sư vang đến tai Lí Nhân Tông. Vua xuống chiếu mời vào vương triều giảng kinh thuyết pháp. Người người nghe giảng đều kính phục.|Ngày mùng 1 tháng 11, niên hiệu Hội Phong thứ 9, Sư gọi chúng lại phó chúc và nói kệ:|妙本虛無明自誇。和風吹起遍娑婆|人人盡識無爲樂。若得無爲始是家|Diệu bản hư vô minh tự khoa|Hoà phong xuy khởi biến Sa-bà|Nhân nhân tận thức vô vi lạc|Nhược đắc vô vi thuỷ thị gia.|*Diệu bản thênh thang rõ tự bày|Gió hoà nổi dậy khắp Sa-bà|Người người nhận được vô vi lạc|Nếu được vô vi mới là nhà.|Ðến nửa đêm, Sư bảo: »Ðạo của ta đã thành, ta giáo hoá đã xong, vậy ta tuỳ ý ra đi« và ngồi kết già thị tịch, thọ 55 tuổi, 36 tuổi hạ.
Chân lí quy ước S: saṃvṛti-satya; còn gọi là Thế tục đế;|Là chân lí tương đối của thế giới hiện tượng, ngược lại với Chân đế (chân lí tuyệt đối; s: paramārtha-satya). Quan điểm »hai chân lí« (Nhị đế; s: satyadvaya) này được nhiều tông phái Phật giáo chủ trương, nhưng cũng có rất nhiều cách định nghĩa khác nhau.
Chân lí tuyệt đối S: paramārtha-satya;|Chân đế
Chân ngôn tông 真言宗; J: shingon-shū;|Dạng Mật tông tại Nhật, do Hoằng Pháp (j: kōbō) Ðại sư Không Hải (j: kūkai, 774-835) sáng lập. Sư tu học Mật tông tại Trung Quốc và chuyên học về Man-tra (chân ngôn, chân âm, thần chú). Ðặc biệt tông này rất quan tâm đến »ba bí mật« (Thân, khẩu, ý), đó là ba phương tiện để mỗi người đạt được Phật quả.|Ba bí mật nói trên được khẩu truyền giữa thầy với trò trong các buổi hành lễ, điều này khác hẳn với các tông phái thuộc hiển giáo. Chân ngôn tông thờ Phật Ðại Nhật (s: vai-rocana), chính là Pháp thân vô tận, là vị Phật nguyên thuỷ tuyệt đối, và chỉ kẻ được điểm đạo mới được tu tập theo tông này. Phái này chủ trương không thể diễn tả giáo pháp bằng văn tự mà chỉ bằng hình ảnh nghệ thuật và vì vậy các Man-đa-la đóng một vai trò quan trọng trong tông này.|Chân ngôn tông không phủ nhận tính có thật của thế giới hiện tượng này cũng như hạnh phúc của con người trong thế giới đó. Chân ngôn tông cho phép tăng sĩ hành lễ và được thu tiền. Qua thời gian, trong tông này nảy sinh tệ mê tín dị đoan và vì vậy cũng có nhiều bộ phái nhỏ xuất hiện. Ngày nay, tông này vẫn là một tông phái mạnh tại Nhật.|Bí mật của Thân được bày tỏ qua các thủ Ấn, trong các tư thế thiền định và trong cách sử dụng các pháp khí như Kim cương chử hay hoa sen. Các điều đó được xem có liên hệ cụ thể với một vị Phật hay Bồ Tát.|Bí mật của Khẩu được diễn tả trong Man-tra và Ðà-la-ni. Bí mật của ý dựa trên »năm trí« và thông qua năm trí đó hành giả tiếp cận với Chân như. Qua các phép hành lễ với Thân, khẩu, ý, hành giả sẽ đạt mối liên hệ với vị Phật, đạt tri kiến »Phật ở trong ta, ta trong Phật«, đạt Phật quả ngay trong đời này.|Hai Man-đa-la quan trọng nhất của Chân ngôn tông là Mẫu thai giới (s: garbhadhātu-maṇḍala) và Kim cương giới (s: vajradhātu-maṇḍala), trình bày Phật Ðại Nhật và các vị Phật khác. Trong một buổi lễ quan trọng của tông này, đệ tử Chân ngôn tông cầm hoa ném vào Man-đa-la, hoa rơi đúng vị Phật nào thì đó là vị Ðạo sư của người đệ tử đó.
Chân Nguyên Huệ Ðăng 真源慧燈; 1647-1726|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 36. Sư nối pháp Thiền sư Minh Lương. Sư sau cũng được truyền y bát của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử.|Sư tên Nguyễn Nghiêm, tự Ðình Lân, người làng Tiền Liệt, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương. Năm lên 19, Sư xin xuất gia với Thiền sư Chân Trụ Huệ Nguyệt. Sau khi Bản sư tịch, Sư cùng với bạn là Như Niêm đi tham vấn nhiều nơi. Về sau đến học với Thiền sư Minh Lương, chùa Vĩnh Phúc.|Sư hỏi Minh Lương: »Bao năm dồn chứa ngọc trong đãy, hôm nay tận mặt thấy thế nào, là sao?« Minh Lương đưa mắt nhìn Sư, Sư nhìn lại liền cảm ngộ, sụp lạy. Minh Lương bảo: »Dòng thiền Lâm Tế trao cho ông, ông nên kế thừa làm thịnh ở đời«, đặt cho Sư pháp hiệu Chân Nguyên và nói bài kệ truyền pháp:|Mĩ ngọc tàng ngoan thạch|Liên hoa xuất ứ nê|Tu tri sinh tử xứ|Ngộ thị tức Bồ-đề|*Ngọc quý ẩn trong đá|Hoa sen mọc từ bùn|Nên biết chỗ sinh tử|Ngộ vốn thật Bồ-đề.|Sau khi đắc pháp với Thiền sư Minh Lương, Sư đến trụ trì chùa Long Ðộng, núi Yên Tử. Trong dịp xây đài Cửu Phẩm Liên Hoa, Sư đốt hai ngón tay, phát nguyện hành hạnh Bồ Tát. Năm 1692 vua Lê Hi Tông phong cho Sư hiệu là Vô Thượng Công. Năm 1722, vua Lê Dụ Tông phong chức Tăng thống, ban hiệu Chính Giác Hoà Thượng.|Sư phục hưng truyền thống thiền Trúc Lâm Yên Tử, đào tạo nhiều đệ tử và trong đó ưu tú nhất là hai vị Như Trừng Lân Giác và Như Hiện Nguyệt Quang. Như Trừng viết nhiều tác phẩm quan trọng và về sau trở thành Khai tổ phái thiền Liên Tông. Sư để lại nhiều tác phẩm như Tôn sư phát sách đăng đàn thụ giới, Nghênh sư duyệt định khoa…|Năm 1726, Sư họp đệ tử lại đọc bài kệ:|顯赫分明十二時。此之自性任施爲|六根運用真常見。萬法縱橫正遍知|Hiển hách phân minh thập nhị thời|Thử chi tự tính nhậm thi vi|Lục căn vận dụng chân thường kiến|Vạn pháp tung hoành chính biến tri.|*Bày hiện rõ ràng được suốt ngày|Ðây là tự tính mặc phô bày|Chân thường ứng dụng sáu căn thấy|Muôn pháp dọc ngang giác ngộ ngay.|Ðến cuối mùa đông đó, Sư viên tịch.  Xá-lị được tôn trí trong tháp ở chùa Quỳnh Lâm và Long Ðộng.
Chân như 真如; S, P: tathatā, bhūtatathatā;|Một khái niệm quan trọng của Ðại thừa Phật giáo, chỉ thể tính tuyệt đối cuối cùng của vạn sự. Chân như chỉ thể tính bất động, thường hằng, nằm ngoài mọi lí luận nhận thức. Chân như nhằm chỉ cái ngược lại của thế giới hiện tượng thuộc thân thuộc tâm. Tri kiến được Chân như tức là Giác ngộ, vượt ra khỏi thế giới nhị nguyên, chứng được cái nhất thể của khách thể và chủ thể. Chân như đồng nghĩa với Như Lai tạng, Phật tính, Pháp thân.
Chân sư 真師|Ðạo sư
Chân Yết Thanh Liễu 真歇清了; C: zhēnxiē qīngliǎo; J: shingetsu shōryō; 1089-1151;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Tào Ðộng, người nối pháp Thiền sư Ðan Hà Tử Thuần.|Sư họ Ung, quê ở Tả Miên. Lúc còn bồng nách, cha mẹ đem vào chùa thấy tượng Phật, Sư vui mừng chớp mắt nhướng mày. Ðến 18 tuổi, Sư thi kinh Pháp hoa được độ làm tăng.|Sau đó Sư yết kiến Thiền sư Ðan Hà Tử Thuần. Ðan Hà hỏi: »Thế nào là chính mình trước không kiếp?« Sư suy nghĩ để đáp, Ðan Hà bảo: »Ngươi còn ồn hãy đi.« Một hôm, Sư lên ngọn bát vu bỗng nhiên khế ngộ, thẳng về đứng hầu. Ðan Hà tát bảo: »Sẽ bảo ông biết có.« Sư vui vẻ lễ bái. Hôm sau, Ðan Hà thượng đường nói: »Nhật soi cô phong biếc, nguyệt đến nước khe trong, Tổ sư huyền diệu quyết, chớ hướng tất lòng an.« Nói xong liền xuống toà. Sư tiến đến trước thưa: »Ngày nay đăng toà lại chẳng lừa được con.« Ðan Hà hỏi: »Ngươi thử nhắc lại ngày nay ta đăng toà xem?« Sư im lặng giây lâu, Ðan Hà bảo: »Sẽ nói ông khắp đất.« Sư liền đi ra.|Sư thượng đường: »Trên cảnh Cô Phong qua cây cầu độc mộc, đi thẳng thế ấy vẫn là chỗ chân cao chân thấp của thời nhân. Nếu thấy được triệt chẳng ra khỏi cửa mà thấu khắp mười phương, chưa vào cửa mà thường ở trong thất. Nếu kia chưa như thế, nhân trời mát bửa một gốc củi.«|Sư tịch tại chùa Sùng Tiên ở Cao Ninh. Vua sắc thuỵ là Ngộ Không.
Chấp 執; C: zhí; J: shū; S: abhiniveśa.|Sự dính mắc hư dối vào sự vật.
Chấp thụ 執受; C: zhíshòu; J: shūju; |1. Nhận thức sự hiện hữu của trần cảnh, trên cơ sở nầy, phát sinh cảm giác. Cảm nhận, nhận thấy (s: upādi; t: len pa); 2. Duy trì trong chính niệm danh hiệu A-di-đà Phật.
Chấp trì 執持; C: zhíchí; J: shūji; |Có các nghĩa sau: 1. Chức năng của tâm để nhận ra mọi thứ như là đối tượng của nó; 2. Tín tâm bền vững, hoặc tâm an định không tán loạn; 3. Giữ vật gì trong tay; 4. Thức thứ 7 hoặc thức thứ 8. Chấp trì thức.
Chấp trì thức 執持識; C: zhíchíshì; J: shūjishiki;|Thức duy trì. Xem A-đà-na thức (阿陀那識, s: ādāna-vijñāna).
Chấp trước 執著; C: zhízhuó; J: shūjaku; S: abhiniveśa, nibhandhana|Giữ chắc sự việc không thể buông xả. Ôm chặt. Nghĩ về điều gì và không thể quên được nó.
Châu Hoằng 袾宏|Vân Thê Châu Hoằng
Châu-ran-gi-pa S: cauraṅgipa; »Người con ghẻ bị chặt đoạn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 10.|Ông là một vị hoàng tử. Khi mẹ mất đi, vua cha lấy một bà khác, nàng này đem lòng yêu mến ông. Bị ông từ chối, hoàng hậu bày mưu và sau đó ông bị vua cha sai người chặt tay chân vứt vào rừng. Sau đó ông được Mi-na-ba (s: mīnapa) hướng dẫn vào một Nghi quỹ (s: sādhana) 12 năm với một cách điều khiển hơi thở đặc biệt (s: kumbhaka) và trong thời gian này, ông được Gô-rắc-sa (s: gorakṣa) săn sóc. Sau mười hai năm tu tập, ông đạt Tất-địa (s: siddhi), tay chân mọc lại như cũ. Tương truyền rằng gốc cây ngày xưa ông ngồi ngày nay vẫn còn.|Người ta cho rằng phép tu của ông là quán tưởng Pháp thân, sau đó mọi tư duy tưởng tượng đều hiện thành vật chất. Bài thánh ca (s: dohā) của ông như sau:|Từ tận thuở vô thuỷ,|gốc rễ của vô minh,|đã được tưới bằng nước, |của thói quen hàng ngày,|đã thành lá thành cành.|Nghe, ngẫm nghĩ, thực hành!|Hãy đốn cây đó đi, |bằng chiếc rìu lời dạy,|của Ðạo sư đích thật.
Chế 制; C: zhì; J: sei;|1. Đè nén, chế ngự; 2. Cai quản, cai trị; 3. Chấm dứt, đình chỉ.
Chê-lu-ka-pa S: celukapa hoặc celuki, cilupa; »Kẻ giãi đãi tái sinh«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống khoảng thế kỉ thứ 12.|Ông sinh tại Man-ga-pa-lua (s: maṅgapalur), thuộc giai cấp thấp kém. Ông là người lười biếng, không ham thích gì cả. Lần nọ, ông đang ngồi dưới gốc cây thì Du-già sư Mai-tri-pa (s: maitripa) đi qua. Mai-tri-ba khuyến khích ông tu tập Phật pháp, nương vào đó mà đối trị tính giải đãi. Vị này cho ông nhập môn, truyền năng lực của Cha-kra sam-va-ra và khai thị: »Tập trung toàn bộ hoạt động của đời sống lên Thân khẩu ý, tưởng tượng Thân là hồ nước và khả năng nhận thức là con thiên nga bơi lượn trên hồ. Trong trạng thái vô niệm ngươi sẽ vượt qua tình trạng mệt mỏi.«|Chê-lu-ka-pa quán tưởng suốt chín năm, loại trừ ô nhiễm khỏi tâm và đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: ma-hāmudrāsiddhi). Bài ca ngộ đạo của ông có những dòng sau:|Nghe lời bậc Ðạo sư,|năm này qua năm khác,|Ðất, Nước, Lửa và Gió,|dần dần tận hoại diệt.|Tất cả mọi hiện tượng,|bỗng tự nhiên hoá thành,|Ðại thủ ấn huyền diệu!
Chỉ 旨; C: zhĭ; J: shi;|1. Ngọt, ngon; 2. Mục tiêu, mục đích, ý chính; 3. Giáo lí, chỉ thị. Nội dung, đề tài; 4. Khéo tay, tài giỏi.
Chỉ 止; S: śamatha; P: samatha; T: zhi gnas;|1. Dừng lại, xong, chấm dứt; 2. Khiến dừng lại; làm cho dựng lại. Dừng, sự đình chỉ. Giới hạn. Ngừng nghỉ; 3. Duy chỉ; 4. Dừng lại các hành vi ác; 5. Thiền định, pháp thiền tập trung tâm ý, khác với pháp thiền phân tích (quán 觀), là sự tịnh chỉ, đồng nghĩa với Ðịnh (定; s, p: samādhi), Nhất tâm (一心; p: cittekagattā) và bất loạn (不亂; p: avikhe-pa). Ðó là một trong những yếu tố của thiện tâm.|Theo dòng Cách-lỗ (t: gelugpa) ở Tây Tạng, người ta còn phân biệt nhiều giai cấp của chỉ và nhập định là cấp cao nhất của chỉ. Muốn nhập định, hành giả phải chuyên tập chỉ và quán. Chỉ làm cho tâm bất loạn trong khi Quán (觀; quán sát với trí huệ) giúp hành giả quan sát phân tích những hiện tượng xung quanh, chứng được Chân như, tính Không.|Theo truyền thống Phật giáo Tây Tạng, các chướng ngại của việc phát triển, tu tập chỉ được diệt trừ bằng: 9 cấp bậc của Tâm (九住心; Cửu trụ tâm; s: navākārā cittasthiti), 6 lực (六力; Lục lực; s: ṣaḍabala) và 4 hoạt động của tâm (四作意; Tứ tác ý).|I. Cửu trụ tâm là: 1. Nội trụ (內住; s: cittasthā-pana): sự tập trung cao độ vào đối tượng thiền quán; 2. Ðẳng trụ (等住; s: saṃsthāpana): Làm tâm vững chắc; 3. An trụ (安住; s: avasthānana): Trau dồi liên tục sự tập trung; 4. Cận trụ (近住; s: upasthānana): Chỉ chú tâm, chỉ đặt tâm vào phạm vi, giới hạn của đối tượng thiền quán; 5. Ðiều phục (調服; s: damana): Thuần hoá tâm; 6. Tịch tĩnh (寂靜; s: śamana): An tâm dạng thô; 7. Tối cực tịch tĩnh (最極寂靜; s: vyupaśamana): An tâm dạng tinh tế; 8. Chuyên trụ nhất thù chi lưỡng trụ (專住一殊之兩住; s: ekotīkaraṇa): Nhất tâm bất loạn; 9. Ðẳng trì (等持; s: samādhāna): Nhập định.|II. Lục lực bao gồm: 1. Thính văn lực (聽聞力): Lực để nghe Phật pháp (tương ưng I,1); 2. Tư duy lực (思惟力): Năng lực của tư duy về Phật pháp (tương ưng I, 2); 3. Niệm lực (念力): Năng lực của Niệm (tương ưng I, 3 và 4); 4. Chính tri lực (正知力): Năng lực của sự thông hiểu (I, 5 và 6); 5. Tinh tiến lực (精進力): Năng lực của sự tập trung (I, 7 và 8); 6. Xuyến tập lực (串習力; xuyến tập ở đây có nghĩa là đã thấm nhuần, quen thuộc lắm rồi): Năng lực của sự thuần hoá, quen thuộc tự nhiên (I, 9).|III. Tứ tác ý là: 1. Lực lệ vận chuyển (力勵運轉; Cố gắng vận động): Trong hai giai đoạn đầu thì tâm phải cố gắng nhiều mới an trụ nơi đối tượng (sở duyên), tạo mối liên hệ giữa tâm và đối tượng quán chiếu (tương ưng I, 1 và 2); 2. Hữu gián khuyết vận chuyển (有間缺運轉; một sự cố gắng còn gián đoạn, thiếu sót): Từ giai đoạn thứ ba đến thứ bảy thì sự tập trung vận chuyển vẫn còn khiếm khuyết. Tạo đi tạo lại sự tập trung vào đối tượng (tương ưng I, 3 đến 7); 3. Vô gián khuyết vận chuyển (無間缺運轉): Trong giai đoạn thứ tám thì tâm đã có khả năng an trụ vô gián nơi đối tượng (tương ưng I, 8); 4. Vô công dụng vận chuyển (無功用運轉); vận chuyển không cần dụng công): Trong giai đoạn thứ chín thì tâm thức an trụ nơi đối tượng một cách tự nhiên, vô công dụng (tương ưng I, 9).|Phương pháp trên được phát triển dựa theo nền tảng của Duy thức tông, được các tông phái tại Tây Tạng thống nhất sử dụng. Toàn bộ quá trình tu tập để đạt định thường được trình bày với những biểu tượng; hai khuynh hướng cản trở con đường tu tập là tâm đắm chìm, lừ đừ (hôn trầm) và hồi hộp không yên (trạo cử) được biểu tượng hoá bằng hai con thú: khỉ và voi. Trong quá trình tu tập chỉ thì hai con thú này dần dần được thuần hoá, chinh phục.
Chỉ bệnh 止病; C: zhǐbìng; J: shibyō; |»Bệnh» (mất quân bình) khi chú trọng thái quá đến thiền định (chỉ), và tin rằng nó có thể đưa đến giác ngộ. Vấn đề nầy được đề cập trong phẩm 10 của kinh Viên Giác.
Chi Ðộn 支遁; C: zhīdùn; 314-366, còn được gọi là Chi Ðạo Lâm (c: zhī-dàolín);|Cao tăng Trung Quốc đời Tấn. Sư là người sáng lập trường phái Bát-nhã (Lục gia thất tông) trong thời gian đầu của Phật giáo Trung Quốc. Sư là người đầu tiên luận giải lại danh từ Lí (理) theo quan niệm Phật giáo. Lí theo quan niệm xưa của Trung Quốc chỉ là quy luật của vũ trụ nhưng Sư lại cho rằng, Lí tức là Chân lí cùng tột, Tuyệt đối, Chân như. Quan niệm Lí của Sư sau được các tông khác thâu nhập và phát triển thêm (Hoa nghiêm tông).
Chỉ phạm 止犯; C: zhǐfàn; J: shibon;|Sai phạm hay tạo nghiệp ác qua sự »không làm« đúng vào lúc có những việc cần phải làm một cách tích cực.
Chỉ-Quán 止觀; C: zhǐguān; J: shikan; S: śamatha-vipaś-yanā; P: samatha-vipassanā; J: shikan;|1. Hai pháp thiền căn bản của Phật giáo: chỉ (止, còn gọi xa-ma-tha 奢摩他, s: śamatha) và quán (觀, tì-bà-xá-na 毘婆舍那, s: vipaśyanā). Chỉ thường được dịch sang tiếng Anh là »stabilizing meditation« và »calm abiding.« Là pháp tu thiền nhắm vào làm an tĩnh tâm ý và phát huy sức tập trung (định 定). Quán được dịch là »phân tích« hay »quán sát rõ ràng«, là áp dụng định lực quán sát sự biểu hiện một ý niệm dẫn đến thực tại trong Phật pháp, như duyên khởi (縁起); 2. Viết tắt tên bài luận giải Ma-ha chỉ quán (摩訶止觀). |Một phép tu đặc biệt của Thiên Thai tông ở Trung Quốc. »Chỉ« nói sự lặng yên, tịch tĩnh của tâm thức, đạt cảnh vô phân biệt, »Quán« là quán xét phù hợp với sự thật. Chỉ là trạng thái phải đạt được để có thể quán xét đúng đắn. Các vị luận sư ví Chỉ như một hồ nước tĩnh lặng và Quán là những con cá bơi lượn. Trong một số tác phẩm được lưu hành tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, phép Chỉ-Quán được truyền bá rộng rãi, nhất là Ma-ha chỉ quán của Trí Khải Ðại sư.|Cách tu tập Chỉ-Quán bao gồm hai phần: Phần chuẩn bị và phần chính. Phần chuẩn bị bao gồm: tạo điều kiện thuận lợi cho việc tu tập (順境; thuận cảnh); giảm các nhu cầu hằng ngày (少慾; thiểu dục); điều hoà các hoạt động hằng ngày như ăn uống, ngủ, thân, hơi thở và tâm (離多所作; li đa sở tác); chuyên chú vào việc trì giới (清淨律儀; thanh tịnh luật nghi).|Trong phần chính, hành giả thực hiện nhiều cách Chỉ-Quán khác nhau. Người ta phân biệt ba cách tu chỉ: 1. Chú tâm vào chóp mũi; 2. Thuần phục tâm bằng cách nhận ra sự khởi động, phát sinh của ý nghĩ và lập tức gián đoạn nó ngay; 3. Nhận thức được nguyên lí Duyên khởi (s: pratītyasamutpāda) và tính Không (s: śūnyatā) của vạn vật.|Quán được thực hành theo nhiều cách khác nhau: 1. Quán bất tịnh; 2. Quán tâm Từ (s: maitrī) để đối trị tâm sân hận; 3. Quán những hạn chế, không trọn vẹn, không hoàn hảo trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo) để hàng phục ngã kiến; 4. Quán tính không của các Pháp (s: dharma). – Tất cả những cách tu luyện trên có thể được thực hành trong mọi hoạt động thân thể hằng ngày.|Kế theo đó là việc phòng hộ các giác quan (Nhiếp căn) và tu chỉ ở đây được hiểu là sự nhận thức được tính huyễn của tất cả những hiện hữu, phòng ngừa sự xuất hiện của hai tâm trạng đối đãi là yêu và ghét. Quán là sự hướng nội của tâm trong khi thụ nhận những tin tức từ những giác quan, với mục đích là nhận thức được tính vô sắc, vô tướng của tâm. – Cuối cùng hành giả phải quán tưởng đến tính chất »phi thật« của hiện hữu để trực ngộ được tính không của chúng và ý nghĩa tột cùng của Trung đạo.
Chỉ quán phụ hành truyền hoằng quyết 止觀輔行傳弘決; C: zhǐguān fǔxíng chuán hóngjué; J: shikan fukōten kōketsu;|40 quyển.|Chỉ quản đả toạ|只管打坐; J: shikantaza; nghĩa là »Chỉ phải ngồi thiền«;|Một cách ngồi thiền theo Thiền tông không có sự hỗ trợ của các phương pháp khác như đếm hơi thở hoặc quán Công án. Theo Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thì Chỉ quản đả toạ – an trụ trong một tâm trạng vô tư nhưng tỉnh táo, không nương bám vào vật gì – là dạng siêu việt nhất của toạ thiền, là phương pháp toạ thiền của chư Phật, Tổ.
Chỉ tác nhị trì 止作二持; C: zhǐzuò èrchí; J: shisa niji;|»Sự tuân thủ vào sự thực hiện hay không thực hiện«. Hai phương cách tu tập thiện pháp. Một bằng cách dừng hẳn, không tạo việc ác, cách kia là làm việc thiện.
Chỉ trì 止持; C: zhǐchí; J: shiji; |Làm các việc thiện bằng cách tu tập đình chỉ các việc ác. Giữ giới có nghĩa là kiềm chế không phạm các việc ác.
Chỉ trú 止住; C: zhǐzhù; J: shijū; |An trú; xa-ma-tha (śamatha, upasthita).
Chỉ tức 止息; C: zhǐxí; Jshisoku:; |1. Tiến hành việc dừng hẳn khổ đau; 2. Hán dịch chữ śamatha (xa-ma-tha 奢摩他) trong tiếng Phạn; 2. Hán dịch chữ śramana (Sa-môn 沙門).
Chích thủ 隻手; J: sekishu, »Một bàn tay«;|Tên gọi ngắn của Công án »Thế nào là tiếng vỗ của một bàn tay« (如何是隻手之聲; »Như hà thị chích thủ chi thanh?«) xuất xứ từ Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc. Sư cho rằng, công án này rất hiệu nghiệm trong việc hướng dẫn thiền sinh đến kinh nghiệm Kiến tính lần đầu song song với công án »Vô« của sư Triệu Châu Tòng Thẩm.
Chiên-đàn 栴檀; C: zhān tán; J: sendan; |Phiên âm chữ candana từ tiếng Phạn và Pāli, dịch sang Anh ngữ là sandalwood. Là một loại cây có vỏ dùng làm dược thảo, và làm nhang.
Chiên-đàn hương 栴檀香; C: zhāntánxiāng; J: sentankō; |Hương của cây chiên đàn. Nhang bằng chiên đàn.
Chiên-đàn hương thân đà-la-ni kinh 栴檀香身陀羅尼經; C: zhāntán xiāng shēn tuóluóníjīng; J: sendankōshin daranikyō; S: candanāṅga; t: tsandan gyi yan lag;|1 quyển, Pháp Hiền dịch.
Chiêu 昭; C: zhāo; J: shō;|Rõ ràng. Chói sáng.
Chính 正; C: zhèng; J: shō; S: samyak. |1. Đúng, phải, chính xác, ngay thẳng, chân thực, thẳng thắn (s: sat); 1. Sửa cho thẳng, hiệu chỉnh, điều chỉnh, chỉnh lí (方); 3. Ống bọt nước, mặt phẳng (s: śāta); 4. Theo đúng (s: nyāna); 5. Chân tính, niết-bàn (s: nir-vāṇa); 6. Căn bản của nhận thức đúng đắn (s: pramāṇa); 7. Thành thực, nghiêm chỉnh; 8. Chủ yếu, trọng yếu, ngược với thứ yếu.
Chính đẳng giác 正等覺; S: samyak-saṃbodhi, samyak-saṃbud-dha;|Có hai nghĩa: 1. Phật quả, cũng được dịch theo âm là Tam-miệu Tam-bồ-đề; 2. Ðức Phật, một Bậc chính đẳng giác, Bậc chính biến tri, cũng thường được gọi theo âm là Tam-miệu Tam-phật-đà (Mười danh hiệu).
Chính định vương kinh 正定王經; S: samādhirāja-sūtra; còn có tên Nguyệt đăng tam-muội kinh (s: candrapradīpa-sūtra);|Kinh Ðại thừa với 40 chương, ngày nay chỉ còn 16 chương bằng tiếng Phạn (sanskrit), còn lại là chữ Hán và Tây Tạng. Giáo pháp kinh này tương tự như Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh, chuyên chú về sự đồng nhất thể tính của các Pháp.
Chính pháp nhãn tạng 正法眼藏; J: shōbōgenzō;|Có hai nghĩa:|1. Con mắt trí huệ thấu suốt chân lí bao hàm trong mọi hiện tượng;|2. Tên của một tác phẩm của Thiền sư Nhật Bản Ðạo Nguyên Hi Huyền. Tác phẩm này bao gồm những Ðề xướng (s: teishō) và những bài viết trong hai thập niên cuối đời của sư. Chính pháp nhãn tạng được xem là một trong những tác phẩm sâu sắc nhất trong tất cả những thiền ngữ và là tác phẩm văn học tôn giáo tiêu biểu nhất của Nhật Bản.
Chính sư 正師; J: shōshi;|Sự chứng nhận của một Lão sư (j: rōshi) rằng, môn đệ của mình đã trở thành một Lão sư chân chính. Vị đệ tử này có thể đã được Ấn chứng trước đó và đã hướng dẫn một thiền đường.
Chính sử 正使; C: zhèngshǐ; J: shōshi;|1. Bản chất của phiền não, ngược với chức phương diện huân tập (薫) hay tập khí (習氣); 2. Phiền não hiện hành trong khoảnh khắc hiện tại.
Chính truyền 正傳; C: zhèngzhuàn; J: shōden;|Truyền đạt chân chính Phật pháp từ thầy sang trò.
Chu 周; C: zhōu; J: shū;|1. Chung quanh, đi quanh, chuyền quanh, quay tròn, xoay quanh; 2. Sự tuần hoàn; 3. Toàn thể, bao gồm tất cả, trùm khắp. Hoạt dụng trùm khắp; 4. Đến, trải dài đến; chỗ tột cùng; 5. Năm đủ.
Chú 注; C: zhù; J: chū;|1. Rót vào, đổ vào, chảy vào, rót đầy, thêm vào. Tâm hướng về một mục tiêu khác; 2. Chú giải; viết chú thích, dẫn giải về một bản kinh.
Chú 呪; C: zhòu; J: ju;|Tiếng Hán dịch từ chữ dhāraṇī hay mantra của tiếng Phạn; có nghĩa là thần chú. Đà-la-ni (陀羅尼). Chỉ sức thâu nhiếp, câu thần chú, sự trì niệm thần chú, mạn-đà-la, đà-la-ni. Mạn-đà-la và đà-la-ni thường thấy trong các kinh điển Đại thừa, đặc biệt được dùng nhiều trong các kinh văn Mật giáo (密教).
Chủ bạn 主伴; C: zhǔbàn; J: shuban;|1. Chủ và người giúp việc; chủ yếu và thứ yếu; chủ và khách; thể và dụng (體用); 2. Đức Phật và các vị Bồ Tát.
Chu biến 周遍 (徧); C: zhōubiàn; J: shūhen;|Bao quát, phổ biến. Cùng khắp, lan toả và vận hành khắp chốn.
Chú châu 咒珠; C: zhòuzhū; J:;|Chuỗi tràng hạt (s: japa-māla). Sổ châu (數珠).
Chu-cô T: tulku [sprul-sku]; S: nirmāṇakāya;|Thuật ngữ rất quan trọng được dịch âm từ tiếng Tây Tạng nhằm chỉ một hiện tượng chỉ tồn tại nơi đây và Mông Cổ. Thuật ngữ này có nguồn gốc từ hai thứ tiếng, Phạn và Mông Cổ. Tại Mông Cổ, người ta sử dụng hai danh từ tương ưng với ý nghĩa gần như nhau là: 1. Hô-tất Lặc-hãn (hoblighan khublighan) với nghĩa »Tự tại chuyển sinh« (自在轉生) và 2. Hô-đồ Khắc-đồ (khutuktu), nghĩa là »Minh tâm kiến tính, sinh tử tự chủ« (明心見性生死自主). Danh từ Phạn ngữ (sanskrit) tương ưng là »Nirmāṇakāya«, Hán dịch nghĩa là »Ứng hoá thân« (應化身) hoặc »Hoá thân« (化身; Ba thân).|Tại Tây Tạng, danh từ này chuyên chỉ các dòng tái sinh (s: jātimāla) và các vị tái sinh, chỉ các vị khi chết không quên bản tính, đầu thai trở lại và tiếp nối chức vị và sự việc hoằng hoá trước. Ðó là những người được công nhận là sự tái sinh của một người đã chết, sau khi được thử thách kiểm nghiệm. Quan điểm này phát sinh từ giáo pháp Ba thân và được áp dụng tại Tây Tạng với sự phát hiện Cát-mã-ba (t: karmapa) thứ 2, Cát-mã Ba-hi (karma pakshi, 1204-1283). Chu-cô là một phương tiện quan trọng nhằm giữ vững sự nối tiếp bất đoạn về tinh thần và lĩnh đạo trong các trường phái Tây Tạng. Tây Tạng có 4 dòng tái sinh lớn mà dòng quan trọng nhất là Ðạt-lại Lạt-ma. Ngoài ra có một số lớn các dòng tái sinh khác. Các vị Chu-cô thường được dân chúng tôn là »Phật sống« (Hoạt Phật).|Kinh điển Ðại thừa đã nói đến khả năng chủ động trong sự tái sinh. Người bình thường vì chưa đoạn được vọng niệm, còn bị thần thức lôi cuốn, theo Nghiệp (s: karma) mà chuyển sinh, không tự tại. Còn các vị đã cắt đứt vọng niệm, đã đoạn ô nhiễm thì chứng ngộ được Pháp tính (法性; s: dharmatā), không còn bị nghiệp lực lôi cuốn trôi nổi mà ngược lại, có thể tự chủ được sinh tử, tuỳ cơ ứng biến hoằng hoá, trải qua ải tái sinh mà không bị mê hoặc. Ðó là khả năng của các vị Bồ Tát đã đạt địa vị thứ tám trong Thập địa. Cùng với quan điểm Ba thân (s: trikāya), trong đó thân người được xem là hiển hiện của Pháp thân (s: dharmakāya), quan niệm này là cơ sở của hiện tượng Chu-cô.|Trong phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) của Tây Tạng, nguyên lí chủ động tái sinh được tận dụng, nhất là nhằm bảo vệ giáo pháp Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) Khi một đứa trẻ được khám phá ra là Chu-cô, các vị thầy dốc sức giúp trẻ phát triển để sớm nắm vững toàn bộ giáo pháp và tới thời kì, đứa trẻ đó lại chỉ dạy giáo pháp cho các thầy để chuẩn bị cho việc tái sinh của các vị đó. Quan niệm tái sinh cũng đóng một vai trò quan trọng trong sự lĩnh đạo, mà thí dụ rõ nhất là các vị Ðạt-lại Lạt-ma. Các vị tái sinh quan trọng nhất thời nay là Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 Ðăng-châu Gia-mục-thố (t: tenzin gyatso, sinh 1935), giáo chủ dòng Cách-lỗ (t: gelugpa); Cát-mã-ba Lãng-tuấn Lôi-tỉ Ða-kiệt (rigpe dorje, 1924-1982), giáo chủ dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa); Ðôn-châu (dujom, 1904-1987), giáo chủ dòng Ninh-mã (nyingmapa) và Tát-ca-ba Tát-ca Xứ-châu (sakyapa sakya trizin, sinh 1945), giáo chủ phái Tát-ca (sakya).
Chu-đà 周陀; C: zhōutuó; J: shūda;|1. Tên của Tỉ-khâu Śuddhipanthaka; 2. Thuần Đà (s: cunda), đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni. Thuần-đà (純陀). ›
Chú-đồ Bán-thác-ca 注荼半託迦; S: cūḍapantbaka; C: zhùtú-bàntuōjiā; J: chūdabantaka;|Một trong 16 vị A-la-hán phát nguyện ở lại thế gian nầy để hộ trì chính pháp.
Chú ngũ thủ 呪五首; C: zhòuwŭshŏu; J: jugoshu;|Thiên chuyển đà-la-ni Quán Thế Âm Bồ Tát chú (千轉陀羅尼觀世音菩薩呪).
Chú ngũ thủ kinh 咒五首經; C: zhòuwŭshŏu; J: jugoshu kyō;|1 quyển, Huyền Trang dịch năm 664. Nội dung trình bày năm loại thần chú.
Chú ngũ thủ năng diệt chúng tội thiên chuyển đà-la-ni kinh 呪五首能滅衆罪千轉陀羅尼經; C: zhòuwŭshŏu néngmiè zhòngzuì qiānzhuăn tuóluóní jīng; J: jugoshu nōmetsu shūzai senten darani kyō;|Thiên chuyển đà-la-ni Quán Thế Âm Bồ Tát chú (千轉陀羅尼觀世音菩薩呪).
Chủ tể 主宰; C: zhǔzăi; J: shusai;|1. Người giám sát, chủ toạ, người điều khiển, người kiểm soát. Sự giám sát, việc quản lí; 2. Từ để gọi Như Lai (如來); 2. Đề cập đến quan niệm ảo tưởng độc đoán về Ngã (ngã kiến 我見).
Chùa Là nơi thờ Phật, phổ biến ở các nước Ðông và Ðông Nam Á như Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam. Chùa có nhiều chỗ giống với Tháp (s: stūpa) tại Ấn Ðộ, là nơi cất giữ Xá-lị (s: śarīra), thường có nhiều tháp bao xung quanh. Những tháp này là nơi chôn cất các vị đại sư. Chùa là nơi tiêu biểu cho Chân như, được nhân cách hoá bằng hình tượng một đức Phật được thờ ngay giữa chùa. Nhiều chùa được thiết kế như một Man-đa-la (s: maṇḍala), gồm một trục ở giữa với các vị Phật ở bốn phương. Cũng có nhiều chùa có nhiều tầng, đại diện cho Ba thế giới (tam giới), các bậc cấp tiêu biểu cho Thập địa của Bồ Tát. Có nhiều chùa được xây tám mặt đại diện cho Pháp luân hoặc Bát chính đạo.
Chuẩn-đề đà-la-ni kinh 准提陀羅尼經; C: zhǔntí tuóluóní jīng; J: shundai darani kyō;|Thất Câu Chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母所説准提陀羅尼經).
Chứng đạo ca 證道歌; J: shōdōka; nghĩa là »bài ca về sự trực nhận chân lí«;|1. Chỉ những bài ca tán tụng Chân như của các vị Thánh nhân khi thành đạo;|2. Một kiệt tác của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác, cũng được gọi là Tối thượng thừa Phật tính ca (最上乘佛性歌; j: saijōjō busshō-ka). Tác phẩm này chứa đựng những khái niệm căn bản của Pháp bảo đàn kinh, của các bộ kinh thuộc hệ Bát-nhã ba-la-mật-đa.|Ngay trong bài kệ đầu, Sư đã nhấn mạnh đến quan niệm trung tâm của Thiền tông (bản dịch của Trúc Thiên):|無明實性即佛性。幻化空身即法身|»Tính thật vô minh tức Phật tính,|thân không ảo hoá tức Pháp thân.«|Câu »(Bản lai) Vô nhất vật«, từ trước đến bây giờ chẳng có một vật – vốn đã có trong Pháp bảo đàn kinh – được nhắc lại hai lần trong bài ca này. Theo Sư, sự chứng ngộ chân lí xẩy ra một cách bất thình lình (Ðốn ngộ). Cùng với Tín tâm minh của Tam tổ Tăng Xán, Chứng đạo ca là tác phẩm thiền nổi danh, được dịch sang rất nhiều thứ tiếng.
Chủng tử 種子; S: bīja; là mầm sống, hạt mầm, cũng có nghĩa là năng lực; |Năng lực thúc đẩy vạn vật hiện hữu, đặc biệt rất có uy lực trong những Chủng tử Man-tra (s: bījamantra). Những chữ trong một Man-tra – ví dụ như chữ OṂ – bao hàm một khía cạnh đặc biệt của sự thật tuyệt đối được trình bày bằng một âm thanh tiêu biểu. Những âm thanh này chứa đựng – nếu đệ tử tín tâm được tiếp nhận qua một vị Ðạo sư chân chính – những năng lực diệu kì. Những hành giả trong Mật tông đều nhận được một Chủng tử man-tra từ Ðạo sư của mình khi được Quán đỉnh (s: abhiṣeka).
Chương Kính Hoài Huy 章敬懷暉; C: zhāngjìng huáihuī; J: shōkei eki; 756-815;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Mã Tổ. Sư có hai đệ tử nối pháp xuất sắc là Thiền sư Hoằng Biện và Trí Chân.
Chuyển luân vương 轉輪王; S: cakravartin, cakravartī-rāja;|Là một vị vua quay bánh xe. Có bốn thứ bánh xe: bánh xe bằng vàng, bạc, đồng, sắt. Danh hiệu Chuyển luân vương cũng được dành để chỉ một vị Phật, người chuyển pháp luân với giáo pháp toàn triệt, tuyệt đối.
Chuyển pháp luân 轉法輪; S: dharmacakra-pravartana; P: dham-macakkappavattana;|Chỉ lần đầu đức Phật Thích-ca giáo hoá sau khi Giác ngộ tại Lộc uyển (gần Benares). Lần đó, Phật giảng Tứ diệu đế và Bát chính đạo cho Năm tỉ-khâu, những người cùng tu học với Phật trước khi Ngài thành đạo.
Chuyển thức 轉識; T: phowa ['pho-ba]; S: saṃkrānti; nguyên nghĩa là »đổi chỗ«;|Một phương pháp tu tập trong Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) của Na-rô-pa (t: nā-ropa), là các phép tu mà Mã-nhĩ-ba (t: mar-pa) đưa từ Ấn Ðộ qua Tây Tạng trong thế kỉ thứ 11. Ðó là phép tu nhằm chuyển hoá tâm thức mình vào một Tịnh độ, cõi Phật (s: bud-dhakṣetra), thí dụ như cõi Cực lạc của Phật A-di-đà trong lúc cận tử. Hành giả Tây Tạng theo phép tu này đã tập luyện và chuẩn bị trong lúc còn sống, phần lớn họ đọc tụng một số thần chú và thiền theo Kim cương thừa (Nghi quỹ; s: sādhana). Tại phương Tây phép tu này được phái Ca-nhĩ-cư (t: ka-gyupa) phổ biến.
Chuyết Công 拙公; 1590-1644|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, pháp hệ thứ 34. Sư là người đầu tiên truyền tông này sang Việt Nam, miền Bắc.|Sư quê ở Tiệm Sơn, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Thuở nhở, Sư đã học thông sử sách và sau khi xuất gia tinh thông tam tạng kinh điển.|Sau, Sư đến Thiền sư Tăng Ðà Ðà ở Nam Sơn và được vị này Ấn khả. Danh tiếng của Sư từ đây vang khắp mọi nơi.|Sư đến kinh đô Thăng Long năm 1633, trụ tại chùa Khán Sơn, sau lại đến chùa Phật Tích ở huyện Tiên Du, tỉnh Hà Bắc hoằng pháp. Trong thời gian giáo hoá ở đây, Sư được Chúa Trịnh Tráng quý trọng, vua Lê Huyền Tông và các bậc công hầu cũng đều tôn kính. Môn đệ nổi danh kế thừa Sư là Thiền sư Minh Lương.|Sắp tịch, Sư gọi chúng lại nói kệ:|瘦竹長松滴翠香。流風疏月度微涼|不知誰住原西寺。每日鐘聲送夕陽|Sấu trúc trường tùng trích thuý hương|Lưu phong sơ nguyệt độ vi lương|Bất tri thuỳ trụ Nguyên Tây tự|Mỗi nhật chung thanh tống tịch dương|*Tre gầy thông vót nước rơi thơm|Gió thoảng trăng non mát rờn rờn|Nguyên Tây ai ở người nào biết?|Mỗi chiều chuông nổi đuổi hoàng hôn.|Nói kệ xong, Sư bảo chúng: »Nếu ai động tâm khóc lóc thì không phải là đệ tử của ta.« Sau đó, Sư ngồi yên thị tịch, nhằm ngày rằm tháng 7 năm Giáp Thân, thọ 55 tuổi.
Cơ (ki) 機; C: jī; J: ki;|1. Chìa khoá, điểm chính, then chốt của mọi việc, điều cơ bản nhất. Việc then chốt; 2. Cơ chế, công việc, phương sách. Phương tiện, dụng cụ, động cơ, tác nhân (s: yantra); 3. Sự vận hành, chức năng, động cơ thúc đẩy. Thời cơ, duyên cớ của tâm ý. Thay đổi quan niệm. đặc biệt trong thiền ngữ.; 4. Dấu hiệu hay biểu thị của vật thể trước khi nó xuất hiện. Khả năng của một vật phát ra nhờ vào sự liên kết với một vật khác. Dấu hiệu, biểu thị, điềm, triệu chứng; 5. Nguồn suối, xung lực, cơ hội, dịp, thời cơ; 6. Năng lực tâm linh (căn 根), là kết quả của sự hành trì Phật pháp, đột nhiên biểu hiện qua sự trực nhận được tinh tuý của giáo lí. Tài năng, năng lực. Phong thái của người tu đạo. Khuynh hướng tâm linh của chúng sinh; 7. Người đang được điều phục (s: vineya); 8. Loài người, chúng sinh (s: āśaya); 9. Nhanh nhẹn, linh lợi, lẹ làng; 10. Sự thay đổi, sự vận động, năng lực vận động của…
Cơ cảm 機感; C: jī găn; J: kikan; |Cơ (機) đề cập đến Cơ loại (機類), là vô số căn cơ chúng sinh khác nhau, cảm (感) là cảm ứng (感應), sự nhận biết của đức Phật về những ước nguyện của chúng sinh và đáp ứng cho họ. Mối liên hệ giữa ân phúc của chư Phật với công đức của riêng từng chúng sinh.
Cơ duyên 機縁; C: jīyuán; J: kien;|1. Động cơ, cơ hội; 2. Cơ hội liên quan đến trạng thái tinh thần của người ta đang có liên hệ; 3. Chúng sinh; 4. Theo giáo lí Hoa Nghiêm, là phẩm tính thiện ác có trong tâm trạng con người; 5. Thuật ngữ đề cập đến trạng thái chúng sinh được giáo hoá trực tiếp bởi Đức Phật hay Tổ sư (đặc biệt trong thiền tông); 6. Theo Thiền tông thì đây chỉ việc ứng dụng cơ hội và tuỳ thuận nhân duyên; 7. Công án (公案); được ghi lại qua cuộc »pháp chiến« của hai Thiền sư, được truyền lại cho hậu học.
Cơ giáo 機教; C: jījiāo; J: kikyō; |Sự chín muồi căn cơ chúng sinh tướng ứng với giáo lí của Đức Phật.
Cơ loại 機類; C: jīlèi; J: kirui; |1. Sự đa dạng trong căn cơ và khả năng của chúng sinh; 2. Chúng sinh.
Cơ nghị 機誼; C: jīyí; J: kigi; |1. Sự vận hành của tâm để khế hợp với việc thiện; 2. Chúng sinh; 3. Khế hợp với căn tính của chúng sinh.
Cổ Phật 古佛; J: kobutsu; nguyên nghĩa là một vị Phật của thời xa xưa.|Danh hiệu này được sử dụng để tỏ sự kính trọng trước một người đã đạt Giác ngộ thâm sâu. Các vị Thiền sư cũng thường sử dụng danh từ này trong các Ngữ lục của mình để chỉ các vị Tổ sư, các bậc tiền bối.
Cô Phong Giác Minh 孤峰覺明; J: kohō kakumyō; 1271-1361;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, nối pháp Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (j: shinchi kakushin) và là thầy của Thiền sư Bạt Ðội Ðắc Thắng (j: bassui tokushō).|Dưới sự hướng dẫn của Giác Tâm, Sư thâm nhập giáo lí của Chân ngôn cũng như Thiền tông. Sư cũng tham học với Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen) và Thụ giới Bồ Tát nơi vị này. Sư cũng kết bạn thân với Oánh Sơn Thiệu Cẩn (j: keizan jōkin), một vị Thiền sư nổi danh của tông Tào Ðộng Nhật Bản. Trong một cuộc du hành sang Trung Quốc, Sư cũng đến Thiền sư Trung Phong Minh Bản (c: zhōngfēng míngběn) và tham học nơi đây.
Cơ tiên 機先; C: jīxiān; J: kisen; |Trạng thái của vật thể trước khi chúng tự biểu hiện qua hành động.
Cô Vân Hoài Trang 孤雲懷奘; J: koun ejō; 1198-1280|Thiền sư Nhật Bản, Tổ thứ hai của tông Tào Ðộng tại đây sau Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Kế thừa Sư và cũng là người trụ trì thứ ba của Vĩnh Bình tự (j: eihei-ji) là Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới (j: tettsū gikai).|Các tài liệu không ghi rõ thời niên thiếu, chỉ biết là Sư sinh trưởng tại Kinh Ðô (j: kyōto) và sớm được dạy dỗ theo nhà Phật trên núi Tỉ Duệ (j: hiei). Năm lên 17 (1215), Sư Thụ giới cụ túc và năm 20 tuổi thụ giới Bồ Tát tại chùa Diên Lịch (j: enryaku-ji) trên núi Tỉ Duệ. Nơi đây, Sư tham học Phật pháp với một vị Pháp sư tên là Viên Năng (圓能; j: ennō) và tương truyền rằng, Sư đã tiếp xúc với tất cả các tông phái đạo Phật đương thời như Thiên Thai (j: tendai), Chân ngôn (j: shingon) và cả Tịnh độ (j: jōdō). Nhưng tất cả những dạng tu tập này đều không thoả mãn được lòng quyết tâm đạt đạo của Sư. Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn (keizan jō-kin) – môn đệ chính của Sư – ghi lại lời khuyên của bà mẹ khi Sư về thăm bà: »Mẹ không cho con xuất gia tu hành để đạt danh vọng và liên hệ với dòng dõi quý tộc. Con không nên tu tập vì tham vọng. Mẹ rất mong rằng, con tu học khổ hạnh, choàng ca-sa đen với nón tre trên lưng và tự đi đứng một mình, thay vì ngồi trên kiệu để người vác.«|Ngay sau khi nghe những lời dạy này, Sư không bước chân đến núi Tỉ Duệ nữa, ban đầu tu tập theo Tịnh độ tông, sau gia nhập học thiền (khoảng 1222/23) với Giác Yển (覺晏; j: kakuan) thuộc Nhật Bản Ðạt-ma tông (j: nihon darumashū), một môn đệ của Ðại Nhật Năng Nhẫn (j: dainichi nōnin). Nhân lúc đọc kinh Thủ-lăng-nghiêm (s: śūraṅgama-sūtra; j: shuryōgongyō), Sư có tỉnh và cho rằng, kinh nghiệm Giác ngộ này chính là diệu giác (j: myōkaku) của đức Phật Thích-ca. Thời gian tu tập của Sư nơi Nhật Bản Ðạt-ma tông kéo dài khoảng sáu năm và sau đó, Sư yết kiến Thiền sư Ðạo Nguyên (1928) tại Kiến Nhân tự (kenninji) ở Kinh Ðô. Trong một cuộc Pháp chiến (j: hōssen) sôi nổi, Ðạo Nguyên thừa nhận kinh nghiệm giác ngộ của Sư nhưng chính Sư cũng thấy rõ kinh nghiệm thâm sâu của Ðạo Nguyên vượt xa mình. Vì vậy, Sư quì lạy, lễ bái Ðạo Nguyên làm thầy. Ðạo Nguyên khuyên Sư đợi một thời gian nữa hãy đến.|Năm 1230, Ðạo Nguyên rời Kiến Nhân tự và sau đó thành lập một Thiền viện với tên Hưng Thánh Pháp Lâm tự (j: kōshōhōrin-ji). Năm 1234, một năm sau khi Hưng Thánh tự được thành lập, Sư đến Ðạo Nguyên một lần nữa và được thu nhận làm đệ tử. Hai năm sau, nhân khi tham quán câu hỏi của một vị tăng đến Thiền sư Thạch Sương Sở Viên »Thế nào khi một sợi tóc đào nhiều lỗ?« Sư bỗng nhiên Ðại ngộ (11. 1236). Sư bèn thắp hương lễ Phật và chạy đến Ðạo Nguyên trình sự việc. Ðạo Nguyên nghe xong bảo: »Sợi tóc đã đào đến nơi đến chốn« và Ấn khả. Từ đây, Sư giữ chức thủ toạ (đứng đầu chúng trong việc giáo hoá thay thầy) và làm thị giả cho đến lúc Ðạo Nguyên viên tịch.|Sau, tại Vĩnh Bình tự, Ðạo Nguyên giao lại cho Sư trách nhiệm thực hành các nghi lễ vào nói rằng: »Ta không còn sống lâu nữa. Ngươi thọ mệnh cao hơn ta và chắc chắn sẽ truyền giáo pháp của ta. Vì chính pháp mà ta phó chúc công việc cho ngươi.« Sau khi Ðạo Nguyên tịch, Sư kế thừa trụ trì chùa Vĩnh Bình và mất năm 1280, thọ 82 tuổi.|Tác phẩm duy nhất của Sư là Quang minh tạng tam-muội (j: kōmyōzōzanmai), nhưng Sư biên tập nhiều tác phẩm khác của Ðạo Nguyên như Chính pháp nhãn tạng (j: shōbōgenzō), Chính pháp nhãn tạng tuỳ văn kí (shōbōgenzō zuimonki)… Những tác phẩm của Ðạo Nguyên được truyền đến hậu hế phần lớn là nhờ công lao của Sư.
Cơ yếu 機要; C: jīyào; J: kiyō; |Điểm then chốt quan trọng. Nghĩa sâu mầu nhất (xu yếu 樞要, chân quyết 眞訣). Khoảnh khắc hay tình huống nguy kịch nhất.
Con-ze, Ed-ward 1904-1979|Triết gia và một nhà nghiên cứu Phật pháp lỗi lạc người Anh (gốc Ðức). Ông đã phiên dịch và sắp xếp bộ Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh theo hệ thống và cũng từ đây, tư tưởng Ðại thừa đã lan truyền khắp châu Âu, Mĩ. Ðối với Phật tử châu Âu, những trứ tác của ông là tài liệu nghiên cứu tu tập Phật pháp quý báu không thể bỏ qua được.|Ông sinh ngày 18. 03. 1904 tại Forest Hill, Lewisham, London trong một gia đình gốc Ðức. Cha của ông trước la một nhân viên ngoại giao, sau lại quản lí một quan toà tại Düsseldorf, CHLB Ðức. Con-ze trưởng thành và được giáo dục tại Ðức (lúc này mang tên Eberhard thay vì Edward sau này) và nơi đây, ông sớm biểu hiện những cá tính đặc thù: sự cảm nhận nhạy bén cho những vấn đề xã hội, lòng căm phẫn trước những trào lưu »ái quốc cực đoan của Toàn đức quốc xã«, lòng yêu thiên nhiên và một cuộc sống tĩnh mịch ở thôn quê. |Năm lên 13, Con-ze đã có dịp nghe chút ít về Phật giáo. Ông học triết, tâm lí và Ấn Ðộ học tại những đại học Tübingen, Heidelberg, Kiel và Köln. Tại Heidelberg, Max Walleser – một trong những người đầu tiên dịch kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa sang tiếng Ðức – đã hướng dẫn ông vào Ðại thừa Phật pháp (1924/25) và qua Heinrich Rickert, ông cũng có dịp làm quen với Thiền tông (j: zen). Năm 1928, ông làm luận án tiến sĩ (Dr. phil.) tại Köln với tựa đề Danh từ Huyền học của Franciscus Suarez S. J. (g: Der Begriff der Metaphysik bei Franciscus Suarez S. J.). Cũng trong năm này, ông gia nhập Ðảng cộng sản và nhân dịp này, ông nói với một người bạn thân: »Như anh thấy, tôi mang nhiều gương mặt!«|Năm 1932, ông cho xuất bản tác phẩm Phương thức đối lập. Bình luận về lí thuyết Duy vật biện chứng (g: Der Satz von Widerspruch. Zur Theorie des Dialektischen Materialismus). Vì những hành vi chống Ðức quốc xã nên ông phải rời CHLB Ðức (1933), tị nạn sang Anh quốc và không lâu sau, ông nhập quốc tịch Anh. Chỉ vài năm sau, ông rời Ðảng cộng sản. |Từ 1933 trở đi, ông sinh sống bằng cách dạy tâm lí và triết học tại Oxford và London. Các tác phẩm của D. T. Su-zu-ki và một học giả Ấn Ðộ Har Dayal lại hướng dẫn ông trở về với Phật giáo. Từ 1943-49, ông nghiên cứu rất nhiều về Ấn Ðộ học, gia nhập giáo hội Phật giáo tại London (e: buddhist society) và cũng tổ chức nhiều buổi thuyết giảng. Trong những năm sau chiến tranh thế giới thứ hai, ông đã cho xuất bản khoảng 20 quyển sách và hơn 100 tiểu luận về những vấn đề của Phật giáo và chính những tác phẩm này đã làm cho tên ông lan truyền khắp mọi nước. Ông đã từng thuyết giảng tại Wisconsin, Madison (Wisconsin, 1963/64), Wa-shington, Seattle (Washington, 1965/68), Bonn (1969/79) và Berkeley, Santa Barbara (1972/ 73).|Năm 1973, Con-ze đình chỉ việc thuyết giảng, lui về quê nhà tại Sherborne, Somerset và từ đây chuyên chú vào việc nghiên cứu Phật học. Những điểm nghiên cứu trung tâm của ông chính là triết lí Bát-nhã ba-la-mật-đa và về vấn đề này, ông đã xuất bản hàng loạt tiểu luận. Ông cũng đã dịch sang Anh ngữ và xuất bản nhiều bài kinh thuộc hệ này.|Năm 1979, ông cho ra một quyển hồi kí với tựa The Memoirs of a Modern Gnostic. Ông luôn luôn tự cho mình là một người có cá tính mâu thuẫn. Con-ze có một cái nhìn, một cảm nhận sâu sắc cho những vấn đề, nhân sinh quan khác biệt của thế kỉ này. Quyển hồi kí của ông đã chứng tỏ khả năng, nghệ thuật »bao dung nhiều quan điểm« của ông. Ðối với Con-ze, lối sống có thể chấp nhận được là lối sống của người Anh, Ðạo lí có thể chấp nhận được là Phật pháp.|Ông mất ngày 24. 09. 1979 tại Yeovil, Somerset, London.|Trứ tác nổi tiếng nhất của E. Con-ze: 1. Buddhism. Its Essence and Development (bản dịch Việt ngữ: Tinh hoa và sự phát triển của Ðạo Phật), Oxford 1951; 2. Buddhist Meditation, London 1956; 3. Buddhist Thought in India, London 1962. Bài luận tiêu chuẩn về Ðại thừa Ấn Ðộ; 4. A Short History of Buddhism, xuất bản 1980. Ngoài ra ông còn dịch nhiều kinh điển từ Phạn ngữ (sanskrit) ra Anh ngữ như Kim cương kinh, Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh, Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa kinh…
Công 功; C: gōng; J: ku, kō;|Có các nghĩa sau: 1. Công lao. công đức; sự thành đạt, công trạng, vinh dự; 2. Tài năng, năng lực, hiệu lực, hiệu quả; 3. Tác dụng.
Cộng 共; C: gòng; J: guu;|Có các nghĩa sau: 1. Đồng thời, xảy ra cùng một lúc (s: pūrva-apara-sahakrama); 2. Có chung với, cùng chung, tham gia với; 3. Cùng tu tập với nhau; 4. Gặp nhau, tham gia.
Công án 公案; C: gōng-àn; J: kōan; nguyên nghĩa của danh từ này là một án công khai, quyết định phải trái trong quan phủ;|Một thuật ngữ quan trọng của Thiền tông, chỉ một phương pháp tu tập thiền định đặc biệt.|Công án có thể là một đoạn Kinh, một kinh nghiệm giác ngộ, một câu chuyện về một vị sư, một cuộc đàm thoại, Vấn đáp hay một cuộc Pháp chiến. Nhưng chúng có chung một điều là nói đến thể tính của vạn vật. Ðặc trưng của công án là thường thường nghịch lí, »nằm ngoài phạm vi của lí luận«. Công án không phải là »câu đố« thông thường vì nó không hề được giải đáp bằng lí luận, muốn hiểu nó phải nhảy qua một cấp độ khác của nhận thức.|Khoảng giữa thế kỉ thứ 10, Thiền tông bắt đầu dùng công án như phương tiện để giáo hoá và các thiền sinh sử dụng chúng làm đối tượng quán tưởng trong lúc thiền. Vì lời giải của công án thường nằm ngoài lí luận, nên thiền sinh thấy rõ giới hạn của tư duy và bị buộc phải chuyển hoá tâm thức bằng một bước nhảy của trực giác, nhảy qua khỏi sự mâu thuẫn của lí luận nhị nguyên. Với tâm thức này, thiền sinh có một kinh nghiệm trực tiếp về thể tính. Phương tiện công án được phổ biến trong các dòng Thiền Lâm Tế, Tào Ðộng ở Trung Quốc và Nhật Bản. Người ta cho rằng có tất cả khoảng 1700 công án – một con số mang giá trị trừu tượng – và trong số đó 500-600 ngày nay còn được lưu hành tại Nhật. Phần lớn các công án được ghi lại trong các tập như Vô môn quan, Bích nham lục, Thong dong lục, Lâm Tế lục.|Người ta thường nhắc đến việc sử dụng công án làm phương tiện tu tập trong tông Lâm Tế nhưng chính tông Tào Ðộng cũng thường hay sử dụng. Các vị Thiền sư sau này khuyến khích môn đệ của mình tham quán công án nhằm cản trở tâm thức của thiền sinh trở lại tâm trạng của Phàm phu – sau khi đã nếm được mùi vị giác ngộ lần đầu, có thể gọi là »lần đầu thấy đạo.« Ngoài ra, việc quán công án cũng giúp thiền sinh phát triển và mở rộng kinh nghiệm giác ngộ cho đến lúc Ðại ngộ triệt để, được thầy Ấn khả.|Khi trắc nghiệm sự chứng ngộ của môn đệ đang trong lúc tu tập công án cấp cao, các vị Thiền sư thường đặt ra những câu hỏi đặc biệt, hỏi ngang dọc, hỏi về sự liên hệ của công án (thiền sinh đang quán) với giáo lí Ðại thừa, đặt những câu hỏi mới, khác biệt (雜則; tạp tắc; j: zassoku) song song với công án chính (本則; bản tắc; j: honsoku) và vì vậy, công án chính được sáng rọi cùng tận bằng nhiều cách khác nhau. Ðiều dĩ nhiên là thiền sinh không thể tham quán tất cả 1700 công án nhưng một số tương đối lớn được tham quán và thiền sinh được trắc nghiệm tường tận.|Trong tông Lâm Tế tại Nhật, các vị Thiền sư thường phân biệt năm loại công án:|1. Pháp thân công án (法身公案; j: hosshin-kō-an): chỉ các loại công án có thể giúp đỡ thiền sinh chỉ một bước một vượt thế giới nhị nguyên, lần đầu chứng ngộ trực tiếp Pháp thân (s: dharmakāya; j: hosshin), Phật tính (s: buddhatā; j: busshō), theo Tâm kinh thì gọi là »Sắc tức là Không.« Rất nhiều công án trong các tập danh tiếng được xếp vào loại này mà nổi danh nhất có lẽ là công án thứ nhất của tập Vô môn quan với tên »Con chó của Triệu Châu.«|2. Cơ quan công án (機關公案; j: kikan-kōan; ›cơ quan‹ ở đây có thể hiểu là bộ phận, dụng cụ): mục đích của các Pháp thân công án là thế giới bất phân biệt, nhưng thiền sinh chưa được dừng chân nơi đây. Cơ quan công án hướng dẫn thiền sinh đến một bước nữa, phân biệt trong thế giới không phân biệt, ngộ được lí »Không tức là Sắc.« Ðược xếp vào loại này là công án 17 và 37 của Vô môn quan.|3. Ngôn thuyên công án (言詮公案; j: gonsen-kōan): chỉ những công án mà thiền sinh phải tham quán ý nghĩa tột cùng của ngôn ngữ mà chư vị tiền bối sử dụng hoằng hoá (ngôn thuyên nghĩa là ngôn ngữ giải thích kĩ càng, trọn vẹn). Các vị Thiền sư sử dụng ngôn ngữ rất tài tình, đầy thi vị nhưng điểm đặc sắc nhất là các ngôn ngữ này không hề dừng bước chỉ trong khuôn khổ thẩm mĩ mà vượt qua cả nó, bao hàm ý nghĩa cùng tột, trực chỉ chân lí. Ðại diện cho loại công án này chính là Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ. Một số công án trong Vô môn quan cũng được xếp vào loại này (21, 24, 27, 30, 33, 34).|4. Nan thấu công án (難透公案; j: nantō-kōan): chỉ những công án khó (nan) lĩnh hội (thấu) vì những sự đối nghịch ngay trong trường hợp được trình bày. Các công án thuộc loại này giúp thiền sinh khinh an thấu rõ được sự vô ngại của sự vật, có thể nói theo giáo lí của Hoa nghiêm tông là Sự sự vô ngại (事事無礙). Chính sự chinh phục, thấu hiểu lí này là yếu tố của tâm tư khinh an, tự do tự tại mà các bậc giác ngộ thụ hưởng. Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc thường nhắc đến tám công án thuộc loại này mà trong đó ba công án nằm trong tập Vô môn quan, đó là tắc 13, 35, 38. Công án 38 như sau: »Ngũ Tổ Pháp Diễn hỏi chúng: Ví như con trâu đi qua khung cửa, đầu, sừng, bốn chân đều lọt, sao đuôi lại chẳng lọt được?«|5. Ngũ vị công án (五位公案; j: goi-kōan): chỉ các công án cuối cùng mà thiền sinh phải vượt qua. Các công án này có liên hệ trực tiếp với Ngũ vị quân thần (Ðộng Sơn ngũ vị) của vị Khai tổ tông Tào Ðộng là Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. Kinh nghiệm giác ngộ của thiền sinh – đạt được qua bốn loại công án trước – được thử thách lần cuối.|Là một phương tiện tối trọng để đạt giác ngộ, phép quán công án đòi hỏi ba yếu tố mà thiền sinh phải đạt được, đó là Ðại phấn chí, Ðại nghi đoàn và Ðại tín căn. Ðại tín ở đây được hiểu như là niềm tin tuyệt đối vào khả năng giác ngộ của chính mình, Ðại phấn chí là sự tinh tiến, kiên trì dũng mãnh. Ðại nghi đoàn ở đây không có nghĩa nghi ngờ bình thường mà chỉ trạng thái tập trung tư tưởng tuyệt đỉnh. Các điểm mâu thuẫn trong công án có nhiệm vụ gia tăng Ðại nghi đoàn này và Thiền sư Bạch Ẩn bảo rằng: »Ðại nghi – đại ngộ« (大疑大悟).|Trong lời bình của công án đầu tiên của Vô môn quan, Thiền sư Vô Môn Huệ Khai viết như sau: »… Hãy tận dụng ba trăm sáu mươi xương cốt, tám vạn bốn ngàn lỗ chân lông, vận dụng cả thân tâm trở thành một khối nghi, tham ngay chữ không, ngày đêm nghiền ngẫm… Bỏ hết những cái biết tệ hại trước kia, lâu ngày trở thành thuần thục, tự nhiên trong ngoài thành một khối, như kẻ câm nằm mộng chỉ một mình mình hay. Bỗng nhiên bộc phát, trời kinh đất chuyển, như đoạt được thanh đại đao của Quan Vũ, gặp Phật giết Phật, gặp Tổ giết Tổ, dửng dưng với bờ sinh tử, đạt đại tự tại, chu du trong Lục đạo, Tứ sinh…«.
Cộng cảnh 共境; C: gòngjìng; J: gukyō;|Cùng chung một cảnh giới (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Công đức 功德; C: gōngdé; J: kudoku; S: guṇa;|Có các nghĩa sau: 1. Đức hạnh ưu tú, công lao, đức hạnh, phẩm chất cao quý (s: guṇa), tích lũy được do làm các việc thiện; 2. Phúc lành, đức hạnh, điều tốt lành, việc thiện (s: punya); 3. Cái nhân của quả báo đầu thai vào các cõi giới lành (thiện thú); thiện căn; 4. Việc thiện, sự tu tập; 5. Năng lực to lớn; 6. Yếu tố cần thiết để chứng được quả vị Phật.
Công Ðức Hiền 功德賢; C: gōngdéxián; J: kudokuken; S: guṇa-bhadra; 394-468, dịch theo âm Hán Việt là Cầu-na Bạt-đà-la.|Dịch nghĩa tên của Đại sư Cầu-na Bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: guṇabhadra).
Công đức lực 功德力).; C: gōngdélì; J: kudokuriki;|Năng lực của công đức tích lũy qua tu đạo. Một trong Tam lực (三力).
Công đức trang nghiêm 功德莊嚴; C: gōngdé zhuāngyán; J: kudoku shōgon;|Sự trang nghiêm bằng công đức.
Công dụng 功用; C: gōngyòng; J: kuyō;|Có các nghĩa sau: 1. Sự nỗ lực; 2. Công năng của hành động, lời nói và việc làm (thân, khẩu, ý; s: vyāpāra); 3. Công năng, hoạt dụng, năng lực (s: sāmarthya); 4. Hiệu quả của sự tu tập.
Cộng kết 共結; C: gòngjié; J: guketsu;|Cùng vướng mắc phiền não với nhau; cùng một mối ràng buộc với nhau. Những mối ràng buộc trong vòng luân hồi mà nhiều loài chúng sinh cùng chia sẻ với nhau (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Công lực 功力; C: gōnglì; J: kuriki;|1. Sự có hiệu lực, hiệu quả, công lao (s: yatna); 2. Công đức, năng lực, nghị lực có được do kết quả tu đạo. Như Công đức lực (功徳力); 3. Sức lực, sức mạnh.
Công năng 功能; C: gōngnéng; J: kunō;|Có các nghĩa sau: 1. Sự có hiệu lực, tính có hiệu quả, sự tiện dụng (theo Ngũ giáo chương 五教章); 2. Năng lực tiềm ẩn, lực tiềm tàng (theo Tứ giáo nghi chú 四教儀註); 3. Năng lực vốn có (s: samartha, theo Câu-xá luận 倶舎論); 4. Kết quả (theo Câu-xá luận 倶舎論).
Cú 句; C: jù; J: ku; |Có hai nghĩa: 1. Một câu, bài kệ, một dòng; 2. Chỗ uốn cong, đường vòng, vòng quay.
Cụ duyên tông 具緣宗; S: prāsaṅgika, cũng được gọi là Ứng thành tông (應成宗); |Một trong hai nhánh của Trung quán tông.
Cụ giới địa 具戒地; C: jùjiè dì; J: gukaichi;|Giai vị tu tập đầy đủ các giới luật. Giai vị thứ hai trong Thập địa (十地). Còn gọi là li cấu địa (離垢地).
Cụ hữu 具有; C: jùyǒu; J: guu;|Vốn đã có đủ. Nguyên vẹn (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Cú nghĩa 句義; C: jùyì; J: kōgi; |Có hai nghĩa: 1. Theo hệ thống triết học của Thắng tông (勝宗 s: vaiśeṣika) thì có nghĩa là yếu tố căn bản, hay là thành phần của hiện thật (s: pada-artha); 2. Tên gọi, thuật ngữ, danh từ.
Cụ phần 具分; C: jùfēn; J: gubun;|Tràn khắp, bao trùm nhiều phần (s: vyāpin). Phản nghĩa với Nhất phần (一分; theo Biện trung biên luận 辯中邊論).
Cụ phọc 具縛; C: jùfú; J: gubaku;|Bị ràng buộc, bị trói buộc, vướng mắc trong phiền não (theo Nhị chướng nghĩa 二障義, Du-già luận 瑜伽論).
Cư sĩ 居士; S: gṛhapati, P: gahapati, dịch âm Hán Việt là Ca-la-việt;|Danh từ này có hai nghĩa: 1. Người dòng họ giàu sang; 2. Người tại gia mộ đạo. Phần lớn, danh từ Cư sĩ được hiểu dưới nghĩa thứ hai và đồng nghĩa với Cận sự nam (近事男; s, p: upāsaka), Cận sự nữ (近事女; s, p: u-pāsikā). Cư sĩ là một danh từ chỉ người theo đạo Phật nhưng vẫn giữ đời sống thế gian, đã quy y Tam bảo và giữ Năm giới. |Theo Tiểu thừa thì cư sĩ đạo Phật thông thường còn rất lâu mới đạt Niết-bàn vì họ không chịu từ bỏ dục lạc thế gian. Tuy nhiên nếu họ giữ hạnh Bố thí (dāna) thì Phúc đức (s: puṇya) có thể giúp họ tái sinh làm tăng sĩ và nhờ đó tu học đến cấp bậc A-la-hán và đạt Niết-bàn. Tiểu thừa xem cư sĩ là người phụng sự đạo pháp bằng cách cúng dường thực phẩm, quần áo, là người lo lắng cho đời sống của tăng, ni. Ðại thừa xem cư sĩ có vai trò quan trọng hơn, quan niệm rằng cư sĩ cũng có khả năng thành Phật như tất cả những ai. Nhiều Bồ Tát trong Ðại thừa ẩn dưới đời sống của một cư sĩ tại gia thông thường.|Tại Trung Quốc có giáo hội của cư sĩ và thường thường, các vị này lấy việc giữ năm giới làm nền tảng chung. Nếu vì lí do gì mà một hay nhiều giới bị vi phạm thì cư sĩ có quyền chỉ nguyện giữ những giới kia. Có người cho đốt ba hay nhiều chấm vào cánh tay để xác nhận mình là cư sĩ. Có nhiều cư sĩ nguyện giữ cả giới Bồ Tát.
Cú thân 句身; C: jùshēn; J: kushin; S: pada-kāya. |Một trong 24 Tâm bất tương ưng hành pháp theo giáo lí Duy thức tông. Sự hợp thành của 2 hay nhiều câu.
Cụ trần 具陳; C: jù chén; J: guchin;|Trình bày chi tiết.
Cụ túc 具足; C: jùzú; J: gusoku;|Có các nghĩa sau: 1. Được phú cho, được cung cấp đầy đủ, chuẩn bị đầy đủ, có, thừa hưởng (cụ bị; s: upeta, sampad); 2. Được trang bị đầy đủ, không thiếu thứ gì; 3. Hoàn thành, hoàn thiện (s: paripūrna); 4. Chi tiết, chăm sóc chu đáo, hoàn chỉnh; 5. Sự thụ nhận giới luật của người xuất gia; 6. Đồ dùng, công cụ, phương tiện sinh hoạt; 7. Giới Cụ túc (Tỉ-khâu) mà chư Tăng, Ni xuất gia thụ nhận. Cụ túc giới (具足戒).
Cực lạc 極樂; S: sukhāvatī; J: gokuraku; còn được gọi là An lạc quốc (安樂國);|Tên của Tây phương Tịnh độ, nơi đức A-di-đà cai trị. Tịnh độ này được Ngài tạo dựng lên bằng thiện nghiệp của mình và thường được nhắc đến trong các kinh Ðại thừa. Tịnh độ tông cho rằng, nhờ lòng tin kiên cố nơi Phật A-di-đà và kiên trì niệm danh hiệu của Ngài, hành giả sẽ được tái sinh nơi cõi này và hưởng một đời sống an lạc cho tới khi nhập Niết-bàn.|Tịnh độ này được nhắc nhiều trong các kinh A-di-đà (s: amitābha-sūtra), Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh (s: sukhāvatī-vyūha), Quán vô lượng thọ kinh (s: amitāyurdhyāna-sūtra). Ðối với quần chúng Phật tử và cũng theo kinh A-di-đà thì đây là một thế giới có nơi chốn hẳn hoi, nhưng trong một nghĩa sâu kín hơn thì đây là một dạng ưu việt của tâm thức.|Theo kinh sách, Cực lạc tịnh độ nằm ở phương Tây. Ðây là một nơi đầy ánh sáng rực rỡ do A-di-đà phát ra. Thế giới này tràn ngập mùi hương thơm, đầy hoa nhạc và châu báu. Ở đó không có súc sinh, địa ngục cũng như A-tu-la. Chúng sinh nhờ nguyện lực được sinh ở thế giới này sẽ thấy mình từ hoa sen sinh ra, mọi mong cầu sẽ được như ý, không còn già chết bệnh tật. Trong thế giới này, mọi chúng sinh đều cầu pháp và sẽ được nhập Niết-bàn. Nguồn hạnh phúc lớn nhất là được nghe A-di-đà giảng pháp, bên cạnh có hai vị Ðại Bồ Tát Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí.
Cực quang tịnh thiên 極光淨天; C: jíguāngjìng tiān; J: gokukōjō ten; S: ābhā-svarāḥ |Tầng trời thứ 3 trong Nhị thiền thiên (二禪天). Được xếp vào 1 trong 17 tầng trời cõi Sắc.
Cung (cúng) 供; C: gōng; J: ku.|Có các nghĩa sau: 1. Dâng tặng, dâng cúng, hiến dâng; 2. Trình dâng, phục tùng, đáp ứng; 3. Đi theo, hộ tống; 4. Sự dâng cúng; 5. Thị giả, người theo hầu, đoàn tùy tùng.
Cung cấp 供給; C: gōngjǐ; J: kukyū.|Cúng dường (供養; theo Pháp Hoa kinh 法華經)
Cung đạo 弓道; J: kyūdō;|Nghệ thuật bắn cung xuất phát từ Nhật Bản mang đậm tính chất Thiền, được nhiều người hâm mộ.
Cung dưỡng (cúng dường) 供養; C: gòngyăng; J: kuyō.|Còn gọi là Cung thí (供施) và Cung cấp (供給): 1. Cung dưỡng (s: pūjā). Việc dâng cúng thực phẩm, y phục… cho Đức Phật, chư Tăng, Giáo thụ sư, ông bà…; 2. Một nghi lễ đặc biệt cử hành để đánh dấu những việc như xây chùa, dựng tượng, hay hoàn thành việc in kinh (ấn tống).
Cung dưỡng chủ 供養主; C: gōngyăngzhǔ; J: kuyōshu.|Có các nghĩa: 1. Người đảm nhiệm việc dâng cúng; 2. Theo Phật giáo Hàn Quốc thì biểu thị này chỉ vị chịu trách nhiệm nấu ăn trong tu viện, là vị đầu bếp.
Cung thí 供施; C: gōngshī; J: kuse.|Có các nghĩa sau: 1. Dâng cúng; 2. Vị tăng đảm nhiệm việc cúng dường (s: yaṣṭṛ).
Cương 剛; C: gāng; J: gō;|1. Cứng, rắn, mạnh, cứng đầu, bền; 2. Phổ biến, phát triển mạnh; 3. Thật như vậy, đúng như, chính xác như; 4. Ngay bây giờ, mau chóng.
Cữu 咎; C: jiù; J: ku;|Có 2 nghĩa: 1. Thiếu sót, lỗi lầm, sai lầm, sai trái, sự phạm tội, tội lỗi (s: doṣa); 2. Khiển trách, chỉ trích, quở trách, trách móc, không thừa nhận.
Cửu cao 九皐; C: jiǔgāo; J: kyūgō;|Chín »Vũng lầy«: 1. Địa ngục, cõi tối tăm bên dưới; 2. Vùng đất ngập nước; đầm nước sâu, ẩn dụ chỉ một nơi xa xôi, tối tăm.
Cứu Chỉ 究旨; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 7. Sư nối pháp Thiền sư Ðịnh Hương.|Sư họ Ðàm, quê ở làng Phù Ðàm, phủ Chu Minh. Thuở nhỏ, Sư rất ham học, nghiên cứu tất cả các sách của Tam giáo (Khổng, Lão, Thích). Sư tự than: »Khổng Mặc câu chấp về lẽ ›Có‹, Lão Trang (Lão Tử, Trang Tử) đắm đuối vào lẽ ›Không‹. Chỉ có Phật giáo chẳng kể ›Có‹ hay ›Không‹, có thể liễu thoát sinh tử, nhưng phải siêng năng tu trì giữ Giới thanh tịnh và tìm Thiện tri thức ấn chứng mới được.« Sau đó, Sư xuất gia, tìm đến chùa Cảm Ứng ở Ấp Sơn xin làm đệ tử của Ðịnh Hương Trưởng lão.|Sư hỏi Ðịnh Hương: »Thế nào là nghĩa cứu kính?« Ðịnh Hương im lặng giây lát, hỏi lại Sư: »Hiểu chưa?« Sư thưa: »Chưa hiểu.« Ðịnh Hương bảo: »Ta đã cho ngươi nghĩa cứu kính.« Sư suy nghĩ, Ðịnh Hương bảo: »Lầm qua rồi!«. Ngay câu này, Sư triệt ngộ và nhân đây, Ðịnh Hương ban cho Sư hiệu Cứu Chỉ.|Sau, Sư lên chùa Quang Minh, núi Tiên Du tu hạnh Ðầu-đà, không hề bước chân xuống núi. Ðạo hạnh của Sư vang đến cả triều đình. Vua Lí Thái Tông mời vào cung giảng đạo mấy lần nhưng Sư đều từ chối và vì vậy vua phải đích thân đến đây ba lần thưa hỏi. Sau, Sư được mời đến chùa Diên Linh trụ trì.|Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), biết mình sắp tịch, Sư gọi dệ tử đến dạy: »Phàm tất cả các Pháp vốn từ tâm của các ngươi… Phiền não, trói buộc, tất cả đều không. Tội phúc phải quấy, tất cả đều huyễn. Không nên ở trong Nghiệp mà phân biệt báo, không nên ở trong báo mà phân biệt nghiệp, nếu có phân biệt thì chẳng được tự tại. Tuy thấy tất cả các pháp mà không có chỗ thấy, tuy biết tất cả các pháp mà không có chỗ biết. Biết tất cả các pháp lấy nhân duyên làm gốc… Rõ thấu chúng sinh chỉ là một pháp, không có hai pháp. Chẳng rời cảnh nghiệp mà Phương tiện khéo léo, ở trong cõi Hữu vi hiện bày pháp hữu vi mà không phân biệt. Tướng Vô vi là do hết dục, dứt Ngã, quên Niệm mà nhận lấy vậy.« Dạy xong, Sư nói kệ:|覺了身心本凝寂。神通變化現諸相|有爲無爲從此出。河沙世界不可量|雖然變滿虛空界。一一觀來沒形狀|千古萬古難比況。界界處處常朗朗|Giác liễu thân tâm bản ngưng tịch|Thần thông biến hoá hiện chư tướng|Hữu vi vô vi tòng thử xuất|Hà sa thế giới bất khả lượng|Tuy nhiên biến mãn hư không giới|Nhất nhất quan lai một hình trạng|Thiên cổ vạn cổ nan tỉ huống|Giới giới xứ xứ thường lãng lãng|*Giác ngộ thân tâm vốn lặng yên|Thần thông các tướng biến hiện tiền|Hữu vi vô vi từ đây có|Thế giới hà sa không thể lường|Tuy nhiên đầy khắp cõi hư không|Mỗi mỗi xem ra chẳng tướng hình|Muôn đời ngàn đời nào sánh được|Chốn chốn nơi nơi thường rạng ngời.|Nói kệ xong, Sư ngồi yên viên tịch.
Cửu chủng du-già 九種瑜伽; C: jiǔzhǒng yúqié; J: kushu yuga;|Cửu Du-già.
Cửu cư 九居; C: jiǔjū; J: kuko;|Gọi tắt của Cửu hữu tình cư (九有情居).
Cửu địa 九地; C: jiǔdì; J: kuji, kuchi;|Chín cấp bậc của sự hiện hữu. Sự phân chia sự sống của chúng sinh thành ba cõi Dục giới (欲界), Tứ thiền (Sắc giới) và Tứ vô sắc (Vô sắc giới). Dục giới tạo thành một địa, cõi Tứ thiền và Vô sắc giới mỗi cõi có 4 địa.
Cửu du-già 九瑜伽; C: jiǔ yúqié; J: ku yuga;|Chín loại Du-già (đạo): 1. Thế gian đạo (世間道); 2. Xuất thế đạo (出世道); 3. Phương tiện đạo (方便道); 4. Vô gián đạo (無間道); 5. Giải thoát đạo (解脱道); 6. Thắng tiến đạo (勝進道); 7. Nhuyễn phẩm đạo (軟品道); 8. Trung phẩm đạo (中品道); 9. Cửu thượng phẩm đạo (九上品道; theo Du-già luận 瑜伽論).
Cửu hữu tình cư 九有情居; C: jiǔ yǒuqíng jū; J: ku ujōko;|Chín nơi chúng sinh cư trú như đã được ghi trong Câu-xá luận (s: abhidharmakośa-bhā-ṣya). Như loài người cư trú nơi cõi Dục. Trong cõi Sắc, đó là các cõi trời Phạm chúng (衆), Cực quang tịnh (極光淨), Biến tịnh (遍淨), và 4 cõi trời Vô tưởng. Trong cõi Vô sắc giới, đó là Không vô biên xứ, Thức vô biên xứ, Vô sở hữu xứ và Phi tưởng phi phi tưởng xứ.
Cưu-lặc-na 鳩勒那; S: haklenayaśa;|Tổ thứ 23 của Thiền tông Ấn Ðộ
Cửu liên 九蓮; C: jiǔlián; J: kuren;|Viết tắt của Cửu phẩm liên đài (九品蓮臺), biểu tượng cho chín bậc mà hành giả Tịnh độ tông có thể đạt được khi vãng sinh.
Cưu-ma-la-đa 鳩摩邏多; S: kumāralāta;|Tổ thứ 19 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Cưu-ma-la-thập 鳩摩羅什; S: kumārajīva; dịch nghĩa là Ðồng Thọ ; 344-413;|Một dịch giả Phật học nổi tiếng, chuyên dịch kinh sách từ văn hệ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán. Cưu-ma-la-thập xuất phát từ một gia đình quý tộc tại Dao Tần (kucha), thuộc xứ Tân Cương ngày nay. Sư bắt đầu tu học Tiểu thừa (s: hīnayāna) nhưng về sau lại trở thành pháp khí Ðại thừa (s: mahāyāna). Năm 401 Sư đến Trường An và bắt đầu công trình dịch thuật với sự góp sức của hàng ngàn nhà sư. Năm 402, Sư được phong danh hiệu »Quốc sư«.|Những kinh sách quan trọng được Cưu-ma-la-thập dịch là: A-di-đà kinh (s: amitābha-sūtra, năm 402), Diệu pháp liên hoa kinh (s: saddharmapuṇḍarīka-sūtra, 406), Duy-ma-cật sở thuyết kinh (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra, 406), Bách luận (s: śataśāstra, 404) của Thánh Thiên (s: āryadeva) cũng như Trung quán luận tụng (s: madhyamaka-kārikā, 409), Ðại trí độ luận (s: mahāprajñā-pāramitā-śāstra, 412), Thập nhị môn luận (s: dvādaśadvāra-śāstra, 409) của Long Thụ (s: nāgārjuna), người thành lập tông Trung quán (s: mādhyamika). Nhờ ba công trình cuối kể trên Sư đã truyền bá giáo pháp của Trung quán tông rộng rãi tại Trung Quốc.|Mới lên bảy, Cưu-ma-la-thập đã cùng mẹ là một công chúa gia nhập Tăng-già. Hai mẹ con đến Kashmir và học giáo lí Tiểu thừa với các vị sư nổi tiếng nhất. Sau đó hai người lưu lại tại Kashgar một năm và Sư học thêm ngành thiên văn, toán và khoa học huyền bí. Cũng nơi đó, Sư bắt đầu tiếp xúc với Ðại thừa và sau đó chuyên tâm tìm hiểu giáo pháp này. Dần dần danh tiếng của Sư là luận sư xuất sắc lan xa, đến tới triều đình Trung Quốc. Năm 384 Sư bị bắt trong một cuộc chiến tranh tại Dao Tần (ku-cha) và bị một viên tướng Trung Quốc giam giữ 17 năm. Năm 402 Sư được thả về Trường An và được triều đình Trung Quốc ủng hộ trong công tác dịch kinh.|Công lớn của Sư trước hết là thay đổi phương pháp phiên dịch. Bản thân Sư nói được tiếng Trung Quốc và cộng sự viên cũng đều là người giỏi Phật giáo và Phạn ngữ (sanskrit). Cách dịch kinh của Sư như sau: giảng kinh hai lần bằng tiếng Trung Quốc, sau đó các tăng sĩ Trung Quốc thảo luận và viết lại bằng tiếng Hán. Sau đó Sư lại kiểm soát và so sánh nguyên bản cũng như bản dịch để ra bản chung quyết. Khác với các nhà dịch thuật khác tìm cách dịch từng chữ, Sư là người đưa được nội dung sâu xa của kinh sách vào chữ Hán và – nếu thấy cần thiết – cũng mạnh dạn cắt bỏ một vài đoạn kinh không hợp và biến đổi văn từ cho hợp với người Trung Quốc.
Cửu phẩm 九品; C: jiǔpǐn; J: kuhon;|Chín loại, chín bậc. Kinh điển Phật giáo thường định rõ các phạm trù như phiền não, vãng sinh, năng lực của chúng sinh thành chín bậc, gồm ba bậc thuộc thượng hạng, ba thuộc hạng trung và ba bậc thuộc hạng thấp (hạ), chung quy thành 9 bậc. |I. Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận và theo giáo lí Tịnh độ tông, chín phẩm là: 1. Thượng thượng; 2. Thượng trung; 3. Thượng hạ; 4. Trung thượng; 5. Trung trung; 6. Trung hạ; 7. Hạ thượng; 8. Hạ trung; 9. Hạ hạ. |II. Chín loại phiền não. Cửu phẩm hoặc.
Cửu phẩm hoặc 九品惑; C: jiǔpǐnhuò; J: kuhonwaku;|Chín loại phiền não; còn gọi là Cửu phẩm phiền não (九品煩惱). Là sự phân loại các căn bản phiền não tham (貪), sân (瞋), mạn (慢) và vô minh (無明) thành thô và tế tùy theo chín bậc. Những loại nầy lại được chia ra, phối hợp với 9 cõi trong tam giới (三界) lập thành tất cả 81 loại. (Theo Câu-xá luận 倶舎論)
Cửu phẩm liên đài 九品蓮臺; C: jiǔpǐn liántái; J: kuhon ren-dai;|Chín phẩm mà hành giả được vãng sinh ở Tịnh độ (淨土), trong 9 những toà sen được chia thành 9 bậc. Theo Quán Vô Lượng Thọ kinh (觀無量壽經), các bậc nầy được phân như sau: Thượng phẩm thượng sinh, Thượng phẩm trung sinh, Thượng phẩm hạ sinh, Trung phẩm thượng sinh, Trung phẩm trung sinh, Trung phẩm hạ sinh, Hạ phẩm thượng sinh, Hạ phẩm trung sinh và Hạ phẩm hạ sinh.
Cửu phẩm phiền não 九品煩惱; C: jiǔpǐn fánnăo; J: kuhon bon-nō;|Cửu phẩm hoặc.
Cửu Phong Ðạo Kiền 九峰道虔; C: jiǔfēng dàoqián, J: kyūhō dōken; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc dòng Thạch Ðầu Hi Thiên, môn đệ đắc pháp của Thạch Sương Khánh Chư và là thầy của Thiền sư Hoà Sơn Vô Ân.|Sư sinh ra trong một gia đình nhà Nho, sớm đã mộ đạo. Nơi Thạch Sương, Sư đạt yếu chỉ Thiền. Mức độ Sư thông đạt huyền chỉ của Thạch Sương thế nào được trình bày rõ trong câu chuyện sau:|Sư là thị giả của Thạch Sương. Khi Thạch Sương quy tịch, chúng tăng quyết định chọn vị Thủ toạ kế thừa trụ trì. Sư không đồng ý, đứng lên nói: »Trước hết chúng ta cần phải biết Thủ toạ có thật sự hiểu được ý của tiên sư không.« Vị Thủ toạ hỏi: »Ông muốn hỏi gì về giáo lí của thầy?« Sư liền hỏi: »Thầy bảo: ›Quên tất cả, đừng động gì, cố ngơi nghỉ hoàn toàn! Cố vượt qua mười ngàn năm trong một niệm! Cố trở thành tro lạnh và cây khô! Cố ở gần lư hương trong ngôi cổ tự! Cố trở nên một dải lụa trắng.‹ Tôi chẳng hỏi ông về phần đầu của lời dạy này mà chỉ hỏi về câu cuối ›Cố trở nên một dải lụa trắng‹, thế có nghĩa lí gì?« Thủ toạ đáp: »Ðó chỉ là một câu giải thích về vấn đề Nhất tướng.« Sư bèn nói: »Tôi biết ông không hề hiểu giáo lí của thầy.« Thủ toạ hỏi: »Ông không chấp nhận kiến giải nào của tôi? Bây giờ hãy đốt một nén hương. Nếu tôi không thể chết trước khi hương cháy hết thì tôi chấp nhận là không hiểu ý tiên sư nói gì.« Chúng bèn thắp hương và vị Thủ toạ ngồi thẳng như một cây gậy. Trước khi hương cháy hết, Thủ toạ đã mất. Sư bèn vỗ lưng tử thi, bảo: »Ông muốn ngồi hay đứng mà hoá cũng được, chỉ có ý nghĩa của những lời dạy của thầy ông vẫn chưa hiểu chút nào!« (Như Hạnh dịch).|Sau sự việc này, Sư đến núi Cửu Phong trụ trì. Không biết Sư tịch năm nào.
Cửu sơn 九山; C: jiǔshān; J: kyūsan; K: kusan.|I. Chín ngọn núi. Vốn là tên gọi Thiền tông Cao li trước đây khi sự ra đời của tông phái nầy gắn liền với 9 ngọn núi khác nhau. Đó là: 1. Ca Trí Sơn (迦智山; k: kaji-san), thành lập tại Bảo Lâm tự (寶林寺; k: porim sa), dưới sự ảnh hưởng của Đạo Nghĩa (道義; k: toǔi, ?-825) và đệ tử lớn của sư là Thể Trừng (體澄; k: ch'ejing, 804-890). Đạo Nghĩa tham học với Thiền sư Tây Đường Trí Tạng (西堂智藏; 735-814) và Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海; 749-814) ở Trung Hoa; 2. Thánh Trú sơn (聖住山; k: sǒngju san), được Vô Nhiễm (無染; k: muyǒm, 800-888) sáng lập. Sư được Ma Cốc Bảo Triệt (麻谷寶徹) ấn khả; 3. Thật Tướng sơn (實相山; k: silsang san), được Hồng Trắc (洪陟; k: hongch'ǒk, fl. 830) sáng lập. Sư cũng là môn đệ của Trí Tạng; 4. Hi Dương sơn (曦陽山; k: hǔiyang san): Do Pháp Lãng (法朗; k: pǒmnang) và Trí Săn Đạo Hiến (智詵道憲; k: chisǒn tohǒn; 824-882) sáng lập, sư được truyền thụ qua một Thiền sư trong dòng Mã Tổ; 5. Phụng Lâm sơn (鳳林山), do Viên Giám Huyền Dục (圓鑑玄昱; k: wǒngam hyǒn'uk, 787-869) sáng lập cùng với đệ tử của sư là Thẩm Hy (審希; k: simhǔi). Viên Giám Huyền Dục là môn đệ của Thiền sư Chương Kính Hoài Huy (章敬懷暉; 748-835); 6. Đồng Lí sơn (桐裡山), do Huệ Triệt (慧徹; k: hyech'ǒl, 785-861), môn đệ của Trí Tạng, sáng lập; 7. Xà-quật sơn (闍崛山; k: sagul san), sáng lập bởi Phạm Nhật (梵日; k: pǒmil, 810-889), sư tham học ở Trung Hoa với Thiền sư Diêm Quan Tề An (鹽官齊安) và Dược Sơn Duy Nghiễm (藥山惟嚴); 8. Sư Tử sơn (獅子山; k: saja san), do Đạo Doãn (道允; k: toyun, 797-868) sáng lập, sư dã từng tham học với Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願); 9. Tu-di sơn (須彌山; k: sumi-san), do Lợi Nghiêm (利嚴; k: iǒm, 869-936) sáng lập, tông nầy phát triển theo truyền thống tông Tào Động.|Từ Cửu sơn trong tiếng Cao li trở thành thuật ngữ chung để gọi »các tông phái Thiền«, và ý nghĩa này còn được duy trì cho đến ngày nay.|II. Tên của một vị Thiền sư đương thời, trú trì Tu viện Songgwangsa.
Cửu tập 久習; C: jiǔxí; J: kyūjū;|Hành giả lão luyện. Người tinh chuyên tu tập lâu năm và tích tập được nhiều công đức.
Cửu thập bát sử 九十八使; C: jiǔshíbāshǐ; J: kujūhasshi;|98 loại mê hoặc, thường được chia thành 88 Kiến hoặc (見惑) và 10 loại Tư hoặc (思惑). Chữ »sử« (使) đồng nghĩa với »nhiễm« (染) và »phiền não« (煩惱). Còn được gọi là »98 loại tùy miên« (Cửu thập bát tuỳ miên 九十八隨眠).
Cửu thập bát tuỳ miên 九十八隨眠; C: jiǔshíbā suímián; J: kujūhachi zuimin;|Cũng như Cửu thập bát sử.
Cửu thế 九世; C: jiǔshì; J: kuse;|Nghĩa là Chín đời, theo giáo lí của Hoa Nghiêm tông: 1. Quá khứ của quá khứ (過去過去); 2. Tương lai của quá khứ (過去未來); 3. Hiện tại của quá khứ (過去現在); 4. Quá khứ của tương lai (未來過去); 5. Hiện tại của tương lai (未來現在); 6. Tương lai của tương lai (未來未來); 7. Tương lai của hiện tại (現在未來); 8. Quá khứ của hiện tại (現在過去); 9. Hiện tại của hiện tại (現在現在; theo kinh Hoa Nghiêm)
Cửu thứ đệ định 九次第定; C: jiǔ cìdì dìng; J: kyūshidaijō;|Chín pháp tu thiền định theo tuần tự thứ lớp. Pháp thiền mà hành giả tiến hành theo thứ tự không gián đoạn từ Tứ thiền (四禪), Tứ vô sắc định (四無色定), đến Diệt tận định (滅盡定).
Cửu thức 九識; C: jiǔshì; J: kushiki;|Thức thứ chín, do Duy thức tông thêm vào trong hệ thống 8 thức. Theo tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai, thức nầy được gọi là Thanh tịnh thức (A-ma-la thức).
Cửu tướng 九相; C: jiǔxiāng; J: kusō;|Chín nghiệp tướng vô minh được đề cập trong Đại thừa khởi tín luận. Đó là Tam tế (三細) và Lục thô (六麁).
Cửu viễn 久遠; C: jiǔyuăn; J: kuon;|1. Thời gian rất lâu dài; 2. Thời quá khứ; 3. Thời cổ đại.
Đa Bảo 多寶; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ năm. Sư nối pháp Khuông Việt Thái sư. Môn đệ kế thừa xuất sắc của Sư là Ðịnh Hương Trưởng lão.|Không rõ Sư quê ở đâu, họ gì. Khi Khuông Việt khai đường giáo hoá tại chùa Khai Quốc, Sư đến tham học và được Khuông Việt khen và riêng cho vào thất chỉ dạy.|Sau khi đắc pháp, Sư chỉ ôm bình bát diêu du đây đó. Khi gặp Lí Thái Tổ lúc còn nhỏ, Sư sớm biết rằng ông sau này sẽ lên làm vua. Ðúng như lời tiên đoán của Sư, Thái Tổ lên ngôi và thường hay thỉnh Sư vào cung thưa hỏi yếu chỉ của Thiền tông. Vua cũng ra lệnh trùng tu chùa Kiến Sơ ở làng Phù Ðổng, nơi Sư trụ trì.|Không biết Sư tịch năm nào, nơi nào.
Da-du Ða-la 耶輸多羅; S: yaśodharā; P: yasodhāra;|Vợ của Tất-đạt-đa, đức Phật lịch sử và là mẹ của La-hầu-la.
Dã hồ thiền 野狐禪; J: yakōzen; nghĩa là »Thiền của loài chồn hoang«; |Chỉ loại thiền của những người chưa Kiến tính mà đi lừa người, chỉ biết bắt chước làm và thuyết giảng chân lí mà chính mình chưa trực nhận. Người Trung Quốc tin rằng, chồn là một con thú được dùng để cưỡi của loài yêu tinh và chính nó cũng là con tinh, có khả năng biến thành nhân dạng để mê hoặc người.
Đa-hu-pi-la S: dhahulipa hoặc dhaguli, dhahuri, dharuri; »Người thắt dây phồng tay«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ða-hu-li-pa người xứ Ðô-ka-ra (s: dhokara), làm nghề bện dây. Ngày nọ ông bện dây quá nhiều, tay ông phồng lên, đau nhức vô kể. Tình cờ một Du-già sư (s: yogin) đi qua, dừng lại hỏi han ông. Vị này nói ông nếu chỉ như thế mà đã than khóc thì sẽ khổ não thế nào nếu phải tái sinh trong ác đạo. Nghe xong, ông lấy làm sợ hãi, xin tu tập đạo pháp. Vị Du-già sư cho ông nhập môn, ban phúc lành rồi dạy ông quán tưởng như sau:|Trước mặt sợi dây thừng,|cùng hình ảnh chiếc dây,|cả hai – ngươi thử nghĩ,|nằm trong Không vô biên.|Sau đó gắng tinh cần,|quán tưởng không giao động,|về một thể uyên nguyên,|không hề có Tự ngã.|Người bện dây nghe lời, quán tưởng liên tục 12 năm. Ông bỗng ngộ rằng cái gọi là »dây« không có tự ngã gì cả, nó chỉ là một hiện tượng cảm thụ tương đối; và thật thể của cảm thụ này bao trùm như không gian rộng lớn thanh tịnh. Ông chứng rằng hiện tượng và khái niệm về hiện tượng chỉ là một, nó nằm trong Pháp giới (s: dharmadhātu) và ông đạt quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmu-drāsiddhi). Ông sống thêm 700 năm nữa để giáo hoá. Bài thánh ca của ông như sau:|Không gian phi nhị nguyên,|chứa đựng đầy tri kiến,|»hai trở về thành một«|cố tìm thì không ra.|Hãy để tâm vô vi,|trong dạng định tĩnh đó,|Lạc thanh tịnh sẽ lên.||H 23: Ða-la. Trong hình này, Ða-la được trình bày với hai hoa sen, nở búp và xoè. Có sách giảng nghĩa là sen nở búp chỉ ban đêm và xoè là ban ngày và như vậy, Ða-la sẵn lòng cứu độ chúng sinh không kể ngày hay đêm.
Đa-la 多羅; S: tārā; cũng được dịch nghĩa là Ðộ mẫu (度母), Duyên độ mẫu (緣度母);|Theo Phật giáo Tây Tạng, Ða-la là một hiện thân của Bồ Tát Quán Thế Âm, sinh ra từ »nước mắt« của Ngài để hỗ trợ chính pháp.|Ða-la là hiện thân dạng nữ nhân của lòng Từ bi và là một vị thần rất được Tây Tạng tôn thờ. A-đề-sa là người đầu tiên thờ nữ thần Ða-la trong thế kỉ thứ 11 và kể từ đó nữ thần này trở thành một Hộ Thần (t: yidam) của nhiều người Tây Tạng. Có đến 21 dạng Ða-la, khác nhau về màu sắc, hình dáng, trang sức, hiện ra trong dạng hiền từ hoặc dữ tợn. Màu sắc thông thường hay thấy của Ða-la là màu lục và trắng. Hai phu nhân của vua Tùng-tán Cương-bố (t: songtsen gampo) trong thế kỉ thứ 7 được xem là hiện thân của hai vị này.
Đà-la-ni 陀羅呢; S: dhāraṇī; cũng được gọi theo nghĩa là Tổng trì (總持), có nghĩa là »thâu nhiếp tất cả«; |Câu kinh ngắn mang sức mạnh siêu nhiên. Ðà-la-ni có thể là đoạn kết một bộ kinh, cũng có thể đại điện một trạng thái tâm thức để khi hành giả niệm đến, có thể đạt đến tâm thức đó. Thông thường Ðà-la-ni dài hơn Man-tra.
Đa-ri-ka-pa S: dārikapa; »Vương giả, nô lệ của kĩ nữ«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của Lu-i-pa (s: lūipa), sống trong thế kỉ thứ 9. Chuyện này thường được kể chung với chuyện Ðen-gi-pa (s: deṅgipa).|Ða-ri-ka-pa vốn là nhà vua In-đra-pa-la (s: in-drapāla) của thành Hoa Thị (s: pāṭaliputra). Lần nọ, nhà vua đi săn về thì gặp Ðạo sư Lu-i-pa, ông tỏ lòng quý trọng, muốn mời vị này về hoàng cung, nhưng Lu-i-pa từ chối. Sau đó ông quyết tâm học đạo, nhường ngôi cho con và cùng Ðen-gi-pa (s: deṅgipa) tìm Lu-i-pa. Lu-i-pa cho ông nhập dòng Ca-kra-sam-vara tantra, nhưng vì cả hai không có gì để cúng dường, họ tình nguyện dâng thân mình. Lu-i-pa đem cả hai đến xứ Bi-ra-pu-ri (s: bhirapu-rī) thành Jan-ti-pur (s: jaṅtipur) và bán ông cho nàng Ða-ri-ma (s: darima), kĩ nữ chúa của một ngôi đền tại đó. Lu-i-pa nhận tiền, cùng Ðen-gi-pa đi mất.|Ông phục vụ cho Ða-ri-ma suốt 12 năm nhưng luôn luôn tu học theo lời dạy của Ðạo sư. Ngày nọ có một khách làng chơi – cũng là một nhà vua – đến chơi đền. Trong đêm, khách ra ngoài bài tiết thì thấy trong một bụi cây có hào quang toả ra. Khách ngạc nhiên thấy tên nô lệ của Ða-ri-ma ngồi trên ngai, được 15 tiên nữ hầu hạ. Khách liền gọi Ða-ri-ma, mọi người lúc đó mới biết tên nô lệ là một thánh nhân. Ða-ri-ma tạ lỗi, xin ông nhận lời làm Du-già sư trong đền, nhưng ông từ chối; ngược lại ông nhận Ða-ri-ma và khách làm đệ tử. Ông ngồi trên không trung hát:|Tài sản của vua chúa,|kể cả lọng, voi, ngai,|nhạt mờ bên cạnh ta.|Lọng giải thoát che đầu,|ta cưỡi xe đại thừa,|ngồi trên ngai ba cõi:|niềm vui Ða-ri-ka.|Bài kệ chứng đạo của ông có những dòng sau:|Cõi Cực lạc trong ta,|vì mê vọng che khuất.|Hãy vun bồi thiện nghiệp,|và huệ giác huyền bí,|để trực nhận cõi này.|Dù cho sống trăm năm,|dù cho cố vun bồi,|thiện nghiệp và huệ giác,|mà không có Ðạo sư,|cũng không đạt Cực lạc.
Dạ-xoa 夜叉; S: yakṣa; P: yakkha; cũng được gọi là Dược-xoa|Là một loại thần. Kinh sách có khi nhắc nhở đến loài này, gồm hai loại chính: 1. Loài thần, có nhiều năng lực gần giống như chư thiên; 2. Một loài ma quỷ hay phá các người tu hành bằng cách gây tiếng động ồn ào trong lúc họ thiền định.
Đại bát-niết-bàn kinh 1.大般涅槃經; S: mahāparinirvāṇa-sūtra; J: daihatsu nehangyō;|Một bộ kinh Ðại thừa viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), gồm nhiều tập, đã được dịch ra chữ Hán. Kinh này nói về Phật tính, là thể tính tồn tại trong tất cả chúng sinh (Hữu tình). Ngoài ra, kinh này cũng giảng các đề tài quan trọng khác của Phật giáo Ðại thừa. Trong cách phân chia của Tam tạng Trung Quốc thì kinh này được xếp vào hệ kinh Phương đẳng (s: vaipulya-sūtra). Ðừng nhầm lẫn với Ðại bát-niết-bàn kinh (p: mahā-parinibbāna-sutta), viết bằng văn hệ Pā-li, nói về những năm cuối cùng của đức Phật và lúc Ngài nhập diệt.|2.大般涅槃經; P: mahāparinibbāna-sutta;|Một bài kinh nằm trong Trường bộ kinh. Kinh này được viết bằng văn hệ Pā-li, trình bày những năm cuối cùng của đức Phật, về thời điểm nhập Niết-bàn của Ngài cũng như việc hoả thiêu xác thân và việc phân chia Xá-lị. Kinh này được nhiều tác giả tham gia ghi lại khoảng 480 trước Công nguyên. Ðừng nhầm lẫn với Ðại bát-niết-bàn kinh (mahā-parinirvāṇa-sūtra), viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), nói về Phật tính.
Đại bồ-đề 大菩提; S, P: mahābodhi;|Giác ngộ vô thượng, không có gì vượt qua nổi.
Đại Châu Huệ Hải 大珠慧海; C: dàzhū huìhăi; J: daishū ekai; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Mã Tổ Ðạo Nhất. Sư có để lại hai bộ sách quý là Ðại Châu ngữ lục và Ðốn ngộ nhập đạo yếu môn luận.|Sư họ Châu, quê ở Kiến Châu, theo Hoà thượng Ðạo Trí chùa Ðại Vân ở Việt Châu xuất gia. Nhân có người chỉ dẫn, Sư đến yết kiến Mã Tổ.|Mã Tổ gặp Sư hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ chùa Ðại Vân ở Việt Châu đến.« Mã Tổ hỏi: »Ðến đây cầu việc gì?« Sư thưa: »Ðến cầu Phật pháp.« Mã Tổ bảo: »Kho báu nhà mình mà chẳng đoái hoài, lại bỏ nhà đi xa, tìm cái gì? Ta trong ấy không có một vật, cầu Phật pháp cái gì?« Sư hỏi: »Thầy nói gì là kho báu của Huệ Hải?« Mã Tổ bảo: »Chính nay ngươi hỏi ta, là kho báu của ngươi, đầy đủ tất cả không thiếu thốn, tự do sử dụng, đâu nhờ tìm cầu bên ngoài!« Nhân câu nói này, Sư thông suốt, tự nhận bản tâm không do hiểu biết.|Sau khi ở lại hầu Mã Tổ sáu năm, Sư trở về Việt Châu phụng dưỡng bản sư. Sư ẩn dấu chỗ ngộ đạo thâm sâu của mình và soạn quyển Ðốn ngộ nhập đạo yếu môn luận. Quyển này bị một người lén đem đến trình Mã Tổ. Xem xong, Mã Tổ bảo chúng: »Ðại chúng! ở Việt Châu có Ðại Châu tròn sáng thấu suốt tự tại vô ngại!« Nghe vậy, chúng rủ nhau đến Sư tham vấn đạo và Sư từ đây mang danh hiệu Ðại Châu.|Sư bảo các vị đến tham vấn: »Thiền khách! Tôi chẳng hội Thiền, trọn không có một pháp có thể chỉ dạy người, không phiền các vị đứng lâu, hãy tự đi nghỉ.« Tuy vậy mà học chúng ngày càng đến đông, Sư tuỳ câu hỏi mà trả lời, biện tài không ngại.|Một Cư sĩ đến hỏi: »Tức tâm tức Phật, cái gì là Phật?« Sư bảo: »Ông nghi cái gì không phải là Phật chỉ ra xem?« Cư sĩ lặng thinh. Sư bảo: »Ðạt thì khắp cảnh là Phật, chẳng ngộ thì còn khác xa.«|Một vị khách hỏi: »Ba giáo Nho, Lão, Thích là giống nhau hay khác nhau?« Sư đáp: »Ðược bậc cao minh rộng lòng sử dụng thì cả ba được như nhau, còn theo kẻ hẹp lòng cố chấp, thì khác nhau ba lối. Thật ra, tất cả đều do một tính khởi dụng mà ra, nhưng vì căn cơ nhỏ hẹp mà thấy thành ba. Mê hay ngộ là do người, chứ chẳng phải vì giáo lí giống hay khác nhau.«|Một Luật sư đến hỏi: »Thầy tu có dụng công không?« Sư đáp: »Có.« Vị này hỏi: »Dụng công thế nào?« Sư đáp: »Ðói thì ăn, mệt thì ngủ.« Luật sư hỏi: »Dụng công như thế thì cũng như người thế tục sao?« Sư đáp: »Chẳng như vậy.« Vị này hỏi tiếp: »Vì sao chẳng như vậy?« Sư trả lời: »Khi ăn, họ chẳng chịu ăn mà nghĩ đến trăm thứ nhu cầu, khi ngủ họ chẳng chịu ngủ mà tính toán ngàn việc.« Luật sư nghe rồi lặng thinh.|Một Pháp sư thuộc tông Duy thức – nhưng có một quan niệm sai lệch về Duy thức, quá chấp Hữu – đến tham vấn và được Sư dùng lí Không (s: śūnyatā) tuyệt đối chỉnh lại. Ông ta hỏi: »Thiền sư dùng tâm gì tu đạo?« Sư trả lời: »Không có tâm nào để dùng, cũng chẳng có đạo nào để tu.« Pháp sư hỏi: »Nếu nói không có tâm nào để dùng, chẳng có đạo nào để tu thì sao hằng ngày vẫn hội họp khuyên kẻ khác tập thiền tu đạo?« Sư đáp: »Lão tăng chẳng có một miếng đất cắm dùi, thì chỗ nào để họp người? Lão tăng cũng chẳng miệng lưỡi thì làm sao khuyên dạy người được?« Pháp sư liền nói: »Thiền sư trước mặt còn nói dối!« Sư bảo: »Lão tăng không miệng lưỡi khuyên người, thì đâu thể nói dối!« Pháp sư nói: »Thật không hiểu nổi cách nói chuyện của Thiền sư!« Sư nói: »Lão tăng tự mình cũng chẳng hiểu!«|Không biết Sư tịch nơi nào.
Đại Chiêu 大昭; T: jo-khan;|Tên của một ngôi chùa ở trung tâm La-sa (t: lhasa), do công chúa Văn Thành thiết kế và công chúa Trì Tôn (s: bhṛkuṭi, âm là Ba-lị-khố-cơ), con của một thứ phi người Nepal và vua Khí-tông Lộng-tán xây dựng đời Ðường. Chùa này có chứa một tượng Phật Thích-ca Mâu-ni bằng vàng.
Đại chính tân tu đại tạng kinh 大正新修大藏經; J: taishō shinshū daizō-kyō;|Bản in hiện đại của Tam tạng (s: tripiṭaka) Trung Quốc, được một nhóm học giả người Nhật biên tập và xuất bản từ năm 1924-1934. Ðại tạng này bao gồm 3360 Kinh và những bài luận văn khác.|Phần chính của Ðại tạng này bao gồm 55 tập, trong đó 21 tập thuộc về Kinh (s: sūtra), 3 tập thuộc về Luật (s, p: vinaya), 8 tập thuộc A-tì-đạt-ma (s: abhidharma), 4 tập nói về các tông phái của Trung Quốc và Nhật, 7 tập nói về lịch sử, tiểu sử, mục lục. Ngoài 55 tập chính nêu trên còn có 30 tập với 736 tác phẩm của người Nhật và 15 tập Ðồ tượng.
Đại chúng bộ 大眾部; S: mahāsāṅghika;|Chỉ phái »đại chúng«, phần lớn, đa số của Tăng-già; một trong hai trường phái Tiểu thừa, được tách ra trong hội nghị Kết tập lần thứ ba tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Trong hội nghị này, nhóm Ðại chúng bộ có năm quan điểm riêng về tính chất của A-la-hán. Theo thời gian, Ðại chúng bộ lại tách ra thành Nhất thuyết bộ (s: ekavyāhārika) và Khôi sơn trụ bộ (s: gokulika). Từ Nhất thuyết bộ lại xuất phát Thuyết xuất thế bộ (s: lokottaravāda) và từ bộ phái kia lại sinh ra Ða văn bộ (s: bahuśrutīya), Thuyết giả bộ (s: prajñaptivāda) và Chế đa sơn bộ (s: cai-tika).|Quan điểm của Ðại chúng bộ được xem là tiền thân của giáo pháp Ðại thừa sau này. Người ta đã tìm thấy nơi Ðại chúng bộ quan điểm cho rằng, tất cả đều chỉ là giả danh, cái tuyệt đối cũng như tương đối, Niết-bàn hay Luân hồi, thế gian hay Xuất thế gian. Tất cả những danh tự đó không hề có một thật chất trường tồn. Thời đó, quan điểm này đã ngược hẳn giáo lí của Trưởng lão bộ (s: sthavira; p: thera-vāda).|Các vị thuộc Ðại chúng bộ xem đức Phật là con người siêu thế, với thân tâm hoàn toàn thanh tịnh. Ðó là khái niệm đầu tiên dẫn đến quan điểm »Phật siêu việt« sau này của Ðại thừa Phật Giáo. Ðại chúng bộ xem đức Phật là sống vô tận, đã đạt Nhất thiết trí, toàn năng, thể nhập đại định vĩnh cửu. Các vị này cũng tin rằng Bồ Tát có thể chủ động tái sinh vào cảnh khổ, thí dụ để xoa dịu đau khổ của chúng sinh trong địa ngục, để giảng pháp và để nuôi thiện nghiệp cho các chúng sinh đó.
Đại cứu kính 大究竟; T: dzogchen [rdzogs-chen]; S: atiyoga; cũng gọi là Ðại viên mãn (大圓滿), Ðại thành tựu (大成就); |Giáo pháp chủ yếu của tông Ninh-mã (t: nyingmapa) trong Phật giáo Tây Tạng. Giáo pháp này được xem là Mật giáo cao nhất do đức Thích-ca Mâu-ni chân truyền. Giáo pháp này được gọi là »Ðại cứu kính« vì nó cùng tột, không cần bất cứ một phương tiện nào khác. Theo giáo pháp này, tâm thức luôn luôn thanh tịnh, hành giả chỉ cần trực nhận điều đó. Theo truyền thuyết, Ðại cứu kính được Liên Hoa Sinh (s: pad-masambhava) và Tì-ma-la Mật-đa (s: vimala-mitra) đưa vào Tây Tạng trong thế kỉ thứ 8 và sau đó được Long-chen-pa tổng kết trong thế kỉ thứ 14. Cuối cùng, tông phái này được Jig-me Ling-pa (1730-1798) kết tập và truyền đến ngày nay.|Giáo pháp Ðại cứu kính xuất phát từ Bản sơ Phật Phổ Hiền, từ Pháp thân (Ba thân) siêu việt thời gian và không gian. Pháp thân truyền trực tiếp cho Báo thân là Kim Cương Tát-đoá (s: vajrasattva), truyền đến Ứng thân là Ga-rab Dor-je (sinh năm 55 sau Công nguyên). Garab Dor-je truyền lại giáo pháp này cho đệ tử là Diệu Ðức Hữu (s: mañjuśrīmitra) với hơn 6 triệu câu kệ. Vị đệ tử này chia các câu kệ này làm 3 phần: Semde (tâm thức), Longde (hư không) và Mengagde (khai thị). Học trò của Diệu Ðức Hữu là Cát Tường Sư Tử (s: śrīsiṃha) hoàn chỉnh thêm phần khai thị và giao cho Kì-na Tu-đa-la (s: jñānasūtra) và Tì-ma-la Mật-đa (Tịnh Hữu). Sau đó Tì-ma-la Mật-đa đưa giáo pháp này qua Tây Tạng.|Một dòng khác của giáo pháp này được Liên Hoa Sinh Ðại sư phát triển hơn nữa. Sư là người được các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) truyền pháp Ðại cứu kính. Giáo pháp này xuất phát từ nhận thức, thể của tâm thức vốn thanh tịnh, không ô nhiễm, nhưng vì con người không nhận ra điều đó nên cứ mãi trầm luân trong sinh tử. Một phương cách đột phá được vòng sinh tử này là nhận cho được tâm thức »trần trụi« »tự nhiên« là thể tính của mọi hoạt động tâm lí. Sư trình bày cánh cửa dẫn đến »Tri kiến uyên nguyên«, là sự thống nhất giữa tính Không (s: śūnyatā) và Cực quang (s: ābhāsvara; e: clear light; ánh sáng rực rỡ). Bên cạnh các cách thể nhận Không, còn có cách dựa vào ánh sáng của tri kiến uyên nguyên mà giác ngộ. Ðây chính là cơ sở của các lời khai thị trong Tử thư, một trong những luận giải quan trọng của Phật giáo Tây Tạng.|Một phép tu khác là thực hiện được sự tan rã của tứ đại đã tạo thành thân thể không để lại dấu vết (biến mất), đạt được »thân cầu vồng« (s: indracā-pakāya).
Đại Điên Bảo Thông 大顛寶通; C: dàdiān bǎotōng; J: daiten hōtsū; ?-819;|Thiền sư Trung Quốc. Sư đắc pháp nơi Thạch Ðầu Hi Thiên. Trong các đệ tử nối Pháp của Sư có Thiền sư Tam Bình Nghĩa Trung hay được nhắc đến.|Sư họ Dương, người Dĩnh Châu. Ban đầu, Sư đến tham vấn Thạch Ðầu, Thạch Ðầu hỏi: »Cái gì là tâm ngươi?« Sư thưa: »Nói năng là tâm.« Nghe vậy Thạch Ðầu đuổi ra. Hơn một tuần sau, Sư lại đến hỏi: »Trước đó chẳng phải, ngoại trừ cái này, cái gì là tâm?« Thạch Ðầu bảo: »Trừ bỏ nhướng mày chớp mắt, đem tâm lại!« Sư đáp: »Không tâm có thể đem lại.« Thạch Ðầu lại hỏi: »Nguyên lai có tâm sao nói không tâm? Không tâm trọn đồng với hư vô.« Ngay câu nói này, Sư đại ngộ.|Sau, Sư từ biệt Thạch Ðầu đến Linh Sơn, Triều Châu ở ẩn. Học chúng quy tụ về vẫn khá đông. Sư thường dạy chúng: »Chỉ trừ bỏ tất cả những vọng động tưởng niệm xét lường, tức chân tâm của ngươi. Tâm này cùng trần cảnh và khi kiềm giữ lặng lẽ hoàn toàn không dính chấp. Tức tâm là Phật không đợi tu sửa…«|Có vị tăng hỏi: »Trong kia, khi người thấy nhau thì thế nào?« Sư đáp: »Trước chẳng có trong kia.« Tăng lại hỏi: »Trong kia thế nào« Sư đáp: »Chẳng hỏi câu ấy.«|Không biết Sư tịch nơi nào.
Đại Đức tự 大德寺; J: daitoku-ji;|Một ngôi chùa nổi danh thuộc tông Lâm Tế tại Nhật Bản. Chùa này được Thiền sư Tông Phong Diệu Siêu (j: shūhō myōchō) sáng lập.|Năm 1315, Thiền sư Diệu Siêu tự lập cho mình một cái am nhỏ mang tên Ðại Ðức, nằm ở hướng Tây bắc của Kinh Ðô (j: kyōto). Sau một thời gian, danh tiếng của Sư lan truyền khắp nơi và Hậu Ðề Hồ (j: go-daigo) Thiên hoàng mời Sư vào cung tham hỏi Phật pháp. Nhân dịp này, Sư được Thiên hoàng ban cho một khoảnh đất rất lớn để xây dựng một ngôi chùa to (1324). Dưới sự hướng dẫn của một vị tăng thuộc tông Thiên Thai, công trình xây dựng ngôi chùa lớn này được xúc tiến. Tháng ba năm 1327, ngôi chùa này – mang tên am cũ của Sư là Ðại Ðức – được khánh thành dưới sự hiện diện của hai Thiên hoàng, Cựu Thiên hoàng Hoa Viên (j: hanazono) và Thiên hoàng Hậu Ðề Hồ.|Ngay từ sau khi thành lập, chùa Ðại Ðức là một trung tâm văn hoá quan trọng của Nhật. Với thời gian, ngôi chùa này trở thành một công trình với nhiều chùa nhỏ xung quanh với những vị trụ trì riêng biệt. Một hệ phái thiền quan trọng cũng mang tên của ngôi chùa này, đó là Ðại Ðức tự phái (j: daitokuji-ha).
Đại Hòa thượng 大和尚; J: daiōshō;|Hoà thượng
Đại Huệ Tông Cảo 大慧宗杲; C: dàhuì-zōnggǎo; J: daie sōkō; 1089-1163;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc phái Dương Kì tông Lâm Tế. Sư là đệ tử giỏi nhất của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần (Phật Quả). Tên của Sư hay được nhắc nhở đến cùng với việc đốt tập Công án lừng danh Bích nham lục. Sư rất đề cao việc sử dụng công án làm phương tiện giác ngộ và những cuộc tranh luận của Sư với Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác về Khán thoại thiền (Lâm Tế) và Mặc chiếu thiền (Tào Ðộng) nêu rõ lập trường của hai tông này. Sư thường khuyến khích môn đệ tập trung tất cả năng lực vào những công án để giải, nhưng tuyệt đối không được dùng lí trí phân biệt phải trái. Từ đây công án trở thành một thành phần quan trọng trong việc tu tập của dòng Lâm Tế, được truyền đến ngày nay tại Nhật Bản.|Sư họ Hề quê ở Ninh Quốc Tuyên Châu, xuất gia năm mười ba tuổi và thụ giới cụ túc năm 17 tuổi. Mặc dù tuổi còn nhỏ nhưng Sư đã nghiên cứu xem rất nhiều Ngữ lục và rất thích những lời dạy của các vị tôn túc như Vân Môn, Mục Châu. Nhân lúc đọc các thiền ngữ này Sư nảy sinh lòng thắc mắc vì sao ban đầu chỉ có một vị Tổ Bồ-đề Ðạt-ma mà sau lại phát sinh ra nhiều tông phái khác nhau. Nghe lời cha mẹ khuyên, Sư cất bước du phương.|Sư tham vấn rất nhiều vị Thiền sư danh tiếng đương thời. Nhân dịp đến Thiền sư Lặc Ðàm Văn Chuẩn, Sư trổ tài hùng biện, Thiền sư Văn Chuẩn rất phục nhưng lại bảo rằng: »Ông chỉ thiếu một tiếng ›Ồ‹. Nếu chẳng được tiếng ›Ồ‹ này thì khi nói chuyện trong phòng ta thì có Thiền, khi ra khỏi thì hết, khi thức tỉnh thì có thiền, vừa nằm ngủ liền hết. Nếu như thế thì làm sao đối địch được sinh tử?« Thiền sư Văn Chuẩn khuyên Sư đến yết kiến Viên Ngộ và nghiên cứu kĩ Ðại tạng kinh.|Ðến Viên Ngộ nhập viện, Sư sớm chiều thưa thỉnh nhưng sau một năm Sư vẫn chưa sáng được việc mình. Một hôm, nhân lúc Viên Ngộ nhắc lời dạy của Vân Môn: »Tăng hỏi Vân Môn: ›Thế nào là chỗ chư Phật xuất thân?‹. Vân Môn đáp: ›Ngọn Ðông sơn đi trên nước. Nếu là Thiên Ninh thì không như thế.‹ Nếu có người hỏi ›thế nào là chỗ chư Phật xuất thân‹ chỉ nói với y rằng gió nhẹ từ phương Nam đến thì điện các sinh mát mẻ.« Sư nghe câu này hoát nhiên tỉnh ngộ, trình bày sở đắc nhưng Viên Ngộ chưa hoàn toàn công nhận. Sư tự than là »đạo lí của Viên Ngộ giống như con chó nhìn chảo mỡ nóng, liếm cũng không được mà bỏ thì không đành.« Viên Ngộ nhắc lại giai thoại của mình nơi Ngũ Tổ Pháp Diễn: »Ta hỏi ›Câu có câu không như bìm nương cây, là thế nào?‹ Ngũ Tổ bảo: ›Tả cũng tả chẳng thành, vẽ cũng vẽ chẳng được.‹ Ta lại hỏi: ›Chợt gặp cây ngã bìm khô thì thế nào?‹ Ngũ Tổ bảo: ›Theo nhau lại vậy.‹« Sư nhân nghe đây triệt ngộ và sau khi được Viên Ngộ trắc nghiệm, Sư được Ấn khả. Viên Ngộ khen: »Cảo chẳng phải một đời hai đời làm Thiện tri thức lại.«|Sau Sư trụ trì ở Kính Sơn phủ Lâm An, môn đệ tấp nập có đến cả ngàn người. Cách giáo hoá của Sư như vũ bão, có thể gọi là tiêu biểu cho tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì sau này.|Một vị tăng vừa vào cửa, Sư bảo: »Chẳng phải, đi ra!« Vị tăng liền ra, Sư bảo: »Không lường đại nhân, bị trong ngữ mạch chuyển.«|Kế một vị tăng vào, Sư bảo: »Chẳng phải, đi ra!« Vị tăng đến gần, Sư bảo: »Ðã nói với ông chẳng phải, lại đến gần tìm cái gì!« và đánh đuổi ra.|Lại một vị tăng vào nói: »Hai vị tăng vừa rồi không hiểu ý Hoà thượng.« Sư liền cúi đầu »Hư!« một tiếng. Vị tăng này mù mịt không biết thế nào, Sư liền đánh đuổi ra và nói: »Lại là ông hiểu ý Lão tăng!«|Lại một vị tăng vào. Sư hỏi: »Vừa rồi có hai vị Thượng toạ một người biết nắm chẳng biết buông, một người biết buông mà chẳng biết nắm, ông lại biện được chăng?« Tăng thưa: »Tất cả lĩnh thụ rồi.« Sư bảo: »Sau khi lĩnh thụ rồi có tin tức tốt nào khác chăng?« Vị tăng vỗ tay một cái liền ra. Sư bảo: »Sau ba mươi năm ngộ đi vậy.«|Vì Sư giáo hoá quan Thị Lang Trương Cửu Thành, bị Tần Cối gán tội là bè đảng với họ Trương nên bị đày ra Hành Châu mười năm, phải cổi pháp phục. Ðược tám năm, vua đặc ân tha cho, năm sau trả lại pháp phục. Sau, Sư được chiếu về trụ lại Kính Sơn. Niên hiệu Long Hưng năm đầu (1163) ngày mùng mười tháng tám, Sư theo lời thỉnh của thị giả viết kệ:|Sinh cũng chỉ thế ấy|Tử cũng chỉ thế ấy|Viết kệ cùng không kệ|Có gì là quan trọng.|Viết xong, Sư ném bút thị tịch, thọ 75 tuổi, 58 tuổi hạ.
Đại Mai Pháp Thường 大梅法常; C: dàméi fǎcháng; J: daibai hōjō; 752-839; |Thiền sư Trung Quốc. Pháp tự của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư và thầy của Hàng Châu Thiên Long.|Sư họ Trịnh, quê ở Tương Dương. Sư đã nghiên cứu học hỏi triết lí Phật pháp hơn 30 năm trước khi đến tham vấn Mã Tổ. Sư hỏi Tổ: »Thế nào là Phật?« Tổ đáp: »Tức tâm là Phật.« Nhân đây Sư đại ngộ.|Sau khi được truyền tâm ấn, Sư đến núi Ðại Mai kết cỏ làm am, ẩn túc trong rừng mai suốt 30 năm. Mã Tổ nghe Sư ở núi bèn sai một vị tăng đến thăm dò. Tăng đến hỏi Sư: »Hoà thượng gặp Mã Tổ đã được cái gì, về ở núi này?« Sư đáp: »Mã Tổ nói với tôi: Tức tâm là Phật, tôi bèn đến ở núi này.« Tăng lại nói: »Gần đây Mã Tổ lại nói: Phi tâm phi Phật.« Sư đáp: »Ông già mê hoặc người chưa có ngày xong, mặc ông phi tâm phi Phật, tôi chỉ biết tức tâm là Phật.« Vị Tăng trở về thuật lại cho Mã Tổ. Tổ nói: »Ðại chúng! Trái mai đã chín!«|Một hôm Sư gọi chúng đến bảo: »Ðến không thể kềm, đi không thể tìm.« Nghe tiếng chuột kêu Sư lại nói: »Tức vật này không phải vật khác, các ngươi phải khéo gìn giữ, nay ta đi đây.« Nói xong Sư tịch, thọ 88 tuổi.
Đại nghi đoàn 大疑團; J: dai-gidan; nghĩa là »Một khối nghi lớn«; |Một trong ba điều kiện cần thiết để Giác ngộ theo Thiền tông. Hai điều kiện khác là Ðại phấn chí (j: dai-funshi) và Ðại tín căn (dai-shinkon).|Ðại nghi đoàn ở đây không phải là cái nghi ngờ xao dao, hồ nghi, nghi ngờ nơi Phật pháp mà là một trạng thái kinh ngạc, tự phân tích, tự hỏi tâm trạng của chính mình. Thiền sư hiện đại người Nhật là Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) viết như sau về Ðại nghi đoàn:|»Cái quan trọng ở đây không phải là một cái nghi ngờ bình thường, quý vị nên lưu ý! Cái nghi ở đây là cả một khối nghi lớn, một khối nghi xuất phát từ Ðại tín căn. Khối nghi này bắt buộc chúng ta tự hỏi ở chính mình rằng, tại sao thế giới hiện hữu dường như quá không hoàn hảo, đầy ưu sầu khổ não trong khi lòng tin thâm sâu của chúng ta lại bảo rằng, sự thật thì không phải như vậy. Ðó chính là một khối nghi lớn không để chúng ta yên tâm – tương tự như trường hợp chúng ta tự biết mình đều là những triệu phú, nhưng không biết vì lí do gì mà cứ sống trong cảnh cơ hàn, không một xu nào trong túi. Trong trường hợp này thì cường độ của Ðại nghi đoàn tương ưng với Ðại tín căn.«
Đại ngộ triệt để 大悟徹底; J: daigo-tettei; nghĩa là »cái ngộ lớn đến tận đáy«; |Chỉ sự giác ngộ thâm sâu, được dùng để phân biệt với những kinh nghiệm Kiến tính (見性; j: kenshō) ban sơ, mặc dù bản tính của cả hai vốn chỉ là một.|Những thành phần chính của Ðại ngộ triệt để: chứng ngộ được sự trống rỗng, tính Không (s: śūnyatā; j: kū) của vạn vật; sự tiêu huỷ của tất cả những khái niệm nhị nguyên; sự trực nhận rằng: toàn thể vũ trụ và bản thể chính là một không hai, Sắc tức là Không; sự đoạn diệt của khái niệm »Ta« (Ngã).
Đại Nhật kinh 大日經; S: mahāvairocana-sūtra;|Kinh Ðại thừa, một bộ kinh căn bản của Mật tông Trung Quốc và Chân ngôn tông Nhật Bản. Kinh này do Thiện Vô Uý (s: śubhaka-rasiṃha) – một trong ba Ðại sư của giáo pháp Mật tông – dịch ta tiếng Hán, năm 725. Kinh Ðại Nhật chứa phần lớn giáo pháp căn bản của Tan-tra.
Đại Nhật Năng Nhẫn 大日能忍; J: dainichi nōnin; tk. 12-13;|Thiền sư Nhật Bản, là người khai sáng Nhật Bản Ðạt-ma tông (j: nihon darumashū). Dòng thiền của Sư tồn tại không lâu vì sau này, phần lớn các môn đệ chính đều gia nhập tông Tào Ðộng (j: sōtō) của Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Người kế thừa Sư là Giác Yển (j: kakuan).|Sư tu tập thiền không có sự hướng dẫn của thầy nhưng vẫn tự mình chứng ngộ. Vì không ai ấn chứng nên Sư không được chấp nhận. Thế nên, Sư viết một bức thư nhờ hai vị đệ tử sang Trung Quốc tìm thầy ấn chứng. Ðệ tử của Sư đến yết kiến Thiền sư Phật Chiếu Ðức Quang (j: busshō tokkō, 1121-1203), thuộc tông Lâm Tế và được vị này thừa nhận, ấn khả.
Đại Nhật Phật 大日佛; S: mahāvairocana hoặc vairocana; cũng được dịch âm là Tì-lô-giá-na;|Một trong Ngũ Phật, hiện thân của Pháp giới. Khoảng thế kỉ thứ 10, trong giáo pháp Ðại thừa người ta nói thêm về quan điểm »Phật chuyển hoá siêu việt« và các vị Bồ Tát chuyển hoá liên hệ. Ðại Nhật Phật là vị Phật đầu tiên được xem là chuyển hoá từ Pháp thân. Tại Nhật, Phật Ðại Nhật hay được ví như mặt trời và bốn vị Phật còn lại như các hành tinh quay xung quanh (Phật gia).||H 24: Ðại Nhật Phật. Trong hình này Phật Ðại Nhật được diễn tả với Ấn tối thượng Bồ-đề. Ngón trỏ của tay phải được các ngón tay trái bao quanh, biểu hiện sự tuyệt đối trong tương đối, nhất thể trong vạn vật. Hai con thú hộ vệ Ngài là sư tử, và dấu hiệu của Ngài, mặt trời chói loà (ở đây được vẽ nằm trên đĩa) cũng được trình bày dưới toạ đài.
Đại phấn chí 大憤志; J: dai-funshi; [chữ 憤 đọc âm »Phấn«, không đọc »Phẫn«];|Một trong ba điều kiện cần thiết để giác ngộ theo Thiền tông Nhật Bản. Hai diều kiện khác là Ðại nghi đoàn (j: dai-gidan) và Ðại tín căn (dai-shinkon).|Ðại phấn chí là ý chí dũng cảm bất khuất phục, đầy năng lực để tìm được câu giải đáp cho Ðại nghi đoàn. Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) – một Thiền sư hiện đại người Nhật – viết như sau về Ðại phấn chí:|»Tất cả chúng ta đều có niềm tin lớn nơi Phật pháp rằng, tất cả mọi chúng sinh đều có Phật tính. Vì thế mà chúng ta quyết định tìm được chân lí này để trực nhận được nó.«
Đại phương quảng phật hoa nghiêm kinh 大方廣佛華嚴經; S: buddhāvataṃsaka-ma-hāvaipulya-sūtra; J: daihō kōbutsu kegonkyō; thường được gọi tắt là Hoa nghiêm kinh (s: ava-taṃsakasūtra hoặc gaṇḍavyūha);|Kinh Ðại thừa cơ bản của Hoa nghiêm tông. Kinh nhấn mạnh đến tính »vô ngại« của mọi hiện tượng và chủ trương rằng, Tâm con người chính là vũ trụ và đồng thể với tâm Phật. Quan điểm này của Ðại thừa hay được Thiền tông nhấn mạnh và vì thế, kinh này cũng thường được tông này nhắc nhở.|Kinh Hoa nghiêm thuộc về những bộ kinh hệ Phương đẳng, là một bộ kinh gồm 81 quyển mà phần dài nhất là phẩm Hoa nghiêm (s: gaṇḍavyūha). Một phần quan trọng độc lập khác là Thập địa (s: daśabhūmika). Ngày nay người ta chỉ còn tìm thấy kinh Hoa nghiêm trong dạng chữ Hán và chữ Tây Tạng, phần chữ Hán được dịch trong thế kỉ thứ 5.|Giáo pháp trong kinh này không phải do Phật Thích-ca trực tiếp truyền dạy – trong hội này Ngài nói rất ít – mà là phát biểu của các dạng xuất hiện của Pháp thân (Ba thân). Sự im lặng của đức Thích-ca biểu hiện tính Không và sự truyền dạy giáo pháp được hiểu là một dạng của Chân như, xuất hiện cho con người hiểu được. Tương truyền kinh này rất khó hiểu, chỉ các Ðại Bồ Tát mới lĩnh hội được.|Bộ kinh này được dịch ra Hán văn dưới ba dạng, bộ 40 quyển của Bát-nhã (s: prajñā), bộ 60 quyển của Giác Hiền (cũng gọi là Phật-đà Bạt-đà-la; s: buddhabhadra), và bộ 80 quyển của Thật-xoa Nan-đà (s: śikṣānanda).|Phẩm Hoa nghiêm – chữ Phạn là Gaṇḍa-vyūha – tương đương với bộ 40 quyển của Pháp sư Bát-nhã nên cũng được gọi là Tứ thập hoa nghiêm. Gaṇḍavyūha thường được xem là toàn bộ Hoa nghiêm kinh (s: avataṃsaka hoặc buddhāvataṃ-saka) bởi vì bộ kinh Ðại thừa mang biệt danh Gaṇḍavyūha được xem như là 9 bộ kinh cốt yếu ở Ne-pal. Tại Trung Quốc và Tây Tạng, phẩm Gaṇḍavyūha được gọi là phẩm »Nhập Pháp giới« (入法界; s: dharmadhātupraveṣa). Như vậy, bộ Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh bao gồm cả Gaṇḍavyūha.|Ðây là phẩm dài nhất và quan trọng nhất của bộ kinh, được đức Thích-ca thuyết tại Xá-vệ (s: śrāvastī), tả cảnh Thiện Tài đồng tử (s: sudhana) đi tìm đạo dưới sự hướng dẫn của Văn-thù Sư-lị (s: mañjuśrī). Thiện tài đồng tử tham vấn 53 vị Thánh nhân, kể cả Di-lặc (s: maitreya), đức Phật tương lai. Cuối cùng Thiện Tài gặp được Phổ Hiền (s: samantabhadra), được vị này giáo hoá và đạt Bồ-đề. Ðoạn cuối của phẩm này trình bày mười đại nguyện của Phổ Hiền, là cơ sở của một đời sống Bồ Tát. Phẩm này trở thành giáo lí căn bản của Hoa nghiêm tông.|Hai bài kệ quan trọng của kinh Hoa nghiêm là (Thích Duy Lực dịch):|1. Nếu người muốn biết rõ|Tất cả Phật tam thế|Phải quán tính Pháp giới|Tất cả do tâm tạo.|2. Nếu người muốn biết cảnh giới Phật|Ý căn thanh tịnh như hư không|Xa lìa vọng tưởng và chấp thủ|Khiến tâm khắp nơi đều vô ngại|Ðại phương quảng viên giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh|大方廣圓覺修多羅了義經; S: mahāvai-pulya-pūrṇa-buddhasūtra-prasannārtha-sūtra; tên gọi đầy đủ của Viên giác kinh;|Viên giác kinh
Đại quang minh tạng 大光明藏; J: daikōmyō-zō;|1. Một cách diễn bày của Thiền tông chỉ cái Tâm vốn thanh tịnh (Tự tính thanh tịnh tâm), Phật tính sẵn có của mỗi chúng sinh, chỉ được trực nhận qua kinh nghiệm Giác ngộ, Kiến tính;|2. Tên của am của Thiền sư Thiên Ðồng Như Tịnh nằm trên Thiên Ðồng sơn. Như Tịnh là thầy truyền pháp của Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền, Tổ của dòng Tào Ðộng Nhật Bản.
Đại sĩ 大士|Cách dịch nghĩa của danh hiệu Bồ Tát
Đại sử 大史; P: mahāvaṃsa;|Một sử kí về lịch sử Tích Lan, được xem là tác phẩm của Cao tăng Ma-ha Na-ma (p: ma-hānāma, tk. 6). Ðại sử có ghi lại những bài thuật về đời sống từ thời đức Phật giáo hoá, thời gian Tích Lan bị lệ thuộc đến thế kỉ thứ 4.|Tiểu sử (p: cūlavaṃsa) là phần phụ bản của Ðại sử, được biên soạn dưới nhiều tác giả. Hai bộ sử này là những tác phẩm quan trọng cho việc nghiên cứu Phật giáo nguyên thuỷ và Phật giáo ở Tích Lan.
Đại sự 大事; S, P: mahāvastu;|Một tác phẩm thuộc Tiểu thừa của →Thuyết xuất thế bộ (s: lokottaravāda) nói về các tiền kiếp xa xưa của đức Phật →Thích-ca. Tác phẩm này cũng nói đến bước đường tu học của một vị Bồ Tát (→Thập địa) và vì vậy người ta xem tác phẩm này là một gạch nối giữa Tiểu thừa và Ðại thừa.
Đại tạng 大藏|Danh từ chỉ tất cả những kinh sách, luận giải về đạo Phật trong và ngoài Tam tạng. Ðại tạng đầy đủ và bao gồm nhất hiện nay của Phật giáo Bắc truyền là Ðại tạng Trung Quốc và Tây Tạng (Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ). Ðầy đủ nhất của Phật giáo Nam truyền là Ðại tạng của Thượng toạ bộ của Tích Lan, được ghi lại bằng văn hệ Pā-li (Ðại chính tân tu đại tạng kinh).
Đại tập kinh 大集經; S: mahāsaṃnipāta-sūtra;|Một trong những kinh Phương đẳng của Phật giáo Ðại thừa, thuộc Tam tạng của Trung Quốc. Bộ kinh này xuất phát từ thứ kỉ thứ 6 sau Công nguyên, nội dung không đồng đều và nói nhiều về tính Không. Kinh này chịu nhiều ảnh hưởng của Tan-tra và chứa nhiều Ðà-la-ni và Man-tra.
Đại thành tựu giả 大成就者; S: mahāsiddha;|Ma-ha Tất-đạt
Đại Thế Chí 大勢至; S: mahāsthāmaprāpta;|Một vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Ðại thừa, là vị dạy dỗ cho con người »biết mình cần được giải thoát«. Tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, Ðại Thế Chí hay được vẽ tạc bên mặt của Quán Thế Âm, bên cạnh đức Phật A-di-đà, đại diện cho trí huệ của Ngài. Tranh tượng hay trình bày một ngôi chùa trên đỉnh đầu của Ðại Thế Chí.
Đại thủ ấn 大手印; S: mahāmudrā;|Một trong những giáo pháp tối thượng của Kim cương thừa (s: vajrayāna), được truyền dạy trong tông phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) của Tây Tạng. Trong tiếng Tây Tạng, Ðại thủ ấn được hiểu là tâm ấn của sự chứng ngộ được tính Không (s: śūnyatā), của việc giải thoát khỏi Luân hồi (s: saṃsāra) và sự thông hiểu rằng, hai mặt đó không hề rời nhau.|Giáo pháp này xem Bản sơ Phật Phổ Hiền (s: sa-mantabhadra) – hiện thân của Pháp thân (s: dhar-makāya; Ba thân) – là người đã truyền Ðại thủ ấn cho vị Ma-ha Tất-đạt (mahāsiddha) Tai-lô-pa (s: tilopa). Tai-lô-pa tiếp tục truyền cho Na-rô-pa (t: nāropa). Mã-nhĩ-ba (t: marpa) được chân truyền giáo pháp này và mang về Tây Tạng chỉ dạy cho Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa). Phép tu Ðại thủ ấn bắt đầu bằng tu Chỉ (s: śamatha) và lấy đó làm căn bản để biến chuyển mọi kinh nghiệm thành sự trực ngộ tính Không. Có người xem Ðại thủ ấn như »Thiền« Tây Tạng. Ngoài phép tu thông thường, người ta còn lưu truyền phép tu »đặc biệt« của Na-rô-pa với tên Na-rô lục pháp (Sáu giáo pháp của Na-rô-pa; t: nāro chodrug).|Truyền thống Tây Tạng xem xét phép Ðại thủ ấn dưới ba khía cạnh: kiến (s: darśana), tu (s: bhā-vanā) và hành (s: caryā).|1. Kiến được định nghĩa là tri kiến nhận ra rằng thể tính đích thật của tâm là sự thống nhất giữa Không và Ánh sáng. Mỗi hiện tượng đều mang dấu ấn đặc biệt này.|2. Mục đích quan trọng nhất của tu tập thiền định là trực nhận thể tính của tâm thức, một sự trực nhận rất tự nhiên không cần sự cố gắng nào. Có hai cách để chuẩn bị phép thiền đó: a) bốn phép tu quán chiếu sự quý báu khi có được thân người, luật vô thường, Nghiệp báo và tính bất toàn của luân hồi; b) bốn phép tu đặc biệt gồm những Nghi quỹ (s: sādhana) với những phương pháp thanh lọc Thân, khẩu, ý. |3. Hành là hành động, ứng dụng sau khi đã kinh nghiệm trực tiếp Ðại thủ ấn, dẫn đến một tâm thức tự tại, siêu việt các quy ước thông thường, dẫn đến các tác phong kì lạ của các bậc »Cuồng thánh.«|Cát-mã-ba Lãng-tuấn Ða-kiệt (t: rangjung dorje; 1284-1339) viết như sau về Ðại thủ ấn: |»Ðiều gì phải thanh lọc: là tâm, tự tâm là tính Không, là Ánh sáng; Ai thanh lọc: đó là phép tu kim cương của Ðại thủ ấn; Cái gì được lọc bỏ: Vô minh hiện tiền đang lừa dối con người.|Mong thay quả vị thanh tịnh, Pháp thân diệu dụng sẽ được thực hiện! Ðó là kiến giải đối trị vô minh, là phép tu đích thật, đó là sự dẫn đến hành động vô thượng. Mong thay tín tâm nơi ba điều đó luôn luôn hiện diện.«
Đại thủ ấn tất-địa 大手印悉地; S: mahāmudrāsiddhi;|Thánh quả của phép tu tập Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), Tất-địa (s: siddhi) cao quý nhất, đồng nghĩa với Kiến tính, ngộ đạo.
Đại thừa 大乘; S: mahāyāna; dịch âm Hán Việt là Ma-ha-diễn-na, Ma-ha-diễn, tức là »cỗ xe lớn«; |Một trong hai trường phái lớn của đạo Phật, phái kia là Tiểu thừa, »cỗ xe nhỏ« (s: hīna-yāna). Xuất hiện trong thế kỉ thứ nhất trước Công nguyên, phái này tự nhận là cỗ xe lớn, nhờ dựa trên tính đa dạng của giáo pháp để mở đường cho một số lớn chúng sinh có thể giác ngộ.|Cả hai, Tiểu thừa và Ðại thừa đều bắt nguồn từ Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni, nhưng khác nhau nơi sự quan tâm về thực hành giáo pháp. Nếu Tiểu thừa quan tâm đến sự giác ngộ của chính mình thì đại biểu của Ðại thừa mong muốn được giải thoát để cứu độ chúng sinh. Hình tượng tiêu biểu của Ðại thừa là Bồ Tát (s: bodhisattva) mà đặc tính vượt trội là lòng Bi (s, p: karuṇā).|Ðại thừa xuất phát (phần lớn) từ hai nhánh của Tiểu thừa là Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅg-hika) và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda), lấy từ đó những yếu tố căn bản của giáo pháp mình: từ Ðại chúng bộ, Ðại thừa xem Phật là hoá thân của một thật thể, lấy hình ảnh xả thân của các vị Bồ Tát và quan điểm tính Không (s: śūnya). Từ Nhất thiết hữu bộ, Ðại thừa thừa nhận quan điểm Ba thân (s: trikāya).|Ngược lại với quan điểm nguyên thuỷ, Ðại thừa không quá nhấn mạnh đến đời sống xuất gia, cho rằng Cư sĩ tại gia cũng có thể đạt Niết-bàn với sự tế độ của chư Phật và chư Bồ Tát. Trong quan điểm Ðại thừa, Niết-bàn không phải chỉ là giải thoát khỏi Luân hồi – mà hơn thế nữa, hành giả giác ngộ về Chân tâm và an trụ trong đó. Mỗi chúng sinh đều mang Phật tính (s: buddhatā) và nhận ra điều đó là điều tuyệt đối quan trọng.|Ðại thừa lại được chia ra nhiều bộ phái khác nhau, xuất phát từ Ấn Ðộ và truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và Việt Nam. Tại Ấn Ðộ, Ðại thừa đã chia ra Trung quán tông (s: mādh-yamika) do Long Thụ (s: nāgārjuna) đề xuất và Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) do Vô Trước (s: asaṅga) và Thế Thân (vasubandhu) sáng lập. Song song với Tan-tra (Mật tông) của Ấn Ðộ giáo, đạo Phật cũng sản sinh ra một trường phái là Kim cương thừa (s: vajrayāna), rất thịnh hành tại Tây Tạng. Thuộc về Ðại thừa tại Trung Quốc và Nhật Bản, người ta có thể kể đến Thiền tông, Hoa nghiêm tông, Thiên Thai tông, Tịnh độ tông. Giáo lí căn bản của Ðại thừa được chứa đựng trong những bộ Kinh (s: sūtra) và Luận (s: śāstra) với nhiều luận văn hết sức sâu sắc.
Đại thừa khởi tín luận 大乘起信論; S: mahāyānaśraddhotpāda-śās-tra; J: daijō kishinron;|Một tác phẩm Ðại thừa xuất hiện trong thế kỉ 5-6, tương truyền do Mã Minh (s: aśva-ghoṣa) soạn. Mã Minh lại sống trong thế kỉ thứ 1-2 nên điều này vẫn còn là một nghi vấn. Nguyên bản chữ Phạn cũng như bản dịch Tạng ngữ không còn. Hiện nay người ta chỉ còn bản chữ Hán của năm 557, được các học giả sau này xem là một tác phẩm Phật giáo Trung Quốc thuần tuý.|Tác phẩm này là bộ luận về Ðại thừa và được xem là căn bản nhập môn của giáo lí này. Ðó là một tác phẩm trong số các kinh sách hiếm hoi được Thiền tông coi trọng. Luận này được chia làm 5 chương: 1. Lí do luận này ra đời: để giúp chúng sinh thoát khổ, truyền bá chính pháp, hỗ trợ người tu hành, làm tăng trưởng tín tâm của kẻ sơ căn, chỉ phương pháp đối trị tà kiến, dạy cách thiền định đúng đắn, chỉ ích lợi của niệm A-di-đà, chỉ cách tu tập thiền định; 2. Giảng giải các khái niệm quan trọng nhất của Ðại thừa; 3. Trình bày giáo pháp Ðại thừa: về ba tính chất của tâm, về giác ngộ và phi giác ngộ, về vô minh, đối trị tà kiến và các thành kiến khác, chỉ phương pháp đúng đắn đưa đến giác ngộ, Phúc đức và hạnh nghiệp của Bồ Tát; 4. Phép tu theo Ðại thừa: Phát triển tín tâm bằng hạnh bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, trí huệ và phương pháp Chỉ-Quán; 5. Ích lợi của phép tu Ðại thừa.
Đại thừa kinh trang nghiêm luận 大乘經莊嚴論; S: mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra;|Một tác phẩm của Ðại sư Vô Trước gồm 13 quyển. Tương truyền rằng, Sư mỗi đêm nhập định, lên cung trời Ðâu-suất được Di-lặc Bồ Tát giảng giải đạo lí (Mai-tre-ya-na-tha [s: maitreyanātha]). Trở về cõi này, Sư viết lại những bộ luận. Ðây là một trong năm bộ luận lớn mà Sư được đức Di-lặc truyền cho.
Đại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh 大乘無量壽莊嚴經; S: aparimitāyur-sūtra; cũng có tên là Lạc hữu trang nghiêm kinh (s: su-khāvatī-vyūha);|Một trong ba bộ kinh căn bản của Tịnh độ tông. Bản dịch ngắn của kinh này chính là A-di-đà kinh. Kinh này được dịch tới 12 lần ra tiếng Hán từ năm 147 đến năm 713 dưới nhiều tên khác nhau, mô tả đời sống và lời nguyện của Phật A-di-đà cũng như thế giới Cực lạc của Ngài.|Kinh này bắt đầu bằng một bài giảng của đức Phật Thích-ca cho A-nan-đà, trong đó đức Phật kể về một tỉ-khâu tên Pháp Tạng (s: dharmākara). Tỉ-khâu này – lúc chưa thành Phật – đã nêu lên 48 thệ nguyện nếu thành Phật sẽ thực hiện, đó là xây dựng lên một Tịnh độ để tiếp dẫn những ai muốn thác sinh về đó. Các lời nguyện quan trọng nhất của Phật A-di-đà là:|(1) Trong Tịnh độ không còn thác sinh ác đạo; (2) Trong Tịnh độ không còn thân nữ; tất cả phụ nữ sinh trong cõi Tịnh độ lúc lâm chung trước đó đều đã biến thành nam; (3) Thân chúng sinh trong Tịnh độ đều bằng vàng ròng, có Ba mươi hai tướng tốt; (4) Chúng sinh trong Tịnh độ chứng Túc mệnh thông (s: purbbanivāsānusmṛti-abhijñā); (5)/(6) Chúng sinh trong Tịnh độ chứng Thiên nhãn thông (s: divyacakṣur-abhijñā)/ Thiên nhĩ thông (s: divya-śrotam-abhijñā); (7) Chúng sinh trong Tịnh độ chứng Thần túc thông (s: ṛddhividdhi-abhijñā); (8) Chúng sinh trong Tịnh độ chứng Tha tâm thông (s: cetahvaryyāya- abhijñā); (17) Chúng sinh trong mười phương thế giới chỉ cần nghe danh hiệu A-di-đà là phát tâm Bồ-đề.|Ðối với Tịnh độ tông thì các lời nguyện sau đây quan trọng hơn cả:|(18) Chúng sinh trong khắp mười phương thế giới chỉ cần nghe đến tên ta là đã khởi niệm đạt quả vô thượng. Lúc họ chết mà nhớ nghĩ đến ta, ta sẽ hiện đến cùng quyến thuộc xung quanh để giúp họ khỏi sợ hãi; (19) Chúng sinh trong vô lượng thế giới chỉ cần nghe đến tên ta, muốn tái sinh trong Tịnh độ của ta để trau dồi thiện nghiệp thì họ phải được toại nguyện; (24) Chúng sinh đã thác sinh vào Tịnh độ của ta chỉ còn tái sinh một lần nữa là sẽ nhập Niết-bàn, không thể bị đoạ được nữa.
Đại tín căn 大信根; J: dai-shinkon;|Một niềm tin căn bản lớn; một trong ba điều kiện cần thiết để giác ngộ theo Thiền tông Nhật Bản. Hai điều kiện khác là Ðại phấn chí (j: dai-funshi) và Ðại nghi đoàn (j: dai-gidan).|Trong tác phẩm Nhập thiền môn tu tập, Thiền sư Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) viết như sau về Ðại tín căn: »Ðại tín căn có nghĩa là niềm tin sâu thẳm, vững chắc như một khối đá, như một cổ thụ vĩ đại. Ðó là một niềm tin không vướng mắc vào mê tín dị đoan, những hiện tượng siêu nhiên vượt khỏi tầm tay của con người.|Nhiều người cho rằng đạo Phật là một tôn giáo duy lí hoặc tôn giáo chỉ thuần tuý đặt nền tảng trên lí trí của con người. Tuy nhiên, đạo Phật là một tôn giáo (e: religion) – chính bởi vì yếu tố niềm tin nằm ở trong đó, và nếu không có niềm tin này thì đạo Phật chỉ còn là một hệ thống triết lí thuần đơn như những hệ thống triết lí khác. Với sự Giác ngộ của Phật-đà – đạt được với sự cố gắng tột cùng –, đạo Phật đã hoàn tất bước đầu. Ðại tín căn của chúng ta chính là niềm tin nơi Phật quả, kinh ngiệm giác ngộ mà Phật đã trình bày trong kinh sách. Các bài thuyết pháp của Phật không vượt ngoài những nội dung chính, đó là nhân tâm cũng như tất cả các pháp hiện hữu đều thanh tịnh từ ban đầu; rõ ràng hơn: hoàn hảo. Không có một niềm tin vững chắc nơi Phật pháp thì không ai có thể tiến xa trên đường tu học.«
Đại trí độ luận 大智度論; S: mahāprajñāpāramitā-śāstra;|Một tác phẩm luận giải của Long Thụ về bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñā-pāramitā-sūtra). Bộ luận này là một trong những bộ luận căn bản tầm cỡ nhất của Phật pháp và là một trong hai bộ luận quan trọng nhất của Long Thụ song song với luận Trung quán (s: madhyamaka-śāstra).|Luận này bao gồm 100 quyển, 90 phẩm, được Tam Tạng Pháp sư Cưu-ma-la-thập (s: kumārajīva) dịch sang Hán ngữ năm 402. Luận này giảng giải nhiều vấn đề như học thuyết, tư tưởng, truyền thuyết và đặc biệt dẫn dụng rất nhiều kinh sách.
Đại Triệt Tông Linh 大徹宗令; J: daisetsu sōrei; 1333-1408;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (j: gasan jōseki, 1275-1365).|Sư khai sáng nhiều Thiền viện như Diệu Ứng Giáo tự (j: myō' ōkyō-ji) tại Mino, Lập Xuyên tự (j: rissen-ji) tại Etchū.
Đại tử 大死; J: daishi; là »Cái chết lớn«;|Một dụng ngữ của Thiền tông, chỉ cái chết lớn của Ngã, yếu tố chính của »một sự tái sinh lớn« mới. Con đường dẫn từ »cái chết lớn« này đến một cuộc sống mới đầy an lạc chính là con đường của Toạ thiền (j: zazen). Các Thiền gia thường sử dụng câu sau: »Các ngươi phải một lần chết trên toạ cụ« và cái chết này chính là cái chết của ảo tưởng ngã, cái chết của quan niệm cho rằng ngã là có thật.
Đại Tùy Pháp Chân 大隋法真; C: dàsuí fǎzhēn; J: daizui hōshin; tk. 9.;|Thiền sư Trung Quốc. Sư đạt yếu chỉ nơi Trường Khánh Ðại An, một môn đệ của Bách Trượng Hoài Hải Thiền sư. Công án 29 trong Bích nham lục có nhắc đến Sư.|Trước khi đến Ðại An, Sư đã tham vấn Ðộng Sơn Lương Giới, Quy Sơn Linh Hựu và nhiều Thiền sư khác. Sau khi đại ngộ, Sư ẩn cư tại núi Ðại Tuỳ, 10 năm không xuống núi. Tương truyền Sư cất am trong một bọng cây lớn. Dần dần học giả đến đông, Sư bắt đầu giáo hoá.
Đại Vân Tổ Nhạc Nguyên Ðiền 大雲祖嶽原田; J: daiun sōgaku harada, 1870-1961;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, một trong những Thiền sư quan trọng nhất của Nhật Bản hiện đại.|Sư vào chùa tu học năm lên bảy và ban đầu tu tập theo tông Tào Ðộng. Sau, Sư đến tu tập tại một Thiền viện khác theo quy tắc của tông Lâm Tế. Năm lên 40, Sư được cử làm thị giả cho Ðộc Trạm Lão sư (j: dokutan rōshi), vị trụ trì Nam Thiền tự (j: nanzen-ji) và cũng là một trong những vị Thiền sư danh tiếng nhất thời đó. |Sau khi được Ðộc Trạm Ấn khả, Sư được mời đến trụ trì Pháp Tâm tự (j: hosshin-ji) tại tỉnh Obama và dưới sự quản lí của Sư, Thiền viện này trở thành một trung tâm tu học quan trọng của Thiền tông tại Nhật.|Các bài thuyết pháp của Sư cho những người mới nhập môn tu học thiền đạo được môn đệ chính của Sư là Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) phổ biến rộng rãi tại phương Tây.
Đại viên kính trí 大圓鏡智; S: ādarśa-jñāna;|Một trong Năm trí.
Đại Vực Long 大域龍; S: (mahā-) dignāga, diṅnāga; tên dịch nghĩa, thường được gọi theo âm là Trần-na.|Trần-na
Đại Xả 大捨; 1120-1180|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10, đắc pháp nơi Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư họ Hứa, quê ở phường Ðông Tác (nay thuộc huyện Hoàng Long, Hà Ðông), xuất gia theo học với Thiền sư Ðạo Huệ từ nhỏ. Sau khi được Ðạo Huệ Ấn khả, Sư đi đây đó hoằng hoá và tương truyền rằng, Sư chuyên trì tụng kinh Hoa nghiêm và niệm chú của Bồ Tát Phổ Hiền.|Một hôm, vua Lí Anh Tông triệu vua Sư vào cung hỏi: »Trẫm bị phiền muộn, Sư có thuật gì trị chăng?« Sư đáp: »Pháp Mười hai nhân duyên là căn bản tiếp nối sinh tử, cần lấy nó để trị, nó thật là phương thuốc hay vậy.« Vua hỏi: »Ý chỉ nó thế nào?« Sư đáp: »Vô minh là nhân duyên của hành cho đến lo buồn khổ não. Muốn cầu quả Bích-chi Phật nên nói mười hai nhân duyên. Ðem trị trong thân này thì không còn phiền não.« Vua hỏi: »Thế thì trẫm phải tĩnh tâm tu tập?« Sư đáp: »Khi ngăn chặn yên tịnh được nghiệp thức, tức là lóng trong phiền não thì không còn pháp nào khác đáng tu tập cả. Xưa kia vua Lương Vũ Ðế thường đem vấn đề này hỏi Thiền sư Bảo Chí, Bảo Chí cũng đáp như thế. Hôm nay trộm vì bệ hạ đưa ra điều tương tự ấy.«|Ngày mồng 2 tháng 5, niên hiệu Trinh Phù thứ 5, Sư gọi đệ tử dặn dò truyền kệ:|四蛇同篋本來空。五蘊山高亦不宗|真性靈明無罣礙。涅槃生死任遮籠|石馬齒狂獰。食苗日月鳴|塗中人共過。焉上人不行|Tứ xà đồng khiếp bản lai không|Ngũ uẩn sơn cao diệc bất tông|Chân tính linh minh vô quải ngại|Niết-bàn sinh tử nhậm già long|Thạch mã xỉ cuồng nanh|Thực miêu nhật nguyệt minh|Ðồ trung nhân cộng quá|Yên thượng nhân bất hành.|*Bốn rắn chung rương trước giờ không|Núi cao năm uẩn đâu chủ ông|Chân tính sáng ngời không chướng ngại|Niết-bàn sinh tử mặc che lồng|Ngựa đá nhe răng cuồng|Ăn mạ ngày tháng kêu|Ðường cái người đồng qua|Trên mây không kẻ đến.|Nói kệ xong đến canh năm Sư thị tịch, thọ 61 tuổi.
Dâm 淫; C: yín; J: in;|1. Không chặc chẽ, tự do, không ràng buộc; 2. Rải rác, lúng túng; 3. Quá mức, vượt quá giới hạn, vi phạm; 4. Dâm dật, gợi dục, ham muốn tình dục (婬).
Đam Nguyên Ứng Chân 耽源應真; C: dānyuán yìngzhēn; J: tangen ō-shin; 8/9. tk.;|Thiền sư Trung Quốc. Sư là môn đệ của Quốc sư Nam Dương Huệ Trung và được Quốc sư truyền cho cách sử dụng 97 viên tướng, có thể hiểu là một hệ thống truyền pháp bí mật siêu việt chỉ dành cho những người hạng thượng căn. Sư truyền lại hệ thống này cho Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Tổ thứ hai của tông Quy Ngưỡng và từ đây hệ thống 97 viên tướng trở nên một thành phần giảng dạy của các Thiền sư trong tông này.
Đàn 檀; C: tán; J: tan, dan; |1. Cây chiên đàn; 2. Phiên âm chữ dāna trong tiếng Phạn và Pāli, có nghĩa là »ban tặng« hay »dâng biếu«. Hán dịch nghĩa là bố thí (布施).
Đãn 但; C: dàn; J: tan;|Chỉ, đơn thuần, bất cứ khi nào. Nhưng mà, hãy còn, chỉ là, (s: kevala, mātra).
Đàn ba-la-mật 檀波羅蜜; C: tán pōluó mì; J: dan haramitsu; S: dāna-pāramitā.|Bố thí ba-la-mật. Một trong Lục ba-la-mật (六波羅蜜) của Đại thừa.
Đàn-đà 檀陀; C: tántuó; J: danda; |Phiên âm từ chữ dānapati trong tiếng Phạn. Đàn-nã (檀拏).
Đàn-đồ 檀荼; C: tántú; J: danda; |Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Phạn và Pali. Đàn-nã (檀拏).
Đãn-đồ 但荼; C: dàntú; J: danda. |Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Phạn và Pa-li. Đàn-noa (檀拏).
Đan Hà Thiên Nhiên 丹霞天然; C: dānxiá tiānrán; J: tanka tennen; 739-824;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên và Mã Tổ Ðạo Nhất và cũng là thầy của Thiền sư Thuý Vi Vô Học. Sư là nhân vật chính trong Công án 76 của Bích nham lục.|Như Thiền sư Viên Ngộ Phật Quả thuật lại trong Bích nham lục, Sư trước học Nho đi vào Trường An ứng thi làm quan. Trên đường đi Sư gặp một thiền khách, ông ta hỏi: »Nhân giả đi đâu?« Sư đáp: »Ði thi làm quan.« Ông khách lại nói: »Thi làm quan đâu có bằng thi làm Phật.« Sư hỏi: »Thi làm Phật phải đến chỗ nào?« Ông khách đáp: »Hiện nay ở Giang Tây có Mã Ðại sư ra đời, là trường thi làm Phật, nhân giả nên đến đó.« Sư bỏ thi, tìm đến Giang Tây ra mắt Mã Tổ. Mã Tổ lại khuyên Sư đến Thạch Ðầu Hi Thiên.|Ðến Thạch Ðầu, Sư luân phiên làm bếp ba năm (Ðiển toạ). Một hôm Thạch Ðầu bảo chúng: »Ngày mai cắt cỏ ở dưới điện Phật.« Sáng hôm sau, đại chúng mỗi người cầm liềm cầm cuốc đến trước chùa làm cỏ. Chỉ riêng Sư lấy thau múc nước gội đầu, đến quì gối trước Hoà thượng. Thạch Ðầu thấy thế cười liền cạo tóc cho Sư. Cạo xong Thạch Ðầu lại vì Sư nói Giới (s: śīla), Sư bịt tai ra đi.|Trở lại Giang Tây yết kiến Mã Ðại sư, chưa lễ ra mắt, Sư đi thẳng vào tăng đường trèo lên cổ tượng Văn-thù ngồi. Ðại chúng kinh ngạc chạy báo cho Mã Tổ hay. Tổ đích thân vào tăng đường trông thấy bèn nói: »Con ta, Thiên Nhiên!« Sư bèn bước xuống lễ bái, thưa: »Cảm tạ thầy ban cho pháp hiệu.« Mã Tổ hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ Thạch Ðầu đến.« Tổ hỏi: »Ðường Thạch Ðầu trơn, ngươi có té chăng?« Sư đáp: »Nếu có trợt té thì chẳng đến đây.«|Sau khi từ biệt Mã Tổ, Sư vẫn tiếp tục du phương. Ðến chùa Huê Lâm, gặp lúc trời lạnh, Sư bèn lấy tượng Phật gỗ đốt để sưởi, viện chủ trông thấy quở: »Sao đốt tượng Phật của tôi?« Sư lấy gậy bới tro nói: »Tôi đốt tìm Xá-lị.« Viên chủ bảo: »Phật gỗ làm gì có Xá-lị?« Sư nói: »Ðã không có Xá-lị thì thỉnh thêm hai vị nữa đốt.« Viện chủ nghe câu này tất cả kiến chấp đều tan vỡ.|Niên hiệu Trường Khánh năm thứ tư (824) ngày hai mươi ba tháng sáu Sư gọi đệ tử bảo: »Lấy nước nóng tắm, ta sắp đi đây.« Tắm xong, Sư đội mũ mang giày cầm trượng, duỗi một chân chưa đến đất liền tịch. Vua sắc phong là Trí Thông Thiền sư.
Đan Hà Tử Thuần 丹霞子淳; C: dānxiá zǐchún; J: tanka shijun; ?-1119;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Tào Ðộng đời thứ chín. Sư nối pháp Thiền sư Phù Dung Ðạo Khải. Môn đệ của Sư có hai vị xuất sắc nhất là Chân Yết Thanh Liễu và Hoằng Trí Chính Giác.|Sư họ Cổ, quê ở Kiếm Châu, khoảng 20 tuổi xuất gia. Nơi Phù Dung, Sư được triệt ngộ. Sau Sư đến trụ núi Ðan Hà tại Ðặng Châu.|Sư dạy chúng: »Dừng dừng đúng ngọ còn thiếu nửa, lặng lặng canh ba vẫn chửa tròn, sáu cửa chẳng từng biết hơi ấm, lại qua thường ở trước trăng trong.«|Có vị tăng hỏi: »Ngưu Ðầu (Thiền sư Pháp Dung) khi chưa thấy Tứ tổ thế nào?« Sư đáp: »Cúc vàng vừa nở ong đua hút.« Tăng hỏi: »Sau khi thấy thế nào?« Sư đáp: »Mầm khô hoa rụng rõ không nương.«|Ðến khoảng niên hiệu Tuyên Hoà (1119-1121) vào mùa xuân, Sư viên tịch, tháp được xây ở phía Nam Hồng Sơn.
Đãn không 但空; C: dànkōng; J: tankū;|»Chỉ là Không.« Đối lại là Bất đãn không (不但空). Cách hiểu không trọn vẹn của Đại thừa Phật giáo trong lí giải về Tính không. Là kiến chấp, chỉ hiểu về »không«, mà không biết về lí »Bất không«. Bất đãn không
Đàn kinh 壇經; J: dangyō;|Tên gọi ngắn của Lục tổ đại sư Pháp bảo đàn kinh.
Đàn-na 檀那; C: tánnà; J: danna;|Người hộ trì chùa viện Phật giáo; người quyên cúng, cư sĩ.
Đàn-nã 檀拏; C: tánná; J: tanna;| Phiên âm từ chữ daṇḍa trong tiếng Phạn – là cây gậy do thần Yama nắm giữ với huy hiệu biểu trưng trên đầu gậy như là cái đầu người. Các Phiên âm khác là Đàn-đồ (檀荼), Đàn đà (檀陀), Đãn-đồ (但荼), Đan-đà (單馱), Đan-nã (單拏), Na-nã (娜拏), Nan-nã (難拏), Đàn-nã-tràng (檀拏幢), Đàn-nã bạng (檀拏棓). Dịch nghĩa: Trượng (杖), Bảo trượng (寶杖), Sách trượng (策杖), Bổng bạng (棒棓), Nhân đầu tràng (人頭幢), Nhân đầu bổng (人頭棒), Khô lâu trượng (骷髏杖).
Đàn-việt 檀越; C: tán yuè; J: dan'otsu;|Phiên âm từ chữ dānapati trong tiếng Phạn. 1. Người cúng dường (thí chủ), người làm việc thiện; 2. Tín đồ, người thường cúng dường phẩm vật cho các chùa.
Đặng Ẩn Phong 鄧隱峰; C: dèng yǐnfēng; J: to impo; ?-?; cũng được gọi là Ngũ Ðài Ẩn Phong (五臺隱峰; c: wǔtái yǐnfēng);|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của hai vị Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên và Mã Tổ Ðạo Nhất. Sư có những hành động rất quái dị, dùng lí trí phân biệt không hội nổi.|Sư họ Ðặng, quê ở Thượng Vũ, Phúc Kiến. Trước, Sư đến tham vấn Mã Tổ nhưng chưa ngộ, Sư lại đến Thạch Ðầu đôi ba phen vẫn không thấy đạo. Sau đến Mã Tổ nghe một câu nắm được yếu chỉ. Một hôm Sư đẩy xe đất, Mã Tổ ngồi duỗi chân trên đường. Sư thưa: »Xin thầy rút chân.« Mã Tổ bảo: »Ðã duỗi thì không rút, đã tiến thì không lui.« Sư đáp: »Cũng vậy, đã tới không bao giờ lui.« và đẩy xe cán chân Mã Tổ. Sau đó Mã Tổ đến pháp đường, tay cầm búa, nói: »Ông nào hồi nãy đẩy xe cán cẳng lão tăng bước ra đây mau.« Sư liền bước thẳng ra ngửa cổ lên đón nhát búa. Mã Tổ im lặng đặt búa xuống.|Sư đến Nam Tuyền Phổ Nguyện, thấy chúng tăng đang tham vấn. Nam Tuyền chỉ tịnh bình bảo: »Bình đồng là cảnh, trong bình có nước, chẳng được động đến cảnh, đem nước đến cho Lão tăng.« Sư bèn nắm tịnh bình đem đến trước mặt Nam Tuyền đổ nước. Nam Tuyền bèn thôi.|Trước khi tịch Sư hỏi chúng: »Tôi thường thấy các vị Tiền bối khi tịch hoặc ngồi, hoặc nằm, có vị nào đứng tịch chăng?« Chúng thưa: »Có.« Sư hỏi: »Có vị nào lộn ngược tịch chăng?« Chúng thưa: »Chưa từng thấy.« Sư bèn lộn ngược mà tịch.
Danh 名; C: míng; J: myō; S: nāman; P: nāma;|1. Danh từ chỉ những tâm sở (thuộc về tâm) đối nghĩa với sắc (色; s, p: rūpa). Danh bao gồm bốn uẩn: Thụ (受; s, p: vedanā), Tưởng (想; s: saṃjñā; p: sañña), Hành (行; s: saṃskāra; p: saṅkhāra), Thức (識; s: vijñā-na; p: viññāṇa). Cùng với sắc, danh thành lập Ngũ uẩn, tạo một chúng sinh, một Hữu tình.|Danh là nhân duyên thứ tư trong Mười hai nhân duyên, bắt nguồn từ thức. Trong Ðại thừa, Danh đối nghịch với Chân như, bởi vì danh không thể bao trùm, tiết lộ hết tất cả sự thật. Từ suy luận này, quan niệm »Tất cả là không thật, là ảo ảnh« trở thành giáo lí trung tâm của Ðại thừa.|2. Danh từ, thuật ngữ. Danh xưng của vật. Nhất thiết hữu bộ xem Danh là một trong những Tâm bất tương ưng hành pháp (心不相應行法).
Danh hiệu 名號; C: mínghào; J: myōgō; |Tên gọi, đặc biệt là tước hiệu, hay là một danh hiệu đặc biệt tỏ lòng kính trọng, như thường dùng cho chư Phật và các vị đại Bồ Tát (s: nāman).
Danh nghĩa 名義; C: míngyì; J: myōgi; |Có hai nghĩa: 1. Sự diễn đạt, ngôn ngữ, lời nói; 2. Ngôn từ và ý nghĩa; biểu tượng và biểu hiện.
Danh ngôn 名言; C: míngyán; J: myōgon; |1. Những thứ làm phương tiện diễn đạt, những biểu hiện qua ngôn ngữ, lời nói (s: abhidhāyaka); 2. Danh tự diễn đạt khái niệm (s: nāman).
Danh ngôn chủng tử 名言種子; C: míngyán zhŏngzí; J: myōgonshū-ji; |Phần bổ sung của các chủng tử tạo tác. Chỉ những chủng tử trong A-lại-da thức (阿頼耶識; s: ālaya-vijñāna), được huân tập trực tiếp qua các biểu thị ngôn ngữ. Là nguyên nhân trực tiếp của tâm thức hiện hành và các hiện tượng vật chất trong vũ trụ.
Danh Nguyệt 名月; C: míngyuè; J: myōgetsu; |Tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.
Danh sắc 名色; C: míngsè; J: myōshiki; S, P: nāmarūpa;|1. Khái niệm chỉ hai yếu tố quan trọng nhất của con người, gồm tinh thần và thân thể. Sắc (s, p: rūpa) là uẩn thứ nhất trong Ngũ uẩn và Danh (s, p: nāma) là bốn uẩn còn lại. Danh sắc chính là toàn bộ yếu tố cấu tạo thành còn người. Danh sắc là yếu tố thứ tư trong Mười hai nhân duyên, được sinh ra khi một Thức (s: vijñāna, yếu tố thứ ba) đi vào bụng mẹ và kết thành một cá nhân mới.|2. Thuật ngữ được dùng trong văn học Áo nghĩa thư (s: upaniṣad) cổ xưa để biểu thị các hiện tượng vật lí trong vũ trụ
Danh thân 名身; C: míng shēn; J: myōshin; S: nāma-rūpa; nāma-kāya. |Có các nghĩa sau: 1. Danh và sắc; 2. Sự tích tụ danh mục; từ nầy có nghĩa sự hiện hữu của từ có hơn một danh mục. Một trong 3 cách tạo thành ngôn cú căn bản để kiến lập các pháp. Một trong 24 Tâm bất tương ưng hành pháp. Một phần tử giả lập dựa trên sự phân biệt âm thanh.
Danh tự 名字; C: míngzì; J: myōji; |Có các nghĩa sau: 1. Danh và sắc (s: nāma-rūpa); 2. Danh hiệu, tước vị (s: nirukti, nāman); 3. Tên gọi và ngôn từ; 4. Giả danh; 5. Thuật ngữ và ngôn từ trong văn học Phật giáo.
Danh tướng 名相; C: míngxiāng; J: myōsō; |Có hai nghĩa: 1. Danh và sắc, tên gọi và hình dáng; thấy được bằng mắt và nghe được bằng tai (s: nāma-saṃsthāna); 2. Để gọi một giả danh.
đảo 倒; C: dào; J: tō, dō;|1. Lộn ngược, lầm lạc, hư hỏng, xoay ngược, trái ngược, sai lầm. Đồng nghĩa Điên đảo (s: viparyāsa, viparyaya, paryasta, viparita); 2. Nhưng mà, tuy nhiên.
đạo 道; C: dào; J: dō; nguyên nghĩa là »Con đường«; |Một biểu thị quan trọng của Ðạo giáo, một giáo phái vốn bắt nguồn từ chữ Ðạo này. Ðạo được nêu ra và trình bày cặn kẽ trong hai quyển sách trứ danh của triết học Trung Quốc: Ðạo đức kinh của Lão Tử và Trang Tử nam hoa chân kinh của Trang Tử.|Mặc dù theo nguyên nghĩa thì Ðạo là con đường đi, nhưng Ðạo cũng được hiểu là »giáo lí«, »chân lí.« Danh từ này được sử dụng rất sớm theo ý nghĩa »nhân đạo«, con đường mà nhân loại phải đi, nên đi. Các triết gia theo Nho giáo đều hiểu Ðạo dưới nghĩa này. Trong Ðạo đức kinh, từ này lần đầu tiên mang một đặc tính siêu nhiên, là cái thâu nhiếp tất cả, là cơ sở của vạn vật hiện hữu, là nguyên lí tuyệt đối. Ðạo là sự thật duy nhất, là nơi xuất phát của thế giới hiện hữu. »Sự thật cuối cùng« này được Lão Tử – vì không thể tìm được một tên tương ưng – tạm gọi là Ðạo:|道可道非常道。名可名非常名|Ðạo khả đạo – phi thường đạo|Danh khả danh – phi thường danh|*Ðạo mà ta có thể gọi được không phải là đạo thường còn; cái Danh mà ta có thể gọi được không phải là Danh thường còn.|Ðạo là »Mẹ nhiệm mầu« (玄牝; huyền tẫn) của vạn vật, là nguồn gốc của tất cả hiện hữu (ÐÐK VI). Nhưng Ðạo cũng là nơi vạn vật quy tụ. Ðây là một nguyên lí cố định. Theo Ðạo giáo thì tỉnh thức, Giác ngộ chính là trực chứng được sự trở về Ðạo của vạn vật. Trong chương thứ 14 của Ðạo đức kinh, Ðạo cũng được mô tả là không thể xem bằng mắt, nghe bằng tai …, là hình trạng của cái không hình trạng (Nguyễn Duy Cần dịch):|Xem mà không thấy, nên tên gọi là »Di« (夷); Lóng mà không nghe, nên tên gọi là »Hi« (希); Bắt mà không nắm bắt được, nên gọi là »Vi« (微); Ba cái ấy không thể phân ra được, vì nó hỗn hợp làm Một. Trên nó thì không sáng, dưới nó thì không tối. Dài dằng dặc mà không có tên, rồi lại trở về chỗ không có. Ấy gọi là cái hình trạng không hình trạng, cái hình trạng của cái không có vật…. Giữ cái đạo xưa để mà trị cái có của hiện nay. Biết được cái đầu mối của xưa, ấy gọi là nắm được giềng mối của Ðạo.|Ðạo hiện hành một cách tự nhiên, hành động của Ðạo được diễn tả bằng »vô vi«, là không làm nhưng cũng vì thế mà không có một việc gì bị bỏ qua (Bất hành nhi hành). Trong thế giới hiện hữu này thì người ta có thể suy ra được cái »thể« (體) của Ðạo qua cái »dụng« (用), cái »lực« (力) của nó, được gọi là Ðức (德).|Ðạt được sự thống nhất với Ðạo là mục đích tối cao của các Ðạo gia. Trí hiểu biết thông thường không đủ để tiếp cận được Ðạo; hành giả phải tự trở thành một đơn vị với Ðạo, phải đạt được sự giản đơn, sự trống rỗng diệu dụng của Ðạo. »Ðắc Ðạo« chỉ có thể là một bước nhảy vượt qua mọi kinh nghiệm nhận thức thông thường, là một sự trực nhận siêu phàm.|Trong thời kì Phật giáo được truyền qua Trung Quốc lần đầu, các Cao tăng tại đây chưa tìm được những thuật ngữ tương ưng nên thường sử dụng thuật ngữ của Ðạo giáo để trình bày Phật pháp và Ðạo được xem là đồng nghĩa với Phật pháp, là con đường đưa chúng sinh đến Niết-bàn.|Tại Nhật, chữ Ðạo thường được hiểu là việc kế thừa đức Phật trên con đường tu tập đạt Niết-bàn, giải thoát và Thiền tông tại đây cũng hiểu chữ Ðạo dưới nghĩa này. Nương theo ý nghĩa này, người cũng gọi tất cả những phương pháp tu tập, thực hành thấm nhuần vị Thiền là Ðạo, như Kiếm đạo (劍道; j: kendō), Trà đạo (荼道; j: chadō), Hoa đạo …|Dần dần, chữ Ðạo được tín đồ của tất cả các tôn giáo tại Ðông, Ðông nam á hiểu như là chân lí tuyệt đối, là »nguyên lí cuối cùng« của vũ trụ. »Ðắc Ðạo«, »Ðạt Ðạo« là những danh từ đồng nghĩa với Giải thoát, chứng Niết-bàn, Giác ngộ của Phật giáo.
Đạo An 道安; C: dàoān; 312-385;|Cao tăng Trung Quốc. Công lớn của Sư là nối kết hai cách tu học Phật giáo: Thiền (s: dhyāna) và Trí huệ (s: prajñā). Sư là người sáng lập một tông phái lấy kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa làm cơ sở. Ngoài ra Sư cũng là là người tổng kết kinh điển thành thư mục, đề nghị các tăng sĩ xuất gia nên mang họ Thích (s: śākya), và soạn ra những nguyên lí sống chung dựa trên Luật tạng. Sư cũng là người đề xuất việc thờ phụng Di-lặc Bồ Tát. Sư được xem là người sáng lập và đề cao việc tu tập thiền định trong đạo Phật – thậm chí có người xem Sư là Tổ sư đích thật của Thiền tông Trung Quốc.|Ðạo An được sinh tại Bắc Trung Quốc trong một Nho gia, nhập Tăng-già từ lúc 12 tuổi. Dưới sự hướng dẫn của Phật Ðồ Trừng, một Cao tăng Ấn Ðộ, Sư học kinh sách Bát-nhã về phép tu Thiền và đã viết luận giải rất sớm. Sư thành lập một tông phái với quan niệm rằng, không có gì thật sự đứng sau mọi hiện tượng. Con người có thể đắc đạo nếu để tâm thức lưu lại trong thể »không thật sự« đó. Sư có công trong việc sắp xếp cách thờ cúng, cách trình bày kinh điển, các cách khác trong đời sống hàng ngày của tăng ni. Sư đề xuất việc thờ Di-lặc bằng cách đứng trước tượng Di-lặc cầu xin được tái sinh về cõi Ðâu-suất, nơi giáo hoá hiện nay của Ngài.
đảo bản 倒本; C: dàoběn; J: tōhon;|Sai lầm về phần quan trọng nhất của vấn đề, Căn bản vô minh (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Đáo bỉ ngạn 到彼岸; C: dàobǐàn; J: tōhigan;|Hán dịch nghĩa chữ Phạn pāramitā, nghĩa là đạt đến bờ bên kia. Dịch âm là Ba-la-mật (波羅蜜). Hoàn tất, hoàn hảo.
Đạo can kinh 稻稈經; S: śālistamba-sūtra; »Ðạo can« có nghĩa là cọng lúa, cây lúa non mới nẩy mầm.|Một bộ kinh Ðại thừa, thuật lại việc Bồ Tát Di-lặc ứng đáp Xá-lị-phất, giải thích thuyết Nhân duyên sinh qua ví dụ lúa sinh từ hạt mầm, từ mầm sinh lá… Kinh này thường được nêu ra làm dẫn chứng trong những bài luận giải Tây Tạng.|Kinh này có nhiều bản dịch: Chi Khiêm dịch thời Tam quốc dưới tên Liễu bản sinh tử kinh, Bất Không Kim Cương dịch đời Ðường dưới tên Từ Thị Bồ Tát sở thuyết đại thừa duyên sinh đạo can dụ kinh, Thí Hộ dịch đời Bắc Tống là Ðại thừa xá-lê sa-đảm-ma kinh.
đảo chấp 倒執; C: dàozhí; J: tōshū;|Cố chấp sai lầm (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Đạo Chiêu 道昭; J: dōshō; 629-700;|Tổ thứ nhất của Pháp tướng tông (j: hossū-shū) tại Nhật Bản. Sư đến Trung Quốc học với Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang và cũng có mối liên hệ với Nam phương Thiền tông. Trở về Nhật, Sư lập một thiền viện ở phía Ðông nam chùa Nguyên Hưng, một ngôi chùa của Pháp tướng tông Nhật Bản và thu thập rất nhiều kinh, luận. Sư dốc sức cho sự nghiệp công ích xã hội, đặt thuyền bắc cầu ở bến sông, đào giếng cạnh đường, chu du khắp Nhật Bản giáo hoá quần chúng.
đảo đẳng lưu 倒等流; C: dàoděngliú; J: tōdōru;|Sai lầm khi gây nên nghiệp tham dục (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Đáo đầu 到頭; C: dàotóu; J: tōtō;|1. Sau tất cả, tuỳ cơ, cuối cùng, sau cùng; 2. Tốt nhất, hay nhất.
Đạo đức kinh 道德經|Lão Tử.
Đạo Hạnh 道行; ?-1115|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 12, kế thừa Thiền sư Sùng Phạm.|Sư tên tục là Từ Lộ, con của Viên tăng quan Ðô Án Từ Vinh, quê tại làng Yên Lãng. Sư tính tình hào hiệp, chí cao, ban ngày thì chơi cờ thổi sáo nhưng ban đêm cần cù đọc sách. Sau Sư đi thi đỗ Tăng quan.|Nhân khi cha của Sư là Từ Vinh bị người dùng bùa chú ám hại, Sư quyết tâm tu học huyền thuật để rửa hận cho cha. Sau khi trả thù xong, duyên nợ đã rửa sạch, Sư phát tâm cầu giải thoát và chu du đây đó tầm đạo.|Ban đầu, Sư đến Thiền sư Kiều Trí Huyền ở Thái Bình tham học nhưng không có sở đắc. Ðến Thiền sư Sùng Phạm tại chùa Pháp Vân, Sư hỏi: »Thế nào là chân tâm?« Sùng Phạm đáp: »Cái gì chẳng phải chân tâm?« Sư nhân đây tỉnh ngộ, hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Sùng Phạm bảo: »Ðói ăn khát uống.«|Rời Sùng Phạm, Sư đến chùa Thiên Phúc ở núi Phật Tích trụ trì hoằng hoá chúng. Một vị tăng hỏi: »Ði đứng ngồi nằm (Hành trụ toạ ngọa) cả thảy đều là Phật tâm, thế nào là Phật tâm?« Sư trả lời bằng kệ:|作有塵沙有。爲空一切空|有空如水月。勿著有空空|Tác hữu trần sa hữu|Vi không nhất thiết không|Hữu không như thuỷ nguyệt|Vật trước hữu không không|*Có thì muôn sự có|Không thì tất cả không|Có, không trăng đáy nước|Ðừng mắc có cùng không.|Sư lại bảo:|日月在巖頭。人人盡失朱|富人有駒子。步行不騎駒|Nhật nguyệt tại nham đầu|Nhân nhân tận thất chu|Phú nhân hữu câu tử|Bộ hành bất kị câu|*Nhật nguyệt tại non đầu|người người tự mất châu|Kẻ giàu sẵn ngựa mạnh|Bộ hành chẳng ngồi xe.|Sắp tịch, Sư gọi đệ tử đến dạy: »Túc nhân của ta chưa hết phải còn sinh lại thế gian này tạm làm vị quốc vương. Sau khi mệnh chung ta lại lên cõi trời Tam thập tam làm Thiên chủ. Nếu thấy thân ta bị hư hoại thì ta mới thật vào Niết-bàn, chẳng trụ trong vòng sinh diệt này nữa.« Sư nói kệ phó chúc:|秋來不報雁來歸。冷笑人間暫發悲|爲報門人休戀著。古師幾度作今師|Thu lai bất báo nhạn lai quy|Lãnh tiếu nhân gian tạm phát bi|Vị báo môn nhân hưu luyến trước|Cổ sư kỉ độ tác kim sư.|*Thu về chẳng hẹn nhạn cùng bay|Cười lạt người đời luống xót vay|Thôi! Hỡi môn đồ đừng lưu luyến|Thầy xưa mấy lượt hoá thầy nay.|Nói xong, Sư an nhiên thị tịch. Nhục thân Sư mãi sau này vẫn còn.
Đạo Huệ 道慧; ?-1173|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 9, nối pháp Thiền sư Thông Biện. Sư có nhiều đệ tử ngộ yếu chỉ thiền như Ðại Xả, Tịnh Không, Tín Học, Trường Nguyên, Tĩnh Lực, Trí Bảo và Minh Trí.|Sư họ Âu, quê ở Chân Hộ, làng Như Nguyệt, xuất gia tu học với Quốc sư Thông Biện tại chùa Phổ Minh năm 25 tuổi. Nơi đây, Sư ngộ được huyền chỉ của Thiền.|Sau, Sư đến chùa Quang Minh núi Thiên Phúc trong huyện Tiên Du trụ trì. Ðạo hạnh của Sư vang xa và cảm hoá được cả thú rừng. Niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 20 (1161), Hoàng Cô Thuỵ Minh mắc bệnh, vua sai sứ thỉnh Sư vào xem bệnh. Sư vừa đến cửa ngoài thì Hoàng Cô lành bệnh. Vua Lí Anh Tông rất mừng mời Sư ở lại chùa Báo Thiên hoằng pháp. Học chúng và đạo hữu khắp nơi đua nhau đến yết kiến. Sư vì vậy không trở về núi mà ở lại khai đường giáo hoá.|Ðến niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 10 (1173), ngày mồng 1 tháng 8, Sư có chút bệnh tự than rằng: »Loạn li lan rộng, ái chừ, từ đó mà đến.« Sư nói kệ:|地水火風識。原來一切空|如雲還聚散。佛日照無窮|色身與妙體。不合不分離|若人要甄別。爐中花一枝|Ðịa thuỷ hoả phong thức|Nguyên lai nhất thiết không|Như vân hoàn tụ tán|Phật nhật chiếu vô cùng|Sắc thân dữ diệu thể|Bất hiệp bất phân li|Nhược nhân yếu chân biệt|Lô trung hoa nhất chi|*Ðất nước lửa gió thức|Nguyên lai thảy đều không|Như mây lại tan họp|Phật nhật chiếu không cùng|Sắc thân cùng diệu thể|Chẳng họp chẳng chia lìa|Nếu người cần phân biệt|Trong lò một cành hoa.|Ðến canh ba, Sư im lặng thị tịch.
Đạo Khải 道楷|Phù Dung Ðạo Khải
đảo kiến 倒見; S: viparyāsa; P: vipallāsa;|Chỉ kiến giải điên đảo, ngược ngạo về sự lí, ví dụ như cho Vô ngã là Ngã, cho Khổ là vui, cho Vô thường là trường tồn… Ðối nghĩa của đảo kiến là Như thật tri kiến.
Đạo Lâm 道林; ?-1203|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 16, nối pháp của Thiền sư Pháp Dung. Môn đệ đắc pháp còn được nhắc đến của Sư là Tịnh Thiền.|Sư họ Tăng, quê ở Cửu Cao, Chu Diên, thuở nhỏ đã mộ cửa Phật, ý chí cao cả. Sư xuất gia theo học với Thiền sư Pháp Dung và được vị này truyền tâm ấn.|Sau, Sư trụ trì chùa Long Vân, làng Siêu Thoại, Long Phúc. Nơi đây, Sư tuỳ duyên giáo hoá, xiển dương tông môn.|Niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai, năm Quý Hợi, khoảng tháng năm, Sư ngồi kết già viên tịch.
Đáo ngạn 到岸; C: dàoàn; J: tōgan;|Đáo bỉ ngạn (到彼岸).
Đạo Ngộ 道悟|Thiên Hoàng Ðạo Ngộ
Đạo Ngô Viên Trí 道吾圓智; C: dàowú yuánzhi; J: dōgo enchi; 768/69-835;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Dược Sơn Duy Nghiễm, bạn đồng học với Thuyền Tử Ðức Thành và Vân Nham Ðàm Thạnh. Môn đệ xuất sắc của Sư là Thạch Sương Khánh Chư. Tắc 55. và 89 trong Bích nham lục nhắc đến Sư.|Sư họ Trương, quê ở Hải Hôn, Dự Chương. Lúc nhỏ, Sư theo Hoà thượng Bàn xuất gia. Sau Sư đến tham vấn Dược Sơn và được ấn khả.|Một hôm Dược Sơn hỏi Sư: »Ngươi đi đâu về?« Sư thưa: »Ði dạo núi về.« Dược Sơn bảo: »Chẳng rời thất này, đem gì về, nói mau!« Sư thưa: »Trên núi chim con đầu tựa tuyết, đáy khe cá lội lo chẳng cùng.«|Vân Nham Ðàm Thạnh hỏi Sư: »Bồ Tát Ðại Bi (Quán Thế Âm) dùng tay mắt nhiều lắm để làm gì?« Sư nói: »Như người giữa đêm vói tay lại sau mò chiếc gối.« Vân Nham nói: »Tôi hiểu.« Sư hỏi: »Ông hiểu thế nào?« Vân Nham: »Toàn thân là tay mắt.« Sư nói: »Nói đến tột cùng chỉ nói được tám phần.« Vân Nham hỏi lại: »Sư huynh thế nào?« Sư đáp: »Khắp thân là tay mắt« (Bích nham lục, 89).|Sư mắc bệnh, tăng chúng đến thăm hỏi. Sư bảo: »Có nhận chẳng đến, các ngươi có biết nó chăng?« Ðại chúng buồn thảm. Sư bảo: »Ta sẽ đi bên Tây, lí không rời bên Ðông.« Mùng mười tháng chín niên hiệu Thái Hoà năm thứ chín đời Ðường, Sư quy tịch. Vua sắc ban là Tu Nhất Ðại sư.
Đạo Nguyên Hi Huyền 道元希玄; J: dōgen kigen; 1200-1253, cũng được gọi là Vĩnh Bình Ðạo Nguyên (j: eihei dō-gen) vì Sư có công khai sáng Vĩnh Bình tự;|Một trong những Thiền sư quan trọng nhất của Nhật Bản, người đưa dòng Thiền Tào Ðộng (j: sōtō) qua đây. Sư được Phật tử của tất cả các tông thờ phụng như một Ðại Bồ Tát.|Sư thường bị hiểu lầm là một triết gia với quan điểm »thâm sâu và quái dị nhất« Nhưng những gì Sư viết không xuất phát từ những suy luận về thật tại mà từ sự trực chứng thật tại đó.|Năm 1233 Sư sang Trung Quốc và được Trường Ông Như Tịnh Thiền sư ở Thiên Ðồng sơn, Minh Châu hướng dẫn đạt diệu tâm của dòng Tào Ðộng. Năm 1227 trở lại Nhật, Sư sống 10 năm ở Kinh Ðô (j: kyōto). Nhằm tránh ảnh hưởng của triều đình Nhật, Sư rút về sống viễn li trên núi. Tác phẩm chính và nổi tiếng nhất của Sư là Chính pháp nhãn tạng (j: shōbōgenzō) – được xem là một kiệt tác của Thiền tông Nhật Bản. Theo quan điểm của dòng Tào Ðộng, Ðạo Nguyên cho rằng phép im lặng Toạ thiền (Mặc chiếu thiền) rất quan trọng. Mặt khác Sư cũng không hề từ chối phép tham quán Công án được truyền dạy trong dòng Lâm Tế (j: rinzai). Bản thân Sư cũng góp nhặt khoảng 300 công án Thiền, luận giải cho từng công án đó trong tác phẩm Niêm bình tam bách tắc (j: nempyo sambyaku-soku). Các tác phẩm khác của Sư – khác với Chính pháp nhãn tạng – chỉ mang tính chất nhập môn. Môn đệ kế thừa Sư là Cô Vân Hoài Trang (j: koun ejō).|Sư sinh ra trong một gia đình quý phái, thời thơ ấu đã chứng tỏ có một đầu óc xuất sắc. Lên bốn Sư đã đọc thơ Ðường và lên chín đã đọc được một bài luận về A-tì-đạt-ma. Cha mẹ mất sớm làm Sư ngộ lẽ vô thường và trở thành tăng sĩ. Mới đầu, Sư học giáo pháp của Thiên Thai tông. Năm mười lăm tuổi, Sư bị câu hỏi sau đây dày vị: »Nếu quả thật, như kinh dạy, thể tính của ta đã là Bồ-đề, thì sao Chư Phật còn phải tu học để giác ngộ?« Sư tìm học với Minh Am Vinh Tây Thiền sư, là người đã đưa dòng Thiền Lâm Tế từ Trung Quốc qua Nhật Bản. Vinh Tây trả lời câu hỏi của Sư: »Chư Phật không ai biết mình có Phật tính, chỉ có súc sinh mới biết mình có Phật tính.« Sư nghe đây có tỉnh và sau đó học đạo với Vinh Tây, nhưng quá trình tu học này không kéo dài được lâu vì Vinh Tây tịch ngay trong năm đó. |Dù đã tiến xa, Sư vẫn khắc khoải và cuối cùng cất bước lên đường sang Trung Quốc bằng đường biển, một chuyến đi đầy hiểm nguy thời đó. Sư tham vấn nhiều Thiền sư, học hỏi nhiều phép tu nhưng cuối cùng, tại chùa Thiên Ðồng, Sư mới đại ngộ qua câu nói của Thiên Ðồng Như Tịnh: »Ngươi hãy xả bỏ thân tâm.«|Hai năm sau ngày đại ngộ, Sư mới trở về Nhật và thành lập dòng Tào Ðộng ở đây. Trong buổi lễ khánh thành thiền viện đầu tiên tại Nhật – Hưng Thánh Pháp Lâm tự (j: kōshōhárin-ji) – Sư thượng đường với những câu sau: »Ta chẳng tu học tại nhiều thiền viện. Nhưng khi ta yết kiến Ðại sư Như Tịnh thì ta thông hiểu tường tận, trực nhận rằng: lỗ mũi đứng thẳng và hai con mắt nằm ngang. Từ bấy giờ ta chẳng còn bị ai lừa bịp. Với hai bàn tay trắng ta trở về cố hương và vì vậy ta chẳng có chút gì có thể gọi là Phật pháp cả. Ta sống theo nhịp điệu của thời gian: buổi sáng mặt trời mọc ở hướng Ðông và buổi tối trăng lặn ở phía Tây. Mây tan núi hiện, sau cơn mưa thì núi có vẻ thấp hơn bình thường – là thế nào?… Hễ bốn năm thì có một năm nhuận, gà gáy buổi sáng.« Sư đứng im một lúc rồi bước xuống.|Năm 1243, Sư rời Hưng Thánh tự và đến vùng Ichizen để một năm sau đó thành lập Vĩnh Bình tự. Năm 1253, Sư viên tịch.|Các tác phẩm quan trọng của Sư còn được lưu lại: 1. Phổ khuyến toạ thiền nghi (fukanzanzengi), 2. Học đạo dụng tâm tập (gakudōyōjinshū), 3. Ðiển toạ giáo huấn (tenzōkyōkun), 4. Vĩnh Bình quảng lục (eihei kōroku), cũng được gọi là Ðạo Nguyên Hoà thượng quảng lục (dōgen ōshō kōroku), 5. Chính pháp nhãn tạng tuỳ văn kí (shōbōgenzō-zuimonki), 6. Chính pháp nhãn tạng tam bách tắc (shōbōgenzō-sambyakusoku), 7. Chính pháp nhãn tạng (shōbōgenzō), 95 quyển.
Đạo Nhất 道一|Mã Tổ Ðạo Nhất
đạo Phật Là con đường Phật hướng dẫn đến Niết-bàn, một cách gọi khác của Phật pháp, Phật giáo.
Đạo Sinh 道生; C: dàoshēng; 355-434;|Cao tăng và là người thành lập Niết-bàn tông của Phật giáo Trung Quốc. Sư là người cùng Cưu-ma-la-thập dịch kinh Diệu pháp liên hoa (s: saddharmapuṇḍarīka-sūtra) và Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra). Ðạo Sinh có nhiều quan điểm cách mạng so với thời bấy giờ, góp công rất lớn thúc đẩy sự phát triển của nền Phật giáo Trung Quốc. Sư quan niệm rằng, bất cứ ai cũng có Phật tính, bất cứ ai cũng có thể thành Phật tức khắc. Sư có công tổng hợp hai bộ kinh Ðại bát-niết-bàn và Bát-nhã ba-la-mật-đa. Ngày nay các tác phẩm của Sư đã thất lạc, người ta chỉ tìm thấy quan điểm của Sư rải rác trong các bộ luận.|Ðạo Sinh là người có biệt tài, lúc gia nhập Tăng-già Sư đã là một người tinh thông đạo pháp. Từ năm 397 đến 401 Sư tu học tại Lư Sơn, một trung tâm Phật giáo quan trọng thời đó. Năm 405 Sư về Trường An, cùng với Cưu-ma-la-thập soạn kinh sách. Vì những quan điểm mới, Sư bị loại ra khỏi Tăng-già. Ðó là những quan điểm phù hợp với Ðại bát-niết-bàn kinh (s: mahāparinirvāṇa-sūtra) – nhưng kinh này lúc đó chưa được dịch ra Hán văn. Sau khi kinh này dịch xong, thuyết của Sư được phục hồi.|Sư cho rằng, ngay cả Nhất-xiển-đề cũng có Phật tính và có thể đạt Phật quả, đó là quan điểm Ðại thừa, tất cả mọi chúng sinh, không chừa ai, đều có Phật tính, chỉ vì bị vô minh che phủ. Ðạt giác ngộ chính là trực nhận được Phật tính đó và tất nhiên – hành giả phải qua nhiều bước đường chuẩn bị. Sư quan niệm rằng giác ngộ là giác ngộ tức khắc (đốn ngộ), là tình trạng hợp nhất với Chân như. Vì vậy giác ngộ không thể là một quá trình từ từ. Khi giác ngộ thì Luân hồi hay Niết-bàn không khác và Chân như của chư Phật không khác với thế giới hiện hữu. Ðối với Ðạo Sinh thì Phật tính trong Ðại bát-niết-bàn kinh và tính Không trong kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa chỉ là một: cả hai đều vô tướng, vô tính. Phật tính và tính Không chính là Niết-bàn, là trạng thái không còn phân biệt giữa chủ thể và khách thể. Ðối với Sư, không có một Tịnh độ ngoài thế giới này vì chư Phật không hề rời chúng ta, luôn luôn ở trong ta.|Cuối đời, Sư lại sống trên núi Lư Sơn. Một ngày trong năm 434 Sư giảng pháp. Khi sắp rời toà giảng, Sư giô gậy trúc lên cao, ngồi mà nhập Niết-bàn.
đảo sử 島史; P: dīpavaṃsa;|Một bộ sử kí được lưu lại bằng văn hệ Pā-li, xuất hiện thế kỉ thứ 4 ở Tích Lan. Tác giả của bộ này không rõ. Bộ sử này ghi lại những bài thuật về thời đức Phật Thích-ca còn giáo hoá, sự thuộc địa hoá của Tích Lan đến thời cai trị của vua Ma-ha Tu-na (p: mahāsena) giữa thế kỉ thứ 4. Ðây là những tài liệu rất quý giá cho sự nghiên cứu Phật giáo trong khoảng thời gian này.
Đạo sư 導師; S: guru; T: lama; cũng có khi được dịch theo âm Hán Việt là Cổ-lỗ, nghĩa là Sư phụ, vị thầy dạy đạo. Theo một ý nghĩa riêng biệt – như trong trường hợp của các vị Ma-ha Tất-đạt – thì người ta nên dịch chữ »guru« là Chân sư (真師), nếu hiểu chữ »Chân sư« ở đây đồng nghĩa với một vị thầy có đầy đủ những khả năng, thích hợp cho những môn đệ khác nhau, có thể nói là tuỳ cơ ứng biến, tuỳ chứng phát dược.|Là vị thầy dạy Ðạo. Truyền thống của Ấn Ðộ giáo phân biệt bốn vị Ðạo sư: |1. Cha mẹ, là người sinh thành thân thể, hiến tặng đời sống và giúp làm quen với các vấn đề trong cuộc đời; Thầy giáo dạy các môn học của thế gian, hướng dẫn nghề nghiệp;|2. Ðạo sư giúp tìm ra con đường đạo, tiến đến giải thoát;|3. »Ðạo sư vũ trụ« (s: avatāra, dịch sát nghĩa là »Ðấng Giáng thế«) là bậc giác ngộ, là hiện thân của sự Giác ngộ, của Chân như.|Về Ðạo sư người ta thường đặt hai câu hỏi là: 1. Trên con đường tu học giác ngộ, liệu có thật cần một Ðạo sư hay không; 2. Ðối với một Ðạo sư, hành giả phải tuân lời đến mức nào. Về câu hỏi thứ nhất, các Ðạo sư Ấn Ðộ hay dùng một thí dụ giản đơn: một người khách lạ tìm đường trong một thành phố. Người đó có hai cách, một là cứ lần lượt xem từng con đường, thế nào rồi cũng tìm ra, nhưng mất thì giờ và nếu không may, có thể con đường cuối cùng chính là con đường mình kiếm. Cách thứ hai là hỏi một người sống trong thành phố đó, người đó sẽ chỉ cách đi ngắn nhất đến đó. Ðạo sư được xem là người sống tại »địa phương« của các phương pháp tu học. Mặt khác, trong kinh sách thường nói, một khi hành giả tiến tới một mức nhất định thì nội tâm sẽ biến thành Ðạo sư, dẫn đường cho mình. Vì vậy trong kinh có dùng chữ Phạn antaryāmin, nghĩa là »người hướng đạo nội tại.« Nói về sự nghe lời Ðạo sư thì quan niệm chung cho thấy rằng không bao giờ một Ðạo sư chân thật lại ép chế học trò. Ngược lại học trò phải có một mối liên hệ thân thiết và tin tưởng nơi Ðạo sư thì các vị đó mới có thể giúp đỡ được. Người Ðạo sư vĩ đại nhất chính là đức Phật thì lại khuyên mọi đệ tử nên nghe rồi tự mình trắc nghiệm các chân lí, không nên nhắm mắt tin vào ai, kể cả vào lời nói của Ngài (xem thêm A-xà-lê).
đạo tâm 道心; C: dàoxīn; J: dōshin; nghĩa là »tâm hướng về Ðạo«;|1. Chỉ tâm đầy nguyện vọng và quyết định thực hiện Bồ-đề; 2. Một Sa-di trong một thiền viện (xem thêm dưới Vân thuỷ; j: unsui).
đảo thể 倒體; C: dàotǐ; J: tōtai;|Sai lầm trong quan niệm về thân (hoặc bản ngã). Sai lầm khi tin vao sự hiện hữu của bản ngã trên cơ sở tự tướng. Tương đương với Tát-ca-da kiến (薩迦耶見; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Đạo Tín 道信; C: dàoxìn; J: dōshin; 580-651;|Tổ thứ tư của Thiền tông Trung Quốc. Dưới pháp môn của Sư, Thiền được chia thành hai nhánh, đó là nhánh Ngưu Ðầu thiền do Pháp Dung thành lập và nhánh thứ hai là Thiền tông do Ngũ tổ Hoằng Nhẫn nối tiếp. Các sử gia sau này không xếp Ngưu Ðầu thiền vào Thiền chính tông của Trung Quốc.|Sư Ðại ngộ sau khi tham vấn nơi Tam tổ Tăng Xán. Gặp Tổ, Sư quì lạy cầu cứu: »Xin Hoà thượng chỉ dạy con pháp môn giải thoát« Tổ bảo: »Ai trói ngươi?« Sư đáp: »Chẳng thấy ai.« Tổ bảo: »Sao ngươi lại tìm giải thoát?« Nghe câu này, Sư đạt yếu chỉ. Tổ khuyên Sư hướng dẫn môn đệ tham thiền theo kinh Nhập Lăng-già.|Học giả đến Sư rất đông. Từ đây Thiền tông bắt đầu tiến lên giai đoạn mới, tăng sĩ không còn nay đây mai đó khất thực mà tu học định cư tại các thiền viện. Ngoài ra, sự nghiên cứu học hỏi kinh sách không còn giữ giá trị tuyệt đối nữa mà thay vào đó là sự ứng dụng. Thực hành Phật pháp được coi trọng hơn hết và đó cũng là một trong những đặc điểm cơ bản đưa Thiền tông lên cao trong đời Ðường.
Đạo Tuyên 道宣; C: dàoxuān; J: dōsen;|1. Vị Khai tổ (596-667) của Luật tông Trung Quốc, cũng được gọi là Nam Sơn Luật sư, Nam Sơn Ðại sư. Sư xuất gia năm 16 tuổi, nghiêm túc tu hành trì giới. Nhân lúc Pháp sư Huyền Trang từ Ấn Ðộ trở về, Sư phụng chiếu sung vào ban phiên dịch kinh. Vì có công truyền bá giới luật nên Sư được các vị sau này tôn là Sơ tổ của Luật tông Trung Quốc. Tác phẩm quan trọng nhất của Sư còn được lưu lại có lẽ là bộ Tục cao tăng truyện, một bộ truyện gồm 30 quyển, ghi lại nhiều tiểu sử của các Cao tăng từ đầu thế kỉ thứ 6 đến năm 645. Sư tịch ngày 3 tháng 10 năm Càn Phong thứ 2 đời Ðường, thọ 72 tuổi. Vua sắc thuỵ là Trừng Chiếu, tháp hiệu Tịnh Quang. Vì ở lâu tại Chung Nam sơn nên Sư cũng được biết dưới tên Nam Sơn Ðại sư, Luật sư.|2. Luật sư Trung Quốc (702-760), sang Nhật Bản năm 732 truyền bá giáo pháp của Luật tông (j: ritsu-shū), Hoa nghiêm tông (j: kegon-shū) và Bắc phương Thiền tông. Sư là môn đệ đời thứ ba của Thiền sư Thần Tú.
Đạo Ưng 道膺|Vân Cư Ðạo Ưng
Đạt-bảo Cáp-giải 達保哈解; T: dvags-po lha-rje; 1079-1153, là tên dịch theo âm Hán Việt, cũng được biết dưới tên Gam-pô-pa (t: sgam-po-pa);|Một trong những Ðại sư của dòng Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) tại Tây Tạng. Năm 26 tuổi, sau khi vợ mất, Sư trở thành tăng sĩ và theo học giáo pháp của phái Cam-đan (t: kadampa). Trong quá trình tu học, Sư được gặp Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa), một đạo sư tiếng tăm lừng lẫy và được Mật-lặc Nhật-ba truyền cho pháp môn Ðại thủ ấn (s: mahāmu-drā).|Sau khi xuất gia – được thúc đẩy bởi sự bất lực trước cái chết của vợ và con trong một cơn dịch, mặc dù là một y sĩ – Ðạt-bảo Cáp-giải được hướng dẫn vào giáo lí của dòng Cam-đan, một dòng được A-đề-sa (s: atīśa) Ðại sư sáng lập. Sư chăm chỉ tu tập, giữ giới luật nghiêm túc. Nhưng lí luận khô khan của tông này không dẹp hết những hồ nghi và vì vậy Sư quyết định xuống áo cà sa và trở thành một du sĩ tham đạo. |Một ngày kia, Sư nằm mộng thấy linh ảnh của một vị tăng sĩ màu xanh, tóc tai rối bù. Trong ảnh đó, vị tăng sĩ nhìn Sư cười, mắt sáng long lanh và nhổ nước bọt vào mặt Sư. Không bao lâu sau đó, Sư bắt đầu du phương – là một điều mà các vị Lạt-ma thỉnh thoảng vẫn làm. Trên đường đi, Sư bị lạc vào một vùng hẻo lánh của Hi-mã-lạp sơn và quả nhiên gặp một người có màu da xanh, trông rất ốm yếu và người đó không là ai khác hơn là Mật-lặc-nhật-ba. Mật-lặc-nhật-ba nhếch mép cười khi thấy Sư ngần ngừ bước vào. Không nói gì cả, ông đưa cho Sư một cái sọ người đựng đầy Chang (một loại bia) và ép uống hết – theo cách của Mật giáo bày tỏ phép tâm truyền tâm giữa thầy với trò. Sư từ chối không uống vì giới luật không cho phép. Mật-lặc-nhật-ba cười lớn – giống như trong linh ảnh đã hiện và nói ngay rằng, học theo một vị Phật đang hiện tiền tốt hơn bám giữ vào một giới luật hẹp hòi. Ông chế ngạo cách tu hành theo khuôn khổ, không có tính cách quảng đại của dòng Cam-đan. Ðối với ông, cách tu luyện như thế không giúp được một người thượng căn ham học. Ngay tại chỗ, Sư uống cạn một hơi, nhìn thẳng vào mắt Mật-lặc-nhật-ba và nhận ra rằng, linh ảnh đã biến thành sự thật: vị tăng sĩ giác ngộ này xem như đã nhổ nước bọt vào mặt ông và đã trao truyền năng lực cho kẻ thông thái nhưng chưa thật sự thức tỉnh đó. Cũng trong phút đó, Mật-lặc-nhật-ba biết đã tìm ra truyền nhân của mình. Sau đó, Sư ở lại với thầy tu tập thiền định và nghe giảng pháp.|Một ngày kia, Mật-lặc-nhật-ba báo cho Sư hay rằng đã tới lúc phải rời thầy ra đi. Tới ngày từ giã thầy và xa thầy mãi mãi, Sư quì dưới chân Mật-lặc-nhật-ba, để cho vị đạo sư để hai chân lên đầu mình và nhận một luồng chân khí để nhờ đó đạt được tâm thức đại viên kính trí của Phật. Sau buổi lễ này, Sư xin thầy cho một lời nhắn nhủ cuối cùng. Mật-lặc-nhật-ba nhún vai và nói: »Ngồi thiền thì ngươi còn phải ngồi nhiều và thường xuyên, còn học thì tuyệt đối không còn gì để học nữa.« Sau đó, Mật-lặc-nhật-ba không nói gì nữa. Sư xuống núi, vừa đi qua khỏi một con suối thì nghe phía sau Mật-lặc-nhật-ba kêu réo: »Ta còn một lời dạy cuối cùng« tiếng kêu lẫn trong tiếng suối reo, »Và lời này thật sự là bí mật và thâm sâu, chỉ dành chỉ dạy cho các bậc xuất sắc nhất trong giới thượng căn.« Sư yên lặng nín thở quay đầu lại, tim đập thình thình. Mật-lặc-nhật-ba bèn quay lưng, vén váy lên và cho Sư thấy mông đít trần truồng đã đóng thành sẹo sau nhiều nằm ngồi trên đá thiền định. »Lời dạy cuối cùng của ta đây, hãy nhớ!« Mật-lặc-nhật-ba kêu to.|Ðúng như lời tiên đoán của Mật-lặc-nhật-ba, mặc dù tu tập mười ba tháng với thầy nhưng sau ba năm tu tập, Toạ thiền cực khổ kế tiếp Sư mới chứng ngộ yếu chỉ Ðại thủ ấn.|Sau khi Mật-lặc Nhật-ba nhập diệt, Sư thành lập tông Ca-nhĩ-cư (đúng hơn: môn đệ của Sư). Sư soạn bộ Bồ-đề đạo thứ đệ tuỳ phá tông trang nghiêm (Bồ-đề đạo thứ đệ) và tác phẩm này đã hợp nhất hai trường phái Ca-nhĩ-cư và Cam-đan »như hai dòng nước hoà vào nhau.«
Đạt-lại Lạt-ma 達賴喇嘛; T: dalai lama [da lai bla ma]; nghĩa là »Ðạo sư với trí huệ như biển cả«; |Danh hiệu do nhà vua Mông Cổ Altan Khan phong cho phương trượng của trường phái Cách-lỗ (t: gelugpa, Hoàng giáo) năm 1578. Kể từ 1617, Ðạt-lại Lạt-ma thứ 5 trở thành người lĩnh đạo chính trị và tinh thần của Tây tạng. Kể từ đây, người ta xem Ðạt-lại Lạt-ma là hiện thân của Quán Thế Âm và Ban-thiền Lạt-ma là người phụ chính. Mỗi một Ðạt-lại Lạt-ma được xem là tái sinh của vị Lạt-ma trước. Ðạt-lại Lạt-ma thứ 6 là vị có trình độ học thuật rất cao thâm và cũng là một nhà thơ. Vị Ðạt-lại Lạt-ma hiện nay là vị thứ 14, sống lưu vong tại Ấn Ðộ từ 1959 đến nay. Sư là người lãnh giải Nobel Hoà bình, đồng thời là người đại diện Phật giáo xuất sắc nhất hiện nay trên thế giới. Các tác phẩm Sư viết trình bày Phật giáo Tây Tạng và Phật pháp nói chung là những quyển sách mà mỗi người Phật tử phải nghiên cứu kĩ.|Danh sách các vị Ðạt-lại Lạt-ma: 1. Ðạt-lại Lạt-ma Căn-đôn Châu-ba (t: gendun drub, 1391-1475); 2. Ðạt-lại Lạt-ma Căn-đôn Gia-mục-thố (gendun gyatso, 1475-1542); 3. Ðạt-lại Lạt-ma Toả-lãng Gia-mục-thố (sonam gyatso, 1543-1588); 4. Ðạt-lại Lạt-ma Vinh-đan Gia-mục-thố (yonten gyatso, 1589-1617); 5. Ðạt-lại Lạt-ma La-bốc-tạng Gia-mục-thố (losang gyatso, 1617-1682); 6. Ðạt-lại Lạt-ma Thương-ưng Gia-mục-thố (jamyang gyatso, 1683-1706); 7. Ðạt-lại Lạt-ma Cách-tang Gia-mục-thố (kelsang gyatso, 1708-1757); 8. Ðạt-lại Lạt-ma Khương-bạch Gia-mục-thố (jampel gyatso, 1758-1804); 9. Ðạt-lại Lạt-ma Long-đa Gia-mục-thố (lungtog gyatso, 1806-1815); 10. Ðạt-lại Lạt-ma Sở-xưng Gia-mục-thố (tsultrim gyatso, 1816-1837); 11. Ðạt-lại Lạt-ma Khải-châu Gia-mục-thố (kedrub gyatso, 1638-1856); 12. Ðạt-lại Lạt-ma Xưng-lặc Gia-mục-thố (trinle gyatso, 1856-1875); 13. Ðạt-lại Lạt-ma Thổ-đan Gia-mục-thố (tubten gyatso, 1876-1933); 14. Ðạt-lại Lạt-ma Ðăng-châu Gia-mục-thố (tenzin gyatso, 1933-).
Đạt-ma 達摩; S: dharma; P: dhamma;|Danh từ dịch âm, nghĩa là: 1. Pháp; 2. Tên gọi ngắn của Bồ-đề Ðạt-ma
Đạt-ma-pa S: dharmapa hoặc dhamapa, damapa; »Kẻ tu học triền miên«;|Một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem như sống đầu thế kỉ thứ 11.|Ðạt-ma-pa là người dòng Bà-la-môn, siêng năng học hỏi, nhưng ông thiếu khả năng phân tích và thiền định nên không tiến bộ gì cả. Ngoài ra ông còn có thêm tính hay quên. Ngày nọ ông gặp một vị Du-già sư (s: yogin), thú nhận yếu kém của mình và cầu xin giúp đỡ. Vị Du-già sư truyền bí mật cho ông bằng bài kệ nói về cái nhất thể trong mọi hiện tượng:|Ví như người thợ rèn,|đốt cháy mọi kim loại,|rèn thành thỏi duy nhất.|Hãy hoà mọi hiểu biết,|vào Tâm thức mênh mông.|Vị Du-già sư đã dạy cho ông thoát khỏi loại tri kiến của nhà học giả, tức là biết rất nhiều nhưng không hiểu cái biết đó từ đâu mà ra. Nhờ tri kiến này, Ðạt-ma-pa chứng rằng, nguồn gốc tất cả hiểu biết của mình chính là tự tính của tâm thức. Ông đạt được sức mạnh và chứng ngộ được Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) giúp vô số người tìm đường giải thoát. Bài ca chứng đạo của Ðạt-ma-pa như sau:|Tâm trí người trí thức,|bị óc quen phân tích, |bị tư duy nhị nguyên,|đầu độc quá nặng nề.|Phép lành của Ðạo sư, |biểu hiện bằng lời nói,|chữa căn bịnh phát xuất,|từ cái nhìn lầm lạc.
Đạt-ma-pa / Gạt-ba-ri S: dharmapa/gharbari; »Nhà bác học hối cải«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Có hai vị Tất-đạt đều mang tên là Ðạt-ma-pa, một vị được ghi số 36, vị này có số 48. Có lẽ vị này là Ðạt-ma-pa/Gạt-ba-ri và sống cuối thế kỉ thứ 9.|Ðạt-ma-pa là một học giả tại Bồ-đề Na-già (s: bo-dhinagar), suốt ngày đọc sách, nhưng ít tu tập. Ðến lúc già và gần như mù ông mới hối tiếc thì một vị Không hành nữ (s: ḍākinī) hiện ra chỉ dạy diệu pháp:|Hãy tưởng tượng ra rằng,|mọi hiện tượng thế gian,|như bình đất đựng đèn;|mọi tư duy đầu óc,|như dầu để thắp đèn;|mọi cảm thụ trên đời,|như sợi bấc nhúng dầu;|mọi tri kiến phải trái,|như ngọn đèn đang cháy.|Châm dầu của khái niệm,|vào bình của chứng thật,|thắp bấc cháy tri kiến,|nhìn viên ngọc tâm thức.|Sau năm năm thiền định, ông chuyển hoá được khái niệm thông thường thành sự tỉnh giác thanh tịnh, thân thể già cỗi của ông trở thành thân một đứa trẻ tám tuổi. Ông đáp lại sự ngạc nhiên của mọi người bằng các câu kệ:|Khi nguyên nhân sắc trắng,|thì kết quả không đen.|Với đầu óc sáng sủa,|chỉ cần tinh tiến tu.
Đạt-ma tông 達摩宗; J: daruma-shū; gọi đủ là Bồ-đề Ðạt-ma tông;|Một tên gọi khác của Thiền tông.
đâu 兜; C: dōu; J: to, tō;|Có các nghĩa sau: 1. Cái mũ sắt, hình trang trí đầu chương mục; 2. Cái nón, cái mũ; 3. Bối rối, lúng túng; 4. Dùng để phiên âm »tu« ngoại ngữ.
Đầu-đà 頭陀; S, P: dhūta, dhutaṅga; nguyên nghĩa là »rũ sạch«;|Phương tiện tu khổ hạnh được Phật Thích-ca cho phép. Phép tu này giúp hành giả giảm tối đa những nhu cầu, tăng triển ý chí và rũ sạch những Ô nhiễm.|Ðại sư Phật Âm kể 13 hạnh đầu-đà trong Thanh tịnh đạo:|1. Mặc y phục rách vá (phấn tảo y, p: pamsukūlika-aṅga); 2. Mặc y phục ba phần (p: tecivarika-aṅga); 3. Khất thực để sống (p: piṇḍātika-aṅga); 4. Không bỏ nhà nào (thứ đệ khất; p: sapadānacārika-aṅga); 5. Ăn một lần trong ngày (nhất toạ thực; p: ekāsa-nika-aṅga); 6. Ăn chỉ một phần (p: pattapiṇḍika-aṅga); 7. Không ăn tàn thực (không ăn giữa bữa; p: khalupacchābhattika-aṅga); 8. Ở rừng (lâm cư, p: araññika-aṅga); 9. Ở gốc cây (p: rukkhamūlika-aṅga); 10. Ở giữa trời (p: abbhokāsika-aṅga); 11. Ở nghĩa địa (p: sosānika-aṅga); 12. Ngủ đâu cũng được (p: yathāsanthatika-aṅga); 13. Ngồi không nằm (p: nesajjika-aṅga).|Tương truyền vua Trần Nhân Tông sau khi xuất gia đã tu theo hạnh đầu-đà và vì vậy, Sư cũng mang danh hiệu Trúc Lâm Ðầu-đà.
Đâu-suất 兜率; C: dōushuò; J: tosotsu; S: tuṣita.|Tịnh độ của Bồ Tát Di-lặc (s: maitreya). Đâu-suất thiên (兜率天).
Đâu-suất thiên 兜率; C: dōushuò tiān; J: tosotsuten; S: tuṣita; dịch nghĩa là Hỉ Túc (喜足; vui vẻ và no đủ);|Tầng trời thứ tư trong 6 tầng trời của cõi Dục (Lục dục thiên 六欲兲). Tuṣita nguyên nghĩa là »hài lòng, thoả mãn«. Cõi trời nầy là nơi dành cho »Đức Phật tương lai« sẽ ra đời giáo hoá, tu tập và chuẩn bị để thị hiện vào thế gian phàm trần. Phật Thích-ca Mâu-ni đã trú ở đây trước khi thị hiện đản sinh vào thế gian, và Phật Di-lặc đang trụ nơi đây chờ bổ xứ. Cuộc đời ở cõi Đâu-suất dài 4.000 năm, một ngày một đêm ở đó bằng 400 năm ở thế gian.|Nhiều Phật tử Trung Quốc và Việt Nam mong cầu được tái sinh vào cung Ðâu-suất để nghe Bồ Tát Di-lặc thuyết pháp. Người ta cho rằng muốn được tái sinh vào cõi này, Phật tử cần quy y với Bồ Tát Di-lặc và niệm danh hiệu của Ngài.
Đâu-suất Tòng Duyệt 兜率從悅; C: dōushuài cóngyuè; J: tosotsu jūetsu; 1044-1091; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, người nối pháp Thiền sư Bảo Phong Khắc Văn.|Sư họ Hùng, quê ở Cám Châu. Buổi đầu làm Thủ chúng ở Ðạo Ngô. Một lần đến yết kiến Hoà thượng Trí ở Vân Cái. Trí đàm luận với Sư chẳng bao lâu thấy chỗ yếu bèn cười bảo: »Xem Thủ toạ khí chất phi phàm, tại sao thốt ra những lời như kẻ say?« Sư đỏ mặt xuất mồ hôi, cầu xin chỉ dạy. Hoà thượng Trí khuyên Sư đến Hoà thượng Văn ở Ðộng Sơn. Sư đến đây, được Ấn khả nhưng vẫn chưa hết hồ nghi. Nhân dịp gặp Thiền sư Thanh Tố (người đã từng hầu hạ Thạch Sương Sở Viên Thiền sư) Sư mới triệt ngộ.|Sau Sư thường dùng ba câu hỏi để nghiệm học giả: 1. Lặn lội đi tham vấn chỉ mong thấy tính, chính nay Thượng toạ thấy tính chỗ nào? 2. Biết được tự tính mới thoát sinh tử, khi chết rồi làm sao thoát? 3. Thoát được sinh tử liền biết chỗ đi, Tứ đại phân li nhằm chỗ nào đi?|Niên hiệu Nguyên Hựu thứ sáu vào mùa đông, Sư tắm gội xong, họp chúng nói kệ:|*Bốn mươi tám năm|Thánh phàm giết sạch|Chẳng phải anh hùng|Long An đường trơn|Nói xong Sư ngồi yên thị tịch, thọ 48 tuổi. Vua sắc phong Chân Tịnh Thiền sư.
Đầu Tử Ðại Ðồng 投子大同; C: tóuzǐ dàtóng; J: tōsu daidō; 819-914;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Thuý Vi Vô Học. Sư được nhắc lại trong Công án 41, 79, 80 và 91 của Bích nham lục.|Sư họ Lưu, quê ở Hoài Ninh, Thư Châu. Thuở nhỏ, Sư xuất gia với Thiền sư Mãn ở Bảo Ðường. Sư xem kinh Hoa nghiêm bỗng dưng có tỉnh và sau đó đến pháp hội của Thiền sư Vô Học. Một hôm, Sư hỏi Thuý Vi: »Thầy làm sao chỉ mật ý của Tổ sư từ phương Tây sang?« Thuý Vi yên lặng giây lát. Sư nói: »Thỉnh Thầy vì con nói!« Thuý Vi bảo: »Ngươi muốn ta đổ một gáo nước bẩn thứ hai lên đầu ư?« Sư nhân đây Ðại ngộ, quì làm lễ rồi lui. Sau nhiều năm du phương và đọ sức với các vị Thiền sư khác, Sư dừng chân tại núi Ðầu Tử lập một cái am tên là Tịch Trụ. Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm có đến đây và sau khi tin này lan ra, học chúng đua nhau đến.|Sư bảo chúng: »Các ngươi đến đây nghĩ tìm ngôn ngữ hay đẹp, góp lời văn vẻ, trong miệng quý có nói ra. Lão già này khí lực yếu kém, môi lưỡi chậm lụt. Nếu các ngươi hỏi ta, ta tuỳ câu hỏi mà đáp. Ðối đáp không có gì huyền diệu có thể kịp cùng ngươi, cũng không dính gì đến tai ngươi. Trọn không nói hướng thượng hướng hạ, có Phật có Pháp, có phàm có thánh. Trong chỗ các ngươi bị trói buộc, biến hiện ngàn thứ, thảy đều khiến các ngươi sinh hiểu rồi tự mang gánh lấy, sau này tự làm tự chịu. Trong ấy không có gì cho các ngươi, chẳng dám lừa dối các ngươi, không ngoài, không trong, có thể nói được na ná. Các ngươi lại biết chăng?« |Có vị tăng hỏi Triệu Châu: »Trẻ con mới sinh có đủ sáu Thức chăng?« Triệu Châu trả lời: »Trên dòng nước chảy xiết, đá bóng.« Vị tăng này đến hỏi Sư: »Trên dòng nước chảy xiết, đá bóng, nghĩa là sao?« Sư đáp: »Niệm niệm chẳng tạm dừng.« (Bích nham lục 80).|Một vị tăng hỏi Sư: »Tất cả tiếng đều là tiếng Phật phải chăng?« Sư đáp: »Phải.« Tăng thưa: »Hoà thượng chớ cho tiếng hạ phong, tiếng khua bát.« Sư liền đánh. Tăng lại hỏi: »Lời thô tiếng tế đều là đệ nhất nghĩa phải chăng?« Sư đáp: »Phải.« Tăng thưa: »Gọi Hoà thượng là con lừa được chăng?« Sư liền đánh (Bích nham lục 79).|Sư trụ ở Ðầu Tử hơn ba mươi năm, khách đến học hỏi đầy thất. Sư dùng biện tài tuỳ cơ ứng đáp, giặc nghe còn phải gác đao kiếm hàng phục giải tán|Thời Ngũ Ðại, niên hiệu Càn Hoá năm thứ tư, Sư có chút bệnh. Chúng muốn rước thầy thuốc, Sư cản nói: »Ðộng tác của Tứ đại chủng hợp tan là phép thường, các ngươi chớ lo, ta tự giữ lấy.« Nói xong Sư an nhiên ngồi kết già thị tịch, thọ 96 tuổi. Vua ban hiệu là Từ Tế Ðại sư, tháp hiệu Chân Tịch.
Đầu Tử Nghĩa Thanh 頭子義青; C: tóuzǐ yìqīng; J: tōsu gisei; ?-1083;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Tào Ðộng, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Phù Sơn Pháp Viễn (Thánh Nham Viên Giám, thuộc tông Lâm Tế) nhưng lại được xem là người nối pháp Thiền sư Thái Dương Cảnh Huyền. Môn đệ xuất sắc của Sư là Phù Dung Ðạo Khải.|Sư họ Lí, quê ở Thanh Ðỗ, xuất gia tại chùa Diệu Tướng. Học luận Bách pháp chẳng bao lâu, Sư tự than: »Con đường ba a-tăng-kì xa xôi, tự giam hãm nào có ích gì!« và du phương, tham vấn các vị Thiền sư.|Sư đến hội Thánh Nham của Thiền sư Phù Sơn Pháp Viễn (Viên Giám, Thiền sư thuộc tông Lâm Tế, nối pháp Diệp Huyện Quy Tỉnh). Ðêm trước khi Sư đến, Thiền sư Viễn đã nằm mộng thấy có nuôi một con chim ưng sắc xanh, cho đấy là một điềm lành và sáng hôm sau, Sư đến yết kiến. Thiền sư Viễn cho Sư lấy câu »Ngoại đạo hỏi Phật: Chẳng hỏi có lời, chẳng hỏi không lời.« Sư khán thoại đầu này qua ba năm, một hôm, Viễn hỏi: »Ngươi ghi được thoại đầu chăng? Thử nêu ra xem!« Sư suy nghĩ đáp lại liền bị Viễn bụm miệng, hoát nhiên có ngộ nhập. Viễn bảo Sư: »Ngươi diệu ngộ huyền cơ chăng?« Sư thưa: »Nếu có cũng phải mửa bỏ.« Thị giả đứng cạnh thấy vậy nói: »Hoa Nghiêm Thanh ngày nay như bệnh được ra mồ hôi.« Sư ngó lại bảo: »Ngậm lấy miệng chó! Nếu còn lải nhải lăng xăng, ta buồn nôn.«|Sau đó ba năm, Sư được Viễn đem tông chỉ của tông Tào Ðộng giao phó. Sau khi trao giày và y của Thái Dương Cảnh Huyền cho Sư, Pháp Viễn dặn dò: »Ngươi thay ta nối dòng tông Tào Ðộng không nên ở đây lâu, phải khéo hộ trì« và khuyên đến Thiền sư Viên Thông Pháp Tú – một vị thuộc Vân Môn tông – nương tựa.|Ðến Viên Thông, Sư không thưa hỏi gì, chỉ ăn xong rồi ngủ. Thị giả thấy vậy liền trình cho Viên Thông hay. Viên Thông thấy vậy bảo Sư: »Trong đây tôi không có cơm dư cho Thượng toạ.« Sư thưa: »Vậy Hoà thượng dạy tôi phải làm gì?« Viên thông bảo: »Sao chẳng tham thiền?« Sư bảo: »Món ăn ngon không cần đối với người bụng no.« Viên Thông lại bảo: »Tại sao có nhiều người không chấp nhận Thượng toạ?« Sư thưa: »Ðợi họ chấp nhận để làm gì?« Viên Thông hỏi: »Thượng toạ gặp ai rồi đến đây?« Sư thưa: »Phù Sơn.« Viên Thông bèn nói: »Lạ! Ðược cái gì mà lười biếng?« rồi cười, trở về phương trượng.|Sư ban đầu trụ tại Bạch Vân, sau dời đến Ðầu Tử. Sư thượng đường dạy: »Nếu luận việc này như loan phụng bay giữa hư không chẳng để dấu vết, như con linh dương treo sừng ai tìm được dấu chân. Rồng vàng chẳng giữ đầm lạnh, thỏ ngọc đâu gá bóng trăng. Nếu lập chủ khách thì phải ngoài cõi Uy Âm lay đầu, hỏi đáp nói bày vẫn là bên lề huyền lộ đề xướng. Nếu hay như thế vẫn còn ở giữa đường. Nếu đứng nhìn sững chẳng nhọc nhìn thấy nhau.«|Ngày mùng bốn tháng năm, năm thứ sáu niên hiệu Nguyên Phong, Sư tắm rửa từ biệt chúng và viết kệ:|兩處住持。無可助道。珍重諸人。不須尋討|Lưỡng xứ trụ trì, vô khả trợ đạo|Trân trọng chư nhân, bất tu tầm thảo.|*Trụ trì hai nơi, không thể trợ đạo|Trân trọng các ngươi, chẳng cần tìm kiếm.|Viết xong, Sư ném bút thị tịch.
Đề-bà 提婆; S, P: deva;|Có hai nghĩa: 1. Ðề-bà này tức tức là »Ðơn nhãn Ðề-bà«, tên đầy đủ là Ca-na Ðề-bà (s: kāṇadeva); tên dịch nghĩa là Thánh Thiên; 2. Tên dịch âm của chư Thiên.
Đề-bà Ðạt-đa 提婆達多; S, P: devadatta;|Em họ của Phật Thích-ca, đã vào Tăng-già sau khi nghe một bài giảng của Phật và trở thành một thành viên quan trọng. Tám năm trước khi Phật nhập diệt, Ðề-bà Ðạt-đa trở thành Tăng thống và âm mưu giết Phật nhưng không thành. Ông là người gây chia rẽ lớn trong Tăng-già tại Vệ-xá-li (s: vaiśālī).|Ông cùng với vua A-xà-thế tổ chức ba lần giết hại: lần đầu với một nhóm cướp, nhưng nhóm đó được Phật cảm hoá và bỏ ý định sát hại. Lần thứ hai, họ âm mưu xô một tảng đá, nhưng tảng đá dừng lại trước chân Phât. Lần thứ ba, họ cho một con voi điên dẫm Phật nhưng khi đối diện Phật, con voi này voi trở nên hiền lành. Ðề-bà Ðạt-đa chủ trương một phép tu tuyệt đối khổ hạnh và kéo theo 500 tỉ khâu ra khỏi Tăng-già. Trước khi chết, Ðề-ba Ðạt-đa xin quy y Phật. Theo truyền thuyết, ông chịu khổ rất lâu trong Ðịa ngục.
Đề-đa-ca 提多迦; S: dhītika;|Tổ thứ 5 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Đệ nhất nghĩa đế 第一義諦; S: paramārtha-satya; cũng được gọi là Thánh đế đệ nhất nghĩa, Chân đế, Chân lí cao nhất, Chân lí tuyệt đối;|Các thiền sinh thời xưa thường đặt câu hỏi »Thế nào là chân lí tuyệt đối« (»Như hà thị Thánh đế đệ nhất nghĩa?«; 如何是聖諦第一義) nơi chư vị Thiền sư và các câu trả lời của các vị cũng rất thú vị.
Đế Tâm Ðỗ Thuận 帝心杜順; 557-640, còn được gọi là Pháp Thuận (法順);|Sơ tổ của Hoa nghiêm tông. Sau khi Sư bắt đầu giảng pháp, môn đệ của Ðịa luận tông sát nhập và thành hình tông Hoa nghiêm.|Thời trẻ tuổi, Sư gia nhập quân đội, nhưng sau đó sớm đi tu năm 18 tuổi. Sư bắt đầu tu tập thiền định và chuyên tu học Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra). Sư là người đầu tiên lập thuyết Thập huyền môn (mười cửa bí mật), trình bày cơ sở của Hoa nghiêm, về sau được Hiền Thủ Pháp Tạng bổ túc. Hiền Thủ được xem là tổ đích thật của Hoa nghiêm tông.|Người ta kể lại rằng Sư có nhiều phép lạ và được gọi là Bồ Tát Ðôn Hoàng. Sư được nhà vua tặng danh hiệu Ðế Tâm Tôn giả và phụng dưỡng rất hậu.
đề xướng 提唱; J: teishō;|Có thể hiểu là sự trình bày kinh nghiệm Thiền, một vấn đề thiền của một vị Thiền sư, Lão sư trong một chu kì Tiếp tâm (j: sesshin). Trong một buổi đề xướng, Lão sư trình bày một Công án hoặc một vấn đề, một đoạn văn nào đó quan trọng trong thiền ngữ. Không nên hiểu đề xướng này là một buổi giảng nghĩa, bình luận thông thường vì trong buổi này, chẳng ai được giảng nghĩa, chỉ dạy và cũng chẳng có một sự hiểu biết nào được truyền trao. Cách thuyết trình của một Lão sư không liên hệ gì đến phương diện tri thức thông thường; nó chính là một biểu hiện của mức độ chứng ngộ trực tiếp chủ đề đang được trình bày của chính vị Lão sư này và vì thế có thể gây ấn tượng đến tận đáy lòng của thính giả.
Đen-gi-pa S: ḍeṅgipa, ḍiṅgi, ḍiṅga, ṭeṅki, ṭaṅki, dheṅki, dha-ki; »Bà-la-môn làm nô lệ cho kĩ nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, môn đệ của Lu-i-pa (s: lūipa), sống giữa thế kỉ thứ 9. Ông là đại thần của nhà vua Nhân-đà Ba-la (s: in-drapāla), với pháp danh Ða-ri-ka-pa (s: dārikapa) tại thành Hoa Thị (s: pāṭaliputra). Ông cùng nhà vua bỏ vương triều đến xin làm đệ tử của Lu-i-pa. Lu-i-pa đồng ý với điều kiện cả hai đều phải trở thành nô lệ. Lu-i-pa bán vua Nhân-đà Ba-la (s: in-drapāla) cho một kĩ viện tại Orissa, về sau vị này trở thành Ma-ha Tất-đạt Ða-ri-ka-pa. Còn Ðen-gi-pa thì được bán cho một nàng kĩ nữ làm chủ tiệm rượu. Ông làm những công việc hạ tiện nhất của một người nô lệ, hàng ngày phải giã gạo, vì vậy mang tên là Ðen-gi-pa (người giã gạo). Ông tự thuật đời mình như sau:|Ta là Ðen-gi-pa, |Du-già sư Vệ-đà,|đã chứng đạt đại định,|trong lúc đang giã gạo.|Giã gạo với cái chày, |phép Du-già của ta.|Ta hốt gạo vương vãi,|giã với lời khai thị,|của thầy dạy cho ta.|Chẳng quan tâm người khác,|giã gạo sao cho trắng;|Giã tội bằng đức hạnh,|rồi bằng trí kim cương,|gạo là mặt trời, trăng.|Cối giã là tính Không,|»Cho«, »Nhận« đã thành một.|Tư tưởng, ví như sữa, |được thần chú HŪṂ giã,|Ðại lạc trở thành bơ.|Vị nó là Bất nhị.|Bà-la-môn kiêu mạn,|bây giờ đã nhẫn nhục,|nó phải được bán đi,|để giảm lòng kiêu hãnh.|Ðen-gi-pa được bán,|cho một nàng kĩ nữ!|Sau 12 năm tu tập, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Bà chủ tiệm rượu tình cờ thấy người ông đầy hào quang sáng loà vội sụp lạy xin tha lỗi. Cũng như Nhân-đà Ba-la, ông được Lu-i-pa dạy cho phép từ bỏ lòng kiêu mạn của giai cấp thượng lưu bằng cách sống đời nô lệ. Bài ca ngộ đạo của ông như sau:|Niềm vui giải thoát ví,|như con ngựa, thớt voi,|như biển cả rộng khắp.|Chứng đạo như con khỉ,|như một đứa trẻ thơ,|như chữ viết trên nước;|Nhất thể ví dòng sông,|như mặt trời, liều thuốc;|Ðạt mục đích ví như,|sợi tóc được gút lại,|như con mắt duy nhất,|như cái bánh xe tròn.|Những biểu tượng các hình ảnh chứng đạo của Ðen-gi-pa cần hiểu như sau: Sự giải thoát ví như con ngựa là sự tự do hoang tàng, ví như thớt voi là sức mạnh và sự bất động, ví như biển cả là sự bao trùm toàn thể. Sự chứng thật ví như con khỉ là con vật thấy gì lấy ngay, như đứa trẻ là người bất phân biệt, như chữ viết trên nước là điều hiện lên rồi mất ngay. Cái nhất thể như dòng sông là biểu tượng sự liên tục biến đổi, như mặt trời là nguồn sáng tự nó, như liều thuốc chữa bệnh thế gian. Ðạt mục đích như sợi tóc gút lại, đó là biểu tượng của hành trì liên tục, con mắt duy nhất là cách nhìn phi nhị nguyên, như bánh xe tám nhánh là sống theo Bát chính đạo, sống thật tại vượt thời gian.
Di-già-ca 彌伽迦; S: miśaka;|Tổ thứ 6 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Di-lặc 彌勒; S: maitreya, P : metteyya; dịch nghĩa là Từ Thị (慈氏), cũng có tên là Vô Năng Thắng (無能勝; s, p: ajita), hoặc theo âm Hán Việt là A-dật-đa;|Một vị Ðại Bồ Tát và cũng là vị Phật thứ năm và cuối cùng sẽ xuất hiện trên trái đất. Trong Phật giáo Tây Tạng, Phật Di-lặc được thờ cúng rất rộng rãi. Cõi giáo hoá của Ngài hiện này là trời Ðâu-suất (s: tuṣita). Theo truyền thuyết, Phật Di-lặc sẽ giáng sinh trong khoảng 30.000 năm nữa.||H 21: Di-lặc Bồ Tát. Trong hình này, Ngài chưa ngồi trên toà sen, đang ở trong tư thế chuẩn bị (nói chung là nghệ thuật vùng Bắc Ấn, Hi-mã-lạp sơn ít khi trình bày Di-lặc Bồ Tát dưới dạng ngồi). Tay Ngài bắt ấn chuyển pháp luân, có nghĩa rằng, khi xuất hiện trên thế gian, Ngài sẽ quay bánh xe pháp một lần nữa để cứu độ tất cả chúng sinh.|Tranh tượng hay vẽ Ngài ngồi trên mặt đất, biểu tượng sẵn sàng đứng dậy đi giáo hoá chúng sinh. Tại Trung Quốc, Phật Di-lặc cũng hay được biểu tượng là một vị mập tròn vui vẻ, trẻ con quấn quýt xung quanh. Theo truyền thuyết thì đó chính là hình ảnh của Bố Ðại Hoà thượng, một hoá thân của Di-lặc ở thế kỉ thứ 10. Nếu năm đức Phật xuất hiện trên trái đất nói trên được xem là hoá thân của Ngũ Phật thì Phật Di-lặc được xem như hoá thân của Thành sở tác trí (xem Phật gia, Năm trí).|Có thuyết cho rằng, chính Ngài là người khởi xướng Ðại thừa Phật giáo hệ phái Duy thức. Một số học giả cho rằng, vị này chính là Mai-tre-ya-na-tha (s: maitreyanātha), thầy truyền giáo lí Duy thức cho Vô Trước (s: asaṅga). Truyền thống Phật giáo Tây Tạng cho rằng, Ngài là tác giả của năm bài Luận (s: śāstra), được gọi là Di-lặc (Từ Thị) ngũ luận: 1. Ðại thừa tối thượng (đát-đặc-la) tan-tra (s: mahāyānottaratantra); 2. Pháp pháp tính phân biệt luận (s: dharmadharmatāvibaṅga); 3. Trung biên phân biệt luận (s: madhyāntavibhāga-śāstra); 4. Hiện quán trang nghiêm luận (s: abhisamayā-laṅkāra); 5. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (s: mahāyānasūtralaṅkāra).
Di-lan-đà 彌蘭陀; S, P: milinda;|Di-lan-đà vấn đạo kinh
Di-lan-đà vấn đạo kinh 彌蘭陀問道經; P: milindapañha, cũng được gọi là Na-tiên tỉ-khâu kinh;|Bộ sách quan trọng trong Thượng toạ bộ (p: theravāda) ngoài Tam tạng. Sách này ghi lại những cuộc đàm thoại giữa vua Di-lan-đà (milinda, lịch sử châu Âu viết là menandros) gốc Hi Lạp – người đã đi chinh phục Bắc Ấn từ Peshāwar đến Pat-na – và Na-tiên tỉ-khâu. Tương truyền rằng, sau những cuộc tranh luận này, vua Di-lan-đà theo đạo Phật.|Di-lan-đà vấn đạo kinh xuất hiện trong khoảng thế kỉ thứ nhất, được lưu lại bằng một bản văn hệ Pā-li và hai bản dịch chữ Hán, có lẽ được dùng để tuyên truyền Phật giáo miền Tây Bắc Ấn Ðộ. Các câu hỏi của vua Di-lan-đà xoay quanh những vấn đề căn bản của Phật pháp như Vô ngã, tái sinh, Nghiệp, và Na-tiên giải đáp những vấn đề này bằng cách sử dụng những ẩn dụ rất thú vị.
Đi-li-pa S: dhilipa hoặc delipa, teli, telopa. tailopa, bha-lipa, tailopada; »Thương gia biết thưởng thức«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người buôn dầu và trở nên vô cùng giàu có, sống một cuộc đời vương giả. Ngày nọ, Pháp sư Bà-ha-na (s: bhahana) đến thăm ông, chỉ cho ông thấy cuộc đời Vô thường và ông bắt đầu quan tâm đến đạo pháp. Lần khác vị này nhìn ông ép mè lấy dầu, nhân thế chỉ dạy:|Xem thân là hạt mè,|ép thành trí tư duy,|đổ vào bình Tự tính.|Làm một sợi bấc đèn,|từ giao phối Sắc-Không,|thắp lên bằng tri kiến,|và tỉnh giác thanh tịnh.|Ðèn chiếu phá vô minh,|an trú trong Ðại lạc,|Ðó là vui giải thoát.|Sau chín năm thiền định ông đạt thánh quả. Chứng đạo ca của ông như sau:|Tự tính của riêng ta,|chính là Phật – không khác.|Tự tính mọi thật tại,|chính là Phật – không khác.|Nhờ phép truyền năng lực,|của phép Sa-ha-ja,|của tiên thiên tuyệt đối,|ta đạt cõi vô sinh.
Dị liễu 易了; C: yìliăo; J: iryō;|Dễ hiểu.
Dĩ tâm truyền tâm 以心傳心; C: yǐxīn chuánxīn; J: ishin-denshin; tức là »Lấy tâm truyền tâm«; |Một cách diễn bày của Thiền tông, chỉ sự truyền giao Phật pháp thâm thuý từ thầy sang trò trong hệ thống truyền thừa. Danh từ này xuất phát từ Pháp bảo đàn kinh của Lục tổ Huệ Năng và sau này trở thành một danh từ quan trọng trong giới thiền. Lục tổ chỉ rõ rằng, cái được lưu trì trong truyền thống thiền không phải cái hiểu biết suông, vay mượn từ kinh sách, mà hơn nữa, một cách hiểu biết tường tận qua kinh nghiệm Kiến tính và người có thể dẫn môn đệ đến nơi này chính là một vị Thiền sư.
địa 地; C: dì; J: chi, ji; |Có các nghĩa sau: 1. Đất, quả đất, mặt đất (đặc biệt phản nghĩa với Trời); 2. Một xứ, quốc gia, lãnh thổ; 3. Một địa phương, cảnh tượng, vị trí, địa thế, tư thế; 4. Một trong Thập địa (十地, s: daśabhūmi), công hạnh tu hành của Bồ Tát; 5. Thần đất.
Địa-bà-đạt-đa 地婆達多; C: dìpódáduō; J: chibadatta; S: devadatta; |Đề-bà-đạt-đa (提婆達多).
Địa luận 地論; C: dìlùn; J: jiron; |Thập địa kinh luận.
Ðịa luận tông 地論宗; C: dìlùn-zōng; J: jiron shū;|Một trong nhứng tông phái sớm nhất của Phật giáo Trung Hoa, căn cứ vào luận giải về Thập địa kinh luận (十地經論, s: daśabhūmika-śāstra) của Thế Thân, và cũng căn cứ vào luận giải chương 1 trong kinh Hoa Nghiêm. Lặc-na-ma-đề (勒那摩提, s: ratnamati) và Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支, s: bodhiruci) mang Thập địa kinh luận bản chép tay dịch sang tiếng Hán vào thời Bắc Nguỵ. Địa luận tông chủ yếu căn cứ vào triết học Du-già hành phái, đặc biệt là giáo lí về A-lại-da thức. Nhánh phía Bắc của tông nầy với đại biểu là Đạo Sủng (道寵), đệ tử của Bồ-đề Lưu-chi đưa ra luận điểm tạng thức không thực có, và Phật tính đạt được trước hết khi thành Phật, thế nên nó không phải là bẩm sinh. Nhánh phía Nam, đại biểu là Huệ Quang, đệ tử của Lặc-na-ma-đề, cho rằng A-lại-da thức là thật có và đồng nhất với Phật tính. Tông Hoa Nghiêm được xem là phát triển từ nhánh phía Nam, còn Pháp tướng tông tiếp thu tinh thần nhánh phía Bắc.
Địa ngục 地獄; C: dìyù; J: jigoku; |Theo nghĩa đen là tù ngục trong lòng đất, nơi đó tội nhân phải chịu mọi loại tra tấn do kết quả của mọi việc ác đã làm trong tiền kiếp (như phá giới). Từ gốc trong thuật ngữ Ấn Độ là naraka và niraya (Phạn và Pāli), dịch sang tiếng Hán là Nại-lạc (奈落), Na-lạc (那落) và Nê-lê (泥黎). Được xem là một trong 3 đường ác (Tam ác đạo 三惡道, Tam ác thú 三惡趣), hoặc là 1 trong Ngũ thú (五趣), Lục đạo (六道), hay Thập giới (十界). Kinh điển đề cập đến nhiều loại và tên các địa ngục, trong đó, nổi tiếng nhất là Bát nhiệt địa ngục (八熱地獄, hoặc Bát đại địa ngục 八大地獄) và Bát hàn địa ngục (八寒地獄), kéo dài từ địa ngục Đẳng hoạt (等活, s: saṃjīva) đến Địa ngục A-tì (阿鼻, s: avīci), là toàn phần của Căn bản địa ngục (根本地獄). Còn có địa ngục nhỏ hơn, kế tiếp hoặc sát bên cạnh. Tầng thứ ba địa ngục gọi là những địa ngục biệt lập (Cô địa ngục 孤地獄) ở trong núi, sa mạc ở bên trên mặt đất. Sự tạo thành và tương quan giữa các địa ngục được giải thích chi tiết trong những kinh luận như A-tì-đạt-ma Câu-xá luận. Như người ta nghĩ, giáo lí chung về địa ngục được phát triển qua một thời gian dài, can cứ vào nhiều nguồn và ảnh hưởng của tôn giáo Ấn Độ. Mọi cuốn Từ điển Phật học đều có ghi đề mục nầy, bao gồm nhiều chi tiết về danh mục và thuộc tính của từng địa ngục.
Ðịa ngục 地獄; S, P: naraka;
Địa Tạng 地藏; S: kṣitigarbha; C: dìcáng;|1. Một vị Bồ Tát chuyên cứu độ sinh linh trong Ðịa ngục và trẻ con yểu tử. Có khi Ðịa Tạng cũng là người được xem là chuyên cứu giúp lữ hành phương xa. Ðó là vị Bồ Tát duy nhất được diễn tả với bạch hào (lông trắng xoáy nằm giữa hai mắt, s: ūrṇā) trên trán, một trong ba mươi hai tướng tốt của một vị Phật. Ðịa Tạng hay cầm Như ý châu (s: cin-tāmaṇi) và Tích trượng có sáu vòng, biểu hiện của sự cứu độ chúng sinh của Ngài trong Lục đạo (sáu đường tái sinh).||H 25: Ðịa Tạng Bồ Tát|Tại Trung Quốc và các nước Ðông nam Á, Ðịa Tạng được xem là một trong bốn vị Ðại Bồ Tát (ba vị khác là Quán Thế Âm, Văn-thù Sư-lị và Phổ Hiền) chuyên cứu độ những người bị sa vào địa ngục. Trú xứ của Ngài là Cửu Hoa sơn (Tứ đại danh sơn) và tương truyền rằng, Ngài đã thật sự hiện thân tại đây vào đời Ðường dưới dạng một hoàng tử xứ Triều Tiên. Sau khi chết, nhục thân của vị hoàng tử này không tan rữa và người ta đã xây dựng một ngôi tháp để thờ vị này, một bảo tháp mà ngày nay vẫn còn.|Trước đây vô lượng kiếp, Ðịa Tạng là một Bà-la-môn và đã thệ nguyện trước một vị Phật thời đó là Ngài sẽ quyết tâm tu luyện đạt Phật quả, nhưng sẽ khước từ Phật quả này nếu Ngài chưa cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi Luân hồi. Trong một tiền kiếp, Ngài là một cô bé với một bà mẹ thường hay sát sinh để kiếm sống. Sau khi mẹ qua đời, cô bé này ngồi thiền mãi cho đến khi nghe một giọng nói, khuyên cô nên niệm danh đức Phật. Sau đó, cô nhập định, xuống ngay đến cửa địa ngục. Nơi đây, cô được cho biết rằng, chính vì công phu thiền định và niệm Phật mà cô đã cứu mẹ thoát khỏi địa ngục.|Nhờ thần thông, Ðịa Tạng Bồ Tát có thể biến hoá thành nhiều dạng để cứu chúng sinh trong lục độ. Trong một buổi lễ long trọng, thường là ngày thứ 100 sau khi chết, các thân nhân thường thắp hương làm lễ cầu xin Ngài hướng dẫn người chết đến cõi Cực lạc của Phật A-di-đà (s: amitābha). Sau đó, một trong những thân nhân sẽ niệm một câu thần chú để gọi người chết trở về nghe chính pháp. Lễ này được chấm dứt với sự niệm danh Phật A-di-đà và Bồ Tát Ðịa Tạng một lần nữa.|2. Ðịa Tạng cũng là một danh hiệu khác của Thiền sư La-hán Quế Sâm vì trước khi dời về viện La-hán, Sư trụ trì thiền viện Ðịa Tạng.
Địa Tạng Bồ Tát bản nguyện kinh 地蔵菩薩本願經; C: dìzàng púsà běnyuàn jīng; J: jizō bosatsu hongan kyō; |2 quyển, Thật-xoa Nan-đà (實叉難陀, s: śiksānanda) dịch.
Địa Tạng thập luân kinh 地藏十輪經; C: dìzàng shílún jīng; J: chizō jūrin kyō; S: daśa-cakra-kṣitigarbha-sūtra; |10 quyển. Huyền Trang dịch năm 651-652. Theo Nakamura, kinh nầy được kết tập do một tăng sĩ nói tiếng gốc Iran. Tên gọi đầy đủ là Đại thừa đại tập Địa Tạng thập luân kinh (大乘大集地藏十輪經). Bản dịch khác nhan đề Đại phương quảng thập luân kinh (大方廣十輪經).
Địa trì luận 地持論; C: dìchílùn; J: jijiron; |Gọi đủ là Bồ Tát địa trì luận (菩薩地持經).
Dịch, dị 易; C: yì; J: eki, i;|1. Thay đổi, biến đổi; 2. Kinh Dịch (易經), được dùng để tiên đoán sự biến chuyển; 3. Dễ, dễ dàng. Đơn giản, giản dị.
Diêm Quan Tề An 鹽官齊安; C: yōnguān qíān; J: enkan seian; ~ 750-842;|Thiền sư Trung Quốc, một môn đệ của Mã Tổ Ðạo Nhất. Sư được nhắc lại trong Công án 91 của Bích nham lục.|Sư họ Lí, quê ở Hải Môn. Khi Sư ra đời hào quang chiếu đầy nhà. Một vị tăng lạ nói: »Sứ giả dựng cờ vô thắng, xoay mặt trời Phật soi trở lại, đâu không phải người này?« Lớn lên, nghe Mã Tổ hoằng hoá ở Giang Tây, Sư tìm đến học và được Mã Ðại sư truyền tâm ấn. Sau, Sư đến trụ viện Hải Xương tại Diêm Quan Trấn Quốc ở Hàng Châu và vì vậy thời nhân gọi là hội Diêm Quan.|Có một giảng sư đến tham vấn, Sư liền hỏi: »Toạ chủ chứa chất sự nghiệp gì?« Giảng sư đáp: »Giảng kinh Hoa nghiêm.« Sư hỏi: »Có mấy thứ Pháp giới?« Giảng sư trả lời: »Nói rộng thì lớp lớp không cùng, nói lược có bốn thứ Pháp giới.« Sư liền dựng đứng Phất tử hỏi: »Cái này là Pháp giới thứ mấy?« Giảng sư suy nghĩ lựa lời đáp, Sư bảo: »Suy mà biết, nghĩ mà hiểu là kế sống nhà quỷ, ngọn đèn côi dưới trời quả nhiên mất chiếu.«|Một vị sư tên Pháp Không đến hỏi những ý nghĩa trong kinh. Sư mỗi mỗi đáp xong, bảo: »Từ khi Thiền sư lại đến giờ, Bần đạo thảy đều không được làm chủ nhân.« Pháp Không thưa: »Thỉnh Hoà thượng làm chủ nhân lại.« Sư bảo: »Ngày nay tối rồi hãy về nghỉ ngôi, đợi sáng mai hãy đến.« Sáng hôm sau, Sư bảo Sa-di mời Thiền sư Pháp Không. Pháp Không đến, Sư nhìn sa-di bảo: »Bậy! Sa-di này không hiểu việc, dạy mời Thiền sư Pháp Không, lại mời người giữ nhà đến!« Pháp Không không đáp được.|Sau, Sư không bệnh ngồi an nhiên thị tịch, được vua ban hiệu là Ngộ Không Thiền sư.
Diêm vương 閻王; S, P: yama; gọi trọn âm là Diêm-ma vương hoặc Diêm-la;|Trong huyền thoại Phật giáo, thì Diêm vương là chúa tể của Ðịa ngục (s: na-raka).|Theo truyền thuyết, Diêm vương nguyên là vua của xứ Vệ-xá-li (s: vaiśālī) Trong một trận chiến tranh đẫm máu, ông ước nguyện làm vua địa ngục và quả nhiên dược tái sinh làm Diêm vương. Diêm vương có 8 tướng quân và 80 000 binh sĩ. Mỗi ngày ba lần Diêm vương và các tướng sĩ phải chịu hình phạt bị đổ đồng sôi vào miệng cho đến khi tội ác của họ được tha thứ. Diêm vương là người phái cái già, cái chết đến cho con người, nhắc nhở họ đừng làm gì trái với đạo lí. Diêm vương có người em gái là Yami, nữ chúa cai trị nữ nhân ở địa ngục.
Diễn 演; C: yăn; J: en;|1. Mở rộng; 2. Giảng nói, giảng thuyết, giảng giải; thuyết giảng chính pháp; 3. Thực hiện (công trình, buổi lễ, v.v…); 4. Thi hành, trình diễn, liên hoan nhảy múa; 5. Nghiên cứu, thực hành.
Diễn bí 演秘; C: yănmì; J: enbi;|Tên vắn tắt thông dụng thường gọi tác phẩm Thành duy thức luận diễn bí (成唯識論演秘).
Diện bích 面壁; J: menpeki; là »quay mặt nhìn tường«.|Danh từ chỉ Bồ-đề Ðạt-ma ngồi thiền đối tường chín năm tại chùa Thiếu Lâm. Vì vậy mà danh từ Diện bích trở thành đồng nghĩa với Toạ thiền. Trong tông Tào Ðộng tại Nhật, các thiền sinh thường xoay mặt vào tường ngồi thiền trong khi các vị thuộc tông Lâm Tế lại xoay mặt vào khu chính giữa của thiền đường. Trong nhiều bức tranh trình bày Bồ-đề Ðạt-ma, người ta thường vẽ Ngài xoay mặt vào một bức tường đá toạ thiền.|«Diện bích« không chỉ là yếu tố, điều kiện bên ngoài của việc tu tập thiền định – trong một ý nghĩa thâm sâu khác thì nó mô tả tâm trạng của một hành giả tham thiền. Vị này một mặt muốn tiến bước trên con đường tu tập để đạt giác ngộ, mặt khác lại bị đoạt hết những phương pháp hỗ trợ, những khái niệm về đường đi và mục đích trong khi tu thiền và vì vậy phải đứng trước một tình trạng »tiến thoái lưỡng nan«, không thể tiến lên một bước như đứng trước một bức tường vĩ đại. Tâm trạng này và sự tuyệt vọng phát sinh từ đây có thể là một yếu tố để thiền sinh xả bỏ tất cả những ý nghĩ, nguyện vọng, khái niệm và mục đích, hoát nhiên nhảy một bước phá vỡ bức tường nhị nguyên – phá vỡ ở đây có nghĩa là sự trực nhận rằng, bức tường này xưa nay chưa hề có.
Diễn nghĩa 演義; C: yănyì; J: engi;|Đề ra và giải thích ý nghĩa hay thực chất của vấn đề.
Diễn sướng 演暢; C: yănchàng; J: enchō;|Giảng giải rõ ràng, trình bày chi tiết, truyền dạy, truyền bá (s: niścarati).
Diễn thuyết 演説; C: yănshuō; J: enzetsu; S: deśanā|Giảng giải giáo lí, đặc biệt trước đại chúng.
Điển toạ 典座; J: tenzo;|Người lo việc ẩm thực trong một Thiền viện. Công việc này là một trong những công việc đòi hỏi trách nhiệm nhiều nhất và vì vậy chỉ được truyền trao cho những vị tăng có tuổi, đã có nhiều kinh nghiệm.|Nhiều vị Thiền sư danh tiếng đã đảm nhận chức vụ này như Quy Sơn Linh Hựu, Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Ðan Hà Thiên Nhiên v.v… Cách làm việc của một Ðiển toạ khác với một đầu bếp bình thường ở chỗ tư tưởng. Ðiển toạ xem công việc của mình là cúng dường Tam bảo và cơ hội để luyện tâm. Nếu Ðiển toạ lo nấu thức ăn ngon, tiết kiệm, không phí của, thận trọng trong từng hành động, thì công việc này chính là Thiền trong mọi hành động hằng ngày.|Chính vị Thiền sư danh tiếng của Nhật là Ðạo Nguyên Hi Huyền cũng đã rõ được tầm quan trọng của một vị Ðiển toạ trong một Thiền viện và chính Sư cũng đã được một vị dạy thế nào là »Thiền« trong Thiền tông. Khi vừa đặt chân sang đất Trung Quốc du học thì Sư đã có dịp yết kiến một cao tăng – dưới dạng một vị Ðiển toạ tại núi A-dục vương. Sư đang ngồi trên thuyền thì vị Ðiển toạ đến mua nấm và dọ hỏi cách nấu nấm này ra sao. Ông từ chối lời mời ở lại đêm của Sư vì lí do phải trở về lo nấu ăn cho tăng chúng và và nói thêm rằng, chính việc làm đầy trách nhiệm này là thiền trong hoạt động. Sư ngạc nhiên hỏi vì sao ông không chú tâm đến toạ thiền và quán Công án trong lúc tuổi đã cao. Vị Ðiển toạ chỉ mỉm cười và nói: »Ông bạn từ phương xa của tôi! Ông không biết biện đạo (j: bendō) mà cũng chẳng thông hiểu văn tự! (j; monji).« Lời nói này đã khắc sâu vào lòng Sư và sau này Sư cũng có viết một tác phẩm quan trọng với tên Ðiển toạ giáo huấn (典座教訓; j: ten-zokyōkun) để khuyên răn đệ tử đảm nhận chức vụ này trong thiền viện.
Diệp Huyện Quy Tỉnh 葉縣歸省; C: yèxiàn guīshěng; tk. 10-11;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, môn đệ đắc pháp của Thủ Sơn Tỉnh Niệm.|Sư họ Cổ, quê ở Kí Châu xuất gia thụ giới lúc còn trẻ. Trong lúc du phương, Sư đến tham vấn Thủ Sơn. Một hôm, Thủ Sơn đưa một khúc tre lên hỏi: »Gọi là Trúc bề thì xúc phạm, chẳng gọi trúc bề thì trái, vậy gọi là cái gì?« Sư chụp trúc bề, ném xuống đất, nói: »Là cái gì?« Thủ Sơn bảo: »Mù!« Sư nhân đây triệt ngộ.|Sư cùng một vị tăng đi đường, nhân thấy một tử thi, tăng hỏi: »Xe ở đây mà trâu ở đâu?« Sư đáp: »Ngươi đã bước chân đi.« Tăng thưa: »Trâu cũng không mà đi cái gì?« Sư bảo: »Ngươi đã không trâu, tại sao đạp nát gót chân?« Tăng thưa: »Thế ấy là chính từ Diệp Huyện đến.« Sư bảo: »Chớ chạy loạn!«|Có vị tăng hỏi về Công án ›Cây tùng của Triệu Châu.‹ Sư bảo: »Ta chẳng tiếc nói với ngươi, mà ngươi có tin không?« Tăng thưa: »Lời của Hoà thượng quý trọng, con đâu dám chẳng tin.« Sư bảo: »Ngươi lại nghe giọt mưa rơi trước thềm chăng?« Vị tăng hoát nhiên có ngộ nhập, bấc giác thốt lên »Chao!« một tiếng. Sư hỏi: »Ngươi thấy đạo lí gì?« Vị tăng bèn làm bài tụng:|Thiềm đầu thuỷ đích|Phân minh lịch lịch|Ðả phá càn khôn|Ðương hạ tâm tức.|*Giọt mưa trước thềm|Rành rẽ rõ ràng|Ðập nát càn khôn|Liền đó tâm dứt.|Sư có chút bệnh, biết mình sắp tịch. Vị tăng khám bệnh đến, hỏi: »Hoà thượng Tứ đại vốn Không, bệnh từ chỗ nào đến?« Sư đáp: »Từ chỗ Xà-lê hỏi đến.« Tăng thưa: »Khi con chẳng hỏi thì sao?« Sư đáp: »Xuôi tay nằm dài trong hư không.« Tăng thốt lên »Chao!« Sư liền tịch.
Diệt 滅; C: miè; J: metsu;|1. Chấm dứt, kết thúc, dừng, xoá sạch, phủ nhận, huỷ diệt. Trong Phật giáo, thường đề cập đến sự trừ diệt phiền não – do vậy, có nghĩa là Niết-bàn. Là tướng thứ tư trong Tứ tướng (四相); 2. Quan niệm vũ trụ như là thực thể hoàn toàn không (vô 無), thuyết hư vô.
Diệt đạo uý 滅道畏; C: mièdàowèi; J: metsudōi;|Nỗi sợ quy về hai chân lí Diệt đế và Đạo đế. Người mê đắm trong luân hồi trở nên sợ hãi khi đối diện với giáo pháp thanh tịnh, khi nó đặt vấn đề về khả năng tương tục của họ trong đời sống hiện tại.
Diệt đế 滅諦; C: mièdì; J: metsutai;|Chân lí về sự diệt trừ khổ (s: nirodha-satya), do Đức Phật Thích-ca Mâu-ni đưa ra, cho rằng mọi khổ đau rồi sẽ được trừ diệt; là 1 trong Tứ diệu đế. Còn gọi là Diệt thánh đế (滅聖諦) và Khổ diệt đế (苦滅諦).
Diệt định 滅定; C: mièdìng; J: metsujō;|Cảnh giới định đạt đến sự đình chỉ hoàn toàn tâm hành. Xem Diệt tận định (滅盡定).
Diệt độ 滅度; C: mièdù; J: metsudo;|1. Niết-bàn (s: nirvāṇa, parinirvāṇa); 2. Sự hoại diệt hoàn toàn mọi khổ đau thể xác và tinh thần; 3. Sự nhập diệt của Đức Phật; 4. Sự không tồn tại, sự chấm dứt.
Diệt Hỉ 滅喜; S: vinītaruci; là tên dịch nghĩa, dịch ra âm Hán Việt là Tì-ni-đa Lưu-chi.|Tì-ni-đa Lưu-chi.
Diệt tận định 滅盡定; C: miè jìn dìng; J: metsujinjō; S, P: nirodha-samāpatti;|Một loại định rất sâu, trong đó mọi tâm hành đều được tiêu diệt hoàn toàn. Theo học thuyết A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, đó là 1 trong 14 pháp tâm bất tương ưng hành, và theo giáo lí Duy thức, đó là 1 trong 24 tâm bất tương ưng hành pháp. Khi định nầy được thành thục, thì mạt-na thức cũng được chuyển hoá, và hành giả sẽ được sinh ở cõi trời Hữu đỉnh thứ tư của cõi Sắc. Do định nầy có năng lực diệt trừ sạch các tâm sở trong mạt-na thức, nên nó được xem là thiền định của bậc thánh tu tập. Do hành giả căn cơ thấp kém và hàng ngoại đạo sợ rằng tự ngã sẽ diệt mất, nên họ không dám thâm nhập rốt ráo vào định nầy. Còn được gọi là »Diệt thụ tưởng định«. Chủng tử của tâm phẫn nộ được tạo thành trên cơ sở định nầy.
Diệt tận tam-ma-bát-để 滅盡三摩鉢底; C: mièjìn sānmóbōdĭ; J: metsujin sanmapattei;|Diệt tận định (滅盡定).
Diệt tận tam-muội 滅盡三昧; C: mièjìn sānmèi; J: metsujin zanmai;|Diệt tận định (滅盡定).
Diệt thánh đế 滅聖諦; C: mièshèngdì; J: metsushōtai;|Chân lí về sự diệt trừ khổ. Diệt đế (滅諦).
Diệt tội 滅罪; C: mièzuì; J: metsuzai;|1. Chuyển hoá các chủng tử nghiệp gây tội lỗi bằng những hành vi như sám hối (懺悔), niệm Phật (念佛), trì tụng đà-la-ni (陀羅尼), v.v… 2. Người đã diệt trừ được mọi tội lỗi của mình.|Đức Phật.
Điều 條; C: tiáo; J: jō;|1. Nhánh nhỏ, cành cây non; 2. Sợi, chuỗi, gân, tĩnh mạch; 3. Thớ, dệt; 4. Đường kẻ, vật dài và mỏng; 5. Lí do, đề tài, luận lí, tình huống.
Điều điều 條條; C: tiáo tiáo; J: jōjō; |Từng chút, từng miếng, từng phần, mỗi điều khoản.
Ðiều hỉ quốc 調喜國; S: abhirati;|Ðông phương Tịnh độ của Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya).
Điều lí 條理; C: tiáolǐ; J: jōri; |Lí lẽ, lí luận. Dòng mạch của cuộc tranh luận; đề tài. Dòng, tuyến.
Diệu mẫu 曜母; C: yàomŭ; J: yōmo;|Tên một vị nữ thần (s: grāha-mātṛkā).
Diệu Nhân 妙因; 1041-1113|Nữ Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 17. Sư nối pháp Thiền sư Chân Không.|Sư tên Ngọc Kiều, là trưởng nữ của Phụng Loát Vương. Thuở nhỏ, Sư đã có phong cách thuần hậu, đoan trang, được vua Lí Thánh Tông nuôi trong cung. Lớn lên, vua gả cho một người họ Lê. Khi chồng sớm qua đời, Sư tự thệ thủ tiết không chịu tái giá.|Một hôm, Sư tự than: »Ta xem tất cả Pháp trong thế gian như giấc mộng, huyễn ảo, huống là các thứ phù vinh mà đáng trông cậy sao!« Sau đó, Sư đem tất cả tư trang ra bố thí và xuất gia cầu đạo. Sư đến Thiền sư Chân Không tại làng Phù Ðổng xin xuất gia Thụ giới Bồ Tát. Chân Không ban cho pháp danh Diệu Nhân và truyền yếu chỉ Thiền tông. Sau đó, Chân Không khuyên Sư đến làng Phù Ðổng, Tiên Du trụ trì chùa Hương Hải (cũng được gọi là chùa Linh Ứng). Tại đây, Sư thường dạy chúng: »Chỉ tính mình trở về nguồn, đốn tiệm liền tuỳ đó mà vào.«|Thường ngày, Sư chỉ ngồi lặng lẽ, không thích thanh sắc, ngôn ngữ. Có người thấy vậy liền hỏi: »Tất cả chúng sinh bệnh nên ta bệnh, tại sao lại kị sắc thanh?« Sư dùng kệ trong kinh Kim cương đáp: »Bằng dùng sắc thấy ta, âm điệu nhận ra ta, người ấy hành tà đạo, hẳn không thấy được ta.« Lại hỏi: »Tại sao ngồi yên?« Sư đáp: »Xưa nay không đi.« Hỏi: »Thế nào chẳng nói?« Sư đáp: »Ðạo vốn không lời.«|Năm Hội Tường Ðại Khánh thứ tư, ngày mùng 1 tháng 6, Sư có bệnh gọi chúng lại nói kệ:|生老病死。自古常然。欲求出離。解縛添纏|迷之求佛。惑之求禪。禪佛不求。枉口無言|Sinh lão bệnh tử, tự cổ thường nhiên.|Dục cầu xuất li, giải phược thiêm triền.|Mê chi cầu Phật, hoặc chi cầu Thiền.|Thiền Phật bất cầu, uổng khẩu vô ngôn.|*Sinh già bệnh chết, xưa nay lẽ thường|Muốn cầu thoát ra, mở trói thêm ràng|Mê đó tìm Phật, lầm đó cầu Thiền|Phật Thiền chẳng cầu, uổng miệng không lời.|Nói kệ xong, Sư cạo tóc, tắm rửa rồi ngồi kết già viên tịch, thọ 72 tuổi.
Diệu pháp liên hoa kinh 妙法蓮華經; S: saddharmapuṇḍarīka-sūtra; cũng được gọi ngắn là kinh Pháp hoa;|Một trong những bộ kinh Ðại thừa quan trọng nhất, được lưu hành rộng rãi ở Trung Quốc, Nhật Bản, Tây Tạng và Việt Nam. Tông Thiên Thai lấy kinh này làm căn bản giáo pháp. Nội dung kinh này chứa đựng quan điểm chủ yếu của Ðại thừa, đó là giáo pháp về sự chuyển hoá của Phật tính và khả năng giải thoát. Kinh này do đức Phật giảng trong cuối đời Ngài, được kết tập trong khoảng năm 200 (Tây lịch). |Kinh này do Phật giảng trên đỉnh Linh Thứu cho vô số người nghe gồm có nhiều loài khác nhau. Trong kinh này, Phật chỉ rõ, tuy có nhiều cách để giác ngộ, nhưng chúng chỉ là phương tiện nhất thời và thật tế chúng chỉ là một. Các phương tiện khác nhau như Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa hay Bồ Tát thừa thật ra chỉ khác nhau vì phải cần phù hợp vào căn cơ của hành giả. Phật chỉ tuỳ cơ duyên, sử dụng các Phương tiện (s: upāya) mà nói Ba thừa nhưng thật chất chỉ có Phật thừa (s: buddhayāna) – nó dẫn đến Giác ngộ và bao trùm cả Ðại thừa lẫn Tiểu thừa. Quan điểm này được làm sáng tỏ bằng ẩn dụ, trong đó một người cha muốn cứu những đứa con ra khỏi một cái nhà đang cháy. Vì những đứa trẻ không chịu nghe lời chạy ra khỏi nhà, người cha đành phải hứa với mỗi đứa cho một món quà tuỳ theo ý thích của chúng, đứa thì được con nai, con dê, xe trâu… để chúng chịu ra ngoài.|Kinh này còn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của Tín tâm (s: śraddhā) trên bước đường giải thoát. Sau khi Phật giảng tới đó thì các vị Phật và Bồ Tát tuyên bố hỗ trợ kẻ tu hành để tăng phần tín tâm. Một phẩm quan trọng của kinh này với tên Phổ môn (普門品) được dành cho Quán Thế Âm, trong đó vị Bồ Tát này nói rất rõ sự hộ trì của mình đối với người tu học kinh Pháp hoa. Phẩm Phổ môn này được Phật tử Trung Quốc và Việt Nam đặc biệt ưa thích và tụng đọc.|Trong kinh này, đức Phật không còn được xem là vị Phật lịch sử nữa mà Ngài là dạng xuất hiện của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân), là thể tính đích thật của muôn loài. Mỗi chúng sinh đều xuất phát từ dạng chuyển hoá này của Phật tính và vì vậy đều có thể trở về với chân tính của mình, trở thành một vị Phật.
Diệu quan sát trí 妙觀察智; S: pratyavekṣaṇa-jñāna;|Năm trí
Diệu Tâm tự 妙心寺; J: myōshin-ji;|Một ngôi chùa danh tiếng, thuộc tông Lâm Tế tại Kinh Ðô (j: kyōto), Nhật Bản, được Thiền sư Quan Sơn Huệ Huyền (j: kanzan egen, 1277-1360) khai sáng.|Chùa này được Thiền sư Huệ Huyền – vì vâng lệnh Hoa Viên Thiên hoàng – sửa đổi từ li cung của ông mà thành. Ban đầu, chùa này chỉ là một ngôi nhà nhỏ, sụp nát, mưa chảy cả vào trong. Nơi đây, Thiền sư Huệ Huyền dẫn dắt môn đệ rất kĩ lưỡng, nghiêm khắc. Một lần nọ, Quốc sư Mộng Song Sơ Thạch (j: musō sōseki) đến viếng thăm và khi trở về, sư bảo các vị đệ tử của mình rằng »tương lai của Thiền Lâm Tế nằm tại Diệu Tâm tự.«|Dòng Lâm Tế sau chủ yếu lấy chùa này làm trung tâm mà phát triển. Ðến pháp tôn đời thứ sáu là Tuyết Giang Tông Thâm (sekkō sáshin, 1408-1486) thì chia thành 4 phái và trở thành chủ lực lớn nhất của Thiền tông Nhật Bản.
Ðịnh 定; S, P: samādhi; J: zammai, dịch theo âm là Tam-ma-địa; |Trạng thái chú tâm lên một đối tượng duy nhất bằng sự lắng lọc từ từ của tâm. Ðịnh là một dạng tâm thức, trong đó không còn tính nhị nguyên, trong đó chủ thể biến thành một với khách thể, lúc đó chỉ còn một »kinh nghiệm tâm thức« là có thật. Khả năng đạt định là một trong những điều kiện tiên quyết để tu tập Thiền (s: dhyāna).|Người ta phân biệt ba dạng định xuất thế, dẫn đến chứng ngộ tính Không, Vô ngã và đạt Niết-bàn. Các dạng khác của định, dù sâu lắng thế nào đi nữa vẫn được xem là thế tục.
Đình chỉ 停止; C: tíngzhǐ; J: chōji;|Có các nghĩa sau: 1. Dừng lại, nghỉ lại, ở lại; 2. Cấm, hạn chế, giới hạn.
Ðịnh Hương 定香; ?-1051|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 6. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Ða Bảo và truyền lại cho những vị như Viên Chiếu, Bảo Tính, Minh Tâm và Cứu Chỉ.|Sư họ Lữ, quê ở Chu Minh, xuất gia theo học với Thiền sư Ða Bảo và là vị đệ tử xuất sắc nhất trong chúng. Một hôm, Sư hỏi Ða Bảo: »Làm sao thấy được chân tâm?« Bảo đáp: »Là ngươi tự nhọc.« Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, thưa: »Tất cả đều như vậy, đâu phải riêng con?« Bảo hỏi lại: »Ngươi hội chưa?« Sư thưa: »Ðệ tử hội rồi đồng chưa hội.« Bảo khuyên: »Cần phải gìn giữ cái ấy.« Sư bịt tai xoay lưng đứng, Ða Bảo dạy: »Ngươi về sau lại giống một kẻ điếc để tiếp người.«|Sau 24 năm tu học với Ða Bảo, Sư được thỉnh về trụ trì chùa Cảm Ứng ở Tiêu Sơn, phủ Thiên Ðức. Nhiều người đến đây tham học và Sư cũng rất có công trong việc hoằng hoá.|Ngày mồng 3 tháng 3 năm Canh Dần, niên hiệu Sùng Hưng Thái Bảo thứ ba đời Lí Thái Tông, Sư gọi chúng lại từ biệt và viết kệ phó chúc: |本來無處所。處所是真宗|真宗如是幻。幻有即空空|Bản lai vô xứ sở|Xứ sở thị chân tông|Chân tông như thị huyễn|Huyễn hữu tức không không.|*Xưa nay không xứ sở|Xứ sở là chân tông|Chân tông như thế huyễn|Huyễn có là không không.|Truyền kệ xong, Sư im lặng viên tịch.
Ðịnh Không 定空; 730-808|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 8. Không biết Sư nối pháp của vị nào. Môn đệ đắc pháp của Sư là Thiền sư Thông Thiện.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Cổ Pháp (cũ là Diên Uẩn). Sư xuất thân từ một gia đình danh giá và vì những hành động hợp pháp tắc nên những người trong làng đều quý trọng, gọi là Trưởng lão. Lúc tuổi đã lớn, nhân nghe một buổi thuyết pháp mà Sư phát tâm xuất gia tu học.|Nhân vì một điềm linh ứng báo trước nên Sư đổi tên làng thành Cổ Pháp. Sau đó, Sư còn đến trụ trì chùa Thiền Chúng ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức (nay là làng Ðình Bảng, phủ Từ Sơn tỉnh Bắc Ninh).|Sắp viên tịch, Sư gọi Thông Thiện đến phó chúc: »Ta muốn mở rộng làng xã nhưng ở khoảng giữa e gặp hoạ nạn, ắt có người khác đến phá hoại đất đai của chúng ta. Sau khi ta tịch, ngươi khéo gìn giữ pháp của ta. Khi nào gặp người họ Ðinh sẽ truyền thì nguyện của ta sẽ được toại vậy.« Nói xong, Sư viên tịch, thọ 79 tuổi. Thông Thiện xây tháp ở phía Tây chùa Lục Tổ để thờ Sư.|Người họ Ðinh kế thừa Thông Thiện sau này chính là Trưởng lão La Quý An.
Ðịnh lực 定力; S: samādhibala; J: jōriki; |Một trong Năm lực. Lực này xuất phát từ Nhất tâm và được phát triển qua các phép Thiền định. Ðịnh lực giúp hành giả tuỳ cơ ứng biến, làm đâu đúng đó mà không cần phải suy nghĩ đắn đo.|Thiền sư Bạch Vân An Cốc (j: hakuun yasutani) dạy rằng: »Ðịnh lực vượt qua các kết quả của sự tập trung đơn giản. Ðịnh lực là một năng lực diệu kì, một lần đã được đánh thức, giúp chúng ta hành động, phản ứng đúng lúc, thích hợp với những điều kiện, trường hợp không tiên đoán trước. Ai phát triển được định lực thì không còn là nô lệ của sự ham muốn vọng tưởng và cũng không còn là nạn nhân của thế giới xung quanh… Mặc dù nhiều năng lực huyền diệu có thể xuất phát từ định lực nhưng chúng không thể giúp chúng ta tận diệt tất cả những ảo ảnh bao quanh. Giác ngộ phải là bước tiếp đến.«|Vì định lực có thể tạo phép thần thông »vô bổ« và thu hút nhiều người nên Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên nhấn mạnh: »Việc tu tập để thành Tổ, thành Phật đứng hàng đầu trong tông này chứ không phải chỉ tụng kinh niệm Phật và sử dụng định lực.«
Ðịnh tâm 定心; J: jōshin;|Tâm đã đạt được Ðịnh (s: samādhi).
Ðịnh Thượng Toạ 定上座; C: dìng shàngzuò; J: jō jōza, tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư nổi danh với cách dạy thần tốc, mãnh liệt như vũ bão. Thiền sư Viên Ngộ có nhắc lại cách dạy của Sư trong Bích nham lục, Công án 32.|Sư người miền Bắc, đến học với Lâm Tế và đắc pháp nơi đây. Một hôm, Sư đi trên đường gặp ba vị Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát, Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Khâm Sơn Văn Thuý. Ba vị này hỏi Sư về cách dạy môn đệ của Lâm Tế. Sư thuật lại câu chuyện sau:|»Lâm Tế dạy chúng: ›Trên khối thịt đỏ có một chân nhân không ngôi vị thường từ diện môn các ông ra vào, người chưa chứng cứ hãy xem!‹ Có vị tăng ra hỏi: ›Thế nào là chân nhân không ngôi vị?‹ Lâm Tế liền nắm đứng bảo: ›Nói! Nói!‹ Vị tăng suy nghĩ. Lâm Tế liền xô ra, nói: ›Chân nhân không ngôi vị là cái gì? Cục cứt khô!‹ Liền trở về phương trượng.«|Nham Ðầu nghe sợ le lưỡi. Khâm Sơn nói: »Sao chẳng nói phi chân nhân không ngôi vị?« Sư nắm đứng bảo: »Chân nhân không ngôi vị cùng phi chân nhân không ngôi vị cách nhau nhiều ít, nói mau! Nói mau!« Khâm Sơn không biết đáp sao, mặt mày tái mét. Nham Ðầu, Tuyết Phong đến lễ bái xin lỗi: »Vị tăng này mới học không biết phải quấy, xin Thượng toạ từ bi tha thứ.« Sư bảo: »Nếu chẳng phải hai thầy già này xin, sẽ giết con quỷ đái dưới sàng này.«
Ðinh Tiên Hoàng 丁先皇|Nhà vua Việt Nam thế kỉ thứ 10 đã ủng hộ đạo Phật. Ông là người phong chức tăng thống cho Ngô Chân Lưu, thuộc Thiền phái Vô Ngôn Thông, phong hiệu là Khuông Việt Thái sư. Ðinh Tiên Hoàng nhìn nhận đạo Phật là tư tưởng chủ đạo trị nước.
Ðô-bi-pa S: dhobīpa hoặc dhombhipa, dhombipa; »Thợ giặt minh triết«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ.|Ðô-bi-pa là con một người thợ giặt. Ngày nọ hai cha con đang giặt áo thì có một Du-già sư (s: yogin) đi qua. Vì không có gì cúng dường, gia đình thợ giặt xin giặt áo cho ông ta. Vị này từ chối và nói có phép bí truyền, giặt một lần là trắng mãi mãi. Người con xin truyền phép đó và được vị Du-già sư cho nhập dòng Cha-kra sam-va-ra-tan-tra. Vị Du-già sư khai thị ông bằng những lời:|Ngọn lửa thủ ấn là,|nước rửa sạch cho Thân,|Âm thanh chân ngôn là,|nước rửa sạch cho Khẩu,|Giao phối của nhị nguyên,|rửa ô nhiễm cho ý.|Sau mười hai năm tu tập, người thợ giặt đạt thánh quả. Sau đó áo quần vào tay ông đều tự nhiên sạch sẽ. Ông sống thêm một trăm năm nữa để giáo hoá. Kệ ngộ đạo của ông như sau:|Ta chuyên nghề tẩy rửa,|trắng sao được rửa than.|Giáo pháp của Ðạo sư:|người thợ giặt quý nhất,|vì nó chỉ Tự tính,|trống rỗng không ô nhiễm.
Ðô-ka-ri-pa S: dhokaripa; »Khất sĩ với bình bát«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống thời đại nào.|Ông là kẻ ăn xin ở Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra), không có gì hơn ngoài bình bát, trong đó ông để mọi thứ xin được. Lần nọ ông không xin được gì, bình bát trống rỗng. Thấy một vị Du-già sư đi qua, ông hối tiếc là không có gì để cúng dường. Thế nhưng vị này cho ông nhập môn Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra), Quán đỉnh cho ông và dạy:|Hãy nghe, Ðô-ca-ri,|hãy đặt mọi dạng hình,|trong bình bát Không gian,|và xem chúng là một.|Ðô-ka-ri-pa thiền quán như vậy, chỉ ba năm sau ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahā-mudrāsiddhi). Sau đó ông vẫn tiếp tục mang bình bát đi rong. Nếu có ai hỏi, ông trả lời:|Bình bát của tính Không,|ta đặt vào trong đó,|mọi bố thí khất thực,|đó chính là Ðại lạc.|Ðô-ca-ri ham muốn,|Ðại lạc của tính Không,|hiểu chưa, hỡi các người?|Chứng đạo ca của ông như sau:|Trong không vô biên xứ,|(Tự tính của bình bát),|ta đặt mọi tri kiến,|(tự tính của mọi sự).|Không, Tri kiến là Một,|Du-già sư hạnh phúc,|đã đạt bờ chứng thật.|Đồ sức hương man|塗飾香鬘; C: túshìxiāngmán; J: zushoku kō-man; |Tự trang điểm mình bằng châu báu và hương thơm, giới tăng sĩ Phật giáo, là một điều không được làm, là 1 trong 10 giới cấm.
Ðỗ Thuận 杜順; C: dùshùn; j: dojun; 557-640|Ðế Tâm Ðỗ Thuận
Do-tuần 由旬; S: yojana;|Ðôn vị chiều dài của Ấn Ðộ thời xưa hay được dùng trong kinh sách đạo Phật. Ðó là khoảng cách binh sĩ đi một ngày đường, khoảng 15-20 km.
Ðọa xứ 墮處; S, P: apāya;|Bốn đường tái sinh đau khổ trong Vòng sinh tử. Ðó là Ðịa ngục (s: nakara), Ngạ quỷ (s: preṭa), súc sinh và A-tu-la (s: asura). A-tu-la đôi khi được kể vào loài hạnh phúc hơn loài người, có khi lại không được một số tông phái Tiểu thừa nhắc tới.
Ðoạn giáo 斷教; T: chod [gcod]; S: uccheda; cũng được gọi là Hi giải giáo (希解教);|Tên của một phương pháp tu tập rất độc đáo, là nhánh thứ hai của một tông trong Phật giáo Tây Tạng do Pha-đam-pa (t: pha-dampa sangye, ?-1117) sáng lập song song với nhánh »giảm« (t: shijed, nghĩa là giảm bớt). Giáo lí này xuất phát từ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā) ra nhưng được bổ sung thêm bằng những nghi lễ cúng hiến, gọi thần, hồn (e: shamanism) của những dân tộc thiểu số.|Nội dung chính của việc tu luyện trong Ðoạn giáo – như tên này đã nói – là cắt đứt đoạn lậu hoặc, Ngã kiến. Ðể thực hành điều này, hành giả phải đưa thân cúng hiến cho ma quỷ ở nghĩa địa và nơi đốt xác. Nữ đệ tử quan trọng nhất của Pha-đam-pa là Ma-chig Lab-dron-me (1055-1145), người đã truyền phép tu luyện này sang những tông khác ở Tây Tạng.|Pha-đam-pa được xem là người từ Nam Ấn Ðộ đến truyền Mật pháp bởi vì nước da của ông có nét xanh. Ông là người cùng thời với Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) và đến Tây Tạng 5 lần để giáo hoá. Lí thuyết căn bản của Ðoạn giáo dựa theo những kinh và luận nói về Bát-nhã ba-la-mật-đa. Theo thuyết này thì tất cả những vật hiện hữu đều tự tâm mà phát sinh, không thật; những sự lo sợ, tưởng tượng,… chỉ là kết quả của tư duy bất chính. Ðể chấm dứt trạng thái này, Ðoạn giáo đưa ra một phương pháp thiền rất độc đáo. Phương pháp này bao gồm hai phần: 1. Hành giả chấp nhận là ma quỷ có thật và chủ ý mời gọi chúng đến và 2. Nhận thức rằng, chúng chỉ là những gì tự tâm phát sinh, không có tự tính (Không). Ðể đạt được kết quả cao nhất, hành giả phải ra những nơi vắng vẻ hoang dã như những nơi đốt xác vì những nơi này dễ gây ra những cảm giác sợ hãi và ma quỷ cũng hay »lộng hành.« Nơi đây, Du-già sư ngồi thiền với một cái trống và kèn được làm bằng xương ống khuyển.|Ðiểm bí hiểm của phương pháp này nằm trong sự thực hành trực tiếp, như Pha-đam-ba một lần nói với cô đệ tử: »Con hãy đi tới chỗ thiêu xác, hãy lên núi tu luyện. Hãy quên những bài học lí thuyết và trở thành một Du-già-ni (s: yoginī) lang thang học hỏi!« Phép tu luyện theo Ðoạn giáo vẫn được lưu truyền rộng rãi ở Tây Tạng trong tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Ninh-mã (t: nyingmapa) cho đến ngày nay.
Ðộc giác Phật 獨覺佛; S: pratyekabuddha; P: paccekabuddha; dịch theo âm là Bích-chi-ca Phật-đà hoặc Bích-chi Phật, cũng được gọi là Duyên Giác Phật; |Một vị Phật đạt giác ngộ nhờ tri kiến Mười hai nhân duyên, là người đạt được Phật quả do tự mình chứng ngộ. Người ta cho rằng vị Ðộc giác Phật không đạt được các năng lực như Nhất thiết trí (s: sarvajñatā) hay Mười lực (s: daśabala) của một vị Tam-miệu Tam-phật-đà (Chính đẳng giác; s: samyak-saṃ-buddha). Ðộc giác Phật được xem như bậc Thánh ở quả vị khoảng giữa A-la-hán và Phật. Có khi Ðộc giác Phật là danh hiệu chỉ người đạt giác ngộ trong thời không có vị Phật nào xuất hiện trên trái đất và giác ngộ nhờ đã đạt tri kiến mười hai nhân duyên trong các đời sống trước. Ðộc giác thừa là một trong Ba thừa (cỗ xe) để đạt Niết-bàn.
Ðộc giác thừa 獨覺乘; S: pratyekabuddha-yāna; còn gọi là Duyên giác thừa;|Tên chung của các phương pháp tu tập đắc quả Ðộc giác Phật.
Ðộc tham 獨參; J: dokusan, có thể hiểu là »một mình đến tham vấn vị thầy«;|Cuộc gặp riêng của người tham thiền với vị thầy trong thất của thầy. Ðộc tham là một trong những yếu tố tối trọng trong việc tu thiền; nó tạo điều kiện để thiền sinh có thể trình bày những vấn đề liên hệ đến việc tu tập, để có thể trình bày sở đắc và trắc nghiệm mức độ thông đạt đạo của mình.|Nhiều Công án với nội dung là một cuộc vấn đáp phản ánh phương pháp độc tham thời xưa. Truyền thống độc tham bắt nguồn từ buổi »truyền tâm bí mật nằm ngoài giáo pháp« cho Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa) của Phật Thích-ca trên đỉnh Linh Thứu (Niêm hoa vi tiếu), được lưu truyền trong »Phật tâm tông« – một tên khác của Thiền tông – cho đến ngày nay. Trước đây thì độc tham được ứng dụng trong tất cả những hệ phái của Thiền tông nhưng trong thời nay, phương pháp này hầu như không còn tồn tại trong tông Tào Ðộng (s: sōtō-shū) tại Nhật mà chỉ được thực hành trong tông Lâm Tế (s: rinzai-shū).|Vì nhiều lí do mà buổi độc tham phải được giữ bí mật: 1. Buổi này đòi hỏi một tâm trạng cởi mở và thành thật tuyệt đối của thiền sinh trước mặt một vị Lão sư (j: rōshi) – một điều kiện khó thực hiện được trước mặt nhiều người khác; 2. Trong buổi này, thiền sinh trình bày mức độ ngộ nhập công án đang được tham quán. Nếu thiền sinh khác nghe được câu »giải đáp« này thì nó có thể là một chướng ngại cho họ trên đường tìm câu trả lời của chính mình; 3. Một buổi dạy riêng của vị thầy lúc nào cũng được thực hiện theo quy tắc »tuỳ cơ ứng biến« và vì thế lúc nào cũng thích hợp cho chính thiền sinh đang độc tham. Vị thầy có thể phản ứng khác biệt đối với những câu trả lời giống nhau của các thiền sinh – một yếu tố có thể làm các thiền sinh sơ cơ tán loạn.|Trong một hệ thống truyền thừa chính phái thì chỉ có người nào đã được Ấn khả, đã được chính thức công nhận là Pháp tự (j: hassu) mới được chủ trì buổi độc tham.
Ðộc Tử bộ 犢子部; S: vātsīputrīya; còn được gọi là Trụ tử bộ (s: pudgalavāda);|Bộ phái Phật giáo, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) trong năm 240 trước Công nguyên. Ðó là bộ phái dám đi xa nhất so với các nguyên lí kinh điển thịnh hành trong Thượng toạ bộ.|Người sáng lập của phái này là Ðộc Tử (s: vātsīputra), vốn theo đạo Bà-la-môn, cho rằng đàng sau mỗi con người có một cá nhân, một Bổ-đặc-già-la (補特伽羅; s: pudgala; p: puggala), không giống cũng không khác với Ngũ uẩn. Con người đó là kẻ đi tái sinh, là kẻ chịu tất cả các nghiệp báo, thậm chí là kẻ tiếp tục hiện diện trong Niết-bàn. Trong thời đại bấy giờ Ðộc Tử bộ là một trong những bộ phái lớn, nhưng quan điểm của bộ phái này bị các tông phái chống đối vì họ cho rằng »Bổ-đặc-già-la« của Ðộc tử chẳng qua chỉ là biến dạng của một tự Ngã (s: ātman), là quan niệm mà đã bị đức Phật phủ nhận.
Ðôm-bi-pa S: ḍombipa hoặc ḍombi; nghĩa là »Chúa của dòng du ca,« cũng có biệt danh là »Người cưỡi cọp«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Ông sống trong thế kỉ 9, được xem là đệ tử của Vi-ru-pa (s: virūpa). Vi-ru-pa hướng dẫn ông vào những huyền bí của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajratantra) và những vị Hộ Thần.|Là nhà vua nước Ma-kiệt-đà (s: magadha), ông lấy một cô gái thuộc dòng du ca (ḍombi), một dòng hạ tiện. Bị chê cười, ông bỏ ngôi báu, cùng nàng vào rừng, tu tập Tan-tra. Về sau khi nước Ma-kiệt-đà bị đói kém, triều đình mời ông trị vì. Ông trở về, cỡi cọp, thi triển thần thông và dạy Phật pháp. Người ta cho rằng ông là tác giả của tám tập sách và nhiều bài ca. Nghi quỹ (s: sādhana) của ông là sự chuyển hoá năng lực nhục tính thành sự Giác ngộ thanh tịnh. Bài kệ chứng đạo của ông có những dòng như sau:|Viên đá bậc hiền nhân,|biến chì thành vàng ròng.|Trong lòng Viên ngọc quý,|đam mê thành tỉnh giác.
Ðôn Hoàng 敦煌; C: dūnhuáng;|Thành phố thuộc tỉnh Cam Túc, Tây Bắc Trung Quốc, có rất nhiều hang động nổi tiếng, được xem là vùng hang động chứa nhiều di tích Phật giáo lớn nhất thế giới. Những động cổ nhất được xây dựng từ thế kỉ thứ 5. Ngày nay, người ta tìm thấy 492 động, nằm trên 5 vùng cao thấp khác nhau, dài khoảng 1km. Hang động chứa toàn tranh tạc trên tường, với một diện tích tranh khoảng 45000m², và khoảng 2400 tượng. Ðặc biệt trong động số 16, người ta đã khám phá hàng ngàn kinh, luận, được cuốn tròn. Ðó là những tư liệu vô giá của công trình nghiên cứu đạo Phật trong vùng Trung Á và Trung Quốc ngày nay.|Các tranh tường thường minh hoạ các kinh, các vị Phật hay cuộc đời thường. Các bức tranh trước thế kỉ thứ 6 trình bày cuộc đời của Phật Thích-ca. Kể từ đời Ðường, người ta trình bày các thế giới Cực lạc. Các tranh tượng khác phần lớn diễn tả Di-lặc, minh hoạ các kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm, Diệu pháp liên hoa, Duy-ma-cật sở thuyết. Các vị Phật, Bồ Tát được tạc tượng nhiều nhất là Quán Thế Âm, Ðịa Tạng, La-hán cũng như một số thiên nhân khác.|Năm 1900, một nông dân vô tình khám phá ra động Mạc Kao, động này dẫn đến động số 16. Trong động số 16 người ta tìm thấy 40.000 văn bản (kinh sách, tài liệu, tranh tượng, kể cả các đề tài thuộc về đạo Lão, đạo Khổng) cũng như nhiều pháp khí mà tăng ni ngày xưa đã cất dấu khi bị ngoại xâm. Người nông dân nọ không biết giá trị các thứ đó, đã bán đi một phần lớn. Năm 1907, đoàn khảo cổ đầu tiên của phương Tây do Sir Aurel Stein dẫn đầu đã mua đi 150 bức hoạ trên lụa, 500 tranh vẽ và 6500 cuộn bản kinh. Năm 1908, một nhà Ấn Ðộ học là Paul Pelliot đem từ Ðôn Hoàng 6000 cuộn kinh về nước. Sau đó là người Anh và người Nhật. Ngày nay phần lớn các di sản văn hoá đó đều nằm trong các viện bảo tàng phương Tây.|Các hang động có chính diện hình vuông hay chữ nhật. Các hang xây thời Ðông Tấn (thế kỉ 4-5) thường đơn giản, chỉ có các tượng Phật. Các hang thời đại sau thường có nhiều phòng. Phần lớn các tượng được đặt trên đế hay dựa vào vách đá. Các hang đưới thời nhà Tống được xây dựng công phu nhất, gồm các trình bày tiền thân đức Phật hay các cảnh của Tịnh độ.|Các hình ảnh tranh tượng khắc hoạ trong thời Ðông Tấn còn mang nhiều ảnh hưởng của Ấn Ðộ với mũi cao, áo mỏng. Sau đó các hình tượng của huyền thoại Trung Quốc cũng được đưa vào tranh. Ðến thời nhà Tuỳ (581-618), bên cạnh tượng Phật và Bồ Tát, lần đầu tiên tượng của A-nan-đà được trình bày và cũng trong thời gian này, ảnh hưởng của nghệ thuật Trung Quốc bắt đầu chiếm ưu thế.|Trong đời Ðường, các hình tượng sống động và gần gũi hơn, nhất là trang phục của các tượng được trình bày rất kĩ. Trong thời kì này, nhiều tượng Phật vĩ đại ra đời, tượng lớn nhất cao hơn 33 m. Các tranh trên tường minh hoạ các cảnh trong kinh, các Bồ Tát thường là các vị đang được truyền bá rộng rãi thời bấy giờ.
Ðốn ngộ 頓悟; J: tongo;|Nghĩa là ngộ bất thình lình, ngay bây giờ, ngược với Tiệm ngộ. Phép tu Ðốn ngộ được Nam tông thiền chủ trương đề xướng (Huệ Năng).
Ðốn ngộ nhập đạo yếu môn luận 頓悟入道要門論; J: tongo nyūdō yōmon-ron;|Một tác phẩm quan trọng của Thiền tông, được Thiền sư Ðại Châu Huệ Hải biên soạn.
Đồng 同; C: tóng; J: dō; |Có các nghĩa sau: 1. Giống nhau, một, đồng nhất; 2. Làm cho đồng nhất; làm thành một; đặt cùng với nhau; 3. Ở giữa, gom lại với nhau; 4. Trở thành một phần của toàn thể.
Động 動; C: dòng; J: dō;|Có các nghĩa sau: 1. Sự hoạt động, sự chuyển động, sự vận động (s: cestā). Hành động. Hoạt động; 2. Rung động, rung, lay động, rùng mình, rung lên (s: kampita); 3. Sự nhận thức, sự nhận biết, sự suy nghĩ, sự suy xét; 4. Tính chuyển động hay độ loãng có thể thấy được nơi gió. Phẩm chất đặc biệt của Phong đại (風大). Tính chất cơ bản của gió.
Đông chấn 東震; C: dōng zhèn; J: tōshin; |Đông Á, Trung Hoa.
Động chuyển 動轉; C: dòngzhuăn; J: dōten;|Sự chuyển động và thay đổi (sự biến đổi).
Động diêu (dao) 動搖; C: dòngyáo; J: dōyō;|Có hai nghĩa: 1. Chuyển động, lay động, rùng mình, rung lên; 2. Sự do dự, không quả quyết.
Đồng giáo 同教; C: tóngjiāo; J: dōkyō; |Nghĩa rộng của Nhất thừa. Giáo lí của »Đồng giáo« có liên quan đến giáo lí »Tam thừa«. Trên quan điểm nầy, tất cả giáo lí và hiện hữu đều được dung hàm trong giáo lí Nhất thừa. Đây là giáo lí của Hoa Nghiêm tông.
Đồng giáo nhất thừa 同教一乘; C: tóngjiāo yīshèng; J: dōkyōichijō; |Giáo lí »nhất như« của Nhất thừa. Trong giáo lí Hoa Nghiêm, đây là Viên giáo, là giáo lí cho rằng Nhất thừa và Tam thừa là đồng nhất.
Đồng Lí sơn 桐裡山; C: tónglǐshān; J: tōrisan; K: tong-nisan|Được Huệ Triệt (慧徹, k: hyech'ŏl) khai sáng. Là một trong 9 tông phái (cửu sơn 九山) Phật giáo thiền Hàn Quốc.
Đông Phúc tự 東福寺; C: dōngfúsì; J: tōfukuji; |Ngôi chùa chính, chi nhánh Đông Phúc tự thuộc dòng thiền Lâm Tế tại Kinh Đô. Còn được gọi là Enichi-zan. Việc kiến trúc được hoàn thành năm 1236 với Viên Nhĩ Biện Viên (圓爾辨圓, j: enni bennen) được công nhận là vị tăng khai sáng. Vào lúc đó, Đông Phúc tự có 53 ngôi chùa chi nhánh, nhưng rồi giảm xuống chỉ còn 25 ngôi sau thời Minh Trị phục hưng.
Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh 東方最勝燈王陀羅尼經; C: dōngfāng zuìshèng dēngwáng tuóluóní jīng; j: tōhō saishō tōō daranikyō; S: agrapradīpa-dhāraṇī-vidyārā-ja; T: rig sngags kyi rgyal po sgron ma mchog gi gzungs;|Có 6 bản dịch tiếng Hán hiện đang lưu hành:|1. An trạch đà-la-ni chú kinh (安宅陀羅尼呪經), 1 quyển, dịch giả vô danh; |2. Trì cú thần chú kinh (持句神呪經), 1 quyển; Chi Khiêm (支謙) dịch; |3. Đà-lân-ni-bát kinh (陀隣尼鉢經, s: dhāraṇīpasūtra), 1 quyển, Trúc Đàm Vô Sấm (竺曇無讖) dịch.|4. Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh (東方最勝燈王陀羅尼經), 1 quyển, Xà-na-quật-đa (闍那崛多, s: jñānagupta) dịch.|5. Đông phương tối thắng đăng vương Như Lai kinh (東方最勝燈王如來經), 1 quyển; Xà-na-quật-đa (闍那崛多, s: jñānagupta) dịch.| 6. Thánh tối thượng thắng minh Như Lai đà-la-ni kinh (聖最上燈明如來陀羅尼經), 1 quyển; Thí Hộ (施護, s: dānapāla) dịch.
Đông phương tối thắng đăng vương Như Lai kinh 東方最勝燈王如來經; C: dōngfāng zuì-shèng dēngwáng rúlái jīng; j: tōhō saishō tōō nyorai kyō; |1 quyển. Đông phương tối thắng đăng vương đà-la-ni kinh (東方最勝燈王陀羅尼經).
Đồng quy 同歸; C: tóngguī; J: dōki; |Quy hướng vào cùng một mục đích.
Đồng sinh 同生; C: tóngshēng; J: dōshō; |Sinh cùng thời với nhau.
Ðộng Sơn Lương Giới 洞山良价; C: dòngshān liángjiè; J: tōzan ryō-kai; 807-869;|Thiền sư Trung Quốc, Pháp tự của Thiền sư Vân Nham Ðàm Thạnh. Cùng với môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch, Sư sáng khai tông Tào Ðộng, một dòng Thiền được lưu truyền đến ngày nay. Sư quyền khai ngũ vị để giáo hoá học đồ, đời sau gọi là Ðộng Sơn ngũ vị.|Sư họ Du quê ở Cối Kê. Thuở nhỏ theo thầy tụng Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh đến câu: »Vô nhãn, nhĩ, tĩ, thiệt, thân, ý«, Sư lấy tay rờ mặt hỏi thầy: »Con có mắt, tai, mũi, lưỡi sao kinh nói không?« Thầy thấy lạ và giới thiệu Sư đến núi Ngũ Duệ yết kiến Thiền sư Linh Mặc (trước học đắc nơi Mã Tổ, đại ngộ nơi Thạch Ðầu). Năm 21 tuổi, Sư đến Tung Sơn thụ giới cụ túc. Sao đó Sư du phương, yết kiến Nam Tuyền Phổ Nguyện. Gặp ngày kị trai Mã Tổ, Nam Tuyền hỏi chúng: »Cúng trai Mã Tổ, vậy Mã Tổ có đến hay chăng?« Tất cả chúng không đáp được, Sư bước ra thưa: »Ðợi có bạn liền đến.« Nam Tuyền khen: »Chú nhỏ này tuy là hậu sinh rất dễ giũa gọt.« Sư thưa: »Hoà thượng chớ ếm kẻ lành thành đứa giặc.« |Sư đến Quy Sơn Linh Hựu. Quy Sơn lại chỉ đến Vân Nham. Ðến đây Sư hỏi: »Vô tình thuyết pháp, người nào được nghe?« Vân Nham bảo: »Vô tình thuyết pháp, vô tình được nghe.« Sư hỏi: »Hoà thượng nghe chăng?« Vân Nham bảo: »Ta nếu nghe, ngươi đâu thể được nghe ta thuyết pháp.« Sư thưa: »Con vì sao chẳng nghe?« Vân Nham dựng phất tử, hỏi: »Lại nghe chăng?« Sư thưa: »Chẳng nghe.« Vân Nham bảo: »Ta thuyết pháp mà ngươi còn chẳng nghe, huống là vô tình thuyết pháp.« Sư hỏi: »Vô tình thuyết pháp gồm những kinh điển gì?« Vân Nham bảo: »Ðâu không thấy kinh A-di-đà nói: nước, chim, cây rừng thảy đều niệm Phật, niệm pháp?« Ngay câu này Sư có tỉnh, thuật bài kệ:|也大奇!也大奇!|無情說法不思議|若將耳聽終難會|眼處聞時方得知|Dã đại kì, Dã đại kì|Vô tình thuyết pháp bất tư nghì|Nhược tương nhĩ thính chung nan hội|Nhãn xứ văn thì phương đắc tri.|Cũng rất kì! Cũng rất kì!|Vô tình thuyết pháp chẳng nghĩ nghì|Nếu lấy tai nghe trọn khó hội|Phải đem mắt thấy mới liễu tri.|Sắp rời Vân Nham, Sư hỏi: »Sau khi Hoà thượng trăm tuổi, chợt có người hỏi ›tả được hình dáng của thầy chăng?‹ con phải đáp làm sao?« Vân Nham lặng thinh hồi lâu, bảo: »Chỉ cái ấy.« Sư trầm ngâm giây lâu, Vân Nham bảo: »Xà-lê Lương Giới thừa đương việc lớn phải xét kĩ.« Sư vẫn còn hồ nghi. Sau, Sư nhân qua suối nhìn thấy bóng, đại ngộ ý chỉ, liền làm bài kệ:|切忌從他覓。迢迢與我疏|我今獨自往。處處得逢渠|渠今正是我。我今不是渠|應修甚麼會。方得契如如|Thiết kị tòng tha mịch|Thiều thiều dữ ngã sơ|Ngã kim độc tự vãng|Xứ xứ đắc phùng cừ|Cừ kim chính thị ngã|Ngã kim bất thị cừ|Ưng tu thậm ma hội|Phương đắc khế như như.|*Rất kị tìm nơi khác|Xa xôi bỏ lãng ta|Ta nay riêng tự đến|Chỗ chỗ đều gặp va|Va nay chính là ta|Ta nay chẳng phải Va|Phải nên như thế hội|Mới mong hợp như như.|Sư thượng đường dạy chúng: »Lại có người không đền đáp bốn ân ba cõi chăng?« Chúng đều không đáp, Sư lại bảo: »Nếu chẳng thể nhận ý này, làm sao vượt khỏi hoạn trước sau. Hẳn phải tâm tâm chẳng chạm vật, bước bước không chỗ nơi, thường không gián đoạn mới được tương ưng. Cần phải nỗ lực, chớ nhàn rỗi qua ngày!«|Một vị tăng hỏi Sư: »Khi lạnh nóng đến làm sao né tránh?« Sư đáp: »Sao chẳng nhằm chỗ không lạnh nóng đi?« Tăng hỏi: »Thế nào là chỗ không lạnh nóng?« Sư đáp: »Khi lạnh lạnh chết Xà-lê, khi nóng nóng chết Xà-lê.«|Sắp tịch, Sư sai cạo tóc tắm gội xong, đắp y bảo chúng đánh chuông, giã từ chúng ngồi yên mà tịch. Ðại chúng khóc lóc mãi không dứt. Sư chợt mở mắt bảo: »Người xuất gia tâm chẳng dính mắc nơi vật, là tu hành chân chính. Sống nhọc thích chết, thương xót có lợi ích gì?« Sư bảo chủ sự sắm trai ngu si để cúng dường. Chúng vẫn luyến mến quá, kéo dài đến ngày thứ bảy. Thụ trai cùng chúng xong, Sư bảo: »Tăng-già không việc, sắp đến giờ ra đi, chớ làm ồn náo.« Nói xong Sư vào trượng thất ngồi yên mà tịch. Bấy giờ là tháng ba năm thứ mười, niên hiệu Hàm Thông đời Ðường. Sư thọ 63 tuổi, 42 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ngộ Bản Thiền sư.
Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục 洞山良价禪師語録; C: dòngshān liángjiè chánshī yŭlù; J: dōsan ryōkai zenshi goroku;|Tên gọi tắt của Thuỵ Châu Động Sơn Lương Giới Thiền sư ngữ lục (瑞州洞山良价禪師語録). Ðộng Sơn Lương Giới.
Ðộng Sơn ngũ vị 洞山五位; J: tōzan (ryōkai) go-i; còn được gọi là Ngũ vị quân thần;|Năm địa vị của giác ngộ, được Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới và môn đệ là Tào Sơn Bản Tịch phân tích nêu rõ.|Biểu thị Chính (正) ở đây có nghĩa là Thể, tính Không (空), Lí (理). Thiên (偏) chỉ cho Dụng (用), Sắc (色), Sự (事). Ngũ vị được nêu rõ như sau:|1. Chính trung Thiên (正中偏): có nghĩa là cái Dụng nằm trong Lí. Trong cấp nhận thức này, thế giới Hữu vi nắm phần trên nhưng được nhận diện là xuất phát từ Chân như, tính Không. Người tu mới nhận được dụng đủ nơi thể. Bài kệ tụng của Sư:|正中偏|三更初夜月明前|莫怪相逢不相識|隱隱猶懷舊日嫌|Chính trung thiên|Tam canh sơ dạ nguyệt minh tiền|Mạc quái tương phùng bất tương thức|Ẩn ẩn du hoài cựu nhật hiềm.|*Chính trung thiên|Ðêm tối canh ba trăng rọi hiên|Lạ chi cùng gặp chẳng cùng biết|Ẩn ẩn vẫn còn ôm hận phiền|2. Thiên trung Chính (偏中正): có nghĩa là Lí nằm trong Dụng. Trong vị này, sự bất phân nổi bật, thế giới hiện hữu ít được để ý đến. Người tu hành nhận được Lí đủ nơi Sự, nhận được Thể sẵn trong Dụng, liễu đạt được lí các pháp đều không, chỉ một Chân như bình đẳng. Bài tụng:|偏中正|失曉老婆逢古鏡|分明覿面別無真|休更迷頭猶認影.|Thiên trung chính|Thất hiểu lão bà phùng cổ cảnh|Phân minh địch diện biệt vô chân|Hưu cánh mê đầu do nhận ảnh.|*Thiên trung chính|Mất sáng lão bà tìm cổ kính|Rõ ràng đối diện đâu riêng chân|Thôi chớ quên đầu theo nhận bóng.|3. Chính trung lai (正中來): nghĩa là từ trung tâm giữa Thiên và Chính đến. Các pháp hữu vi như Lí tuỳ duyên, như tính duyên khởi. Nơi đây cảm giác về thân, tâm đều được bỏ qua một bên, cả hai đều biến mất. Người tu nơi đây như Lí tu Sự, như tính khởi hành, tương đương với Bồ Tát từ sơ địa đến thất địa (Thập địa) tu hành còn dụng công. Bài tụng:|正中來|無中有路隔塵埃|但能不觸當今諱|也勝前朝斷舌才|Chính trung lai|Vô trung hữu lộ cách trần ai|Ðản năng bất xúc đương kim huý|Dã thắng tiền triều đoạn thiệt tài.|*Chính trung lai|Ðường cái trong không cách trần ai|Chỉ hay chẳng chạm ngày nay kị|Ðã thắng tiền triều cắt lưỡi tài.|4. Thiên trung chí (偏中至): bước vào giữa Thiên và Chính. Nơi đây người tu cảm nhận được sự độc nhất vô nhị của mỗi Pháp. Ngay cả tính Không cũng đã biến mất trong pháp này. Sử dụng toàn hợp nơi thể người tu trọn ngày tu mà lìa niệm tu, trọn đêm dụng mà chẳng thấy dụng công. Tương đương với hàng Bồ Tát từ bát địa đến thập địa. Tụng:|偏中至|兩刃交鋒不須避|好手猶如火裡蓮|宛然自有沖天志|Thiên trung chí|Lưỡng nhẫn giao phong bất tu tị|Hảo thủ du như hoả lí liên|Uyển nhiên tự hữu xung thiên chí.|*Thiên trung chí|Hai kiếm đua nhau cần gì tránh|Tay khéo vẫn như lò lửa sen|Nguyên vẹn nơi mình xung thiên chí.|5. Kiêm trung đáo (兼中到): Ðã đến đích, đến trung tâm của hai thái cực Thiên và Chính. Thể Dụng đồng đến, Sự và Lí cùng hành. Tức là vị quân thần hiệp (vua tôi hiệp). Ðây là Phật quả tối thượng. Bài tụng:|兼中到|不落有無誰敢和|人人盡欲出常流|折合還歸炭裡坐.|Kiêm trung đáo|Bất lạc hữu vô thuỳ cảm hoà|Nhân nhân tận dục xuất thường lưu|Chiết hiệp hoàn quy khôi lí toạ.|*Chẳng rơi Không, có ai dám hoà|Người người trọn muốn vượt dòng thường|Tan hiệp trở về ngồi trong tro|Tào Sơn Bản Tịch Thiền sư giải: »Chính vị tức xưa nay Không giới, xưa nay không vật. Thiên vị là sắc giới có muôn hình tượng. Chính trung thiên: bỏ Lí theo Sự. Thiên trung chính: bỏ Sự về Lí. Kiêm trung đáo: thần ứng hợp các duyên, không rơi vào các cõi, chẳng phải nhiễm, tịnh, chính, thiên. Cho nên nói ›Ðại đạo hư huyền, chân tông vô trước.‹ Các bậc tiên đức suy một vị này tối diệu tối huyền, phải biện minh cho thấu triệt. Quân là Chính vị, Thân là Thiên vị, Thần hướng Quân là Thiên trung Chính, Quân thị Thần là Chính trung Thiên, Quân Thần đạo hiệp là Kiêm trung đáo.«|Tương truyền rằng, Ðộng Sơn được thầy là Vân Nham Ðàm Thạnh chân truyền thuyết Ngũ vị và truyền lại cho Tào Sơn, người đã phát triển và hoàn chỉnh công thức này. Ngũ vị được xem là công thức biện chứng tuyệt hảo nhất của Thiền tông Trung Quốc. Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku) bảo rằng »Ngũ vị là nguyên lí chính của Phật giáo và con đường tu tập tối trọng của Thiền tông.«|Thuyết Ngũ vị của Thiền sư Ðộng Sơn tương ưng với Tứ pháp giới của Hoa nghiêm tông, được Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán (737-838) đề xướng. 1. và 2. của Ngũ vị tương ưng với Sự pháp giới, 3. tương ưng với Lí pháp giới, 4. tương ưng với Lí sự vô ngại pháp giới và 5. tương ưng với Sự sự vô ngại pháp giới.|Ngũ vị của tông Tào Ðộng sau cũng được tông Lâm Tế hấp thụ. Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu có lẽ là người đầu tiên sử dụng thuyết này và những bài kệ thuyết giảng của sư được ghi lại trong tập thứ 2 của Phần Dương lục (3 tập), được Thiền sư Thạch Sương Sở Viên biên tập. Phần Dương lục cũng là tập Công án quan trọng đầu tiên của Thiền tông Trung Quốc.
Ðộng Sơn Thủ Sơ 洞山守初; C: dòngshān shǒushū; J: tōzan shu-sho; 910-990;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Vân Môn Văn Yển. Trước khi gặp Vân Môn, Sư đã hành cước hơn 2000 km từ quê ở Tây Bắc Trung Quốc đến Quảng Ðông. Ðây là sự chứng minh lòng tham thiền học đạo tuyệt đối của Sư và các vị mộ đạo đời đó nói chung.|Nguyên do đại ngộ của Sư được truyền lại trong Vô môn quan, Công án 15:|Vân Môn hỏi Sư: »Mới từ đâu đến?« Sư thưa: »Tra Ðộ.« Vân Môn lại hỏi: »Hạ An cư ở đâu?« Sư đáp: »Chùa Báo Từ ở Hồ Nam.« Vân Môn hỏi tiếp: »Rời chùa hôm nào?« Sư đáp: »Hai mươi lăm tháng tám.« Vân Môn bảo: »Tha cho ông ba hèo.« Sáng hôm sau, Sư đến hỏi Vân Môn: »Hôm qua đội ơn thầy tha ba hèo, không biết lỗi của con ở đâu?« Vân Môn nói: »Ðồ vô dụng, thế mà dám khoe là đã qua những pháp hội ở Giang Tây, Hồ Nam! (chỉ Mã Tổ, Thạch Ðầu).« Nhân câu này của Vân Môn, Sư đại ngộ, bèn thưa: »Con ngày khác đến chỗ không có hơi người, dựng một chiếc am, chẳng chứa một hạt gạo, chẳng trồng một cọng rau, thường tiếp đãi thiện tri thức mười phương qua lại, trọn vì họ nhổ đinh tháo chốt, lột chiếc mũ thịt mỡ, cởi chiếc áo hôi thối, khiến mọi người sạch sẽ thung dung, làm một người vô sự.« Vân Môn bảo: »Thân bằng cây liễu mà mở được cái miệng to thế.« Sư liền lễ bái rồi đi.|Sư dạy chúng: »Lời không dính việc, nói chẳng hợp cơ, nương lời thì mất, kẹt câu là mê. Nơi đây, trong bốn câu nói thấy được rõ ràng. Làm một nạp tăng (chỉ Thiền sư) khoáng đạt, nhân một cây đòn tay, một miếng ngói, một bữa cháo, bữa cơm cũng có thể vì người làm thiện tri thức. Nơi đây, nếu chẳng rõ sẽ trở thành kẻ bướng bỉnh.«|Ðời nhà Tống niên hiệu Thuần Hoá năm đầu tháng bảy, Sư ngồi yên thị tịch.
Đồng sự 同事; C: tóngshì; J: dōji; |1. Chung sức, hợp tác, giúp đỡ lẫn nhau; 2. Tham gia cùng công việc của chúng sinh để cứu độ họ.
Đồng tham 同參; C: tóngcān; J: dōsan; |Huynh đệ cùng tu tập chung một thầy hay chung một tu viện. Bạn đồng tu.
Đông thắng thân châu 東勝身洲; C: dōngshèngshēnzhōu; j: tōshōshinshū; S: pūrva-videhaḥ. |Một trong Tứ đại châu (四大洲) theo vũ trụ quan thần thoại Ấn Độ, nằm về phía Đông của núi Tu-di.
Đồng tính kinh 同性經; C: tóngxìng jīng; J: dōshōkyō; |Tên gọi đầy đủ là Đại thừa đồng tính kinh (大乘同性經), 2 quyển, Xà-na Da-xá (闍那耶舎) dịch. Được Nguyên Hiểu (元曉) trích dẫn cho giáo lí Phật thân trong luận giải Đại Thừa khởi tín luận của sư.
Động tức 動息; C: dòngxí; J: tōsoku;|Tiếng Hán dịch chữ samaṇa từ tiếng Pali và chữ śramaṇa từ tiếng Phạn. Xem Sa-môn (沙門).
Đông vực truyền đăng mục lục 東域傳燈目録; C: dōngyù chuándēng mùlù; j: tōiki dentō mokuroku; |1 quyển, của Vĩnh Siêu (永超. j: eichō).
Đồng xứ tương vi 同處相違; C: tóngchùxiāngwéi; J: dōshosōi; |Mâu thuẫn khi xuất hiện đồng thời (của sự đối lập). Một trong 6 loại nguyên nhân mâu thuẫn đề xuất trong Du-già sư địa luận. Mâu thuẫn phát sinh từ sự hiện hữu đồng thời của các cặp đối lập như tối và sáng, khổ và vui… (theo Du-già luận 瑜伽論).
Drug-pa Kun-leg T: drugpa kunleg ['brug-pa kun-legs], 1455-1570, nghĩa là »Con rồng tốt bụng«; |Một trong những »Cuồng Thánh« nổi tiếng nhất Tây Tạng. Sư trước học theo dòng Drug-pa trong tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa), sau đó lại thích du phương tuỳ duyên giáo hoá.|Sư được xem là hiện thân của hai vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) Sa-ra-ha và Sa-va-ri-pa (s: śa-varipa). Sư có công lớn trong việc truyền Phật pháp đến nước Bhutan và nổi danh trong quần chúng vì sự »mê« gái và rượu bia. Sư để lại nhiều bài hát thổ lộ điều nhận thức chân lí trực tiếp của mình, có thể so sánh được với những bài kệ của những vị Thiền sư Trung Quốc – ví như:|Tên ta là rồng điên, Drug-pa Kun-leg|Ta không phải du tăng xin ăn, xin áo|Ta đã xuất gia hành hương|Một cuộc hành hương bất tận.|Sư là biểu tượng đặc sắc nhất của những vị Ma-ha Tất-đạt với nhiều gương mặt khác nhau, nếu không nói là nghịch nhau. Mặt nạ cuồng điên tạo điều kiện sinh sống, hoằng hoá tự do tự tại, vượt qua tất cả những luân lí trói buộc của thế gian. Và chính vì những hành động điên rồ này mà Sư đã chinh phục được nhiều người ở những tầng cấp xã hội khác, những người không thể thuyết phục được bằng những lời thuyết pháp bình thường. Sư tự hát:|Vũ sư trong dòng ảo ảnh bất diệt|Người có uy quyền, … Vị anh hùng… |Du-già sư nhỏ bé… Tiên tri|Du-già sư, người đã nếm Nhất vị|Ðó chỉ là một vài mặt nạ ta mang.|Câu chuyện sau thường được nhắc lại và qua đó người ta có thể lường được phong cách »cuồng« nhưng siêu việt của Sư:|Một ngày nọ, có một bà cụ già tay cầm một bức Thăng-ka vào một tu viện cầu mong vị viện chủ ban phép lành cho bức ảnh này – một tục lệ phổ biến tại Tây Tạng, gần giống như việc Khai nhãn một tượng Phật hoặc Bồ Tát tại Ðông, Ðông nam á. Bức tranh của bà lão trình bày vị Hộ Thần Hê-ru-ka và được cuốn tròn để dễ cầm tay. Vừa đi đến tu viện – vốn nằm trên một ngọn đồi – bà lão tự nghĩ »Viện chủ là một người tài cao đức rộng, nhưng sư đệ của ông lại là một người phiêu bồng, không bằng một phần của viện chủ.« Vừa mới phát ý nghĩ này thì Drug-pa Kun-leg xuất hiện trước mặt bà như một bóng ma, hỏi bà muốn gì và bảo rằng: »Sư huynh của ta ngồi như một lĩnh chúa với đám tuỳ tòng, ngoài sự việc này ra thì chẳng có gì đáng xem trên ấy cả.« Chần chừ giây lâu, bà lão đành phải trình bày nguyện vọng của mình và mở bức tranh cho Sư xem. Sư hỏi với một giọng ngớ ngẩn: »Bức tranh này mà Bà muốn ban phép à?« Bà thưa: »Tất nhiên là con muốn« nhưng chưa kịp nói thêm thì Sư đã vạch quần, tiểu tiện vào bức tranh và bảo: »Những người như ta thì ban phép lành cho mọi thứ tranh ảnh thế này đây.« Nói xong, Sư biến mất một cách đột ngột như lúc xuất hiện. Gặp viện chủ, bà lão trình lại sự việc trên và chỉ nhận được một tràng cười to. Viện chủ bảo bà cứ mở bức tranh ra xem và lạ thay, bức tranh lúc này đã được phủ một lớp bụi vàng óng ánh. Viện chủ tươi cười bảo: »Hê-ru-ka đã tự mình ban phép cho bức tranh, bà không cần tôi nữa đâu.«
Du-già 瑜伽; S, P: yoga; nguyên nghĩa »tự đặt mình dưới cái ách«;|Có nghĩa là phương pháp để đạt tiếp cận, thống nhất với »Tuyệt đối«, »Thượng Ðế« Vì có nhiều cách tiếp cận nên Du-già là một khái niệm rất rộng.|Ngay trong Ấn Ðộ giáo, người ta đã kể nhiều cách khác nhau phù hợp với căn cơ của mỗi hành giả. Các quan niệm đạo lí tại phương Tây, nhất là sự tiếp cận với Thượng Ðế cũng chính là Du-già, đó là Hành động vị tha du-già (karmayoga), Thương yêu (Thượng Ðế) du-già (bhaktiyoga), Trí huệ du-già (jñāna-yoga)|Tại phương Tây, ngày nay nói đến Du-già là người ta nghĩ đến Ha-ṭha du-già (tập luyện thân thể), phối hợp với phép niệm hơi thở. Phương pháp Du-già thân thể này, đối với Ấn Ðộ, chỉ là giai đoạn chuẩn bị cho một Du-già thuộc về tâm thức sau này, đó là các phép thiền quán khác nhau.|Du-già không phải phương pháp riêng tư của tư tưởng Ấn Ðộ. Tất cả mọi hoạt động, từ những phép tu huyền hoặc tại châu Á đến các buổi cầu nguyện trong nhà thờ Thiên chúa giáo đều có thể gọi là Du-già. Trong đạo Phật, thiền và các phép tu theo Tan-tra cũng được gọi là Du-già và các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) như Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) là Du-già sư (s: yogin).
Du-già hành tông 瑜伽行宗; S: yogācāra;|Một tên khác của Duy thức tông. Danh từ này được Vô Trước (s: asaṅga) sử dụng trong các tác phẩm của mình vì có lẽ Sư đặc biệt chú trọng đến việc thực hành Du-già. Danh từ Duy thức (s: vijñāptimātratā) hoặc Thức học (s: vijñānavāda) thường được Thế Thân (s: vasubandhu) sử dụng.
Du-già sư 瑜伽師; S: yogi, yogin, sādhaka, tantrika; hoặc Du-già tăng;|Chỉ người tu tập Du-già (s: yoga), đặc biệt là những người tu tập theo các Tan-tra, danh từ dùng cho nữ giới là Du-già ni (s: yoginī).|Thật sự thì không có sự khác biệt nào giữa một Du-già sư và một Tỉ-khâu về mặt tu tập thực hiện thiền định, nhưng danh từ Du-già sư thường được dùng để chỉ những người tu tập »tự do« hơn, không Thụ giới tỉ-khâu và cũng không sống cố định trong một Tinh xá.
Du-già sư địa luận 瑜伽師地論; S: yogācārabhūmi-śāstra;|Tác phẩm cơ bản của Duy thức và Pháp tướng tông, tương truyền do Vô Trước (s: asaṅga) viết theo lời giáo hoá của Bồ Tát Di-lặc (s: maitreya), đức Phật tương lai. Có người cho rằng tác phẩm này của Mai-tre-ya-na-tha (s: maitreyanātha), một ứng thân của Di-lặc trong thế kỉ thứ 5. Ðây là một bộ luận tầm cỡ nhất của đạo Phật, trình bày toàn bộ giáo lí của Duy thức tông.|Ngày nay nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) chỉ còn một phần, nhưng toàn bộ bằng chữ Hán và chữ Tây Tạng vẫn còn được lưu giữ. Nổi danh nhất là bản dịch của Huyền Trang, bao gồm 100 quyển.|Tác phẩm này được viết bằng văn vần và chia làm 5 phần: 1. Bản địa phần (s: yogācarābhūmi): bao gồm 17 »địa«, tức là những cảnh giới thiền quán Du-già cấp bậc tu tập của một Bồ Tát (xem Thập địa) để tiến đến giác ngộ, là phần chính của luận; 2. Nhiếp quyết trạch phần (s: nirṇayasaṃgrahavini-ścayasaṃgrahaṇī): luận giải sâu xa về các địa; 3. Nhiếp thích phần (s: vivaraṇasaṃgraha), giải thích các bộ kinh làm căn bản cho luận này; 4. Nhiếp dị môn phần (s: paryāyasaṃgraha), giải thích sự sai biệt về danh nghĩa của các pháp được nêu trong các kinh đó; 5. Nhiếp sự phần (s: vastusaṃgraha), luận giải về Tam tạng.
Ðu-khan-đi S: dukhaṅdi hoặc dokhaṅdi, debanta, dhosanti, dvakanti, khaṅdipa; »Người nhặt vải rách«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không biết đệ tử của ai và sống trong thời nào. |Ông là người ăn xin, chuyên lượm giẻ rách để may áo. Ngày nọ có vị Du-già sư thương hại ông, dạy cho phép thiền định, nhưng không sao ông tập trung được, vì đầu óc lúc nào cũng nghĩ đến chuyện may vá. Vị Du-già sư dạy ông quán Không vô biên xứ, nói rằng trong Thật tại không có may lẫn vá. Nhờ thế mà ông tập trung quán tưởng và sau 12 năm, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Hợp nhất được sinh diệt,|với Thật tại cuối cùng,|Trong Thiền Ðại thủ ấn,|đạt được giới thanh tịnh|rốt ráo Ba thân Phật.
Dự lưu 預流; S: śrotāpanna; P: sotāpanna; dịch theo âm Hán Việt là Tu-đà-hoàn;|Chỉ một người mới nhập dòng, đạt quả thứ nhất của Thánh đạo (ārya-mārga), trước đó là một bậc Tuỳ tín hành (s: śraddhānusārin) hay bậc Tuỳ pháp hành (s: dharmānusārin). Bậc dự lưu là người đã giải thoát ba Trói buộc đầu tiên là ngã kiến, nghi ngờ và giới cấm thủ (bám vào quy luật), nhưng vẫn còn Ô nhiễm (s: kleśa) dính mắc. Bậc dự lưu sẽ tái sinh nhiều nhất là bảy lần, sau đó đạt giải thoát; nếu thoát được Ái dục (s: kāma-tṛṣṇā) và sân hận thì chỉ cần tái sinh hai hay ba lần nữa.
Dục 欲; C: yù; J: yoku;|1. Mong muốn, ao ước, mong mỏi; 2. Lòng tham muốn, sự thèm khát, sự đam mê. Thèm muốn. [Phật học] 1. Thường có nghĩa là »khát ái, ái dục, tham dục, ái trước« (s: tṛṣṇā, raga); 2. Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, đó là một tâm sở pháp: mong cầu ái dục, khát ái, mong muốn những đối tượng thoả mãn ái dục (s: chanda, āśaya); 3. Theo giáo lí Du-già hành tông, đó là tâm sở pháp mong mỏi đón nhận những cảm thụ mà nó thích. Thuộc nhóm Biệt cảnh, là một trong 5 nhóm thuộc Tâm bất tương ưng hành pháp; 4. Cõi Dục; 5. Tham muốn tình dục giữa nam và nữ.|Theo đạo Phật, dục là một trong những chướng ngại lớn nhất của sự tu học. Người ta phân biệt năm thứ dục dựa trên năm giác quan: sự tham ái về sắc, về thanh âm, về hương, về mùi vị, về thân thể. Dục là một trong Ba độc (Ái, tham, ham muốn), Năm chướng ngại (s: nīvaraṇa) và một trong những Ô nhiễm (s: āśrava).
Dục 欲 (慾); S, P: kāma;
Dục bạo lưu 欲暴流; C: yùbàoliú; J: yokubōru;|Dòng chảy mãnh liệt của ái dục (s: kāma-ogha), đặc biệt theo hướng 5 trần cảnh. Là một trong Tứ bạo lưu. Tương đương nghĩa Dục lậu (欲漏).
Dục cầu 欲求; C: yùqiú; J: yokugu;|Ái dục, khát ái, khát khao ái dục. Tâm tham muốn mọi vật trong dục giới.
Dục giới 欲界; C: yùjiè; J: yokukai; S, P: kāmaloka, kāmadhātu;|Cõi Dục (s: kāma-dhātu). 1. Một trong 3 cõi Hữu, trong đó tâm thức con người là chủ thể của sự tham muốn thực phẩm, tình dục và ngủ nghỉ; 2. Trạng thái khát ái của tâm thức. Ba thế giới.
Ðức Huệ 德慧; S: guṇamati;|Một Ðại luận sư của Duy thức học (s: yo-gācāra, vijñānavāda), thầy của An Huệ (s: sthiramati).
Dục lậu 欲漏; C: yùlòu; J: yokuro; S: kāmāsrava; P: kāmāsava. |Phiền não hay »lậu« trong cõi Dục. Phiền não do mê chấp vào đối tượng ái dục. Là một trong Tam lậu (三漏).
Ðức Sơn Tuyên Giám 德山宣鑒; C: déshān xuānjiàn; J: tokusan sen-kan; 782-865;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những Thiền sư lỗi lạc nhất đời Ðường. Sư có 9 môn đệ được Ấn khả, trong đó hai vị Nham Ðầu Toàn Hoát và Tuyết Phong Nghĩa Tồn đứng hàng đầu. Sư nối pháp Long Ðàm Sùng Tín, thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư và Thạch Ðầu Hi Thiên. Nhân duyên ngộ đạo của Sư là một trong những câu chuyện thường được nhắc lại nhất trong giới Thiền. Sư nổi danh về việc sử dụng cây gậy để giáo hoá (đập) thiền sinh, từ đó mà sinh ra danh từ Bổng hát, chỉ cây gậy (bổng) ngang dọc của Sư và tiếng hét (Hát) vọng vang của Lâm Tế. |Những lời dạy của Sư rất lạ lùng, khó hiểu, chỉ có bậc thượng căn mới có thể hội đôi phần. Những câu nói của Sư, nghe phớt qua người thường có thể gọi là »mắng Phật mạ Tổ« nhưng nếu thấu hiểu thì cao siêu vô cùng. Sư không muốn đi quanh co, rườm rà mà nhiệt tình hướng dẫn môn đệ mau chóng ngộ được chân lí Bất nhị, nơi mọi ngôn từ trở thành vô dụng. Cũng từ tâm hồn cao siêu nhiệt tình của Sư mà xuất phát từ dòng Thiền này một Tuyết Phong Nghĩa Tồn, một Vân Môn Văn Yển, một Pháp Nhãn Văn Ích và vô số những ngôi sao sáng trong Thiền tông sau này.|Sư họ Chu, quê ở Kiến Nam, Giản Châu, xuất gia lúc 20 tuổi. Sư thông Luật tạng và các kinh, luận. Vì thường giảng Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh nên thời nhân gọi Sư là Chu Kim Cương. Nghe Nam phương Thiền tông thịnh hành Sư bất bình nói: »Kẻ xuất gia muôn kiếp học uy nghi của Phật, vạn kiếp học tế hạnh của Phật. Những kẻ ma ở phương Nam dám nói ›Trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật.‹ Ta phải ruồng tận hang ổ của chúng, diệt hết đống ma quái để đền ân Phật.« Sư bèn khăn gói lên đường, mang theo bộ Thanh Long sớ sao tới Lễ Châu. Trên đường, Sư gặp một người đàn bà bán bánh rán, bảo bà lấy ít bánh ăn điểm tâm. Bà chỉ gánh của Sư hỏi: »Gói này là gì.« Sư trả lời: »Thanh Long sớ sao.« Bà nói: »Tôi có một câu hỏi, nếu thầy đáp được, tôi xin cúng dường bánh điểm tâm. Bằng đáp không được, mời thầy đi nơi khác.« Sư ưng chịu, bà liền hỏi: »Trong kinh Kim cương có nói ›Tâm quá khứ bất khả đắc, tâm vị lai bất khả đắc, tâm hiện tại bất khả đắc.‹ Vậy thầy muốn điểm tâm nào?« Sư lặng thinh, không đáp được. Người đàn bà liền chỉ Sư đến tham vấn Thiền sư Long Ðàm Sùng Tín.|Vừa tới cửa Long Ðàm, Sư liền nói: »Nghe danh Long Ðàm đã lâu, nay đến đây, đầm (潭; Ðàm) cũng chẳng thấy, rồng (龍; Long) cũng chẳng hiện.« Long Ðàm bước ra, nói: »Ngươi đã tới Long Ðàm rồi.« Sư không đáp được, liền dừng lại đây. Một đêm, Sư đứng hầu. Long Ðàm bảo: »Ðêm khuya sao chẳng xuống?« Sư kính chào bước ra, lại trở vào thưa: »Bên ngoài tối đen.« Long Ðàm thắp đèn đưa Sư. Sư toan tiếp lấy, Long Ðàm liền thổi tắt. Sư bỗng nhiên đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ, quì xuống lễ bái. Long Ðàm hỏi: »Ngươi thấy gì?« Sư thưa: »Từ nay về sau chẳng còn nghi lời nói chư Hoà thượng trong thiên hạ.« Hôm sau Long Ðàm thượng đường bảo chúng: »Trong chúng đây có một gã răng như kiếm bén, miệng tợ chậu máu, đánh một gậy chẳng ngó lại, khi khác y lên ngọn núi cao vút dựng lập đạo của ta.« Sư đem bộ sớ sao ra chất đống nổi lửa đốt và nói: »Tột cùng các biện luận siêu huyền như một sợi lông ném trong hư không; hết sạch các trọng yếu trong đời như một giọt nước rơi vào hồ lớn.« Sư lễ từ Long Ðàm du phương.|Ðến Quy Sơn Linh Hựu, Sư vào pháp đường từ phía Tây đi qua phía Ðông, lại từ Ðông sang Tây, hỏi: »Có chăng? Có chăng?« Quy Sơn ngồi lặng im không ngó tới. Sư nói: »Không, không.« liền đi thẳng ra cửa tự nói: »Tuy nhiên như thế cũng chẳng đặng thô xuất.« Sư bèn đầy đủ uy nghi đi trở vào. Vừa bước qua cửa, Sư đưa toạ cụ lên gọi: »Hoà thượng!« Quy Sơn toan nắm Phất tử, Sư liền hét, phủi áo ra đi. Quy Sơn sau nói: »Gã ấy về sau lên tận ngọn núi cao, cất am cỏ ở, để rồi quở Phật mắng Tổ.«|Sư dạy chúng: »Nơi mình vô sự thì chớ vọng cầu, vọng cầu mà được thì chẳng phải được. Các ông chỉ vô sự nơi tâm, vô tâm nơi sự thì hư mà linh, không mà diệu. Nếu có nói gốc ngọn chừng đầu mảy lông đều là tự dối. Còn có mảy may nghĩ nhớ là nghiệp nhân tam đồ. Bất chợt sinh tình (vọng khởi) là muôn kiếp bị khóa kín. Danh thánh hiệu phàm trọn là tiếng rỗng, tướng đặc biệt hình xấu xa đều là sắc huyễn. Các ông muốn cầu đó mà không bị luỵ sao? Và các ông chán đó, lại thành bệnh lớn. Cả hai đều vô ích…|Nhân giả! nói tu hành như thế, các ông đâu chẳng nghe nói Lão Hồ (ông già Ấn Ðộ, chỉ Phật) trải ba A-tăng-kì kiếp tu hành mà nay còn đâu? Sau 80 năm chết mất, cùng các ông có khác gì?…|Các ông chớ cuồng! Khuyên các ông không gì hơn thôi hết đi, vô sự đi. Tâm vừa khởi một niệm tức là quyến thuộc nhà ma, là kẻ tục phá giới.«|Sư có bệnh, tăng hỏi: »Lại có cái chẳng bệnh chăng?« Sư đáp: »Có.« Tăng hỏi: »Thế nào là cái chẳng bệnh?« Sư bảo: »Ôi da! Ôi da!« Sư lại bảo chúng: »Chụp không tìm tiếng luống nhọc tâm thần các ngươi. Mộng tỉnh, tỉnh rồi trọn không có việc gì.« Nói xong Sư ngồi yên lặng viên tịch, nhằm đời Ðường, niên hiệu Hàm Thông năm thứ sáu, ngày mùng ba tháng chạp năm Ất Dậu. Vua sắc phong Kiến Tính Ðại sư.
Dục thủ 欲取; C: yùqŭ; J: yokushu;|Dính mắc vào ái dục, đặc biệt là 5 trần cảnh (s: kāmopādāna). Một trong Tứ thủ (四取).
Duệ trí 叡智; C: ruìzhì; J: eichi; |Trí huệ, nhìn xa trông rộng, thông minh.
Dũng kiện 勇健; C: yǒngjiàn; J: yōken;|Có các nghĩa sau: 1. Kiên cố, hùng mạnh (s: ṛddha); 2. Tiếng Hán dịch chữ Yakṣa (Dạ-xoa 夜叉) từ tiếng Phạn; 3. Tên của một vị Tăng Nhật Bản.
Dũng phục định 勇伏定; C: yǒngfúdìng; J: yōfukujō;|Tiếng Hán dịch nghĩa từ chữ Śūrāṃgama-samādhi. Thủ-lăng-nghiêm tam-muội (首楞嚴三昧).
Dũng Thí 勇施; C: yǒngshī; J: yōse;|Có hai nghĩa: 1. Tên của một vị Bồ Tát (theo kinh Pháp Hoa); 2. Tên của một vị tăng được đề cập trong kinh Tịnh nghiệp chướng (淨業障經). Vị tăng này yêu cô con gái của một nhà giàu. Khi chồng cô ta nghi ngờ muốn giết vị tăng, thì vị tăng giết ông ta trước. Tâm hối hận vì nghiệp ác nầy đã khiến vị tăng nỗ lực tu tập, đạt được Vô sinh pháp nhẫn (無生法忍).
Dược Sơn Duy Nghiễm 藥山惟儼; C: yàoshān wéiyǎn; J: yakusan igen; 745-828 hoặc 750-834;|Thiền sư Trung Quốc. Môn đệ xuất sắc của Thạch Ðầu Hi Thiên và Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư. Nối pháp của Sư có nhiều người, trong đó Ðạo Ngô Viên Trí, Vân Nham Ðàm Thạnh và Thuyền Tử Ðức Thành (Hoa Ðình Thuyền Tử) là ba vị được sử sách nhắc đến nhiều nhất.|Sư họ Hán, người ở Ráng Châu, Sơn Tây, xuất gia năm 17 tuổi. Sư học thông kinh luận, nghiêm trì giới luật nhưng vẫn không nắm được yếu chỉ, tự than rằng: »Bậc đại trượng phu nên xa lìa các pháp để giữ mình trong sạch, nào ai có thể tỉ mỉ làm những việc nhỏ.«|Sư đến tham vấn Thạch Ðầu Hi Thiên và hỏi: »Ba thừa mười hai phần giáo con còn hiểu sơ, đến như thường nghe phương Nam nói ›chỉ thẳng tâm người, thấy tính thành Phật‹ thật con mù tịt. Cúi mong Hoà thượng từ bi chỉ dạy.« Thạch Ðầu bảo: »Thế ấy cũng chẳng được, không thế ấy cũng chẳng được, thế ấy không thế ấy đều chẳng được, ngươi làm sao.« Sư mờ mịt không hiểu, Thạch Ðầu liền bảo: »Nhân duyên của ngươi không phải ở đây, hãy đến Mã Ðại sư.«|Sư đến Mã Tổ thưa lại câu đã trình với Thạch Ðầu. Mã Tổ bèn nói: »Ta có khi dạy y nhướng mày chớp mắt, có khi không dạy y nhướng mày chớp mắt. Có khi nhướng mày chớp mắt là phải, có khi nhướng mày chớp mắt là không phải, ngươi làm sao?« Ngay câu này Sư đạt yếu chỉ, bèn lễ bái. Mã Tổ hỏi: »Ngươi thấy đạo lí gì lễ bái?« Sư thưa: »Con ở chỗ Thạch Ðầu như con muỗi đậu trên trâu sắt.« Mã Tổ bảo: »Ngươi đã biết như thế, phải khéo gìn giữ.« Sau khi hầu Mã Tổ ba năm, Sư trở về Thạch Ðầu và được truyền Tâm ấn nơi đây.|Rời Thạch Ðầu, Sư đến Dược Sơn Lễ Châu, môn đệ theo học rất đông. Một hôm có vị tăng hỏi: »Tổ sư chưa đến nước này, nước này có ý Tổ sư chăng?« Sư đáp: »Có.« Tăng lại hỏi: »Ðã có ý Tổ sư, lại đến làm gì?« Sư lại đáp: »Bởi có, cho nên đến.«|Ðời Ðường niên hiệu Thái Hoà, năm thứ tám, tháng hai, sắp thị tịch, Sư kêu to: »Pháp đường ngã! Pháp đường ngã!« Ðại chúng đều mang cột đến chống, Sư liền khoát tay bảo: »Các ngươi không hiểu ý ta.« Nói rồi Sư từ giã chúng thị tịch, thọ 84 tuổi, 60 tuổi hạ. Vua sắc phong là Hoằng Ðạo Ðại sư.
Dược Sư Lưu Li Quang Phật 藥師琉璃光佛; S: bhaiṣajyaguruvaidūrya-prabha-buddha; |Dược Sư Phật
Dược Sư Phật 藥師佛; S: bhaiṣajyaguru-buddha; J: yakushi; gọi đầy đủ là Dược Sư Lưu Li Quang Phật (s: bhaiṣajyaguruvaidūrya-prabha-buddha);|Vị Phật đại diện cho sự trọn vẹn của Phật quả. Ngài ngự cõi phía đông (Tịnh độ), tranh tượng hay vẽ tay trái Ngài cầm thuốc chữa bệnh, tay mặt giữ Ấn thí nguyện.|Phật Dược Sư thường được thờ chung với Phật Thích-ca Mâu-ni và A-di-đà, trong đó Ngài đứng bên trái còn Phật A-di-đà đứng bên mặt đức Thích-ca. Trong kinh Dược Sư – hiện nay chỉ còn bản chữ Hán và chữ Tây Tạng – người ta đọc thấy 12 lời nguyện của Ngài, thệ cứu độ chúng sinh, với sự giúp đỡ của chư Phật, Bồ Tát và 12 vị Hộ Pháp và Thiên vương.||H 22: Dược Sư Phật. Trong các tranh tượng, Ngài luôn luôn được trình bày với những cây cỏ có vị thuốc (dược thảo). Trong hình này, tay phải Ngài bắt ấn thí nguyện (cho phép, s: varada-mudrā) và cầm một nhánh cây Myrobalan (s: harītakī, tên khoa học là terminalia bellerica, người Việt gọi là cây Bàng biển. Cây này cho hạt màu xám nhung với tinh dầu có tác dụng nhuận trường). Tay trái của Ngài cầm bình bát, cũng có lúc cầm một hộp linh dược.|Tại Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản và Việt Nam, Phật Dược Sư được thờ cúng rộng rãi. Các lời nguyện của Phật Dược Sư: 1. Phát hào quang chiếu sáng mọi chúng sinh; 2. Cho chúng sinh biết đến Nhất thiết trí của mình; 3. Cho chúng sinh thực hiện được ước nguyện; 4. Hướng dẫn chúng sinh đi trên đường Ðại thừa; 5. Giúp chúng sinh giữ giới hạnh; 6. Giúp chúng sinh chữa lành các thứ bệnh do sáu giác quan sinh ra; 7. Chữa bệnh thuộc về thân tâm cho mọi chúng sinh; 8. Cho phụ nữ tái sinh trở thành nam giới; 9. Tránh cho chúng sinh khỏi rơi vào tà kiến và giúp trở về chính đạo; 10. Tránh cho chúng sinh khỏi tái sinh trong thời mạt kiếp; 11. Ðem thức ăn cho người đói khát; 12. Ðem áo quần cho người rét mướt.
Dược thạch 藥石; J: yakuseki; sau cũng được gọi là Dược thực (藥食);|Danh từ được dùng chỉ bữa ăn cuối cùng trong một thiền viện, thường là buổi chiều. Tên dược thạch được dùng vì theo luật xưa, bữa ăn cuối cùng là buổi trưa và các vị Tỉ-khâu thường lấy một viên đá được hô nóng dằn lên bụng để bụng đói ban chiều khỏi sôi. Sau này, viên đá được thay bằng những thức ăn còn lại của buổi trưa và vì vậy bữa ăn này được gọi là dược thạch.
Đường 堂; C: táng; J: dō;|Có các nghĩa sau: 1. Đại sảnh, phòng tiếp khách, phòng họp; 2. Phòng khánh tiết, toá án; 3. Đáng tôn kính, trang nghiêm; 4. Một nơi thoáng rộng trên đồi; 5. Sự phồn thịnh, xuất sắc.
Đường đại Tiến Phúc tự cố tự chủ phiên kinh Đại đức Pháp Tạng Hoà thượng truyện. 唐大薦福寺故寺主翻經大徳法藏和尚傳; C: táng dàjiànfúsì gùsìzhŭ fānjīng dàdé fă-zàng héshàng zhuàn; J: tō daisenfukuji kojishu honkyō daitoku hōzō ōshō den; |1 quyển, của Thôi Trí Viễn (崔致遠, k: ch'oe chiwŏn).
Dương Kì phái 楊岐派; C: yángqí-pài; J: yōgi-ha;|Một nhánh của Thiền tông, xuất phát từ Thiền sư Dương Kì Phương Hội. Phái này được xếp vào Ngũ gia thất tông và là nhánh quan trọng hơn của hai nhánh được phân ra sau Thiền sư Thạch Sương Sở Viên. Nhánh thứ hai là Hoàng Long phái. Rất nhiều vị Thiền sư danh tiếng xuất phát từ phái này như Vô Môn Huệ Khai, Viên Ngộ Khắc Cần… Tại Nhật, phái này vẫn tồn tại đến ngày nay.|Khi Thiền tông đang trên đường tàn lụi cuối đới Tống thì phái Dương Kì trở thành nơi thu thập của tất cả những hệ phái khác thuộc tông này. Sau khi hoà hợp với Tịnh độ tông (Thiền Tịnh hợp nhất) trong đời Minh thì Thiền tông hiểu theo dạng gốc là »Dĩ tâm truyền tâm« không còn tồn tại tại Trung Quốc.
Dương Kì Phương Hội 楊岐方會; C: yángqí fānghuì; J: yōgi hōe; 992-1049;|Thiền sư Trung Quốc, Khai Tổ hệ phái Dương Kì trong tông Lâm Tế. Sư là pháp tự của Thiền sư Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh). Môn đệ của Sư có Bạch Vân Thủ Ðoan xuất sắc nhất.|Sư họ Lĩnh quê ở Nghi Xuân Viên Châu. Thuở nhỏ tính tình nhậm lẹ, nói năng vui vẻ lí thú. Có dịp, Sư đến Cửu Phong chợt nhớ như chỗ đã từng ở, quyến luyến không thể bỏ đi và xin cạo tóc xuất gia. Sư xem kinh nghe pháp tâm mở sáng tinh thần lĩnh hội. |Sư đến tham học với Thiền sư Từ Minh. Sau một thời gian lâu, tâm Sư vẫn mù mịt. Mỗi khi đến hỏi, Từ Minh bảo: »Việc quá nhiều, hãy đi.« Lần khác Sư hỏi, Từ Minh lại đáp: »Giám tự (chức của Sư) ngày sau con cháu khắp thiên hạ, cần gì vội gấp.« Một hôm Sư rình ở con đường tắt. Từ Minh đến, Sư liền nắm lại nói: »Ông già này hôm nay phải vì tôi nói, nếu không tôi phải đánh ông.« Từ Minh trả lời: »Giám Tự biết là việc quanh co liền thôi.« Nghe câu này Sư Ðại ngộ, liền quì lạy ngay dưới bùn.|Từ Minh thượng đường, Sư bước ra hỏi: »‹Khi chim núp kêu nẩm nẩm, mây từ vào núi loạn‹, là thế nào?« Từ Minh đáp: »Ta đi trong cỏ hoang, ngươi lại vào thôn sâu.« Sư thưa: »Quan chẳng nhận kim, lại mượn một câu hỏi.« Từ Minh liền hét. Sư thưa: »Hét hay.« Từ Minh lại hét. Sư cũng hét. Từ Minh hét luôn hai tiếng, Sư lễ bái. Từ Minh nói: »Việc này là cá nhân mới hay gánh vác.« Sư phủi áo ra đi.|Sau đó Sư trở về Cửu Phong. Tăng tục lại thỉnh về trụ trì tại núi Dương Kì.|Sư hỏi một vị tăng mới đến: »Mây dày đường hẹp xe to từ đâu đến?« Tăng thưa: »Trời không bốn vách.« Sư hỏi tiếp: »Ði rách bao nhiêu đôi giày cỏ?« Tăng liền hét. Sư bảo: »Một hét hai hét sau lại làm gì?« Tăng thưa: »Xem ông Hoà thượng già vội vàng.« Sư bảo: »Cây gậy không có ở đây, thôi ngồi uống trà.«|Sư lại hỏi hai vị tăng mới đến: »Lá rụng mây dồn sớm rời nơi nào?« Tăng thưa: »Quan Âm.« Sư hỏi: »Dưới chân Quan Âm một câu làm sao nói?« Tăng thưa: »Vừa đến thấy nhau xong.« Sư hỏi: »Việc thấy nhau là thế nào?« Tăng không đáp được. Sư bảo: »Thượng toạ thứ hai đáp thế Thượng toạ thứ nhất xem!« Vị tăng thứ hai cũng không đáp được. Sư bảo: »Cả hai đều độn hết.«|Niên hiệu Khánh Lịch năm thứ sáu (1046), Sư dời đến núi Vân Cái Ðàm Châu và đem Lâm Tế chính mạch truyền cho sư Bạch Vân Thủ Ðoan. Ðến niên hiệu Hoàng Hựu cải nguyên Sư thị tịch, thọ 57 tuổi.
Duy-ma-cật 維摩詰; S: vimalakīrti; tên gọi đầy đủ là Duy-ma-la-cật, dịch nghĩa là Vô Cấu Xứng (無垢稱; cựu dịch là Tịnh Danh; 淨名);|Nhân vật chính trong Duy-ma-cật sở thuyết kinh.
Duy-ma-cật sở thuyết kinh 維摩詰所說經; S: vimalakīrtinirdeśa-sūtra; thường được gọi tắt là Duy-ma-cật kinh hoặc Duy-ma kinh.|Một tác phẩm quan trọng của Ðại thừa, có ảnh hưởng lớn đến nền Phật giáo tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật Bản.|Kinh này xuất hiện khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Ngày nay người ta không còn nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) mà chỉ còn bản chữ Hán và Tạng. Có nhiều bản dịch mà trong đó ba bản thường được nhắc đến nhiều nhất: 1. Phật thuyết Duy-ma-cật kinh (佛說維摩詰經) của Chi Khiêm thời Tam quốc dịch (223-253), 2 quyển; 2. Duy-ma-cật sở thuyết kinh, bản dịch quan trọng nhất ra chữ Hán của Cưu-ma-la-thập (406), 3 quyển; 3. Thuyết Vô Cấu Xứng kinh (說無垢稱經) của Huyền Trang (650), 6 quyển. Ngoài ra còn có bản Tạng ngữ dưới tên ḥphas-pa dri-ma-med-par-grags-pas bstan-pa shes-bya-ba theg-pa chen-poḥi mdo, dịch trở ngược sang Phạn ngữ là ārya-vimalakīrti-nirdeśa-nāma-mahāyāna-sūtra, có thể dịch là Ðại thừa thánh vô cấu xứng sở thuyết kinh. Bản này được xem là giống nguyên bản Phạn ngữ thất truyền nhất.|Kinh này mang tên của Duy-ma-cật (s: vima-lakīrti), một Cư sĩ giàu có, sống cuộc đời thế tục nhưng vẫn đi trên con đường Bồ Tát. Nhờ kinh này mà người ta có thể xem cư sĩ và tăng sĩ có một mục đích như nhau trên đường tiến đến giác ngộ. Quan niệm trọng yếu của kinh này là tính Không (s: śūnyatā) của tất cả các pháp. Trong tính Không này thì cả Hữu lẫn Vô đều được hợp nhất. Bất nhị (不二) là nền tảng của giáo lí trong kinh này thế nhưng – Bất nhị rất khó diễn bày. Ba mươi hai vị Bồ Tát (phẩm thứ 9) đều không trình bày nổi. Ngay cả Văn-thù Sư-lị (s: mañjuśrī) – hiện thân của trí huệ siêu việt – cũng không giải thích nổi bởi vì ngôn ngữ không thể diễn bày Pháp môn bất nhị này. Chỉ có Duy-ma-cật giải bày bằng sự im lặng – một sự im lặng sấm sét (默如雷; mặc như lôi). Im lặng ở đây không phải là không hiểu, không diễn bày mà chính là ngôn ngữ tuyệt đỉnh, ngôn ngữ duy nhất có thể trình bày cái Bất khả tư nghị. Hành động của các Thánh nhân đền xuất phát từ pháp môn bất nhị này.|Kinh này minh hoạ cách sống của người Phật tử để nhắm đến giải thoát và cách áp dụng tri kiến về tính không trong cuộc sống hàng ngày, rất được hâm mộ trong Thiền tông.|Khung cảnh của kinh này thuật lại chuyện của Duy-ma-cật, một trưởng giả giàu có đang mắc bệnh tại nhà. Bệnh của ông được hiểu như một thiện xảo Phương tiện (善巧方便; s: upāyakauśalya) để dạy người. Phật cử nhiều đại đệ tử đi đến nhà ông hỏi thăm nhưng tất cả đều cáo từ. Cách hiểu sai lầm của họ về giáo lí đã được Duy-ma-cật chỉnh lại và vì thế họ hỗ thẹn, không dám thay mặt Phật đến hỏi thăm. Giáo lí của kinh này được trình bày rõ nhất trong phẩm thứ ba. Bài dạy cho Xá-lị-phất ngay đầu phẩm đã đưa ngay lập trường của Thiền Ðại thừa, đặc biệt là Thiền như Thiền tông chủ trương. Trong kinh, Tôn giả Xá-lị-phất thưa với Phật: |»Bạch đức Thế tôn, con không đủ sức thăm bệnh trưởng giả ấy. Tại sao? Vì con nhớ ngày trước con ngồi yên trong rừng, dưới gốc cây. Khi ấy trưởng giả Duy-ma-cật đến thưa rằng: ›Dạ, kính bạch Tôn giả Xá-lị-phất, bất tất ngồi như vầy mới là ngồi yên. Ngồi yên là ở trong ba cõi (Ba thế giới) mà vẫn không hiện hành thân ý mới là ngồi yên, không xuất Diệt tận định mà vẫn hiện hành những cử động khuôn phép mới là ngồi yên, không bỏ Phật pháp mà vẫn hiện hành mọi sự của người thường mới là ngồi yên, tâm không hướng nội cũng không hướng ngoại mới là ngồi yên, không động mọi thứ kiến chấp mà vẫn tu hành ba mươi bảy giác phần (Bồ-đề phần) mới là ngồi yên, không dứt phiền não mà vẫn vẫn nhập Niết-bàn mới là ngồi yên. Ngồi được như vậy thì Phật Ấn khả…« (bản dịch của Thích Trí Quang).|Trong phẩm thứ năm, khi được Văn-thù hỏi thăm vì sao bệnh và thế nào thì hết được, Duy-ma-cật nhân đây giảng rõ về đạo hạnh của một vị Bồ Tát cho tất cả cùng nghe: »Từ Si mà có Ái nên bệnh tôi sinh ra. Chúng sinh bệnh nên tôi bệnh. Chúng sinh hết bệnh thì bệnh tôi cũng hết. Tại sao? Bởi vì Bồ Tát vì chúng sinh mà vào sinh tử, có sinh tử là có bệnh. Nếu chúng sinh hết bệnh thì Bồ Tát không còn bệnh nữa. Như vị trưởng giả chỉ có đứa con một, đứa con bệnh thì cha mẹ bệnh theo, đứa con lành thì cha mẹ cũng lành. Bồ Tát cũng vậy, thương chúng sinh như con nên chúng sinh bệnh thì Bồ Tát bệnh, chúng sinh lành thì Bồ Tát lành. Ngài hỏi bệnh tôi do đâu thì thưa Ngài, bệnh Bồ Tát là do đại bi mà có.‹«|Kinh này được Phật tử tại Ðông, Ðông nam Á rất ưa chuộng và tụng đọc. Rất nhiều bài luận chú được viết về kinh này và nổi tiếng nhất là: Chú Duy-ma (注維摩) của Tăng Triệu, 10 quyển; Duy-ma kinh huyền sớ (維摩經玄疏) của Trí Khải, 6 quyển; Duy-ma kinh nghĩa sớ (維摩經義疏) của Cát Tạng.|Tại Nhật, Thánh Ðức Thái tử (聖德太子; j: shōtoku taishi, 574-662) đã viết một bài luận quan trọng về kinh này dưới tên Duy-ma kinh nghĩa sớ (維摩經義疏). Ông dùng bản dịch của Cưu-ma-la-thập và có lẽ vì vậy, bản dịch này được sử dụng nhiều hơn hết mặc dù bản chính xác nhất là của Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang.
Duy Nghiễm 惟儼|Dược Sơn Duy Nghiễm
Duy Phật dữ Phật 唯佛與佛; C: wéifóyŭfó; J: yuibutsuyobutsu;|Không ai ngoài chư Phật. Cảnh giới giác ngộ tối hậu theo giáo lí Đại thừa, chỉ có chư Phật mới chứng biết được. Hàng Tiểu thừa và phàm phu không thể nào biết đến cảnh giới nầy được.
Duy tâm 唯心; S: cittamātra; T: sems tsam; |Duy thức
Duy tâm quyết 唯心訣; C: wéixīn jué; J: yuishin ketsu; |Vĩnh Minh Trí giác Thiền sư duy tâm quyết (永明智覺禪師唯心訣).
Duy thức 唯識; C: wéishì; J: yuishiki; S: vijñāptimātratā; E: mind only; đồng nghĩa với danh từ Duy tâm (唯心; s: cittamātra);|Nghĩa là chỉ có thức, các pháp đều từ Thức mà sinh ra, không có gì nằm ngoài thức; danh từ này đồng nghĩa với Duy tâm (cittamātra, cittamātratā). Giáo lí chủ trương tất cả mọi sự hiện hữu đều do tâm, và do vậy, không một hiện tượng nào tồn tại ngoài tâm. Duy thức là một tư tưởng chủ đạo của Du-già hành phái (瑜伽行派, s: yogācāra). Các học giả Duy thức giải thích quy luật và sự liên kết của các giác quan nhờ vào thức ẩn tàng A-lại-da (阿頼耶識, s: ālaya-vijñāna) và từ tập hợp của năm giác quan trước (tiền ngũ thức). Chúng hoạt động, tạo nên chủng tử (種子) tương ưng với chúng, theo quy luật thông thường như hạt giống phát triển thành cây. Mỗi chúng sinh đều có chỗ chứa những cảm nhận và những chúng sinh giống nhau sẽ tạo ra những nghiệp thức giống nhau phát xuất từ tàng thức vào cùng một thời gian như nhau. Giáo lí Duy thức quy gọn các hiện tượng trong 100 pháp (法; s: dharma) thành 5 nhóm: sắc pháp, tâm pháp, tâm sở pháp, tâm bất tương ưng hành pháp và vô vi pháp. Theo tông Duy thức, thế giới bên ngoài sẽ tạo nên khi tàng thức huân tập bởi »chủng tử«, hay là kết quả của các việc làm tốt xấu trong quá khứ. Một đóng góp quan trọng khác của các nhà tư tưởng Duy thức là ba tính chất ảo, giả tạm, và hiện thực của các hiện tượng. Xem chi tiết ở Tam tính (三性).|Nền tảng của giáo lí Duy thức được phát triển bởi Di-lặc (彌勒) và hai anh em Thế Thân Vô Trước, trong những luận giải như Câu-xá luận (倶舎論, s: abhidharma-kośa-bhāṣya), Duy thức tam thập tụng (唯識三十頌, s: triṃśikā vijñaptimātratāsiddhiḥ), Nhiếp đại thừa luận (攝大乘論, s: mahāyā-nasaṃgraha), Du-già sư địa luận (瑜伽師地論, s: yogācārabhūmi-śāstra). Giáo lí Duy thức cũng được trình bày rõ trong kinh Giải thâm mật (s: saṃdhinirmocana-sūtra) và kinh Thắng Man (s: śrīmālā-sūtra). Nhiếp đại thừa luận ghi: »Các (đối tượng của) thức ấy đều do (ý) thức tạo nên vì vốn (ngoài tâm) không có cảnh trần nào cả. Chúng chỉ như mộng«. (如此衆識唯識以無塵等故譬如夢等).
Duy thức bách pháp 唯識百法; C: wéishì băifă; J: yuishikihyaku-hō;|Một trăm pháp chính do tông Duy thức đề xướng.
Duy thức luận 唯識論; C: wéishì lùn; J:;|1. Tên gọi tác phẩm của Bát-nhã Lưu-chi (般若流支) dịch Duy thức nhị thập luận của Thế Thân, 1 quyển, Duy thức nhị thập luận (唯識二十論); 2. Chỉ Thành Duy thức luận (成唯識論).
Duy thức ngũ trùng 唯識五重; C: wéishì wŭzhòng; J: yuishiki gojū;|Ngũ trùng Duy thức (五重唯識).
Duy thức nhị thập luận 唯識二十論; C: wéishì èrshí lùn; J:;|Của Thế Thân, Huyền Trang dịch năm 661. Cũng có bản dịch của Bát-nhã Lưu-chi (s: prajñāruci) với tên Duy thức luận (唯識論) và bản dịch của Chân Đế (s: paramārtha) với nhan đề Đại thừa Duy thức luận (大乘唯識論). Đây là một tác phẩm Duy thức quan trọng mang tính triết học nhất của Thế Thân, nhằm bác bỏ thuyết thực hữu của ngoại đạo và của các trường phái Tiền-Đại thừa. Hamilton đã dịch luận giải của Huyền Trang và luận giải (Thuật kí 述記) của Khuy Cơ. Những bản dịch khác không dựa vào tiếng Hán còn có bản của Anacker (1984) and Kochumuttom (1982).
Duy thức nhị thập luận thuật kí 唯識二十論述記; C: wéishì èrshílùn shùjì; J: yuishiki nijūron jukki;|Tác phẩm của Khuy Cơ, 2 quyển. Luận giải về Duy thức nhị thập luận (唯識二十論) của Huyền Trang.
Duy thức phái 唯識派; C: wéishìpài; J: yuishikiha;|Duy thức tông.
Duy thức tam thập luận 唯識三十論; C: wéishì sānshí lùn; J: yuishiki sanjū ron; |Của Thế Thân. Huyền Trang dịch năm 648 tại chùa Hoằng Phúc. Đây là văn bản gốc để viết luận giải Thành duy thức luận (成唯識論). Nhan đề bằng tiếng Hán được dịch sang tiếng Phạn là Triṃśikā-vijñaptimātra-śāstra. Đây là một tác phẩm căn bản của tông Duy thức vùng Đông nam á, vì nó khế hợp chính xác với hầu hết giáo lí cơ bản như sự trình bày về hữu vi pháp từ quan niệm a-lại-da thức, và giảng giải vọng tưởng được trừ diệt như thế nào khi giác ngộ. Lusthaus phiên dịch (2000). Các bản dịch khác có thể đọc qua tác phẩm của Anacker (1984) và Kochumuttom (1982).
Duy thức tam thập luận tụng 唯識三十論頌; C: wéishì sānshí lùnsòng; J: yuishiki sanjū ronshō; S: triṃśikā yijñapti-mātratāsiddhiḥ|1 quyển, Huyền Trang dịch. Là tác phẩm tiêu biểu của Thế Thân, luận giải quan trọng nhất để lập thành giáo lí của Du-già hành tông, từ đó những nguyên tắc quan trọng từ trước đến nay đã được giải thích bởi Di-lặc và Vô Trước được giải thích lại tinh tế theo lập trường của thức chuyển biến (識轉變; s: vijñāna-pariñāma) trong 30 bài kệ ngắn. Do Thế Thân viên tịch mà không trứ tác luận giải về các bài kệ nầy, hàng môn đệ học giả kế tục bận rộn với việc tranh luận với nhau về luận giải nầy đến mức làm phát sinh nhiều trường phái Duy thức. Trong số các luận giải nầy, tác phẩm của Hộ Pháp được xem là chính thống. Luận giải nầy cấu thành nội dung chính của Thành duy thức luận, được Huyền Trang dích sang tiếng Hán nhan đề Thành Duy thức luận (成唯識論), trở nên một bản văn chủ yếu lập thành Pháp tướng tông Trung Hoa.
Duy thức tam thập tụng 唯識三十頌; C: wéishì sānshí sòng; J: yuishiki sanjū shō;|Duy thức tam thập luận tụng (唯識三十論頌).
Duy thức tông 唯識宗; S: vijñaptimātravāda, yogācāra, citta-mātravāda;|Tên gọi tại Ðông, Ðông Nam Á của một trường phái Phật giáo. Tại Ấn Ðộ và Tây Tạng, tông này được gọi là Thức tông, Thức học (vijñānavāda), hoặc Du-già hành tông (s: yogācāra), tại Tây Tạng, người ta cũng gọi là Duy tâm tông (唯心宗; s: cittamā-trin). Ðây là một trong hai trường phái chính của Phật giáo Ðại thừa do hai Ðại sư Vô Trước (無著; s: asaṅga) và người em là Thế Thân (世親; s: vasubandhu) sáng lập. Tương truyền rằng, chính Ứng thân (Ba thân) Bồ Tát Di-lặc (彌勒; s: maitreya) khởi xướng trường phái này ở thế kỉ thứ 4 sau Công nguyên.|Quan điểm trung tâm của trường phái này là – như tên đã nói – tất cả mọi hiện tượng con người cảm nhận được đều là »duy thức« (vi-jñāptimātratā), chỉ là thức (tâm); mọi hiện tượng đều là cảm nhận của thức, không có đối tượng độc lập, ngoài thức đang cảm nhận thì không có gì có thật. Như thế, »thế giới« bên ngoài thuần tuý chỉ là thức vì khách quan không có thật và chủ quan cũng không có thật nốt. Sự cảm nhận chỉ là quá trình của một tưởng tượng, một ảnh ảo của một khách quan bị tưởng lầm là có thật. Quá trình này được giải thích bằng khái niệm A-lại-da thức (阿賴耶識; s: ālayavijñāna). Ngoài những quan điểm trên, khái niệm Ba thân Phật (三身; s: trikāya) cũng được Duy thức tông giải thích trọn vẹn. Ðại diện xuất sắc của Duy thức tông, ngoài các nhà sáng lập nói trên, là An Huệ (安慧; s: sthiramati), Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla) – hai luận sư đã tạo thêm hai nhánh khác nhau trong Duy thức tông – và Trần-na (陳那; s: dignā-ga), Pháp Xứng (法稱; s: dharmakīrti, xem Mười đại luận sư).|Tên Phạn ngữ (sanskrit) khác của Duy thức tông là Du-già hành tông (yogācāra), vì lí do là đệ tử phái này rất chú trọng việc hành trì Du-già (s: yoga), quán tưởng thiền định để phát huy hạnh nguyện của một Bồ Tát.|Thế giới bên ngoài được Duy thức tông giải thích như sau: A-lại-da thức, vốn chứa tất cả các chủng tử của quá khứ, mang sẵn những mầm, chủng tử (s: bīja) và các mầm đó sản sinh các hiện tượng tâm thức. Các chủng tử đó chín muồi theo tác động của Nghiệp (s: karma), chúng tác động qua lại lẫn nhau làm con người thấy một ảnh ảo mà cho nó là có thật. A-lại-da thức được so sánh với một dòng nước chảy, luôn luôn mới mẻ và liên tục, tiếp tục sinh hoạt động sau khi chết và sự liên tục của nó chính là cơ sở của sự tái sinh. Những cảm nhận của con người, vì bị »ô nhiễm« nên chúng sinh ra một ấn tượng về cái »ta«. Ấn tượng về cái »ta« là sai lầm, vì thật ra chỉ có »sự cảm nhận« chứ không có »người cảm nhận«. Và cũng vì vô minh mà cho rằng có tự ngã nên con người bám víu vào đó để chịu Khổ. Duy thức tông dựa vào thuyết dưới đây – được gọi là thuyết Tam tự tính (s: trisvabhāva) – để giải thích sự cảm nhận, nhận thức ngoại cảnh.|Tam tự tính là:|1. Biến kế sở chấp tính (遍計所執性; s: pari-kalpita-svabhāva), còn được gọi là huyễn giác (幻覺) hay thác giác (錯覺): Tất cả những hiện hữu đều là kết quả của trí tưởng tượng (huyễn giác), do chấp trước, cho rằng sự vật trước mắt là có thật, là độc lập;|2. Y tha khởi tính (依他起性; s: paratantra-sva-bhāva), nghĩa là dựa vào cái khác mà sinh ra: Tất cả pháp hữu vi đều do Nhân duyên mà phát sinh, lệ thuộc vào nhau, không có tự tính (s: asva-bhāva);|3. Viên thành thật tính (圓成實性; s: pariniṣpan-na): Tâm vốn thanh tịnh, là Chân như (s: tathatā), Như Lai tạng (s: tathāgata-garbha), là tính Không (s: śūnyatā).|Phương cách giải thoát của Duy thức tông dựa vào con đường của Phật giáo nguyên thuỷ, gồm có bốn mức độ (hoặc năm, trong hệ thống năm cấp thì 1 và 2 bằng cấp 1 ở đây, xem thêm Ngũ đạo), đòi hỏi hành giả hành trì các Ba-la-mật-đa (s: pāramitā; Lục độ) và Ðịnh (s: samādhi):|1. Gia hạnh (s: prayoga): Hành giả (Bồ Tát) nhận ra rằng không có gì ngoài Tâm;|2. Kiến (s: darśana): Hành giả dựa trên giáo pháp đích thật, đạt Như thật tri kiến, bước vào Thập địa (s: bhmi). Hành giả thống nhất khách quan chủ quan là một. Trong giai đoạn này, hành giả loại trừ Phiền não (s: kleśa).|3. Tu tập (s: bhāvanā): Hành giả tu tập và vượt qua Bồ Tát thập địa;|4. Thánh quả: Hành giả diệt tận phiền não, chấm dứt Luân hồi. Vị Bồ Tát đã chứng đạt Pháp thân (s: dharmakāya).|Duy thức tông phát triển mạnh nhất trong thế kỉ thứ 6 sau Công nguyên. Một trong những trung tâm quan trọng của Duy thức tông là Ðại học Na-lan-đà (s: nālandā) ở Bắc Ấn Ðộ. Nơi đó, Hộ Pháp đã chủ trương một quan điểm duy thức tuyệt đối. Song song với Na-lan-đà cũng có một trung tâm khác không kém quan trọng tại Va-la-bi (valabhī), được một Ðại luận sư khác của Duy thức tông là Ðức Huệ (s: guṇamati) sáng lập. Ðại diện xuất sắc nhất của trường phái Duy thức này là An Huệ (s: sthiramati), một môn đệ của Ðức Huệ. Khác với Hộ Pháp, An Huệ có cái nhìn tương đối hơn về duy thức, bắt cầu nối giữa quan điểm »Thật tướng« của Long Thụ (s: nāgārjuna) và quan niệm »Nhất thiết duy tâm tạo.« Sư dung hoà triết lí của Duy thức tông và tư tưởng thật tính của Trung quán tông. Trần-na (s: dignāga) và Pháp Xứng (s: dhar-makīrti) kết hợp quan điểm Duy thức và Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) để sinh ra một nhánh của Duy thức là Nhân minh học (因明學; s: hetuvi-dyā), cách tranh luận bằng logic.|Duy thức tông bị Trung quán tông (s: mādhya-mika) phản bác mãnh liệt. Họ cho rằng Duy thức tông đã đưa vai trò của Thức lên quá cao, cho nó một tính chất trường tồn, đứng sau mọi hiện tượng (xem thêm Pháp tướng tông).|Sáu bộ kinh căn bản của Duy thức tông: 1. Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (buddhā-vataṃsaka-mahāvaipulya-sūtra); 2. Giải thâm mật (saṅdhinirmocana-sūtra); 3. Như Lai xuất hiện công đức, không có bản Hán văn; 4. Ðại thừa a-tì-đạt-ma (mahāyānābhidharma-sūtra), được nhắc đến trong Nhiếp đại thừa luận, Du-già sư địa luận nhưng không có bản Hán văn, có lẽ đã thất truyền; 5. Nhập Lăng-già (laṅkāvatāra-sūtra); 6. Hậu nghiêm kinh (ghaṇavyūha), chưa được dịch ra Hán văn;|Mười một bộ luận: 1. Du-già sư địa luận (yogācā-rabhūmi-śāstra), Vô Trước soạn, Huyền Trang dịch ra Hán ngữ, 100 quyển. Ðây là bộ luận chính của Duy thức học; 2. Ðại thừa bách pháp minh môn luận (mahāyānaśatadharma-vidyādvāra-śāstra), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 3. Ðại thừa ngũ uẩn luận (skandhaka-prakaraṇa), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 4. Hiển dương thánh giáo luận (ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra), Vô Trước soạn, Huyền Trang dịch, 20 quyển; 5. Nhiếp đại thừa luận (mahāyāna-saṃ-graha), có ba bản Hán dịch: 1. Phật-đà Phiến-đa (buddhaśānta) dịch, 2 quyển; 2. Chân Ðế (pa-ramārtha) dịch, 3 quyển; 3. Huyền Trang dịch, 3 quyển; 6. Ðại thừa a-tì-đạt-ma (tạp) tập luận (abhi-dharma-samuccaya), Vô Trước soạn, Sư Tử Giác (siṃhabodhi) thích, An Huệ (sthiramati) tập, Huyền Trang dịch, 16 quyển; 7. Biện trung biên luận (ma-dhyāntavibhāga-śāstra), Di-lặc thuyết, Huyền Trang dịch, 3 quyển; 8. Nhị thập duy thức tụng (viṃśika-vijñāptimātratā-kārikā), có ba bản dịch: 1. Duy thức luận, Bát-nhã Lưu-chi (prajñāruci) dịch, 1 quyển; 2. Ðại thừa duy thức luận, Chân Ðế dịch, 1 quyển; 3. Duy thức nhị thập tụng, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 9. Duy thức tam thập tụng (s: triṃśatika-vijñāptimātratā-kārikā), Thế Thân soạn, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 10. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra), Vô Trước soạn, Ba-la-phả Mật-đa (prabhākāramitra) dịch, 13 quyển; 11. Phân biệt du-già luận (?), Di-lặc thuyết, chưa có bản Hán văn;
Duy thức tu đạo ngũ vị 唯識修道五位|Ngũ đạo
Duyên Giác Phật 緣覺佛|Ðộc Giác Phật
Duyên khởi 緣起; S: pratītyasamutpāda; P: paṭiccasamup-pāda;|Mười hai nhân duyên
Gê-sa T: ge-sar; có nghĩa là »Liên hoa ấn«, ấn hoa sen;|Tên của một vị anh hùng huyền thoại Tây Tạng. Hình tượng của vị này tạo nên một câu truyện cổ Phật giáo Tây Tạng, được truyền bá đến Mông Cổ qua những du sĩ. Nhân vật này xuất phát từ một vương quốc tên Ling, nằm ở phía Ðông Tây Tạng và những huyền thoại về ông bắt đầu lan truyền từ thế kỉ 11. Trong thời gian này Phật giáo đã nắm ưu thế so với đạo Bôn và đề tài chính của câu truyện này chính là những cuộc chiến giữa Gê-sa và ác loài (trong trường hợp này là Bôn giáo). Trong những cuộc chiến này, Gê-sa được xem là hiện thân của Quán Thế Âm Bồ Tát (s: avalokiteśvara) và Liên Hoa Sinh Ðại sư (s: padmasambhava). Những nhân vật anh hùng trong câu truyện này đều được xem là hoá thân của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Sau này, Gê-sa thường được tôn thờ như một vị thánh và vợ ông như một Không hành nữ (s: ḍākinī).|Theo truyền thống những bài Thánh ca (s: dohā) của Drug-pa Kun-leg và Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa), những người du ca đã truyền miệng những sự tích đầu của Gê-sa. Những phần bổ sung thêm sau này do những vị Lạt-ma thực hiện qua những cảm hứng tự ngộ được.|Tích này được phân thành hai chương: thời niên thiếu khổ cực, bị tất cả mọi người ruồng bỏ và thời làm vua Gê-sa. Gê-sa được xem như »con trời« giáng thế ngự trị. Sau khi ra đời thì bị trục xuất ra khỏi nước, sống viễn li đến năm 15 tuổi. Trong một cuộc đua ngựa giành ngai vàng, Gê-sa thắng được đối thủ là Khro-thung, được nhường ngai và cưới công chúa Brug-mo. Sau đó câu chuyện được tiếp nối với những cuộc chiến với ma quỷ, giáo hoá nước Hor.
Ghan-ta-pa S: ghaṇṭāpa hoặc vajraghaṇṭā; »Nhà sư rung chuông«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống khoảng thế kỉ thứ 9.|Ông là một Tỉ-khâu tại viện Na-lan-đà và sống một cuộc đời với giới luật nghiêm khắc. Ngày nọ ông đến Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) thì được nhà vua mời vào hoàng cung. Ông từ chối không vào vì cho rằng không thể chấp nhận được cảnh người bóc lột người. Nhà vua nghe báo lại, lấy làm tức giận, mới nghĩ cách hạ nhục ông. Nhà vua tìm một cung nữ xinh đẹp, ra lệnh cho nàng quyến rũ vị sư cho được. Sau một thời gian, chống cự không nổi sự cám dỗ, Ghan-ta-pa lấy cung nữ làm vợ, phá giới rời tu viện. Sau một năm hai người có một đứa con. Nhà vua vui thích với chuyện này, tìm cách gặp ông để chế nhạo. Biết thế, một tay gói đứa con trong áo, tay kia cầm hũ rượu, ông cùng vợ đi gặp vua. Vua cười chế diễu, nhưng ông nhìn thẳng vào mắt vua nói mình không tội lỗi gì. Vua hỏi cái gì dấu trong áo, ông ném con và hũ rượu xuống đất. Thần thổ địa run sợ, vội cho nước trào ra, đứa con và hũ rượu biến thành Kim cương chử (s: vajra) và chuông (ghaṇṭā). Ghan-ta-pa và vợ bỗng biến thành thần Sam-va-ra (s: saṃvara) và Kim cương Va-ra-hi (vajra vārāhī) lơ lửng trên không. Nước cứ trào dâng mãi, sắp dìm chết vua quan thì Quán Thế Âm hiện ra cứu giúp. Vua quan đều lễ bái xin tha tội, Ghan-ta-pa khai thị như sau:|Thuốc men và chất độc,|có tác dụng khác nhau,|nhưng trong tận tự tính,|cả hai chỉ là một.|Cái ác hay cái thiện,|cũng không hề sai khác,|chẳng qua chỉ là một.|Bậc có trí đã ngộ,|không hề khước từ gì.|Chỉ như lũ trẻ con,|chưa hề chứng đạt đạo,|bị năm độc hoành hành,|lang thang trong Sinh tử.|Nhờ lời giáo hoá này mà nhà vua cũng như quần thần thoát ra khỏi trói buộc của thành kiến. Còn nàng cung nữ thì sáu kiếp trước đó, nàng là người luôn luôn quyến rũ vị tỉ-khâu phá giới nhưng không được. Vị tỉ-khâu thì bám giữ giới luật một cách máy móc, chỉ trong đời này mới phá được sự ràng buộc này, nhờ một tâm thức đã chín muồi hoàn toàn, đã đạt đạo, tự tại trong tính Không.
Già 伽; C: qié; J: ga;|Phiên âm của chữ ga và ka tiếng Phạn (sanskrit).
Giả 假; C: jiǎ; J: ke;|Có các nghĩa sau: 1. (Các pháp) giả tạm, giả thuyết; 2. Sự thiết lập (các giả thuyết, s: pra-jñapti). Lập nên một ý niệm. Sự thu nhặt các ngôn từ và câu chữ; 3. Sử dụng phép ẩn dụ, dù nó không thực có, dùng để giải thích (s: upacāra); 4. Pháp tạm thời. Nho giáo biểu thị bằng chữ Quyền (權). Trong giáo lí của tông Thiên Thai thì, theo giáo lí chân chính, đặc tính hiện hữu của con người là giả tạm; 5. Thuật ngữ Giả thường được dùng phản nghĩa với Chân (眞), hoặc Thật (實), đề cập đến những gì đó trống không, không có thật, là không tồn tại trên cơ sở tự tính, các pháp chỉ tồn tại trên danh xưng, được gọi là Giả danh hữu (假名有). Dạng hiện hữu nầy chẳng khác gì với Không (e: emptiness). Thuật ngữ giả cũng dùng để chỉ »phương tiện« (方便) hay phương pháp thực hành và giáo hoá không vận dụng đến thật tính, mà chỉ dùng đến những phương tiện nhất thời.
Gia bị 加被; C: jiābèi; J: kabi;|Mang vào, bao gồm, thừa nhận. Nhận được oai lực hộ trì của chư Phật và Bồ Tát. Đồng nghĩa với Gia hộ (加護).
Già-đà 伽陀; C: qiétuó; J: gata;|Thể thơ hay kệ (s: gāthā) trong kinh văn Phật giáo. Xem Kệ tụng (偈頌). Là 1 trong 12 thể loại của kinh văn Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經).
Giả danh tông 假名宗; C: jiǎmíngzōng; J: kemyōshū;|Các tông phái xiển dương lí thuyết mọi danh nghĩa là giả tạm, như Kinh lượng bộ (經量部; s: sautrāntika) và Thành thật tông (成實宗).
Gia hạnh 加行; C: jiāxíng; J: kegyō;|Có các nghĩa sau: 1. Sự chuẩn bị cho việc tu tập; giai đoạn tu tập ban đầu (s: prayoga, prayogika); 2. Tu tập, nỗ lực, gắng sức, đặc biệt trong thời kì đầu hay vì tính chất phương tiện; 3. Giai vị Gia hạnh đạo (加行道) hoặc Gia hạnh vị (加行位).
Gia hạnh đạo 加行道; C: jiāxíngdào; J: kegyōdō;|Giai đoạn gia công thực hành ban đầu, 1 trong Ngũ đạo theo tiến trình của Du-già hành tông để tu tập giác ngộ. Như Gia hạnh vị (加行位).
Gia hạnh vị 加行位; C: jiāxíng wèi; J: kegyōi;|Giai vị chuẩn bị, giai vị gia công thực hành lúc đầu (s: adhimukticaryābhūmi). Giai vị thứ 2 trong 5 vị tu chứng do Thế Thân đề ra trong Duy thức tam thập tụng. Đây là giai đoạn hành giả chuẩn bị cho sự khai mở trí vô lậu để thể nhập vào giai vị Kiến đạo. Đó là giai vị giống như trước Tư lương vị (資糧位), nhưng trực tiếp hơn. Giai vị nầy có thể tương ưng với Phương tiện đạo (方便道), trong 1 số kinh văn khác cho là như nhau.
Giả hợp 假合; C: jiǎhé; J: kegō;|Sự kết hợp tạm thời – cách nhìn của Phật giáo xem chúng sinh như là hợp thể của tứ đại và ngũ uẩn (t: skabs las byung ba; theo Phật thị tạp biện, Phật thị chân giả chi biện 佛氏雜辨, 佛氏眞假之辨)
Già-lam 伽藍; C: qiélán; J: garan;|Gọi tắt của Tăng-già-lam-ma (僧伽藍摩; s: saṃgha-ārāma), nghĩa là »khu vườn của chúng tăng«, »Chúng viên«. Là nơi thanh tịnh để tu tập thiền định. Chùa hay Tu viện Phật giáo.
Giả lập 假立; C: jiǎlì; J: keryū;|Có các nghĩa sau: 1. Thiết lập một cách tạm thời, thừa nhận một lí lẽ giống nhau (s: saṃketa, prajñapti; theo Nhị chướng nghĩa 二障義); 2. Thừa nhận sự đề cập đến một đối tượng đặc biệt.
Già-lâu-la 伽樓羅; C: qiélóuluó; J: karura;|Phiên âm từ chữ garuḍa trong tiếng Phạn. Ca-lâu-la (迦樓羅).
Già-na Ca-diếp 伽耶迦葉; C: qiéyé jiāshě; J: gaya kashō; S: gayā-kāśyapa.|Người trẻ nhất trong 3 anh em Ca-diếp (Tam Ca-diếp 三迦葉), là những đệ tử lớn của đức Phật. Già-da (s: gayā) là nơi sinh của ông.
Giả pháp 假法; C: jiǎfǎ; J: kehō;|Pháp hiện hữu giả tạm hay nhất thời. Theo giáo lí của Pháp tướng tông, thì Giả pháp là một yếu tố không thể tự có »chủng tử« riêng của mình.
Giả thuyết 假説; C: jiǎshuō; J: kesetsu; |Có các nghĩa sau: 1. Sự giải thích tạm thời. Ngôn ngữ, hay tục lệ quy ước. Biểu tượng có tính ẩn dụ. Đệ nhị nghĩa (s: gauna), ngược lại với Đệ nhất nghĩa (s: mukhya). Sự giải thích mà không biểu hiện tình trang chính xác như nó đang là; 2. Theo giáo lí Duy thức tông, giả thuyết nầy được phân làm 2 loại, đó là »giáo lí giả danh của các pháp« (s: upacāra) như qua An Huệ (s: sthiramati); 3. Giả thuyết sai lầm (s: prajñapti).
Giác 覺; S, P: bodhi; C: xué; J: kaku; cũng được dịch âm là Bồ-đề (菩提);|Danh từ dịch ý từ chữ »bodhi« của Phạn ngữ (sanskrit), có nghĩa là tỉnh thức, thường được gọi chung với chữ »ngộ« là Giác ngộ.
Giác giả 覺者; S, P: buddha;|Nghĩa là »Bậc giác ngộ«; người ta thường gọi theo âm Hán Việt là Phật, Phật-đà.
Giác Hải 覺海; tk. 11-12|Thiền sư Việt Nam dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 10.|Sư họ Nguyễn, thuở nhỏ làm nghề chài lưới. Năm 25 tuổi, Sư cùng Không Lộ xuất gia, cùng thờ Thiền sư Hà Trạch làm thầy. Về sau Sư trở thành người nối pháp của Không Lộ, trụ trì chùa Hải Thanh.|Cũng như Không Lộ, Sư có khuynh hướng tu tập Mật giáo, sử dụng thần thông. Lần nọ lúc vào chầu vua Lí Nhân Tông (1072-1127), Sư cùng đạo sĩ Thông Huyền biểu diễn phép lạ làm hai con tắc kè rơi xuống đất, Lí Nhân Tông có thơ khen:|覺海心如海。通玄道又玄|神通兼變化。一佛一神仙|Giác Hải tâm như hải,|Thông Huyền đạo hựu huyền|Thần thông kiêm biến hoá,|Nhất Phật nhất thần tiên.|*Giác hải tâm như biển,|Thông Huyền đạo lại huyền,|Thần thông gồm biến hoá,|Một Phật, một thần tiên.|Sau đây là bài kệ Hoa và bướm – 花蝶 của Sư:|春來花蝶善知時。花蝶應須共應期|花蝶本來皆是幻。莫須花蝶向心持|Xuân lai hoa điệp thiện tri thời|Hoa điệp ưng tu cộng ứng kì|Hoa điệp bản lai giai thị huyễn|Mạc tu hoa điệp hướng tâm trì.|*Xuân sang hoa bướm khéo quen thời|Bướm liệng hoa cười vẫn đúng kì|Nên biết bướm hoa đều huyễn ảo|Thây hoa, mặc bướm, để lòng chi!|(Bản dịch của Ngô Tất Tố)
Giác Hiền 覺賢; S: buddhabhadra; 359-429, cũng được gọi theo âm là Phật-đà Bạt-đà-la;|Cao tăng Ấn Ðộ, người Kashmir, thuộc Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Năm 409 Giác Hiền qua Trung Quốc, cùng với Pháp Hiển dịch nhiều bộ kinh quan trọng của Ðại thừa qua chữ Hán.|Sư gia nhập Tăng-già lúc 17 tuổi và sớm nổi tiếng với giới luật nghiêm minh và khả năng thiền định. Năm 409, Sư đến Trường An và nơi đây có sự mâu thuẫn với các vị tăng của phái Cưu-ma-la-thập, là phái được triều đình thời đó ủng hộ. Vì vậy Sư rời Trường An, cùng khoảng 40 học trò đến Lư Sơn và gặp Huệ Viễn tại đây (410). Năm 415, Sư đến Nam Kinh và dịch các tác phẩm cơ bản của Phật giáo như Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka), kinh Ðại bát-niết-bàn (s: mahāparinirvāṇa-sūtra). Giữa năm 418 và 421, Sư dịch bộ kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (s: buddhāvataṃsaka-sū-tra) ra chữ Hán, gồm 60 tập.
Giác ngộ 覺悟; S, P: bodhi;|Danh từ được dịch nghĩa từ chữ Bodhi (Bồ-đề, tỉnh thức) của Phạn ngữ; chỉ trạng thái tỉnh thức, lúc con người bỗng nhiên trực nhận tính Không (s: śūnyatā), bản thân nó là Không cũng như toàn thể vũ trụ cũng là Không. Chỉ với trực nhận đó, con người mới thấu hiểu được thể tính mọi hiện tượng. Tính Không hiểu ở đây không phải sự trống rỗng thông thường mà nói về một thể tính vô biên không thể dùng suy nghĩ, cảm nhận để đo lường, nằm ngoài cặp đối đãi có-không. Tính Không này không phải là một đối tượng để một chủ thể tiếp cận đến vì bản thân chủ thể cũng thuộc về nó. Vì vậy, giác ngộ là một kinh nghiệm không thể giải bày.|Người giác ngộ hoàn toàn là đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni, cũng là người bắt đầu giáo hoá cho nên đạo Phật cũng được gọi là »đạo giác ngộ« (Ðại ngộ triệt để, Ngộ, Kiến tính).|Dù rằng cái thể của tính Không là một, nhưng người ta cho rằng có nhiều mức độ giác ngộ khác nhau. Nếu so sánh giác ngộ như phá vỡ một bức tường, thì có mức giác ngộ như chỉ hé mở một lỗ nhỏ và giác ngộ như đức Thích-ca là phá vỡ hoàn toàn bức tường đó. Có vô vàn khác nhau giữa các mức giác ngộ, biểu hiện bằng sự rõ ràng chính xác của thiền giả đạt được. Dựa trên kinh nghiệm của các bậc giác ngộ, thế giới của sự giác ngộ không hề khác với thế giới hiện tượng của chúng ta, tất cả đều là một, Hiện tượng-Tính không, Tương đối-Tuyệt đối. Kinh nghiệm về cái tất cả là một này chính là kinh nghiệm về thể tính tuyệt đối đó. Trong Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh (s: mahāprajñāpā-ramitā-hṛdaya-sūtra) chỉ rõ »sắc tức là không, không tức là sắc«, tức là không hề có hai thế giới. Nhờ tình trạng giác ngộ sâu xa, hành giả từ bỏ được cái Ngã. Trong Thiền tông, một khi cái ngã đã chết (»đại tử«) thì »đời sống« mới bắt đầu, đó là một cuộc sống tự tại và an lạc.|Một câu hỏi được rất nhiều người mộ đạo đặt ra cụ thể là: nhờ đâu mà người ta có thể nhận ra được một Thánh nhân, một Bậc giác ngộ – với những giác quan của một »Phàm phu« – và theo người đó tu tập? Sách vở thường nói rằng, chỉ có một Bậc giác ngộ mới nhận ra một Bậc giác ngộ (Vô thượng du-già), nhưng kinh nghiệm chung cho thấy, người bình thường cũng có khả năng nhận ra được một người đã đạt một cấp bậc siêu việt trên con đường tu tập qua các biểu hiện, qua bầu không khí xung quanh người đó. Ðó là một khung cảnh thái bình, tịch tịnh mà người nào cũng có thể cảm nhận được, ngay cả thú rừng. Trong khung cảnh này thì tâm của con người không còn bị những câu hỏi, hồ nghi quấy nhiễu – không phải vì chúng mỗi mỗi được giải đáp mà vì chúng đã tự biến mất, tự huỷ diệt trong cái tĩnh mịch vô biên của Chân như. Trong đoạn văn dịch sau đây – do một Triết gia người Ðức Veltheim-Ostrau viết – mô tả cảm giác của ông trong bầu không khí và những hiện tượng xung quanh một Bậc giác ngộ hiện đại, đó là Śrī Ra-ma-na Ma-hā-ri-shi (1897-1950) tại Tiruvanna-malai, núi A-ru-nā-cha-la ở miền Nam Ấn Ðộ (»mahāṛṣi« dịch sát nghĩa là Ðại Thấu Thị, một Ðại nhân đã nhìn thấu suốt vạn sự):|»Tôi cảm nhận sự hiện diện của tất cả mọi người, những động vật xung quanh, một bầu không khí thái bình, một sự yên tịnh không tả nổi. Tôi đứng bên cạnh họ với một tâm trạng vô tư, hoàn toàn không quen biết, nhưng với một tình thương ấm áp. Tâm trạng này không dễ miêu tả bởi vì nó quá đơn giản, quá tự nhiên. Tôi chỉ cầu mong nhớ lại được trạng thái này trước khi tôi qua đời.|Cặp mắt của tôi đang chú ý đến Ma-hā-ri-shi ngồi yên nhập định thì một hiện tượng xảy ra, một hiện tượng mà tôi – mặc dù rất ngại diễn tả lại – trình bày một cách khiêm nhường, ngắn gọn như tôi đã thật sự chứng kiến. Thân hình màu đen thẫm của ông dần dần trở nên trắng và trắng hơn, sau đó phát quang như được rọi sáng từ trong! Ban đầu tôi cho nó là một hiện tượng tự ý gợi (e: autosuggestion), thôi miên (e: hypnosis) và lấy sổ tay, xem đồng hồ để kiểm soát… Khi quay đầu nhìn lại – với cặp mắt vừa mới xem quyển sổ tay xong – tôi vẫn thấy Ma-hā-ri-shi, một thân hình sáng rực đang ngồi trên một tấm da cọp! Tôi nhìn vào mắt ông – mắt chạm mắt – nhưng bây giờ nỗi ngạc nhiên về ánh sáng chói loà đã tan biến…« (trích từ »Hơi thở Ấn Ðộ«, Der Atem Indiens, Hamburg, 1955).|Mặc dù Thần thông, Tất-địa (s: siddhi) là một dấu hiệu của sự tiến triển trong quá trình tu tập nhưng Phật khuyên không nên sử dụng – nếu có khả năng – và không nên coi trọng nó – nếu đang trên đường tìm Ðạo, vì nó vẫn nằm trong thế giới Hữu vi, chưa là biểu hiện của Tuyệt đối, của Chân như.
Giác Thành 覺城; S, P: bodh-gayā, buddha-gayā; còn được gọi là Chính Giác Sơn (正覺山);|Một trong bốn thánh địa của Phật giáo, cách Patna 90 km về phía Nam. Nơi đây, đức Phật Thích-ca Mâu-ni đã Giác ngộ hoàn toàn sau khi thiền định 49 ngày dưới cây Bồ-đề. Ngày nay, tại Giác Thành còn lại tháp Ðại Bồ-đề do một nhà vua Tích Lan xây dựng.
Giác thụ 覺樹|Bồ-đề thụ
Giải thâm mật kinh 解深密經; S: saṃdhinirmocana-sūtra; dịch theo âm Hán Việt là San-địa niết-mô-chiết-na tu-đa-la;|Một bộ kinh Ðại thừa. Cùng với kinh Nhập Lăng-già, Giải thâm mật là bộ kinh căn bản của Duy thức tông, nói về A-lại-da thức (ālaya-vijñāna), thuyết Tam tính (s: tri-svabhāva) của hiện hữu theo Duy thức học (Pháp tướng tông) v.v…|Kinh này bao gồm tám phẩm. Phẩm thứ nhất là phẩm mở đầu, nói về thời điểm, nguyên do Phật thuyết kinh này. Phẩm thứ hai nói về sắc thái của chân lí tuyệt đối (thắng nghĩa đế tướng), về lí Bất nhị và tính siêu việt của Tâm. Phẩm 3-5 nói về Tâm ý, Thức tướng, về Tự tính và Vô tự tính tướng, nói bao gồm là Tâm chính là cảnh sở quán. Phẩm 6-7 nói rằng Tâm chính là hạnh năng quán và phẩm 8 nói về Phật sự, quả sở đắc.|Kinh này có nhiều bản Hán dịch. Bản dịch đầu tiên được Cầu-na Bạt-đà-la (s: guṇabhadra) hoàn tất năm 443 (hoặc 453) – chỉ có hai phẩm 7 và 8 được dịch – dưới tên Tương tục giải thoát liễu nghĩa kinh. Năm 515, Bồ-đề Lưu-chi (s: bodhiruci) dịch trọn bộ dưới tên Thâm mật giải thoát kinh, được gọi là Nguỵ dịch. Năm 561, Chân Ðế (s: paramārtha) dịch phẩm một. Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang dịch trọn bộ 647 dưới tên Giải thâm mật kinh, bản này được gọi là Ðường dịch.
Giải thoát 解脫; S: vimukti; P: vimutti; J: gedatsu;|Giải phóng ra khỏi Khổ bằng cách tri kiến nguyên nhân của khổ và tận diệt nó, tức là thực hiện Tứ diệu đế và đoạn diệt Ô nhiễm (s: āśrava). Giải thoát tức là thoát khỏi ảo tưởng và khổ, thoát khỏi sự tái sinh trong Luân hồi (s: saṃsāra) và đạt Niết-bàn (s: nirvāṇa). Danh từ Giải thoát được dùng đồng nghĩa với Giác ngộ, Ngộ.
Giám Chân 鑒真; C: jiànzhēn; J: ganjin; 688-763;|Luật sư Trung Quốc. Sư đến Nhật Bản năm 754 và sáng lập Luật tông (j: ritsu-shū) nơi đây.|Sư quê ở Dương Châu. Năm 14 tuổi Sư theo cha vào chùa, nhìn tượng Phật cảm động và xin xuất gia. Sư thông Tam tạng, giữ giới nghiêm chỉnh và vì vậy tiếng tăm lừng lẫy. Ðến năm 55 tuổi, Sư có ý nguyện đi Nhật Bản vì có hai tăng sĩ người Nhật khẩn thiết mời Sư sang giáo hoá. Môn đệ của Sư ngăn cản vì đường sang Nhật rất nguy hiểm. Sư nghe vậy liền nói: »Ðây là việc pháp, tiếc gì tính mệnh, mọi người không đi, một mình ta đi.« Nghe vậy nhiều môn đệ xin đi, tổng cộng có 21 người. Chuyến đi hoằng hoá Nhật Bản đầy gian nan. Năm lần thất bại, lần thứ sáu sau 11 năm mới toại nguyện. Trong suốt hành trình này có tất cả 36 Tỉ-khâu chết và chính Sư cũng bị mù hai mắt.|Sư đến Nhật năm 66 tuổi, đem theo rất nhiều kinh sách. Nơi đây, Sư được cả nước Nhật hoan nghênh sùng ngưỡng và được Nhật hoàng phong chức Truyền Ðăng Ðại Pháp sư. Vì tinh thông y dược nên Sư cũng có cống hiến lớn cho y dược học Nhật Bản. Sư tịch năm 763 sau mười năm truyền bá rất thành công tại đây, thọ 77 tuổi.
Giang Ca-diếp 江迦葉; C: jiāng jiāshě; J: kō kashō;|Kết hợp phiên âm và dịch nghĩa tên của Nadī-Kāśyapa; Na-đề Ca-diếp (那提迦葉).
Giang hồ 江湖; C: jiāng hú; J: gōko;|Giang và Hồ chỉ cho tỉnh Giang Tây và Hồ Nam, nơi mà vào thế kỉ thứ 8, truyền thống tu tập thiền lớn mạnh cùng với ảnh hưởng của những Thiền sư như Mã Tổ, Thạch Đầu. Nghĩa chung là: 1. Khắp mọi miền; 2. Tụ hội nhiều thiền tăng.
Giáo ngoại biệt truyền 教外別傳; J: kyōge-betsuden;|Tức là giáo pháp truyền đặc biệt ngoài kinh điển, không thể theo văn tự, lí thuyết mà đạt yếu chỉ được. Câu này thường được các vị Thiền sư sử dụng chỉ tông phái mình, Thiền tông.
Giao triệt 交徹; C: jiāochè; J: kyōtetsu;|Tương giao hoàn toàn với nhau.
Giáp Sơn Thiện Hội 夾山善會; C: jiāshān shānhuì; J: kassan zen'e; 805-881;|Thiền sư Trung Quốc. Sư đắc pháp nơi Thuyền Tử Ðức Thành (Hoa Ðình Thuyền Tử). Sau Sư đến Giáp Sơn trụ trì, môn đệ đến học tấp nập. Môn đệ đắc pháp nổi danh của Sư là Lạc Phổ Nguyên An.|Sư họ Liêu, quê ở Hiện Ðình, Quảng Châu. Năm 9 tuổi, Sư xuất gia tại chùa Long Nha, sau đó lại đến Giang Lăng tập học kinh luận. Sư trụ trì tại Kinh Khẩu. Một vị tăng hỏi Sư: »Thế nào là Pháp thân?« Sư đáp: »Pháp thân vô tướng.« Tăng hỏi tiếp: »Thế nào là Pháp nhãn?« Sư đáp: »Pháp nhãn chẳng bệnh.« Thiền sư Ðạo Ngô Viên Trí đứng trong hội, nghe Sư trả lời bèn cười, nói rằng Sư hoằng hoá mà chưa có thầy và chỉ đến Hoa Ðình Thuyền Tử (xem dưới Thuyền Tử Ðức Thành). Nơi Hoa Ðình, Sư đại ngộ và sau trở về nơi cũ hoằng giáo. Ðạo Ngô cho người đi trắc nghiệm Sư với hai câu hỏi như xưa và Sư trả lời y như trước. Ðạo Ngô thừa nhận, bảo: »Ông ấy đã triệt ngộ.«|Sư dạy chúng: »… Người thượng căn ngay lời nói liền rõ đạo; kẻ căn khí bậc trung, bậc hạ chạy lăng xăng như sóng bủa. Sao chẳng nằm trong sinh tử mà an định? Sẽ nhận lấy chỗ nào? Lại nghi Phật nghi Tổ thế cái sinh tử cho ông được sao? Người có trí sẽ cười ông, nghe bài kệ đây:|勞持生死法,唯向佛邊求|目前迷正理,撥火覓色漚|Lao trì sinh tử pháp|Duy hướng Phật biên cầu|Mục tiền mê chính lí|Bát hoả mích phù âu|*Nhọc gìn pháp sinh tử|Chỉ nhằm bên Phật cầu|Trước mắt lầm lí chính|Trong lửa bọt có đâu«.|Tăng hỏi: »Thế nào là cảnh Giáp Sơn?« Sư đáp: |猿抱子歸青嶂裏。鳥銜花落碧巖前|Viên bão tử quy thanh chướng lí|Ðiểu hàm hoa lạc bích nham tiền.|*»Vượn bồng con về ngọn núi xanh,|chim ngậm hoa đậu trước đỉnh biếc.«|Ðời Ðường, niên hiệu Trung Hoà năm đầu, ngày mùng 7 tháng 11, Sư gọi Chủ sự bảo: »Nay chất huyễn của ta khi hết liền đi, các ông khéo giữ gìn như ngày ta còn, chớ giống người đời sinh ra buồn thảm.« Ðêm ấy Sư tịch, thọ 77 tuổi. Vua phong là Truyền Minh Ðại sư.
Giới 戒; S: śīla; P: sīla;|Giới luật mà tăng, ni cũng như người tu tại gia phải tuân thủ, là điều kiện để Giác ngộ. Mười giới cho Tỉ-khâu, Tỉ-khâu-ni và Sa-di (s: śrāmaṇera) là: 1. Không giết hại, 2. Không trộm cắp, 3. Không tà dâm, 4. Không nói dối, 5. Không say sưa, 6. Không ăn quá bữa, 7. Không nghe âm nhạc, hát xướng và các trò chơi khác, 8. Không xức dầu thơm, trang điểm, 9. Không ngủ giường cao, đệm êm, 10. Không dính líu chuyện tiền bạc phiền hà thế gian. Năm giới đầu được áp dụng cho Cư sĩ, Phật tử tại gia, và trong một số ngày đặc biệt có thể lên đến tám (Bố-tát).|Giới là những quy định tự nhiên trong đời sống thông thường, trong lúc đó Luật được hiểu là quy luật dành cho những người xuất gia, sống trong chùa chiền hay thiền viện. Giới được nhắc tới như một phần trong ba nhóm của Bát chính đạo, một trong Ba môn học cũng là một của các hạnh Ba-la-mật-đa.|Trong Ðại thừa Phật giáo, người ta phân ra hai loại giới: Hiển và mật. Mười hiển giới tại đây có khác với mười giới nêu trên chút ít và có giá trị như nhau cho tăng, ni và cư sĩ (ngoài giới thứ 3), được ghi lại trong kinh Phạm võng (s: brahmajālasūtra): 1. Bất sát sinh; 2. Không lấy những gì người ta không cho; 3. Không tà dâm; 4. Không nói dối; 5. Không mua bán rượu; 6. Không nói về hành động xấu của người khác; 7. Không tự khen mình, chê người; 8. Sẵn lòng bố thí; 9. Không giận hờn; 10. Không phỉ báng Tam bảo. Mười giới này – loại trừ giới thứ 3 ra – là quy định chung cho tăng, ni và giới Cư sĩ.|Mười hiển giới nêu trên rất quan trọng, có ích về khía cạnh đạo lí thế gian và cả khía cạnh cơ sở của một cuộc đời hành đạo xuất thế. Hành giả không thể tiến xa nếu thâm tâm còn vướng mắc vào những vọng niệm – mà những vọng niệm này chính là kết quả của một cách sống không tôn trọng giới luật, không có ý thức. Nhưng dù có chí thế nào đi nữa thì hành giả cũng khó lòng thực hiện, giữ được trọn vẹn mười giới trên và phạm giới trong một mức độ nào đó là một hậu quả khó tránh. Nhưng vi phạm giới không làm ngăn cản bước đường tu đạo, với điều kiện là hành giả phải thật sự ăn năn hối lỗi, nguyện không tái phạm. Với sự tiến triển trên con đường tu tập, những kết quả tốt đẹp đạt được qua phương pháp Toạ thiền như Bi, Trí, dũng, những lần vi phạm giới luật sẽ tự giảm dần. Nhưng việc cần phải chú trọng tuyệt đối chính là việc giữ vững niềm tin nơi Phật pháp. Nếu mất lòng tin nơi đức Phật, chân lí Ngài đã trực chứng và những lời khuyến khích của chư vị Tổ sư thì Ðạo không thể nào thành, Vô minh không thể nào đoạn diệt và giải thoát vượt khỏi tầm tay.|Dưới dạng Mật giới, hành giả nguyện rằng: 1. Không lìa chính pháp; 2. Không xao lãng việc tu tập; 3. Không tham lam, không ích kỉ; 4. Lúc nào cũng giữ lòng từ bi với chúng sinh; 5. Không phỉ báng một tông phái nào của Phật giáo; 6. Không bám chặt vào bất cứ cái gì; 7. Không ôm ấp vọng tưởng; 8. Khuyến khích chúng sinh phát tâm Bồ-đề; 9. Thuyết giảng giáo pháp Ðại thừa cho những người theo Tiểu thừa; 10. Luôn luôn bố thí cho chư vị Bồ Tát.
Giới 界; S, P: dhātu; là cảnh giới, không gian, yếu tố.|Khái niệm quan trọng của đạo Phật, có nhiều nghĩa:|1. Một trong Tứ đại chủng (四大種; s, p: mahābhūta), bốn yếu tố của vũ trụ;|2. Một trong sáu yếu tố, gồm có: Tứ đại, Hư không (虛空; s: ākāśa) và Thức (識; s: vijñā-na);|3. Chỉ Ba thế giới (三界; s: triloka), tức là dục giới (欲界; s: kāmadhātu), sắc giới (色界; s: rūpadhātu) và vô sắc giới (無色界; s: arūpadhātu);|4. Mười tám yếu tố sinh ra tâm thức gồm có sáu giác quan (Lục căn), sáu đối tượng của sáu giác quan (Lục trần), và sáu thức được sinh ra từ đây.
Giới Không 戒空; ~ tk. 12|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 15. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Quảng Phúc và sau truyền lại cho đệ tử là Trí Thiền.|Sư tên tục là Nguyễn Tuân, quê tại Mãn Ðầu. Thuở nhỏ, Sư đã hâm mộ Phật pháp, sớm xuất gia tu học với Thiền sư Quảng Phúc tại chùa Nguyên Hoà trên núi Chân Ma. Nơi đây, Sư ngộ được tông chỉ.|Rời Quảng Phúc, Sư đến Lịch Sơn lập am tu thiền, sau rời am chống gậy xuống núi tuỳ duyên hoằng đạo. Vua Lí Thần Tông nhiều lần mời về Kinh nhưng Sư đều từ chối, mãi sau bất đắc dĩ nhận lời và trụ trì chùa Gia Lâm.|Về già, Sư trở về quê trụ trì chùa làng Tháp Bát quận Mãn Ðẩu. Một hôm, Sư không bệnh nói kệ dạy chúng:|我有一事奇特。非青黃赤白黑|天下在家出家。親生惡死爲賊|不知生死異路。生死秖是失得|若言生死異塗。賺卻釋迦彌勒|若知生死生死。方會老僧處匿|汝等後學門人。莫認盤星軌則|Ngã hữu nhất sự kì đặc|Phi thanh hoàng xích bạch hắc|Thiên hạ tại gia xuất gia|Thân sinh ố tử vi tặc|Bất tri sinh tử dị lộ|Sinh tử chỉ thị thất đắc|Nhược ngôn sinh tử dị đồ|Trám khước Thích-ca Di-lặc|Nhược tri sinh tử sinh tử|Phương hội lão tăng xứ nặc|Nhữ đẳng hậu học môn nhân|Mạc nhận bàn tinh quỹ tắc|*Ta có một việc kì đặc|Chẳng xanh vàng đen đỏ trắng|Cả người tại gia xuất gia|Thích sinh chán tử là giặc|Chẳng rõ sinh tử khác đường|Sinh tử chỉ là được mất|Nếu cho sinh tử khác đường|Lừa cả Thích-ca Di-lặc|Ví biết sinh tử sinh tử|Mới hiểu lão tăng chỗ náu|Môn nhân, hậu học, các người|Chớ nhận khuôn mẫu phép tắc.|Nói xong, Sư cười một tiếng lớn rồi chắp tay viên tịch.
Gô-đu-ri-pa S: ghodhuripa; »Thợ săn chim«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của Li-la-pa (s: līlapa), sống khoảng thế kỉ thứ 9, 10.|Ông là người chuyên bắt chim. Ngày nọ, lúc ông đang bẫy chim thì có một vị Du-già sư đi qua, khuyên ông không nên sát hại sinh vật nữa mà nên tu học một Nghi quỹ (s: sādhana). Ông đồng ý và được dạy phép quán tưởng đặc biệt: quán tất cả âm thanh đều là tiếng chim hót, quán tiếng chim và sự suy tưởng về tiếng chim là một:|Lắng nghe mọi thứ tiếng,|lắng nghe, lắng nghe mãi,|ngươi sẽ nghe từng nốt,|tự tính nó giống nhau.|Hãy quán thêm một bước,|âm thanh và người nghe,|chỉ là một mà thôi,|trong cõi xứ bao trùm,|của Thật tại duy nhất.|Gô-đu-ri-pa quán đúng như lời khai thị này và ông ngộ cái nhất thể của âm thanh và tính Không. Sau chín năm, tâm thức ông đã gạn sạch Ô nhiễm và ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Bài thánh ca của ông như sau:|Ta đã thật chứng rằng,|mọi hiện tượng trong ngoài,|đều là Tâm hết thảy.|Ta đã giác ngộ rằng,|Tự tính thật của Tâm,|đều là ánh sáng cả.|Thức, ngủ, mơ, thiền định,|là hành động tỉnh giác,|nằm ở trong Pháp thân.|Ta đã chứng Phật quả.
Gô-rắc-sa S: gorakṣa; »Kẻ chăn bò bất tử«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong thế kỉ thứ 10.|Lúc nhỏ, ông là một đứa trẻ chăn bò, ngày nọ được gặp A-chin-ta (s: aciṅtapa hoặc Mi-na-pa). Vị này chỉ cho ông tìm gặp Châu-ran-gi-pa (s: cauraṅgi-pa), một hoàng tử bị hãm hại, bị chặt hết tay chân. Ðộng lòng trắc ẩn, Gô-rắc-sa hết lòng săn sóc, lấy phần ăn của mình đưa vị hoàng tử và như vậy suốt 12 năm. Khi Châu-ran-gi-pa đắc đạo, chân tay lành lại, ông cũng nghe lời A-chin-ta tu tập và đạt chính quả. Phép tu của ông dựa trên lòng nhẫn nhục chịu đựng suốt mười hai năm phục vụ cho Châu-ran-gi-pa. Bài thánh ca của ông có những dòng sau:|Sinh trong giai cấp nào,|cao, thấp hay trung bình,|Hãy tận dụng đời mình,|đạt đến cái tối thượng.|Hãy nhận rốt ráo rằng, |dòng chảy nghiệp lực đang, |giúp bạn đạt mục đích.|Chụp cơ may giác ngộ,|ta quên mình phụng sự, |cho Châu-ran-gi-pa.|Rồi A-chin-ta hiện đến,|tặng ta nước cam lộ,|Ðạt tri kiến tối thượng,|Thật tại cùng Bất nhị,|và bây giờ ta là,|chúa chăn bị ba cõi.
Gô-vin-đa, Lạt-ma A-na-ga-ri-ka S: govinda, lama anāgārika; 1898-1985;|Một Ðại sư người CHLB Ðức, chuyên tìm hiểu triết học và cách tu tập của nền Phật giáo Tây Tạng (Kim cương thừa). Sách của Sư đã giúp rất nhiều người phương Tây quen biết đạo Phật. Ðặc biệt, tác phẩm The way of The White Clouds (Bản dịch Việt ngữ: Ðường mây qua xứ tuyết) và Foundations of Tibetan Mysticism (Việt ngữ: Cơ sở mật giáo Tây Tạng) được phổ biến rộng rãi. Gô-vin-đa là người sáng lập hội Ārya Maitreya Maṇ-ḍala tại CHLB Ðức.
Ha 呵; C: hē; J: ka;|Trách mắng nghiêm khắc; phê bình, khiển trách.
Hạ bổng 下棒; C: xiàbàng; J: abō;|Lối khai thị trong Thiền tông, dùng gậy để đánh, xem như là sự khuyến khích trong công phu thiền.
Hà Ca-diếp 河迦葉; C: hé jiāshě; J: ka kashō; |Kết hợp phiên âm và phiên dịch tên của Nadī-Kāśyapa; Na-đề Ca-diếp (那提迦葉).
Hạ căn 下根; C: xiàgēn; J: gekon;|Căn cơ thấp kém. Chỉ người có nghiệp duyên nông cạn và đần độn, khó tu tập đạt giải thoát (như Độn căn 鈍根). Thường những ngưòi nầy cần có phương chước giáo hoá đặc biệt để trước mắt, họ có thể nắm bắt những điểm chính yếu của thế giới quan biểu hiện qua sự chiêm nghiệm về đạo Phật. Đó là thấp nhất trong ba căn cơ, hai hàng kia là Trung căn (中根) và Thượng căn (上根; theo kinh Niết-bàn 涅槃經).
Hà đẳng 何等; C: héděng; J: kadō;|Có hai nghĩa: 1. Biết bao? Thế nào? 2. Xiết bao!
Hạ địa 下地; C: xiàdì; J: geji;|1. Cảnh giới hiện hữu bên dưới đối tượng của thế giới khách quan được nhận biết bởi hành giả (s: adhara-svābhūmi); 2. Trong sự phân chia các cõi trong tam giới thành 9 bậc (cửu địa 九地), hạ địa chính là ba cõi thấp cuối cùng; 3. Giai vị thấp nhất trong Bồ Tát Thập địa.
Hạ hạ 下下; C: xiàxià; J: gege; S: mṛdu-mṛduka.|Bậc thấp trong hàng thấp kém nhất. Kinh văn Phật giáo thường định rõ những loại như phiền não, tái sinh ở cõi trời, căn cơ của chúng sinh… thành 9 loại, là 3 dạng của các bậc thượng, trung, hạ, lại chia thành ba thứ nữa, kết quả là 9.
Hạ hạ phẩm 下下品; C: xiàxiàpǐn; J: gegehon;|Bậc thấp trong hàng thấp kém nhất. Hạ hạ.
Hà huống 何況; C: hékuàng; J: kakyō;|Từ ngữ nhấn mạnh vào sự phủ định hoặc khẳng định.
Ha-lê Bạt-ma 訶梨跋摩; S: harivarman; tk. 4; dịch nghĩa là Sư Tử Khải, Sư Tử Giáp;|Là vị Tổ của Thành thật tông. Sư sinh trong một gia đình Bà-la-môn ở Trung Ấn, trước học ngoại đạo, sau gia nhập Tăng-già tu tập theo giáo lí của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Quan niệm của Sư lại không tương ưng với học thuyết của Hữu bộ nên sau một thời gian ngắn, Sư rời bộ này và bắt đầu nghiên cứu kinh điển và thông cả Tam tạng. Sau Sư đến Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) chung học Ðại thừa kinh điển với những nhà sư thuộc Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika). Trong thời gian này, Sư viết Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhiśāstra), phát triển tư tưởng tính Không (s: śūnyatā). Thành thật luận được Cưu-ma-la-thập dịch sang Hán văn và sau này trở thành bài luận cơ bản của Thành thật tông.
Hạ liệt 下劣; C: xiàliè; J: geretsu;|1. Thấp kém, thấp hơn, xấu hơn; 2. Xấu, thoái hoá (s: hīna, līna, lūha).
Hạ liệt thừa 下劣乘; C: xiàlièshèng; J: geretsujō;|Một cách gọi Tiểu thừa.
Hạ ngữ 下語;; C: xiàyǔ; J: agyo;|Chỉ những lời dạy của một vị Thiền sư dành cho một vị đệ tử. Những lời văn của một vị thầy về một Ngữ lục nào đó hoặc một Công án cũng được gọi là hạ ngữ.
Hạ phẩm 下品; C: xiàpǐn; J: gebon;|Lớp dưới, bậc thấp, hạng dưới. Thường được dùng để so sánh năng lực của hành giả, như Hạ phẩm Bồ Tát (theo Du-già luận 瑜伽論).
Hạ sinh kinh 下生經; C: xiàshēng jīng; J: geshō kyō;|Tên viết tắt của Di-lặc hạ sinh kinh (彌勒下生經).
Hà tất 何必; C: hébì; J: kahitsu;|Có các nghĩa: 1. Cần gì phải; sao phải?; 2. Có thể như thế nầy…, có thể như thế kia. Từ ngữ biểu thị tính chất phỏng chừng, không dứt khoát.
Ha trách 呵責; C: hēzé; J: kashaku; S: vigarhante; P: vigarahati;|Quở trách nghiêm khắc, phê phán, khiển trách, quở trách.
Hà Trạch Thần Hội 荷澤神會; C: hézé shénhuì; J: kataku jin'e; 686-760 hoặc 670-762;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Lục tổ Huệ Năng. Sư có công lớn trong việc thuyết phục triều đình nhà Ðường công nhận dòng thiền của Lục tổ là chính tông và Tổ là người thừa kế chính của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Sự quan hệ với triều đình, và nói chung các người cầm quyền chính trị, không làm cho phái thiền Hà Trạch của Sư hưng thịnh mà ngược lại, chỉ sau vài đời tàn luỵ. Kế thừa Sư, trong phái sau này chỉ có một vị còn được nhắc nhở đến, đó là Thiền sư Khuê Phong Tông Mật, vị Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông.|Sư họ Cao, quê ở Tương Dương. Lúc nhỏ Sư theo thầy học Nho, hiểu rành Lão Trang. Trên đường tìm thầy chứng đạo, Sư đến Bảo Lâm tự ở Tào Khê, nơi Lục tổ hoằng hoá.|Gặp Sư, Tổ hỏi: »Tri thức từ phương xa nhọc nhằn tìm đến, có đem được gốc (bản) đến chăng? Nếu có gốc phải biết chủ, thử nói xem?« Sư thưa: »Lấy vô trụ làm gốc, thấy tức là chủ.« Tổ bảo: »Sa-di chớ nói càn.« Sư thưa: »Hoà thượng ngồi thiền là thấy hay chẳng thấy?« Tổ đánh Sư ba gậy, hỏi: »Ta đánh ngươi đau hay chẳng đau?« Sư thưa: »Cũng đau cũng chẳng đau.« Tổ bảo: »Ta cũng thấy cũng chẳng thấy.« Sư hỏi: »Thế nào là cũng thấy cũng chẳng thấy?« Tổ bảo: »Chỗ ta thấy là thường thấy lỗi lầm nơi tâm mình, không thấy việc phải quấy của người khác. Ấy là thấy cũng chẳng thấy. Ngươi nói cũng đau cũng chẳng đau là sao? Nếu ngươi chẳng đau thì đồng cây cỏ, nếu ngươi đau thì đồng với phàm phu, ắt khởi tâm giận hờn. Trước ngươi nói thấy chẳng thấy là hai bên, đau chẳng đau là sinh diệt. Ngươi không thấy tự tính mà dám cợt với người.« Nghe qua Sư thất kinh, quì sám hối. Tổ bảo: »Nếu ngươi tâm mê không thấy nên hỏi thiện tri thức chỉ đường. Nếu ngươi tâm ngộ liền tự thấy tính, y pháp tu hành. Ngươi đã mê không thấy tâm mình, trở lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy. Ta thấy thì ta tự biết, đâu thế cái mê cho ngươi được. Nếu ngươi tự thấy cũng không thế được cái mê cho ta. Tại sao không tự biết tự thấy, lại hỏi ta thấy cùng chẳng thấy?« Sư lễ bái trăm lạy cầu xin sám hối. Một hôm Tổ bảo chúng: »Ta có một vật không đầu không đuôi, không tên không họ, không lưng không mặt, các ngươi biết chăng?« Sư bước ra thưa: »Ấy là bản nguyên của chư Phật, là Phật tính của Thần Hội.« Tổ bảo: »Ðã nói với các ngươi là không tên không họ, ngươi lại kêu là bản nguyên Phật tính. Sau này ngươi ra trụ trì thì cũng chỉ thành tông đồ của hàng tri giải.« Sư lễ bái lui ra. Từ đây, Sư ở lại hầu hạ Tổ năm năm đến khi Tổ tịch, không lúc nào rời.|Khoảng 20 năm sau khi Tổ nhập diệt, Sư hội họp tất cả những Thiền sư danh tiếng miền Nam, và tuyên rằng, Huệ Năng chính là người nối pháp của Ngũ tổ và Thần Tú – lúc bấy giờ được vương triều công nhận là pháp tự của Thiền tông – vô cớ đoạt danh hiệu này của Huệ Năng, không phải là người được truyền y bát. Sư không nhọc công đi đến tận Trường An và Lạc Dương để nêu rõ và bảo vệ quan niệm này. Kết quả của việc làm mạo hiểm này là Sư bị lưu đày xuống miền Nam. Nhưng sau một cuộc nổi loạn (755-757), triều đình nhớ lại danh tiếng của Sư, muốn nương danh này để lấy lại lòng tin của dân. Sư được mời đến trụ trì chùa Hà Trạch (trước khi bị lưu đày Sư đã trụ trì ở đây). Từ đây Sư rất có uy tín trong triều đình và cuối cùng Huệ Năng và các vị thừa kế được công nhận là Thiền chính tông.|Ðời Ðường niên hiệu Thượng Nguyên, Sư từ biệt đại chúng, nửa đêm thị tịch. Vua ban hiệu là Chân Tông Ðại sư. Tác phẩm Hiển tông kí của Sư vẫn còn lưu hành.
Hà Trạch tông 荷澤宗; C: hézé-zōng; J: kataku-shū;|Một nhánh của Thiền tông Trung Quốc, bắt nguồn từ Thiền sư Hà Trạch Thần Hội, một môn đệ của Lục tổ Huệ Năng. Ngược với giáo lí và quan niệm thiền định của Phật giáo Ấn Ðộ – được Bồ-đề Ðạt-ma truyền sang Trung Quốc và kế tiếp đến Ngũ tổ Hoằng Nhẫn – Thần Hội nhấn mạnh rằng, Giác ngộ không thể đạt được qua những phương pháp tu tập thiền định và tiến lên từng cấp bậc. Cách tu tập thiền định chính là thực hiện được trạng thái »Vô tâm«, một trạng thái trực tiếp dẫn đến kinh nghiệm Kiến tính, Ðốn ngộ. Mặc dù sư Thần Hội rất có công trong việc xiển dương Nam tông thiền – được xem là một móc ngoặt cực kì quan trọng cho Thiền tông Trung Quốc – tông của sư không được xếp vào Ngũ gia thất tông và tàn lụi chỉ sau vài thế hệ.|Vị Thiền sư nổi danh duy nhất của tông này sau sư Thần Hội là Khuê Phong Tông Mật, nhưng vị này cũng không nổi danh với tính cách một vị Thiền sư mà là vị Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông. Sau khi tịch, Thần Hội được phong danh hiệu Chân Tông Ðại sư.
Hải ấn tam-muội 海印三昧;; S: sāgara-mudrā-samādhi; C: hăi-yìn sānmèi; J: kaiin sanmai;|Định thâm diệu mà Đức Phật an trú khi ngài giảng kinh Hoa Nghiêm. Tất cả chúng sinh trong 3 đời quá khứ, hiện tại và vị lai đều bao gồm trong tâm nầy. Chữ Ấn có nghĩa là »phản chiếu«. Như vậy, tâm an định giống như biển lớn, có thể phản chiếu mọi hiện tượng. Trong tư tưởng kinh Hoa Nghiêm, các pháp đều biểu hiện tuỳ theo tâm nầy.
Hải Ấn tự 海印寺; C: hăiyìn sì; J: kaiinji;|Một trong những ngôi chùa lớn ở Hàn Quốc, xâu dựng đầu tiên năm 892. Là nơi chạm khắc mộc bản in Tam tạng kinh Hàn Quốc, vẫn còn được lưu trữ nơi đây. Hải Ấn tự vẫn là một trung tâm tu tập Thiền trong thời cận đại. Đây là nơi xuất thân của vị cao tăng đã viên tịch Sŏngch'ŏl.
Hải Đông 海東; C: hăidōng; J: kaitō;|Thuật ngữ mang ý tôn trọng do người Trung Hoa thường dùng để chỉ cho người Hàn Quốc. Thường được người Trung Hoa dùng để gọi tên các vị tăng Hàn Quốc hay những tác phẩm quan trọng của Hàn Quốc.
Hải Đông cao tăng truyện 海東高僧傳; C: hăidōng gāosēng zhuàn; J: kaitō kōsō den; K: haedong kosŭng jŏn|Sách của Giác Huấn (覺訓; k: kakhun)
Hải đức 海徳; C: hăi dé; J: kaitoku;|Đức rộng lớn mênh mông như biển.
Hải hội 海會; C: hăihuì; J: kai'e;|1. Theo truyền thống thiền, thuật ngữ nầy thường chỉ cho sự tụ hội rất đông tăng ni. Chùa hoặc tự viện; 2. Buổi lễ có nhiều vị cao tăng tham dự; 3. Thuật ngữ chỉ cho phần mộ hay lăng tẩm.
Hàm Hư 涵虚; C: hánxū; J: kanko; K: hamhŏ|Xem Hàm Hư Đắc Thông (涵虚得通)
Hàm Hư Đắc Thông 涵虚得通; C: hánxū détōng; J: kanko tokutsū; K: hamhŏ tŭkt'ong (1376-1433)|Thuỵ hiệu là Kỉ Hoà (己和, k: kihwa). Nguyên là tăng sĩ trước thời kì Cao Li thuộc Thiền tông Hàn Quốc, sư là nhân vật lĩnh đạo Phật giáo kiệt xuất thuộc thế hệ của này. Hàm Hư vốn là một nhà Nho học nổi danh, nhưng sư chuyển sang Phật giáo vào lúc 21 tuổi sau cái chết của một người bạn thân. Sư hành cước khắp các sơn tự ở Hàn Quốc, cho đến khi sư có dịp may trở thành đệ tử của Quốc sư Vô Học (無學). Các tác phẩm của Kỉ Hoà là một pha trộn giữa sự đả phá tôn sùng ngẫu tượng và ngôn ngữ thiền đốn ngộ, cùng nhận thức sâu sắc về giáo môn. Do vậy, sư tiếp nhận ở Tri Nột tinh thần hợp nhất giữa Phật giáo thiền tông và giáo môn. Trong số các tác phẩm của sư, có 4 tác phẩm đặc biệt tạo nên ảnh hưởng sâu đậm về sau cho Thiền tông Hàn Quốc. Đó là: 1. Luận giải về kinh Viên Giác, nhan đề Viên Giác kinh giải thuyết nghi (圓覺經解説誼; k: wŏn'gakkyŏng hae sŏrŭi), 2. Biên soạn và phụ chú về 5 luận giải nổi tiếng về kinh Kim Cương, 3. Biên soạn và phụ chú về Vĩnh Gia tập, nhan đề Vĩnh Gia tập khoa chú thuyết nghi (永嘉集科註説誼). Cũng như kết quả từ tác phẩm thứ tư của mình là Hiển chính luận (顯正論), Hàm Hư đã tự xem mình là Phật tử chính bị tố cáo trong sự phê phán của Tân Nho gia và sư cũng phản ứng quyết liệt sự phê phán của Tân Nho giáo đối với Phật giáo thời bấy giờ. Sư viên tịch trong lúc trú tại chùa Tịnh Thuỷ (淨水寺), toạ lạc tại đầu phía nam đảo Giang Hoa (江華島), nay Phật tử vẫn còn được viếng tháp của sư ở nơi đây. Có một luận án tiến sĩ phân tích hành trạng và tác phẩm của Hàm Hư của Muller (1993); và bản dịch của Muller (1999) về luận giải kinh Viên Giác của Hàm Hư.
Hàm Hư Đường Đắc Thông Hoà thượng ngữ lục 涵虚堂得通和尚語録; C: hánxūtáng détōng héshàng yŭlù; J: kankodō tokutsū ōshō goroku; K: hamhŏ tang tŭkt'ong hwasang ŏrok;|Tóm tắt tiểu sử của Thiền sư Hàn Quốc Hàm Hư Đắc Thông (1376-1433).
Hán 漢; C: hàn; J: kan;|1. Tên một con sông ở Trung Hoa; 2. Một người, một thiếu niên, xuất phát từ cách gọi thông tục thời xưa »một người gốc Hán«; 3. Dân tộc Hán, chủng tộc của những người được đồng nhất với dân tộc Trung Hoa; 4. Một triều đại ở Trung Hoa. Tiền Hán từ 206 trước CN-8 sau CN. Hậu Hán từ 25-220 sau CN; 5. Nước Trung Hoa; 6. Trong ngôn ngữ thiền chỉ cho một người, một gã, một kẻ.
Hân 欣; C: xīn; J: gon; |1. Mong muốn, hi vọng, mong mỏi, ao ước; 2. Vui lòng, hạnh phúc, thích thú.
Hân lạc 欣樂; C: xīnlè; J: gongyō;|1. Mong cầu niềm vui; 2. Niềm hân hoan, hạnh phúc, khoái cảm (prasanna-citta).
Hàn Sơn 寒山; C: hánshān; J: kanzan; tk. 7;|Một dị nhân trong Phật giáo Trung Quốc đời Ðường. Ông thường được nhắc đến cùng với Thập Ðắc và Thiền sư Phong Can. Cả ba vị đều là những nhân vật độc đáo trong lịch sử Thiền tông, tạo thành một trong những đề tài hấp dẫn của lối vẽ tốc hoạ bởi các nghệ sĩ thiền. Những bài thơ của Hàn Sơn khắc trên vách đá được sưu tầm và lưu truyền dưới tên Hàn Sơn thi.|Ông là một thi sĩ sống ẩn dật cơ hàn trong một hang đá núi Thiên Thai, thường đến viếng Thiền sư Phong Can (豐干; c: fēnggān; j: bukan) ở chùa Quốc Thanh. Nơi đây ông gặp Thập Ðắc, một người phụ bếp trong chùa. Thập Ðắc (拾得, Thập Ðắc có nghĩa là »lượm được«; c: shide; j: jittoku) hay để dành thức ăn còn sót lại trên bàn của chư tăng cho ông. Ông thường đi tới đi lui ở hành lang, thỉnh thoảng kêu to một mình rồi tự than: »Khổ quá! Khổ quá! Họ cứ lăn trôi mãi trong tam giới« và khi bị đuổi đi thường vỗ tay cười lớn rời chùa.|Về Thập Ðắc thì cũng không ai biết gì, chỉ rõ là ông bị bỏ rơi lúc còn nhỏ trong rừng, được Phong Can – vị trụ trì tại chùa Quốc Thanh – tìm thấy và bồng về chùa nuôi dưỡng. Phong Can thì nổi danh vì sư cảm hoá được cả cọp, xung quanh am của sư có cọp dữ qua lại và vì vậy, sư thường được trình bày dưới dạng cưỡi cọp trong các bức tranh.|Một hôm Thập Ðắc quét sân chùa, vị sư trụ trì hỏi: »Chú tên là Thập Ðắc vì Phong Can mang chú về. Vậy chú tên họ là gì? ở đâu đến?« Thập Ðắc nghe hỏi vậy liệng cây chổi và đứng khoanh tay trước ngực. Sư trụ trì không hiểu. Hàn Sơn chợt đi ngang qua, đấm ngực kêu: »Ối! Ối!« Thập Ðắc hỏi: »Làm gì thế, huynh?« Hàn Sơn bảo: »Chú có biết nói: ›Nhà hàng xóm chết, người hàng xóm chia buồn, không?‹« Rồi cả hai cùng nhảy múa, vừa la vừa cười bỏ đi.|Trong lời dẫn của tập Hàn Sơn thi, Lưu Khâu Dận – một vị quan mộ đạo tại Ðài Châu – có ghi lại chút ít về Hàn Sơn và Thập Ðắc. Khi được Phong Can chữa khỏi bệnh, ông hỏi: »Vùng này có vị nào mà tôi có thể theo học được chăng?« Phong Can đáp: »Ai nhìn họ thì không nhận ra, ai mà nhận ra họ thì không cần nhìn. Nếu ông muốn yết kiến thì không nên tin vào cặp mắt thịt – và sẽ nhận ra họ. Hàn Sơn là Văn-thù, ẩn cư trên chùa Quốc Thanh, Thập Ðắc là Phổ Hiền, trông giống như một gã ăn xin, phong cách như cuồng…«.||H 26: Hàn Sơn và Thập Ðắc, tranh của Châu Văn (周文; j: shūbun, ?-1460), một hoạ sĩ người Nhật.|Nghe như vậy, Lưu Khâu liền đến chùa Quốc Thanh tìm hai vị. Vừa thấy mặt, ông làm lễ cung kính. Việc này làm các vị sư trong chùa ngạc nhiên, hỏi: »Ðại nhân sao lại lễ các gã ăn xin này?« Hàn Sơn và Thập Ðắc liền cười to và nói: »Phong Can này lắm chuyện, đáng bị quở phạt vụ này.« Cả hai chạy trốn thật nhanh, không ai theo kịp. Khi Lưu Khâu đến tìm cúng dường lần nữa thì gặp Hàn Sơn và Hàn Sơn thấy ông liền la lớn: »Các ngươi hãy cố gắng!« Nói xong, ông lui vào một hang đá không bao giờ trở ra nữa, Thập Ðắc cũng mất tích luôn. Sau đây là một bài thơ của ông (Trúc Thiên & Tuệ Sĩ dịch):|憶得二十年。徐歩國清歸|國清寺中人。盡道寒山癡|癡人何用疑。疑不解尋思|我尚自不識。是伊爭得知|低頭不用問。問得復何爲|有人來罵我。分明了了知|雖然不應對。却是得便宜|Ức đắc nhị thập niên|Từ bộ Quốc Thanh quy|Quốc Thanh tự trung nhân|Tận đạo Hàn Sơn si|Si nhân hà dụng nghi|Nghi bất giải tầm ti|Ngã thượng tự bất thức|Thị y tranh đắc tri|Đê đầu bất dụng vấn|Vấn đắc phục hà vi|Hữu nhân lai mạ ngã|Phân minh liễu liễu tri|Tuy nhiên bất ứng đốI|Khước thị đắc tiện nghi.|Nhớ hai mươi năm trước|Thả bộ Quốc Thanh về|Trong chùa ai cũng nói|Hàn Sơn là gã si|Người si cần chi nghi|Nghi không hiểu tầm ti (tư)|Riêng ta còn chẳng biết|Thì y biết nỗi gì|Cúi đầu đừng hỏi nữa|Hỏi được lại làm chi?|Có người đến chửi ta|Ta biết rõ tức thì|Tuy nhiên không ứng đối|Thế mà được tiện nghi|Sự trầm tĩnh khinh an, tự tín bất động xuất phát từ hai nhân vật này cho thấy rằng, nó chỉ có thể là biểu hiện từ tâm giác ngộ. Tự mình tu tập, chẳng theo tông phái nào, cũng chẳng sống trong chùa theo luật chật hẹp mà vẫn đi trên Phật đạo, »cuồng điên« nhưng trí huệ lại cao siêu xuất thế. Có lẽ vì sự dung hoà của những kiến giải mâu thuẫn người ta tìm được ở hai đại nhân này mà hình tượng của họ đã và vẫn còn gây nhiều cảm hứng cho những người cư sĩ mộ đạo, trở thành những đề tài bất hủ trong nghệ thuật giới thiền.
Hàng Châu Thiên Long 杭州天龍; C: hángzhōu tiānlóng; J: kōshū tenryū; ?-?;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðại Mai Pháp Thường và là thầy truyền »Thiền một ngón tay« cho Thiền sư Kim Hoa Câu Chi.
Hành 行; S: saṃskāra; P: saṅkhāra;|1. Theo Ấn Ðộ giáo thì saṃskāra có nghĩa là »ấn tượng,« »hậu quả,« được dùng chỉ những ấn tượng, khả năng tiềm tàng trong thâm tâm. Những saṃskāra này được hình thành qua những hành động, ý nghĩ, kể cả những hành động trong những tiền kiếp. Tất cả những saṃskāra này tạo thành thân thể con người, tạo thành cái mà người ta thường gọi là »bản năng«.|2. Thuật ngữ quan trọng của đạo Phật. Hành được xem là một ý định, một chủ tâm có thể dẫn tới một tạo tác. Chủ động tạo tác là Hành mà thể thụ động của một sự việc xảy ra cũng là Hành. Hành là uẩn thứ tư trong Ngũ uẩn (五蘊; s: pañcaskandha; p: pañcakhan-dha) và là yếu tố thứ hai trong Mười hai nhân duyên (s: pratītyasamutpāda; p: pa-ṭicca-samuppāda). Hành bao gồm tất cả các chủ tâm trước khi một hành động được hình thành. Vì hành động bao gồm Thân, khẩu, ý nên người ta cũng phân biệt Hành thuộc thân, khẩu hay ý. Hành mang lại một sự tái sinh (được hiểu là một hành động hay cả một cuộc đời), không có Hành thì không có Nghiệp và không có tái sinh. Hành quyết định phương thức tái sinh vì hành có tốt, có xấu. Hành sinh Thức (識; s: vijñāna; p: viññāṇa) và chính thức này đi tìm cha mẹ để tái sinh và quyết định thể tính của con người mới.
Hành cước 行腳; J: angya;|Nghĩa là đi chu du đây đó tham học; có hai loại hành cước: 1. Các chuyến hành trình của thiền sinh trẻ và 2. Các cuộc tham vấn, đọ sức, trau dồi kinh nghiệm sau khi ngộ đạo.|Thực hiện các cuộc hành cước loại thứ nhất là các vị đã chấm dứt giai đoạn sơ khởi trong các Thiền viện nhỏ, đi cầu học với các Thiền sư đại gia với hi vọng được thu nhận làm môn đồ (Quải tích). Các chuyến đi đó thường thường rất xa, nhọc nhằn và nguy hiểm, là những thử thách thể chất và tinh thần các thiền sinh. Qua việc gặp nhiều hiểm nguy và cảnh ngộ khác nhau, thiền sinh tập luyện một tâm thức dày dặn và tỉnh giác. Hành lí thường là một cái nón vành rộng, nhằm che mắt để thiền sinh bớt rong ruổi theo cảnh tượng bên ngoài. Ngoài ra thiền sinh có một túi nhỏ đựng quần và giày vải. Trên ngực, thiền sinh mang hai bộ áo, mùa hè và mùa đông, đũa ăn cơm, Bát khất thực, dao cạo râu và vài bộ kinh. Trên lưng là áo mưa lá. Một khi thiền sinh đã vượt qua bao gian nan đến nơi, các vị này hay bị từ chối không cho vào, mục đích là thử thách lòng kiên trì. Có khi các vị phải đứng hàng ngày trời chờ đợi, trong mưa gió lạnh lẽo rồi mới được cho vào. Sau đó các vị phải toạ thiền hàng tuần trong sự cô tịch trước khi chính thức được thâu nhận làm đệ tử. Câu chuyện sau – được Thiền sư Chí Minh ghi lại trong Vườn thiền rừng ngọc (Thiền uyển dao lâm, bản dịch của Thông Thiền) – trình rõ những thử thách khó khăn mà thiền sinh phải vượt qua trước khi được thu nhập làm môn đệ:|»Hoà thượng Diệp Huyện Quy Tỉnh (nối pháp Thủ Sơn Tỉnh Niệm) tính tình nghiêm khắc lạnh lùng, cuộc sống đạm bạc khô khan khiến cho thiền sinh rất kính sợ. Có hai vị thiền sinh là Phù Sơn Pháp Viễn và Thiên Y Nghĩa Hoài riêng đến tham vấn. Gặp lúc mùa đông tuyết rơi, Thiền sư Tỉnh quở mắng thậm tệ rồi lấy nước tạt ướt cả áo quần của chúng tăng. Các vị tăng khác đều giận mà bỏ đi, chỉ còn hai vị Viễn và Hoài ở lại. Họ để nguyên y phục rồi ngồi đợi từ sáng đến trưa, Thiền sư Quy Tỉnh đến quở rằng: ›Các ngươi chẳng chịu đi, ta sẽ đánh các ngươi!‹ Viễn đến trước mặt Quy Tỉnh thưa: ›Hai đứa con đi từ ngàn dặm đến để tham học với Hoà thượng, há vì một gáo nước của Thầy tạt mà bỏ đi. Nếu Thầy có đánh chết, con cũng chẳng chịu đi.‹ Quy Tỉnh cười nói: ›Hai ông muốn tham thiền ư? Hãy vào nhà cất hành lí.‹«|Thuộc vào loại thứ hai là các chuyến hành cước sau khi đạt đạo, khi các vị Thiền sư muốn trau dồi kinh nghiệm giác ngộ với những bậc thượng thủ khác trước khi trụ trì hoằng hoá chúng. Chính những cuộc tiêu diêu du và những Pháp chiến sản sinh từ đây là một trong những điểm đặc sắc nhất của Thiền tông. Các Ðại thiền sư như Triệu Châu Tòng Thẩm, Vân Môn Văn Yển, Lâm Tế Nghĩa Huyền, Tam Thánh Huệ Nhiên, Ngưỡng Sơn Huệ Tịch… đều diêu du đây đó sau khi đã đắc đạo nơi Bản sư. Các cuộc đọ sức của Triêụ Châu với các đệ tử đắc pháp của  Mã Tổ vẫn còn vang vọng đến ngày nay.
Hành Phật 行佛; J: gyōbutsu; nghĩa là »hành động như Phật«;|Danh từ được dùng để chỉ sự chú tâm tuyệt đối vào việc tu tập để Kiến tính, ngộ đạo.
Hành Tư 行思|Thanh Nguyên Hành Tư.
Hành, trụ, toạ, ngọa 行住坐臥; J: gyō-jū-za-ga; nghĩa là đi-đứng-ngồi-nằm, cũng được gọi là bốn uy nghi (四威儀; tứ uy nghi);|Biểu thị này muốn nói rằng, hành giả tham thiền phải thiền trong tất cả hành động hằng ngày như đi, đứng, ngồi, nằm.|Ði-đứng-ngồi-nằm ở đây có nghĩa là: tâm niệm (chú tâm) tuyệt đối trong lúc thực hành bốn uy nghi và nói chung là trong lúc thực hành bất cứ việc gì, trong mọi hành động.|Câu chuyện sau đây của Ðại thiền sư Nhật Bản Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun, 1394-1481) nêu rõ sự quan trọng này:|Một hôm, một ông khách đến tham vấn: »Thỉnh Hoà thượng viết vài quy tắc cơ bản để đạt trí huệ.« Sư cầm bút lên viết ngay: »Tâm niệm.« Ông ta hỏi: »Chỉ vậy thôi sao, Hoà thượng còn gì viết thêm không?« Sư viết hai lần liên tiếp: »Tâm niệm, tâm niệm.« Ông khách bảo: »Chẳng thấy trí huệ sâu sắc cao cả gì ở đây.« Sư lại viết ba lần liên tiếp: »Tâm niệm, tâm niệm, tâm niệm.« Ông khách nổi cáu, hỏi: »Tâm niệm có nghĩa gì?« Sư trầm tĩnh đáp: »Tâm niệm là tâm niệm.«
Hào 毫; C: haó; J: gō;|1. Lông dài nhỏ và nhọn; lông măng; 2. Đầu mút của ngọn bút lông; Một phần ngàn của một ounce; 4. Lông tơ trên cây cối; 5. Một nguyên tử.
Hào li 毫釐; C: haólí; J: gōri;| Một đơn vị rất nhỏ. Rất nhỏ. Số dây bằng tơ từ miệng tằm nhả ra với một độ dày được gọi là một Mịch (糸), Mười mịch là một hào (毫), 10 hào là một li (釐). Một từ ngữ chỉ cho sự nhỏ bé hoặc không quan trọng.
Hào li thiên lí 毫釐千里; C: haólí qiānlĭ; J: gōrisenri;|Sự lệch lạc dù nhỏ nhất lúc ban đầu sẽ dẫn đến sự lạc đường cả ngàn dặm.
Hát 喝; C: »Ho!«, »Hè!«; J: »Katsu!«;|Một tiếng hét không có ý nghĩa cụ thể, được các vị Thiền sư sử dụng làm phương tiện để hoằng hoá như một cây gậy, Phất tử. Tiếng hét này cũng được chư vị sử dụng để trình bày kinh nghiệm chứng ngộ của mình, sử dụng như một phương tiện chuyển hoá tất cả những văn tự ngôn ngữ bình thường. Như một cây gậy được vung lên đúng lúc, một tiếng hét hợp thời điểm có thể là một yếu tố dẫn thiền sinh đến kinh nghiệm Kiến tính.|Theo truyền thuyết thì người đầu tiên sử dụng tiếng hét để giáo hoá chúng là Mã Tổ Ðạo Nhất, một vị Thiền sư nổi danh với giọng hét như sấm. Tương truyền rằng, Thiền sư Bách Trượng nghe tiếng hét của Mã Tổ mà ù tai ba ngày. Cũng nổi danh không kém Mã Tổ trong việc sử dụng tiếng hét – và thêm vào đó là cây gậy (Bổng hát) – là sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. |Lâm Tế phân biệt bốn loại hét (tứ hát) sau: 1. Tiếng hét như bảo kiếm của vua Kim cương; 2. Tiếng hét như bốn vó của Kim mao sư tử đang vồ trụ đất; 3. Tiếng hét như cần câu quơ bóng cỏ và 4. Tiếng hét mà không có tác dụng của tiếng hét.|Lâm tế lục ghi lại rất nhiều trường hợp sư sử dụng tiếng hét. Sau đây là hai ví dụ (bản dịch của Thích Duy Lực):|»Tăng hỏi: ›Sư tuyên nói gia khúc tông phong ai? Nối pháp vị nào?‹ Sư đáp: ›Ta ở nơi Hoàng Bá ba lần hỏi Phật pháp, ba lần bị đánh.‹ Tăng do dự muốn nói. Sư bèn hét rồi nói rằng: ›Không lẽ hướng vào Hư không mà đóng đinh chăng?‹«.|»Tăng hỏi: ›Thế nào là đại ý Phật pháp?‹ Sư không đáp, dựng đứng Phất tử. Tăng bèn hét. Sư cũng hét. Lúc ấy, vị tăng do dự, sư bèn đánh.«
Hạt 曷; C: hé; J: katsu; |Tại sao? Thế nào? Khi nào?
Hỉ 喜; S, P: muditā;|Một trong Bốn phạm trú. Hỉ là niềm vui theo với hạnh phúc của người khác. Tu dưỡng tâm hỉ là nhằm đối trị tâm ganh ghét và nhằm xóa dần ranh giới giữa ta và người. Hỉ là một trong bốn tâm vô lượng của một đức Phật, đó là tâm đại hỉ khi thấy có ai rời bỏ được Khổ và Luân hồi.
Hi Dương sơn 曦陽山; C: xīyángshān; J: giyōsan; K: hŭiyangsan;|Hi dương tông, một trong 9 tông phái Phật giáo Hàn Quốc thời xưa, do Pháp Lãng (法朗, k: pŏmnang) và Trí Sân Đạo Hiến (智詵道憲, k: chisŏn tohŏn) sáng lập
Hi Thiên 希遷|Thạch Ðầu Hi Thiên.
Hi Vận 希運|Hoàng Bá Hi Vận.
Hiền kiếp kinh 賢劫經; S: bhadrakalpika-sūtra; có nghĩa là kinh của kiếp hạnh phúc;|Kinh Ðại thừa, nói về 1000 vị Phật sẽ ra đời trong »hiền kiếp« này, trong đó đức Thích-ca Mâu ni là vị thứ tư, vị thứ năm là Di-lặc, Phật sẽ ra đời. Kinh này là đặc trưng các kinh nói về cuộc đời chư Phật, Bồ Tát, Thánh hiền… trong Phật giáo.
Hiện Quang 現光; ?-1221|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 14, là vị Tổ khai sơn của phái Yên Tử thời nhà Trần sau này. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Trí Thông và sau truyền lại cho đệ tử là Ðạo Viên.|Sư tên tục là Lê Thuần, quê ở thành Thăng Long, mồ côi từ nhỏ. Năm 11 tuổi, Sư được Thiền sư Thường Chiếu đem về nuôi nhưng chưa ngộ được ý chỉ thì Thường Chiếu đã viên tịch.|Sư dạo khắp nơi cầu đạo và khi đến chùa Thánh Quả, nơi Thiền sư Trí Thông trụ trì, Sư nhân một câu bỗng tỉnh ngộ, ở lại đây hầu hạ một thời gian. Sau đó, Sư lui vào núi Uyên Trừng, phủ Nghệ An sống ẩn dật và sau này lại đến núi Yên Tử cất am cỏ ở dưỡng già. Vua Lí Huệ Tông rất kính trọng đạo hạnh của Sư, sắp bày đủ lễ đón tiếp nhưng Sư một mực từ chối.|Mùa xuân năm Tân Tị, niên hiệu Kiến Gia thứ 11 đời Lí Chiêu Hoàng, Sư ngồi ngay thẳng trên một tảng đá nói kệ:|幻法皆是幻。幻修皆是幻|二幻皆不即。即是除諸幻|Huyễn pháp giai thị huyễn|Huyễn tu giai thị huyễn|Nhị huyễn giai bất tức|Tức thị trừ chư huyễn|*Huyễn pháp đều là huyễn|Huyễn tu đều là huyễn|Hai huyễn đều chẳng nhận|Tức là trừ các huyễn.|Nói kệ xong, Sư an nhiên thị tịch. Ðệ tử là Ðạo Viên thực hành đầy đủ lễ táng trong núi.
Hiện thân 現身; hoặc Hiện tướng;|Là Hiện thân của những vị Hộ thần (s: iṣṭadevatā), Bồ Tát (s: bodhisattva), nói chung là tất cả những vị được tôn thờ trong Ðại thừa Phật giáo. Ðặc biệt trong truyền thống Phật giáo tại Tây Tạng, người ta thường thấy hai cách trình bày hiện thân của một vị, đó là dạng phẫn nộ (s: krodha) và tịch tịnh (s: śānta). Ví dụ như Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara) dưới dạng tịch tịnh và Ma-ha Ka-la (s: mahākāla) trong trạng thái phẫn nộ. Trong những Nghi quỹ (s: sādha-na), hiện thân của một vị Hộ thần dưới hai dạng nêu trên là biểu tượng của hai loại Chủng tử tương ưng trong tâm của người tu tập: 1. Thanh tịnh và 2. Hung hăng, phá hoại.|Như vị Thiền sư hiện đại người Tây Tạng là Chog-yam Trung-pa nói, »phẫn nộ« ở đây không nên hiểu là một tâm trạng, cảm xúc phụ thuộc vào cái tự ngã và »phá hoại« »hung hăng« ở đây cũng không nên hiểu theo lẽ »bất thiện« thông thường. Những năng lượng tiềm tàng được biểu hiện qua các vị phẫn nộ cũng rất có ích và cần thiết trong quá trình tu chứng như những vị tịch tịnh. Cái được tiêu huỷ, phá hoại ở đây chính là những Ảo ảnh gây chướng ngại trên con đường đạt giải thoát và chủ thể đang sợ hãi, cảm thấy bị công kích chính là cái ngã – đúng hơn là cái huyễn ngã chưa từng có thật – của hành giả. Sự tôn sùng các vị dưới hai dạng tại Tây Tạng – không phân biệt tốt xấu theo lẽ thường – cũng thường gây sự hiểu lầm rằng, Phật tử ở đây »tôn thờ quỷ thần ngoại đạo«|Song song với Phật gia (s: buddhakula), Kim cương thừa (s: vajrayāna) cũng thừa nhận và tôn sùng »100 gia đình của chư vị hộ thần cao quý tịch tịnh và phẫn nộ.« 100 vị này tường được nhắc đến trong Tử thư và là một phần của giáo lí Ma-ha du-già (s: mahāyoga) được Liên Hoa Sinh (s: padma-sambhava) Ðại sư truyền sang Tây Tạng. Các vị Hộ thần này được xếp vào hai Man-đa-la và hai Man-đa-la này được xem như là sự mở rộng của Phật gia – vốn đã bao gồm năm vị Phật.
Hiền Thủ Pháp Tạng 賢首法藏; 643-712|Ðại sư Trung Quốc, Tổ thứ ba của Hoa nghiêm tông.|Sư người nước Khang Cư (sogdian), cha làm quan cho triều đình Trung Quốc. Một hôm người mẹ nằm mộng thấy mình nuốt mặt trời, mặt trăng và sau đó thụ thai Sư. Năm 16 tuổi, Sư đốt một ngón tay cúng dường chư Phật để tỏ lòng thành cầu đạo của mình. Năm 17 tuổi, Sư đi đi đây đó tìm thầy học đạo nhưng không gặp ai có thể truyền diệu pháp và vì vậy Sư vào núi sống ẩn dật, kham khổ tu tập. Một đêm Sư mơ thấy hào quang sáng chói, tự nghĩ »Phải có một vĩ nhân thuyết pháp gần đây«. Sáng hôm sau Sư đến một ngôi chùa gần đó nghe Trí Nghiễm Pháp sư giảng Hoa nghiêm kinh. Nghe xong Sư vui mừng và trở thành môn đệ của ông. Nhờ sự tận tình chỉ dạy của Trí Nghiễm, Sư hội được yếu chỉ Hoa nghiêm tông.|Năm Ất Mùi (695), Vũ Hậu thỉnh Sư vào cung thuyết giải Hoa nghiêm kinh. Sư đang thuyết thì hào quang từ miệng thoát ra. Vũ Hậu chứng kiến việc này vui mừng, liền ban hiệu là Hiền Thủ. Sư thuyết giải rất nhiều lần kinh Hoa nghiêm, Nhập Lăng-già, Ðại thừa khởi tín luận, Phạm võng… và viết nhiều luận chú giải với bài nổi tiếng nhất thời đó là Tâm kinh lược sớ. Sư cũng giúp Huyền Trang dịch kinh sách nhưng việc này không kéo dài vì quan niệm khác biệt của hai trường phái.|Năm Tiên Thiên thứ nhất, Sư thị tịch. Vì công lớn của Sư trong việc làm hưng thịnh tông Hoa nghiêm nên sau này người ta cũng gọi tông này là Hiền Thủ tông và xem Sư là vị Tổ thứ nhất.
Hiệp chưởng 合掌; J: gasshō;|Chắp hai tay trước ngực, một cách chào hỏi của các dân tộc Á châu (ấn hiệp chưởng, Ấn).|Khi chắp tay lại, người ta có thể cảm nhận được – dù chỉ là một khoảnh khắc – âm dương dung hoà, trí phân biệt gián đoạn.
Hổ Khâu Thiệu Long 虎丘紹隆; C: hǔqiū shàolóng; J: kukyū jōryū; 1077-1136;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế đời thứ 12, phái Dương Kì. Sư là pháp tự của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần.|Sư quê ở Hàm Sơn, xuất gia lúc 9 tuổi, tu học dưới nhiều thầy rồi sau đó mới đến yết kiến Viên Ngộ. Viên Ngộ gặp Sư liền hỏi: »Kiến kiến chi thời, kiến phi thị kiến, kiến do li kiến, kiến bất năng cập« (Thấy mà có tướng Thấy, cái Thấy đó chẳng phải là Tính thấy, cái Thấy mà do lìa tướng Thấy mới là cái Tính thấy siêu việt), rồi đưa nắm tay lên hỏi: »Thấy chăng?« Sư thưa: »Thấy.« Viên Ngộ bảo: »Trên đầu lại để đầu.« Sư nghe câu này bỗng tỉnh. Viên Ngộ quở: »Thấy cái gì?« Sư bèn thưa: »Tre dầy chẳng ngại nước chảy qua.« Viên Ngộ hài lòng.|Sau Sư đến Hổ Khâu dạy chúng. Nơi đây, đạo rất được mộ, chúng rất thịnh hành. Khoảng niên hiệu Thiệu Hưng, Sư có chút bịnh rồi tịch.
Hô kim cương tan-tra S: hevajra-tantra;|Một Tan-tra được biên soạn trong thế kỉ thứ 9, được xếp vào hạng Vô thượng du-già tan-tra. »He-vajra« có thể dịch là »Hô, xin chào! Chân như tuyệt đối!« Tan-tra này được nhiều Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) tu luyện và là Tan-tra Phật giáo được nghiên cứu kĩ nhất tại Tây phương.
Hô-ma 呼魔 (麼); C: hūmó; J: koma;|Phiên âm chữ homa từ tiếng Phạn, Hộ-ma (護摩).
Hộ Pháp 護法; S: dharmapāla; P: dhammapāla;|1. Người bảo vệ chính pháp. Trong Kim cương thừa (s: vajrayāna), người ta tin rằng có một số thiên nhân chuyên bảo vệ chính pháp. Hành giả hành trì Nghi quỹ (s: sādha-na), tụng đọc Man-tra thì được các vị đó bảo hộ. Bên cạnh các vị Hộ Pháp chính thống như Ma-ha Ca-la (s: mahākāla, nghĩa là Ðại Hắc, 大黑) – được xem là một dạng xuất hiện của Quán Thế Âm – người ta còn kể thêm các vị Hộ Thế (護世; s: lokapāla), là các vị thần thệ nguyện theo Phật.|Ðối với hành giả của Kim cương thừa thì các vị Hộ Pháp chuyên trách bảo vệ họ trước những hiểm nguy và ảnh hưởng xấu liên quan đến chuyện tu học. Tuy nhiên các hành giả đó phải được chân truyền sự hỗ trợ từ vị thần bảo hộ, Hộ Thần (t: yidam) của mình. Vị Ðại Hắc (s: mahākāla), Hộ Pháp của tông Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Ðạt-lại Lạt-ma thường được trình bày như một vị thần cao lớn, da đen. Vị này có bốn trách nhiệm lớn đối với trở ngại khó khăn của người tu hành: điều phục, giúp đỡ, thu hút, huỷ diệt. Các vị Hộ Thế trong Phật giáo Tây Tạng được chinh phục – theo truyền thuyết – là nhờ công của Ðại sư Liên Hoa Sinh. Ðó là các vị thần của đạo Bôn (t: bon) đã được điều phục thành các vị phục vụ Phật pháp. Các vị đó thường là hiện thân của các lực lượng thiên nhiên. Người ta còn nhắc đến các vị Hộ Thế Tứ thiên vương. Các vị này xuất hiện từ lâu trong tranh tượng Ấn Ðộ và cũng được tôn thành Hộ Pháp.||H 27: Hộ Pháp.|2. Luận sư của Duy thức tông (s: vijñāna-vāda), sống trong thế kỉ thứ 6-7 sau Công nguyên, môn đệ của Trần-na (s: dignāga) và về sau trở thành viện trưởng của viện Na-lan-đà (s: nālandā). Sau đó Sư đến Giác Thành (bodh-gayā) và trở thành viện trưởng viện Ðại Bồ-đề (s: mahābodhi). Sư mất năm 32 tuổi. Hầu như mọi tác phẩm của Sư đều thất lạc cả.|Sư viết luận giải về Bách luận (s: śataśāstra) của Thánh Thiên (s: āryadeva), về Duy thức nhị thập tụng (s: viṃśatikāvijñap-timātratākārikā) của Thế Thân (s: va-subandhu). Tư tưởng luận giải của Sư còn được tìm thấy trong tác phẩm Thành duy thức luận của Huyền Trang. Hộ Pháp và các môn đệ nhấn mạnh tính »duy tâm« (s: citta-mātra) tuyệt đối của Duy thức học, cho rằng thế giới »không gì khác hơn là sự tưởng tượng.«|3. Hộ Pháp, Cao tăng Tích Lan (1865-1933), sáng lập hội Ðại Bồ-đề (mahābodhi society) năm 1891 nhằm phục hưng viện Ðại Bồ-đề tại Giác Thành. Sư là tăng sĩ đầu tiên của thời cận đại tự nhận mình là một người Vô gia cư (s: anāgārika; xem Khất sĩ). Năm 1925, Sư sáng lập hội Ðại Bồ-đề ở Anh, London.
Hộ Thần 護神; S: sādhita, iṣṭadevatā; T: yidam; E: deity; cũng có thể gọi là Thiên thần (天神);|Thần hộ vệ người tu tập trong hệ thống Tan-tra, Vô thượng du-già; là linh ảnh biểu hiện của một Nghi quỹ (s: sādhana). Những Hộ Thần này được tạo bằng sức mạnh quán tưởng của một người tu luyện Nghi quỹ (s: sādhaka, tantrika) và chỉ có người này mới thấy được »sự sống« của linh ảnh này. Hộ Thần là hình ảnh tưởng tượng, là những »thần hỗ trợ như ý« đi theo hộ vệ người đã tạo ra họ (s: sādhaka). Khi một người tu tập tạo ra một Hộ Thần, người ta có thể hiểu rằng, người ấy muốn Hộ Thần này truyền lại tất cả những năng lượng tiềm tàng trong nghi quỹ đang được tu luyện.|Những Hộ Thần thường được nhắc đến mang tên của những Tan-tra quan trọng nhất, đó là Bí mật tập (s: guhyasamāja), Cha-kra sam-va-ra (»Người chặn đứng bánh xe«, bánh xe đây là Vòng sinh tử), Hô kim cương (s: hevajra; còn được gọi là Hê-ru-ka; t: heruka) và Thời luân (s: kālacakra). Trong tranh tượng, các vị Hộ Thần thường được trình bày dưới hai dạng, tịch tịnh (s: śānta) và phẫn nộ (s: krodha). Trong cả hai trường hợp, những vị này luôn luôn cũng được diễn tả với một nữ nhân, một Du-già-ni (s: yoginī) trong tư thế giao phối (s: yuganaddha; t: yab-yum).|Trong Kim cương thừa tại Tây Tạng, Hộ Thần là một vị thần dành riêng cho mỗi người; vị này phải phù hợp với căn cơ và tâm lí của hành giả. Hộ Thần là dạng xuất hiện của Báo thân (s: saṃbhogakāya), phải được hình dung thành linh ảnh trong các Nghi quỹ – tức là phải được nhìn bằng nội quán. Hộ Thần có thể có những hình tượng hiền từ hoặc phẫn nộ khác nhau, mỗi vị thuộc về một vị Phật trong hệ thống Ngũ Phật. Tại Tây Tạng, những vị Hộ Thần phổ biến nhất là Quán Thế Âm (t: chen-resi), vị nữ thần Ða-la (s: tārā) và những vị được truyền trong các bộ Tan-tra cực kì bí mật như »Lợn kim cương« (金鋼母豬; Kim cương mẫu trư; t: dorje phagmo).|Khác với truyền thống Tan-tra của Ấn Ðộ giáo, Phật giáo Tây tạng không xem Hộ Thần là người chuyên trách bảo vệ mình, các vị chỉ là những biểu tượng nói lên tính cách riêng của mỗi hành giả và tính cách đó chính là phương tiện để chuyển hoá tâm thức. Hộ Thần cũng là mối nối giữa hành giả và dòng tu và giáo pháp của dòng đó.|Hộ Thần cũng được chia thành nhiều loại có tên khác nhau, mỗi loại có một tính chất riêng:|Nam Hộ Thần (chủ từ bi):|hiền từ: Bà-già-phạm (s: bhagavat);|nghiêm nghị: Không hành nam (s: ḍāka); |phẫn nộ: Hê-ru-ka (s: heruka).|Nữ Hộ Thần (chủ trí huệ): |hiền từ: Bà-già-bà-đề (s: bhagavatī)|nghiêm nghị và phẫn nộ: Không hành nữ (s: ḍākinī).|Các vị Nam và Nữ Hộ Thần cũng thường được trình bày trong tư thế giao phối (Yab-yum) như vị Nam Hộ Thần Cha-kra sam-va-ra và Nữ Hộ Thần Kim Cương Bhai-ra-va (s: vajrabhairava) và từ đó phát sinh ra nhiều biểu tượng cực kì phức tạp.
Hộ thế giả 護世者; S, P: lokapāla;|Tên gọi chung của bốn vị Thiên vương, bốn vị thần thủ hộ thế giới.
Hoá 化; C: huà; J: ke; |Có các nghĩa sau: 1. Dạy dỗ, hướng dẫn (s: asādhya); 2. Điều hoà; 3. Biểu lộ thông qua sự chuyển hoá (s: nirmāṇa); 4. Tái sinh; 5. Hoá thân Phật (nirmāṇa-kāya); 6. Sự qua đời của một cao tăng.
Hoà 和; C: hé; J: wa;|1. Hoà dịu, uyển chuyển, hoà nhã, mềm dẻo, ngoan ngoãn; 2. Hoà hợp, thích nghi, hoà thuận, hoà điệu (trong âm nhạc cũng như cách dùng trong thành ngữ); 3. Hài hoà, sự hoà thuận, sự hoà giải.
Hoa đạo 花道; J: kadō;|Một trong những phương pháp tu luyện tâm thức xuất phát từ Thiền tông Nhật Bản. Hoa đạo ở đây có một ý nghĩa cao xa, tổng quát hơn là nghệ thuật cắm hoa, trưng bày. Hoa đạo là một phương pháp tiêu diệt ranh giới giữa chủ thể và khách thể, »Ta chính là hoa và hoa chẳng khác ta«. Ðây là một cách tu luyện rất hay cho những người có chút ít hiểu biết về thẩm mĩ.
Hoá đạo 化道; C: huàdào; J: kedō; |Dạy dỗ và khuyến hoá chúng sinh, dẫn dắt họ đến bờ giải thoát.
Hoá địa bộ 化地部; C: huàdì bù; J: kejibu; S: mahīśāsaka;|Một tông phái Tiểu thừa, chi nhánh của Hữu bộ (有部; s: sarvāstivāda; sthavira), hình thành 300 năm sau khi Đức Phật nhập diệt. Quan điểm của phái nầy rất gần với Đại chúng bộ (大衆部; s: mahāsāṃghika), đặc biệt quan điểm về quá khứ và tương lai là không có thật, chỉ có hiện tại là có thật.
Hoá độ 化度; C: huàdù; J:; |Giáo hoá và đem đến sự cứu độ; hướng dẫn và khuyến khích, chuyển hoá đưa đến giải thoát (theo kinh Pháp hoa 法華經).
Hoá Độ tự 化度寺; C: huàdù sì; J: keto-ji; |Một ngôi chùa ở Trường An, trú sở của Vô tận tạng (無盡藏), một tổ chức từ thiện của trào lưu Tam giai giáo (三階教); chùa này vốn được gọi là Chân Tịch tự (眞寂寺).
Hoà-già-la 和伽羅; C: héqiéluó; J: wagara; S: vyākaraṇa.|Phiên âm chữ vyākaraṇa từ tiếng Phạn, một trong 12 thể loại của Kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經), nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ kí (授記).
Hoà-già-la-na 和伽羅那; C: héqiéluónà; J: wakarana; |Phiên âm chữ vyākaraṇa từ tiếng Phạn,, nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ kí (授[受] 記). Một trong 12 thể loại của Kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經)
Hoà hợp 和合; C: héhé; J: wagō; S: saṃgraha.|1. Hợp nhất, hoà hợp, kết hợp (s: samagra); 2. Sự kết hợp của nhân và duyên. Sự hội đủ của nhiều yếu tố trong sự tạo thành một thực thể đơn nhất; 3. Theo Duy thức tông, đó là nhiều loại tạo tác hài hoà với nhau, một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành.
Hoà hợp thức 和合識; C: héhéshì; J: wagōshiki; |Được đề cập trong Đại thừa khởi tín luận. Có nghĩa A-lại-da thức là nơi của bất khả tư nghì nhiễm tịnh, của ngộ và mê.
Hoà hợp tính 和合性; C: héhé xìng; J: wagō shō; S: sāma-grī.|Theo giáo lí của tông Duy thức, đó là một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành. Đề cập đến sự thiết yếu của vô số nguyên nhân kết hợp trong mối tương quan nhân quả. Vì để cho một vật hiện hữu thì phải có sự kết hợp của vô số nguyên nhân.
Hoà-la-na 和羅那; C: héluónà; J: éwarana;|Phiên âm chữ vyākaraṇa từ tiếng Phạn, nghĩa là báo trước sự chứng ngộ của đệ tử từ Đức Phật. Hán dịch là Thụ kí (授[受] 記). Một trong 12 thể loại của Kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經)
Hoá lạc thiên 化樂天; C: huàlètiān; J: kerakuten; |Tầng trời thứ 5 của Lục dục thiên (六欲天). Một cõi mà sinh thể ở đó có thể trực tiếp biến hoá những đối tượng tạo khoái lạc cho chính mình. Còn gọi là Lạc biến hoá thiên (樂變化天).
Hoà-luân 和輪; C: hélún; J: warin; |Phiên âm chữ Varuṇa từ tiếng Phạn. Xem Thuỷ thiên.
Hoà nam 和南; C: hénán; J: wanan; |Sự chào kính. Lễ bái.
Hoá nghi 化儀; C: huàyí; J: kegi; |Phương pháp, hình thức của giáo lí đạo Phật.
Hoa nghiêm kinh 華嚴經; S: avataṃsaka-sūtra;|Tên ngắn của Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh
Hoa nghiêm tông 華嚴宗; C: huáyán-zōng; J: kegon-shū;|Một tông quan trọng của đạo Phật Trung Quốc, lấy Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) làm giáo lí căn bản. Tông này do Pháp sư Hiền Thủ Pháp Tạng (賢首法藏; 643-712) thành lập. Trước đó, hai vị Ðế Tâm Ðỗ Thuận (帝心杜順; 557-640) và Vân Hoa Trí Nghiễm (雲華智儼; 602-668) đã nghiên cứu thành lập tông chỉ nên được xem là Sơ tổ và Nhị tổ của tông này. Về sau có Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán (清涼澄觀; 737-820) phát triển mạnh phái này, được xem là một hiện thân của Văn-thù (s: mañjuśrī). Tổ thứ năm của Hoa nghiêm là Khuê Phong Tông Mật (圭峰宗密; 780-841), một Ðại sư kiêm Thiền sư xuất sắc. Năm 740, Hoa nghiêm tông được Thẩm Tường (審祥) truyền qua Nhật.|Chủ trương của tông này là xem mọi vật đều bình đẳng, mọi vật đều liên hệ lẫn nhau. Giáo pháp này được gọi là »nhất thể« – vì Hoa nghiêm quan niệm rằng tất cả đều từ Một mà ra và mọi hiện tượng chẳng qua là dạng xuất hiện của cái Một đó. Ðó là các hiện tượng của Pháp giới (法界; s: dharma-dhātu), chúng cùng xuất hiện đồng thời. Tất cả các Pháp (s: dharma) đều có 6 đặc trưng (六相; Lục tướng) trong ba cặp đối xứng là toàn thể và riêng biệt; giống nhau và khác biệt; hoà nhập và riêng tư. Dạng tĩnh của Chân như (真如; s: tathatā) là tính Không (空; s: śūnyatā), tức là Lí (理), dạng động là Sự (事). Lí và Sự tương tác qua lại với nhau mà sinh ra toàn thể vạn vật.|Giáo pháp của Hoa nghiêm tông xuất phát từ quan niệm cho rằng, tất cả đều từ Pháp thân mà ra, mọi pháp trong thế gian đều phụ thuộc lẫn nhau, không có pháp nào tồn tại độc lập.|Tất cả mọi pháp đều trống rỗng, hai mặt của Không đó là tĩnh (lí) và động (sự) đều cùng lúc tồn tại, xuyên suốt vào nhau, không ngăn ngại; mỗi hiện tượng đều đồng nhất với hiện tượng khác. Quan điểm này được Pháp Tạng trình bày qua một ẩn dụ nổi tiếng: con sư tử vàng. Sư tử biểu hiện cho thế giới hiện tượng (Sự). Vàng là lí, vàng không có một dạng riêng tư, phải xuất hiện dưới một dạng nhất định, nhưng dạng nào cũng được. Mỗi một bộ phận của con sư tử đều bằng vàng. Trong mỗi bộ phận đều có cái toàn thể và ngược lại, cái toàn thể hiện lên trong mỗi bộ phận. Mỗi hiện tượng đều là thể hiện của một cái lí duy nhất và mỗi hiện tượng nói lên tất cả mọi thứ khác. Vàng và sư tử hiện diện đồng thời, phụ thuộc lẫn nhau, bao hàm lẫn nhau. Pháp Tạng cho rằng mọi hiện tượng trong thế gian đều diễn tả cái lí đó.|Hoa nghiêm tông xem mọi sự trong thế gian được bao gồm trong bốn loại Pháp giới (Tứ pháp giới) và sáu dạng xuất hiện (lục tướng). Tứ pháp giới gồm có: 1. Sự pháp giới (事法界): thế giới của mọi hiện tượng thông thường; 2. Lí pháp giới (理法界): thể chung của nguyên lí, của tự tính tuyệt đối; 3. Lí sự vô ngại pháp giới (理事無礙法界): chỉ mối liên hệ giữa hiện tượng và bản thể, sinh thành lẫn nhau, đại diện cho nhau không hề chướng ngại; 4. Sự sự vô ngại pháp giới (事事無礙法界): chỉ sự vật tuy thiên hình vạn trạng nhưng »ăn khớp« lẫn nhau, dựa lên nhau mà có.|Lục tướng là sáu mối liên hệ giữa cái toàn thể và cái riêng lẽ trên ba mặt Thể, Tướng, Dụng, được Pháp Tạng giải thích như sau: 1. Tổng tướng (總相): toàn bộ các chi tiết làm thành một tướng trạng thống nhất, ở đây được ví như toàn con sư tử; 2. Biệt tướng (別相): nói về các phần nhỏ của một Tổng tướng, các chi tiết đó đều khác với Tổng tướng, mỗi mỗi bộ phận đều có chức năng khác hẳn với Tổng tướng; Hai dạng »Tổng biệt« nói về mối tương quan về mặt nguyên lí giữa cái đơn lẽ và cái toàn thể (體; Thể); 3. Ðồng tướng (同相): tuy các bộ phận khác nhau nhưng chúng lại hoà trong một Tổng tướng, liên hệ qua lại chặt chẽ với nhau; 4. Dị tướng (異相): các bộ phận khác nhau là khác nơi tướng trạng của chúng; hai dạng »Ðồng dị« này nói về mối tương quan nơi mặt tướng trạng giữa bộ phận và toàn thể (Tướng); 5. Thành tướng (成相): sự kết hợp giữa các bộ phận để thành tổng thể; 6. Hoại tướng (壞相): mỗi bộ phận tuy là một phần của tổng thể nhưng lại có thế giới và nơi chốn riêng biệt của mình; hai dạng »Thành hoại« chỉ rõ mối liên hệ của toàn thể và cái đơn lẽ trong hoạt động và tác dụng của chúng (Dụng 用).|Tương tự như tông Thiên Thai, tông Hoa nghiêm cũng chia giáo pháp Phật Thích-ca ra nhiều thời kì, đó là năm thời giáo: 1. Thời giáo Tiểu thừa, nội dung giáo pháp chứa đựng trong các kinh A-hàm; 2. Thời giáo đầu của Ðại thừa, đó là giáo pháp của Pháp tướng tông và Tam luận tông, xem mọi pháp đều Không vì chúng dựa trên nhau mà có; 3. Thời giáo Ðại thừa đích thật là giáo pháp của Thiên Thai tông, xem mọi pháp đều là Không, nhưng chấp nhận sự trình hiện của chúng trên mặt tương đối; 4. Ðốn giáo, là giáo pháp đạt được do sự đốn ngộ mà ra, đó là trình độ của Thiền tông; 5. Viên giáo Ðại thừa, là giáo pháp của Hoa nghiêm tông.|Giáo pháp của Hoa nghiêm tông có một điểm quan trọng khác với các trường phái Ðại thừa còn lại: tông Hoa nghiêm chuyên nghiên cứu mối liên hệ giữa hiện tượng và hiện tượng, chứ không phải giữa hiện tượng và bản thể. Tông này cho rằng mọi hiện tượng đều tồn tại hoà hợp với nhau, tại vì chúng là phát biểu của một bản thể duy nhất. Chúng như những đợt sóng của một biển duy nhất. Vì thế mọi thế giới và mọi hiện tượng trong mỗi thế giới là hiện thân của một thật thể cao nhất và đồng một thể với Phật tính. |Hoa nghiêm tông (j: kegon-shū) Nhật Bản dựa trên giáo lí của Hoa nghiêm tông Trung Quốc, được Thẩm Tường (審祥; c: shěn-xiáng; j: shinshō) truyền qua Nhật năm 740. Ðại sư người Nhật đầu tiên của tông Hoa nghiêm là Lương Biện (良辨; j: roben, 689-772). |Thánh Vũ Thiên hoàng (j: shōmu, 724-748) là người muốn trị nước theo nguyên công án của tông Hoa nghiêm. Ông cho xây Ðông Ðại tự ở Nại Lương (nara), sau đổi tên là chùa Hoa nghiêm, trong đó có một tượng Phật Ðại Nhật (vairocana). Ngày nay chùa này vẫn là một trung tâm của Hoa nghiêm tông Nhật Bản. Hoa nghiêm tông đóng một vai trò quan trọng trong nền triết lí Phật giáo tại Nhật và kinh Hoa nghiêm được diễn giải để bảo vệ cho quan điểm thống nhất quốc gia.
Hoá sinh 化生; C: huàshēng; J: keshō; S: upapāduka-yoni.|Có các nghĩa sau: 1. Sinh ra một cách tự nhiên, tự mình sinh ra; 2. Sinh ra một cách tình cờ, ngẫu nhiên. Chúng sinh đột nhiên sinh ra một nơi nào đó, chẳng hạn, sự xuất hiện của loài ma; 3. Khác với các cách sinh khác (như noãn sinh 卵生, thai sinh 胎生, thấp sinh 濕生), loài chúng sinh sinh ra mà không có nguồn gốc đặc trưng. Đặc biệt liên quan đến giai đoạn trung gian sau khi chết (Trung hữu), khi chúng sinh hoá thân thành thần (a-tu-la), chư thiên và ngạ quỷ… Một trong Bốn cách sinh của các sinh thể (tứ sinh 四生).
Hoá tác 化作; C: huàzuò; J: kesa; |Có hai nghĩa: 1. Tạo ra bằng một năng lực khác thường; 2. Sự thị hiện sắc thân trong tình huống thích hợp của chư Phật và Bồ Tát để giáo hoá chúng sinh.
Hoà tán 和讚; J: wasan; nghĩa là »bài ca tán thán«;|Một một dạng tán tụng trong Thiền tông, trong đó Phật, Bồ Tát, các vị Tổ sư và các chủ đề thuộc Phật giáo khác được ca ngợi, tán thán. Một bài hoà tán nổi danh là Bạch Ẩn Thiền sư toạ thiền hoà tán, trong đó, sư Bạch Ẩn ca ngợi phương pháp Toạ thiền theo Ðại thừa để trực nhận được chân tính thanh tịnh.
Hoá thân 化身; C: huàshēn; J: keshin; S: nirmāṇa-kāya; còn gọi là Ứng hoá thân (應化身) hoặc Ứng thân (應身);|1. Thân nhất thời của Đức Phật. Thân thị hiện. Còn gọi là Biến hoá thân (變化身). Thân thị hiện bằng năng lực thần thông. Một trong Ba thân (三身) của đức Phật. Thân biến hoá của Phật ứng hợp sắc tướng của chúng sinh để giáo hoá và cứu độ. Còn được gọi là Ứng thân (應身; e: response body); 2. Khi Hoá thân và Ứng thân thuộc dạng siêu việt, thì Ứng thân được xem là biểu hiện của những vị có công hạnh tu tập siêu xuất, trong khi đó Hoá thân là thị hiện của những vị có công hạnh tu tập thấp hơn, hoặc dùng cho loài Phi nhân (e: non-human); 3. Theo giáo lí Tiểu thừa, Khi một vị Phật nhập niết-bàn cũng được gọi là »Hoá Phật«; 4. Phật Thích-ca Mâu-ni, thân của Phật Thích-ca Mâu-ni.
Hoa Thị thành 華氏城; S: pāṭaliputra; P: pāṭaliputta;|Một thành phố cổ của Ấn Ðộ, ngày nay là Patna. Dưới thời A-dục vương, Hoa Thị thành là kinh đô của xứ Ma-kiệt-đà (s, p: magadha) và là nơi hội nghị Kết tập lần thứ ba được tổ chức.
Hoà thượng 和尚 (上); S: upādhyāya; P: upajjhāya; C: héshàng; J: ōshō; dịch âm Hán Việt là Ưu-ba-đà-la, Ô-ba-đà-na (鄔波駄耶)|1. Là bậc tôn sư thân cận dìu dắt các Sa-di hoặc Tỉ-khâu, vì vậy cũng được gọi là Thân giáo sư hoặc Lực Sinh. Trong thời gian đầu của Phật giáo tại Ấn Ðộ, người ta phân biệt hai vị thầy của một người mới nhập Tăng-già, đó là Hoà thượng và A-xà-lê (hoặc Giáo thụ; s: ācārya; p: ārcāriya). Hoà thượng là người dạy các đệ tử biết trì Giới, thực hành nghi lễ, và vị Giáo thụ là người giảng Pháp, ý nghĩa của kinh sách. Vì thế mà danh từ Hoà thượng đồng nghĩa với từ Luật sư hoặc Giới sư trong thời này.|2. Vị trú trì; Tăng sĩ Phật giáo; Ở Nhật Bản, từ nầy được phát âm theo nhiều cách khác nhau: Thiền tông gọi là ōshō, Thiên thai tông gọi là kashō, Chân ngôn tông gọi là washō.|Tại Ðông và Nam Á, danh hiệu Hoà thượng là chức vị cao nhất mà một người tu hành có thể đạt được, cao hơn cả vị A-xà-lê. Muốn mang danh hiệu này một vị tăng phải đạt được những tiêu chuẩn đạo đức, thời gian tu tập (tuổi hạ)…. và danh hiệu này được ban trong một buỗi lễ long trọng. Danh từ này sau cũng được dùng chỉ những vị tăng cao tuổi, trụ trì một ngôi chùa và có đức hạnh, tư cách cao cả mặc dù chưa được chính thức phong hiệu.|Danh hiệu »Ðại Hoà thượng« cũng thường được sử dụng trong Thiền tông để chỉ những vị Thiền sư. Theo những nghi thức tụng niệm trong một Thiền viện tại Nhật Bản, thiền sinh phải tưởng niệm đến hệ thống truyền thừa từ Phật Thích-ca Mâu-ni đến vị Lão sư (j: rōshi) đang trụ trì và tụng danh hiệu của chư vị. Tên của chư vị thường được gài thêm danh hiệu »Ðại Hoà thượng« phía sau để tăng thêm vẻ uy nghiêm.
Hoà-tu-cát 和修吉; C: héxiūjí; J: washukitsu; S: vāsuki|Một loại vua rồng 9 đầu thường đi quanh núi Tu-di bắt rồng con để ăn.
Hoà-tu Mật-đa 和須蜜多; C: héxūmìduō; J: washumitta; |Phiên âm tên Vasumitra, Hán dịch là Thế Hữu.
Hoại 壞; C: huài; J: e, kai;|Có các nghĩa sau: 1. Tiêu tan, hư hoại, huỷ diệt, xoá sạch. Biến đổi và hoại diệt (s: nāśā, hāni, bheda, vigayama, nāśana); 2. Sự hoại diệt một cõi giới; 3. Sự phá huỷ, sự sụp đổ (s: vināśayati); 4. Hoại diệt trên lí thuyết (s: hata).
Hoài Hải 懷海|Bách Trượng Hoài Hải
Hoại khổ 壞苦; C: huàikŭ; J: eku;|Sự đau khổ con người trải qua khi đánh mất những thứ mình đã gắn bó. Nói chung là đau khổ vì sự hoại diệt.
Hoài Nhượng 懷讓|Nam Nhạc Hoài Nhượng
Hoan 歡; C: huān; J: kan;|1. Vui lòng, sung sướng, niềm vui; 2. Sự thân tình.
Hoan hỉ 歡喜; C: huānxǐ; J: kanki;|1. Niềm vui, sự hân hoan, hạnh phúc. Niềm vui phát sinh do thành tựu công hạnh tu tập, làm thăng hoa con người; 2. Giai vị đầu tiên trong Thập địa của hàng Bồ Tát (s: pramuditā), được giải thích rộng trong phẩm Thập địa của kinh Hoa Nghiêm. Trong phẩm nầy, Đức Phật định nghĩa »hoan hỉ« là »tăng trưởng niềm tin; tin và hiểu một cách trong sáng; thành tựu lòng từ bi; trang nghiêm thân bàng pháp sám hối; có lòng khoan dung; gieo trồng thiện căn không ngưng nghỉ; tam không chấp trước; không tham lợi dưỡng, không mong cầu được cung kính tôn trọng; không đắm trước cuộc sống gia đình của cải, vui thích tìm cầu trí thức viên mãn; xa lìa luống dối hư vọng; thực hành đúng với lời nói; không làm theo những gì thế gian mong muốn«. Như vây, »hoan hỉ« có nghĩa là chân chính tu tập các đức hạnh; 3. Hoan hỉ khi nhập vào Tịnh độ; 4. Tên cõi Đức A-súc-bệ Như Lai đang giáo hoá (Hoan hỉ quốc 歡喜國).
Hoan hỉ địa 歡喜地; C: huānxǐdì; J: kankiji; S: pramu-ditā.|Giai vị đầu tiên trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Còn gọi là Cực hỉ địa (極喜地).
Hoan hỉ quốc 歡喜國; C: huānxǐ guó; J: kanki koku;|Cõi nước đầy niềm vui. Một trong các tên gọi cõi Tịnh độ của A-súc-bà Như Lai (阿閦婆, s: akṣobhya-tathāgata). Còn gọi là Diệu hỉ (妙喜).
Hoàng Bá Hi Vận 黃蘖希運; C: huángbò xīyùn; J: ōbaku kiun; ?-850;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những ngôi sao sáng chói nhất của Thiền tông đời Ðường. Sư là Pháp tự của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải và là thầy của Lâm Tế Nghĩa Huyền, người đã sáng lập dòng thiền Lâm Tế được truyền cho đến ngày nay. Sư có 13 môn đệ đắc pháp. Tướng quốc Bùi Hưu có cơ duyên được học hỏi nơi Sư và để lại hậu thế quyển sách quý báu với tên Hoàng Bá Sơn Ðoạn Tế Thiền sư truyền tâm pháp yếu, được gọi tắt là Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu. Những lời dạy của Sư trong sách này là những nguồn cảm hứng sâu đậm nhất trong thiền ngữ.|Sư người tỉnh Mân (Phúc Kiến), Hồng Châu, thuở nhỏ xuất gia trên núi Hoàng Bá. Sư cao lớn vạm vỡ, trên trán có cục u như hạt châu, âm thanh trong trẻo, ý chí đạm bạc. Ban đầu nghe danh Mã Tổ, Sư muốn đến học đạo, nhưng khi đến nơi thì Tổ đã tịch. Sau đó Sư đến yết kiến Bách Trượng. Bách Trượng hỏi: »Chững chạc to lớn từ đâu đến?« Sư thưa: »Chững chạc to lớn từ Lĩnh Nam đến.« Bách Trượng lại hỏi: »Chững chạc to lớn sẽ vì việc gì?« Sư đáp: »Chững chạc to lớn chẳng vì việc khác« và lễ bái, hỏi: »Từ trước tông thừa chỉ dạy thế nào?« Bách Trượng lặng thinh. Sư thưa: »Không thể dạy người sau, dứt hẳn mất.« Bách Trượng bảo: »Sẽ nói riêng với ngươi.« Bách Trượng đứng dậy đi vào phương trượng, Sư đi theo sau thưa: »Con đến riêng một mình.« Bách Trượng bảo: »Nếu vậy ngươi sau sẽ không cô phụ ta.«|Một hôm Bách Trượng bảo chúng: »Phật pháp không phải là việc nhỏ, lão tăng xưa bị Mã Tổ quát một tiếng, đến ba ngày vẫn còn ù tai.« Nghe như vậy, Sư bỗng ngộ yếu chỉ, bấc giác le lưỡi.|Bách Trượng hỏi Sư: »Ở đâu đến?« Sư thưa: »Nhổ nấm núi Ðại Hùng đến.« Bách Trượng hỏi: »Lại thấy đại trùng (con cọp) chăng?« Sư làm tiếng cọp rống, Bách Trượng càm búa thủ thế. Sư tát Bách Trượng một cái, Bách Trượng cười to bỏ đi. Sau, Bách Trượng thượng đường bảo chúng: »Dưới núi Ðại Hùng có con đại trùng, các ngươi nên xem. Lão tăng hôm nay đích thân gặp và bị nó cắn.« Với lời này, Bách Trượng đã công nhận Sư là người nối pháp.|Sau Sư về trụ trì chùa Ðại An ở Hồng Châu. Học giả tìm đến rất đông. Chỗ chỉ dạy của Sư đều nhằm bậc thượng căn, hạ và trung khó hội được yếu chỉ.|Sư thượng đường: »… Người học Ðạo hễ có một niệm vọng tâm là xa Ðạo, ấy là điều tối kị. Hết thảy mọi niệm đều vô tướng, đều vô vi, tức là Phật. Người học Ðạo nếu muốn thành Phật thì hết thảy Phật pháp đều không cần phải học, chỉ cần học cái không mong cầu, không chấp trước là đủ. Không mong cầu thì tâm không sinh, không chấp trước thì tâm không diệt. Tám vạn bốn ngàn pháp môn là chỉ đối trị với tám vạn bốn ngàn phiền não, đấy chỉ là Pháp môn giáp hoá tiếp dẫn. Vốn không có pháp nào, sự lìa bỏ chính là Pháp, người biết lìa bỏ chính là Phật. Chỉ cần lìa bỏ mọi phiền não thì không còn pháp gì để chứng đắc cả…. Phàm phu nắm lấy ngoại cảnh, đạo nhân nắm lấy tâm. Tâm, cảnh đều quên chính là pháp chân thật. Quên cảnh thì dễ, quên tâm thật khó. Người ta không dám quên tâm, sợ rơi vào hư không không chỗ nắm níu, chứ không biết rằng, Không vốn vô không, chỉ một Pháp giới chân thật mà thôi vậy.«|Có vị tăng hỏi: »Làm thế nào để khỏi bị rơi vào giai cấp của quả vị?« Sư đáp: »Chỉ cần suốt ngày ăn cơm mà chưa từng cắn một hạt gạo, suốt ngày đi mà chưa từng đạp một mảnh đất. Ngay khi ấy không có tướng ngã tướng nhân nào, suốt ngày không rời một việc nào cả, không bị cảnh mê hoặc, thế mới gọi là người tự tại. Bất cứ lúc nào, bất cứ niệm nào cũng không bao giờ thấy một tướng nào cả. Ðừng cố chấp ba thời trước sau! Chặp trước không đi, chặp nay không đứng, chặp sau không đến. An nhiên vững ngồi, nhiệm vận không câu chấp, thế mới gọi là giải thoát.|Hãy cố lên! Hãy cố lên! Trong pháp môn này, ngàn người vạn người, chỉ được dăm ba. Nếu không nỗ lực công phu, ắt có ngày gặp tai ương. Cho nên nói:|Ra sức đời này cho liễu ngộ|Hoạ kia kiếp kiếp há mang hoài?…«|Ðời Ðường khoảng niên hiệu Ðại Trung, Sư tịch tại núi Hoàng Bá. Vua sắc phong là Ðoạn Tế Thiền sư. Sư để lại bài kệ sau để khuyến khích chúng (Trần Tuấn Mẫn dịch):|學道猶如守禁城。緊把城頭戰一場|不受一番寒徹骨。怎得梅花撲鼻香|Học đạo do như thủ cấm thành|Khẩn bả thành đầu chiến nhất trường|Bất thụ nhất phiên hàn triệt cốt|Chẩm đắc mai hoa phác tị hương|*Vượt khỏi trần lao việc chẳng thường|Ðầu dây nắm chặt giữ lập trường|Chẳng phải một phen sương lạnh buốt|Hoa mai đâu dễ ngửi mùi hương.
Hoàng Bá tông 黃檗宗; J: ōbaku-shū;|Một nhánh thiền thứ ba của Thiền tông Nhật Bản song song với hai nhánh lớn khác là Lâm Tế (j: rinzai) và Tào Ðộng (s: sōtō). Nhánh này bắt nguồn từ Thiền sư Ẩn Nguyên Long Kì (j: ingen ryūki), người sáng lập Thiền viện chính của tông này là Vạn Phúc tự (j: mampuku-ji) giữa thế kỉ 17 tại Uji, Kinh Ðô (j: kyōto). Hoàng Bá tông là một nhánh của tông Lâm Tế, nhìn chung thì không gây ảnh hưởng bao nhiêu trong truyền thống Thiền của Nhật.|Thiền sư Ẩn Nguyên nguyên là vị trụ trì của Vạn Phúc tự – một Thiền viện nằm trên núi Hoàng Bá (s: ōbaku-san) tại Trung Quốc. Năm 1654, Sư sang Nhật hoằng hoá và chỉ bảy năm sau đó, Tướng quân Ðức Xuyên Gia Cương (j: tokugawa tsunayoshi) đem đất ban cho sư để thành lập một thiền viện theo kiến trúc đời nhà Minh. Sư đặt tên cho thiền viện này là Hoàng Bá Sơn Vạn Phúc tự. Thiền sư Mộc Am Tính Thao (j: mokuan shōtō), một đệ tử đồng hương của Ẩn Nguyên kiến lập một thiền viện khác với tên Thuỵ Thánh tự (j: zuishō-ji) tại Ðông Kinh (j: tōkyō) năm 1671, một thiền viện có công rất nhiều trong việc truyền bá Thiền tông tại đây. Tất cả 13 vị kế thừa trụ trì thiền viện này – kể từ Ẩn Nguyên, Mộc Am – đều là người Trung Quốc, vị thứ 14 mới là người Nhật đầu tiên đảm nhận chức vụ này. Dòng này được chính thức công nhận là một tông phái năm 1876.|Tông này được sáng lập như một trường phái riêng biệt tại Nhật, không phải tại Trung Quốc và tên của tông này không có quan hệ gì đến Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận, thầy của Lâm Tế.
Hoàng Bá truyền tâm pháp yếu 黃蘗傳心法要; nguyên tên là Hoàng Bá Sơn Ðoạn Tế Thiền sư truyền tâm pháp yếu;|Một quyển sách nói về cuộc đời hoằng hoá của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận và các lời dạy của Sư, được môn đệ là Tướng quốc Bùi Hưu ghi lại.
Hoàng Long Huệ Nam 黃龍慧南; C: huánglóng huìnán; J: ōryo e'nan; 1002-1069;|Thiền sư Trung Quốc, Khai tổ hệ phái Hoàng Long thuộc tông Lâm Tế. Sư là môn đệ xuất sắc của Thiền sư Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh). Kế thừa Sư có hai vị danh tiếng, đó là Hối Ðường Tổ Tâm và Bảo Phong Khắc Văn.|Sư họ Chương tên Huệ Nam, quê ở Học Sơn Tín Châu. Thuở bé đã thâm trầm, có tướng đại nhân, không ăn thịt cá. Năm 11 tuổi, Sư xuất gia học với nhiều thầy nhưng sau nhiều năm tu luyện vẫn còn mù mịt. Một hôm, có vị Thiền sư tên Vân Phong Văn Duyệt đến bảo Sư: »Thiền sư Hoài Trừng tuy là con cháu Vân Môn nhưng pháp đạo còn khác xa Vân Môn.« Sư hỏi: »Khác ở chỗ nào?« Văn Duyệt đáp: »Vân Môn như đơn sa đã chín phen luyện, để vào sắt liền biến thành vàng; Hoài Trừng như dược hống ngân, nhìn thấy đẹp mắt mà để vào lò liền chảy.« Nghe thầy mình bị chê Sư nổi giận cầm chiếc gối ném Văn Duyệt. Văn Duyệt xin lỗi lại nói: »Chí khí Vân Môn như vua, cam chịu ngữ tử sao? Hoài Trừng có pháp dạy người là tử ngữ. Tử ngữ mà hay làm người sống được sao?« Nói xong Văn Duyệt bỏ đi. Sư kéo lại nói: »Nếu vậy thì ai hợp ý thầy?« Văn Duyệt bảo: »Thạch Sương Sở Viên thủ đoạn vượt cả mọi nơi, thầy muốn yết kiến thì không nên chậm trễ.« Sư bèn khăn áo lên đường. Ði giữa đường, Sư nghe đồn Thạch Sương mỗi việc đều lừa đảo thiền sinh, liền thối chí không đến Thạch Sương, ở lại chùa Phúc Nghiêm giữ chức thư kí, học nơi Thiền sư Hiền. Chợt Thiền sư Hiền tịch, quận thú mời Thạch Sương đến trụ trì. Nghe Thạch Sương luận nói chê các nơi mỗi điều thuộc tà giải, Sư nhớ lại lời của Văn Duyệt lúc bình nhật rất đúng, bèn thay đổi quan niệm, tự nhủ: »Ðại trượng phu thâm tâm nghi ngờ hoài sao?«|Sư đến Thạch Sương cầu xin yếu chỉ. Thạch Sương cười bảo: »Thư kí lĩnh đồ chúng và du phương, nếu còn có nghi ngờ thì chẳng cần phải khổ cầu như vậy, hãy ngồi mà thương lượng.« Thạch Sương gọi thị giả đem ghế mời ngồi. Sư từ chối và thành khẩn yêu cầu chỉ dạy. Thạch Sương hỏi: »Thư kí học thiền Vân Môn ắt thông được yếu chỉ ấy. Như nói: ›Tha Ðộng Sơn ba gậy.‹ Ðộng Sơn khi ấy nên đánh hay chẳng nên đánh?« Sư thưa: »Nên đánh.« Thạch Sương nghiêm nghị bảo: »Nghe tiếng ba gậy liền cho là nên ăn gậy, vậy ông từ sáng đến chiều nghe chim kêu trống đánh… cũng nên ăn ba gậy. Ăn gậy đến lúc nào mới thôi?« Sư nghe vậy chẳng biết nói gì, Thạch Sương lại bảo: »Ta lúc đầu nghi không thể làm thầy ông, giờ đây đã đủ tư cách. Ông hãy lễ bái đi.« Sư lễ bái xong đứng dậy. Thạch Sương nhắc lời trước: »Triệu Châu thường nói: ›Bà già ở Ðài Sơn bị ta khám phá.‹ Nếu ông hội được ý chỉ Vân Môn thì thử chỉ chỗ khám phá xem?« Sư mặt nóng hực, mồ hôi toát ra, không biết đáp thế nào, bị Thạch Sương đuổi ra. Hôm sau, Sư lại vào thất, bị Thạch Sương mắng chửi tiếp. Sư hổ thẹn, nhìn những người hai bên nói: »Chính vì chưa hiểu câu quyết nghi, mắng chửi đâu phải là quy củ từ bi thí pháp.« Thạch Sương cười nói: »Ðó là mắng chửi sao?« Nhân câu này, Sư đại ngộ, tất cả kiến chấp đều tan vỡ. Năm ấy Sư được 35 tuổi.|Sư ở trong thất thường hỏi tăng ba câu, được người sau gọi là Hoàng Long tam quan ngữ:|1. »Người người trọn có sinh duyên, Thượng toạ sinh duyên chỗ nào?«;|2. Lúc vấn đáp qua lại, Sư duỗi tay nói: »Tay ta sao giống tay Phật?«;|3. Hỏi chỗ sở đắc của các vị tông sư, Sư liền duỗi chân nói: »Chân ta sao giống chân lừa?« |Sư lấy ba câu này hỏi hơn ba mươi năm. Nếu có người đáp thì Sư không nói phải chẳng phải, khép mắt ngồi thẳng, không ai lường ý. Có người hỏi lí do, Sư đáp: »Ðã ra khỏi cửa thì lay tay đi thẳng, chẳng cần biết có kẻ gác cửa. Từ người gác cửa hỏi phải chẳng phải, ấy là người chưa qua khỏi cửa vậy.«|Sư trụ tại Hoàng Long, môn đệ tấp nập. Ðến niên hiệu Hi Ninh năm thứ hai, ngày 17 tháng 3, Sư thị tịch, thọ 68 tuổi, được 50 tuổi hạ.
Hoàng Long phái 黃龍派; C: huánglóng-pài; J: ōryo-shū;|Một trong hai nhánh được phân ra sau Thiền Sư Thạch Sương Sở Viên trong tông Lâm Tế do Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam khai sáng. Nhánh thứ hai là phái Dương Kì do Dương Kì Phương Hội Thiền sư sáng lập (Ngũ gia thất tông).|Hoàng Mai Hoằng Nhẫn|黃梅弘忍; C: huángméi hóngrěn; J: ōbai gunin; |Ngũ tổ Hoằng Nhẫn
Hoằng Nhẫn 弘忍; C: hóngrěn; J: gunin;|Tổ thứ 5 của Thiền tông Trung Quốc. Sư có hai vị kế thừa xuất sắc, đó là Lục tổ Huệ Năng và Thần Tú. Tương truyền rằng, Sư yết kiến Tứ tổ Ðạo Tín năm 14 tuổi và đã chứng tỏ trí huệ sâu xa của mình.|Sư quê ở Kì Châu, đồng hương với Tứ tổ. Một hôm Tứ tổ qua huyện Hoàng Mai, giữa đường gặp Sư, lúc bấy giờ còn là một đứa trẻ với thần sắc khác thường. Tổ hỏi: »Danh tính (姓) là chi?« Sư đáp: »Có tính, nhưng chẳng phải tính (性) thường.« Tổ hỏi: »Là tính chi?« Sư đáp: »Phật tính.« Tổ hỏi vặn lại: »Con không có tính sao?« Sư thưa: »Nhưng tính vốn Không.« Tổ lặng im Ấn chứng.|Sau khi Tứ tổ qua đời, Sư thành lập một thiền viện trên núi Hoàng Mai. Nơi đây xảy ra chuyện truyền y bát cho Huệ Năng và sự phân chia của Thiền tông ra Nam thiền Bắc thiền, biểu hiệu của một bước ngoặt lớn trong lịch sử Thiền tông Trung Quốc.
Hoằng Trí Chính Giác 宏智正覺; C: hóngzhì zhèngjué; J: wanshi shō-gaku; 1091-1157;|Thiền sư Trung Quốc đời thứ mười dòng Tào Ðộng, môn đệ của Thiền sư Ðan Hà Tử Thuần. Ðời sau còn nhớ đến Sư qua những cuộc tranh luận (với tinh thần bằng hữu) với Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo về phương pháp tu tập của hai dòng Tào Ðộng và Lâm Tế (Mặc chiếu thiền, Khán thoại thiền). Trước khi tịch, Sư nhờ Ðại Huệ hoàn tất tập Công án Thong dong lục. Ðiều đó cho thấy rằng, quan niệm của hai tông không có khác biệt quá đỗi như các môn đệ sau tìm cách chứng minh.|Sư họ Lí, quê ở Thấp Châu, xuất gia năm 11 tuổi và thụ giới cụ túc năm 14. Năm 18 tuổi, Sư đi du phương, nói với ông nội rằng »Nếu con không phát minh việc lớn, thề không trở về.« Ðến tham vấn Ðan Hà, Ðan Hà hỏi: »Thế nào là chính mình trước không kiếp?« Sư thưa: »Con ếch nuốt trăng nằm đáy giếng, canh ba chẳng mượn cuốn rèm lên.« Ðan Hà bảo: »Chưa phải, nói lại.« Sư suy nghĩ, Ðan Hà liền đánh một Phất tử, nói: »Lại nói chẳng mượn.« Sư ngay lời này đại ngộ, làm lễ bái.|Sư làm thư kí nơi Ðan Hà được bốn năm, sau dời về Viên Thông. Thiền sư Chân Yết Thanh Liễu sai tăng đi rước Sư. Chúng ra đón thấy y phục Sư rách rưới đều lấy làm lạ. Chân Yết liền sai thị giả đổi giày mới cho Sư. Sư bảo: »Tôi vì giày mà đến sao?« Chúng nghe được đều hết lòng kính phục.|Sư trụ trì được cúng không mừng, cho ra không chán, thường quá ngọ không ăn. Trước khi tịch, Sư tắm gội mặc y phục ngồi ngay thẳng nói chuyện với đại chúng. Sư sai vị tăng hầu đem bút viết thư, để lại cho Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo việc thỉnh người kế thừa. Thư kệ rằng:|Mộng huyễn không hoa|Sáu mươi bảy năm|Chim trắng khói lặn|Nước thu tiếp trời|Sư ném bút liền tịch, thọ 67 tuổi. Vua sắc phong là Hoằng Trí.
Hoành 横; C: héng; J: ō;|1. Đường nằm ngang, ngang, bề ngang, bề rộng; 2. Nằm xuống, trải ra, đặt ngang qua; 3. Choán đầy, làm đầy; tắc nghẽn, dừng lại; 4. Thoải mái, thanh thản; 5. Tinh quái, xấu ác, sai lầm, ngang bướng, quá đáng, không tự nhiên; 6. Như là điều người ta khao khát; 7. Tạm thời.
Hoành kế 横計; C: héngjì; J: oke; |Tính toán sai lầm, khái niệm sai lầm.
Hoạt 活; C: huó; J: katsu;|1. Sống, đang sống, sinh động, tràn đầy sự sống; 2. Sinh kế, cách sinh nhai; 3. Làm sinh động, truyền sự sống cho, hồi sinh. Làm sống lại.
Hoạt lộ 活路; C: huólù; J: katsuro;|Con đường sống.
Học giả 學者; S, P: paṇḍita;|Là người học rộng; danh từ này dùng để chỉ những người am thông kinh sách nhưng chưa xác định gì về cấp bậc (Thánh quả) họ đã đạt được trong việc tu tập trực nhận chân lí.
Hội 會; C: huì; J: e;|1. Kết hợp, hợp nhất; 2. Trở về, dàn xếp; 3. Triệu tập mọi người lại; 4. Cuộc hội họp, hội nghị, hội đồng; 5. Một hội chúng tu tập. Thuật ngữ gốc tiếng Phạn chỉ cho một cuộc hội nghị nhất thời là utsava; 6. Thời gian một Thiền sư lưu lại ở một thiền viện trước khi ra đi cũng gọi là Hội; 7. Đồ chúng của một vị thầy tu học cùng nhau; 8. Hiểu, nhận ra, lãnh hội; 9. Sự chào hỏi, chào mừng, thừa nhận; 10. Sự hợp nhất, kết hợp, liên hợp (hợp đồng合同); 11. Chúng đồng phận (衆同分), một pháp trong giáo lí Duy thức
Hối Ðường Tổ Tâm 晦堂祖心; C: huìtáng zǔxīn; J: maidō soshin; 1025-1100; cũng được gọi là Hoàng Long Tổ Tâm;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế đời thứ 9. Sư là môn đệ của Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam. Kế thừa Sư là Thiền sư Tử Tâm Ngộ Tân.|Sư họ Ổ, quê ở Thuỷ Hưng Nam Hùng. Năm 19 tuổi bị mù mắt, cha mẹ nguyện cho xuất gia, mắt tự nhiên sáng lại. Sư tham thiền nhiều nơi, sau đến Hoàng Long học. Nhân đọc một đoạn trong Cảnh Ðức truyền đăng lục, Sư khế hội, được Thiền sư Huệ Nam Ấn khả. |Sư dạy một vị quan tên Tạ Cảnh Ôn: »Ba thừa mười hai phần giáo – giống như chỉ thức ăn cho người. Ðã nhờ đó nói thức ăn, cốt nơi mình nếm lấy. Chính mình nếm được, liền rõ biết mùi vị kia là mặn lạt cay đắng. Tổ Ðạt-ma từ Ấn Ðộ sang chỉ thẳng tâm người thấy tính thành Phật cũng lại như thế. Chân tính đã nhân văn tự mà bày, cốt tại chính mình thấy được. Nếu hay thấy được liền rõ biết trước mắt là chân là vọng, là sinh là tử. Ðã rõ biết chân vọng sinh tử, xem lại tất cả ngữ ngôn văn tự đều là lời nói hiển bày trọn không có nghĩa thật. Như nay không hiểu bệnh tại chỗ nào? Bệnh tại thấy nghe hiểu biết. Vì chẳng biết như thật chỗ đến mé chân, nhận thấy cái nghe hiểu biết này làm cái sở kiến của chính mình. Ðâu chẳng biết cái thấy nghe hiểu biết này đều nhân tiền trần mà có phân biệt. Nếu không cảnh giới tiền trần thì cái thấy nghe hiểu biết này đồng với Lông rùa sừng thỏ, trọn không có chỗ nương.|Một vị quan tên Khí Tư hỏi Sư: »Khi người lâm chung có chỉ quyết chăng?« Sư đáp: »Có.« Ông thưa: »Xin được nghe lời này.« Sư bảo: »Ðợi Khí Tư chết liền nói.« Khí Tư đứng dậy kính trọng nói: »Việc này phải là Hoà thượng mới được.«|Ỷ Công, một vị quan ở Chương Giang đến viếng Sư, bàn về câu »Hội muôn vật làm chính mình và tình cùng vô tình chung một thể« trong Triệu luận. Sư liền lấy cây thước dằn giấy gõ con chó, lại gõ cái bàn, nói: »Con chó hữu tình nên đi, cái bàn vô tình vẫn ở, tình cùng vô tình đâu thành một thể.« Ỷ Công đáp không được, Sư bèn nói tiếp: »Vừa có suy nghĩ liền thành pháp dư, đâu từng ›Hội muôn vật làm chính mình?‹«|Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ 3, ngày 16 tháng 11, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi. Vua sắc phong là Bảo Giác.
Hội thông 會通; C: huìtōng; J: etsū;|1. Hoà hợp và thống nhất những giáo lí (xung đột) khác nhau thành sự thông cảm hiểu biết rộng lớn và sâu sắc; 2. Xuyên qua, vượt qua sự vật.
Hôn 昏; C: hūn; J: kon;|1. Tối, u ám. Tình trạng lộn xộn, tối tăm, bối rối; 2. Bóng tối, sự mờ mịt, tính lơ đãng; 3. Buổi tối, bóng đêm.
Hỗn độn 混沌; C: hùndùn; J: konton;|Thời kì hỗn mang nguyên sơ trong thuyết nguồn gốc vũ trụ Trung Hoa.
Hỗn dung 混融; C: hùnróng; J: konyū;|Trộn lẫn, hoà hợp nhau.
Hống 吼; C: hŏu; J: kō, ku;|Có hai nghĩa: 1. Tiếng gầm rống như sư tử; tiềng gầm của sư tử; 2. Tiếng kêu la, tiếng kêu thất thanh.
Hồng 吽; C: hŏu; J: un;|Âm của chữ hūṃ trong tiếng Phạn, được xem như chủng tử chung của các thần. thường được dùng trong các Man-tra (s: mantra) và Đà-la-ni (s: dhāraṇī). Được cấu thành bởi 4 âm vị a अ, ha ह, u उ, và ma म.
Hồng Trắc 洪陟; C: hóngzhì; J: ōchoku; K: hongch'ŏk.|Tăng sĩ Hàn Quốc vào thời đại Tân La (e: silla); là người sáng lập trường phái Thật tướng sơn (實相⼭; k: silsangsan) của Phật giáo Hàn Quốc, là một trong Cửu sơn vào thời kì đầu của Phật giáo thiền Cao Li. Sư cùng sang Trung Hoa với người bạn là Đạo Nghĩa (道義; k: toŭi) tham học với Thiền sư Trí Tạng (智藏).
Hồng tự nghĩa 吽字義; C: hŏngzìyì; J: unjigi;|Ý nghĩa của chữ Hồng »Hūṃ«. 1 quyển, Không Hải (空海; j: kūkai) trứ tác năm 817. Một bản luận giải về linh tự hūm (Hồng tự 吽字), giải thích về mặt ngôn ngữ của hợp thể các âm vị h, a, ū and m (như được trình bày trong tác phẩm Lí thú thích 理趣釋 của Bất Không; s: amoghavajra). Ba âm nầy xem như có ý nghĩa chuẩn mực là Giải (解) đối với hàng phàm phu; và ý nghĩa rốt ráo là Thích (釋), cho các Đức Như Lai; và ý nghĩa bao quát, hợp thích (合釋), tổng hợp ý nghĩa chuẩn mực và rốt ráo. Theo ý nghĩa thông thường, âm ›h‹ là nguyên nhân (因; s: hetva), ›a‹ là mẹ của tất cả âm thanh (衆聲之母; A tự 阿字), ›u‹ là trừ diệt (tổn diệt 損減; s: ūna), và ›ṃ‹ là ›ngã‹ (我; s: ātman). Nghĩa rốt ráo của ›h‹ là: nguyên nhân ban đầu là không thể nắm bắt được; ›a‹ là cái tuyệt đối được định nghĩa trong Trung luận (中論; s: mādhyamikakārika), đó rõ là: biến khắp, nghĩa là âm ›a‹ biến khắp các âm thanh, thế nên có đặc tính hoàn toàn hiện hữu (有), vốn là không (空) và bất sinh (不生); ›u‹ có nghĩa Nhất thiết chư pháp tổn diệt bất khả cố (一切諸法損減不可故); và ›ṃ‹ biểu thị cho các pháp không có một tự thể thường hằng. Không Hải kết luận ›h‹ là thể của các pháp (Pháp thân 法身; s: dharma); ›a‹ là Báo thân (報身), ›ū‹ chỉ cho Ứng thân (應身), ›ṃ‹ là thân lịch sử (hoá thân 化身).
Hợp (hiệp) 合; C: hé; J: gō; |1. Hợp nhất hoặc kết hợp hai thứ với nhau (s: samgati, samsarga, samnikarsa). Để cho hai vật trở thành một thể (s: sahā). Hoà hợp; 2. Sự phát sinh hoạt dụng đặc biệt của thức do sự tiếp xúc của cảnh trần, các căn và ý thức của tự ngã; 3. Xúc (觸); 4. Đồng ý, phù hợp với; 5. Sự hợp nhất nhân và duyên.|6. Trong Nhân minh học (因明; s: hetu-vidyā), Hợp là phần thứ 4 của Ngũ chi tác pháp.
Hợp bộ kim quang minh kinh 合部金光明經; C: hébù jīn guāngmíng jīng; J: gōbu konkōmyō kyō; S: suvarna-prabhasa-[uttama]-sūtra.|Kinh, 8 quyển. Bảo Quý (寶貴) và những người khác dịch vào khoảng đời Tuỳ.
Hợp chưởng 合掌; C: hézhăng; J: gasshō; |Cử chỉ chắp hai bàn tay lại với nhau rồi đạt ngang ngực để tỏ lòng kính trọng. Ngữa hai bàn tay, hơi khum lại và đặt cạnh nhau.
Hư Ðường Trí Ngu 虛堂智愚; C: xūtáng zhìyú; J: kidō chigu; 1185-1269;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Thiền sư Vận Am Phổ Nham và là thầy của vị Thiền sư Nhật Bản danh tiếng là Nam Phố Thiệu Minh (j: nampo shōmyō). Trong sự việc gìn giữ tông Lâm Tế Nhật Bản trước sự suy tàn, các vị Ðại thiền sư tại đây như Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun), Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku) – cả hai vị đều nằm trong hệ thống truyền thừa của Sư – thường nhắc đến phong cách, phương pháp hoằng hoá nghiêm chỉnh kỉ luật của Sư và tự xem mình là Pháp tự chính thống của Sư.
Hư không 虛空; S: ākāśa; P: ākāsa;|Khái niệm quan trọng trong đạo Phật. Hư không được hiểu là »không gian« Có hai thứ không gian: 1. Không gian do sắc thể quy định mà thành và 2. Không gian vô cùng tận. Khái niệm đầu thuộc sắc thể (Ngũ uẩn), khái niệm sau là một trong sáu yếu tố (Giới, s: dhātu), không có tự tính nhưng lại là cơ sở của mọi sắc thể và của Tứ đại chủng là đất, nước, gió, lửa. Hư không (khái niệm thứ hai) là tính Không, rời mọi sắc thể, thường còn và không thể mô tả nghĩ bàn.|Quan điểm về hư không cũng có nhiều sai khác trong các tông phái Phật giáo. Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) quan niệm rằng, hư không không chịu dưới quy luật duyên khởi; nó không gây chướng ngại, xuyên suốt mọi vật và thường còn. Còn Trung quán tông (s: mādhyamika) thì cho hư không cũng bị tuỳ thuộc, vì nó có thể bị một vật khác »chiếm giữ«. Trong các phương pháp thiền định, hư không giữ một vai trò quan trọng: trong Bốn xứ thì xứ đầu tiên là Không vô biên xứ và trong mười Biến xứ (p: kasiṇa) thì hư không là biến xứ thứ chín.
Huệ 慧; S: prajñā; P: paññā;|Bát-nhã, Trí huệ
Huệ An 慧安; 582-709|Thiền sư Trung Quốc, một trong mười vị đại đệ tử của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Nối pháp của Sư có Phá Táo Ðọa, Nguyên Khuê.|Sư có dung mạo đoan chính, xuất trần, sớm thông các pháp môn tu học. Trong khoảng thời gian 627-649, Sư đến núi Hoàng Mai yết kiến Ngũ tổ và ngộ được huyền chỉ. Vua Ðường Trung Tông (năm 706) ban tử y (ca-sa tía) và dùng lễ thầy trò thỉnh vào cung điện thờ phụng ba năm. Năm 709, Sư từ biệt, trở về chùa Thiếu Lâm ở Tung Nhạc và tịch tại đây ngày mồng 8 tháng 3, thọ 128 tuổi.
Huệ Cần Phật Giám 慧勤佛鑒; tk. 11-12|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư là bạn đồng học với hai vị »Phật« khác là Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả và Thanh Viễn Phật Nhãn dưới trướng của Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Uông, xuất gia từ nhỏ, sớm tinh thông kinh sách. Nhân lúc đọc đến câu »Chỉ đây một sự thật, còn hai thì chẳng chân«, Sư bỗng nhiên có tỉnh.|Câu chuyện ngộ đạo triệt để của Sư cũng có nhiều điểm thú vị đáng được nhắc đến tường tận. Sư vốn đã tham vấn các bậc tôn túc, sau mới đến hội của Pháp Diễn tại Thái Bình và lưu lại đây. Sư tức giận vì Pháp Diễn nói quanh co không chịu ấn chứng. Sư muốn đi nơi khác nhưng Viên Ngộ khuyên ở lại rồi sẽ thấy hiệu quả. Một hôm, Sư nghe Pháp Diễn nhắc lại chuyện sau: »Tăng hỏi Triệu Châu: Thế nào là gia phong của Hoà thượng. Triệu Châu nói: Lão tăng lãng tai hỏi to lên đi. Tăng lại hỏi to lên, Triệu Châu nói: Ông hỏi gia phong của ta, ta lại biết gia phong của ông rồi.« Sư nghe đây bỗng nhiên có tỉnh, nhưng chưa triệt ngộ, trình Pháp Diễn: »Xin Hoà thượng chỉ bày chỗ tột.« Pháp Diễn đáp: »Sum la và vạn tượng là sở ấn của một pháp.« Sư lễ bái và được phong làm thư kí. Một hôm, Sư cùng với Viên Ngộ bàn về việc Ðông Tự Như Hội (môn đệ đắc pháp của Mã Tổ) hỏi Ngưỡng Sơn về hạt minh châu trấn hải. Ðến chỗ »không lí có thể bày«, Viên Ngộ hỏi gạn Sư: »Ðã nói nhận được, đến khi đòi hạt châu, lại nói không lời có thể đáp, không lí có thể bày, là thế nào?« Sư không đáp được. Hôm sau, Sư nói với Viên Ngộ: »Ðông Tự chỉ đòi một hạt châu, Ngưỡng Sơn ngay đó trút cả giỏ.« Viên Ngộ thừa nhận câu này nhưng lại khuyên Sư tham vấn, cận kề Pháp Diễn.|Một hôm, Sư đến Phương trượng của Pháp Diễn, chưa kịp nói gì đã bị Pháp Diễn mắng chửi thậm tệ. Trở về phòng, Sư đóng cửa nằm nghỉ mà tức giận Pháp Diễn vô cùng. Viên Ngộ biết thế gõ cửa vào phòng dọ hỏi, Sư bảo Viên Ngộ: »Tôi vốn không đi, bị huynh lừa nhiều lần, bị lão ấy mắng chửi.« Viên Ngộ nghe vậy bèn cười ha hả nói: »Huynh nhớ được lời ngày trước chăng?« Sư hỏi lại lời gì, Viên Ngộ bảo: »Huynh lại nói, Ðông Tự chỉ đòi một hạt châu mà Ngưỡng Sơn trút cả giỏ.« Sư nhân đây triệt ngộ, tất cả mối nghi ngờ đều tan vỡ.|Sư được Pháp Diễn truyền pháp y và sau khi rời thầy, Sư hoằng hoá nhiều nơi, tông phong rất thịnh hành.|Trước khi tịch, Sư tắm gội đắp y ngồi ngay thẳng, cầm bút viết thư từ giã bạn bè. Vừa dừng bút, Sư tịch.
Huệ Hải 慧海|Ðại Châu Huệ Hải.
Huệ Khả 慧可; C: huìkě; J: eka; 487-593;|Tổ thứ hai của Thiền tông Trung Quốc, được Bồ-đề Ðạt-ma Ấn khả. Kế thừa Sư là Tam tổ Tăng Xán. Theo truyền thuyết thì Sư đến Thiếu Lâm tự năm 40 tuổi tham vấn Bồ-đề Ðạt-ma. Ban đầu Bồ-đề Ðạt-ma chẳng để ý đến sự hiện diện của Sư, để Sư đứng trong tuyết băng nhiều ngày. Ðể chứng minh Bồ-đề tâm của mình, Sư tự chặt cánh tay trái dâng Bồ-đề Ðạt-ma và từ đây Sư được nhận là môn đệ. Tắc thứ 41 trong Vô môn quan có ghi lại cuộc đàm thoại đầu tiên giữa Bồ-đề Ðạt-ma và Huệ Khả.|Bồ-đề Ðạt-ma ngồi nhìn vách tường. Sư dầm tuyết, rút dao tự chặt cánh tay, nói: »Con không an được tâm, xin thầy an tâm cho con.« Ðạt-ma bảo: »Ðưa tâm cho ta, ta sẽ an cho.« Sư đáp: »Con không thấy tâm đâu cả.« Ðạt-ma đáp: »Ta đã an tâm cho con.«|Sau sáu năm tu tập dưới sự hướng dẫn của Bồ-đề Ðạt-ma, Sư được ấn chứng, nhận y bát và từ đây Sư trở thành Nhị tổ của Thiền tông Trung Quốc. Dịp truyền pháp được ghi lại trong Truyền quang lục.|Một hôm Sư nói: »Con đã dứt hết chư duyên rồi« Tổ hỏi: »Ngươi không biến thành đoạn diệt chứ?« Sư đáp: »Chẳng thành đoạn diệt.« Tổ hỏi lại: »Lấy gì chứng minh?« Sư đáp: »Rõ ràng thường biết, nói không thể được.« Tổ hài lòng, đáp: »Ðó là chỗ bí quyết tâm truyền của tất cả chư Phật, ngươi chớ nghi ngờ gì.«|Trước khi đến Bồ-đề Ðạt-ma thụ pháp, Sư tên là Thần Quang, chuyên học Nho, Lão Trang (Lão Tử, Trang Tử) và kinh sách Phật pháp. Cái hiểu biết từ sách vở này không thoả mãn lòng quyết đạt chính giác. Vì vậy Sư chú tâm đến việc tu tập Thiền định, quyết chứng nhận trực tiếp chân lí được tả trong kinh luận. Sau khi được truyền tâm ấn, Sư sống ẩn dật đây đó vì chưa muốn thâu nhận môn đệ và tập trung tâm sức nghiên cứu kinh Nhập Lăng-già theo lời khuyên của Bồ-đề Ðạt-ma. Sư lang thang đây đó, uống rượu ăn thịt, có những hành động như phàm phu. Có người hỏi vì sao thầy tu mà làm những việc này, Sư thản nhiên trả lời: »Ta tu tâm mặc ta, có liên can gì đến ngươi.«|Dầu vậy, Sư vẫn tuỳ duyên hoằng hoá và tương truyền rằng Sư có biệt tài thuyết pháp, dân chúng thường đến rất đông để nghe. Có một ông sư có thái độ chống báng, sai chú tiểu đến dọ chân tướng Sư, nhưng chú này vừa được nghe giảng cái gọi là tà đạo thì bỗng chốc chấn động tinh thần, xin lưu lại học. Vị sư lại sai chú tiểu khác đi gọi chú trước về, nhưng chú sau cũng biến luôn và cứ như thế thêm mấy chú nữa. Sau này, vị sư tình cờ gặp lại chú tiểu đầu tiên, quở: »Sao chú để ta kêu gọi nhiều lần? Ta chẳng tốn công mở mắt cho chú sao?« Chú tiểu đáp: »Mắt của tôi từ bao giờ vẫn thẳng, chỉ vì ông nên nó đâm ra lé!«|Những thành tích trong việc giáo hoá này gây sự bất bình ganh tị của những vị sư khác. Họ phong tin rằng Sư truyền bá tà giáo và thưa việc này cho quan trên. Sư bị bắt và sau đó bị xử trảm. Sư thản nhiên thuận theo, cho rằng đúng với luật nhân quả Sư có một món nợ phải trả. Việc này xảy ra năm 593, Sư thọ 106 tuổi.
Huệ Khai 慧開|Vô Môn Huệ Khai.
Huệ Lăng 慧稜|Trường Khánh Huệ Lăng.
Huệ Nam 慧南|Hoàng Long Huệ Nam.
Huệ Năng 慧能; C: huìnéng; J: enō; 638-713;|Tổ thứ sáu của Thiền tông Trung Quốc, môn đệ và pháp tự của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.|Trước Huệ Năng, Thiền còn mang nặng ảnh hưởng Ấn Ðộ nhưng đến đời Sư, Thiền bắt đầu có những đặc điểm riêng của Trung Quốc. Vì vậy mà có người cho rằng Sư mới thật sự là người Tổ khai sáng của Thiền Trung Quốc. Huệ Năng không chính thức truyền y bát cho ai, nên sau đó không còn ai chính thức là truyền nhân. Tuy nhiên Sư có nhiều học trò xuất sắc. Môn đệ chính là Thanh Nguyên Hành Tư và Nam Nhạc Hoài Nhượng là hai vị Thiền sư dẫn đầu hầu như toàn bộ các dòng Thiền về sau. Cả hai dòng này cũng được truyền đến Việt Nam qua Thảo Ðường, Nhất Cú Tri Giáo, Vô Ngôn Thông, Chuyết Công.|Sư là tác giả của tác phẩm chữ Hán duy nhất được gọi là »Kinh,« một danh từ thường chỉ được dùng chỉ những lời nói, bài dạy của đức Phật, đó là Lục tổ Ðại sư Pháp bảo đàn kinh, một tác phẩm với ý nghĩa rất sâu xa về thiền. Cũng nhờ Pháp bảo đàn kinh, người ta biết được ít nhiều về lịch sử của Huệ Năng. Sư sinh trong một gia đình nghèo, cha mất sớm, lớn lên giúp mẹ bằng cách bán củi. Một hôm, trong lúc bán củi, nghe người ta tụng kinh Kim cương, Sư bỗng nhiên có ngộ nhập. Nghe người đọc kinh nhắc đến Hoằng Nhẫn, Sư liền đến tìm học. Hoằng Nhẫn nhận ra ngay căn cơ của Sư, nhưng không truyền pháp ngay, bắt tiếp tục chẻ củi, vo gạo. Truyền thuyết nổi tiếng về việc truyền tâm ấn cho Huệ Năng và việc phân đôi hai phái Thiền Nam-Bắc được kể lại như sau:|Hoằng Nhẫn biết tới lúc mình phải tìm người kế thừa nên ra lệnh cho học trò mỗi người viết kệ trình bày kinh nghiệm giác ngộ. Cuối cùng chỉ có Thần Tú, một đệ tử với tri thức xuất sắc mới dám làm. Thần Tú viết bài kệ, so sánh thân người như cây Bồ-đề và tâm như tấm gương sáng và người tu hành phải lo lau chùi, giữ tấm gương luôn luôn được trong sáng. Sư đang làm việc trong bếp, nghe đọc bài kệ biết người làm chưa Kiến tính. Sư cũng nhờ người viết bài kệ của mình như sau:|菩提本無樹。明鏡亦非臺|本來無一物。何處有(匿)塵埃|Bồ-đề bản vô thụ, minh kính diệc phi đài|Bản lai vô nhất vật, hà xứ hữu (nặc) trần ai?|*Bồ-đề vốn chẳng cây|Gương sáng cũng chẳng đài|Xưa nay không một vật|Nơi nào dính bụi trần?||H 28: Huệ Năng xé kinh (tranh của Lương Khải, tk. 13). Hình này không có một tích lịch sử gì, chỉ muốn nêu lên giáo pháp nằm ngoài văn tự của Thiền tông, được biểu hiện qua Lục tổ và phá sự chấp trước chữ nghĩa nằm trong kinh sách.|Nghe bài kệ, Hoằng Nhẫn biết căn cơ của Sư vượt hẳn Thần Tú, nhưng sợ di hại nên nửa đêm gọi Sư vào thất và vì Sư thuyết trọn kinh Kim cương. Ðến câu »Ðừng để tâm vướng víu nơi nào« (應無所住而生其心; ưng vô sở trụ, nhi sinh kì tâm), Sư hoát nhiên đại ngộ. Ngũ tổ truyền y bát cho Sư và khuyên đi về phương Nam. Khi tiễn Sư xuống thuyền, Tổ muốn tự chèo đưa Sư sang sông, Sư bèn nói: »khi mê thầy độ, ngộ rồi tự độ« và tự chèo qua sông.|Suốt 15 năm sau, Sư ở ẩn, và trong thời gian này vẫn là Cư sĩ. Sau đó, Sư đến chùa Pháp Tính ở Quảng Châu. Ðó là nơi sản sinh Công án nổi tiếng »chẳng phải gió, chẳng phải phướn« (Vô môn quan, công án 29). Sau khi Sư chen vào nói »tâm các ông động« thì Ấn Tông, vị sư trụ trì của chùa hỏi Sư »Nghe nói y pháp Hoàng Mai đã truyền về phương Nam, phải chăng là hành giả?« Lúc đó Sư mới nhận mình là truyền nhân của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Ấn Tông sai người cạo đầu cho Sư, cho Sư gia nhập Tăng-già rồi xin nhận Sư làm thầy.|Sư bắt đầu giáo hoá ở chùa Pháp Tính, về sau về Bảo Lâm tự ở Tào Khê và thành lập Nam tông, trong lúc đó Thần Tú và đệ tử thành lập Bắc tông và cũng tự nhận là truyền nhân của Ngũ tổ. Nam tông cho rằng, giác ngộ là một sự nhảy vọt bất ngờ, mang tính trực giác trong lúc Bắc tông chủ trương dùng suy luận, tu tập dần dần theo chỉ dạy của kinh sách mà giác ngộ. Trong cuộc tranh chấp giữa hai phái đốn ngộ (ngộ ngay tức khắc) và tiệm ngộ này, Nam tông đã chứng tỏ sinh lực của mình, sản sinh vô số Ðại sư và trở thành truyền phái đích thật của Phật pháp tại Trung Quốc. Phái Thần Tú chỉ vài thế hệ sau là khô kiệt.|Với Huệ Năng, được xem là người »ít học« nhất lại được truyền tâm ấn, Thiền đã qua một bước ngoặt quyết định, trở thành Thiền tông Trung Quốc với sự ảnh hưởng ít nhiều của đạo Lão. Các hiền triết Lão giáo cũng là những người cười nhạo văn tự, họ đã có ảnh hưởng lên cái »bất lập văn tự« của Thiền tông để từ sự dung hợp này, tất cả các tông phái Thiền Trung Quốc ra đời. Với Huệ Năng và các vị Ðại sư nối tiếp, Thiền tông Trung Quốc đi vào thời đại hoàng kim của đời Ðường, đời Tống. Và cho đến ngày nay, Thiền tông vẫn còn là nguồn cảm hứng sâu xa, vẫn là một pháp môn cho nhiều Phật tử.
Huệ Nhiên 慧然|Tam Thánh Huệ Nhiên.
Huệ Sinh 慧生; ?-1063|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13, nối pháp Thiền sư Ðịnh Huệ.|Sư tên Lâm Khu Vũ, quê ở làng Ðông Phù Liệt. Năm lên 19, Sư xuất gia thờ Thiền sư Ðịnh Huệ ở chùa Quang Hưng làm thầy và được ấn chứng.|Sau đó, Sư du phương tham vấn đầy đủ yếu chỉ Thiền rồi trụ tại núi Trà Sơn, sau lên ngọn Bồ-đề. Ðạo hạnh của Sư từ đây lan xa. Vua Lí Thái Tông nghe danh sai sứ đến mời về kinh. Sư cố gắng từ chối nhiều lần nhưng không được, đành phải tuân lệnh vào cung. Sau khi đàm đạo với Sư, vua rất kính phục và thỉnh trụ trì chùa Vạn Tuế ở gần thành Thăng Long. Nơi đây, Sư tuỳ duyên giáo hoá học chúng cũng như các vị hiền triết trong triều đình.|Niên hiệu Gia Khánh thứ năm, Sư họp chúng nói kệ:|水火日相參。由來未可談|報君無處所。三三又三三|自古來參學。人人指爲南|若人問新事。新事月初三|Thuỷ hoả nhật tương tham|Do lai vị khả đàm|Báo quân vô xứ sở|Tam tam hựu tam tam|Tự cổ lai tham học|Nhân nhân chỉ vị Nam|Nhược nhân vấn tân sự|Tân sự, nguyệt sơ tam|*Nước lửa ngày hỏi nhau|Nguyên do chưa thể bàn|Ðáp anh không nơi chốn|Tam tam lại tam tam|Xưa nay kẻ tham học|Người người chỉ vì Nam|Nếu người hỏi việc mới|Việc mới, ngày mồng ba.|Nói xong, Sư tắm gội, thắp hương và nửa đêm viên tịch.
Huệ Tạng 慧藏|Thạch Củng Huệ Tạng
Huệ Tịch 慧寂|Ngưỡng Sơn Huệ Tịch
Huệ Trung 慧忠|Nam Dương Huệ Trung
Huệ Trung Thượng Sĩ 慧忠上士; 1230-1291|Một nhân vật lỗi lạc trong Phật giáo Việt Nam. Thượng sĩ tên thật là Trần Quốc Tung (1230-1291), con trai trưởng của An Sinh Vương Trần Liễu. Ông là anh ruột của Hưng Ðạo Vương Trần Quốc Tuấn, anh của hoàng hậu Thiên Cảm. Thiên Cảm là vợ của vua Trần Thánh Tông và là mẹ của Trần Nhân Tông.|Thượng Sĩ có chí khí cao siêu, khí lượng thâm trầm, dung thần nhàn nhã. Từ nhỏ ông đã sùng mộ đạo Phật, lớn lên được cử trấn đất Hồng Lộ. Năm 1251, Trần Thái Tông phong ông tước hiệu Hưng Ninh Vương. Ông cùng em là Trần Hưng Ðạo tham gia kháng chiến ba lần chống quân Nguyên Mông. Ðó là lần thứ nhất 1257-1258, lần thứ hai năm 1258 và lần thứ ba 1287-1288. Qua những lần tham gia giữ nước, ông được thăng chức Tiết Ðộ sứ, nhưng từ quan về quê sống, xưng hiệu là Huệ Trung. Dù chỉ là Cư sĩ có gia đình, nhưng ông đã theo học Phật pháp với Thiền sư Tiêu Diêu, học trò của Thiền sư Ðại Ðăng và cư sĩ Ứng Thuận Vương. Nhờ thế ông trở thành một nhà Thiền học. Trần Thánh Tông tôn ông là sư huynh và ông cũng là thầy của Trần Nhân Tông.|Thượng Sĩ là người có bản lĩnh, không câu nệ giáo điều. Lần nọ, em gái là Thiên Cảm mời ông dùng cơm, có mặt của Trần Nhân Tông. Ông gắp thịt cá tự nhiên làm Thiên Cảm ngạc nhiên hỏi: »Anh tu thiền, ăn thịt cá sao thành Phật được?« Ông cười đáp: »Phật là Phật, anh là anh.« Trần Nhân Tông lần đó cũng thắc mắc, nhưng ngày sau có dịp, ông trả lời như sau (bản dịch của Nguyễn Lang):|無常諸法行。心疑罪便生|本來無一物。非種亦非萌|日日對境時。景景從心出|心境本來無。處處巴羅密|喫草亦喫肉。種生各所食|春來百草生。何處見罪福|Vô thường chư pháp hành|Tâm nghi tội tiện sinh|Bản lai vô nhất vật|Phi chủng diệc phi manh|Nhật nhật đối cảnh thời|Cảnh cảnh tòng tâm xuất|Tâm cảnh bản lai vô|Xứ xứ ba-la-mật|*Vạn pháp vô thường cả,|Tâm ngờ tội liền sinh.|Xưa nay không một vật,|Chẳng hạt chẳng mầm xanh.|Hằng ngày khi đối cảnh,|Cảnh đều do tâm sinh.|Tâm cảnh đều không tịch,|Khắp chốn tự viên thành.|Trần Nhân Tông nghe xong nhưng vẫn thắc mắc về chuyện tội phúc, hỏi »thế thì công phu giữ giới để làm gì«, Thượng Sĩ đọc tiếp các câu kệ (bản dịch của Nguyễn Lang):|持戒兼忍辱。招罪不招福|欲智無罪福。非持戒忍辱|如人上樹時。安中茲求危|如人不上樹。風月何所爲|Trì giới kiêm nhẫn nhục|Chiêu tội bất chiêu phúc|Dục tri vô tội phúc|Phi trì giới nhẫn nhục|Như nhân thượng thụ thời|An trung tư cầu nguy|Như nhân bất thượng thụ|Phong huyệt hà sở vi?|*Trì giới và nhẫn nhục,|Thêm tội chẳng được phúc.|Muốn siêu việt tội phúc,|Ðừng trì giới nhẫn nhục.|Như người khi leo cây,|Ðương yên tự chuốc nguy.|Nếu đừng leo cây nữa,|Trăng gió làm được gì?|Sau đó ông căn dặn Nhân Tông dừng nói những lời này ra cho kẻ sơ cơ biết.|Ngày 1 tháng 4 năm 1291, Thượng Sĩ cho kê giường ở Thiền đường tại Dưỡng Chân Trang, nằm xuôi nhắm mắt. Hầu cận khóc lóc, Thượng Sĩ mở mắt ngồi dậy quở »Sống chết là lẽ thường, sao lại luyến tiếc khóc than, làm náo động chân tính ta.« Nói xong, Thượng Sĩ tịch, thọ 62 tuổi.|Ông để lại rất nhiều thơ văn chỉ rõ kiến giải của một Thiền giả đắc đạo. Một trong những tác phẩm quan trọng là Huệ Trung Thượng Sĩ ngữ lục do Thiền sư Pháp Loa biên soạn.
Huệ Tư 慧思; C: huìsī; 515-577, cũng được gọi là Nam Nhạc Tôn giả (南嶽尊者), Tư Ðại Thiền sư (思大禪師);|Cao tăng Trung Quốc, môn đệ của sư Huệ Văn và là thầy của sư Trí Khải. Vì Trí Khải sau này về núi Thiên Thai sáng lập Thiên Thai tông nên Sư được xem là Tổ thứ ba của tông này sau Long Thụ (s: nāgārjuna) và Huệ Văn.|Sư họ Lí, người Vũ Tân (nay là huyện Thượng Thái, Hà Nam). Sư xuất gia lúc còn nhỏ sau khi chiêm bao thấy một vị tăng khuyên xuất thoát tục. Sư say mê tụng đọc kinh Diệu pháp liên hoa và ngoài việc khất thực, Sư tìm đến những chỗ trống hoang vắng, ở những gò mã, động huyệt chú tâm tụng trì kinh này. Tương truyền trong thời gian này – từ 7 đến 14 tuổi – Sư tụng kinh đến nỗi bệnh cũng tự biến, mộng thấy Phổ Hiền đến xoa đầu và sau đó đầu nổi lên nhục kế (cái chóp thịt trên đầu mà các tượng Phật hay được trình bày), văn tự chưa học mà tự nhiên thông. Trong khoảng thời gian từ 15-20 tuổi, Sư thụ giới cụ túc, tìm đến các nơi tham học và nhân đây, Sư gặp Huệ Văn và được truyền pháp »Nhất tâm tam quán«, tức là quán ba tính chất của chư Pháp là »Không, giả và trung«, một trong những giáo lí then chốt của Thiên Thai tông sau này. Sư tuân theo lời dạy của Huệ Văn, tinh tiến toạ thiền. Một hôm – mặc dù vẫn đang dày công tu tập – Sư tỏ vẻ hối tiếc vì đã để tuổi đạo luống qua, dựa lưng vào tường than thở thì bỗng nhiên ngộ được chân lí, đạt »Pháp hoa tam-muội.«|Sư đặc biệt chú trọng đến việc phụng thờ Phật A-di-đà và Bồ Tát Di-lặc và nhân khi tạo kinh Bát-nhã chữ vàng, Sư làm hộp lưu li tôn trì và nguyện rằng, khi đức Di-lặc ra đời thì kinh Bát-nhã chữ vàng này sẽ xuất hiện và được tuyên dương lần nữa. Sư là một trong những người đầu tiên đưa ra thuyết »thời kì mạt pháp« là thời kì suy vong của đạo Phật. Sư cũng đặc biệt chú trọng đến việc thực hành việc Toạ thiền và cả về việc nghiên cứu giáo lí được ghi chép lại trong Tam tạng kinh điển.|Năm 554, Sư đến Quang Châu khai đường thuyết pháp, hoằng hoá suốt 14 năm và từ đây, danh tiếng vang lừng. Nhưng cũng có nhiều người ganh ghét và nhiều lần muốn ám hại Sư bằng cách đầu độc. Tại núi Ðại Tô ở phía Nam của Hà Nam, Sư truyền pháp lại cho Trí Khải Ðại sư. Năm 568, khi đến Hành Sơn ở Hồ Nam, Sư bỗng nhiên ngộ được ba tiền kiếp của mình, ở lại đây hoằng giáo mười năm và vì thế Sư cũng mang danh hiệu là Nam Nhạc Tôn giả. Vua Tuyên Ðế cũng rất khâm phục tín ngưỡng nên ban cho Sư danh hiệu Ðại Thiền sư và vì vậy Sư cũng được gọi là Tư Ðại Hoà thượng hay Tư Ðại Thiền sư.|Năm 577, Ðinh Dậu, ngày 22 tháng 6, Sư ngồi yên an nhiên thị tịch. Vị Tổ của Luật tông là Ðạo Tuyên viết về Sư như sau trong Tục cao tăng truyện: »Phụng trì Bồ Tát giới, không thị biệt thỉnh, không nhận biệt cúng. Mặc áo vải thô, lạnh thì dùng áo độn cỏ, ăn thì ngày một bữa. Thường ở núi rừng, đêm thì tư duy, ngày phu diễn, phát ngôn sâu xa. Nhân định mà phát huệ, điều này thấy rõ nơi Tôn giả Huệ Tư.«|Các tác phẩm của Sư còn được lưu lại: 1. Pháp hoa kinh an lạc hạnh nghĩa; 2. Chư pháp vô tránh tam-muội pháp môn; 3. Ðại thừa chỉ quán pháp môn; 4. Tứ thập nhị tự môn; 5. Thụ Bồ Tát giới nghi; 6. Nam Nhạc Tư Ðại Thiền sư lập thệ nguyện văn.
Huệ Văn 慧文; C: huìwén; tk. 5-6, cũng được gọi là Bắc Tề Tôn giả (北齊尊者);|Cao tăng Trung Quốc, sống vào thời Bắc Tề, được xem là Tổ thứ hai của Thiên Thai tông sau Long Thụ. Người nối pháp của Sư là Huệ Tư.|Sư họ Cao, người Bột Hải, thuộc tỉnh Sơn Ðông. Sư xuất gia từ nhỏ, thông minh hơn người và tinh tiến tu học. Một hôm, Sư xem luận Ðại trí độ (大智度; s: mahāprajñāpāramitā-śāstra) của Long Thụ bỗng nhiên có tỉnh và sau đó, khi đọc Trung quán luận (s: madhyamakaśāstra), phẩm Quán thánh đế đến bài kệ:|Các pháp do nhân duyên sinh ra|Ta nói tất cả đều là Không|Cũng chỉ là giả danh tạm gọi|Cũng chính là lí nghĩa Trung đạo|Sư thông suốt được huyền nghĩa Trung đạo là »Không hữu bất nhị« (空有不二). Sư từ đây căn cứ vào giáo lí của Long Thụ mà xiển dương Phật pháp. Sau, Sư đến vùng Hoàng Hà, truyền bá giáo pháp Ðại thừa, chúng theo học có hơn ngàn người. Tại Hà Nam, Sư truyền giáo pháp lại cho sư Huệ Tư, Tổ thứ ba và từ đây, mầm mống của tông Thiên Thai được hình thành.|Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.
Huệ Viễn 慧遠; C: huìyuǎn; 334-416;|Cao tăng Trung Quốc, đệ tử của Ðạo An. Là người sáng lập tông phái tôn thờ Phật A-di-đà và thành lập Bạch Liên xã, được xem là Sơ tổ của Tịnh độ tông tại Trung Quốc. Tác phẩm quan trọng của Huệ Viễn gồm một bài luận giải về Nghiệp (s: karma), trong đó Sư nói đến từng bước chín muồi của hành động (quả báo) và một luận đề cập đến những vấn đề »linh hồn« bất tử. Sư là người đã giúp các tăng sĩ thời bấy giờ bớt các trách nhiệm thế gian đối với vương triều để chuyên tâm tu hành.|Lúc thiếu thời, Sư học Nho, Lão Tử, Trang Tử. Qua tuổi 21, Sư được Ðạo An đưa vào Tăng-già và bắt đầu học kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra) và diễn giải kinh này với các khái niệm của Lão Trang. Năm 381, Sư đến Lư Sơn và sống đến cuối đời tại đó. Trong thời gian này, Lư Sơn trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng và nổi tiếng về giới luật nghiêm minh. Theo lời mời của Sư, Cao tăng người Kashmir tên là Khang Tăng Khải (s: saṅghadeva, saṅghavarman) đến Lư Sơn và dịch các tác phẩm quan trọng nhất của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) sang tiếng Hán. Sư liên hệ thường xuyên với Cưu-ma-la-thập (s: kumārajīva) để trao đổi về các vấn đề thuộc về Kinh tạng (Tam tạng) và sự khác biệt giữa một A-la-hán (s: arhat) và một Bồ Tát (s: bodhisattva).|Năm 402, Sư tập hợp 123 tăng sĩ trước tượng Phật A-di-đà, thệ nguyện sinh vào cõi Tây phương Cực lạc và thành lập Liên phái và từ đây Sư được xem là Sơ tổ của Tịnh độ tông. Sư là một trong những Cao tăng Trung Quốc đầu tiên nhấn mạnh sự quan trọng của phép Thiền (s: dhyāna) trong việc tu học.
Hung 凶; C: xiōng; J: kyō;|Có các nghĩa sau: 1. Xấu, ác; 2. Vận xấu, vận chẳng lành; 3. Tai hoạ, tai ương, nạn lụt, nạn hạn hán.
Hưng Dương Thanh Nhượng 興陽清讓; C: xīngyōng qīngràng; J: kōoyō seijō; ?-?;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Quy Ngưỡng đời thứ năm, nối pháp Thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh. Sử sách chẳng viết gì về Sư ngoài những giai thoại nhỏ rải rác đây đó.|Một vị tăng hỏi Sư: »Phật Ðại Thông Trí Thắng ngồi tu mười kiếp ở đạo trường, Phật pháp không hiển hiện, không đắc Phật đạo, thế nghĩa là sao?« Sư bảo: »Hỏi thật hay.« Vị tăng hỏi: »Ðã ngồi tu ở đạo trường, sao lại không thành được Phật đạo?« Sư đáp: »Vì ông ấy không thành Phật.«
Hưng Hoá Tồn Tưởng 興化存獎; C: xīnghuà cúnjiǎng; J: koke zon-shō; 830-888;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Người thừa kế Sư là Thiền sư Nam Viện Huệ Ngung.|Sư học nơi Lâm Tế làm thị giả nhưng ngộ yếu chỉ nơi Thiền sư Ðại Giác, một môn đệ đắc pháp khác của sư Lâm Tế. Ở hội của Tam Thánh Huệ Nhiên, Sư làm Thủ toạ, thường nói: »Ta nhắm phương Nam đi hành cước, một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp.« Tam Thánh nghe được nói: »Ngươi đủ con mắt gì mà nói thế ấy?« Sư liền hét. Tam Thánh nói: »Phải là ngươi mới được.« Ðại Giác nghe chuyện này mong có ngày gặp thử tài.|Sau Sư đến Ðại Giác làm Viện chủ. Một hôm Ðại Giác hỏi: »Viện chủ! Ta nghe ông nói ›Nhắm phương Nam đi hành cước, một phen gặp được đầu gậy, mà chẳng từng tìm ra một người hội Phật pháp‹, ông y cứ vào đạo gì mà nói như thế?« Sư liền hét, Ðại Giác liền đánh, Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Hôm sau, Sư đi ngang qua pháp đường, Ðại Giác gọi: »Viện chủ, ta vẫn còn nghi hai tiếng hét của ông hôm qua.« Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Sư lại hét, Ðại Giác lại đánh. Sư bèn nói: »Tôi ở chỗ sư huynh Tam Thánh học được câu khách chủ, nay bị sư huynh bẻ gẫy rồi, xin cho tôi pháp môn an lạc.« Ðại Giác bảo: »Cái gã mù, đến trong ấy đã chịu thua, cổi áo nạp ra đánh đòn một trận.« Ngay đây, Sư ngộ pháp của Lâm Tế.|Sư dạy chúng: »Ta chỉ nghe ngoài hành lang hét, ở giá sau hét. Các ông chớ hét mù, hét loạn, dù cho hét được Hưng Hoá bay trụ đến giữa trời, lại phải rơi xuống tắt thở, đợi Hưng Hoá tỉnh dậy sẽ bảo ông ›chưa hiện tại‹. Vì cớ sao? Ta chưa từng nhằm màn lụa đỏ để chân châu, với những người các ông hét loạn trong hư không để làm gì?«|Sư cỡi ngựa, bị ngựa quăng té gẫy chân. Sư gọi: »Viện chủ! chuốt cho ta một cái chân cây« Viện chủ chuốt xong đem đến, Sư cặp vào khấp khểnh đi quanh viện, hỏi tăng chúng: »Các ngươi biết Lão tăng chăng?« Chúng đáp: »Làm sao mà không biết Hoà thượng.« Sư bảo: »Pháp sư què nói được đi chẳng được.« Sư đến pháp đường sai Tri sự đánh chuông gọi chúng. Chúng tụ họp, Sư bảo: »Lại biết Lão tăng chăng?« Chúng không đáp. Sư ném chân cây, ngồi thẳng thị tịch, thọ 59 tuổi.
Hưng thiền hộ quốc luận 興禪護國論; J: kozen gokoku-ron;|Một tác phẩm của vị Thiền sư Nhật Bản Minh Am Vinh Tây (s: myōan eisai), người đầu tiên truyền Thiền học – có kết quả lâu dài – sang Nhật. Sư viết luận này để đáp lại sự phản bác, chống đối Thiền tông của những tông phái khác tại đây và trình bày trong luận này rằng, sự phát triển của Thiền tông tại đây chỉ làm cho nước Nhật ngày càng hưng thịnh. Hưng thiền hộ quốc luận là quyển sách nói về Thiền đầu tiên được viết tại Nhật.
Huống 况; C: kuàng; J: kyō; S: kah vādah|Thêm vào, ngoài ra, tuy nhiên, thậm chí ít hơn. Chưa tính, chưa kể đến (s: kah vadah). Thường dùng thay đổi với chữ Huống bộ Thuỷ 況.
Hướng 向; C: xiàng; J:; kō.|Có các nghĩa sau: 1. Có khuynh hướng về, tiến hành theo; 2. Phát tâm tu tập. Lúc mới phát nguyện tu tập; 3. Giai đoạn tu tập ở mức độ nhất định của một giai vị trước khi hoàn bị một giai vị đặc biệt. Ngược với thuật ngữ Quả (果) hoặc »hoàn bị«. Chẳng hạn như Tứ hướng (四向).
Hương Hải 香海; 1628-1715.|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Trúc Lâm Yên Tử. Không biết Sư thừa kế ai bởi vì hệ thống truyền thừa của Trúc Lâm Yên Tử bị thất lạc từ sau vị Tổ thứ ba là Huyền Quang.|Sư con nhà thế phiệt, tổ tiên làm quan triều đình. Sư thuở nhỏ đã thông minh tài trí, năm 18 tuổi thi đỗ Cử nhân, được triều đình phong làm tri phủ Triệu Phong (nay là tỉnh Quảng Trị). Năm 25 tuổi Sư bắt đầu học đạo, ba năm sau thì từ quan xuất gia rồi dong thuyền ra đảo Tim Bút La (Cù lao Chàm ở biển Ðà Nẵng) ở biển Nam Hải, cất am để tu. Tương truyền rằng ở đây ma quái kéo đến quấy nhiễu nhưng Sư đều đối trị được. Chúa Nguyễn Phúc Tần (chúa Hiền) nghe danh Sư cho mời về núi Quy Kính trụ trì. Bấy giờ có quan nội giám Gia quận Công, người Ðàng ngoài nhưng được chúa Nguyễn cho dạy trong nội cung. Gia quận Công hay lui tới nghe Sư giảng pháp. Vì thế mà có kẻ ganh ghét tâu với chúa Nguyễn là hai người âm mưu định trốn về Bắc. Chúa Nguyễn không có bằng cớ nhưng buộc Sư phải vào Quảng Nam ở. Vì chuyện đó mà Sư quyết chí về Bắc. Chúa Trịnh coi trọng sư thưởng nhiều vàng bạc, về sau cho đưa Sư về Sơn Tây, lúc này Sư đã 56 tuổi. Năm Canh Thìn 1700, Sư dời sang chùa Nguyệt Ðường, học trò theo học rất đông, nơi đây Sư làm hưng thịnh phái Trúc Lâm.|Sư thường dạy chúng như sau: »Ngộ được tự tính mình thì chúng sinh là Phật, mê tự tính của mình thì Phật là chúng sinh. Giữ được tự tính mình bình đẳng thì chúng sinh là Phật, để tự tính mình gian hiểm thì Phật là chúng sinh.« Lại nói: »(Có những kẻ) Chỉ muốn tránh chỗ huyên náo, bỏ nơi hoạt động, cố phá từng cái tướng, tách từng mảnh bụi của mọi vật thể để tìm hiểu biết. Làm như thế tuy chỗ tĩnh lặng cốt ngộ lí không, nhưng không biết đó cũng là cái lối làm chôn vùi chân tính, lấp mất chân giác… Nếu biết quay ánh sáng soi lại nơi mình bỏ ngoại cảnh mà xem tự tâm, thì Phật nhãn sáng suốt, bóng nghiệp tự tan, Pháp thân hiện ra, những vết trần tự diệt… Cái bản thể của tâm và chân tướng của tính, vốn lặng lẽ chẳng phải có, chẳng phải không, không có sinh cũng không có diệt. Ta tìm nó thì không thấy, bỏ nó thì vẫn chẳng rời. Nếu ta mê cái hiện lượng của nó thì khổ sở lầm lẫn lăng xăng, nếu ngộ được chân tính của nó thì tinh thông sáng suốt. Tâm tức là Phật, Phật tức là tâm, song chỉ có người chứng ngộ mới biết.«|Năm Ất Mùi Vĩnh Thịnh thứ 11 (1715), ngày 13 tháng 5, Sư mặc áo ca-sa ngồi kết già an nhiên thị tịch, thọ 88 tuổi. Chùa Nguyệt Ðường là một thiền lâm lớn nhất trong nước. Sư để lại 16 tác phẩm giải thích các kinh Pháp hoa, Kim cương, A-di-đà…
Hương Lâm Trừng Viễn 香林澄遠; C: xiānglín chéngyuǎn; J: kyōrin chōon, 908-987;|Thiền sư Trung Quốc. Sư và Ðộng Sơn Thủ Sơ là hai môn đệ trội nhất của Thiền sư Vân Môn Văn Yển. Môn đệ giỏi nhất của Sư là Thiền sư Trí Môn Quang Tộ.|Nơi Vân Môn, Sư làm Thị giả. Vân Môn mỗi khi tiếp Sư đều gọi: »Thị giả Viễn!« Sư ứng: »Dạ.« Vân Môn hỏi: »Ấy là gì?« Ðó là pháp duy nhất Sư học tại Vân Môn. Sau 18 (!) năm như vậy, Sư tỉnh ngộ. Sư từ giã đi, Vân Môn bảo: »Sao chẳng nói một câu hướng thượng?« Sư suy nghĩ. Vân Môn bắt ở thêm ba năm (!) nữa.|Sau đó Sư đến chùa Hương Lâm trụ trì và hướng dẫn học giả trên thiền đạo. Có vị tăng hỏi Sư: »Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?« Sư đáp: »Ngồi lâu sinh nhọc.«|Một hôm, Sư bảo chúng: »Lão tăng 40 năm mới dồi thành một khối.« Nói xong, Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 80 tuổi.
Hương Nghiêm Trí Nhàn 香嚴智閑; C: xiāngyán zhìxián; J: kyōgen chi-kan; ?-898;|Thiền sư Trung Quốc, ngộ đạo nơi Quy Sơn Linh Hựu. Câu chuyện »sáng mắt« của Sư được nhắc nhở nhiều trong giới thiền vì nó nêu rõ quan niệm »Bất khả tư nghị« và các phương pháp hoằng hoá đặc biệt của các vị Tổ sư.|Trước khi đến Quy Sơn, Sư đã đến học nơi Bách Trượng Hoài Hải, nổi danh là đã nghiên cứu nhiều kinh luận nhưng vẫn không đoạn triệt hồ nghi. Sau khi Bách Trượng tịch, Sư đến tham vấn Quy Sơn. Quy Sơn hỏi: »Ta nghe sư đệ ở chỗ Tiên sư Bách Trượng thông minh lanh lợi, nhưng ta không hỏi đệ về chỗ học bình sinh, cũng không hỏi về kinh sách. Giờ đây hãy nói thử một câu khi cha mẹ chưa sinh xem!« Sư mù mịt không biết đâu là đâu bèn rút lui vào thất, soạn hết sách vở đã học qua nhưng trọn không tìm được câu giải đáp. Sư than: »Bánh vẽ chẳng no bụng đói« và đến Quy Sơn xin lời giải. Quy Sơn bảo: »Nếu ta nói sư đệ sau này sư đệ sẽ mắng ta, vì ta nói là việc của ta, liên hệ gì đến sư đệ?« Sư đem sách vở ra đốt hết, tự nghĩ »Ðời này không học Phật pháp nữa, làm tăng thường lo cơm lo cháo để khỏi nhọc tâm.« Sư từ giã Quy Sơn đi thẳng đến di tích của Quốc sư Nam Dương Huệ Trung, cất am tại đây. Sư ngày ngày lấy chổi quét dọn sạch mộ của Quốc sư. Một hôm Sư quét lá, một viên sỏi bay đụng vào khóm tre vang lên một tiếng. Sư nghe vậy bỗng nhiên đại ngộ, tìm được câu trả lời Quy Sơn, phá lên cười và làm bài kệ sau:|一擊忘所知。更不假修治|動容揚古路。不墮悄然機|處處無蹤跡。聲色外威儀|諸方達道者。咸言上上機|Nhất kích vong sở tri|Cánh bất giả tu trị|Ðộng dung dương cổ lộ|Bất đoạ tiểu nhiên cơ|Xứ xứ vô tung tích|Thanh sắc ngoại uy nghi|Chư phương đạt đạo giả|Hàm ngôn thượng thượng cơ.|*Tiếng dội lùm tre quên sở tri|Có gì đối trị giả tu trì|Ðổi thay thần sắc nêu đường cổ|Nếp cũ tiêu điều chẳng trệ si|Chốn chốn dạo qua không dấu vết|Sắc thanh nào nhiễm được uy nghi|Mười phương đạt giả đều như vậy|Tối thượng là đây biết nói gì.|(Trúc Thiên dịch)|Sư trở về am thắp hương hướng về Quy Sơn bái lễ: »Hoà thượng từ bi hơn cha mẹ, khi trước nếu vì ta mà nói thì đâu có ngày nay.«|Sư hỏi chúng: »Ví như có người leo cây cao, dưới là vực thẳm. Người ấy miệng ngậm cành cây, chân không đạp chỗ nào, tay không bám vào đâu. Chợt có người đến hỏi ›ý của Tổ sư từ Ấn Ðộ sang‹, khi ấy phải làm sao?« Vị Thượng toạ bước ra thưa: »Chẳng hỏi khi đã leo lên cây, lúc chưa leo lên cây thế nào?« Sư cười rồi thôi.
Hữu 有; C: yŏu; J: u, yū; S, P: bhava;|1. Có, sở hữu; 2. Có, có được, tồn tại, xuất hiện, nằm ở, xảy ra, gồm có (s: asti, sat); 3. Được cấu tạo bởi, sự vật chất hoá, sự tạo thành, sự hoàn thành; 4. Sở hữu, quyền sở hữu, quyền được sở hữu; 5. Một vài, một người nào đó,…|[Phật học] 1. Đối nghịch với vô (無) hoặc không (空). Sự tồn tại, và sự tồn tại này được phân thành 3 loại: tồn tại ở thế gian: tương đãi hữu, giả danh hữu và pháp hữu (Tam chủng hữu 三種有); 2. Cưu-ma-la-thập thường dũng chữ Hữu (有) để dịch chữ bhavati từ tiếng Phạn, nhưng chữ Hữu 有 không thường được dùng để dịch chữ »yod pa« trong tiếng Tây Tạng, mà thường được dùng cho chữ »hgyur ba«. Nghĩa chính của chữ bhavati là trở thành, sinh ra, làm nên, cấu tạo.v.v… 3. Gồm có, sự cụ thể hoá, sự hình thành, sự hoàn thành (s: saṃbhava); 4. Xem những điều không hiện hữu là hiện hữu (s: samāropa); 5. Sở hữu, quyền sở hữu, vật sở hữu; 6. Một vài, một, một cái nào đó; 7. Hữu – chi phần thứ 10 trong 12 nhân duyên.
Hữu ái 有愛; C: yŏuài; J: uai; |1. Đắm chấp vào sự hiện hữu; tham muốn hiện hữu (p: bhava-taṇhā; s: bhava-priya); 2. Chỉ những dạng khác của tham chấp trong cõi sắc và vô sắc.
Hữu bảo 有寶; C: yŏubăo; J: uhō; |Có được châu báu – tên của một kiếp (s: kalpa) trong kinh Pháp Hoa.
Hữu bạo lưu 有暴流; C: yŏubàoliú; J: ubōru;|Dòng chảy dữ dội của sự đắm chấp vào sự hiện hữu (s: bhava-ogha), thí dụ cho lòng tham và kiêu mạn có trong cõi sắc và vô sắc. Là một trong 4 dòng bạo lưu (Tứ bạo lưu 四暴流), tương đương với Hữu lậu (有漏).
Hữu bộ 有部; C: yŏu bù; J: ubu; S: sarvāstivāda|Viết tắt của Thuyết nhất thiết hữu bộ (説一切有部).
Hữu cấu 有垢; C: yŏugòu; J: uku; |Có, bao gồm, hay dính mắc với nhiễm ô. Theo Bảo tính luận (寶性論, s: ratnagotravibhāga), dạng nhiễm ô nầy biểu thị dạng thức thấp (nhị thừa) của phiền não, khác với Hữu điểm (有點), chướng ngại liên quan đền hàng Bồ Tát.
Hữu điểm 有點; C: yŏudiăn; J: uten;|Nakamura định nghĩa thuật ngữ nầy đơn giản là »có nhiễm ô phiền não«, nhưng theo cách dùng trong Bảo tính luận (寶性論, s: ratnagotravibhāga), nó chỉ cho tập khí vi tế còn sót lại, việc chuyển hoá tập khí nầy là của hàng Bồ Tát, vượt qua phạm vi tu tập của hàng nhị thừa. Cách dùng trái ngược với Hữu cấu (有垢).
Hữu đỉnh 有頂; C: yŏudǐng; J: uchō;|Tầng trời thứ tư của Sắc giới (色界). Tầng cao nhất của của thế giới hữu hình (s: bhava-agra). Xem Hữu đỉnh thiên (有頂天).
Hữu đỉnh thiên 有頂天; C: yŏudǐngtiān; J: uchōten; S: akaniṣ-ṭha.|1. Tên gọi khác của Sắc cứu cánh thiên (色究竟天), là tầng thứ tư và là tầng cao nhất trong cõi Sắc; 2. Tên gọi khác của Phi tưởng phi phi tưởng xứ, tầng thứ tư và là tầng cao nhất trong cõi Vô sắc.
Hữu đối 有對; C: yŏuduì; J: utai;|Sự hiện hữu của một đối tượng bền chắc choán không gian và có hoặt dụng như một chướng ngại (s: pratigha). Đồng nghĩa với Hữu ngại (有礙) và phản nghĩa với Vô đối (無對).
Hữu dư 有餘; C: yŏuyú; J: uyo; |1. Còn tàn dư. Dù đã giải thoát khỏi mọi phiền não và trói buộc, nhưng vẫn còn thân thể vật chất nhiễm ô. Thường thấy dùng trong dụng ngữ »Hữu dư niết-bàn« (有餘涅槃); 2. Cái khác, cái còn lại; người khác, vật khác.
Hữu dư niết-bàn 有餘涅槃; C: yŏuyú nièpán; J: uyo nehan; S: sopadhiśeṣa-nirvāṇa;|1. Niết-bàn thực chứng được khi đang còn ở trong thế gian nầy. Cũng vậy, do thân thể còn lưu lại, nên được gọi là »Hữu dư niết-bàn«; 2. Sự chấm dứt các nguyên nhân luân hồi của hàng Bồ Tát; 3. Còn gọi là »niết-bàn tiểu thừa«, vì hàng Thanh Văn và Duyên Giác có thể chứng đắc được. Thuật ngữ đề cập đến sự biểu hiện của chân như tương ưng với sự chấm dứt mọi phiền não chướng. Là một trong »Tứ chủng niết-bàn« theo giáo lí Duy thức. »Hữu dư y niết-bàn«. Niết-bàn
Hữu duyên 有縁; C: yŏuyuán; J: uen; |1. Có đối tượng của thức (s: sālambana); 2. Duyên khởi. Có liên quan; 3. Những nhân duyên khác nhau; 4. Nguyên nhân gián tiếp phát sinh sự hiện hữu; 4. Người mà mình gắn bó.
Hữu giáo 有教; C: yŏujiāo; J: ukyō; |Giáo lí chủ trương »ngã không pháp hữu«. »Thật thể« được công nhận. Thế giới hiện hữu khách quan vô thường và biến dịch, nhưng các pháp (法) hợp thành thế giới thay đổi nầy lại có một ngã thể.
Hữu học 有學; C: yŏuxué; J: ugaku; |Bậc tu đạo chưa thành tựu, còn phải học và tiến bước trong Phật đạo, chưa đạt quả vị A-la-hán. Theo Phật giáo Tiểu thừa thì đây là bậc chưa đạt được quả vị thứ tư.
Hữu kiến 有見; C: yŏujiàn; J: uken; |Tính chất có thể trông thấy được (s: sanidarśana); có thể thấy – đặc tính của vật chất, hay »sắc« (色). Khác với Vô kiến (無見).
Hữu lậu 有漏; C: yŏulòu; J: uro; S: āsrava|Dịch sang tiếng Hán là »còn chảy ra«, nhưng đó là một thuật ngữ Phật học vay mượn mô phỏng theo Kì-na giáo (e: jainism), có nghĩa là sự hiện hữu của nghiệp tăng trưởng theo linh hồn (s: jīva). Trong Phật giáo, thuật ngữ nầy có thể được so sánh với ý niệm phiền não hoặc nhiễm ô, nên nó có nghĩa là »nhiễm ô«, »phiền não«, »bất tịnh«, »không hoàn thiện« v.v…; đồng nghĩa với Nhiễm (染) và Phiền não (煩惱). Sự nhiễm ô nầy liên đới trực tiếp với duyên của vô minh, khiến thức bị đánh lừa bởi ảo tướng của chủ thể và đối tượng, yêu và ghét. Tâm giải thoát thì vận hành không vướng nhiễm ô (vô lậu 無漏, s: anāsrava); do vậy, sự phân biệt giữa hữu lậu và vô lậu ương tự như sự khác biệt giữa phàm và thánh, hoặc giữa mê và ngộ; 2. Sự nhiễm ô kết hợp với trong sắc giới (hơn là kết hợp với Dục giới hay Vô sắc giới); Tam lậu (三漏).
Hữu lậu tập đế 有漏集諦; C: yŏulòujídì; J: uroshūtai; |Sự thật về sự huân tập có nhiễm ô.
Hữu lậu thiện 有漏善; C: yŏulòu shàn; J: urozen; |Tính thiện bất tịnh, tương đối, còn nhiễm ô bởi tâm thức có định hướng mục đích.
Hữu lượng 有量; C: yŏuliáng; J: uryō; |Nhận thức được; phân định được, như vô số hiện tượng trong thế gian được xác định bởi tri thức hiểu biết (s: parimita).
Hữu lưu 有流; C: yŏuliú; J: uru; |Chân Đế (眞諦, s: paramārtha) dịch từ chữ āsrava trong tiếng Phạn, nghĩa là: có sự chảy thoát ra – bị phiền não, nhiễm ô, dính mắc thế tục, có định hướng mục đích. Về sau, Huyền Trang dịch là Hữu lậu (有漏).
Hữu lưu thiện 有流善; C: yŏuliúshàn; J: uruzen; |Tính chất thiện có nhiễm bất tịnh. Hữu lậu thiện (有漏善).
Hữu Nhất 有一; C: yŏuyī; J: uitsu; K: yuil, 1720-1799;|Thiền sư Triều Tiên. Sư nghiên cứu lịch sử và kinh điển từ lúc niên thiếu, xuất gia và bắt đầu tu thiền vào năm 18 tuổi. Sau đó sư dành thời gian tập trung nghiên cứu các kinh quan trọng đã trở thành thông dụng trong chương trình tu tập của tăng sĩ Triều Tiên như kinh Thủ Lăng Nghiêm, luận Đại thừa khởi tín, kinh Viên Giác. Sư trứ tác rất nhiều, trong số những tác phẩm quan trọng của sư là những luận giải về 4 bộ kinh luận nói trên.
Hữu phần 有分; C: yŏufēn; J: ubun; |1. Có tướng trạng phân biệt, có sắc thân (s: sāvayava); 2. Tất cả, toàn thể (s: avayavin); 3. Cũng như là… (s: tanmayatā); 4. Sự phân biệt cõi giới mình đang hiện hữu – như là tam giới, lục thú.v.v… Mắc xích của chuỗi hiện hữu, là 3 dạng huân tập của tàng thức trong Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論, s: mahāyāna-saṃgrāha).
Hữu pháp vô ngã tông 有法無我宗; C: yŏufă wúwǒ zōng; J: uhō muga shū; |Giáo lí của Nhất thiết hữu bộ cho rằng các pháp là có thật nhưng ngã thì không.
Hữu phú 有覆; C: yŏufù; J: ufuku; |Sự ngăn ngại, chướng ngại, sự cản trở; đặc biệt là sự cản trở tri giác thanh tịnh và chân chính.
Hữu phú vô kí 有覆無記; C: yŏufù wújì; J: ufuku muki; |Một trong các loại Vô kí (無記) gây chướng ngại cho sự giác ngộ, cùng với Vô phú vô kí (無覆無記). Là điều mặc dù không dứt khoát tốt hay xấu, nhưng có khía cạnh nhiễm ô làm ngăn ngại cho nhận thức trong sáng về thực tại, chẳng hạn như bốn biểu hiện quan niệm về ngã (Tứ kiến 四見) khi liên kết với mạt-na thức (s: nivṛta-avyākṛta, t: bsgribs la luṅ du ma bstan pa).
Hữu sắc 有色; C: yŏusè; J: ushiki;|Có thể trạng, có hình tướng (s: rupin).
Hữu sinh 有生; C: yŏushēng; J: ushō; |Một cuộc đời; được (tái) sinh ra trong thế gian nầy (s: utpāda; t: skyes pa).
Hữu tác 有作; C: yŏuzuò; J: usa; |1. Có tác dụng. Có chức năng tạo tác (s: kārya); 2. Cái được tạo tác. Đồng nghĩa với Hữu tướng (有相), cái không phải tự vốn hiện hữu như thế. Nhận biết được tác dụng hoặc hoặt động; 3. Điều sinh ra do nhân duyên.
Hữu tác tứ đế 有作四諦; C: yŏuzuòsìdì; J: usa shitai; |Tứ diệu đế được giải thích theo ý nghĩa thông thường trong phạm vi luật nhân quả. Khác với Vô tác tứ đế (無作四諦).
Hữu tâm 有心; C: yŏuxīn; J: ushin; |1. (Loài) có tâm ý – do vậy, là loài hữu tình (s: sa-citta; t: sems daṅ bcas pa), chúng sinh; 2. Hoạt động phân biệt của tâm chấp trước. Tâm niệm phân biệt của chúng sinh; 3. Tâm trong quan niệm là một cái gì đó có thể nắm bắt được.
Hữu tham 有貪; C: yŏu tān; J: uton; |1. Mối bận tâm về tham dục trong cõi sắc và vô sắc. Xuất phát từ tham muốn sự liên tục sinh mệnh của mình; »tham đắm sự hiện hữu«; 2. Dính mắc với thế tục; 3. Theo Hữu bộ (s: sarvāstivāda), đó là tham đắm sự hiện hữu trong cõi giới cao hơn.
Hữu thân kiến 有身見; C: yŏushēn jiàn; J: ushin ken; S: satkāya-dṛṣṭi; P: sakkāya-diṭṭhi.|Kiến chấp về ngã, không thể vượt thoát ra khỏi ý niệm về »Ngã« và »Ngã sở«. Gọi tắt là Thân kiến (身見). Phiên âm là Tát-ca-da kiến (薩迦耶見). Đây là một trong Tứ kiến liên hệ đến mạt-na thức (末那識).
Hữu thời 有時; C: yŏushí; J: uji; |1. Vào một lúc; một lúc nào đó, xảy ra đúng lúc; 2. »Hữu Thời«, nhan đề một tiểu luận nổi tiếng của Đạo Nguyên Hi Huyền trong tác phẩm Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏, j: shōbōgenzō).
Hữu thủ 有取; C: yŏuqŭ; J: ushu; |Có dính mắc, chấp trước (s: sa-upādāna). Tương tự với nghĩa rộng và thường dùng với Hữu lậu (有漏).
Hữu thủ thức 有取識; C: yŏuqŭshì; J: ushushiki; |1. Ý thức chấp trước. Thức uẩn trong tình trạng hữu lậu (有漏) hoặc phiền não (煩惱); 2. Theo Duy thức tông, đó là thuật ngữ bao hàm chức năng hoà hợp của thức thứ 7 và thức thứ 8.
Hưu Tĩnh 休靜; C: xiūjìng; J: kyūjō; K: hyujǒng (1520-1604);|Thiền sư sống vào triều đại Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), được xem là một trong 5 nhân vật quan trọng của lịch sử Phật giáo Hàn Quốc. Thường được người Hàn Quốc gọi một cách cung kính là Tây Sơn Đại sư (西山大師). Sư là một bậc thầy và một nhà trứ tác uy tín, tương truyền đã truyền dạy cho hàng trăm đệ tử, trong đó một số đã thành những vị Thiền sư rất xứng đáng. Sư đóng vai trò chính trong việc củng cố phương thức nghiên cứu và thực hành Thiền Hàn Quốc để duy trì pháp môn nầy cho đến thời hiện đại. Điều làm cho Hưu Tĩnh được kính trọng nhất trong lịch sử Hàn Quốc nói chung là vai trò của sư trong việc sáng lập cũng như lĩnh đạo đội quân tăng lữ, đã đóng vai trò quyết định trong việc đẩy lui cuộc xâm lăng của quân đội Nhật Bản do tướng Tú Cát Phong Thần (秀吉豊臣; j: hideyoshi toyotomi) chỉ huy.|Thêm vào năng lực phi thường như một tướng lĩnh quân đội, Hưu Tĩnh còn là một Thiền sư kiệt xuất và là tác giả của rất nhiều bản kinh văn quan trọng, nổi bật nhất là cuốn Thiền gia quy giám (禪家龜鑑; k: sǒnga kwigam), một tác phẩm hướng dẫn thực hành Thiền quán, đã được chư tăng Hàn Quốc nghiên cứu cho đến ngày nay.|Cũng như hầu hết chư Tăng trong thời đại Triều Tiên, ban đầu sư cũng được học tập triết học Tân Nho giáo. Không thoả mãn với tinh thần nầy, sư lặn lội qua nhiều tòng lâm trên những rặng núi để tham học, và cuối cùng gia nhập tăng-già. Sau khi được thừa nhận là một bậc Đạo sư, sư được Hoàng hậu Munjǒng sắc phong Tăng thống Thiền tông. Không lâu sau, sư từ bỏ trọng trách nầy, trở về lại với đời sống du phương. Sách tấn các môn đệ mình tu tập và dạy cho chư tăng khắp các tự viện trong nước. Sư tịch lúc 85 tuổi, độ cho gần 1000 đệ tử và trong số đó có 70 tăng ni. Nhiều vị đã giữ vai trò nổi bật trong sự truyền thừa Phật giáo Triều Tiên (朝鮮).|Hưu Tĩnh cũng được nổi tiếng trong nỗ lực kế tục chương trình hợp nhất việc nghiên cứu và tu tập đạo Phật. Sư được xem là nhân vật trung tâm của sự phục hưng Phật giáo Triều Tiên. Dòng Thiền Cao li hiện đại đã được kế thừa từ sư thông qua 1 trong 4 vị đệ tử lớn: Duy Chính (惟政; k: yujǒng) và Nhan Cơ (彦機; ǒngi), Thái Năng (太能; k: t'aenǔng) và Nhất Thiền (一禪; k: ilsǒn), tất cả 4 vị nầy đều là những người phụ tá cho Hưu Tĩnh trong cuộc chiến tranh chống Nhật Bản.
Hữu tính 有性; C: yŏuxìng; J: ushō; |1. Tồn tại, hiện hữu; sự sống (s: asita, astitva); 2. Có tự tính. Có bản tính; 3. Người vốn sở hữu bản chất, khả năng thành Phật. Bản tính Thanh văn, Bích chi Phật và Bồ Tát, khác với loài không có được bản tính như thế.
Hữu tình 有情; C: yŏuqíng; J: ujō; S: sattva; P: satta; dịch âm Hán Việt là Tát-đoá (薩埵), cũng được gọi là Chúng sinh (眾生), Hàm thức (含識);|Chỉ các giống có tình, có thức, nói chung là các loại động vật trong Ba thế giới.|Trước thời Huyền Trang, thuật ngữ nầy được dịch sang tiếng Hán là Chúng sinh (衆生), nhưng sau đó được địch là Hữu tình. Toàn thể chúng sinh.
Hữu vi 有爲; C: yŏuwéi; J: ui; S: saṃskṛta; T: ḥdus byas; P: saṅkhāta; nghĩa là »được tạo tác« phụ thuộc, bị ảnh hưởng, đối nghĩa với Vô vi (無爲);|Chỉ tất cả những hiện tượng, vạn vật chịu ảnh hưởng lẫn nhau. Ðặc điểm chính của những Pháp hữu vi này là Thành, Trụ, Hoại, Diệt. Vì thế nên tất cả những gì hữu vi đều trống rỗng (Không), Vô thường, không có tự tính; bám vào chúng là Khổ.|Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), người ta thường dùng những pháp hữu vi để giảng nghĩa tính chất vô thường của cuộc sống. Ðại thừa (s: mahāyāna) áp dụng danh từ hữu vi vào tất cả những hiện tượng vật chất, tâm lí của thế giới và con người. Ðây chính là nguồn gốc của giáo lí tính Không (s: śūnyatā) của Trung quán tông và học thuyết »Nhất thiết duy tâm tạo« của Duy thức tông.|Tuy nhiên, cách phân chia các pháp theo hữu vi, vô vi thay đổi theo từng tông phái (Pháp tướng tông, Câu-xá tông).|Kinh Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa có ghi lại (Kim cương tứ cú):|一切有爲法。如夢幻泡影|如露亦如電。應作如是觀|Nhất thiết hữu vi pháp|Như mộng huyễn bào ảnh|Như lộ diệc như điện|Ưng tác như thị quán.|*Các pháp hữu vi ấy|Như chiêm bao huyễn mị|Bọt bèo bóng chớp mù|Nên tưởng đều như vậy.
Hữu vi pháp 有爲法; C: yŏuwéi fă:; J: uihō; S: saṃskrta, saṃskrta-dharmāḥ; |1. Những hiện tượng biểu thị khác nhau được tạo ra như một tổng hợp của nhân và duyên. Những hiện tượng hình thành do nhân duyên, những gì sinh khởi, biến dịch và hoại diệt. Các pháp được tạo tác; 2. Các pháp hữu vi. Còn có nghĩa là năm uẩn: sắc, thụ tưởng, hành, thức, tất cả các yếu tố được tạo thành do các điều kiện (duyên; s: pratyaya); 3. Nhiễm ô, phiền não; 4. Những gì nhất thời và giả tạm.
Hữu vô 有無; C: yŏuwú; J: umu; |1. Có và không (s: bhāva-abhāva; t: dṅos daṅ dṅ med). Khuynh hướng giải thích thực tại như là một hay là khác thuộc hai cực nầy là toát yếu căn bản của Phật pháp, và là một trong những ý nghĩa mở rộng nhất của thuật ngữ Trung đạo (中道); 2. Một cách diễn đạt ý niệm không (空) và hữu (有).
Hưu yết 休歇; C: xiūxiē; J: kyūgatsu;|Dừng nghỉ, chấm dứt, hoàn thành. Vượt qua.
Huyễn 幻; S, P: māyā; dịch âm là Ma-da; cũng được gọi là ảo ảnh;|Ảo ảnh
Huyền Giác 玄覺|Vĩnh Gia Huyền Giác.
Huyền quan 玄關; J: genkan; nghĩa là »Cửa ải huyền bí«; |Ðược sử dụng trong nhiều trường hợp: 1. Nhập môn, bước vào con đường tu học Phật pháp, con đường mà Phật và các vị Tổ sư hướng dẫn; 2. Chỉ ngưỡng cửa của phòng tiếp khách trong một Thiền viện hoặc một phòng tiếp khách nằm gần cửa cổng; 3. Căn phòng nằm giữa cửa nhà và phòng khách trong một ngôi nhà tại Nhật Bản.
Huyền Quang 玄光; 1254-1334|Thiền sư Việt Nam, Tổ thứ ba dòng Trúc Lâm Yên Tử. Sư là một nhà thơ lớn với nhiều bài thơ còn được lưu lại. Cùng với Trúc Lâm Ðầu Ðà (Trần Nhân Tông) và Pháp Loa, Sư được xem là một Ðại thiền sư của Việt Nam và người ta xem Sư và hai vị nêu trên ngang hàng với sáu vị Tổ của Thiền tông Trung Quốc hoặc 28 vị Tổ của Thiền Ấn Ðộ.|Theo Tam tổ thật lục (三祖實錄), mẹ của Huyền Quang là Lê Thị hay đến chùa Ngọc Hoàng cầu nguyện vì đã 30 mà chưa có con. Ðầu năm Giáp Dần 1254, vị trụ trì chùa Ngọc Hoàng là Huệ Nghĩa mơ thấy »các toà trong chùa đèn chong sáng rực, chư Phật tôn nghiêm, Kim Cương Long Thần la liệt đông đúc. Ðức Phật chỉ Tôn giả A-nan-đà bảo: ›Ngươi hãy tái sinh làm pháp khí Ðông Ðộ và phải nhớ lại duyên xưa.‹« Năm ấy Lê Thị sinh Huyền Quang. Lớn lên Sư dung mạo dị thường, làm quan đến chức Hàn Lâm.|Một hôm, Sư cùng vua Trần Anh Tông đến chùa Vĩnh Nghiêm huyện Phụng Nhãn nghe Thiền sư Pháp Loa giảng kinh, liền nhớ lại »duyên xưa«, xin xuất gia thụ giáo (có tài liệu nói Sư thụ giáo với Bảo Phác ở chùa Vũ Ninh). Sư được cử làm thị giả của Trúc Lâm Ðầu Ðà và được ban pháp hiệu là Huyền Quang.|Sau, Sư theo lời phó chúc của Trúc Lâm trụ trì chùa Vân Yên (nay là chùa Hoa Yên) trên núi Yên Yử. Vì đa văn bác học, tinh thông đạo lí nên tăng chúng đua nhau đến học. Niên hiệu Ðại Khánh thứ 4 (1317), Sư được Pháp Loa truyền y của Trúc Lâm và tâm kệ. Sau khi Pháp Loa tịch (1330), Sư kế thừa làm Tổ thứ ba của thiền phái Trúc Lâm nhưng vì tuổi đã cao nên Sư giao phó trách nhiệm lại cho Quốc sư An Tâm.|Sư đến trụ trì Thanh Mai Sơn sáu năm, sau dời sang Côn Sơn giáo hoá. Ngày 23 tháng 1 năm Giáp Tuất (1334), Sư viên tịch, thọ 80 tuổi. Vua Trần Minh Tông sắc thuỵ là Trúc Lâm Thiền Sư Ðệ Tam Ðại, đặc phong Từ Pháp Huyền Quang Tôn Giả.|Sau đây là một vài bài thơ của Sư:|1. Cúc hoa 菊花 – Hoa cúc:|忘身忘世已都忘。坐久簫然一榻涼|歲晚山中無歷日。菊花開處即重陽|Vương thân vương thế dĩ đô vương|Toạ cửu tiêu nhiên nhất tháp lương|Tuế vãn sơn trung vô lịch nhật|Cúc hoa khai xứ tức trùng dương|*Quên mình quên hết cuộc tang thương|Ngồi lặng điều hiêu mát cả giường|Năm cuối trong rừng không có lịch|Thấy hoa cúc nở biết trùng dương|(theo Thơ văn Lý-Trần)|花在中庭人在樓。焚香獨坐自忘憂|主人與物渾無競。花向群芳出一頭|Hoa tại trung đình, nhân tại lâu|Phần hương độc toạ tự vong ưu|Chủ nhân dữ vật hồn vô cạnh|Hoa hướng quần phương xuất nhất đầu.|*Người ở trên lầu hoa dưới sân|Vô ưu ngồi ngắm khói trầm xông|Hồn nhiên người với hoa vô biệt|Một đoá hoa vừa mới nở tung.|(Bản dịch của Nguyễn Lang)|2. Ðịa lô tức sự 地爐即事 – Lò sưởi tức cảnh:|煨餘榾柮獨焚香。口答山童問短章|手把吹商和木鐸。從來人笑老僧忙|Ổi dư cốt đốt độc phần hương|Khẩu đáp sơn đồng vấn đoản chương|Thủ bả xuy thương hoà mộc đạc|Tòng lai nhân tiếu lão tăng mang|*Củi hết lò còn vương khói nhẹ|Sơn đồng hỏi nghĩa một chương kinh|Tay cầm dùi mõ, tay nâng sáo|Thiên hạ cười ta cứ mặc tình|(Bản dịch của Nguyễn Lang)|Tác phẩm của Sư: 1. Ngọc tiên tập; 2. Chư phẩm kinh; 3. Công văn tập; 4. Phổ huệ ngữ lục.
Huyền Sa Sư Bị 玄沙師備; C: xuánshā shībèi; J: gensha shibi; 835-908;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ danh tiếng nhất của Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Nối pháp của Sư có 13 vị – với La Hán Quế Sâm hàng đầu. Vị này lại là sư phụ của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích, người sáng lập tông Pháp Nhãn. Cảnh Ðức truyền đăng lục ghi tên tông này là Huyền Sa tông. Bích nham lục (công án 22, 56, 88) và Vô môn quan (41) có ghi lại pháp ngữ của Sư.|Sư họ Tạ, quê ở huyện Mân, Phúc Châu. Sư chẳng biết chữ, không đọc được chữ khắc trên những đồng tiền thời đó. Sư rất thích câu cá, thường cắm một chiếc thuyền nhỏ trên sông Nam Ðài để câu. Bỗng một hôm, Sư phát tâm cầu giải thoát, dẹp bỏ thuyền câu, lên núi Phù Dung theo Thiền sư Linh Huấn xuất gia, sau đến chùa Khai Nguyên ở Dự Chương thụ giới cụ túc với Luật sư Ðạo Huyền. Sư tu theo hạnh Ðầu-đà, chỉ mặc áo gai đi giày cỏ, ăn vừa đủ sống, suốt ngày ngồi im lặng, tăng chúng thấy vậy đều kính phục. Nơi đây, Sư gặp Tuyết Phong. Mặc dù chỉ nhỏ hơn 13 tuổi và theo lí thì như huynh đệ trong đạo, nhưng Sư gần gũi kính thờ Tuyết Phong như thầy trò. Tuyết Phong lên núi Tượng Cốt hoằng hoá, Sư cùng theo góp sức đắc lực. Học giả bốn phương đến tấp nập. Trong một cuộc Hành cước xuất phát từ đây, Sư vấp chân vào đá đau điếng người, bỗng nhiên đại ngộ.|Sư ứng đối nhanh nhẹn phù hợp kinh điển. Những người huyền học các nơi chưa thông đều đến cầu Sư chỉ dạy. Tuyết Phong thường bảo: »Ðầu-đà Bị là người tái sinh!«|Sau, Sư từ giã Tuyết Phong xuống núi, thu nhận môn đệ tại Huyền Sa. Từ đây học chúng đến rất đông. Công án sau đây trong Bích nham lục ghi lại cách dạy thần tốc của Sư và Thiền sư Vân Môn Văn Yển, hai môn đệ kế thừa xuất sắc của Tuyết Phong:|Một hôm, Sư thượng đường dạy chúng: »Những bậc lão túc ở các nơi trọn nói tiếp vật lợi sinh, chợt gặp người ba thứ bệnh đến làm sao mà tiếp? Người bệnh mù thì đưa chùy, dựng Phất tử, họ lại chẳng thấy. Người bệnh điếc thì ngữ ngôn tam-muội, họ lại chẳng nghe. Người bị bệnh câm dạy y nói, lại nói chẳng được. Phải làm sao tiếp? Nếu tiếp không được người này thì Phật pháp chẳng linh nghiệm.«|Tăng đến hỏi Vân Môn. Vân Môn bảo: »Ông lễ bái đi« Tăng lễ bái xong đứng dậy. Vân Môn lấy cây gậy chận, tăng thối lui. Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh mù.« Lại bảo: »Ông đến gần đây.« Vị tăng đến gần. Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh điếc.« Vân Môn hỏi tiếp: »Hội chăng?« Tăng đáp: »Chẳng hội« Vân Môn bảo: »Ông không phải bệnh câm.« Tăng nhân đây có tỉnh.|Sư ứng cơ tiếp người 30 năm, người có mặt nghe giảng không dưới 800. Ðến đời Lương, niên hiệu Khai Bình năm thứ hai, ngày 27 tháng 11 năm Mậu Thìn, Sư thị tịch, thọ 74 tuổi, được 40 tuổi hạ.
Huyễn thân 幻身; Tạng ngữ: gyulu [sGyu lus]; S: māyākāya, māyādeha;|Là thân huyễn hoá. Trong Kim cương thừa, thân này là một thân thanh nhẹ, cao hơn thân do Ngũ uẩn tạo thành, nhưng luôn luôn hiện diện trong đó. Huyễn thân cũng được hiểu là một phần của Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) và một phép tu Tan-tra nhằm thanh lọc thân thể thông thường để đạt Phật quả.
Huyền Trang 玄奘; C: xuánzhuǎng; 600-664; còn mang danh hiệu là Tam Tạng Pháp sư, là người tinh thông cả ba tạng, Tam tạng;|Cao tăng Trung Quốc, một trong bốn dịch giả lớn nhất, chuyên dịch kinh sách văn hệ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán. Sư cũng là người sáng lập Pháp tướng tông (c: fǎxiàng-zōng), một dạng của Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda) tại Trung Quốc. |Sư du hành 16 năm (629-645) Ấn Ðộ, lưu lại học tại Na-lan-đà và thăm viếng tất cả các di tích Phật giáo quan trọng. Cuộc hành trình này được ghi trong Ðại Ðường Tây vực kí, giúp hậu thế hiểu nhiều lịch sử Ấn Ðộ trong thế kỉ thứ 7. Sau khi trở lại Trung Quốc, Sư bắt tay vào công trình dịch các tác phẩm của Duy thức tông và các kinh luận khác sang Hán ngữ, như bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitāsūtra) gồm 600 tập; Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra), Nhiếp Ðại thừa luận (s: mahāyāna-saṃgraha) của Vô Trước (s: asaṅga), A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa-śās-tra), Duy thức tam thập tụng (s: triṃśikā-vijñāptimātratāsiddhi) và Duy thức nhị thập tụng (viṃśatikāvijñāptimātratāsiddhi) của Thế Thân (s: vasubandhu). Sư cũng là tác giả của bộ luận Thành duy thức (s: vijñāpti-mātratāsiddhi), trong đó Sư tổng kết quan niệm Mười đại luận sư của Duy thức tông. Ðó là bộ luận bao gồm đầy đủ giáo lí của học phái này.|Huyền Trang sinh tại Hồ Nam. Năm lên 13 tuổi Sư đã xuất gia và Thụ giới cụ túc năm 21 tuổi. Sư tu học kinh sách Ðại thừa dưới nhiều giảng sư khác nhau và thấy có nhiều chỗ giảng giải mâu thuẫn. Ðây là lí do chính thúc đẩy Sư lên đường đi Ấn Ðộ để tự mình tìm hiểu và năm 629, Sư rời Trường An. Năm 631, Sư đến Kashmir, năm 633 mạo hiểm tìm đến các dấu tích Phật như Ca-tì-la-vệ, Giác Thành và cuối cùng tìm đến đại học Phật giáo Na-lan-đà và được Giới Hiền (s: śīlābhadra) truyền Pháp môn Duy thức. Hai năm sau, Sư rời Na-lan-đà đi Tích Lan, rồi lại trở về Na-lan-đà học tiếp triết học Ấn Ðộ. Danh tiếng của Sư trở nên lừng lẫy, nhiều vua chúa mời Sư giảng dạy. Sư là người biện luận giỏi, nhiều lần thắng đại diện của Tiểu thừa cũng như phái Bà-la môn. Năm 645 Sư trở về Trường An và mang theo 520 bộ kinh sách của Tiểu thừa và Ðại thừa về Trung Quốc. Những năm sau đó, Sư tập trung dịch kinh và dịch được 75 bộ. Vì thông cả văn hệ Phạn ngữ (sanskrit) nên Sư cũng dịch ngược lại Ðạo đức kinh của Lão Tử và Ðại thừa khởi tín luận (s: mahāyānaśraddhotpāda-śāstra) sang Phạn ngữ (vì nguyên bản Phạn đã thất truyền). Ðặc điểm của các bản dịch của Huyền Trang là trình độ văn chương rất cao và rất chính xác. Sư là người có công trong việc đưa vào tiếng Hán một loạt thuật ngữ Phật giáo quan trọng.|Vào thế kỉ thứ 16, dựa vào chuyến Tây du của Huyền Trang, bộ Tây du kí của Ngô Thừa Ân ra đời, trong đó Huyền Trang có tên là Tam Tạng, mang nhiều tình tiết li kì hấp dẫn người đọc.
In-đra-bu-ti S: indrabhūti; »Nhà vua Tất-đạt giác ngộ«; |Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. In-đra-bu-ti là tên của ba nhà vua khác nhau của nước Ô-trượng-na (s: oḍḍiyāṇa), chuyện này nói về nhà vua thứ ba, sống trong thế kỉ thứ 9.||H 29: In-đra-bu-ti (indrabhūti)|In-đra-bu-ti có một cô em gái là La-kha Min-ka-ra (lakṣmīṅkarā), lúc lên bảy đã hứa làm vợ cho nhà vua Ja-len-đra (jalendra). Nhưng La-kha Min-ka-ra đã sớm từ bỏ đời sống thế gian, theo học Phật pháp. Theo gương cô em, In-đra-bu-ti nhường ngôi cho con, âm thầm tu tập thiền định trong một cung điện riêng. Sau 12 năm thiền quán, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi), quần thần không hề biết. Ngày nọ ông đến thăm con thì con ông cũng định đến thăm cha. Người con nghe tiếng gọi từ không trung, nhìn lên thấy ông đang lơ lửng trên trời. Ông tận dụng lúc này để giảng pháp cho con và quần thần nghe. Bài thánh đạo ca của ông như sau:|Nếu không có phép lành,|bất chợt và đúng lúc,|thì ngay người tu tập|không thể nào giác ngộ.|An lạc và Phật-đà|thật sự không gì khác.|Hãy cắt bỏ ràng buộc,|và trực nhận tự tính,|đầy phúc của thật tại.|Ông có để lại một tác phẩm về tu tập Tan-tra dưới tên Trí thành tựu pháp (s: jñānasiddhi).
Ja-lan-đa-ra S: jālandhara hoặc jālandharipa; »Người được chọn của Không hành nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ của thế kỉ thứ 9, 10. Ông là vị thầy nổi tiếng, có 10 đệ tử cũng trở thành Tất-đạt.|Ja-lan-đa-ra là người theo đạo Bà-la-môn ở thành Tur-khā-ra, nhàm chán thế gian đến mức bỏ hết đi đến một bãi thiêu xác, lang thang tại đó. Lúc ngồi dưới một gốc cây thì một Không hành nữ (s: ḍākinī) hiện ra, hỏi ông có muốn học Phật pháp, thực hành một Nghi quỹ (s: sādhana). Ông cầu khẩn xin học thì được giáo hoá như sau|Tập hợp mọi tri thức,|cả ba Thân khẩu ý,|đưa vào ba huyệt đạo,|cho lên đến đỉnh đầu,|rồi hãy tống vào cửa,|mở vào cõi Thanh tịnh.|Du-già sư trong sạch,|sẽ phát sinh Ðại lạc,|trong tính Không vô tận.|Cứ giữ sự giao phối,|tính Không và Ðại lạc.|»Ba huyệt đạo« chính là La-la-nā, tượng trưng cho trí phán đoán phân biệt, chủ nam tính; Ra-sa-nā, tượng trưng cho tâm trực giác, cảm xúc, chủ nữ tính và A-va-dhū-ti là huyệt đạo trung tâm, chấm dứt tại đỉnh đầu. Ja-lan-đa-ra thiền quán bảy năm liên tục và đạt yếu chỉ của Ðại thủ ấn, đó là Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Thánh đạo ca của ông như sau:|Muốn nhận được ân phúc,|hãy tập hợp tư duy,|của ba: Thân khẩu ý,|đưa vào ba huyệt đạo.
Ja-ya-nan-đa S: jayānanda hoặc jayānanta; »Vua của bầy quạ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ – có lẽ là đệ tử của A-đề-sa – sống trong thế kỉ thứ 11.|Ja-ya-nan-đa là quan đại thần của nhà vua, thuộc dòng Bà-la-môn xứ Bengal. Ông âm thầm tu tập một Tan-tra Phật giáo, đặc biệt là chuyên cúng dường bánh trái. Về sau nhà vua biết ông tu phép này, bắt giam vào ngục. Ðến giờ cúng dường thường lệ, bầy quạ đến chờ thức ăn không có, chúng bay từng đàn trên cung điện nhà vua, mổ đầu người qua kẻ lại. Trong số đó có người hiểu được tiếng chim, tâu lại vua. Vua nghe xong, truyền thả ông ra. Ông đọc bài kệ:|Nhờ phép lành Ðạo sư,|ta chứng thật viên mãn,|đạt tỉnh giác tự nhiên,|vốn tiên thiên sẵn có.|Ta, đại thần hỉ lạc,|hết phụng sự Luân hồi.|Vua chính là Tự tính,|đã thắng quân nhị nguyên,|đã xa rời dục lạc.|Hãy nghe, hỡi các người,|Khúc khải hoàn Cha-da.||H 30: Ja-lan-đa-ra (jālandhara) đang phối hợp từ bi và tính không|Chứng đạo ca của ông có những dòng:|Trong tâm thức đạt định,|đầy tỉnh giác, tri kiến,|đạt tự tâm thanh tịnh,|xa hẳn tâm phân biệt.|Chứng được lòng kiên cố,|vắng bóng các thành kiến,|và tư duy hỗn loạn.
Jam-gon Kong-trul T: jamgon kongtrul [jammgon koṅsprul]; 1813-1899;|Một trong những Lạt-ma quan trọng của Phật giáo Tây Tạng trong thế kỉ 19. Mới đầu Sư theo giáo phái Bôn (t: bon), về sau tu học với dòng Ninh-mã (t: nyingmapa) và Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu). Các tác phẩm của Sư được gọi là »Ngũ báu«, đã được dịch ra nhiều thứ tiếng.|Năm 30 tuổi, Sư chấm dứt việc học hành sau khi được 60 Ðại sư giảng dạy và được công nhận là một Chu-cô (t: tulku) trong thời gian này. Vì đã có kiến thức về truyền thống của đạo Bôn và dòng Ninh-mã nên Sư bắt đầu sưu tầm tất cả những Ter-ma đang có sẵn. Sư chấm dứt công việc này năm 59 tuổi. Các Ter-ma sau được in ra 60 tập và là một trong năm kiệt tác của Sư, đời sau gọi là Ngũ báu. Sư cố gắng hết mình dung hoà tất cả những tông phái Phật giáo ở Tây Tạng và quan niệm rằng, tất cả những giáo lí đều bình dẳng, ngang hàng nhau. Ngoài ra Sư còn biên soạn nhiều sách hướng dẫn tu tập thiền định theo phương pháp của dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa). Ngày nay, những bộ sách này vẫn còn được sử dụng. Ảnh hưởng của Sư trên Phật giáo Tây Tạng còn phát rộng ra vì sau khi Sư tịch, nhiều vị tái sinh được công nhận là Chu-cô, trong đó Zhe-chen Kong-trul (1901-1960) và Pal-pung Kong-trul (1904-1953) là hai vị quan trọng nhất.
Jô-gi-pa S: jogipa, yogipa;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, sống khoảng thế kỉ thứ 9 hay theo một giả thuyết khác, khoảng thế kỉ thứ 11. |Ông là người tinh tiến nhưng kém hiểu biết, được thầy là Sa-va-ri-pa (s: śavaripa) cho nhập môn và truyền năng lực của Hộ Thần Hô Kim cương (s: hevajra) – nhưng ông thiền quán không có kết quả. Cuối cùng Sa-va-ri-pa khuyên nên đi hành hương đến 24 chỗ thiêng liêng và vừa đi vừa đọc thần chú của Kim cương Hê-ru-ka (s: vajra heruka). Jô-gi-pa nghe lời thầy, đi hành hương suốt 12 năm. Sau đó mọi tâm nhiễm ô đều biến mất, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Jô-gi-pa sống thêm 500 năm nữa để giáo hoá. Chứng đạo ca của ông như sau:|Khi ánh sáng tâm thức,|được quán sát liên tục,|sáng như tim ngọn đèn,|thì mọi thứ hiện tượng,|dù động hay bất động,|đều tan chảy vào trong,|không gian đó: Pháp giới.||H 31: Jô-gi-pa (jogipa) hành cước.|24 thánh địa mà Jô-gi-pa đã đến được nhắc nhiều trong những Tan-tra là:|1. Pūrnagiri (Paurṇagiri, Puri Lamalaya) tại vùng Bijapur, Karnataka, Nam Ấn Ðộ; 2. Oḍḍiyāṇa (Uḍḍiyāṇa, Oḍiyāṇa, Uryan, (Ô-trượng-na), thung lũng Swat tại miền Bắc nước Pakistan; 3. Jālandhara tại thung lũng Kangra, Himachal Pradesh; 4. Kāma-rūpa, gần Gauhati, Assam; 5. Arbuda (Apruta, Arbuta), đỉnh Abu tại Rajastan; 6. Godāvarī, nơi bắt nguồn của sông Deccan; 7. Rāmeśvaram ở Tamil Nadu; 8. Devīkoṭṭa, phía nam của Dinajpur, Tây Bengal. 9. Malava, tại Mālwa, Mādhya Pradesh; 10. Oḍra (Oṭre, Oṭi), miền Bắc Orissa; 11. Triśakune, tại Trisrotah; 12. Kośala với thủ đô là Śrāvastī; 13. Kaliṅga, phía Nam Orissa và Nordandhra với thủ đô là Daṇṭapurī; 14. Lampāka, thủ đô của Oḍḍiyāṇa, gần Mardan; 15. Kāñcī (Kāñcīka), Conjeevaram hoặc Kāñcīpuram, phía Tây Nam của Madras; 16. Himalāya (Himādri, Mimavat); đỉnh Ngân Sơn (kailāśa) hoặc Bhīmāsthān tại Peshawar hoặc đỉnh Nandādevī ở tỉnh Garhwal tiểu bang Uttar Pradesh; 17. Preṭapurī Tsaritra tại Tây Tạng hoặc gần biên giới Arunachal; 18. Gṛhadeva (Nepāla), vùng Paśupati tại Kathmandu; 19. Saurāṣṭra (Sourakhta), một vương quốc cổ, bao gồm Surat, Cambay và Kathiawar; 20. Survaṇadvīpa, tại Sumatra, Nam Dương; 21. Nagara, Nagarkoṭa hoặc Jvālamukhī (?), gần Jālandhara; 22. Sindhu, Nagara haṭha, miền đông của Karachi; 23. Maru (Maro, Marobalaraste), Ostrajasthan; 24. Kulānta (Kulāta, Kupānta).
Ka-la-lã 柯羅邏; C: kēluóluó; J: karara; S: kalala. |Giai đoạn đầu trong 5 thời kì con người được thụ thai.
Ka-la-pa S: kālapa; »Người bảnh trai cuồng điên«; |Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) của Ấn Ðộ, sống khoảng cuối thế kỉ thứ 12 và thuộc dòng truyền thừa của Thời luân tan-tra (kālacakra-tantra).|Ka-la-pa là một người bảnh trai nổi tiếng, đi đâu ai cũng nhìn ngắm ông. Ðiều này làm phiền đến mức ông rút lui sống trên một bãi thiêu xác. Sau đó nhờ một vị Du-già sư (s: yogin) khai thị hướng dẫn vào một Nghi quỹ (s: sādhana), ông chuyên tâm thiền định và đạt thánh quả. Qua quá trình tu tập, ông nhận ra sự nhất thể, thấy sự khác biệt giữa mình và người chỉ là một sự nhầm lẫn. Ông trở lại thân thiện với mọi người – quá mức thân thiện đến nỗi người đời gọi ông là »cuồng.« Ông thi triển thần thông và khuyên dạy mọi người như sau:|Nguyên nhân mọi âu lo,|xuất phát từ nhầm lẫn:|mỗi người một ốc đảo,|đơn độc và cách biệt.|Nếu bạn muốn thoát khổ,|quán tâm thức hoạt động,|như một đoàn thiên nhân,|biến mất trong âm »A«|như một chiếc cầu vồng,|biến mất trong bầu trời.|Sinh, Tử và Già, Chết,|không còn gì uy lực,|với tên cuồng này nữa.|Hành động tràn qua y,|là niềm vui thanh tịnh.|Chứng thật và rốt ráo,|là niềm vui thanh tịnh.|Thiền quán vô lậu trí,|là niềm vui thanh tịnh.|Ðạt đích không mong cầu,|là niềm vui thanh tịnh.|Bài thánh ca của ông có những dòng:|Những con người thế gian,|sống cuộc đời lầm lạc,|họ gọi ta là cuồng.|Ta biết cách chữa trị,|căn bệnh lầm lạc đó,|là cam lộ thiêng liêng|giáo lí bậc Ðạo sư.
Ka-na Ðề-bà S: kāṇadeva; »Ðơn nhãn Ðề-bà«;|Một tên khác của Thánh Thiên, Tổ thứ 15 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Ka-na Kha-la S: kanakhalā;|Một Du-già ni tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9.|Ka-na Kha-la là cô em gái của Mê-kha-la (s: me-khalā), xem chuyện kể chung với chị.|Bài ca ngộ đạo của Ka-na Kha-la như sau:|Ta đã tu Nhẫn nhục,|một phép tu bất hoại,|hạnh nguyện như kim cương.|Cưỡi trên dòng tâm thức,|rồi thi triển quyền năng,|trên xác thân con người.
Ka-pa-la-pa S: kapālapa hoặc kapa; »Người đeo sọ người«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 8, 9.|Ông là người làm thuê tại Rā-ja-pu-rī, có vợ năm con. Ngày nọ, vợ ông chẳng may chết sớm. Ông vừa mang vợ ra chỗ thiêu xác thì nghe tin năm đứa con mình cũng chết luôn. Ông trở về mang xác con để bên cạnh vợ, ngồi khóc thảm thiết. Ðúng lúc đó thì Ðạo sư Kan-ha-pa (s: kāṇhapa hoặc kṛṣṇācārya) đi ngang. Kan-ha-pa giảng cho ông đời sống vô thường và khuyên ông tu tập một Nghi quỹ (s: sādhana). Ka-pa-la-pa thú nhận ông bị sự sợ hãi cái chết xâm chiếm, xin Kan-ha-pa dạy cho phép đối trị cái sợ này. Kan-ha-pa cho phép ông vào Man-đa-la của Hô kim cương tan-tra và dạy phép thiền định. Vị này còn đưa cho ông sáu miếng xương đẽo từ tay chân của con ông, sọ người vợ được biến thành bình bát. Ông quán tưởng, xem sọ là tác nhân và tính Không là quả. Sau chín năm thiền định, ông đạt được sự giao phối của hai thứ thiền định đó và đọc bài kệ:|Ta, người mang sọ người,|đã chứng thật Tự tính,|mọi sự và sọ người.|Không còn ngần ngại nữa,|mọi hoạt động của ta.|Sau khi chứng ngộ, ông sống thêm 500 năm nữa để giáo hoá. Bài ca tán Chân như của ông như sau:|Thể tính phi nhị nguyên,|nguồn gốc mọi hiện tượng,|cũng là xương và sọ,|cũng là Ngã giả dối.|Tất cả những điều đó,|chẳng phải tìm mà ra.
Kam-ba-la S: kambala; »Du-già sư với áo choàng đen«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 8.|Ông là thái tử nước Kaṅ-ka-ra-ma, lúc phụ vương mất, lên nối ngôi cha. Thế nhưng mẹ ông khuyên ông nên bỏ ngôi báu thụ giới đi tu, ông nghe lời. Bà mẹ vẫn chưa vừa lòng, khuyên ông nên bỏ tu viện, ông nghe lời, trở thành một Du-già sư (s: yogin) lang thang khất thực. Bà mẹ thật ra là một Không hành nữ (s: ḍākinī), muốn thử lòng tuyệt đối vâng lời của ông để đưa vào phép luyện Tan-tra. Sau khi ông trở thành Du-già sư, người mẹ hiện ra, cho ông nhập môn tu luyện Cha-kra-sam-va-ra-tan-tra. Ông tu luyện 12 năm liên tục và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Nghe lời vị Không hành nữ, ông tiếp tục du hoá. Ngày nọ, có một nhóm phù thuỷ muốn phá ông, họ lấy cắp và nuốt chửng chiếc áo choàng đen của ông. Ông thi triển thần thông biến phù thuỷ thành cừu cái và cạo đầu chúng. Lúc được hiện lại nguyên hình, nhóm phù thuỷ nghe lời, ủng hộ Phật pháp và nhả lại các mảnh áo cho ông. Ông vá chiếc áo lại, nhưng bây giờ nó ngắn hơn trước một chút. Ông được mệnh danh là »Du-già sư với áo choàng đen.« Chứng đạo ca của ông như sau:|Ðại dương sâu thăm thẳm,|chất chứa đầy ngọc quý,|phồn vinh thay, Long Vương.|Từ vô thuỷ, tất cả|là ánh sáng, âm thanh|của Pháp thân thường tại.|Quý thay, Du-già sư,|kẻ nhận thức Thật tại!
Kam-pa-ri-pa S: kamparipa hoặc karmāri, karmāra; »Thợ rèn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 11.|Kam-pa-ri-pa sinh tại Hoa Thị thành (s: pāṭali-putra). Ông sống bằng nghề thợ rèn. Ngày nọ có một Du-già sư đến khất thực, Kam-pa-ri-pa mừng rỡ vì không ngờ vị này khất thực nơi nhà mình. Cùng vợ, ông tiếp đãi trọng hậu và được vị này khai thị, dạy cho ông quán tưởng về ba dòng năng lực tâm lí: »Hãy quán ống bệ, than và lửa trong tâm ngươi. Ống bệ là năng lực, ống khói là cảm thụ, tâm thức là lửa, khái niệm là than, miếng sắt là ba độc. Hãy dùng nó mà đánh tan Ba độc và miếng sắt sẽ trở thành Ðại lạc của Pháp thân bất nhị. Hãy biến quán tưởng thành hành động hàng ngày:|Hai tay thổi ống bệ,|bên mặt và bên trái,|quạt lửa than nóng lên,|mà đốt cháy khái niệm,|nằm trô trên ống khói.|Thổi lên ngọn lửa hồng,|của tri kiến, tỉnh giác,|đốt chảy tan miếng sắt,|của ba độc, năm tham,|đạt Pháp thân bất hoại.«|Ông nghe nghe lời và sau sáu năm thiền định, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Sau đó sản phẩm rèn của ông không làm mà tự xuất hiện. Bài chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Trên ống khói thân ta,|là than đen khái niệm,|Thổi ống bệ trái, mặt,|đốt lên ngọn lửa trí.|Miếng sắt của ba độc,|bị chảy thành như nước,|lấy pháp thân làm búa.|Kam-ba-ri giác ngộ!
Kan-ha-pa S: kāṇhapa hoặc kṛṣṇācārya; »Thành tựu giả kiêu mạn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 8.|Kan-ha-pa là đệ tử của Ja-lan-đa-ra (s: jālandhara). Sau mười hai năm tu luyện, ông cho mình đã đạt đạo và đem đệ tử đi đấu phép với ma quân. Lúc đi trên nước, ông tự đắc nghĩ mình đã hơn thầy, vừa nghĩ tới đó ông mất hết thần thông và chìm xuống nước. Ja-lan-đa-ra lại hiện ra cứu ông và gửi ông cho một đệ tử thợ dệt nhờ giáo hoá. Thế nhưng đệ tử thợ dệt cũng không chữa nổi tính kiêu mạn của ông. Trên đường đi ông lại đấu phép với một cô bé trẻ tuổi, thua cuộc và sau đó lòng tự phụ mới tiêu tan, ông đạt Tất-địa và được bước vào cõi của các Không hành nữ (s: ḍākinī). Kệ tụng của ông như sau:|Xe không thể chạy được,|nếu không có bánh xe,|Hành bố thí phạm hạnh,|mà không có Ðạo sư,|chẳng đạt được Tất-địa.|Như con chim giang cánh,|với khả năng sẵn có,|nó bay vút lên cao.|Ðã nghe lời giáo hoá,|của Ðạo sư nghiệp định,|Du-già sư hài lòng.
Kan-ka-na S: kaṅkaṇa; »Tất-đạt vương«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng thế kỉ thứ 11.|Ông là nhà vua xứ Viṣ-ṇu-na-gar, đời sống sung mãn không thiếu thứ gì. Ngày nọ, có một Du-già sư (s: yogin) đến khất thực và nhân dịp này khuyên ông: »Vua và Quốc vương là hai danh từ rỗng, chức vị bây giờ của ông là vô nghĩa. Tất cả chúng sinh đều phải chịu đựng khổ cực, kiếp này sang kiếp khác, một vòng xoay bất tận. Ngay cả sự hạnh phúc hiện tại của chư thiên cũng là khổ khi họ nghe là sắp phải chết. Rồi kiếp sau ông sẽ thế nào? Hãy quên đi những thú vui tạm thời, ngắn ngủi như sương sớm mai và hãy tu luyện một Nghi quỹ.«|Nghe như thế, ông liền hỏi có cách nào tu tập mà không phải mặc áo quần rách rưới, không phải đi khất thực. Vị Du-già sư khuyên ông nên tránh lòng kiêu mạn đó, đồng thời chỉ cho ông phép tu đặc biệt, quán ánh sáng vàng ngọc đeo trên tay mình chính là tâm thức thanh tịnh:|Quán ánh ngọc trên tay:|Tự tính trong tâm thành.|Quán màu sắc áo quần,|của lụa là, cung điện,|nó là hình ảnh hiện,|trong viên ngọc quý này.|Thế nhưng – tự tính ngọc,|không hề từng lay động.|Từ thiên hình vạn trạng,|của sum la hiện tượng,|sinh ra vô số lượng,|tư tưởng trong tâm mình.|Tâm thức lại chỉ là,|viên ngọc biết chiếu rọi.|Nhà vua nghe lời và chỉ sáu tháng sau, ông đạt Tất-địa. Người đời đặt tên ông là Kan-ka-na (kaṅkaṇa), có nghĩa »vòng ngọc« vì nhờ vòng ngọc đó mà ông chứng ngộ được. Ông sống đến 500 tuổi và giáo hoá cho vô số người. Ông dạy họ như sau:|Chứng ngộ được tính tâm,|đó là vua không khác.|Khi báo thân hiển hiện,|đó là vương quốc mình.|Vua sống trong vương quốc,|đó là lễ đăng quang.|Các ngươi muốn làm vua?|Hãy tu tập phép này.|Thánh ca của Kan-ka-na có những dòng:|Chứng ngộ: ngọc như ý,|chiếu tri kiến cao tột,|có sức mạnh diệu kì,|thành tựu mọi ước nguyện.|Ai đã nếm thử nó,|kẻ chứng đạt hoàn toàn.
Kan-ka-ri-pa S: kaṅkāripa hoặc kaṅkali; »Người góa vợ ưu sầu«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ.|Ông là một sống người bình thường, rất yêu vợ. Ðến khi người vợ mất thì ông không thiết đến gì nữa, đau khổ gần như muốn chết. Một Du-già sư thấy vậy thương tình, đến thăm hỏi. Ông than với vị này: »Ông không thấy sao? Tôi mất người vợ yêu quý và cuộc đời của tôi như thế cũng chấm dứt. Tôi đau khổ như bị ai lấy cả hai tròng mắt ngay lúc này, không có ai trên đời khổ như tôi.« Vị Du-già sư nghe vậy khuyên ông: »Tất cả những gì được sinh ra đều phải chết, hợp rồi phải tan. Tất cả những hiện hữu trong Luân hồi đều là Khổ. Khổ là đặc tính của Vòng sinh tử. Tại sao ông lại buồn? Tại sao ông còn giữ cái thây này, một vật không khác gì tro đất? Tại sao ông không tu học Phật pháp để diệt khổ?«|Nghe những lời khai thị này ông mừng quá, cầu xin chỉ dạy. Vị Du-già sư khuyên ông quán hình ảnh vợ mình là một Không hành nữ (s: ḍākinī), không bằng xương thịt tạo thành mà là sự nhất thể của Ðại lạc và tính Không. Sau sáu năm quán niệm, ông đạt tri kiến tuyệt đối – Ðại thủ ấn tất-địa.|Chứng đạo kệ của ông như sau:|Không hành nữ, nữ hoàng,|chủ nhân của chính ta.|Tự tính thanh tịnh đã,|biến ra thành sắc thể,|Không gian trống rỗng đã|biến thành vật khả tri,|Ta không hề rời xa,|nhưng không phải của »Ta.«|Không thể diễn bày được,|không thể nào so sánh.
Kan-ta-li-pa S: kantalipa, kanthapa, kantapa, kaṇtālipa, ka-nālipa, kandipa; »Người may vải vụn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người vô giai cấp, sống bằng nghề vá áo, không bao giờ biết sung sướng là gì. Ngày nọ, ông vô ý đâm kim vào tay chảy máu. Buồn rầu về số phận của mình, ông tìm một nơi vắng vẻ suy tư. Một Không hành nữ (s: ḍākinī), hiện hình thành một người đàn bà, hỏi thăm ông. Ông thành thật kể lể đời sống mình và vị nữ thần cho hay rằng, nếu không thoát khỏi Vòng sinh tử thì kiếp này hay kiếp sau ông cũng chịu khổ như kim chích. Ông cầu xin được truyền một Nghi quỹ để theo đó tu tập. Nữ thần cho ông nhập môn Hô kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra), Quán đỉnh và dạy ông quán Bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú). Ông cố gắng tu tập nhưng tâm luôn trở lại nghề may của mình. Nữ thần bèn dạy ông cách biến tư duy thành phương pháp tu:|Vải vụn ví không gian,|Kim nhọn ví tỉnh giác,|Sợi chỉ ví lòng Từ,|may vá áo quần lại,|mặc cho loài hữu tình,|của thế gian ba cõi.|Nhờ phép thiền quán này mà Kan-ta-li-pa ngộ được tính Không của những yếu tố tạo ra thế giới hiện tượng và lòng Từ bi, thương xót tất cả những loài hữu tình dâng lên trong lòng ông. Ông chứng ngộ rằng, Từ bi và Không là một và đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Ta gom may ba cõi,|kim ta là Ðạo sư,|sợi chỉ là lòng Từ,|hãy nhìn chiếc áo quý,|của Du-già sư này!
Kệ 偈; C: jié; J: ge, kei, ketsu; S, P: gāthā; gọi đầy đủ là kệ-đà, cũng được gọi là kệ tụng, tụng;|1. Là những bài ca, bài thơ chứng đạo của những Tỉ-khâu, những Thiền sư, những Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), thố lộ cảm giác sung sướng, nhẹ nhàng khi đã vượt qua ải trần lao, đã hoàn thành những công việc mà con người phải làm. Trong những tập công án như Bích nham lục và Vô môn quan, những bài kệ của những vị biên soạn chính là cái tinh hoa, là cái then cửa để thiền sinh có thể mở được những công án khó chinh phục. Những bài kệ này có thể xem là tuyệt đỉnh của nền văn học Trung Quốc nói chung – không chỉ giới hạn trong thiền đạo. Kệ tụng sau đây của Thiền sư Vô Môn Huệ Khai ghi lại trong tác phẩm Vô môn quan, công án 19, cho hậu thế nếm vị của tịch tịnh (Trần Tuấn Mẫn dịch):|春有百花秋有月。夏有涼風冬有雪|若無閑事挂心頭。便是人間好時節|Xuân hữu bách hoa, thu hữu nguyệt|Hạ hữu lương phong, đông hữu tuyết|Nhược vô nhàn sự quải tâm đầu|Tiện thị nhân gian hảo thời tiết.|*Xuân có trăm hoa, thu có trăng|Hạ về gió mát, tuyết đông giăng|Ví lòng thanh thản không lo nghĩ|Ấy buổi êm đềm chốn thế gian.|2. Nhanh chóng, vội vã; |3. Dũng cảm, hùng dũng.
Kệ tụng 偈頌; C: jié sòng; J: geju;|Có các nghĩa sau: 1. Bài kệ tán thán công đức của đức Phật. Thể thơ trong Kinh văn, khác với thể văn xuôi (trường hàng); 2. Trong luận giải kinh Viên Giác, sư Tông Mật đề ra 4 loại kệ tụng: a. A-nậu-đô-bà tụng (阿耨都婆頌): không kể văn trường hàng ở trước, bài kệ gồm 12 âm tiết; b. Già-đà tụng (伽陀頌), còn gọi là Phúng tụng (諷頌) và Trực tụng (直頌), giảng giải giáo pháp bằng thơ mà không cần phải lặp lại văn trường hàng trong đoạn trước; c. Kì-dạ tụng (祇夜頌): còn gọi là Ứng tụng (應頌); d. Tập thí tụng (集施頌): ngắn gọn với ý nghĩa nhiều nhất chỉ gồm trong vài chữ. Một trong 12 thể loại trong kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經).
Kết già phu toạ 結跏趺坐; S: padmāsana; J: kekka-fusa; cũng được gọi là Liên hoa toạ (蓮花坐);|Tại Ðông, Ðông nam á, Kết già phu toạ được xem là cách ngồi thích hợp nhất để Toạ thiền. Phật và các vị Bồ Tát thường được trình bày dưới dạng Kết già phu toạ trong tranh tượng.|Theo thế ngồi này, hai chân chéo nhau, chân phải nằm trên bắp vế trái, chân trái nằm trên bắp vế phải. Lưng đứng thẳng và hai bàn tay nằm chồng ngửa lên nhau trên gót chân. Khác với phần lớn các tông phái khác, trong Thiền tông, người ta thường đặt bàn tay trái (tĩnh, thế bị động) nằm trên bàn tay phải (động, thế chủ động), một biểu hiện của quan niệm »dĩ tĩnh chế động« của trường phái này.
Kết sử 結使; S, P: saṃyojana;|Trói buộc, Cái triền
Kết tập 結集; S, P: saṅgīti;|Có bốn lần kết tập trong lịch sử phát triển đạo Phật. Lần kết tập thứ nhất được tổ chức tại Vương xá (s: rājagṛha) ngay sau khi Phật diệt độ. Lần kết tập thứ hai được tổ chức tại Vệ-xá-li (s: vaiśālī), khoảng 100 năm sau Vương xá, tức là khoảng năm 386 trước Công nguyên. Lần thứ ba được tổ chức tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra), ngày nay là Pat-na, trong thế kỉ thứ hai sau ngày Phật nhập Niết-bàn. Lần kết tập này không được Thượng toạ bộ (p: theravāda) công nhận. Thượng toạ bộ theo truyền thống riêng và xem lần kết tập thứ ba này được thực hiện qua trường phái Pāli trong thời gian A-dục vương (s: aśoka) trị vì. Lần kết tập thứ tư được tổ chức tại Kashmir, ý kiến về lần này cũng khác nhau. Có người cho rằng đó là lần kết tập toàn thể do vua Ca-nị-sắc-ca (s: ka-niṣka) tổ chức, có người cho rằng đó chỉ là kết tập của phái Nhất thiết hữu (s: sarvās-tivāda).|Mục đích các lần kết tập là giải quyết các ý kiến, quan niệm bất đồng trong tăng hội, thuyết minh các vấn đề và xác lập các kinh sách cơ bản.|Kết tập lần thứ nhất: Lần kết tập này được tường thuật trong Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka). Ðại hội này do Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa) triệu tập, là người nhận thấy sau khi Phật diệt độ có nhiều khuynh hướng thoái hoá trong Tăng-già. Có 500 Tỉ-khâu – tất cả đều là A-la-hán – tham dự đại hội, khoảng năm 408 trước Công nguyên. Hội này được tổ chức tại Vương xá. Ca-diếp yêu cầu Ưu-ba-li (s, p: upāli) trình bày về giới luật và A-nan-đà (ānanda) về giáo pháp. Dựa trên trình bày của hai vị đó mà Luật tạng và Kinh tạng thành hình. Sau đó, các bản kinh được đại hội nhất trí được tụng đọc.|Tương truyền trong lần kết tập này, A-nan-đà bị Ca-diếp phê bình nặng nề vì lúc bắt đầu đại hội, Tôn giả vẫn chưa đạt quả A-la-hán và chính trong thời gian đó (đêm trước buổi kết tập), A-nan-đà đạt thánh quả này. Trong đại hội, A-nan-đà cũng bị chê trách là »quên« hỏi Phật một cách chính xác vài chuyện trước khi Ngài nhập Niết-bàn. Một điểm khác mà A-nan-đà cũng bị chê trách là thái độ đồng tình khi Phật cho phép lập ni đoàn. Tuy nhiên, A-nan-đà bị chê trách nhất là đã không xin Phật trì hoãn việc nhập Niết-bàn. Ngày nay nhiều học giả phân vân không biết kết tập lần thứ nhất đúng như đã lưu truyền hay không, nhưng nhiều người đều nhất trí việc thống nhất kinh bản đã xảy ra rất sớm.|Kết tập lần thứ hai: lần này được tài liệu ghi rõ hơn lần thứ nhất nhiều và xem như một sự thật lịch sử. Lí do kết tập trong khoảng năm 386 trước Công nguyên là vì những khác biệt về giới luật. Lần đó, các tỉ-khâu ở Vệ-xá-li đã đi ngược giới luật, nhận vàng bạc cúng dường của Phật tử. Ðồng thời, một đệ tử của A-nan-đà là Da-xá (s: yaśa) chê trách các vị này phạm giới luật như ăn không đúng thời, rượu chè… Da-xá vì vậy mà bị trục xuất khỏi Tăng-già. Vị này cầu cứu các vị tăng khác. Cuối cùng một đại hội với 700 tỉ-khâu được triệu tập, bầu một hội đồng gồm mỗi vùng Ðông Tây bốn vị, lên án các vị tăng phạm luật ở Vệ-xá-li. Các vị tăng này cũng nhận lỗi. Biên bản đại hội này đã được ghi lại trong Luật tạng, bằng văn hệ Pā-li cũng như Phạn ngữ (sanskrit). Về sau, một số vị trưởng lão theo truyền thống Tích Lan cho rằng lần kết tập này đã dẫn đến sự chia rẽ giữa Trưởng lão bộ (s: sthavira) và Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika). Các vị này cho rằng các tăng sĩ Vệ-xá-li đã thực hiện một kết tập khác để thành lập Ðại chúng bộ.|Kết tập lần thứ ba: Trong Luật tạng không có tài liệu về lần kết tập này. Các biên bản về lần kết tập này khác nhau nhiều, nhưng phần lớn nguồn tài liệu cho rằng, lí do lần kết tập này là bàn bạc về tính chất một A-la-hán. Một tỉ-khâu tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) tên là Ðại Thiên (s, p: mahādeva) nêu lên năm điểm: 1. Dư sở dụ: A-la-hán còn có thể bị tham Ái chi phối bởi vì còn nhục thân, vấn đề sinh lí chưa đoạn nên khi thuỵ miên còn có thể lậu hoặc; 2. Vô tri: A-la-hán chưa hoàn toàn thoát khỏi Vô minh; 3. Do dự: A-la-hán chưa đoạn diệt nghi ngờ; 4. Tha linh nhập: A-la-hán còn cần trợ lực bên ngoài mới biết mình đạt Bồ-đề; 5. Ðạo nhân thanh cố khởi (Ðạo nương vào âm thanh mà sinh): A-la-hán cần những thanh âm đặc biệt để đạt Ðịnh, và ngộ chân lí.|Năm thuyết này của Ðại Thiên đã chia Tăng-già ra làm hai phái. Lần kết tập này có mục đích giảng hoà hai bên, nhưng cuối cùng chỉ còn xác nhận sự phân cực đó. Nhóm tăng sĩ ủng hộ lập trường của Ðại Thiên thuộc đa số và tự nhận mình là »Ðại chúng bộ«, trong lúc đó nhóm trưởng lão, đạo cao đức trọng, tự xác nhận mình là »Trưởng lão« (s: sthavira; p: theravāda). Trường phái Pā-li của Tích Lan (śrī laṅkā) không thừa nhận lần kết tập thứ ba này. Ðối với họ, kết tập lần thứ ba là đại hội của trường phái Pā-li tại Hoa Thị thành dưới thời vua A-dục, khoảng năm 244 trước Công nguyên. Nguyên nhân kết tập lần này lại cũng là sự tranh cãi ai là tu sĩ Phật giáo »đích thật«, ai chỉ là mạo danh để hưởng quyền lợi của Tăng-già. Theo lệnh của vua A-dục, một vị cao tăng tên Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (p: moggaliputta tissa) triệu tập đại hội và mỗi vị tỉ-khâu đều được »phỏng vấn«. Vị nào không đạt yêu cầu, đáp ứng mâu thuẫn với những quan niệm chính mình, đều bị trục xuất ra khỏi Tăng-già. Trong tác phẩm Luận sử (p: kathāvatthu), Mục-kiền-liên Tử-đế-tu phản đối những quan niệm Sư cho là ngoại đạo, không thể dung hoà được lần này. Trong lần kết tập này, toàn bộ kinh sách đều được sử dụng và lần này trở thành cơ sở thành lập của Thượng toạ bộ (p: theravāda).|Kết tập lần thứ tư: Có lẽ cũng chỉ là một đại hội của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) chứ không phải của toàn thể giáo hội. Lần này đại hội được triệu tập dưới thời vua Ca-nị-sắc-ca, nhằm mục đích luận giảng lại A-tì-đạt-ma (s: abhidharma), trong đó người ta thấy những quan điểm phóng khoáng hơn. Theo nhiều tư liệu thì lần này có khoảng 500 vị A-la-hán và nhiều Bồ Tát tham dự. Trong đại hội này, Thế Hữu (s: vasumitra) đóng một vai trò quan trọng với một tác phẩm mang tên Dị bộ tông luân luận (s: samayabheda-vyūhacakra-śāstra) nói về các bộ phái thời kì này. Về sau Nhất thiết hữu bộ có ảnh hưởng lớn nên lần kết tập này cũng được sự thừa nhận chung.
Khả 可; C: kĕ; J: ka; |Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có lẽ, có khả năng. Biểu hiện của trạng thái tiềm năng (s: sakya); 2. Tốt, đẹp. Ổn đáng.
Khả đắc 可得; C: kĕdé; J: katoku; S: upalabhyante; T: dmigs pa, yod pa.|Có thể đạt được, có thể được, có thể hiểu được, có thể lĩnh hội được.
Khả tri 可知; C: kĕzhī; J: kachi; |Hiển nhiên, rõ rệt; có thể thấy; có thể biết, đáng được biết.
Khả ý 可意; C: kĕyì; J: kai; S: manojñā; T: yid du ḥoṅ ba;|Có các nghĩa sau: 1. Hài lòng, hấp dẫn, dễ chịu (s: manojñā; t: yid du ḥoṅ ba); 2. Điều đáng yêu (manāpa); 3. Mang lại, ban phát niềm vui; 4. Niềm vui, sự vui mừng, hạnh phúc.
Khắc 克; C: kè; J: koku;|Có các nghĩa sau: 1. Có thể, có khả năng, thích đáng; 2. Khắc phục, cải tiến; 3. Ấn định (thời gian).
Khải 啓; C: qǐ; J: kei;|Dạy, làm sáng tỏ, khai ngộ, soi sáng, giảng giải.
Khải bạch 啓白; C: qǐbái; J: keibyaku;|Lời thưa thỉnh đến chư Phật hay Bồ Tát.
Khai nhãn 開眼; J: kaigen;|Nghĩa là mở mắt; được dùng trong hai trường hợp:|1. Ðược dùng chỉ sự chạm mắt với cái tuyệt đối, Chân như, Phật tính lần đầu. Người lĩnh hội được đại ý Phật pháp thường được gọi là có Pháp nhãn (xem thêm Năm loại mắt);|2. Chỉ lễ an vị một tượng Phật. Người ta nói rằng, bức tượng hay hình của Phật chỉ »sống« khi có đủ hai con mắt. Trong buổi lễ khai nhãn, vị tăng trụ trì gắn mắt (tượng trưng) và nhấn mạnh sự tôn kính Phật tính vô tướng của mình được biểu hiện qua bức tượng này.
Khai sơn 開山; J: kaisan;|Danh từ chỉ người khai sơn lập chùa. Người lập một trường phái riêng biệt được gọi là Khai sơn tổ sư.
Khai, thị, ngộ, nhập 開示悟入|tức là mở mắt (khai), hướng dẫn cho thấy (thị), thấy rồi thầm hiểu (ngộ) ý chỉ, ngộ rồi thì bước vào (nhập) Thánh đạo.
Kham năng 堪能; C: kānnéng; J: kannō; |Kĩ năng, tinh thông, tính linh hoạt, khả năng thích nghi (s: karmanya); thường dùng với từ gần đồng nghĩa Điều nhu (調柔). Khó đạt được loại khả năng nầy khi bị trói buộc bởi những phiền não thô trọng (麁重).
Khâm Sơn Văn Thuý 欽山文邃; C: qīnshān wénsuì; J: kinzan bun-sui; |Thiền sư Trung Quốc, đệ tử của Ðộng Sơn Lương Giới.|Sư xuất gia lúc còn nhỏ và lúc đầu là bạn đồng hành với Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Nham Ðầu Toàn Hoát. Cả ba đều đến Ðức Sơn tham thiền. Trong khi Nham Ðầu và Tuyết Phong trở thành hai vị môn đệ xuất sắc của Ðức Sơn thì Sư lại không chịu nổi cách dạy cực kì nghiêm khắc tại đây. Cảnh Ðức truyền đăng lục có ghi lại rằng có lần Ðức Sơn đánh Sư đến nỗi sinh bệnh. Sau Sư đến Ðộng Sơn và đốn ngộ nơi đây. Tương truyền rằng, Sư đến trụ trì Khâm sơn lúc mới 27 tuổi.|Bích nham lục có ghi lại cách hoằng hoá của Sư trong Công án 56. Một vị Thiền khách tên Cự Lương đến hỏi: »Khi một mũi tên phá ba cổng thì thế nào?« Sư bảo: »Dẫn ông chủ của ba cổng ra xem?« Lương Toại đáp: »Thế ấy thì biết lỗi, ắt cãi.« Sư bảo: »Lại đợi khi nào?« Lương nói: »Tên tốt bắn chẳng đến đích.« và ra đi. Sư liền gọi: »Xà-lê lại đây!« Họ Lương xoay đầu, Sư nắm đứng nói: »Mội mũi tên phá ba cổng hãy gác lại, thử vì Khâm Sơn bắn tên xem!« Họ Lương suy nghĩ, Sư liền đánh bảy gậy và nói: »Hãy cho gã này nghi ba mươi năm.«
Khán thoại thiền 看話禪; C: kànhuà-chán; J: kanna-zen;|Danh từ này được Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo nêu ra và sử dụng lần đầu. Khán thoại thiền là phương pháp quán Công án, xem công án là phương tiện quan trọng nhất để đắc đạo. Công án đã được sử dụng từ giữa thế kỉ thứ 10, nhưng chỉ thật sự hưng thịnh khi tập Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ ra đời. Thiền sư Ðại Huệ rất đề cao vai trò quan trọng của công án và từ đây, quán công án trở thành phương pháp tu tập chính trong dòng thiền Lâm Tế.
Khang Tăng Hội 康僧會; ~ tk. 3|Cao tăng Việt Nam. Sư sinh tại Giao Chỉ, cha mẹ mất lúc lên mười, thông giỏi chữ Pā-li và chữ Hán, là người sáng tác các tác phẩm Phật giáo đầu tiên của Việt Nam như Lục độ yếu mục, Nê-hoàn phạm bối, chú giải sách An-ban thủ ý. Sư được xem là người khởi nguyên Thiền tông Việt Nam. Cuối đời, Sư đi Nam Kinh (Trung Quốc) và mất tại đây năm 280.
Khánh Hỉ 慶喜; 1066-1142|Thiền sư Việt nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 14. Sư nối pháp Thiền sư Bản Tịch và truyền lại cho Thiền sư Pháp Dung.|Sư họ Nguyễn, quê ở Cổ Giao, Long Biên, thuở nhỏ đã không thích ăn thịt cá. Lớn lên, Sư xuất gia tu học với Thiền sư Bản Tịch tại chùa Chúc Thánh.|Một hôm, trên đường đến nhà đàn việt thụ trai, Sư hỏi: »Thế nào là ý chính của Tổ sư – mà nghe dân gia bị đồng cốt làm mê hoặc?« Bản Tịch đáp: »Lời nói ấy đâu không không phải đồng cốt giáng thần?« Sư bảo: »Hoà thượng chớ chuyên nói đùa.« Bản Tịch đáp: »Ta không từng có mảy may nói đùa.« Sư nghe không hội, bèn từ biệt thầy ra đi.|Ðến chùa Vạn Tuế gặp Thiền sư Biện Tài, Biện Tài hỏi: »Ngươi từ đâu đến?« Sư thưa: »Con từ Bản Tịch đến.« Biện Tài bảo: »Thầy ấy cũng là Thiện tri thức của một phương, đã từng nói với ngươi câu gì?« Sư liền thuật lại chuyện cũ, Biện Tài bảo: »Ôi! Tịch sư vì ngươi đã nói tột rồi, chớ huỷ báng Bản sư không tốt.« Sư dừng lại suy nghĩ, Biện Tài bảo: »Ðâu không nghe nói: Khi đạt khắp cảnh đầy đủ, chẳng ngộ hằng trái xa.« Sư nghe vậy bỗng nhiên đốn ngộ, trở về Bản Tịch và được ấn khả.|Vua Lí Thần Tông mời Sư vào kinh, Sư ứng đối xứng hợp ý chỉ nên vua rất phục, phong chức Tăng lục, sau lại phong Tăng thống.|Ðệ tử Pháp Dung hỏi: »Liễu đạt sắc không, sắc là phàm hay là thánh?« Sư liền đọc bài kệ sau:|勞生休問色兼空。學道無過訪祖宗|天外覓心難定體。人間植桂豈成叢|乾坤盡是毛頭上。日月包含芥子中|大用現前拳在手。誰知凡聖與西東|Lao sinh hưu vấn sắc kiêm không|Học đạo vô quá phỏng Tổ tông|Thiên ngoại mích tâm nan định thể|Nhân gian thực quế khởi thành tùng|Càn khôn tận thị mao đầu thượng|Nhật nguyệt bao hàm giới tử trung|Ðại dụng hiện tiền quyền tại thủ|Thuỳ tri phàm thánh dữ Tây Ðông?|*Uổng công thôi hỏi sắc cùng không|Học đạo gì hơn phỏng Tổ tông|Ngoài trời tìm tâm thật khó thấy|Thế gian trồng quế đâu thành tùng|Ðầu lông trùm cả càn khôn thảy|Hạt cải bao gồm nhật nguyệt trong|Ðại dụng hiện tiền tay nắm vững|Ai phân phàm thánh với Tây, Ðông.|Ngày 27 tháng giêng, niên hiệu Ðại Ðịnh năm thứ 3, Sư có chút bệnh rồi tịch, thọ 76 tuổi.
Khát 渇; C: kĕ; J: katsu; S: tarsa. |Khát nước, thèm muốn, thèm khát
Khất 乞; C: qǐ; J: kotsu;|Cầu, xin. Cầu xin của bố thí.
Khát-ga-pa S: khaḍgapa; »Kiếm sĩ« còn được mệnh danh là »Kẻ trộm vô uý«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong khoảng đầu thế kỉ thứ 10. |Ông thuộc giới nông dân, nhưng lúc lớn lên sống bằng trộm cắp. Lần nọ, ăn trộm không được, ông buồn rầu trở về bãi đốt xác thì gặp một vị Du-già sư tên Cát-pa-ti (s: carpaṭi), ông hỏi: »Có phép lạ nào giúp ta ăn trộm mà không bị khám phá.« Vị Du-già sư nghe hỏi như thế bèn chỉ cách: »Trong thành nọ có một bảo tháp, trong đó có một tượng Quán Thế Âm. Ngươi hãy đến đó đi vòng quanh tượng liên tục ba tuần, sau đó sẽ có một con rắn xuất hiện và hãy nắm bắt lấy đầu của con rắn này.« Làm đúng như lời, ông bắt được con rắn nhưng ngay sau đó, con rắn biến thành lưỡi kiếm trí huệ. Chỉ một thời gian ngắn sau, ông đạt quả Tất-địa (s: siddhi). Kệ chứng đạo của ông như sau:|Nếu không có khí giới,|dù chống chọi bao nhiêu,|chiến sĩ luôn bại trận.|Mang theo thanh bảo kiếm,|»Lòng tỉnh giác bất tử«|thắng kẻ thù »Ba cõi«|lòng ta đầy an lạc!
Khát ngưỡng 渇仰; C: kĕyăng; J: katsugō;|Mong mỏi, trông mong, khao khát (s: tṛṣṭa). Sự ngưỡng mộ.
Khất sĩ 乞士|danh từ chỉ các vị Xuất gia học đạo, lang thang khất thực hằng ngày, dùng chung cho Phật đạo và ngoại đạo. Tại Ấn Ðộ, người ta thường dùng ba danh từ chỉ một người Khất sĩ, đó là Anāgārika (Vô gia cư), Bhikṣu (Tỉ-khâu), và Śramaṇa (Sa-môn, Du tăng). Ba từ này đều có thể hiểu là Khất sĩ, được dùng chung cho Phật đạo và ngoại đạo.
Khất thực 乞食; C: qǐshí; J: kotsujiki;|Cầu xin thực phẩm. Tiếng Hán còn gọi là Thác bát (托鉢). Tăng ni tự nuôi sống mình bằng cách khất thực từ nhà của cư sĩ. Có nhiều luật liên quan đến việc khất thực được ghi trong Luật tạng, như hạn định thời gian khất thực chỉ được đến khi đúng ngọ (12 giờ trưa) và chỉ khất thực trong giới hạn những nhu cầu căn bản để duy trì mệnh sống (s: pinda-cārika, bhaikṣya, pinda).
Khẩu quyết 口訣 (決); C: kŏujué; J: kuketsu; |Sự truyền miệng tinh yếu giáo pháp từ thầy cho đệ tử. Còn gọi Khẩu quyết (口決).
Khẩu truyền 口傳; C: kŏuchuán; J: kuden; |Giáo pháp truyền miệng, khác biệt với giáo pháp lưu truyền bằng kinh điển, Sự mật truyền, khác với công truyền. Còn gọi là Khẩu quyết (口訣).
Khê lam thập diệp tập 溪嵐拾葉集; C: xīlán shíyè jí; J: keiran shūyō shū;|113 quyển, tuyển tập của phái Thai Mật Phật giáo Nhật Bản, được cao tăng học giả Quang Tông (光宗, j: kōshū) biên soạn vào giữa năm 1311 và 1348. Bao gồm hơn 300 tập, ấn bản trong Đại Chính tân tu Đại tạng kinh dựa vào sự phục hồi tập nầy bắt đầu vào năm 1968. Để nghiên cứu nội dung, xin xem Grapard (1998).
Khí 氣; C: qì; J: ki;|1. Không khí, gió; 2. Hơi thở (s: vāta); 3. Năng lực vô hình của sự sống, có phần tương đương với prāṇa của Ấn Độ, là năng lực vật chất của vũ trụ.
Khí 棄; C: qì; J: ki;|1. Liệng bỏ, buông ra, thả ra; bỏ lại; quên đi, bỏ qua. Quăng bỏ, từ bỏ (s: vihāya, apana-yati). Dừng hẳn.
Khí hiềm 棄嫌; C: qìxián; J: kiken; |Trừ bỏ nghi ngờ; từ bỏ lòng căm ghét.
Khiếm 欠; C: qiàn; J: ketsu;|1. Không hoàn toàn; thiếu, vắng. Thất lạc; 2. Vết thương hay thương tích; 3. Ngáp, cử chỉ ngáp (s: vijrmbhita). Thường viết 缺.
Khiết 潔; C: jié; J: ketsu;|1. Thanh tịnh, trong sạch, tinh khiết; 2. Đạo đức chính trực, uy nghi.
Khổ 苦; S: duḥkha; P: dukkha;|Khái niệm quan trọng của Phật giáo, là cơ sở của Tứ diệu đế. Khổ là một trong Ba tính của sự vật.|Không phải chỉ là những cảm thụ khó chịu mới là Khổ; Khổ dùng để chỉ tất cả mọi hiện tượng vật chất và tâm thức, xuất phát từ Ngũ uẩn, chịu dưới quy luật của sự thay đổi và biến hoại. Như thế tất cả những điều an lạc đang có cũng là khổ vì chúng sẽ hoại diệt. Khổ xuất phát từ Ái (s: tṛṣṇā) và con đường thoát khổ là Bát chính đạo.|Chân lí thứ nhất của Tứ diệu đế nói về tính chất của khổ như sau: »Sinh là khổ; già là khổ; bệnh là khổ; chết là khổ; lo lắng, than thở, buồn rầu, tuyệt vọng là khổ; không đạt gì mình ưa thích là khổ; nói tóm lại: mọi thứ dính líu đến Ngũ uẩn là khổ.«
Khoáng 曠; C: kuàng; J: kō;|1. Rất trong sáng và rõ ràng; 2. Hoang vu, trống không; 3. Bỏ hoang, bỏ quên; 4. Rộng mở, mênh mông, bao la, trống không, để trống; 5. Xa xăm, rộng dài; 6. Vô ưu, không bận tâm lo nghĩ.
Khoáng kiếp 曠劫; C: kuàng jié; J: kōgō;| Một thời gian dài. Từ xưa nay.
Khôi sơn trụ bộ 灰山住部; S: gokulika;|Một bộ phái Phật giáo xuất phát từ Ðại chúng bộ (xem biểu đồ của các bộ phái cuối sách).
Không Dã Thượng Nhân 空也上人; j: kūya shōnin, 903-972;|Tịnh độ tông
Không Hải 空海; J: kūkai; 774-835, còn được gọi là Hoằng Pháp Ðại sư (j: kōbō daishi);|Cao tăng Nhật Bản, người sáng lập Chân ngôn tông (j: shingon) – dạng Mật tông tại Nhật. Sư tu học Mật tông tại Trung Quốc và về Nhật mở đạo trường tại núi Cao Dã (j: kō-ya), về sau trở thành trung tâm của Chân ngôn tông. Năm 17 tuổi, Sư đã viết luận về Nho, Lão và Phật giáo và tác phẩm Thập trụ tâm luận – Sư biên soạn bộ này dưới lệnh của Thiên hoàng – nói rõ đạo lí cơ bản của Chân ngôn tông.|Sư cũng mở trường dạy nghệ thuật và khoa học, chấp nhận mọi người theo học, dạy các môn học thế gian và siêu thế gian, kể cả đạo lí của Khổng Tử và Lão Tử. Sư cũng nổi danh trong các ngành khác như hội hoạ, điêu khắc và kĩ thuật.|Sư rất quan tâm đến việc học Phạn ngữ vì cho rằng chỉ với ngôn ngữ này, ý nghĩa của những Man-tra và Ðà-la-ni mới thể hiện trọn vẹn. Sư và các môn đệ cũng là những người đầu tiên kết hợp truyền thống Thần đạo (j: shintō) với Phật giáo và đưa các vị Tổ của Thần đạo lên hàng Bồ Tát.|Sư sinh trưởng trong một gia đình quý tộc. Năm 791, Sư vào một trường dạy Nho và cũng trong năm này, mới 17 tuổi, Sư viết Tam giáo chỉ quy, một bài luận về ba học thuyết thời bấy giờ là Phật, Khổng và Lão giáo. So sánh với đạo Phật, Sư nêu ra những giới hạn của Khổng, Lão. Theo Sư thì đạo Phật đã dung chứa những yếu tố của Khổng, Lão. Tác phẩm Thập trụ tâm luận (Mười bậc trên đường học đạo) của Sư được xem là quan trọng nhất, vượt xa năm tác phẩm Phật giáo khác cùng được trình cho nhà vua thời bấy giờ. Tác phẩm này bao gồm mười chương, trình bày mười cấp phát triển một ý thức giác ngộ. Sư là người đầu tiên tại Nhật dùng phương pháp so sánh một học thuyết với học thuyết khác để làm sáng tỏ một quan điểm. Mười bậc trên đường học đạo theo Thập trụ tâm luận của Sư gồm có:|Cấp 1 là thế giới như của súc sinh, thế giới không kiểm soát được tham dục, thế giới không hề có ý thức Giác ngộ;|Cấp 2 là Khổng giáo, là nơi thực hiện các đức hạnh thế gian, nhưng không quan tâm đến ý thức giác ngộ;|Cấp 3 là Lão giáo, mà các tín đồ tin tưởng nơi một tầng trời đầy hoan lạc bằng cách tu tập thiền định;|Cấp 4 là cấp của Thanh văn thừa của Tiểu thừa, tin vào tính Vô ngã vì cái ngã chỉ do Ngũ uẩn tạo thành;|Cấp 5 là cấp Ðộc giác Phật, là người đạt tri kiến về Mười hai nhân duyên, về sự vô thường, vô ngã và là người đã chấm dứt sự phát sinh của Nghiệp;|Cấp 6 là cấp của tông Pháp tướng (j: hossū-shū);|Cấp 7 là cấp của Tam luận tông, cấp 8 là cấp của Thiên Thai tông, cấp 9 là cấp của Hoa nghiêm tông và cấp 10 là Chân ngôn tông. Sư cho rằng chín cấp trước đều do »bệnh của tư tưởng« mà thành, chỉ có cấp 10 mới chứa đựng chân lí đích thật.
Không hành nữ 空行女; S: ḍākinī; T: khadroma;|Theo quan điểm dân gian Ấn Ðộ, Không hành nữ là các nữ thần trong thiên giới. Ðặc biệt trong Kim cương thừa, Không hành nữ được xem là gốc của sự cảm hứng và trong các tranh tượng, chư vị được vẽ như các nữ thần loã thể đáng sợ.||H 32: Kim cương không hành nữ (s: vajra-ḍākinī), đang ở tư thế đứng vòng cung (s: cāpasthāna). Trong Phật gia thì vị này thuộc về Ðiều hỉ quốc của Phật Bất Ðộng và thường được trình bày với tay cầm Kim cương chử và bình. Thỉnh thoảng bình được thay thế bằng một sọ người.|Trong Phật giáo Tây Tạng, nhiều tu sĩ xem Không hành nữ là thần bảo hộ, là người giải phóng năng lực của người tu tập và hoà nhập vào năng lực của chính mình. Danh hiệu Không hành nữ có nghĩa là vị nữ thần di chuyển trên bình diện thật tại cao nhất – theo tiếng Tây Tạng Kha-dro-ma, kha: không gian, dro: chuyển dịch, ma: nữ giới. Sự loã thể tượng trưng cho sự thật không bị che đậy.
Không Lộ 空露; ?-1119|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 9 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông.|Sư sinh năm nào không rõ, chỉ biết là tịch năm 1119. Ông cha theo nghề chài lưới, đến đời Sư mới bỏ nghề, xuất gia theo Phật. Khoảng niên hiệu Chương Thánh Gia Khánh (1059-1065), đời Lí Thánh Tông, Sư xuất gia với Thiền sư Hà Trạch, kết bạn với Thiền sư Giác Hải và Ðạo Hạnh. Sư có khuynh hướng tu Mật giáo, tương truyền rằng Sư có phép lạ như bay trong không trung, đi trên mặt nước, hàng phục cọp beo.|Ngày 3 tháng 6 năm Hội Trường Ðại Khánh thứ 10 (1119), đời Lí Nhân Tông, Sư viên tịch, môn đồ thu xá lợi thờ tại chùa Nghiêm Quang. Chùa Nghiêm Quang được đổi tên là Thần Quang (1167) nguyên ở hữu ngạn sông Hồng đã bị bão lụt huỷ hoại. Năm 1630 dân dựng lại chùa ở tả ngạn sông Hồng, nay thuộc xã Vũ Nghĩa, tỉnh Thái Bình, được gọi là chùa Keo dưới.|Sư có để bài kệ Ngôn Hoài và bài thơ Ngư Nhàn sau:|Thơ Ngư Nhàn:|萬里青江萬里天。一村桑柘一村煙|漁翁睡著無人喚。過午醒來雪滿船|Vạn lí thanh giang, vạn lí thiên.|Nhất thôn tang giá, nhất thôn yên.|Ngư ông thuỳ trước vô nhân hoán,|Quá ngọ tỉnh lai tuyết mãn thuyền.|*Muôn dặm sông dài, muôn dặm trời,|Một làn dâu giá, một làn hơi.|Ông chài mê ngủ không người gọi,|Tỉnh giấc quá trưa tuyết đầy thuyền.|Kệ Ngôn Hoài (Ngô Tất Tố dịch):|擇得龍蛇地可居。野情終日樂無餘|有時直上孤峰頂。長嘯一聲寒太虛|Trạch đắc long xà địa khả cư|Dã tình chung nhật lạc vô dư|Hữu thời trực thướng cô phong đỉnh|Trường khiếu nhất thanh hàn thái hư|*Lựa nơi rồng rắn đất ưa người|Cả buổi tình quê những mảng vui|Có lúc thẳng lên lầu núi thẳm|Một hơi sáo miệng lạnh bầu trời.|Có sách cho rằng sư Không Lộ là Nguyễn Minh Không, nhưng theo Thiền sư Việt Nam của Thích Thanh Từ thì hai vị hoàn toàn khác nhau. Nguyễn Minh Không sinh năm 1076, mất năm 1141, là người trị bệnh hoá hổ cho Lí Thần Tông.
Không, Không tính 空,空性; S: śūnya (tính từ), śūnyatā (danh từ); nghĩa là »trống rỗng«, »rỗng tuếch«;|Khái niệm trung tâm của đạo Phật, quan trọng nhất và cũng trừu tượng nhất. Trong thời đạo Phật nguyên thuỷ, kinh điển đã nhắc rằng, mọi sự vật là giả hợp, Hữu vi (s: saṃskṛta), trống rỗng (s: śūnya), Vô thường (s: anitya), Vô ngã (s: anātman) và Khổ (s: duḥkha).|Trong Tiểu thừa, tính Không nhằm nói về thể tính của con người và được sử dụng như một tính từ (s: śūnya). Ðại thừa đi thêm một bước nữa, sử dụng Không như một danh từ (s: śūnyatā), xem Không là vạn sự, vạn sự là Không, tức mọi hiện tượng thân tâm đều không hề có tự tính (s: svabhāva). Mọi pháp đều chỉ là những dạng trình hiện (呈現; e: appearance; g: erscheinung), chúng xuất phát từ tính Không, là không. Tính Không vừa chứa tất cả mọi hiện tượng, vừa xuyên suốt các trình tự phát triển sự vật. Tuy thế, người ta cần phải tránh quan điểm hư vô (e: nihilism) dễ có khi luận về tính Không như vừa kể trên. Phải hiểu là sự vật không phải là không có, chúng có, nhưng chỉ là những dạng xuất hiện, là những trình hiện của một thể tính. Kể cả tư tưởng cũng là trình hiện của thể tính đó nên không thể dùng tư tưởng để tiếp cận ngược lại nó. Vì vậy tiếp cận tính Không là nội dung của các phép tu học, nhất là Thiền tông. Tính Không được Ðại thừa cho là thể tính tuyệt đối, tối thượng, không bị hạn lượng của nhị nguyên. Vì tính chất trừu tượng và chỉ nhờ trực ngộ mà thấy nên tính Không luôn luôn là đối tượng tranh luận trong các tông phái Phật giáo xưa nay.|Ðại thừa dùng ẩn dụ sau đây để minh hoạ sự khác biệt trong quan điểm của Tiểu thừa và Ðại thừa về tính Không: Tiểu thừa xem sự vật như một cái thùng trống rỗng, Ðại thừa phủ nhận luôn sự hiện hữu của cái thùng đó, chủ trương một quan điểm vô ngã tuyệt đối.|Trong bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, tính Không được xem là cái chung nhất của tất cả mọi hiện tượng mâu thuẫn lẫn nhau; kinh này cho rằng Sắc và Không không hề khác nhau (Ma-ha bát-nhã-ba-la-mật-đa tâm kinh).|Trung quán tông thì cho mọi sự vật đều trống rỗng, chúng chỉ dựa lên nhau mà có (Mười hai nhân duyên). Thể tính của toàn thế giới là Không, nó là »cái tĩnh lặng của thiên hình vạn trạng«. Tính Không là thể tính của mọi khái niệm, kể cả khái niệm »tính không« bao trùm ngôn ngữ. Vì vậy không thể dùng ngôn ngữ, dùng khái niệm nói về Không. Trung quán tông cho rằng, Tính Không có ba chức năng: nguồn gốc của tất cả mọi sinh thành của chúng sinh, của sự hoại diệt của chúng, đồng thời tạo cho chúng điều kiện thoát khỏi Luân hồi. Một khi con người dùng trí Bát-nhã kiến ngộ được Không là con người đạt Niết-bàn.|Ðối với Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda) thì mọi sự đều trống rỗng vì chúng chỉ xuất phát từ Tâm (s: citta). Trong trường phái này thì Tâm và tính Không là một.|Tại Tây Tạng, quan điểm tính Không cũng đóng một vai trò quan trọng trong khi truyền giáo lí Trung quán qua xứ này. Luận sư Ấn Ðộ Liên Hoa Giới (s: kamalaśīla) và Hoà thượng Ðại Thừa, đại diện của Thiền tông Trung Quốc tranh cluận nhau, liệu con đường giác ngộ chân lí phải qua từng cấp bậc (Tiệm ngộ) hay chỉ là một trực nhận bất ngờ (Ðốn ngộ). Cuối cùng, tại Tây Tạng, người ta chấp nhận con đường »từng cấp« và vì thế kể từ khoảng thế kỉ 11, người ta bắt đầu thiết lập nhiều phép tu và quan niệm triết học về tính Không, còn được ghi lại trong những tác phẩm gọi chung là Tất-đàn-đa (s: siddhānta). Tất cả mọi trường phái của Trung quán đều lấy quan điểm »hai chân lí« của Long Thụ làm gốc:|Chân lí quy ước (s: saṃvṛti-satya), có giá trị trong đời sống bình thường, có giá trị cho các hiện tượng do Mười hai nhân duyên tạo nên, nhưng thật ra chúng không tồn tại thật sự;|Chân lí tuyệt đối (s: paramārthasatya), là tính Không, là thể »nằm ngoài tồn tại hay không tồn tại«, là thể không thể nghĩ bàn – chỉ có thể thông đạt được qua sự trực nhận.|Tất cả các điểm khác nhau giữa các phái thuộc Trung quán là hiểu thế nào về hai chân lí đó và làm sao mà tiếp cận, trực ngộ được tính Không. Các phép tu của Phật giáo Tây Tạng dần dần không chỉ tự giới hạn nơi những quan điểm triết học mà còn đi sâu vào các phép Tan-tra để tiếp cận tính Không. Ðặc biệt là phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) và Ðại cứu kính (s: atiyoga; t: dzogchen) chỉ rõ cho hành giả cách thể nhập kinh nghiệm về tính Không. |Với thời gian, người ta có thể nhận ra một điểm khác biệt giữa Trung quán tông nguyên thuỷ và các giáo pháp Trung quán của Tây Tạng: nếu Trung quán chỉ nói tới tính Không bằng cách phủ nhận cái »đang là« thì các giáo phái này xem tính Không là một cái gì đó có tính chất khẳng định (e: positive) có thể nắm bắt được, tính Không này mang một tính chất »rộng mở«, có một mối liên hệ với Cực quang (s: ābhāsvara, ánh sáng rực rỡ, Na-rô lục pháp).
Khúc 曲; C: qŭ; J: koku, goku, kyoku; |1. Uốn cong, bị cong, vênh, khúc cong; 2. Làm cong, làm hư hỏng, bóp méo, làm xoắn; 3. Một đoạn đường cong; 4. Sai, trái; 5. Kĩ lưỡng, chính xác; 6. Một bài hát; 7. Dạy dỗ; thầy giáo.
Khúc thành 曲成; C: qŭ chéng; J: kyokusei; |1. Hoàn chỉnh toàn bộ không một chút sơ suất; 2. Đưa sự việc đến chỗ hoàn mãn bằng cách lợi dụng sự biến chuyển theo hoàn cảnh (Kinh Dịch).
Khúc thuyết 曲説; C: qŭ shuō; J: kyokusetsu; |Quan niệm sai lệch. Khuynh hướng hay lí lẽ thiên lệch. Lời tuyên bố một chiều.
Khúc xỉ 曲齒; C: qŭchĭ; J: kyōshi; S: kūṭadantī|Một trong 10 vị La-sát nữ hộ pháp trong kinh Pháp Hoa. Thập La-sát nữ (十羅刹女).
Khuê Phong Tông Mật 圭峰宗密; C: guīfēng zōngmì; J: keihō shū-mitsu; 780-841;|Thiền sư Trung Quốc dòng Hà Trạch Thần Hội và cũng là Tổ thứ 5 của Hoa nghiêm tông. Sư tìm cách phối hợp giáo lí của Hoa nghiêm tông và cách thực hành của các vị Thiền sư. Sư luận giải giáo lí của Hiền Thủ Pháp Tạng – Tổ thứ ba của Hoa nghiêm tông – bằng ngôn ngữ dễ hiểu hơn. Hoa nghiêm nguyên nhân luận của Sư là một trong những tác phẩm tiêu chuẩn mà những vị tăng ở Nhật Bản phải học qua.|Sư họ Hà, quê ở Quả Châu, lúc đầu quy y ở Toại Châu nơi Thiền sư Viên. Nhân dịp đọc kinh Viên Giác, Sư bỗng ngộ yếu chỉ. Sau khi đọc Hoa nghiêm sớ, Sư đến yết kiến Pháp sư Thanh Lương Trừng Quán và sau trở thành Tổ thứ năm của Hoa nghiêm tông. Danh tiếng của Sư lan tràn khắp nơi và vua Ðường Văn Tông ban cho Sư áo ca-sa tía (tử y). Ngày 6 tháng giêng năm Hội Xương, Sư ngồi thị tịch. Vua sắc phong là Ðịnh Huệ.|Một tác phẩm nổi tiếng khác của Sư là Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự cũng thường được nhắc đến, trong đó Sư phân chia Thiền thành năm thể loại, được gọi chung là Ngũ vị thiền.
Khuông Việt 匡越; 933-1011|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Vô Ngôn Thông đời thứ 4, đắc pháp nơi Thiền sư Vân Phong. Kế thừa Sư là Thiền sư Ða Bảo.|Sư tên tục là Ngô Chân Lưu, quê ở làng Cát Lợi quận Thường Lạc. Thuở nhỏ Sư theo nghiệp nhà Nho nhưng lớn lên lại tu học Phật pháp. Sư thụ giáo nơi Thiền sư Vân Phong tại chùa Khai Quốc và triệt ngộ yếu chỉ Thiền nơi đây.|Danh Sư vang khắp tùng lâm, được vua Ðinh Tiên Hoàng mời vào cung hỏi đạo. Sư ứng đối rành rẽ, vua rất phục, ban cho chức Tăng thống. Ðến đời vua Lê Ðại Hành, Sư càng được kính trọng. Bao nhiêu việc về binh, nước, vua đều mời Sư vào cung tham vấn.|Sắp tịch, gọi Ða Bảo lại nói kệ:|木中原有火。有火火還生|若謂木無火。鑽遂何由萌|Mộc trung nguyên hữu hoả|Hữu hoả, hoả hoàn sinh|Nhược vị mộc vô hoả|Toản toại hà do manh.|*Trong cây sẵn có lửa|Có lửa, lửa lại sinh|Nếu bảo cây không lửa|Cọ xát làm gì sinh.|Ðọc xong, Sư ngồi Kết già thị tịch, thọ 79 tuổi.
Khuy Cơ 窺基; C: kuījī; 632-682;|Cao tăng Phật giáo Trung Quốc, đệ tử của Huyền Trang và cùng Huyền Trang sáng lập Pháp tướng tông.|Khuy Cơ đi tu từ năm 17 tuổi, năm 25 tuổi đã dịch kinh sách và tham gia dịch Thành duy thức luận (s: vijñaptimātratā-siddhi), một tác phẩm căn bản của Pháp tướng tông. Sư cũng viết một bài luận về tác phẩm này và hệ thống hoá mạch lạc giáo lí của thầy mình.
Khuyến 勸; C: quàn; J: kan; |Có các nghĩa sau: 1. Ủng hộ, thuyết phục, khuyến khích; 2. Khuyên nhủ, giáo hoá; 3. Sự giúp sức, sự tiến bộ, sự tăng trưởng (s: samādāpayati).
Khuyến lệnh 勸令; C: quànlìng; J: kenryō; |Dạy dỗ và khuyến khích; thúc đẩy, ủng hộ.
Khuyến trì 勸持; C: quànchí; J: kanji; |Ủng hộ và gìn giữ, tôn trọng, hành trì theo lời dạy trong một bộ kinh. Thuật ngữ nầy thường thấy ở phần kết thúc của một bộ kinh (theo Pháp hoa kinh 法華經).
Kí 既; C: jì; J: ki, ke;|1. Từ khi, khi; đã rồi, trước đây, thực ra, rồi, chẳng còn… nữa; 2. Dùng hết, xong.
Kí dĩ 既已; C: jìyĭ; J: kii;|1. Trước đây đã rồi, thực ra, rồi, chẳng còn… nữa; 2. Dùng hết, xong.
Ki-la Ki-la-pa S: kilakilapa; »Người mồm to bị đuổi«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không biết sống trong thế kỉ nào.|Ông thuộc giai cấp thấp kém trong thành Bhi-ra-li-ra, là người không nói lời dịu dàng, hay khích bác gây sự. Ðiều này xuất phát từ khẩu Nghiệp của các đời trước. Người ta ai cũng ghét ông và vì thế ông rút về sống trên một bãi thiêu xác. Nơi đó ông gặp một Du-già sư và vị này sẵn lòng chỉ cho ông một Nghi quỹ (s: sādhana) để tu tập. Ông được đưa vào những yếu chỉ bí mật của Bí mật tập hội (s: guhya-samāja-tantra) và được dạy phép quán tưởng như sau:|Lời mình hay lời người,|tất cả là âm thanh;|hãy tinh tiến quán tưởng,|mọi âm không hề khác.|Rồi hãy quán thêm rằng,|lời mình từ tính Không,|mênh mông như bầu trời,|đến như ngàn tiếng sấm,|rồi rơi xuống như hoa.|Nhờ chuyên tâm quán tưởng, ông không còn thấy âm thanh của người khác đối với mình hằn học nữa. Rồi ông mất luôn âm thanh của tiếng nói mình trong khoảng bao la bất tận của tính Không. Tất cả mọi hiện tượng và thanh âm hiện lên đối với ông dưới dạng Ðại thủ ấn và ông đạt giải thoát. Kệ ngộ đạo của ông như sau:|Trong bầu trời Pháp giới,|sức diệu dụng thanh tịnh,|biến ra ngàn tiếng sấm.|Toàn thế giới hiện tượng,|trước hư vọng giả dối,|nay trở thành Tỉnh giác:|Tâm thức đạt  Ba thân
Kĩ nhi 伎兒; C: jìér; J: gini;|Ca sĩ, con hát, nữ ca sĩ (s: nata).
Ki-ra Pa-la-pa S: kirapālapa; »Người chinh phục hối hận«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào. Có sách cho rằng ông là đệ tử của Lu-i-pa (s: lūipa). Ðời sống ông có vẻ giống cuộc đời vua A-dục.|Ông là nhà vua trị vì vương quốc Gra-ha-ra. Ông cho quân đi chiếm đánh và cướp bóc các nước lân bang, thế nhưng ông không hề biết nỗi khổ của chiến tranh. Ngày nọ trong cuộc chiến với một nước gần đó, thấy tận mắt chiến tranh, ông tỏ lòng hối hận. Ông đem phân phát của cải cho dân nghèo và xin tu tập với một vị Du-già sư.|Vị Du-già sư dạy ông Quy y tam bảo, thụ giới Bồ Tát và trau dồi bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú). Ông tinh tiến xin học tập một pháp mà chỉ trong đời này đạt Phật quả. Vị Du-già sư bèn hướng dẫn ông vào Cha-kra sam-va-ra tan-tra, truyền lực và dạy ông phép thiền tạo tác và thiền thành tựu. Vì ông còn vướng đến chuyện chiến chinh, Du-già sư dạy ông như sau:|Chúng sinh trong ba cõi,|ví như đội binh mã.|Trong thức vô biên xứ,|sinh vô số anh hùng,|thống nhất chúng làm một,|đánh tan quân giặc cướp.|Ca khúc ca khải hoàn,|trên đỉnh cao của Tâm.|Cần phải quán như vậy.|Sau mười hai năm, nhà vua đắc đạo, đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Ngày nọ, các nàng hoàng hậu và quần thần thấy hào quang chiếu rực, họ biết ông đã thành tựu viên mãn và cúng lạy ông. Ông khuyên:|Hãy ham muốn mang lại,|cho tất cả hữu tình,|cả bốn vô lượng tâm.|Hãy giận dữ chống lại,|mỗi một tên ma quỷ,|quấy rối trong tâm thức.|Ông sống thêm 700 năm nữa để giáo hoá. Bài ca chứng đạo của ông như sau:|Lúc nào còn vô minh,|ta còn bị trói buộc,|trong cái Ta và Người.|Lúc chớp nhoáng chứng ngộ,|mọi tư tưởng gãy đổ,|khi đó »Phật« cũng là,|danh từ vô ý nghĩa.|Khi chứng được tâm thức,|trong khoảng không vắng lặng,|thì Thật tại trở thành,|bất định, vô cấu trúc.
Kí thành 既成; C: jì chéng; J: kijō;|Khi đã hoàn thành.
Kí thị nhậm ma 既是恁麼; C: jìshì rèn mó; J: kize inmo; |Đã như vậy rồi.
Kì viên 祇園; S, P: jetavana;|Ðạo trường tại Xá-vệ (s: śrāvastī), do Cấp Cô Ðộc (s, p: anāthapiṇḍika), một thương nhân giàu có, tặng cho Phật Thích-ca. Ðây cũng là nơi Ngài lưu trú 19 mùa mưa. Ngôi chùa cổ nhất của Trung Quốc là Bạch Mã tự cũng được xây theo kiểu đạo trường này
Kiềm chùy 鉗鎚; J: kentsui; nghĩa là »Kềm và chày táng«;|Một cách diễn tả phương pháp giáo hoá »thô bạo« của các vị Thiền sư, như dùng gậy, tát vào mặt, vặn mũi, hét (Hát) được thuật lại trong các Ngữ lục, Công án.|Mặc dù nhìn qua thì thấy thô bạo, quái gở nhưng nó chính là biểu hiện của lòng từ bi vô lượng của các vị Thiền sư. Các vị dùng phương pháp kiềm chùy để giúp đệ tử phá bỏ tất cả những thành kiến, đánh thức tất cả những năng lượng tiềm tàng trong đệ tử và tiến xa như có thể trên con đường tu tập, chứng ngộ chân lí. Ðối nghịch với Kiềm chùy thiền là Lão bà thiền.
Kiêm đái (đới) 兼帶; C: jiāndài; J: kentai;|Dùng một việc cho hai hay nhiều mục đích.
Kiếm đạo 劍道; J: kendō;|Nghệ thuật đánh kiếm của Nhật Bản với cả hai tay. Thời trung cổ, nhiều kiếm sĩ Nhật thường tham thiền để đạt được sự bình tĩnh tuỳ cơ ứng biến và ngược lại, nhiều Thiền sư Nhật cũng là kiếm sĩ tuyệt luân.|Trạch Am Tông Bành, một vị Thiền sư danh tiếng người Nhật viết rất hay về kiếm đạo trong một bài luận. Sư so sánh tâm trạng của một thiền tăng và một kiếm sĩ như sau: »Nếu hiểu Kiếm đúng đắn thì không phải chỉ Thiền, mà quy luật của thiên địa cũng như tất cả những quy luật của vũ trụ đều là Kiếm đạo; và ngược lại – nhìn theo Thiền thì không chỉ Kiếm đạo, mà là tất cả vạn vật đều là những làn sóng trên biển Thiền. Nói rõ ràng hơn: Sự hợp nhất của Kiếm và Thiền tương ưng một cấp bậc mà trên đó Thiền và Kiếm đều chẳng có nhưng chúng ta lại chẳng tìm được một vật không phải Thiền, không phải Kiếm.«
Kiểm điểm 檢點; C: jiăndiăn; J: kenten; |Xem xét trình độ thâm nhập Phật pháp của một người.
Kiếm hạ phân thân 劍下分身; C: jiànxiàfēnshēn; J: kengebun-shin;|Phân thân thành hai phần với một nhát kiếm. Một ẩn dụ chỉ một câu nói của một vị Thiền sư với khả năng cắt đứt vô minh, khai ngộ đệ tử.
Kiên 堅; C: jiān; J: ken; S: kathina|Có các nghĩa sau: 1. Cứng, mạnh, rắn, chắc, không linh động; 2. Sự cứng rắn có thể thấy được nơi tảng đá. Phẩm chất đặc biệt của địa đại; 3. Nhất định, kiên quyết. Duy trì; 4. Tôi luyện, củng cố, tăng cường; 5. Áo giáp; 6. Nặng.
Kiến 見; S: dṛṣṭi hoặc darśana; P: diṭṭhi hoặc dassa-na;|Nghĩa là »thấy« nhưng được sử dụng nhiều cách khác nhau như sau:|a) Kiến dịch từ chữ Dṛṣṭi ngoài nghĩa »thấy« ra cũng có nghĩa là quan niệm, kiến giải; nếu danh từ Dṛṣṭi đứng một mình thì phần lớn được hiểu là »tà kiến« quan niệm sai lầm. Người ta phân biệt nhiều loại tà kiến và chia chúng ra nhiều nhóm khác nhau theo hệ số như 2, 3, 4, 5, 7, 10 và 16 kiến, trong đó hệ thống Nhị kiến, Tam kiến, Tứ kiến và Thất kiến quan trọng hơn hết:|Nhị kiến: 1. Hữu kiến, cho tất cả là có thật và 2. Vô kiến, tà kiến thiên về không, hư vô.|Tam kiến: 1. Cho rằng sự việc xảy ra không có nguyên nhân, 2. Cho rằng đời sống tuyệt đối vô ích và 3. Vô kiến, tin tưởng vào một quan điểm hư vô.|Tứ kiến: 1. Nhất, nghĩa là chỉ có một, tất cả đều như nhau; 2. Dị, tất cả đều khác nhau, không cái nào giống cái nào; 3. Thường kiến, cho rằng tất cả đều thường còn, vĩnh viễn; 4. Ðoạn kiến, không thường còn.|Thất kiến: 1. Ngã kiến, tin có một tự Ngã (s: ātman); 2. Phủ nhận quy luật nhân quả (Nghiệp; s: karma); 3. Thường kiến, tin nơi sự trường tồn bất biến; 4. Ðoạn kiến, tin vào sự huỷ diệt; 5. Giới cấm thủ kiến, bám giữ nơi Giới luật; 6. Quả đạo kiến, nhận lầm một ác nghiệp là một thiện nghiệp; 7. Nghi kiến, nghi ngờ về các chân lí do Phật tuyên giảng.|b) Kiến dịch từ chữ darśana và được dùng chung với một danh từ khác như Kiến đạo (s: darśana-mārga)…; chỉ cách nhìn dựa trên lí luận minh triết, có khả năng loại bỏ Ái, đoạn được Nghi hoặc. Nhờ chính kiến mà hành giả có thể hiểu được Tứ diệu đế, từ bậc Tuỳ pháp hành (s: dharmānusārin) hoặc Tuỳ tín hành (s: śraddhānusārin) trở thành một bậc Dự lưu (s: śrotāpanna).
Kiên chấp 堅執; C: jiānzhí; J: kenshū; |Chấp cứng, chấp chặc.
Kiến-chí S: sāñcī;|Một thành phố Trung Ấn. Giữa thế kỉ thứ 3 trước và thế kỉ 1 sau Công nguyên, người ta xây dựng nhiều thánh tích Phật giáo nơi đây. Tất cả các dạng Bảo tháp sau này đều xuất phát từ đây.
Kiên cố 堅固; C: jiāngù; J: kengo; |Có các nghĩa sau: 1. Vững chắc, kiên định; 2. Có một khuynh hướng cố hữu về tính vĩnh cửu (s: anitya-asāra-saṃjñā); 3. Tồn tại cụ thể (s: dhrdha-sāra); 4. Không giảm bớt, không lui sụt, không tái phạm; 5. Dứt khoát.
Kiện-đạt-phọc 健達縛; C: jiàndáfú; J: kendatsuba;|Phiên âm từ Gandharva trong tiếng Phạn (sanskrit). Xem Càn-thát-bà (乾闥婆).
Kiến Nhân tự 建仁寺; J: kennin-ji;|Một ngôi chùa lớn của tông Lâm Tế tại Nhật, nơi Thiền sư Minh Am Vinh Tây (j: myōan eisai) được cử làm vị trụ trì đầu tiên năm 1202. Trên khu vực của chùa này người ta còn tìm thấy những di tích của những tông phái Phật giáo khác trong thời gian thành lập chùa này tại Kinh Ðô (kyōto). Nhiều vị trụ trì chùa này có quan hệ với Thiên Thai tông (j: tendai) và Chân ngôn tông (j: shingon) và phương pháp giáo hoá, hướng dẫn môn đệ tu tập của những vị này đều bị ảnh hưởng qua sự liên hệ này. Chùa Kiến Nhân được xếp vào Ngũ sơn của Kinh Ðô.
Kiên thật tâm 堅實心; C: jiānshíxīn; J: kenjitsushin; |Tâm chân thật mà tất cả chúng sinh đều vốn có. Chân tâm; tâm như chính từ chân tánh. Một trong bốn dạng tâm.
Kiến tính 見性; C: jiànxìng; J: kenshō;|Tức là trực nhận thấy tính; một danh từ chỉ sự trực nhận thấy chân lí. Như tất cả ngôn ngữ thì danh từ này cũng không chính xác và có thể tạo sự hiểu lầm vì kinh nghiệm kiến tính không có tính nhị nguyên, không có người nhìn (kiến) và không có »tính« được nhìn (xem cuộc đối thoại của Thiền sư Vĩnh Gia Huyền Giác với Lục tổ Huệ Năng).|Kiến tính đồng nghĩa với Giác ngộ và cũng được sử dụng như nhau. Nhưng thông thường, danh từ Giác ngộ được dùng để chỉ sự giác ngộ của một vị Phật, vị Tổ và kiến tính để chỉ các kinh nghiệm nếm vị giác ngộ ban đầu, cần được tu tập rèn luyện thêm.
Kiến Trường tự 建長寺; J: kenchō-ji;|Một ngôi chùa thuộc tông Lâm Tế (j: rinzai) tại Nhật Bản. Vị trụ trì đầu tiên của chùa này là Lan Khê Ðạo Long, một vị Thiền sư Trung Quốc sang Nhật hoằng hoá. Chùa này nằm tại Liêm Thương (j: kamakura), được xếp vào Ngũ sơn của nơi này. Kiến Trường tự là một trong những nơi mà Thiền Lâm Tế còn được truyền bá một cách thuần tuý theo truyền thống.
Kiếp 劫 (刧); C: jié; J: kō; S: kalpa; P: kappa; dịch trọn âm là Kiếp-ba (劫波);|Một khái niệm Phật giáo nhằm chỉ một thời gian rất dài. Một thời kiếp được biểu diễn như sau: cứ trăm năm có người dùng một tấm khăn lụa chùi một khối đá lập phương mỗi bề một dặm (1,6 km = 1dặm), thì lúc khối đá mòn hết, đó là một kiếp. Mỗi kiếp có bốn giai đoạn sinh, thành, hoại, diệt của các thế giới. Trong giai đoạn sinh thành của thế giới, sinh vật bắt đầu sinh sôi nẩy nở. Trong giai đoạn hai, các thiên thể (mặt trời, mặt trăng) được sinh ra, sinh vật phát triển và bắt đầu có dạng đời sống xã hội. Trong giai đoạn hoại diệt, các yếu tố lửa, nước và gió phá huỷ toàn bộ thế giới.|Bốn giai đoạn nói trên hình thành một đại kiếp (s: mahākalpa), mỗi đại kiếp gồm 20 tiểu kiếp hợp lại. Mỗi tiểu kiếp lại được chia ra thành những thời kì sắt, đồng, bạc, vàng. Trong thời gian một tiểu kiếp thành hình, thọ mệnh của con người cứ kéo dài thêm, cứ mỗi trăm năm thêm một tuổi, cho đến lúc con người thọ 84000 năm. Thân thể con người cũng cao lớn đến 8400 bộ. Trong giai đoạn hoại diệt của một tiểu kiếp, đó là giai đoạn của chiến tranh, bệnh dịch, thiếu ăn lan tràn, thì thọ mệnh con người ngắn dần, chỉ còn 10 năm. Thân người lúc đó chỉ còn một bộ.
Kiếp-ba 劫波; C: jiébō; J: kōhi;|Kiếp (劫).
Kiếp-bá 劫簸; C: jiébǒ; J: kōha;|Kiếp-ba (劫波).
Kiếp-bả 劫跛; C: jiébǒ; J: kōha;|Kiếp-ba (劫波).
Kiếp cụ 劫具; C: jiéjù; J: kōgu;|Kiếp-ba-bà (劫波婆).
Kiếp diệm (diễm) 劫焰; C: jiéyàn; J: kōen;|Kiếp hoả.
Kiếp hải 劫海; C: jiéhăi; J: kōkai;|Một »biển kiếp«, số lượng kiếp rất nhiều.
Kiếp hoả 劫火; C: jiéhuǒ; J: kōka;|Tai hoạ lớn vào thời kì cuối cùng, thiêu cháy sạch toàn vũ trụ. Mọi sinh vật ở phía dưới cõi Sơ thiền (初禪天) đều bị tiêu huỷ (s: yuga-anta-agni).
Kiếp khôi 劫灰; C: jiéhuī; J: kōkai;|Tro còn lại sau Kiếp hoả (劫火).
Kiếp-phỉ-na 劫庀那; C: jiépǐnà; J: kōhina; S: kapphiṇa.|Một trong những môn đệ trực tiếp của Phật Thích-ca Mâu-ni. Kiếp-tân-na (劫賓那).
Kiếp tai 劫災; C: jiézāi; J: kōsai;|Kiếp hoả.
Kiếp tận 劫盡; C: jiéjìn; J: kōjin;|Tận cùng của kiếp nầy. Sự hoại diệt của chu kì thế giới hiện tại (s: kalpa-anta, yuga-anta).
Kiếp tận hoả 劫盡火; C: jiéjìnhuǒ; J: kōjinka;|Tai hoạ lớn vào thời kì cuối cùng, thiêu cháy sạch toàn vũ trụ. Như Kiếp hoả (劫火).
Kiếp-tân-na 劫賓那; C: jiébīnnà; J: kōhinna; S: kapphi-ṇa.|Một trong những Đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni, nổi tiếng là nhà chiêm tinh (theo kinh Pháp Hoa 法華經).
Kiếp-tỉ-na 劫譬那; C: jiépìnà; J: kōhina; S: kapphiṇa.|Một trong các đệ tử chính của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni. Kiếp-tân-na (劫賓那).
Kiếp trọc 劫濁; C: jiézhuó; J: kōjaku;|Thời kì hỗn loạn; thời kì vẫn đục. Một trong Ngũ trọc (五濁, theo Du-già luận 瑜伽論).
Kiêu-tát-la 憍薩羅; S: kośala; P: kosala; hoặc Câu-tát-la, cách dịch theo âm Hán Việt;|Vương quốc Ấn Ðộ trong thời Phật Thích-ca. Kiêu-tát-la là vương quốc có thế lực nhất tại Bắc Ấn Ðộ cho đến thế kỉ thứ 3 thì bị nước Ma-kiệt-đà (magadha) xâm chiếm. Ðức Phật hay đến Xá-vệ (s: śrāvastī), kinh đô của Kiêu-tát-la, lưu trú tại Kì viên (jetavana)
Kim cương 金剛; S: vajra; T: dorje (rDo-rje); cũng gọi là Kim cương chử (金剛杵), Kim cương chùy (金剛鎚);|Trong Ấn Ðộ giáo, Kim cương có nghĩa là »sấm sét«, một vũ khí của Ðế Thích (s: indra). Trong đạo Phật, Kim cương không phải là một vũ khí mà là biểu tượng của sự bất hoại. Ðó là biểu tượng của Chân như, của tính Không (s: śūnyatā), của thể tính hằng tồn tại của hiện tượng. Như Kim cương, tính Không không thể bị huỷ hoại vì chưa hề sinh thành. Tính Không cũng trong sáng rực rỡ thanh tịnh như Kim cương, mặc dù tính Không là gốc của thiên hình vạn trạng hiện tượng.||H 33: Kim cương chử|Tính Không là gốc mọi vật nhưng không phải là một »vật«, như Thiền tông hay nói. Mọi hiện tượng đều khác nhau, nhưng chúng là Không, tính Không với chúng tương đồng, không hề khác. Ðó là một kiến giải không thông qua suy luận mà »hiểu« được, chỉ được trực nhận trong một trạng thái giác ngộ.|Tại Tây Tạng Kim cương (chử) được viết là Dor-je (rDo-rje), là »chúa tể loài đá«, là biểu tượng »dương tính« của đạo giác ngộ, là khía cạnh Phương tiện (s: upāya). Ngược lại, chuông đồng (t: drilbu) là biểu tượng của »âm tính« và là khía cạnh trí Bát-nhã. Hai mặt này biểu tượng tính nhị nguyên của toàn thể thế giới hiện tượng. Tính nhị nguyên này sẽ tự hoại diệt trong thiền định.|Một trong năm Phật gia có thuộc tính cơ bản là tính bất hoại của Dor-je. Vị thầy nắm vững và truyền dạy các phương tiện của Kim cương thừa được gọi là Kim cương đạo sư (t: dorje lopon).||H 34: Kim cương phổ chử (金剛普杵; s: viśvava-jra)|Một pháp khí có tính chất gần giống với Kim cương, cũng có tính thiêng liêng của kim khí là truỷ thủ (Phur-bu). Truỷ thủ thường dùng để đối trị ma quỷ (tượng trưng cho sự giận giữ) và được Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) sử dụng khi giáo hoá Tây Tạng.|Tâm thức huyền bí của chư Phật, của trí huệ vô thượng, được tượng trưng bằng tính kiên cố vĩnh viễn, bằng ánh sáng rực rỡ và sự trống rỗng, của tự tính Kim cương bất hoại, như hư không. Thật diệu kì, nhìn được tận mặt của Chân như.
Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 金剛般若波羅密多經; S: vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra; dịch đủ là Kim cương năng đoạn bát-nhã ba-la-mật-đa kinh;|Một bài Kinh quan trọng của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, được lưu truyền rộng rãi vùng Ðông Á. Kinh chỉ rõ, mọi hiện tượng thân tâm không phải là thể của thật tại, chúng chỉ là biểu hiện của tâm. Hành giả phải quán chiếu hoạt động của tâm thức và hiểu rằng tâm vốn »trống rỗng, vô ngã, tịch tịnh«. Kinh được gọi là »Kim cương« vì nó »sắc bén như kim cương, cắt sạch (能斷; năng đoạn) mọi khái niệm và đưa hành giả đến bờ Giác ngộ«. Tương truyền rằng, Lục tổ Huệ Năng nhân nghe người tụng kinh này mà giác ngộ.
Kim cương kinh 金剛經|Tên gọi tắt của Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh.
Kim cương Tát-đoá 金剛薩埵; S: vajrasattva;|Tên của một vị Bồ Tát. Trong Kim cương thừa, đây là hiện thân của nguyên lí và khả năng lọc sạch thân tâm. Ðó là khả năng loại trừ ô nhiễm và biếng nhác trên đường tu học. Người ta xem Kim cương Tát-đoá là một dạng của Báo thân (Ba thân). Trong tranh tượng, Kim cương Tát-đoá được vẽ màu trắng, tượng trưng cho sự hoà nhập của Ngũ phật vào thân này. Tay mặt của Kim cương Tát-đoá cầm Kim cương chử, tay trái dựa trên một chuông đồng, tượng trưng lòng từ bi. Kim cương Tát-đoá có Man-tra dài trên 100 âm được các trường phái Tây Tạng tụng đọc nhằm thanh lọc thân tâm.||H 35: Kim cương Tát-đoá với Ấn »tay làm dấu vajrahūṃ« (s: vajrahūṃkāra-mudrā). Tay bắt chéo trước ngực là biểu hiện của Ðại lạc (mahāsukha) khi vượt qua giới nhị nguyên.
Kim cương thừa 金剛乘; S: vajrayāna;|Một trường phái Phật giáo xuất hiện trong khoảng thế kỉ thứ 5,6 tại Bắc Ấn Ðộ. Kim cương thừa bắt nguồn từ Ðại thừa (s: mahāyāna) và được truyền qua Tây Tạng, Trung Quốc, Nhật Bản (riêng bộ Vô thượng du-già không được truyền sang Trung Quốc và Nhật).|Xuất phát từ Phật giáo Ðại thừa, nhưng trường phái này lấy thêm những phương pháp tu học huyền bí, có tính chất bí truyền. Thường thường các phái này được hướng dẫn bằng một vị Ðạo sư, kinh sách của họ trình bày nhiều phép tu luyện được gọi là Tan-tra. Kim cương thừa hay sử dụng Man-tra và có ảnh hưởng mạnh nhất tại Tây Tạng. Vì hay sử dụng Man-tra, Phật giáo Tây Tạng cũng gọi Kim cương thừa là Chân ngôn thừa (s: man-trayāna).|Giáo pháp của Kim cương thừa mang tính chất Mật giáo, bao gồm các yếu tố của phép Du-già và các tôn giáo thiên nhiên của Ấn Ðộ trộn lẫn với tư tưởng Phật giáo. Quan trọng nhất là ảnh hưởng từ Tây Bắc Ấn Ðộ với nhiều biểu tượng về Cực quang (s: ābhāsvara, ánh sáng rực rỡ) cũng như ảnh hưởng của Bắc Ấn về việc tôn thờ giới tính.|Trong thời gian đầu, giáo pháp này chỉ được khẩu truyền, và đến giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 10 mới được hệ thống hoá và kết tập hoàn chỉnh. Các tác phẩm quan trọng nhất của Kim cương thừa là Bí mật tập hội (s: guhyasamājatantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakratantra) cũng sinh ra trong thời gian này. Các kinh sách quan trọng nhất của Kim cương thừa được gồm trong các Tan-tra cũng như các bài thánh đạo ca của các vị Tất-đạt (s: siddha), là các bài diễn tả kinh nghiệm của phép tu Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā).|Lúc Kim cương thừa truyền qua Tây Tạng thì cũng là lúc giáo pháp này đã có một chỗ đứng vững chắc trong Phật giáo nói chung. Muốn lĩnh hội Kim cương thừa, hành giả phải có một kiến giải sâu xa về giáo pháp của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, giáo pháp theo cách luận giải của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Vô Trước (s: asaṅga). Vì vậy Bát-nhã ba-la-mật-đa cũng được gọi là »Nhân thừa« (因乘) và Kim cương thừa được gọi là »Quả thừa« (果乘). Trong Kim cương thừa, có một yếu tố quan trọng khác là vai trò của một vị Ðạo sư, vị này Quán đỉnh và truyền lực, hướng dẫn đệ tử thiền quán, chú tâm vào một Nghi quỹ (s: sādhana) nhất định. Trong các phép này, sử dụng Man-tra, quán Man-đa-la và và bắt Ấn là những phương tiện quan trọng. Trong Kim cương thừa, Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) biểu hiện sự giác ngộ, đạt được sự nhất thể của vũ trụ, vượt lên mọi nhị nguyên thông thường.
Kim quang minh kinh 金光明經; S: suvarṇaprabhāsa-sūtra;|Kim quang minh tối thắng vương kinh
Kim quang minh tối thắng vương kinh 金光明最勝王經; S: suvarṇaprabhāsotta-ma-rāja-sūtra; cũng được gọi tắt là Kim quang minh kinh;|Tên của một bộ kinh Ðại thừa. Kinh này đóng một vai trò quan trọng tại Nhật vì nói đến một số quan điểm chính trị của đạo Phật, được giới quý tộc tại đó coi trọng.|Kinh này bắt đầu với sự giảng nghĩa về tính chất của một vị Phật, một vị không chỉ tồn tại, xuất hiện dưới nhân dạng mà cũng là sự biểu hiện của nguyên lí vũ trụ. Phật ở trong mỗi chúng sinh và tất cả chúng sinh đều thụ hưởng, cảm nhận được lòng từ bi vô biên của Phật. Ngoài ra kinh này cũng dạy rằng, cánh cửa của các cõi Phật luôn luôn mở rộng tiếp độ chúng sinh bởi vì mỗi chúng sinh đều là Phật. Phương cách để đạt được mục đích trên chính là sám hối và hành động vị tha; một câu chuyện quan trọng được kể lại trong kinh này là việc một đức Phật thời xa xưa hiến thân mình cho một con sư tử đói.|Một điểm quan trọng của kinh này là trí Bát-nhã (s: prajñā), một loại trí biết phân biệt thiện ác: Mỗi người, từ vua chúa đến thường dân đều phải theo ánh sáng của nội tâm này.|Khía cạnh chính trị được nêu ra rõ nhất trong phẩm nói về luật pháp và trong đó, kinh này nói rằng, chính quyền và tôn giáo được thống nhất bằng Phật pháp. Tất cả những luật pháp của nhân thế đều nên có mục đích cao nhất là thái bình. Một vương tử cũng phải bị trừng phạt nếu ông ta vi phạm pháp luật; nhưng nếu ông ấy cai trị liêm chính, tuân hành nghiêm chỉnh pháp luật thì tạo rất nhiều thiện nghiệp, công đức vô biên. Ðất nước nào phổ biến và tuân theo những lời dạy trong kinh này được các Thiên vương và chư Thiên (s: deva) hộ vệ.|Trong thời Nại Lương (nara, tk. 8), kinh này được phổ biến rộng tại Nhật, đặc biệt rất được các nhà cầm quyền bấy giờ quý trọng – quý trọng đến mức độ chư vị muốn lập một vương quốc theo gương kinh này dạy.
Kim sí điểu 金翅鳥; S: garuḍa;|Ca-lâu-la
Kinh 經; S: sūtra; P: sutta; còn gọi là Khế kinh, dịch theo âm là Tu-đa-la;|Tên gọi của các bài giảng của đức Phật, nằm trong tạng thứ hai của Tam tạng (s: tripiṭaka). Tất cả các bộ kinh được gộp chung trong Kinh tạng (s: sūtra-piṭaka).||H 36: Một tập kinh được viết trên lá bối. Hai mặt của tập kinh được ép lại bằng hai tấm gỗ – thường được trang trí rất đẹp – và hai sợi chỉ luồn qua. Các chữ của kinh được viết gắn lên những đường gân song song của lá dừa, vì vậy phía trên đầu của một hàng chữ luôn luôn là một đường thẳng (xem Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh, nguyên bản Phạn ngữ).|Ngày nay, kinh được dịch ra nhiều tiếng trên thế giới, kể cả những tiếng Tây phương. Mới đầu kinh được ghi lại bằng tiếng Pā-li hay Phạn, dần dần được dịch ra chữ Hán và Tây Tạng và các ngôn ngữ khác. Kinh ghi lại những gì chính đức Phật giảng dạy. Khởi đầu bộ kinh ta hay nghe câu »Tôi nghe như vầy…« (如是我聞; Như thị ngã văn). Câu này tương truyền xuất phát từ A-nan-đà, một đệ tử của Phật. A-nan-đà là người có trí nhớ phi thường, đã thuật lại những lời Phật nói trong buổi Kết tập lần thứ nhất ngay sau khi Phật diệt độ. Sau câu này, thường thường kinh kể lại buổi nói chuyện đó gồm có người tham dự, nơi chốn, thời gian. Sau đó là những lời khai thị của Phật, có khi là những cuộc đối thoại sinh động. Thường thường lối hành văn của kinh giản đơn, dễ hiểu, có tính giáo khoa. Kinh hay lấy những thí dụ và so sánh, ẩn dụ. Có khi kinh nhắc lại quá đầy đủ các yếu tố trong bài giảng làm người đọc thấy rất trùng điệp. Mỗi một kinh là một bài riêng biệt, xử lí một vấn đề riêng biệt. Các kinh Tiểu thừa được viết bằng văn hệ Pā-li, trong Bộ kinh (p: nikāya). Các bộ này trong văn hệ chữ Phạn (sanskrit) có tên là A-hàm (s: āgama). Kinh Ðại thừa được viết bằng văn hệ chữ Phạn, nhưng ngày nay phần lớn cũng đã thất lạc, chỉ còn bản dịch bằng chữ Hán hoặc Tây Tạng. Các kinh Ðại thừa có thể được xem là phát khởi giữa thế kỉ thứ nhất và thứ sáu. Các kinh này cũng bắt đầu bằng câu »Tôi nghe như vầy…« và ghi rõ danh xưng, nơi chốn thời gian.|Trong »rừng« kinh sách Phật giáo người ta có thể phân biệt hai hướng sau đây:|1. Kinh dựa trên Tín tâm (s: śraddhā), nói về thế giới quan Phật giáo, quan niệm Bồ Tát cũng như nhấn mạnh lên lòng thành tâm của người nghe. Hướng này có lẽ xuất xứ từ Bắc Ấn. Trong những bộ kinh này, ta thấy rất nhiều điều huyền bí, cách mô tả trùng trùng điệp điệp. Kinh nhắc lại các vị Phật và Bồ Tát thi triển nhiều thần thông, qua vô lượng thế giới, không gian và thời gian. Các vị Phật và Bồ Tát được biến thành các Báo thân (Ba thân) đầy quyền năng. Khuynh hướng này xuất phát từ Ðại thừa, vừa muốn đáp ứng tinh thần tín ngưỡng của Phật tử, vừa phù hợp với giáo pháp căn bản của mình là tính Không (s: śūnyatā), cho rằng mọi biến hiện trong thế gian chẳng qua chỉ là huyễn giác. Qua đó thì các thần thông cũng như toàn bộ thế giới hiện tượng chỉ là Ảo ảnh.|2. Kinh có tính triết học, lí luận dựa trên quan điểm chính của Ðại thừa là tính Không. Xuất xứ các kinh này có lẽ từ miền Ðông của Trung Ấn. Các loại kinh này được nhiều luận sư giảng giải khác nhau và vì vậy mà xuất phát nhiều trường phái khác nhau.|Các kinh độc lập quan trọng của Ðại thừa là: Diệu pháp liên hoa (s: saddharmapuṇḍarīka), Nhập Lăng-già (s: laṅkāvatāra), Phổ diệu (hay Thần thông du hí; s: lalitavistara), Chính định vương (s: samādhirāja), Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha), Hiền kiếp (s: bhadrakalpika), Phạm võng (s: brahmajāla), Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (s: buddhāvataṃsaka), Thắng Man (s: śrīmālādevī), A-di-đà (s: amitābha), Quán vô lượng thọ (s: amitāyurdhyāna), Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrti-nirdeśa), Thủ-lăng-nghiêm tam-muội (s: śūraṅgama).
Kinh hành 經行; J: kinhin;|Ði qua lại để dãn gân cốt sau một buổi Toạ thiền. Trong tông Lâm Tế (j: rinzai) ở Nhật, các thiền sinh đi nhanh, dáng điệu mạnh bạo. Trong tông Tào Ðộng (j: sōtō) thì người ta đi rất chậm.
Kinh lượng bộ 經量部; S: sautrāntika;|Một nhánh của Tiểu thừa xuất phát từ Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) khoảng 150 năm trước Công nguyên. Như tên gọi cho thấy (sautrāntika xuất phát từ sūtrānta, có nghĩa là Kinh phần, chỉ Kinh tạng của Tam tạng), bộ này chỉ đặt nền tảng trên Kinh tạng (s: sūtra-piṭaka) và phản bác Luận tạng (s: abhidharmapiṭaka) cũng như quan điểm »Nhất thiết hữu« (tất cả đều hiện hữu, đều có) của Nhất thiết hữu bộ.|Kinh lượng bộ cho rằng có một thức tinh vi hơn thức thông thường, từ đó đời sống con người sinh ra và chính thức đó sẽ tái sinh. So sánh với Ðộc Tử bộ (s: vatsīputrīya) – là bộ phái cho rằng có một tự ngã thật sự, sống kiếp này qua kiếp khác – thì Kinh lượng bộ cho rằng, chỉ có thức là luân chuyển trong Vòng sinh tử và với cái chết thì bốn uẩn còn lại (Ngũ uẩn; s: pañcaskandha) chìm lắng trong thức đó. Quan điểm về sự tồn tại của thức này đã đóng một vai trò quan trọng trong việc hình thành Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra).|Kinh lượng bộ còn cho rằng, mỗi một hiện tượng thật sự chỉ hiện hữu trong một khoảnh khắc cực nhỏ – được gọi là Sát-na (s: kṣaṇa) – và mỗi quá trình chỉ là tiếp nối những khoảnh khắc đó, mỗi quá trình thông qua thời gian chỉ là Ảo ảnh. Kinh lượng bộ xem Niết-bàn (s: nirvāṇa) là sản phẩm của sự phủ nhận (e: negation) của tư duy, là sự tịch diệt.
Kinh tạng 經藏; S: sūtra-piṭaka; P: sutta-piṭaka;|Tạng thứ hai của Tam tạng (s: tripiṭaka). Kinh tạng chứa tất cả những bài giảng do chính Phật Thích-ca thuyết. Kinh tạng viết bằng văn hệ Phạn ngữ gồm có bốn A-hàm, bằng văn hệ Pā-li của Thượng toạ bộ có năm bộ, Bộ kinh.
Kính Thanh Ðạo Phó 鏡清道怤; C: jìngqīng dàofù; J: kyōsei dōfu; 863-937; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ nối pháp của Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư có 5 Pháp tự và Bích nham lục có nhắc đến Sư trong các Công án 16, 23 và 46.
Kô-ki-li-pa S: kokilipa; »Thẩm mĩ gia tự phụ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là vua của nước Cham-bạt-na (s: campārṇa), sống xa hoa trong cung điện. Ngày nọ, lúc ông đang vui chơi thì một Du-già sư (yogin) đến xin khất thực. Ông cho vào và hỏi với giọng tự hào là đời sống ai có giá trị hơn. Vị Du-già sư liền bảo rằng, trẻ con mới cho rằng vua sướng, nhưng đối với bậc hiền nhân thì đời sống của vua là độc dược. Sau khi nghe vị này giáo hoá, nhà vua xin quy y, truyền ngôi cho con và xin được theo học. Vị này truyền cho ông năng lực của Cha-kra sam-va-ra tan-tra và dạy phép quán tưởng. Biết vua hay ngắm trời mây, lưu luyến tiếng chim Kô-ki-la (s: kokilā) và vườn xoài trong cung điện, Du-già sư nói:|Mây đen kéo đầy trời,|mưa tưới nuôi cây cối.|Tai ham mê tiếng hót,|tâm chạy theo khái niệm.|Thụ tưởng đầy chất độc,|sẽ kéo theo tức thì.|Ðó là đạo người điên.|Từ Tự tính của Tâm,|trống rỗng tựa không gian,|vang lên Âm và Không,|hai thứ không hề lìa.|Tâm dấy lên lạc thụ,|như mây kéo vô tận,|mây đó biến thành mưa,|tưới Tự tính sáng rực.|Rồi Năm trí kết thành,|chỉ đợi ngày hái quả.|Ðó là đạo người trí.|Nhà vua nghe lời giáo hoá và quán tưởng thiền định. Chỉ sáu tháng sau, ông đạt thánh quả. Người đời gọi ông là Kô-ki-li-pa, tên của loài chim mà ông dùng tiếng chim để quán tưởng. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Không làm: lời khai thị,|Không dính: chứng thật đó.|Không trụ: phép thiền định|Không chứng: đích cao cả.
Kô-ta-li-pa S: koṭālipa; »Ðạo sư nhà nông«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của San-ti-pa (s: śāntipa), sống khoảng cuối thế kỉ thứ 11.|Kô-ta-li-pa là một nông phu. Lần nọ, lúc cuốc đất trên sườn núi thì gặp San-ti-pa trên đường từ Tích Lan (s: śrī laṅkā) về lại Ấn Ðộ. San-ti-pa khuyên ông lúc cày cuốc đất đai đừng quên »cày cuốc tâm thức với tri kiến sáng rực«, bởi vì:|Hạnh phúc hay đau khổ,|đều do tâm tạo tác.|Cày bừa miếng đất tâm,|bằng lời khai thị này.|Ngươi cày suốt cả đời,|miếng đất sỏi đá này.|Thế nhưng không bao giờ,|biết Tự tính, Ðại lạc.|Kô-ta-li-pa nghe lời, tu tập thiền định suốt 12 năm và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Khổ đau hay vui sướng,|đều sinh trưởng trong tâm.|Hãy nghe lời Ðạo sư,|cày xới lên Tự tính.|Trên sườn núi cát sỏi,|dù con người minh triết,|cũng không chứng được gì,|không bao giờ giải thoát.|Chỉ khi chứng được tâm,|Sáu thức thành dòng thác,|Dâng tràn đầy Ðại lạc.|Tất cả mọi ngôn từ,|đều chỉ gây sợ hãi.|Vì thế hãy hoà tan,|trong quán tưởng thiền định,|trong thanh tịnh hoàn toàn.
Ku-chi-pa S: kucipa; »Du-già sư mang bướu«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử của Long Thụ (Ma-ha Tất-đạt). Huyền sử nói rằng ông sống 700 năm.|Ông là nông dân, bị mọc một cục bướu nơi cổ rất đau nhức. Ông rút lui độc cư và gặp Long Thụ. Ông cầu khẩn xin Long Thụ chỉ cách đối trị cục bướu thì Long Thụ cho ông nhập môn Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra), khuyên ông nên quán niệm về cục bướu ngày càng lớn. Ðó là phép quán niệm để chứng sức mạnh của tư duy. Quả nhiên cục bướu chóng lớn, càng thêm đau nhức. Ông đau khổ báo cho Long Thụ biết, lần này vị Ðạo sư chỉ ông quán niệm cục bướu ngày càng nhỏ. Cục bướu nhỏ đi thật và biến mất. Long Thụ kết luận:|Ðau đớn hay hoan lạc,|do chấp nhận, chối bỏ.|Bỏ những cực đoan đó!|Vì chúng đâu khác nhau.|Hãy chứng thật tính Không,|trong tất cả tình huống.|Ku-chi-pa quán lời thầy và chứng thánh quả Tất-địa. Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Sa-ha-ja tuyệt đối,|sẽ sinh ra đau đớn,|Du-già sư lo sợ,|nhanh chóng và kích động|như mắt một thớt voi.|Nếu sợ hãi tan biến,|Du-già sư nhập định,|tự tại trước tham cầu.|Dưới lời dạy trong sáng,|ta mất hai thái cực,|của chấp nhận chối từ,|và thật tại mong manh,|đã biến thành tối hậu.|Với nhận thức tối hậu,|ta chứng đạt Thật tại.
Kuk-ku-ri-pa S: kukkuripa; »Du-già sư nuôi chó«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, là thầy dạy của Mã-nhĩ-ba (t: marpa), sống đầu thế kỉ thứ 11. Một nữ đệ tử ngộ đạo của ông cũng được nhắc đến, đó là Ma-ni Ba-đra.|Ông là người theo đạo Bà-la-môn nhưng sau trở thành một Khất sĩ. Ngày nọ ông bắt gặp một con chó đói gần chết. Ông mang về nuôi dưỡng. Sau 12 năm tu tập, ông đạt Tất-địa. Nhờ thần thông, ông viếng thăm cõi trời Tam thập tam (Ba thế giới) và được các vị thiên nhân chiêu đãi nồng hậu. Thế nhưng ông không quên con chó. Về lại động, ông vừa rờ đến con chó thì nó biến thành một vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và nói:|Lành thay, thật lành thay!|Ngươi chứng tỏ giá trị!|Ngươi vượt qua cám dỗ.|Ngươi trở về sẽ được,|nhận năng lực tối thượng.|Quyền lực của thiên nhân,|đó chỉ là mê vọng,|vì họ còn cái Ngã,|và hoan lạc sẽ dứt,|chúng chỉ là hữu hạn.|Không hành nữ của ngươi,|cho tri kiến tối thượng,|và an lạc vô nhiễm,|không có chút tì vết.||H 37: Kuk-ku-ri-pa (kukkuripa) vì chúng sinh trở về luân hồi|Sau đó Không hành nữ truyền cho ông tri kiến tối thượng. Người đời gọi ông là Kúc-ku-ri-pa, »Du-già sư nuôi chó.« Chứng đạo ca của ông như sau:|Thật hết sức vô ích,|khi cầu khẩn đức Phật.|Chỗ có sự theo đuổi,|nơi đó không có Phật.|Chỉ chứng thật phép lành,|của Ðạo sư đích thật,|nơi đó Phật hiện tiền.|Nhưng liệu ai thấy được?
Kum-ba-ri-pa S: kumbharipa; »Thợ gốm«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống lúc nào.|Ông là thợ gốm sống tại thành Jô-ma-na Sư-ri (s: jomanaśrī). Ông nhàm chán công việc hàng ngày, chỉ mong có dịp thay đổi. Ngày nọ có vị Du-già sư khất thực đi ngang, ông bèn cúng dường và kể lại sự tình. Vị này giảng cho ông nghe về tính chất Vô thường của cuộc đời, sau đó cho ông nhập môn và dạy cho ông phép quán tưởng:|Sứ của mọi đam mê,|và tất cả vọng tưởng,|làm bằng đất vô minh.|Trên tấm đĩa quay tròn,|tham lam và dục vọng,|trở thành sáu chủng loại,|làm bằng đất sét đó.|Hãy đốt chúng tiêu rụi,|trong tri giác thuần tịnh.|Người thợ gốm hiểu ý nghĩa lời khai thị này và chỉ sau sáu tháng quán tưởng, mọi ô nhiễm trong tâm biến mất. Sau đó ông chỉ cần ngồi thiền định mà đĩa tự quay tròn và vật dụng từ đất sét tự hiện thành hình. Người đời gọi ông là Du-già sư làm đồ sứ. Bài ca chứng đạo của ông như sau:|Thói quen như đĩa quay,|sản sinh hiện tượng sống;|Lửa tri kiến thuần tịnh,|đốt cháy mọi nhiễm ô.
La-bốc-tạng Gia-mục-thố, 5. Ðạt-lại Lạt-ma T: losang gyatso [blobzaṅ rgya-mtsho]; S: suma-tisāgara; 22. 20. 1617 – 02. 04. 1682; Giáo chủ tông Cách-lỗ từ 1622-1682; giữ quyền cai trị Tây Tạng từ 03. 05. 1642 – 02. 04. 1682;|Có lẽ là vị Ðạt-lại Lạt-ma nổi danh nhất: Sư vẫn còn được dân Tây Tạng tôn trọng gọi là »Ðại sư thứ năm«. Sư là vị Ðạt-lai đầu tiên khởi xướng chế độ »Tăng lữ chính quyền« (僧侶政權; e: theocracy), nắm giữ quyền cai trị Tây Tạng. Kể từ đây, Ðạt-lại Lạt-ma là người lĩnh đạo tinh thần tôn giáo cũng như chính trị Tây Tạng.|Thời đại của Sư là một khúc ngoặt lớn trong lịch sử Tây Tạng. Chiến tranh đẫm máu với các bộ lạc miền Tây Mông Cổ là những dấu hiệu chung cho thời đại này. Qua những cuộc tranh chấp, tông phái của Sư giành thắng lợi và từ đây, địa vị của một Ðạt-lại Lạt-ma càng thêm vững chắc. Dưới sự chỉ huy của Sư, việc xây dựng điện Pô-ta-la lại Lha-sa được bắt đầu vào năm 1645. Từ 1650-52, Sư nhận lời mời của Hoàng đế sang Trung Quốc thuyết pháp. Trong những năm cuối đời, Sư lâm bệnh nặng. Cái chết của Sư được giữ bí mật 13 năm liền và sự việc này đã đem đến cho Tây Tạng rất nhiều hoạ nạn sau này.
La-hán 羅漢; S: arhat; C: luóhàn; J: rakan;|Là một Thánh nhân; cần phân biệt A-la-hán (arhat) của Phật giáo nguyên thuỷ và La-hán của Phật giáo Trung Quốc. Thật ra thì La-hán xuất phát từ A-la-hán, nhưng đến Trung Quốc, ý nghĩa của A-la-hán đã biến đổi. La-hán đóng một vai trò quan trọng tại đây, nhất là khi trở thành một khái niệm của Ðại thừa. Khái niệm La-hán đã du nhập Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 7, nhưng qua thế kỉ thứ 10, La-hán mới được Thiền tông phổ biến rộng rãi. Chính Thiền tông tìm thấy nơi La-hán tính người và sự từ chối mọi Tha lực, dùng Tự lực để đạt đạo nên La-hán rất phù hợp tinh thần Thiền.|Người ta cho rằng, nhờ trí huệ siêu việt, La-hán đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong nhiều tranh tượng, người ta hay vẽ các vị mặt mày dữ tợn, hình dạng siêu nhiên; tuy thế cũng có nhiều vị mặt mày hiền hậu. Trong nhiều chùa ở Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam, ta tìm thấy tượng của năm trăm La-hán, hay nhóm 16 hay 18 vị, được vẽ trên vách tường của chính điện. Mỗi vị thường thường có một hình dáng và khuôn mặt đặc biệt.|Tượng 500 La-hán được sáng tạo là để nhớ lại lần Kết tập thứ nhất với sự có mặt của 500 vị thánh. Lần kết tập thứ tư tại Kashmir cũng có 500 vị A-la-hán tham dự. Có nhiều tương truyền về 500 vị La-hán này: đó là các vị sống trong 500 hang động của núi Côn Luân, là các vị được Phật đưa về đó theo lời mời của Long vương. Tại nhiều nơi ở Trung Quốc, người ta còn dựng lại hang động của 500 vị La-hán đó. Trong nhiều chùa, người ta hay xếp các vị La-hán thành từng nhóm 16 hay 18 vị. Ðiều này được truyền tụng như sau: Vị A-la-hán Nan-đề Mật-đà (s: nandimitra), 800 năm sau khi Phật nhập diệt, cho hay Phật đã truyền pháp lại cho 16 vị A-la-hán. Các vị này bất tử và sống với học trò tại nhiều miền trên thế giới, nơi các thánh địa và giữ gìn giáo pháp. Tới thời mạt pháp, lúc mà Phật pháp bị tiêu diệt hoàn toàn, các vị đó sẽ họp nhau lại, góp xương cốt Phật vào trong một Tháp, rồi nhập Niết-bàn, còn Tháp sẽ chìm dưới đại dương.|Trong thế kỉ thứ 10, số lượng 16 vị được nâng lên thành 18. Người ta kể tên cụ thể các vị đó nhưng các danh tự không đóng vai trò gì. Người ta chỉ nhớ đến các vị với những cử chỉ đặc biệt như: La-hán với hình Phật nơi trái tim, La-hán mi dài, La-hán gãi tai, La-hán hàng phục rồng, hổ.
La-hán Quế Sâm 羅漢桂琛; C: luóhàn guìchēn; J: rakan keijin; 867/69-928, cũng được gọi là Ðịa Tạng; |Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Thiền sư Huyền Sa Sư Bị và là thầy của Pháp Nhãn Văn Ích, Khai tổ của dòng thiền Pháp Nhãn.|Sư họ Lí, quê ở Thường Sơn, lúc nhỏ chỉ ăn mỗi ngày một bữa cơm chay. Sau xin cha mẹ xuất gia, chuyên học luật. Sư nghĩ »Giữ giới luật chưa phải là chân giải thoát, dựa vào văn sinh hiểu không thể phát thánh trí« và đến tham vấn các Thiền sư. Sư đến yết kiến Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn ở Vân Cư, chăm chỉ tu học nhưng không hội, sau đến Huyền Sa nghe một câu bỗng dưng đại ngộ.|Huyền Sa hỏi Sư: »Tam giới (Ba thế giới) duy tâm phát ra, ngươi hiểu sao?« Sư chỉ cái ghế dựa, hỏi: »Hoà Thượng kêu là cái gì?« Huyền Sa đáp: »Ghế dựa.« Sư thưa: »Hoà thượng không hội tam giới duy tâm.« Huyền Sa hỏi lại: »Ta gọi cái ấy là tre gỗ, ngươi kêu là gì?« Sư thưa: »Con cũng gọi ấy là tre gỗ.« Huyền Sa bảo: »Tận đại địa tìm một người hội Phật pháp cũng không có.«|Ðang cấy lúa, thấy tăng đến, Sư hỏi: »Ở đâu đến?« Tăng thưa: »Ở Nam Châu đến« Sư hỏi: »Nơi ấy Phật pháp thế nào?« Tăng thưa: »Bàn tán lăng xăng.« Sư bảo: »Ðâu có như ở đây, ta chỉ cấy lúa, nấu cơm ăn.« Tăng hỏi: »Thế nào là tam giới?« Sư hỏi lại: »Gọi gì là tam giới?«|Ðời Ðường niên hiệu Thiên Thành, năm thứ ba mùa thu, Sư có chút bệnh, tắm gội rồi từ giã chúng, ngồi thẳng viên tịch. Sư thọ 62 (60) tuổi, 40 tuổi hạ. Vua sắc phong là Chân Ứng Ðại sư.
La-hầu-la 羅睺羅; S, P: rāhula; Hán dịch là Phú Chướng;|Tên người con trai của Phật (Tất-đạt-đa). Mẹ của La-hầu-la là hoàng hậu Da-du Ða-la (s: yaśodharā). Tôn giả vừa được sinh ra thì đức Phật quyết định rời bỏ gia đình và đi tìm đạo Giác ngộ. La-hầu-la được Xá-lị-phất (s: śāri-putra) đưa vào Tăng-già từ lúc bảy tuổi và mất trước Phật, có lẽ còn rất trẻ. Tôn giả được xem là một trong Mười đại đệ tử của Phật.
La-hầu-la 羅睺羅; S: rāhula; »Kẻ cải lão hoàn đồng«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Trong lịch sử nước này có nhiều vị thánh tăng mang tên La-hầu-la, nên không rõ vị này sinh ở thời đại nào, có thể trong thời đại của Sa-ra-ha, thế kỉ thứ 8, 9.|Ông thuộc giai cấp thấp kém vùng Ka-ma-ru-pa (s: kāmarūpa). Ðến lúc già cả, ông không còn kiểm soát được các chức năng thân thể và khi bị bà con chê trách, ông rút lui sống trên một bãi thiêu xác. Một vị Du-già sư (yogin) đi ngang khuyên bảo: »Ngươi đã già; ba thác nước Sinh, Bệnh, Lão đã huỷ hoại ông và Tử, thác thứ tư đang chuẩn bị đón ông, vậy ông có muốn chuẩn bị cho cái chết không?« Ông bèn cầu xin giáo hoá. Vị Du-già sư bèn hướng dẫn:|Tự tính của tâm thức,|vốn không già không chết.|Lòng tin, thật sự quý,|không bao giờ thuyên giảm.|Muốn tu học diệu pháp,|hãy sẵn sàng theo ta.|Vị Du-già sư cho ông nhập môn và dạy cho ông một Nghi quỹ: quán tưởng chân âm A nằm trên đầu mình, từ đó phát ra mặt trăng. Quán tưởng mọi tư duy, khái niệm đều tan trong mặt trăng đó. Với phép quán tưởng này khái niệm về khách thể-chủ thể biến mất dần, nhường chỗ cho tâm Bất nhị chảy vào thân ông, biến thân ông già thành thiếu niên mười sáu tuổi. Ông đạt quả Ðại thủ ấn tất-địa và giáo hoá cho dân vùng này. Chứng đạo ca của ông như sau:|La-hầu, thần đầu rồng,|đã ăn hết ánh trăng.|La-hầu, phi nhị nguyên,|của mọi vô biên xứ,|ăn hết tâm phân biệt.|(La-hầu [s: rāhu] ở đây tượng trưng cho Pháp thân tỉnh giác, có hình đầu rồng, ăn mặt trăng mặt trời).
La-hầu-la-đa 羅睺羅多; S: rāhulabhadra|Tổ thứ 16 của Thiền tông Ấn Ðộ.
La-kha Min-ka-ra S: lakṣmīṅkarā; »Công chúa điên«;|Một Du-già ni Ma-ha Tất-đạt (s: yoginī ma-hāsiddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 8. Bà là em gái của nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti), vị vua trị vì nước Ô-trượng-na.|Từ nhỏ bà đã nghe giáo pháp của Kam-ba-la (kambala) và thông hiểu nhiều loại Tan-tra. Bà được đính hôn với vua Ja-len-đra (s: jalendra), vua của Lan-ka-pu-ri (s: laṅkāpurī) và khi được đưa về nhà chồng, bà thấy chồng tương lai vừa đi săn về, trên vai mang xác hổ. Bà đau khổ ngất xỉu. Khi tỉnh dậy bà tự giam mình trong phòng, giả điên, nhưng thật tế bà chuyên tâm thiền quán không cho ai hay và mọi người nghĩ là bà mắc bệnh điên. Sau đó bà trốn khỏi cung điện, sống trên bãi thiêu xác, ăn đồ ăn dư thừa và thiền định không nghỉ. Sau bảy năm bà đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrā-siddhi). Bà giáo hoá cho một người chuyên lo cung cấp lương thực cho mình và vị này cũng đạt đạo.|Lần nọ chồng bà là vua Ja-len-đra lại đi săn, lạc đường và tình cờ đến động của bà. Ông tò mò nhìn vào thì thấy vợ mình toả hào quang, các vị nữ thần bao bọc xung quanh phục vụ và đỉnh lễ. Ngày hôm sau vua trở lên, xin thụ giáo, bà đọc câu kệ:|Tất cả loài hữu tình,|còn trong vòng Sinh tử,|đều phải chịu khổ đau.|Ngay cả loài cao cấp,|như chư Thiên, loài người,|cũng mang đầy khổ ải.|Còn các loài ác đạo,|khổ chính là bản chất,|ác thú ăn thịt nhau,|có loài khổ nóng lạnh.|Hỡi Hoàng thượng, thưa Ngài,|hãy tìm đạo giải thoát!|Và bà cho hay vua không phải đệ tử của bà. Ðạo sư của vua là một đệ tử của bà và vị này là người chuyên chùi thùng rác cho vua, cũng đã đạt thánh quả. Vua tìm ra vị này, đặt lên ngôi và phủ phục cầu pháp. Cuối cùng nhà vua cũng được truyền Nghi quỹ của nữ thần Kim cương Va-ra-hi (vajra vārāhī). La-kha Min-ka-ra và vị chùi thùng rác còn giáo hoá thêm cho nhiều người nữa. Bài kệ chứng đạo của bà có những câu sau:|Trước hết, người có trí,|tạo linh ảnh giác ngộ,|sau đó nhất tâm quán,|về Thật tại trống rỗng.|Làm như thế liên tục,|với chứng thật huyền diệu.|Tất cả chỉ cần là:|khiêm tốn và tinh tiến.|Bà có để lại một tác phẩm danh tiếng là Thành bất nhị luận (s: advayasiddhi), còn được lưu hành.
La Quý An 羅貴安; 852-936|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 10. Sư nối pháp Thiền sư Thông Thiện. Môn đệ kế thừa của Sư là Thiền Ông Ðạo Giả.|Sử sách chẳng viết nhiều về Sư, chỉ biết Sư họ Ðinh, tham vấn nhiều nơi nhưng không khế hợp. Sau, Sư đến Thiền sư Thông Thiện tại chùa Thiền Chúng và nơi đây nhân một câu của Thông Thiện ngộ đạo.|Thông Thiện sắp tịch gọi Sư đến dạy: »Thầy ta là Ðịnh Không từng dặn dò rằng: ›Con khéo giữ gìn pháp của ta, gặp người họ Ðinh hãy truyền‹. Ngươi gắng đảm đang lấy, nay ta đi«|Sau khi đắc pháp, Sư chu du tuỳ duyên giáo hoá và theo lời dạy của Thông Thiện hành đạo.|Niên hiệu Thanh Thái thứ 3 đời nhà Ðường, sau khi phó chúc cho đệ tử là Thiền Ông xong, Sư an nhiên thị tịch, thọ 85 tuổi.
La Sơn Ðạo Nhàn 羅山道閑; C: luóshān dàoxián; J: rasan dōkan; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, môn đệ của Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát. Môn đệ của Sư có Minh Chiêu Ðức Khiêm xuất sắc nhất.
Lạc 樂; C: lè; J: raku;|1. Sự thoải mái, tiện nghi (s: sukha). Kết quả của một người được sinh ra trong hoàn cảnh đáng ao ước; niềm vui thích, một cảm giác dễ chịu. Niềm vui sướng phát xuất từ sự nhận biết của 5 giác quan được gọi là Lạc, trong khi niềm vui thích phát xuất từ sự nhận biết của ý thức (thức thứ 6) được gọi là Hỉ; 2. Một trong 5 uẩn, »thụ uẩn« (s: vedanā); 3. Niềm vui của sự giải thoát; 4. Theo Phật giáo tịnh độ, đó là cõi Cực lạc mà hành giả được vãng sinh; 5. Sự ham mê, thu hút.
Lạc biến hoá thiên 樂變化天; C: lèbiànhuàtiān; J: rakuhengeten, gyōhengeten; S: nirmāṇa-ratayaḥ. |Cõi trời trong đó chúng sinh cảm nhận được cảm giác khoái lạc mỗi khi nghĩ đến điều ấy. Là tầng trời thứ 5 trong Lục dục thiên.
Lạc Dương 洛陽|Một trung tâm Phật giáo quan trọng của Trung Quốc trong thế kỉ thứ 1-2. Lạc Dương nằm ở phía Bắc, là kinh đô nhà Hán. Vua Hán Minh Ðế là người cho sứ giả qua Ấn Ðộ thỉnh kinh Tứ thập nhị chương về và kinh này được dịch tại đây. Ðây là kinh đầu tiên được dịch qua chữ Hán và Phật giáo bắt đầu du nhập qua Trung Quốc tại đây.
Lặc-na Ma-đề 勒那摩提; C: lènàmótí; J: rokunamadai; S: ratnamati.|Dịch sang tiếng Hán nghĩa là Bảo Ý (寶意). Một vị Tăng học giả từ Trung Ấn đến Trung Hoa để thực hiện những công trình phiên dịch đáng kể. Sư đến Lạc Dương vào thời Bắc Nguỵ năm 508. Tại đây, sư cộng tác cùng Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) trong việc dịch Thập địa kinh luận (十地經論; s: daśabhūmika-śāstra). Dường như có sự bất đồng quan điểm lớn với Bồ-đề Lưu-chi trong tiến trình công việc dịch thuật, sư tách ra thực hiện những chương trình riêng, trong một bản mục lục, sư được xem như một cộng tác viên trong việc dịch thuật chừng 12 bộ kinh hoặc còn hơn thế nữa. Đệ tử lớn của sư là Huệ Quang (慧光), người sáng lập chi phái Địa luận tông ở phía Nam.|Lời bình của D. Lusthaus: »Sự tương truyền không có gì rõ ràng để chúng ta có thể biết chính xác về quan điểm khác nhau gây nên sự bất hoà giữa Bồ-đề Lưu-chi (chính là học giả Du-già hành tông) và Lặc-na Ma-đề, và cái được gọi là cuộc tranh luận của Địa luận tông vào thế kỉ thứ 6 làm tối nghĩa hơn là soi sáng sự bất đồng ấy. Vấn đề có lẽ – và cũng là – do khuynh hướng nghiên cứu tư tưởng Như Lai tạng của Lặc-na Ma-đề. Có lẽ không phải Bồ-đề Lưu-chi phản đối bản chất của tư tưởng Như Lai tạng, nhưng Sư muốn trả lại cho kinh văn một cách trung thật ý nghĩa như sư đã hiểu, trong ý nghĩa chính thống của Du-già hành tông (dù Địa luận hiển nhiên không chính xác là một văn bản thuộc học thuyết Du-già thuần tuý), và sư đã không bằng lòng sự xâm phạm của Lặc-na Ma-đề.
Lạc-sa 洛沙; C: luòshā; J: rakusha;|Xem Lạc-xoa (洛叉; s: lakṣa).
Lạc thuyết 樂説; C: lèshuō; J: rakusetsu; |Tài thuyết pháp không ngăn ngại, năng lực thuyết pháp tự tại, không chướng ngại của đức Phật.
Lạc trước 樂着; C: lèzhāo; J: rakujaku; |Bị dính mắc vào niềm thích thú với trần cảnh, hoặc bị tuỳ thuộc vào sự vui sướng.
Lạc-xoa 洛叉; S: lakṣa; C: luòchā; J: rakusha;|Một lạc-xoa, tên gọi lượng số vào thời Ấn Độ cổ đại, tương đương 100.000. Còn Phiên âm là Lạc-xoa (落叉), Lạc-sa (洛沙), và La-khất-sử (攞乞史).
Lai 來; C: lái; J: rai.|Có các nghĩa sau: 1. Đến, sự đến; đưa đến; mời đến. Đến đây (s: āgata, āgati, āya); 2. Từ, từ trước. Tương lai; 3. Khuyến khích bằng phần thưởng; 4. Khi đứng sau số từ, có nghĩa là »chừng hơn, trên, dư«; 5. Khách đến; 6. Rút lui, ẩn dật, lùi lại; 7. Từ quá khứ đến nay, từ trước đến nay; 8. Bổ ngữ dùng tăng thêm ý nghĩa cho từ khác.
Lai sinh 來生; C: láishēng; J: raishō.|Sinh mệnh kế tiếp của một chúng sinh; cuộc đời sắp tới, thật thể trong tương lai. Cuộc đời trong tương lai. Cũng như Lai thế (來世).
Lai thế 來世; C: láishì; J: raise.|Cuộc đời sắp đến, cuộc sống kế theo sau. Sinh mệnh kế tiếp mà chúng sinh sẽ trải qua sau khi từ bỏ kiếp sống nầy (s: agāgatādhvan). Sinh mệnh ở đời vị lai, kiếp sống tiếp theo sau sinh mệnh nầy. Cũng gọi là Lai sinh (來生).
Lai ý 來意; C: láiyì; J: rai-i.|Điểm căn bản, thực chất, dàn ý chính của một bản văn. Bản tóm tắt.
Lam-dre T: lam-’bras; S: mārga-phala; nguyên nghĩa »Ðạo và quả«; |Tên dùng cho một loạt tác phẩm của Kim cương thừa trong dòng Tát-ca (t: sakyapa) tại Tây Tạng. Khuynh hướng của Kim cương thừa là »Ðường đi chính là mục đích« được nêu ra rất rõ trong các tác phẩm này. Gốc nguồn của các loại sách này là một Tan-tra rất cổ, được một người tên là Drog-mi phiên dịch và đem sang Tây Tạng thế kỉ 11. Vị Tổ đầu tiên của dòng Tát-ca viết nhiều luận giải về Tantra này và sáng lập truyền thống Lam-dre tại Tây Tạng.|Vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) Vi-ru-pa (s: vi-rūpa) được xem là người sáng lập truyền thống Lam-dre. Ông truyền cho đệ tử là Nag-po-pa tác phẩm căn bản, được gọi là »Kim cương kệ.« Bản này rất ngắn và phải được khẩu thuyết thêm. Quan niệm chính của các Lam-dre là Niết-bàn và Luân hồi là một không hai. Muốn nhận thức được điều này, một Du-già sư (yogin) phải tu tập triệt để.|»Tâm« được mô tả như sau trong Lam-dre: 1. Trong sáng; 2. Không, trống rỗng và 3. Bao gồm cả hai tính chất 1. và 2.; khi Du-già sư chứng ngộ cả ba đặc tính này thì mới gọi là đạt giải thoát.
Lâm Tế Nghĩa Huyền 臨濟義玄: C: línjì yìxuán; J: rinzai gigen; ?-866/867; |Thiền sư Trung Quốc, là Tổ khai dòng thiền Lâm Tế. Sư là môn đệ xuất sắc nhất của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Môn đệ danh tiếng đắc pháp của sư có Thiền sư Hưng Hoá Tồn Tưởng, Tam Thánh Huệ Nhiên, Ðịnh Thượng Toạ.|Sư khai sáng dòng thiền Lâm Tế trong thời gian Phật giáo Trung Quốc đang bị đàn áp (842-845) và chính dòng này đã chứng tỏ sức sống mãnh liệt trong thời gian sau, trở thành môn phái quan trọng nhất của Phật giáo Trung Quốc. Song song với dòng Tào Ðộng, dòng thiền của Sư được truyền bá tại Nhật Bản cho đến ngày nay gần như dưới dạng nguyên thuỷ.|Sư tiếp nối truyền thống hoằng hoá của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư bằng cách sử dụng tiếng hét (Hát; j: Katsu!), gậy đập (Trúc bề; j: shippei, kyosaku) và Phất tử (j: hossu).|Cách hướng dẫn môn đệ của Sư là sự phối hợp và hoàn chỉnh cách dạy của các vị tiền nhân kể từ Lục tổ Huệ Năng. Thành phần mới mà người ta có nói là xuất phát từ dòng thiền này là phép quán Công án, một phương pháp gần như dấu hiệu chính của thiền Lâm Tế và chính dòng thiền này đã giữ gìn truyền thống đó cho đến ngày hôm nay (Ðại Huệ Tông Cảo, Bích nham lục, Vô môn quan).|Sư họ Hình, quê ở Nam Hoa, Tào Châu. Sư mộ đạo từ nhỏ, nghiên cứu giới luật, kinh điển, nhưmg không hài lòng với cái đạt được, tự nhủ »Ðây chưa phải là yếu chỉ của giáo ngoại biệt truyền.« Sau đó, Sư đến Hoàng Bá (sau khi trải qua một chặng đường dài gần 2000 km!) cầu ngộ yếu chỉ.|Hoàng Bá vừa thấy Sư biết ngay là pháp khí thượng thặng nhưng vẫn để Sư học hỏi âm thầm trong ba năm. Thủ toạ (Mục Châu Trần Tôn Túc) thấy Sư chăm chỉ học liền khuyên đến thẳng Hoàng Bá hỏi đại ý Phật pháp. Sư ba lần đến hỏi, ba lần bị ăn gậy như bão táp nên thất vọng, muốn đi học nơi khác. Hoàng Bá khuyên Sư đến Thiền sư Ðại Ngu (nối pháp Quy Tông Trí Thường) ở Cao An.||H 38: Lâm Tế Nghĩa Huyền|Sư đến Ðại Ngu, Ðại Ngu hỏi: »Ở chỗ nào đến?« Sư thưa: »Ở Hoàng Bá đến.« Ðại Ngu hỏi: »Hoàng Bá dạy gì?« Sư thưa: »Con ba phen hỏi đại ý Phật pháp, ba phen đều bị đánh. Chẳng biết con có lỗi hay không lỗi?« Ðại Ngu cười lớn nói: »Hoàng Bá vì ngươi nói chỗ tột cùng, lại đến hỏi lỗi hay không lỗi!« Ngay câu nói này, Sư thông suốt, thưa: »Phật pháp của Hoàng Bá chẳng có nhiều.« Ðại Ngu nắm lại: »Ðồ quỷ đái dưới sàng, vừa nói lỗi không lỗi bây giờ lại che Phật pháp Hoàng Bá không nhiều. Ngươi thấy đạo gì nói mau!« Sư liền cho Ðại Ngu ba thoi vào hông. Ðại Ngu buông Sư ra bảo: »Thầy của ngươi là Hoàng Bá, chẳng liên hệ gì với ta!« Từ giã Ðại Ngu, Sư về lại Hoàng Bá. Hoàng Bá thấy liền bảo: »Kẻ này đến đến đi đi, biết bao giờ liễu ngộ.« Sư thưa: »Chỉ vì tâm lão bà quá thiết tha nên nhân sự đã xong.« Nghe Sư thuật lại sự việc ở Ðại Ngu, Hoàng Bá bảo: »Lão Ðại Ngu đã buông lời, đợi đến đây ta cho ăn gậy.« Sư liền nói: »Ðợi làm gì, cho ăn ngay bây giờ«, và bước đến sau lưng Hoàng Bá tát một cái. Hoàng Bá cười to, bảo: »Có một gã điên dám vuốt râu cọp.«|Sau khi ngộ đại ý, Sư vẫn tiếp tục ở lại với Hoàng Bá và những cuộc Pháp chiến giữa Sư và Hoàng Bá vẫn còn vang vọng đến ngày nay.|Rời Hoàng Bá, Sư đến Hà Bắc, Trấn Châu, trụ trì thiền viện Lâm Tế. Sư bắt đầu thu nhận môn đệ và học giả đến ngày càng đông. Sách vở ít nhắc tới truyền nhân của Sư ngoài các vị đã nêu trên (có 21 vị đắc pháp), có lẽ vì lí do chính trị và xã hội tại miền Bắc Trung Quốc cuối đời Ðường không thuận lợi. Một trong những môn đệ của Sư là Am chủ Ðồng Phong, lên núi ẩn cư, không nhận học trò và vì vậy ít ai biết đến. Trong thời gian Phật giáo bị bức hại, Thiền tông là môn phái duy nhất không bị hao tổn bao nhiêu nhờ chủ trương »Dĩ tâm truyền tâm«, với lối sống thanh đạm, không coi trọng hình thức tổ chức nặng nề.|Những lời dạy của Sư được ghi lại trong Lâm Tế lục, một thiền ngữ quan trọng trong Thiền tông được lưu lại đến ngày nay. Qua đó người ta mường tượng được phong cách uy nghi dũng mãnh và cách dạy thần tốc của Sư.|Một vị tăng hỏi: »Thế nào là kiến giải chân chính?« Sư đáp: »Ngươi chỉ tất cả vào phàm vào thánh, vào nhiễm vào tịnh, ….Phật ra đời chuyển đại pháp luân lại nhập Niết-bàn, chẳng thấy có tướng mạo đi lại, tìm cái sinh tử của Ngài trọn không thể được, liền vào Pháp giới vô sinh; nơi nơi dạo qua các cõi nước, vào thế giới hoa tạng, trọn thấy các pháp không tướng, đều không Phật pháp, chỉ có đạo nhân vô y (không nơi nương tựa) nghe pháp. Ðó là mẹ chư Phật, bởi vì Phật từ vô y sinh. Nếu ngộ được vô y, Phật cũng không thể được. Nếu ngươi thấy được như thế, là kiến giải chân chính. Người học không hiểu chấp danh cú, bị danh phàm thánh làm ngại… Nếu các ngươi muốn trong sinh tử đi đứng tự do, tới lui tự tại thì hiện nay nên biết người đang nghe pháp này. Hắn không hình không tướng, không cội không gốc, không chỗ ở mà hoạt bát rõ ràng, ứng hiện muôn thứ hành động, chỗ dùng chỉ là không chỗ. Bởi thế, càng tìm càng xa, cầu đó thì trái, gọi đó là bí mật…«|Sư sắp tịch, bảo chúng: »Sau khi ta tịch, chẳng được diệt mất Chính pháp nhãn tạng của ta!« Tam Thánh Huệ Nhiên bước ra thưa: »Ðâu dám diệt mất Chính pháp nhãn tạng của Hoà thượng.« Sư bảo: »Về sau có người hỏi, ngươi đáp thế nào?« Tam Thánh liền hét. Sư bảo: »Ai biết, Chính pháp nhãn tạng của ta đến bên con lừa mù diệt mất« và làm bài kệ sau: |沿流不止問如何。真照無邊說似他|離相離名如不稟。吹毛用了急須磨。|Diên lưu bất chỉ vấn như hà|Chân chiếu vô biên thuyết tợ tha|Li tướng li danh như bất bẩm|Xuy mao dụng liễu cấp tu ma.|*Theo dòng chẳng dứt hỏi thế nào|Chân chiếu khôn ngằn nói giống ai|Lìa tướng lìa danh như chẳng nhận|Gươm bén dùng rồi gấp phải mài.|Nói xong, Sư viên tịch, nhằm ngày 10 tháng giêng năm Ðinh Hợi, niên hiệu Hàm Thông. Vua sắc thuỵ là Huệ Chiếu.
Lâm Tế tông 臨濟宗; C: línjì-zōng; J: rinzai-shū;|Một dòng thiền được liệt vào Ngũ gia thất tông – tức là Thiền chính phái – được Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền sáng lập. Tông này ngày nay là một trong hai tông của Thiền vẫn còn tồn tại ở Nhật Bản song song với tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū). Khoảng vài mươi năm đến bây giờ, tông Lâm Tế được truyền bá rộng rãi đến phương Tây.|Ðứng đầu tông này là hình tượng và phong cách xuất chúng của vị Khai tổ Lâm Tế (?-866/867) đời Ðường. Trong đời Tống (960-1279), môn phong của tông này vọt hơn hẳn các tông khác trong Ngũ gia. Nhưng trong khoảng thời gian giữa hai thời kì này thì một vài thế hệ nằm trong u mờ, khi ẩn khi hiện. Thế hệ thứ nhất (Hưng Hoá Tồn Tưởng) đến thứ sáu (Thạch Sương Sở Viên) đều giữ phong cách như vị Khai tổ, sống ẩn dật, đơn giản. Tiếng hét và gậy đập (Bổng hát), hai phương tiện giáo hoá của sư Lâm Tế vẫn còn được sử dụng cho đến ngày nay và được xem là những sắc thái bề ngoài của tông này. Giáo lí và pháp ngữ của sư Lâm Tế được lưu lại trong Lâm Tế lục (j: rinzairoku). Trong thế kỉ thứ 10 và 11 thì bộ này được hai vị Phong Huyệt Diên Chiểu và Phần Dương Thiện Chiêu hiệu đính và được lưu truyền đến bây giờ dưới dạng này.|Về giáo lí của tông này thì một »công thức« được xem là quan trọng nhất, đó là Tứ liệu giản (四料簡; j: shiryōken) – có thể dịch là »bốn phân biệt và chọn lựa«. Tứ liệu giản được xem là công thức trình bày giáo lí quan trọng nhất của tông này. Chính sư Lâm Tế là người trình bày lí thuyết này trước đại chúng. Sư dạy:|有時奪人不奪境。有時奪境不奪人|有時人境俱奪。有時人境俱不奪|Hữu thời đoạt nhân bất đoạt cảnh|Hữu thời đoạt cảnh bất đoạt nhân|Hữu thời nhân cảnh câu đoạt|Hữu thời nhân cảnh câu bất đoạt.|*Có khi đoạt nhân không đoạt cảnh|Có khi đoạt cảnh không đoạt nhân|Có khi nhân cảnh đều đoạt|Có khi nhân cảnh đều không đoạt.|Tứ liệu giản trình bày từng cấp bậc nhận thức nhìn theo chủ thể và khách thể, tương đối giống hình thái của Tứ cú phân biệt (s: catuṣkoṭikā). Về phần nội dung thì công thức này tương ưng với thuyết Tứ pháp giới của tông Hoa Nghiêm. Trong hai cấp đầu tiên thì Ảo ảnh, Vô minh được vượt qua bằng hai phương cách: một là dựa vào chủ thể (e: subject) – ở đây được gọi là »nhân« và hai là nương theo khách thể (e: object), là »cảnh« là thế giới hiện hữu. Cấp thứ ba phủ nhận cả hai, cả chủ lẫn khách nhưng đặc biệt là sự khác biệt của hai vẫn còn tồn tại. Trạng thái phủ định này tương ưng với một tâm trạng tập trung tuyệt đối. Chỉ ở cấp thứ tư – khi tâm thức đã vượt qua thế giới nhị nguyên, chủ thể và khách thể không còn tồn tại – thì Chân như mới được nhận diện một cách tột cùng. Trong Lâm Tế lục, Lâm Tế giảng về Tứ liệu giản như sau (Như Hạnh dịch):|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Ðoạt nhân không đoạt cảnh?‹« Sư đáp:|煦日發生鋪地錦。嬰孩垂髮白如絲|»Hú nhật phát sinh phô địa cẩm|Anh hài thuỳ phát bạch như ti«|*»Mặt trời ấm hiện phó gấm vóc|Trẻ thơ rũ tóc trắng như tơ«|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Ðoạt cảnh không đoạt nhân?‹« Sư đáp:|王令已行遍天下。將軍塞外絕煙塵|»Vương lệnh dĩ hành biến thiên hạ|Tướng quân tái ngoại tuyệt yên trần«|*»Lệnh vua đã hành khắp thiên hạ|Tướng quân ngoài ải dứt khói bụi«.|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Nhân cảnh đều đoạt?‹« Sư đáp:|並汾絕信。獨處一方|»Tịnh Phần tuyệt tín, độc xử nhất phương«|*»Tịnh Phần (tên của hai miền đất nằm xa nhau) bặt tin tức, một mình ở một nơi«.|Tăng hỏi: »Thế nào là ›Nhân cảnh đều không đoạt?‹« Sư đáp:|王登寶殿。野老謳歌|»Vương đăng bảo điện, dã lão âu ca«|*»Vua bước lên ngai, lão quê ca hát«.
Lam-tì-ni 藍 (嵐) 毗尼; S, P: lumbinī;|Một trong bốn thánh tích đạo Phật, nơi sinh của đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Lam-tì-ni ở gần kinh đô Ca-tì-la-vệ, thuộc tiểu quốc dòng họ Thích-ca, ngày nay thuộc nước Nepāl. Các thánh tích khác là Lộc uyển (s: mṛgadāva) ở Tiên uyển (s: ṛṣipatana) bây giờ được đổi tên là Sārnāth, nơi Phật bắt đầu giáo hoá, Giác Thành (bodhgayā), nơi Phật đắc đạo, và Câu-thi-na (kuṣinagara), nơi Phật nhập Niết-bàn.|Tại Lam-tì-ni còn một trụ đá của vua A-dục, được dựng lên lúc ông đi hành hương năm 249 trước Công nguyên. Trên trụ đá này được ghi »20 năm sau ngày lên ngôi, Thiên Ái Thiện Kiến vương (devānapiya piyadasi, tức vua A-dục) đã đến đây và tỏ bày lòng tôn kính, vì Phật, con người minh triết dòng họ Thích-ca đã được sinh nơi đây. Nhà vua cho xây một trụ đá để nhớ rằng bậc giác ngộ đã được sinh tại đây. Làng Lam-tì-ni được miễn đóng thuế và phần triều cống nông lâm sản được giảm xuống còn một phần tám (từ một phần tư).«
Lan Khê Ðạo Long 蘭溪道隆; C: lánxī dàolóng; J: rankei dōryū; 1208-1268/ 1213-1278;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc nhánh Dương Kì, tông Lâm Tế.|Sư người Tây Thục, 13 tuổi xuất gia, sau tham học với nhiều Thiền sư danh tiếng ở Chiết Giang. Năm 33 tuổi (1246), Sư sang Nhật truyền pháp. Trong thời gian này, các tông phái cũ ở Nhật đã có những triệu chứng suy bại, chỉ lo chạy theo danh lợi và vì vậy, phong cách của Thiền gia chất phác, không cầu kì ham muốn, nhẫn nhục tu hành rất được kính trọng. Sư được mời đến Liêm Thương (j: kama-kura), lập chùa Kiến Trường (j: kenchō-ji) nơi đây.|Sư là một trong những Thiền sư góp phần quan trọng cho sự hưng thịnh của Thiền tông tại Nhật. Sư tịch tại chùa Kiến Trường, được ban hiệu là Ðại Giác Thiền sư. Ðây là lần đầu Nhật Bản có danh hiệu Thiền sư.
Lăng-già a-bạt-đa-la bảo kinh 楞伽阿跋多羅寶經; C: lèngqié ābáduōluó băojīng; J: ryōga abatsutara hōkyō; |Bản dịch kinh Lăng-già của Cầu-na-bạt-đà-la (s: guṇabhadra), là bản dịch thứ 2 trong 4 bản dịch, theo truyền thống đánh giá là bản dịch hoàn chỉnh nhất. A-bạt-đa-la (阿跋多羅) có nghĩa là »nhập« (入). Nhập Lăng-già kinh (入楞伽經).
Lăng-già a-bạt-đà-la bảo kinh 楞伽阿跋佗羅寶經; C: lèngqié ābátuóluó băojīng; J: ryōga abattara hōkyō;|Bản dịch kinh Lăng-già của Cầu-na-bạt-đà-la (s: guṇabhadra). Nhập Lăng-già kinh (入楞伽經).
Lăng-già kinh 楞伽經; S: laṅkāvatāra-sūtra; C: lèng qié jīng; J: ryōgakyō; |Tên gọi ngắn của Nhập Lăng-già kinh.
Lăng-già sư tư kí 楞伽師資記; C: lèngqié shīzī jì; J: ryōga shiji ki; |1 quyển, của Tịnh Giác (淨覺).
Lãng nhiên 朗然; C: lăng rán; J: rōnen; |Rõ ràng, sáng sủa. Hiển nhiên, sáng tỏ.
Lao 勞; C: láo; J: rō;|Có các nghĩa sau: 1. Khó nhọc, khổ. Vất vả, nỗ lực; 2. Theo kinh Duy-ma-cật sở thuyết thì lao có nghĩa là »ô nhiễm«, hoặc »trần ai«.
Lão bà thiền 老婆禪; J: rōba-zen;|Chỉ một cách giáo hoá chúng rất nhẹ nhàng, thân mật, ngược lại với phương pháp Kiềm chùy. Nhiều vị Thiền sư sử dụng phương pháp Lão bà thiền bởi vì nó thích hợp với những thiền sinh nào đó hơn là phương pháp kiềm chùy hoặc có thể là các vị này cũng không quen sử dụng phương pháp »thô bạo« mặc dù nhiều lúc nó cũng là một yếu tố, thành phần cần thiết trong việc giáo hoá.
Lão sư 老師; J: rōshi;|Danh hiệu dùng cho một vị Thiền sư tại Nhật. Thông thường, người ta tu học thiền dưới sự hướng dẫn của một Lão sư và vị này có thể là một cư sĩ (nam, nữ), không nhất thiết phải là một vị tăng. Nhiệm vụ của một Lão sư là hướng dẫn và khuyến khích thiền sinh trên con đường Giác ngộ, Kiến tính, với điều kiện là vị này cũng đã đạt một cấp bậc giác ngộ thâm sâu.|Thời xưa tại Nhật, danh hiệu Lão sư rất khó đạt được. Danh hiệu này được người đời ban cho – không phải tự xưng – người nào đã tự trực tiếp chứng ngộ được chân lí mà Phật đã thuyết giảng trong các bộ Kinh, sống một cuộc sống theo chân lí này và có khả năng hướng dẫn người khác đến kinh nghiệm chứng ngộ này. Ðiều kiện tối thiểu phải là một đức tính trong sạch, một nhân cách chững chạc. Ðể trở thành một Lão sư với đầy đủ tất cả những khả năng, thiền sinh phải tu học nhiều năm dưới sự hướng dẫn của một vị thầy, kiến tính và được vị này Ấn khả. Sau đó, thiền sinh phải trau dồi kinh nghiệm giác ngộ của mình với nhiều vị Thiền sư khác qua những cuộc Pháp chiến (j: hos-sen).|Ngày nay, vì các vị Lão sư chân chính tại Nhật không còn bao nhiêu nên thước đo cũng không còn khắc khe như xưa. Một điều rất đáng tiếc cho những vị Lão sư trong một hệ thống truyền thừa nghiêm ngặt, chính tông là rất nhiều vị tăng được gọi là »Lão sư« – chỉ vì họ đứng đầu một ngôi chùa lớn hoặc giữ một chức vị cao.
Lão Tử 老子; C: lǎozǐ; tk. 6 (?) trước Công nguyên, cũng được gọi là Lão Ðam;|Một trong hai vị hiền triết nổi danh nhất của Ðạo giáo song song với Trang Tử. Sử kí viết rằng, Lão Tử người nước Sở, huyện Khổ, làng Lệ, xóm Khúc Nhân (Hồ Nam bây giờ). Ông họ Lí, tên Nhĩ, tự Ðam. Trong tất cả những tác phẩm triết học người ta đều gọi ông là Lão Tử hoặc Lão Ðam.|Theo nguồn tài liệu trên thì Lão Ðam giữ kho sách của nhà Châu và trong thời gian này ông có dịp gặp Khổng Tử. Cuộc gặp gỡ này thường được nhắc lại nhưng không thể xem là một sự kiện lịch sử. Thấy nước Châu suy, ông bỏ ra đi. Ðến cửa quan phía Tây, vị quan coi cửa là Doãn Hỉ biết ông sắp ẩn tích bèn cầu xin chỉ dạy. Thế là ông viết một quyển sách với khoảng 5000 chữ nói về Ðạo và đức, sau được gọi là Ðạo đức kinh, và sau đó đi mất tích.|Theo truyền thống thì Lão Tử là tác giả của Ðạo đức kinh nhưng các nhà nghiên cứu sau này đều nhất trí rằng, quyển sách này không thể ra đời trước thế kỉ thứ 4, 3 trước Công nguyên và vì vậy không phải là tác phẩm từ tay Lão Tử.|Theo Tư Mã Thiên, tác giả của Sử kí, thì Lão Tử trau dồi đạo đức; học thuyết của ông cốt ở chỗ dấu mình, ẩn danh. Quan niệm này được nêu rõ trong cuộc gặp gỡ giữa ông và Khổng Tử (bản dịch của Nguyễn Duy Cần): »Khổng Tử đến Châu, hỏi Lễ. Lão Tử nói: ›Lời nói của ông là lời nói của những kẻ xương tàn cốt rụi. Vả, người quân tử đắc thời thì đi xe, không đắc thời thì tay vòn nón lá mà đi chân. Ta nghe rằng, kẻ buôn giỏi khéo giữ của quý như không có gì, người quân tử đức thạnh, dung mạo dường như kẻ ngu. Họ khác với cái kiêu khí và đa dục của ông, sắc thái và dâm chi ấy không ích gì cho thân ông cả. Tôi sở dĩ bảo chô ông biết có bấy nhiêu thôi.‹ Khổng Tử về bảo đệ tử: ›Chim, ta biết nó bay thế nào; cá, ta biết nó lội làm sao; thú ta biết nó chạy cách nào. Thú chạy thì ta có lưới bắt nó; cá lội thì ta có dây câu ví nó; chim bay thì ta có bẫy gài nó. Chí như con rồng, thì ta không biết nó theo mây theo gió mà bay lượn như thế nào. Nay ta thấy Lão Tử như con rồng!‹«|Các Lão gia sau này đã tôn thờ Lão Tử, gọi ông là Thái Thượng Lão Quân, Ðạo Ðức Thiên Tôn. Ông được xem là người sáng lập Ðạo giáo. Nhiều huyền thoại về ông cũng được lưu lại. Việc mất tích của ông được các Lão gia giảng rằng, ông sang Ấn Ðộ gặp đức Phật và thâu nhận Phật làm đệ tử. Thuyết này được các Lão gia nêu ra trong những cuộc tranh luận với các vị tăng nhà Phật sau này.|Ðạo đức kinh bao gồm 81 chương ngắn, trong đó 37 chương đầu nói về »Ðạo«, 44 chương sau nói về »Ðức.« Nội cung của quyển sách này cũng không nhất quán bởi vì nó cũng chứa đựng những quan niệm triết lí khác song song với triết lí Ðạo giáo. Quan niệm trung tâm của quyển sách này – ngoài đạo và đức nêu trên – là vô vi, tức là làm mà không có tác ý (Bất hành nhi hành). Tư tưởng của Lão Tử cũng được các vị Cao tăng Trung Quốc hấp thụ và giảng trình theo cách nhìn của nhà Phật.
Lão tử 老死; S, P: jarāmaraṇa;|Là già và chết, một thành phần của Mười hai nhân duyên (Tử).
Lạt-ma 喇嘛; T: lama [bla-ma]; S: guru;|Theo Phật giáo Tây Tạng, Lạt-ma là hiện thân của giáo pháp. Danh từ Lạt-ma cũng gần giống như guru, Ðạo sư của Ấn Ðộ, nhưng tại đây, Lạt-ma mang thêm nhiều ý nghĩa khác. Trong Kim cương thừa, Lạt-ma không phải chỉ là người giảng dạy giáo pháp mà còn là người thực hành các nghi lễ. Vị này thường là người lĩnh đạo các đạo trường và được xem thuộc về các dòng tái sinh Chu-cô (t: tulku). Những vị Lạt-ma uyên thâm, danh tiếng thường được mang danh hiệu Rinpoche (quý báu phi thường). Ngày nay, danh từ Lạt-ma hay được dùng để gọi các vị Cao tăng Tây Tạng, không kể trình độ chứng đạo của các vị đó.|Vì Lạt-ma đóng một vai trò quan trọng như thế nên có khi nền Phật giáo này cũng được gọi là Lạt-ma giáo. Người ta cũng không nên xem Lạt-ma như tăng sĩ bình thường, vì Lạt-ma đươc xem là hiện thân của Phật trong lúc tăng sĩ chỉ là người tu học trong chùa chiền hay tu viện. Trong Kim cương thừa, muốn theo học, hành giả phải được sự Quán đỉnh của một hay nhiều vị Lạt-ma. Trong các giáo pháp cao tột như Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) hay Ðại cứu kính (t: dzogchen) thì ngay từ đầu, mọi phép thiền quán đã phải tập trung lên một vị Lạt-ma dù cho vị đó không hiện diện. Một khi vị đó có mặt, thì thái độ của học trò lại càng tuân thủ theo nguyên tắc, nhất là sự vâng lời tuyệt đối. Vai trò gạch nối giữa Phật và tín đồ của Lạt-ma cho phép các vị này không những hướng dẫn học trò mà còn giáo hoá Phật pháp cho quần chúng, cũng như giúp Phật tử trừ tà hay cầu an cầu siêu. Các Lạt-ma có những thuật riêng để thực hiện nhiệm vụ đó, mà người ta hay nhắc đến nhất là những điệu múa đặc biệt và tụng niệm Tử thư.|Thời gian tu học của các vị Lạt-ma rất gian nan. Trước hết các vị học tập kinh điển giáo pháp và thực hành thiền định. Sau khi sống viễn li (nhập thất) ít nhất ba năm mới được mang danh Lạt-ma và giảng dạy.
Lạt-ma giáo 喇嘛教; E: lamaism;|Tên gọi chung của dạng Phật giáo Tây Tạng, Mông Cổ và Tây bắc Trung Quốc.
Lậu 漏; C: lòu; J: ro;|1. Rò, rỉ; 2. Để cho rò rỉ, tiết lộ ra, bỏ sót; 3. [Phật học] Hành vi dựa trên vô minh, thế nên bị luân hồi, phiền não, nhiễm ô (s: āsrava; p: āsava; t: zag pa). Thuật ngữ thường dùng trong triết học Kì-na giáo, diễn tả sự phát triển của nghiệp gắn liền với linh hồn (s: jīva), sau đó được đưa vào Phật học với nghĩa có hơi khác.
Lậu tận 漏盡; C: lòujìn; J: rojin;|Hết sạch sự rò rỉ; sự trừ sạch mọi phiền não; một cách khác để mô tả niết-bàn (s: āsrava-kṣaya, kṣina-āsrava).
Lậu tận A-la-hán 漏盡阿羅漢; C: lòujìn āluóhàn; J: rojin arakan;|Oai lực của quả vị A-la-hán, hàm ý diệt trừ sạch mọi phiền não (lậu).
Lậu tận thông 漏盡通; C: lòujìntōng; J: rojintsū;|Năng lực thần thông do khi đã trừ sạch mọi phiền não (s: āsrava-kṣaya-vijñāna). Là một trong Lục thần thông (六神通).
Lậu tận tỉ khâu 漏盡比丘; C: lòujìnbĭqiū; J: rojin biku;|Tỉ-khâu tu tập đã trừ sạch các phiền não (lậu). Thường chỉ cho hàng A-la-hán (阿羅漢).
Lậu tận trí 漏盡智; C: lòujìnzhì; J: rojinchi; S: āsrava-kṣaya-jñāna|Trí huệ của hàng Bồ Tát và A-la-hán trừ diệt mọi phiền não (lậu, s: āsrava-kṣaya-jñāna).
Lễ 禮; S, P: pūjā; hoặc Nghi lễ;|Trong Thượng toạ bộ (p: theravāda), nội dung của một buổi lễ bao gồm có dâng phẩm vật, hương hoa và niệm Quy y Tam bảo (s: triśaraṇa). Các nghi lễ trong đạo Phật thay đổi từ nước này qua nước khác. Những buổi hành lễ trong Kim cương thừa gồm có tụng niệm Man-tra, tay bắt Ấn (s: mudrā), niệm danh hiệu các vị Phật cũng như thiết tưởng linh ảnh.
Lê-bà-đa 梨波多; C: líbōduō; J: ribata; S: revata.|Li-bà-đa (離婆多).
Lê-da 梨耶; C: lí yé; J: riya;|Viết tắt của A-lê-da (阿梨耶), một cách Phiên âm chữ ālaya từ tiếng Phạn. A-lại-da thức.
Lê-da thức. 梨耶識; C: líyéshì; J: riyashiki; |Viết tắt phiên âm chữ ālaya từ tiếng Phạn. A-lại-da thức (阿頼耶識).
Li-la-pa S: līlapa; »Nhà vua biết thưởng thức«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong cuối thế kỉ thứ 9, có người cho là một đệ tử của Long Thụ.|Li-la-pa là một nhà vua, quen sống nếp sống vương giả. Một hôm, ông tiếp một Du-già sư trong cung điện, thấy hoàn cảnh cơ hàn của vị này ông thấy tội, bèn nói: »Ông khổ quá, chẳng có tài sản gì, phải sống lang thang đây đó.« Vị Du-già sư liền đáp: »Tôi chẳng khổ chút nào, ông mới là một người đáng thương.« Li-la-pa hỏi một cách ngạc nhiên: »Tại sao ông nói như thế?« Ðạo sư trả lời: »Ông lúc nào cũng nơm nớp lo sợ vương quốc bị xâm chiếm, lúc nào cũng sợ quân thần phản bội và vì vậy ông khổ! Về phần tôi, ngay khi nhảy vào lửa tôi cũng không bị lửa thiêu, ăn chất độc cũng không chết. Tôi đã thoát khỏi sự trói buộc của sinh, già, bệnh, chết.« Nghe đây, nhà vua chợt tỉnh và khởi lòng tin vị Du-già sư, bảo: »Trong hoàn cảnh này Ta không thể nào đi lang thang học đạo như ông được, nếu ông có cách nào chỉ ta tu tập trong cung điện, ta sẽ tuân theo«.|Vị Du-già sư dạy phép quán đặc biệt dành cho Li-la-pa là phép thiền định chú tâm quán chiếc nhẫn trên bàn tay mặt của ông. Khi đã Nhất tâm quán nó, Li-la-pa cứ tưởng tượng thần Hô kim cương (s: hevajra) nằm trong nhẫn, xung quanh gồm có quần thần bao bọc. Sau khi đã thuần thục phép quán đó thì từ tình trạng nhất tâm đại định sẽ sinh ra tri kiến trực tiếp. Sau khi thực hiện những lời dạy này, Li-la-pa đạt năng lực và ý chỉ huyền diệu của phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā) cùng chung với các thần thông khác. Bài thánh ca của Li-la-pa như sau:|Trong Bốn vô lượng tâm,|nhà vua đang trị vì,|như một sư tử chúa.|Vương miện năm bờm xanh,|là năm trí chư Phật.|Như mười móng sư tử,|rỉa xương thịt con bò,|Mười hạnh Du-già sư|chặt năng lực tối tăm|Ðó là tri kiến đưa,|Li-la-pa tự tại.
Lí Thái Tổ 李太祖; 974-1028|Một vị vua lừng danh của đất Việt, là người sáng lập triều Lí khi bước lên ngôi năm 1010. Dưới thời Lí Thái Tổ, đạo Phật hưng thịnh, khoảng trên 300 ngôi chùa được xây. Ðời này là thời gian phát triển rực rỡ của Phật giáo, là thời kì mà các nhà vua coi trọng đạo pháp, xây cất chùa chiền. Trong thời gian này, các kinh quan trọng như Kim cương, Dược sư, Diệu pháp liên hoa được in và phổ biến rộng.|Ông tên là Lí Công Uẩn, người làng Cổ Pháp. Cha mất trước khi ông ra đời và ngay sau khi sinh ra ông thì người mẹ cũng mất theo. Ông được một vị tăng trong chùa nuôi lớn. Ðến 8, 9 tuổi, vị này gửi ông theo học với Thiền sư Vạn Hạnh.|Nhờ những điềm linh báo trước, Thiền sư Vạn Hạnh biết là ông sẽ lên ngôi vua thành lập nhà Lí và vì vậy hết lòng phò tá. Khi Lê Long Ðĩnh mất, ông được các vị quan trong triều tôn lên làm Hoàng đế. Ông thấy cố đô Hoa Lư chật hẹp bèn dời đô về La Thành. Theo truyền thuyết, khi đến La Thành, ông thấy một con rồng vàng bay lên nên vì vậy đổi tên thành Thăng Long thành – thủ đô Hà Nội bây giờ, đổi Hoa Lư thành phủ Tràng An và Cổ Pháp thành phủ Thiên Ðức.
Lí Thánh Tông 李聖宗; 1023-1072|Vua thứ ba đời nhà Lí, nổi danh với tấm lòng từ bi, yêu nước thương dân như con. Ông chính là người phát hiện tài năng của Thiền sư Thảo Ðường và cũng được xem là người cùng khai sáng thiền phái Thảo Ðường, dòng thiền thứ ba sau hai hệ phái khác là Tì-ni-đa Lưu-chi và Vô Ngôn Thông.|Mẹ của ông là Mai Thị, một hôm mơ thấy mặt trăng rơi vào bụng và biết rằng mình có mang. Ngày 25 tháng 2 năm Thuận Thiên thứ 14 (1023), Hoàng hậu sinh ông tại cung Long Ðức. |Thuở nhỏ ông đã tỏ ra là một người thông minh đĩnh ngộ, văn võ toàn tài. Vì cung Long Ðức được xây ở ngoại thành và đã sống ở đây 27 năm trước khi lên ngôi, ông thấu hiểu nỗi khổ của bần dân, cảnh đói rét, sự bất công ở các miền thôn dã. Hai câu chuyện sau thường được nhắc lại: |»Một lần ông tham dự một buổi xử kiện với công chúa Ðộng Tiên. Phạm nhân là một chàng trai trẻ, vì không hiểu biết luật pháp nên lỡ vi phạm. Vua gọi quan toà lại, chỉ vào con gái của mình nói: Ta yêu con ta cũng như các bậc cha mẹ yêu con cái của họ. Trăm họ không hay biết nên tự phạm vào luật pháp, ta rất thương xót. Từ nay, các tội bất kì nặng nhẹ cần răn dạy kĩ lưỡng và nhất nhất đều phải khoan giảm.|Lần khác, gặp ngày trời rất lạnh. Nghĩ đến dân, vua chạnh lòng với tả hữu: Ta ở trong thâm cung, sưởi lò than, mặc áo hồ cừu mà khí lạnh vẫn còn thế này huống hồ những kẻ bị giam trong ngục thất, xiềng xích khổ đau, ngay gian chưa định, bụng không cơm no, thân không áo ấm, một khi gặp cơn gió lạnh thổi há chẳng bị chết rét ư? Ta rất đỗi thương xót.|Nói xong, vua sai tả hữu đem chăn chiên trong kho ban cho tù nhân và mỗi ngày phát cho tù nhân hai bữa cơm. Và vua xuống chiếu miễn cho cả nước một nửa số thuế năm đó.« (trích Quỳnh Cư).|Ngoài những trách nhiệm đối với dân, nước, ông còn đặc biệt chú tâm đến đạo Phật, cho xây cất rất nhiều chùa chiền. Ông mời Thiền sư Thảo Ðường vào cung để hỏi về Thiền và kinh luận và phong cho Thảo Ðường danh hiệu Quốc sư. Tư tưởng thấm nhuần đạo lí của ông được ghi lại trong sử sách như sau:|»Khác với các triều đại trước, Lí Thánh Tông đem đạo vào đời, mà cuộc đời ấy, theo nhà vua, phải lấy việc phụng sự dân tộc, lấy sự đồng tâm nhất trí làm mục đích để tập trung vào hành động thiết thật, cứu thế bằng đức tin. Vua đã tìm thấy trong Phật học triết lí sinh thành dưỡng dục theo nghĩa dài lâu nối tiếp, là phương tiện dạy cho dân hiểu mình là ai, lấy ý chí tự cường để thắng số mệnh, phụng sự cho sự phồn vinh bền vững của quốc gia. Cũng do vậy, dân chúng Ðại Việt tìm thấy nguồn cảm hứng vừa sâu rộng vừa cao siêu của mình ở tình yêu hiện thật và đại đồng Phật giáo, ở lòng từ bi bác ái cứu khổ cứu nạn cứu vớt chúng sinh. Nhân dân đến với đạo không phải vì chán ngán cuộc đời mà vì muốn sống cuộc đời cao cả là đời sống tâm linh. Những nhà tu hành đời Lí không phải là những người chán đời đi ở ẩn mà là những người xuất thế để nhập thế, những người có học vấn để giúp đời và giúp người. Vì vậy, đời Lí người tu hành xuất hiện khắp nơi. Chùa và đình thất mọc lên khắp nước. Kiến trúc chùa chiền thời ấy rất giản dị, dịu mát ẩn dưới bóng đa linh thiêng và tôn kính.« (trích Quỳnh Cư).|Năm Nhâm Tí (1702), ông mất rất đột ngột, thọ 50 tuổi, trị vì được 17 năm.
Lí Thông Huyền 李通玄; C: lǐ tōngxuán; j: ri tsūgen; 635-730.|Cư sĩ học giả quan trọng của tông Hoa Nghiêm, cùng thời với Huyền Trang. Ban đầu chưa được công nhận, nhưng về sau được các Thiền sư tông Lâm Tế đánh giá cao. Các tác phẩm của ông, quan trọng nhất là luận giải Tân Hoa Nghiêm kinh luận (新華嚴經論), 42 cuốn, bản dịch của Thật-xoa-nan-đà (s: śikṣānanda), đã tạo nên ảnh hưởng sâu đậm cho Thiền tông và Hoa Nghiêm tông của Phật giáo Triều Tiên sau nầy; còn có một luận giải khá dài của Tri Nột về tác phẩm nầy. Còn có ảnh hưởng rất mạnh đến tông Hoa Nghiêm Nhật Bản.
Liên Hoa Sinh 蓮華生; S: padmasambhava hoặc padmakā-ra;|Ðại sư Ấn Ðộ, sống cùng thời vua Tây Tạng Tri-song Det-sen (755-797; Hán Việt: Ngật-lật-sang Ðề-tán). Sư truyền Phật giáo sang Tây Tạng và sáng lập tông Ninh-mã (t: nyingmapa), một trong bốn tông phái lớn của Tây Tạng và được các đệ tử gọi là »Phật thứ hai.« Sư hay sử dụng thần thông, nhiếp phục ma quái và thiên tai. Cách tu hành của Sư rất đa dạng, từ cách sử dụng đao truỷ thủ (Phurbu) đến tu tập các phép thiền định theo hệ thống Ðại cứu kính (t: dzogchen). Sư thuộc dòng của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: ma-hāsiddha), để lại rất nhiều chuyện thần thoại cho đời sau và ở các nước vùng Hi-mã-lạp sơn, người ta tôn thờ gọi Sư là »Ðạo sư quý báu« (guru rimpoche).||H 39: Liên Hoa Sinh dưới dạng Nhật Quang Ðạo sư (s: sūryaraśmi-guru) đang mỉm cười. Trên đầu, Sư mang vương miện được kết với sáu sọ người. Sư ngồi trên một tấm lông nai (như phần lớn các vị Ma-ha Tất-đạt được trình bày trong tranh tượng), tay phải cầm cây gậy thần (s: khaṭvaṅga), ngón trỏ của tay trái đang giữ một tia nắng mặt trời. Sư mang tên Nhật Quang vì sau khi tu luyện năm năm nơi thiêu xác, Sư đạt Tất-địa (s: siddhi), có thể xoè tay bắt ánh sáng mặt trời.|Tương truyền rằng, Liên Hoa Sinh sinh ra trong một hoa sen, tại Tây Bắc Kashmir, sớm thông tất cả kinh sách, nhất là Mật giáo (Tan-tra). Trong thế kỉ thứ 8, Sư đến Tây Tạng, một nước còn nằm dưới ảnh hưởng của các tôn giáo thiên nhiên. Sư đến đây chinh phục ma quỷ, thiên tai và ảnh hưởng của giáo phái Bôn (t: bon). Sư cũng cho xây tu viện Tang-duyên (t: samye) năm 775 và thời gian hoạt động tại Tây Tạng xem như chấm dứt tại đó. Có nhiều tài liệu cho rằng Sư hoằng hoá ở Tây Tạng lâu hơn, truyền giáo cho 25 đệ tử, trong đó có nhà vua Tây Tạng và giáo thuyết quan trọng nhất là »Tám tuyên giáo«. Ngoài ra, Sư còn để lại nhiều bài dạy được dấu trong rừng núi (Ter-ma), chỉ được khám phá ra vào một thời điểm nhất định. Một trong những bài dạy đó là bộ Tử thư. Ðệ tử quan trọng và là người viết lại tiểu sử của Sư là bà Ye-she Tsog-yel.|Sư có nhiều bài dạy đệ tử tu tập theo con đường ngắn nhất, trực tiếp đến Giác ngộ. Những bài khuyên dạy thường xoay quanh sáu điểm cụ thể như sau:|1. Ðọc thật nhiều kinh sách, lắng tai nghe các vị Ðại sư dạy bảo để nhập tâm rồi sau đó ứng dụng để tự thấy hiệu quả, sai trái;|2. Chọn một trong tất cả học thuyết này và chú tâm vào nó, tất cả những thuyết khác đều phải bỏ qua, ví như con diều hâu săn từ trên cao, chỉ chọn một con mồi duy nhất;|3. Sống khiêm tốn cần kiệm, không bao giờ tự nâng mình, đưa mình ra trước, bỏ ý muốn đạt danh vọng, quyền uy trong thế gian. Sau cái bề ngoài vô nghĩa này thì lại đưa tâm thức lên cao vút, vượt qua tất cả các danh hiệu chói lọi của tục thế;|4. Giữ lòng Xả (s: upekṣā) đối với tất cả. Ăn uống như một con heo, con chó, không chọn lựa, có gì ăn nấy. Không được cố gắng để đạt hoặc né tránh bất cứ một cái gì. Chấp nhận mọi việc như chúng đến, giàu sang phú quý hay cơ hàn, lời chê bai hay tán thán. Không phân biệt giữa đúng sai, thiện ác, thành bại. Không hối tiếc và cũng không hãnh diện, vui mừng về bất cứ việc gì đã làm (Bát phong);|5. Với tâm vô tư, không thiên vị mà nghe và quán sát tất cả những hành động lời nói của mọi người. Cứ nghĩ rằng, nhân gian là như thế, người này như vậy, người kia thế đó. Quán sát thế gian như một người đứng trên đỉnh núi nhìn xuống;|6. Cấp này không thể trình bày diễn tả. Nó tương ưng với sự trực giác tính Không, tương ưng với Không (s: śūnyatā).|Dòng Ninh-mã xem ngày 10 mỗi tháng là ngày vía của Liên Hoa Sinh và mỗi tháng có một ý nghĩa khác nhau. Ngày 10 tháng giêng là ngày xuất gia và quán tử thi, ngày 10 tháng 2 là ngày thụ giới, ngày 10 tháng 3 là ngày chuyển hoá lửa thành nước v.v… Bài dạy cầu Liên Hoa Sinh được ghi thành 7 dòng như sau:|Nơi miền Tây bắc Ô-trượng-na|Trong một đoá hoa sen|Ngài đã đạt Vô thượng bồ-đề|Ngài là Liên Hoa Sinh|Với nhiều nữ thần hộ vệ xung quanh|Con nguyện theo Ngài|Hãy đến đây độ trì cho đệ tử.
Liễu 了; C: liǎo; J: ryō;|1. Biết, nhận biết, hiểu biết (s: upalabdhi, pratipatti, adhimokṣa); 2. Kiến giải, quan điểm (s: dṛṣṭi); 3. Thức tỉnh về một sự việc nào đó, thông hiểu (s: avabodha); 4. Chấm dứt, kết thúc, chung cuộc, cuối cùng.
Liễu biệt 了別; C: liǎobié; J: ryōbetsu;|1. Biết, nhận biết, nhận thức; hiểu biết sự vật một cách phân biệt; 2. Cho thấy, làm cho biết, diễn tả, hiện hành (s: vijñapti; t: rnam par rig ba); 3. Thấy, nhận biết (s: dṛṣṭi).
Liễu đạt 了達; C: liǎodá; J: ryōdatsu; S: adhigama, adhi-mukti, avatāra|1. Tỉnh thức, giác ngộ; 2. Kết thúc, chấm dứt, hoàn tất.
Liễu nghĩa 了義; C: liǎoyì; J: ryōgi;|Một sự việc hoặc một nguyên tắc mà ý nghĩa của nó được hiểu trọn vẹn.
Liễu nghĩa kinh 了義經; C: liǎoyì jīng; J: ryōgi kyō;|1. Kinh nói rõ ý nghĩa hoặc trình bày toàn vẹn. Chỉ một bộ kinh Đại thừa nêu ra và luận giải tất cả những khía cạnh của Phật pháp mà không nghiêng vào bên này hoặc bên kia như Đốn ngộ hoặc Tiệm ngộ, Trung quán hoặc Duy thức v.v… 2. Biểu thị này thường được dùng ám chỉ kinh Viên Giác (圓覺經).
Liễu nhân 了因; C: liǎoyīn; J: yōin;|»Nguyên nhân của sự nhận biết« (s: jñāpaka-hetu). Một sự nhận thức dẫn đến một kết quả ví như sự giác ngộ, đối nghịch với nguyên nhân phát sinh (sinh nhân 生因); 2. Nguyên nhân của một lí thuyết đối nghịch; 3. Hiểu, nhận thức khởi đầu.
Liễu Quán 了觀; 1667-1742|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế đời thứ 35. Sư nối pháp Thiền sư Tử Dung Minh Hoằng, góp công rất nhiều cho việc truyền bá dòng Thiền này tại miền Trung và Nam.|Sư tên Lê Thiệt Diệu, quê huyện Ðồng Xuân tỉnh Phú Yên (Sông Cầu). Lúc sáu tuổi Sư mồ côi mẹ, cha đem đến chùa Hội Tôn học với Hoà Thượng Tế Viên. Bảy năm sau Sư ra Thuận Hoá (Huế) học với Giác Phong Lão Tổ ở chùa Báo Quốc.|Năm 1702, Sư đến Hoà thượng Tử Dung tham thiền. Hoà thượng dạy Sư tham câu »Muôn pháp về một, một về chỗ nào?« (萬法歸一一歸何處; Vạn pháp quy nhất, nhất quy hà xứ). Sau bảy tám năm tham cứu chưa lĩnh hội, Sư ngầm hổ thẹn. Một ngày nọ, nhân lúc đọc Truyền đăng lục có câu »Chỉ vật truyền tâm mà người chẳng biết« (Chỉ vật truyền tâm, nhân bất hội xứ), Sư hoát nhiên tỉnh ngộ và trở lại xin gặp Hoà thượng Tử Dung trình sở đắc. Sau khi được Ấn chứng, Sư hay vào ra Huế – Phú Yên giáo hoá. Năm 1733, 1734, 1735 Sư dự bốn lễ Ðại giới đàn tại Huế. Năm 1740, Sư về am ở núi Thiên Thai, dựng chùa Thuyền Tôn.|Mùa xuân 1742, Sư lại dự Ðại giới đàn ở chùa Viên Thông. Ðến mùa thu, Sư gọi đệ tử báo »Nhân duyên ta đã hết, ta sắp đi đây.« Cuối tháng hai năm 1743, Sư viết bài kệ:|七十餘年世界中。空空色色亦融通|今朝願滿還家裏。何必奔縵問祖宗|Thất thập dư niên thế giới trung,|Không không sắc sắc diệc dung thông|Kim triêu nguyện mãn hoàn gia lí|Hà tất bôn man vấn tổ tông.|*Hơn bảy mươi năm ở cõi này,|Không không sắc sắc thảy dung thông.|Hôm nay nguyện mãn về quê cũ.|Nào phải bôn ba hỏi Tổ tông.|Ðến ngày 22 buổi sáng sau khi dùng trà, Sư hỏi giờ gì, đồ đệ đáp »giờ Mùi.« Sư liền an nhiên thị tịch. Vua sắc ban bia kí và tứ hiệu Ðạo Hạnh, thuỵ Chính Giác Viên Ngộ Hoà Thượng.|Sư là Tổ khai sơn chùa Thiên Thai Thuyền Tôn tại Huế, sau chùa còn tháp thờ Sư. Nhánh Thiền Lâm Tế tại miền Nam và Trung sau này được gọi theo tên Sư là Liễu Quán.
Liễu tri 了知; C: liǎozhī; J: ryōchi;|Hiểu trọn vẹn, rõ ràng; nhận thức đầy đủ, nhận biết; thấu hiểu (s: parijñāna, parijñā).
Linh Hựu 靈祐|Quy Sơn Linh Hựu
Linh Thứu sơn 靈鷲山; S: gṛdhrakūṭa; P: gijjhakūṭa; dịch theo âm là Kì-xà-quật, có nghĩa là »núi Kên Kên«;
Linh Vân Chí Cần 靈雲志勤; C: língyún zhìqín; J: reiun shigon; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu. Sư nổi tiếng với một bài kệ tụng, tả lại lúc triệt ngộ khi ngắm hoa Ðào nở. Bài kệ như sau (Thích Phước Hảo, Thích Thông Phương dịch):|三十年來尋劍客。幾回落葉幾抽枝|自從一見桃花後。直到如今不更疑|Tam thập niên lai tầm Kiếm khách*|Kỉ hồi lạc diệp kỉ trừu chi|Tự tòng nhất kiến đào hoa hậu|Trực đáo như kim bất cánh nghi.|*Ba chục năm qua tầm kiếm khách|Bao lần lá rụng với cành trô|Từ khi được thấy hoa đào nở|Cho đến ngày nay chẳng chút ngờ.|*Xem chú giải »Kiếm khách« dưới bài kệ Hữu cú vô cú ở Trần Nhân Tông.
Loạn 亂; C: luàn; J: ran;|1. Không trật tự, rối loạn, thiếu thận trọng. sự mất trật tự, sự quấy rầy, sự bối rối, cuộc cách mạng; 2. Mất trật tự, lúng túng, khích động, bối rối, bừa bãi; 3. Tâm tán loạn, phản nghĩa với Tập trung hoặc Định.
Loạn thức 亂識; C: luànshì; J: ranjiki;|Thức phân biệt hư vọng (s: bhrānti-vijñāna). (Theo Trung biên phân biệt luận 中邊分別論).
Lộc nang 漉嚢; C: lùnáng; J: rokunō;|Lộc thuỷ nang (漉水嚢).
Lộc thuỷ nang 漉水嚢; C: lùshuĭnáng; J: rokusuinō;|Hán dịch chữ pariśrāvaṇa trong tiếng Phạn. Là cái đãy lọc nước, một trong 6 vật cần thiết (六物) của tăng sĩ Phật giáo. Do chư tăng khi dùng nước có khả năng sẽ vô tình sát hại côn trùng sinh sống trong nước, nên trước khi dùng, họ phải lọc nước. Đây là một dụng cụ đặc biệt phải có khi đi đường. Còn viết là Lự thuỷ nang (濾水嚢).
Lộc uyển 鹿苑; S: mṛgadāva;|Là vườn Lộc (con nai) nằm trong Tiên uyển (s: ṛṣipatana), ngày nay là Sār-nāth, nơi đức Phật Thích-ca Mâu-ni, sau khi đạt Vô thượng bồ-đề (anuttarasamyaksaṃbodhi), bắt đầu giáo hoá chúng sinh. Bài giảng đầu tiên của Ngài là Tứ diệu đế và Bát chính đạo. Bài giảng này được gọi là chuyển Pháp luân (quay bánh xe pháp).|Ngày nay Tháp Dha-mek cao 44m, được xây dựng trong thế kỉ thứ 4-6 còn nhắc lại chỗ đức Phật giảng bài pháp đầu tiên cho nhóm Năm tỉ-khâu. Tháp này còn chứa bên trong nó một tháp nhỏ bằng gạch từ thời vua A-dục. Tại Lộc uyển, ngày xưa còn có một tháp khác chứa Xá-lị của đức Phật, nhưng bị phá huỷ hồi thế kỉ 18. Cũng như đền Mū-la-gan-dha-kuti, nơi đức Phật ngồi thiền định, ngày nay chỉ còn nền trô trọi.
Lợi 利; C: lì; J: ri;|1. Lợi, lợi nhuận, tiền lời; 2. Bén, thông minh, nhạy bén, bút pháp cao cấp; 3. Phục vụ một mục đích.
Lợi căn 利根; C: lìgēn; J: rikon;|»Căn cơ nhạy bén«, chỉ những người bẩm chất lanh lợi, hiểu được những chân lí thâm mật, mau đạt được ngộ nhập (s: tīkṣna-indriya; t: dbaṅ po rno ba). Cũng được gọi là Thượng căn (上根), Nhuệ lợi (鋭利) và Đốn căn (頓根). Chúng sinh thường được phân loại một cách tổng quát thành Tam căn (三根): Lợi căn, Trung căn (中根) và Độn căn (鈍根; theo kinh Pháp Hoa).
Lợi cơ 利機; C: lìjī; J: riki;|Căn cơ nhạy bén; cũng như Lợi căn (利根).
Lợi độn 利鈍; C: lìdùn; J: ridon;|Chỉ những người tu học lanh lợi và đần độn (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Lợi dưỡng 利養; C: lìyăng; J: riyō;|1. Những mời mọc ích lợi; 2. Một lợi nhuận, chỉ những vật được thâu nhập như lơi nhuận, lợi ích; 3. Tham lam, mê lợi nhuận.
Lợi ích 利益; C: lìyì; J: riyaku;|1. Lợi ích, hiệu nghiệm; đồng nghĩa với Nhiêu ích (饒益); 2. Một điểm mạnh, công đức, có tính chất thiện (s: anuśaṃsa); 3. Truyền trao lợi ích, công đức, hạnh phúc đến người khác (s: anugraha).
Lợi ích chúng sinh 利益衆生; C: lìyì zhòngshēng; J: rieki shūjō;|Đem lợi ích đến chúng sinh như những vị Bồ Tát thực hiện (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Lợi nghiêm 利嚴; C: lìyán; J: rigen; K: iǒm.|Một trong những người truyền bá Thiền tông đầu tiên tại Hàn Quốc. Sư được xem là Khai tổ của trường phái Tu-di sơn (須彌山), một nhánh thiền có liên hệ mật thiết với tông Tào Động (曹洞) tại Trung Hoa.
Lợi tha 利他; C: lìta; J: rita;|Làm việc vì lợi ích của người khác. Làm những người khác giác ngộ (s: para-hita, para-artha).
Long 龍; S: nāga;|Loài rồng, một loại thú linh, mùa xuân cất cánh bay cao, mùa đông ngủ trong lòng đất. Rồng mang lại mưa và bảo vệ bầu trời. Rồng hay Ðại long hay được dùng để biểu tượng đức Phật hay một Bồ Tát hạ sinh. Loài Thuỷ long được xem là vua của sông nước, biển cả. Trong Phật giáo Tây Tạng, người ta tin rằng Thuỷ long cất giữ các bộ kinh ở thuỷ cung và trao lại cho người một khi Nhân duyên đầy đủ.
Long-chen-pa T: kloṅ-chen-pa; 1308-1364;|Ðại sư Tây Tạng phái Ninh-mã (t: nying-mapa), được tặng danh hiệu »Nhất thiết trí giả.« Sư đóng một vai trò quan trọng trong giáo pháp Ðại cứu kính (t: dzogchen) vì đã phối hợp được nhánh của Liên Hoa Sinh (padmasambhava) với nhánh Tì-ma-la Mật-đa (vimalamitra), đưa vào một hệ thống chung. Trong một cuộc đời tương đối ngắn, Sư đã viết 270 tác phẩm mà những tác phẩm quan trọng nhất được gọi là »bảy món quý«. Ðặc điểm của các tác phẩm của Sư là chiều sâu của tư tưởng và tính chất rõ rệt, chính xác. Những tác phẩm này vẫn còn tác động trong dòng Ninh-mã.|Lên 11 tuổi, Sư đã được gia nhập giáo hội và sau đó chú tâm học tập. Ngoài trường phái mình, Sư còn học thêm giáo pháp của các phái Tát-ca (t: sakyapa) và là đệ tử của Cát-mã-ba (t: karmapa) thứ ba (1284-1339). Sau đó hai biến cố lớn xảy ra cho Sư: sau khi chứng được linh ảnh của Liên Hoa Sinh và đệ tử là Ye-she Tsog-yel, Sư có quan hệ trực tiếp các Không hành nữ (s: ḍākinī), được truyền thụ giáo pháp Ðại cứu kính và có trách nhiệm ghi lại thành văn bản chôn dấu (Ter-ma). Sau đó Sư lại gặp Tì-ma-la Mật-đa (s: vimala-mitra), được chân truyền phép Ðại cứu kính và tổng hợp hai dòng Ðại cứu kính nói trên thành một hệ thống duy nhất.|Long-chen-pa là vị trụ trì chùa Tang-duyên (t: samye) tại Trung Tây Tạng. Tuy thế phần lớn thì giờ, Sư vẫn hay đi vân du và sống viễn li. Sư cũng là người sửa chữa lại nhiều chùa, nhất là những chùa tại Bhutan trong thời gian Sư phải biệt xứ tại đó hàng chục năm. Ðời sau, có Jig-me Ling-pa (1730-1798) nghiên cứu rõ về Sư và đưa Sư lên hàng Ðại sư của dòng Ri-mê (rime)
Long Ðàm Sùng Tín 龍潭崇信; C: lóngtán chóngxìn; J: ryūta sōshin; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Thiên hoàng Ðạo Ngộ. Môn đệ lừng danh của Sư là Ðức Sơn Tuyên Giám.|Sư con nhà bán bánh, mỗi ngày đem bánh đến cúng dường Thiền sư Ðạo Ngộ. Mỗi lần nhận bánh, Ðạo Ngộ lại để lại một cái cho Sư, nói: »Ta cho ngươi để ân huệ cho con cháu.« và cứ thế một thời gian. Sư thấy lạ hỏi thì được trả lời: »Bánh của ngươi đem đến, ta cho lại ngươi có lỗi gì?« Sư nghe hiểu diệu ý liền xin xuất gia. Ðạo Ngộ vì thấy Sư có hảo tâm cúng dường, ban pháp danh Sùng Tín.|Một hôm Sư thưa: »Từ ngày con đến đây chưa được thầy chỉ dạy tâm yếu.« Ðạo Ngộ đáp: »Từ ngày ngươi đến đây, ta chưa từng chẳng dạy ngươi.« Sư hỏi lại: »Chỉ dạy ở chỗ nào?« Ðạo Ngộ bảo: »Ngươi dâng trà, ta vì ngươi mà tiếp. Ngươi xá lui, ta gật đầu. Chỗ nào chẳng chỉ dạy tâm yếu?« Sư nghe đây hội được đôi chút, lại hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Ðạo Ngô bảo: »Mặc tính tiêu dao, tuỳ duyên phóng khoáng, chỉ hết tâm phàm, chẳng có thánh giải khác.« Sư nhân câu này triệt ngộ. Sau Sư đến trụ tại Long Ðàm, dạy môn đệ.|Có một vị ni đến hỏi: »Làm sao tu để thành Tăng?« Sư không đáp, hỏi: »Làm ni đã bao lâu?« Ni hỏi nữa: »Lại có khi làm tăng chăng?« Sư bảo: »Hiện nay ngươi là gì?« Ni đáp: »Hiện nay là ni ai chẳng biết!« Sư đáp: »Ai biết ngươi?«|Không biết Sư mất năm nào.
Long Môn 龍門; C: lóngmén;|Hang động nổi tiếng tại Trung Quốc, thuộc Lạc Dương, tỉnh Hồ Nam. Cùng với Vân Cương và Ðôn Hoàng, Long Môn là một trong ba hang động có rất nhiều thánh tích Phật giáo. Năm 494 người ta đã bắt đầu xây dựng tại đây, sau khi dời đô về Lạc Dương. Long Môn có tổng cộng 2100 hang, 750 cốc với khoảng 40 ngôi chùa và 100.000 tượng. Các tượng trình bày Phật A-di-đà, Thích-ca Mâu-ni, các vị Bồ Tát Quán Thế Âm, Di-lặc, Ðịa Tạng và nhiều vị Phật, Bồ Tát khác. Phần lớn tượng A-di-đà được khắc tạc vào đời Ðường, là lúc mà tông Tịnh độ thịnh hành nhất.
Long Nha Cư Độn 龍牙居遁; C: lóngyō jūxún; J: ryūge koton; 834/835-920/ 923;|Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. Môn đệ của Sư có 5 người đắc pháp.|Sư quê ở Giang Tây, xuất gia lúc còn nhỏ. Sau, Sư chu du đây đó, học hỏi các vị Thiền sư danh tiếng đương thời như Thuý Vi Vô Học, Ðức Sơn Tuyên Giám, Lâm Tế Nghĩa Huyền và cuối cùng dừng nơi Ðộng Sơn. Một hôm, Sư hỏi Ðộng Sơn: »Thế nào là ý Tổ sư từ Tây sang?« Ðộng Sơn bảo: »Ðể khi nước suối Ðộng Sơn chảy ngược ta sẽ nói cho ngươi nghe.« Nhân câu này, Sư ngộ đại ý. |Sau khi dao du tám năm, Sư đến Long Nha trụ trì, môn đệ không dưới 500.
Long Quân 龍軍; S, P: nāgasena;|Tên dịch nghĩa của Na-tiên tỉ-khâu.
Lông rùa sừng thỏ Hán Việt: Quy mao thố giác (龜毛兔角); J: ki-mō-tokaku;|Chỉ một niềm tin mù quáng, một quan niệm sai lầm không thể có được. Ví dụ như cho rằng có một tự Ngã, các Pháp trường tồn là những quan niệm điên đảo và lời bình chỉ có thể là »Lông rùa sừng thỏ!«
Long Thụ 龍樹; S: nāgārjuna; »Triết gia và nhà giả kim«; Long Thụ của hệ thống 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ;|Là thầy của Thánh Thiên (s: āryadeva) và Sa-va-ri-pa (s: śavaripa). Long Thụ thuộc dòng Bà-la-môn, nhưng Sư đến Na-lan-đà để thụ giới trở thành một Tỉ-khâu. Sau đó Sư đến Vương xá (s: rājagṛha) tu luyện tại đó mười hai năm và đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Trên đường du phương, Sư gặp một đứa trẻ chăn cừu giúp ông qua sông và vì đền ơn, Sư thi triển thần thông giúp đứa trẻ làm vua. Về sau khi Phạm Thiên xin đầu, Sư dùng ngọn cỏ cắt đầu hiến dâng. Người ta nói rằng thân của Long Thụ còn nằm tại chỗ mất đầu, đợi Phật Di-lặc hạ sinh sẽ sống lại giúp Ngài.|Như Long Thụ của thế kỉ thứ 2, tranh tượng của vị Long Thụ này cũng có hình rắn phủ quanh đầu. Chứng đạo kệ của Long Thụ có những dòng sau:|Ví như kẻ mê muội,|tự xưng là Tất-đạt,|thì như tên giặc cỏ,|đòi cướp giật ngôi vua.|Ví một bậc hiền nhân,|còn kẹt sự dại khờ,|thì như một thớt voi|còn bị đắm trong bùn.|Lịch sử của Tan-tra, nhất là Tan-tra tại Tây Tạng cho rằng Long Thụ này chính là Long Thụ của thế kỉ thứ hai, Luận sư nổi tiếng của Trung quán tông (s: mādhyamika) mặc dù giáo pháp của Mật tông được thành lập và phát triển sau này. Các Lạt-ma Tây Tạng cho rằng cả hai Long Thụ (và đương nhiên cùng với môn đệ là Thánh Thiên) đều là biểu hiện của một Tuyệt đối duy nhất, được nối tiếp bằng một sợi chỉ vô hình siêu thời gian và không gian, hoặc được nối tiếp qua các dòng tái sinh Chu-cô (t: tulku).
Long Thụ 龍樹; S: nāgārjuna; dịch âm là Na-già Át-thụ-na (那伽閼樹那), tk. 1-2;|Một trong những luận sư vĩ đại nhất của lịch sử Phật giáo. Người ta xem sự xuất hiện của Sư là lần chuyển pháp luân thứ hai của Phật giáo (lần thứ nhất do Phật Thích-ca, lần thứ ba là sự xuất hiện của giáo pháp Tan-tra). Ðại thừa Ấn Ðộ xếp Sư vào »Sáu Bảo Trang của Ấn Ðộ« (năm vị khác là Thánh Thiên [s: āryadeva], Vô Trước [s: asaṅga], Thế Thân [s: vasubandhu], Trần-na [s: diṅnāga, dignā-ga], Pháp Xứng [s: dharmakīrti]), và trong tranh tượng, Sư là vị duy nhất sau đức Phật được trình bày với chóp trên đỉnh đầu (肉髻; nhục kế; s: uṣnīṣa), một dấu hiệu của một Ðại nhân (s: mahāpuruṣa). Sư là người sáng lập Trung quán tông (s: mādhyamika), sống trong thế kỉ thứ 1-2. Có rất nhiều tác phẩm mang danh của Sư nhưng có lẽ được nhiều tác giả khác biên soạn. Những trứ tác được xem là quan trọng nhất và đích thân Sư viết soạn gồm có (Căn bản) Trung quán luận tụng, gồm 27 chương với 400 câu kệ, Thập nhị môn luận, Ðại trí độ luận. Sư cũng là Tổ thứ 14 của Thiền tông Ấn Ðộ. Truyền thống Tan-tra cũng xếp Sư vào 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).||H 40: Long Thụ (Lạt-ma Anāgārika Gô-vin-đa phóng hoạ).|Công lớn của Sư là hệ thống hoá các tư tưởng được nêu lên trong Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh (s: pnajñāpāramitā-sūtra) và đào sâu các tư tưởng đó. Sư phát triển một phương pháp biện chứng (e: dialectic) rất đặc biệt, siêu phàm và nương vào đây chỉ rõ những nhược điểm, những điểm sơ xuất không thống nhất trong một lí thuyết mà chính đối thủ đưa ra. Từ sự nhận thức rằng, một sự thật chỉ tồn tại bởi sự hiện diện của cái đối nghịch, Sư luận rằng mọi sự đều tương đối, không có gì bất biến trường tồn nằm sau sự vật, tất cả đều là Không (s: śūn-yatā). Sư từ chối mọi quan điểm cực đoan và đây chính là điểm xuất phát của tư tưởng Trung đạo (s: mādhyamāpradipadā), giáo lí căn bản của Trung quán tông. Quan điểm Trung quán này được biểu hiện bằng kệ tụng Bát bất (tám phủ nhận) đầu bản Trung quán luận:|不生亦不滅。不常亦不斷|不一亦不異。不來亦不出|Bất sinh diệc bất diệt|Bất thường diệc bất đoạn|Bất nhất diệc bất dị|Bất lai diệc bất xuất.|*Không phải sinh cũng không phải diệt,|Không phải thường cũng không phải đoạn,|Không phải một cũng không phải khác,|Không phải đi cũng không phải đến.|Sư là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo tạo dựng một »hệ thống« triết học hẳn hoi, trong đó Sư tìm cách minh chứng thế giới hiện tượng không thật hiện hữu. Ðó thật ra là kiến giải xuất phát từ kinh nghiệm tu hành – theo kinh Bát-nhã. Với những thành tựu to lớn, Sư đã đặt nền tảng đầu tiên cho Trung quán tông và cũng gây nhiều ảnh hưởng trong nền triết lí của các tông phái Phật giáo khác ra đời sau.|Long Thụ lấy thuyết Mười hai nhân duyên làm khởi điểm, vì đối với Sư, đó là quy luật nói lên bản chất của thế giới. Sư xem bản chất đó là Không – vì trong đó không có thành hay hoại, vô thường hay trường cửu.|Tính chất trống không của thế gian được Long Thụ chỉ rõ bằng sự tương đối của khái niệm. Các khái niệm chỉ dựa lên nhau mà có, không có khái niệm nào tồn tại độc lập. Từ đó Sư suy ra, sự vật cũng không có thật vì mỗi sự vật đều phải dựa lên trên những sự vật khác mà hiện hữu. Ðây là một trong những lí luận tối trọng về tính Không chính là Vô ngã.|Sư trình bày quan điểm của mình trong tác phẩm Hồi tránh luận (迴諍論; s: vigraha-vyāvartanī hoặc vigraha-vyāvartanīkārikā), thông qua một ví dụ – »Hai cha con«: |»Nếu đứa con được sinh thành bởi người cha, và người cha chỉ mới sinh thành với sự hiện diện của chính đứa con này – hãy nói thử xem ai sinh ra ai? Nói thử xem: Ai trong hai người này là cha, ai là con? Cả hai đều mang dấu hiệu của cha và dấu hiệu của một người con«. |Như thế thì, trước khi đứa »con« ra đời, người ta không thể nói đến một người »cha«. Và như vậy thì – theo Sư – trong đứa con phải có một cái gì đó dẫn khởi sự xuất hiện của một người cha – có thể gọi là một đặc tính trợ giúp một người nào đó trở thành một người cha. Trường hợp cũng tương tự như thế quy về đứa con. Trong bản chú giải bài luận này, Sư bảo rằng, cả hai – cha cũng như con – đều mang những đặc tướng của cái »thành tạo« và cái »được thành tạo.« Và như vậy có nghĩa rằng, người ta chỉ nói về một sự vật nào đó quy về một sự vật khác nào đó, trong mối quan hệ với một sự vật khác và trong »một sự vật nào đó« đã có »sự vật khác nào đó.« Nói một cách khác, không có một nguyên nhân cơ bản mà chỉ có nhưng mối kết cấu, một mạng lưới duyên khởi. Và nếu chỉ có thể nói về một mạng lưới duyên khởi thì cũng không thể nào tìm thấy được một cách tồn tại độc lập, tự sinh, tự khởi. Và như vậy người ta có thể kết luận là: Tất cả đều trống không (s: śūnya) cách tuyệt một tự tính (s: svabhāva), không có một tự tính nào cả.|Theo Sư, mọi hiện hữu đều vô ngã vì nếu chúng có tự tính (s: svabhāva), tự ngã, chúng phải trường tồn bất biến, một điều kiện mà chúng không đạt được. Thế giới hiện tượng chỉ gồm những sự vật chịu dưới sự hoại diệt nên thế giới đó chỉ có thể là Không.|Ðối với Sư, tính Không có nghĩa là thiếu vắng một cái ngã, không phải là không tồn tại như là một trình hiện (có thể nói: »Tất cả là ảo ảnh không thật, nhưng có những trình hiện có vẻ như thật«). Vì vậy, nếu nói sự vật có hay không là đặt vấn đề sai. Sự thật nằm ở giữa hai khái niệm đó, trong tính Không (s: śūnyatā). Thế giới hiện tượng cũng phải được xem là sự thật, ta gọi là sự thật tương đối (Chân lí quy ước; s: saṃvṛti-satya), nó không phải là sự thật cuối cùng (Chân lí tuyệt đối; s: paramārtha-satya). Trong chân lí quy ước thì thế giới này và cả Phật pháp có giá trị. Theo chân lí tuyệt đối, tất cả chúng đều không có thật, chúng chỉ là những trình hiện. Theo Sư, thế giới hiện tượng xuất phát từ cái dụng thiên hình vạn trạng (đa dạng; s: prapañca), trên đó con người »tưởng tượng« ra và từ đó ta tưởng nhầm có một thế giới bên ngoài thật. Trong chân lí tuyệt đối thì lại vắng bóng cái dụng thiên hình vạn trạng đó. Ðộc lập với cái dụng đó thì chính là Niết-bàn. Trong Niết-bàn vắng hẳn sự đa nguyên của vạn sự, không còn quy luật nhân duyên nữa. Niết-bàn là niềm an vui tự tại (s: sahajānanda). Ðối với Long Thụ – như kinh Bát-nhã chỉ rõ – Niết-bàn và thế giới hiện tượng thật tế chỉ là một, là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn không phải là một pháp có thể chứng đắc được; chỉ cần nhận chân ra thể tính của mọi sự, trong đó cái dụng thiên hình vạn trạng nọ trở lại yên nghỉ, đó là Niết-bàn.|Tên của Long Thụ gồm từ Long (rồng, s: nāga) và Thụ (một loại cây; s: arjuna). Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn (s: brāhmaṇa) ở Trung Ấn (s: vidarbha) và xuất gia lúc còn trẻ tuổi. Ðến Na-lan-đà (s: nālandā), một trung tâm Phật học danh tiếng thuộc thành Vương xá (s: rājagṛha), Sư tu tập nghiên cứu kinh điển dưới sự hướng dẫn của La-hầu-la Bạt-đà-la (s: rāhulabhadra). Sau đó Sư trở thành Pháp sư tại ngôi chùa vĩ đại này và tương truyền rằng, trong thời gian này Sư được Long vương đem về thuỷ cung giáo hoá. Vì vậy nghệ thuật Bắc Ấn và Tây Tạng thường vẽ những con rồng trong hào quang của Sư. Khi tuổi đã cao, Sư trở về quê hương ở Trung Ấn, sống trên núi Phạm thiên (s: brahmagiri) trên cao nguyên Śrīparvata, gần sông Kṛṣṇā. Ngọn đồi với ngôi chùa bây giờ vẫn còn và được mang tên của Sư »Ðồi Long Thụ« (s: nāgārjunakoṇḍa). Các nhà nghiên cứu lịch sử sau này đã xác định được khoảng thời gian Sư hoằng hoá vì người ta biết rằng vị vua có quan hệ với Sư ngự trị từ năm 106-130 (Vua xứ Śāta-vāhana, tên Gautamīputra Śatakarṇin, được dịch âm Hán Việt là Kiều-đạt-di Phổ-đặc-la Khả-nhĩ-ni). Sư đã viết thơ khuyên vị vua này và những lời khuyên đó còn được lưu truyền trong tập Khuyến giới vương tụng.|Các tác phẩm còn được lưu lại dưới tên Sư (trích): 1. Căn bản trung quán luận tụng ([mūla-] madhyama-ka-kārikā), cũng được gọi là Trung quán luận tụng, hoặc Trung quán luận (madhyamaka-śāstra); 2. Căn bản trung quán luận thích vô uý chú (mūlamā-dhyamikavṛtti-akutobhayā), được gọi tắt là Vô uý chú, chỉ còn bản Tạng ngữ; 3. Ðại trí độ luận (mahāprajñāpāramitā-śāstra, mahāprajñāpāramito-padeśa), 100 quyển, Cưu-ma-la-thập dịch; 4. Thập nhị môn luận (dvādaśa-nikāya-śāstra, dvā-daśadvāra-śāstra), Cưu-ma-la-thập dịch; 5. Nhân duyên tâm luận tụng (pratītya-samutpāda-hṛdaya-kārikā), không biết người dịch; 6. Ðại thừa nhị thập tụng (mahāyāna-viṃśikā), Thí Hộ dịch; 7. Bảo hành vương chính luận (rājaparikathā-ratnāvalī, cũng được gọi là ratnāvalī, là Vòng bảo châu), 1 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch; 8. Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati), bản Tạng ngữ vẫn còn; 9. Thất thập không tính luận thích (śūnyatā-saptativṛtti), chú giải Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati), Nguyệt Xứng (candrakīrti) và Parahita cũng có soạn một tác phẩm dưới tên này; 10. Phương tiện tâm luận (upāya-hṛdaya), một tác phẩm về Luận lí học (nhân minh) được xem là của Sư, bản dịch Hán vẫn còn do Cát-ca-dạ dịch; 11. Tập kinh luận (sūtrasamuccaya); có hai tập dưới tên này: một tác phẩm có lẽ đã thất truyền của Tịch Thiên (śāntideva) và một tác phẩm được xem là của Sư; 12. Hồi tránh luận (vigraha-vyāvartanī, vigra-havyāvartanīkārikā), Tì-mục Trí Tiên và Cù-đàm Lưu-chi dịch chung; 13. Hồi tránh luận thích (vigraha-vyāvartanī-vṛtti); 14. Long Thụ Bồ Tát khuyến giới vương tụng (ārya-nāgārjuna-bodhisattva-suhṛllekha), Nghĩa Tịnh dịch; 15. Quảng phá kinh (vaidalya-sūtra?), Quảng phá luận (vaidalyaprakaraṇa?), bản dịch Hán và Tạng ngữ vẫn còn; 16. Lục thập tụng như lí luận (yukti-ṣaṣṭhikā), Thí Hộ dịch, cũng có bản Tạng ngữ; 17. Thập trụ tì-bà-sa luận (daśabhūmi-vibhāṣā-śāstra), 17 quyển, Cưu-ma-la-thập dịch; 18. Bồ-đề tâm li tướng luận (lakṣaṇavimukta-bodhihṛdaya-śāstra), 1 quyển, Thí Hộ dịch; 19. Ðại thừa phá hữu luận (mahāyāna-bhavabheda-śāstra), 1 quyển, Ðạt-ma Cấp-đa (dharmagupta) dịch; 20. Tán Pháp giới tụng (dharmadhātu-stotra), 1 quyển, Thí Hộ dịch; 21. Bồ-đề tư lương luận (bodhisaṃbhāraka), 6 quyển, Ðạt-ma Cấp-đa (dharmagupta) dịch.
Long Trí 龍智; S: nāgabodhi; »Kẻ trộm mọc sừng đỏ«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, đệ tử và truyền nhân của Long Thụ (s: nāgārjuna), sống trong thế kỉ thứ 9. |Ông thuộc dòng dõi Bà-la-môn và chuyên nghề ăn trộm. Khi Long Thụ ở Tinh xá Su-va-na (suvarṇa vihāra) thì ông đến rình xem. Thấy Long Thụ ăn bằng dĩa vàng, ông muốn trộm chiếc dĩa. Long Thụ nhờ tha tâm thông đọc được ý đó, ném cho ông chiếc dĩa. Ông ngạc nhiên và cảm phục, xin được theo tu học. Long Thụ Quán đỉnh, cho ông nhập môn Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra) và dạy ông tự giải thoát khỏi lòng thèm khát:|Ðừng nghĩ phải làm gì,|hãy nhất tâm quán tưởng,|những gì ngươi thèm khát,|biến thành sừng màu đỏ,|mọc ở trên đỉnh đầu.|Long Thụ nói xong, cố ý để lại nhiều châu báu trong động rồi ra đi. Ông ở lại, ngồi quán tưởng thiền định. Nhưng lòng thèm khát của ông vẫn còn nên quả nhiên sau 12 năm đầu ông mọc một cái sừng trên đầu rất khó chịu. Sau 12 năm, Long Thụ trở lại, nói:|Sừng của lòng thèm khát,|làm ngươi thật khổ thân.|Vì dính mắc vật dụng,|mà con người khổ đau.|Sự vật con người biết,|chẳng có tự tính gì,|cũng thế Sinh, Già, Chết,|như đám mây trôi nổi,|tương can gì đến ta?|Cũng thế, Tâm thanh tịnh,|không biến thành tốt xấu,|khi người biết, vật biết,|cả hai đều không thật?|Cả hai, thật không sai,|đều trống không tất cả.||H 41: Long Trí (nāgabodhi) đang tu tập tại núi Śrī Parvata.|Long Trí nhân đây ngộ được tính Không là tự tính mọi sự. Sáu tháng liên tục, ông an trú trong chính niệm, chứng sự nhất thể giữa Niết-bàn và Sinh tử, đạt thánh quả. Long Thụ ấn chứng, nhận ông làm truyền nhân của mình. Kệ chứng đạo của ông như sau:|Vui thay cho tất cả,|được sống trên địa cầu.|Từ đáy sâu đại dương,|thoát khỏi cảnh nghèo khổ;|Niềm vui cao cả nhất,|được vung kiếm trí huệ.|Bạn bè ta gặp nhau,|tâm không chút sở cầu.
Lữ 侶; C: lǚ; J: ryo;|Môn đệ, đệ tử, bạn đồng hành (s: mitra, sa-hāya).
Lu-chi-ka-pa S: lucikapa; »Kẻ lánh đời«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống thời đại nào.|Ông thuộc dòng Bà-la-môn, nhàm chán cảnh sinh tử, rút lui sống ẩn. Ngày nọ, có một Du-già sư đi ngang, ông cầu khẩn xin được theo học. Vị này cho ông bước vào Chakra samva-ra tan-tra và truyền cho ông các phép quán tưởng. Sau mười hai năm tu học, ông đạt thánh quả và bày tỏ như sau:|Niết-bàn và Sinh tử,|là hai mặt không đồng,|nhưng ta không thấy khác.|Giải thoát là Ðại lạc;|còn dính mắc điều gì,|nhất định không thể thoát.|Còn có những câu:|Ðã từ kiếp vô thuỷ,|lang thang khắp mọi nơi.|Chỉ có bậc Ðạo sư,|như con thuyền vượt sóng.|Hãy dám bước lên đường,|đi đến nơi Tự tại – ngay tức khắc!
Lu-i-pa S: lūipa; »Người ăn ruột cá«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Lu-i-pa là đệ tử của Sa-va-ri-pa (s: śavaripa), được xem là sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Ông là một vị hoàng tử đã nối ngôi vua cha, nhưng từ ngôi sống cuộc đời không nhà. Nhờ dung mạo đẹp đẽ, Lu-i-pa luôn luôn được nhiều thức ăn cúng dường. Ngày nọ, ông gặp hoá thân của một Không hành nữ (s: ḍākinī). Vị này nhìn được tâm ông và nói rằng: »Ngươi đã tu sắp thành đạt, nhưng trong tâm vẫn còn một chút kiêu mạn« và cúng dường thức ăn hư thối cho ông. Lu-i-pa vứt bỏ thì vị nữ thần lại nói: »Làm sao ngươi vượt được nhị nguyên, đạt Niết-bàn nếu ngươi còn phân biệt thức ăn ngon dở?«.|Tỉnh ngộ, ông tu tập, hành trì một Nghi quỹ mười hai năm liên tục nhằm đối trị sự kiêu mạn, từ bỏ mọi giá trị thế gian, chỉ biết ăn ruột cá và cuối cùng đạt được diệu nghĩa Ðại thủ ấn. Lu-i-pa có nghĩa »người ăn ruột cá«, được kể là người đầu tiên trong 84 vị Tất-đạt. Bài ca ngộ đạo của Lu-i-pa như sau:|Như một con chó điên,|bị bôi mật vào mũi,|có gì ngấu nghiến đó.|Cho kẻ khùng thế gian,|nghe bí mật Ðạo sư,|nó đốt cháy tâm thức|và cả dòng truyền thừa.|Cho một kẻ nhạy cảm,|biết Thật tại bất sinh,|thì chỉ một thoáng nhìn,|nơi linh ảnh Ðạo sư,|về ánh sáng thanh tịnh,|đủ phá tan ảo giác;|như một con voi say,|xông vào hàng ngũ địch,|mang gươm báu trên vòi
Lư Sơn 廬山; C: lúshān;|Một trung tâm Phật giáo Trung Quốc thuộc tỉnh Giang Tây ngày nay, rất được thịnh hành trong khoảng năm 380. Trong số các Cao tăng từng sống tại Lư Sơn có Huệ Viễn và Ðạo Sinh. Huệ Viễn đã thành lập trên núi Lư Sơn Bạch liên hoa xã (hội hoa sen trắng) và khai sáng tông Tịnh độ với cách niệm Phật A-di-đà.|Ngôi chùa đầu tiên được xây dựng tại Lư Sơn vào khoảng năm 367, trước đó đây là một vùng tu tiên của các vị theo đạo Lão. Tương truyền rằng ở đây có một vị sống hơn 300 tuổi và sau đó đi vào thế giới bất tử. Một truyền thuyết khác kể rằng An Thế Cao trên đường du hành vào Lư Sơn đã gặp một con trăn thần, vốn là thú cai trị ngọn núi. Sư giáo hoá con trăn đó và sử ghi lại rằng, con trăn này chính là hậu kiếp của một người bạn cũ.
Lữ trang 旅装; C: lǚ zhuāng; J: ryosō;|Vật dụng của các vị tăng (ni) hành cước.
Luận 論; S: śāstra;|Luận giải về giáo pháp đạo Phật, do các Luận sư Ðại thừa trình bày. Phần lớn các luận giải thích các Kinh (s: sūtra). Về mặt tính chất, luận khác kinh ở chỗ rất có tính lí luận đúng sai. Luận là một thành phần cơ bản trong Tam tạng của Phật giáo Trung Quốc.
Luân hồi 輪迴; S, P: saṃsāra; T: 'khor ba; nguyên nghĩa Phạn ngữ là »Lang thang, trôi nổi«; có khi được gọi là Vòng sinh tử, hoặc Sinh tử (生死);|Chỉ những đời sống tiếp nối nhau, trạng thái bị luân chuyển của một loài Hữu tình khi chưa đạt giải thoát, chứng ngộ Niết-bàn. Nguyên nhân trói buộc trong luân hồi là các pháp Bất thiện (s: akuśala), gồm có Ái (s: tṛṣṇā), sân (s: dveśa) và Si (s: moha) hay Vô minh (s: avidyā). Nghiệp (s: karma) là động cơ tác động lên cơ chế của sự tái sinh. Trong Ðại thừa, luân hồi được xem là thế giới của hiện tượng và thể tính của nó chính là thể tính của Niết-bàn.|Cội nguồn của luân hồi từ đâu, Hữu tình có từ bao giờ…, những câu hỏi này đã được nhiều người nêu lên nhưng Phật tuyệt đối không trả lời những sự thắc mắc vô bổ này vì theo Ngài, chúng chẳng giúp ít gì trên con đường tu tập. Niết-bàn, sự giải thoát khỏi luân hồi chỉ có thể thực hiện trong kiếp làm người; trong tất cả con đường tái sinh khác chúng sinh không thể đạt Bồ-đề vì không có đủ khả năng nhận thức được yếu tố chính của luân hồi, đó là tham và vô minh.
Luận sư 論師; S: ābhidharmika; P: ābhidhammika;|Chỉ một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni chuyên nghiên cứu A-tì-đạt-ma. Ðiều đó không có nghĩa rằng, họ không học Kinh và Luật của Tam tạng. Theo truyền thống, Phật Thích-ca được xem là Luận sư đầu tiên mặc dù Luận tạng được Kết tập sau khi Phật nhập Niết-bàn.|Danh từ Luận sư được dịch theo cách dịch nghĩa của A-tì-đạt-ma là Luận, Luận tạng. Như thế người chuyên học Kinh tạng là một Pháp sư và vị chuyên học Luật tạng là một Luật sư.|Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ (Thượng toạ bộ), các vị Luận sư thường có nhiều uy tín hơn các vị tăng sĩ khác. Trong chuyến hành hương Ấn Ðộ, Pháp Hiển có kể lại về một Bảo Tháp chỉ được xây dựng nhằm tán thán A-tì-đạt-ma và được các Luận sư hành lễ trong những ngày nhất định.|Dần dần, danh từ Luận sư được dùng chỉ những Cao tăng với những bài luận giải (s: śāstra), đóng góp lớn cho sự phát triển của tư tưởng Phật giáo. Các vị như Long Thụ, Thế Thân, Vô Trước… đều được gọi là Ðại luận sư.
Luận tạng 論藏; S: abhidharma-piṭaka; P: abhidhamma-piṭaka;|Tên dịch ý của tạng thứ ba trong Tam tạng, dịch âm là A-tì-đạt-ma.
Luật sư 律師|Chỉ người chuyên tu học Luật tạng của Phật giáo. Danh hiệu này được sử dụng nhiều trong Phật giáo Trung Quốc khi Luật tông ra đời.
Luật tạng 律藏; S, P: vinaya-piṭaka;|Là phần thứ ba của Tam tạng, quy định về việc sống tập thể của chư tăng, chư ni. Luật tạng có nhiều hệ khác nhau (như Luật tạng của Thượng toạ bộ, Pháp Tạng bộ, Nhất thiết hữu bộ).|Luật tạng gồm có 3 phần: 1. Các quy định dành cho Tỉ-khâu (s: bhikṣuvibhaṅga); 2. Các quy định dành cho Tỉ-khâu-ni (s: bhik-ṣuṇīvibhaṅga); 3. Các quy định trong đời sống hàng ngày (乾度; Kiền độ; khandhaka) như ăn uống, áo quần…|Chi tiết các quy định như sau:|1. Quy định dành cho tỉ-khâu gồm có 8 chương: |a) Ba-la-di (波羅夷; s, p: pārājika): bị trục xuất nếu phạm các tội giết, trộm cắp, hành dâm, nói dối là đã đạt Thánh quả; b) Tăng tàn (僧殘; s: saṅ-ghāvaśeṣa; p: saṅghādisesa): Tạm thời trục xuất nếu phạm một trong 13 tội như vu cáo, gây bất bình, tà dâm với phụ nữ…; c) Bất định (不定; s, p: aniyata): Quy định về các lỗi không được ghi ra trước; d) Xả đoạ (捨墮; s: naihsargika; p: nissag-gika): 30 lỗi cần phải từ bỏ về quần áo, ăn uống, thuốc men; e) Ba-dật-đề (波逸提; s: pātayantika; p: pācittiya): 90 lỗi nhẹ cần phạt như la lối, không nghe lời, dối trá; f) Hối quá (悔過; s: prati-deśanīya; p: pātidesanīya): 4 lỗi xung quanh việc ăn uống; g) Chúng học (眾學; s: śikṣākaranīya, p: sekhiya): Các quy định về giao tiếp, xử sự; h) Diệt tránh (滅諍; s: adhikaranaśamatha): Các quy định về hoà giải tranh chấp.|2. Quy định dành cho tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī-vi-bhaṅga) cũng có các chương đó nhưng cụ thể thì nghiêm khắc hơn nhiều.|3. Các quy định về đời sống hàng ngày (khan-dhaka) của tỉ-khâu, tỉ-khâu-ni cũng như trong các ngày đặc biệt trong tháng, hay trong mùa mưa, các quy định khi sống không nhà.|Trong Luật tạng cũng có phần đúc kết các quy định và đọc lên trong những ngày lễ cho mọi người cùng nghe, mỗi vị tỉ-khâu hoặc tỉ-khâu-ni đều có bản phận nhận lỗi công khai nếu vi phạm (Ba-la-đề mộc-xoa; s: prātimokṣa).
Luật tông 律宗; C: lǜzōng; J: ritsu-shū;|Tông phái Phật giáo Trung Quốc do Ðạo Tuyên (596-667) thành lập. Giáo pháp của phái này dựa trên Luật tạng của Pháp Tạng bộ (s: dharmaguptaka), được ghi lại với tên Tứ phần luật. Chủ trương của giáo pháp này là giữ giới luật một cách nghiêm ngặt. Những quy luật này bao gồm 250 quy định cho tăng và 348 cho ni giới. Mặc dù các bộ Luật xuất phát từ Tiểu thừa, nhưng Ðại thừa Trung Quốc cũng đều tuân thủ nghiêm túc. Tông này được truyền qua Nhật năm 745.|Theo Ðạo Tuyên, việc giữ giới luật là một yếu tố quan trọng trong tu học. Sư nhấn mạnh đến tính quan trọng của việc quy y thế phát và ghi rõ các quy định của đời sống xuất gia.|Luật tông (j: ritsu-shū) Nhật Bản, xuất phát từ Luật tông Trung Quốc, được Giám Chân (鑒真; j: ganjin) Luật sư truyền qua Nhật năm 745. Ngày nay, Luật tông Nhật Bản vẫn còn tồn tại, nhưng không có ảnh hưởng tư tưởng nhiều trong nền Phật giáo tại đây.
Lực 力; C: lì; J: riki, ryoku;|1. Lực, sức mạnh, năng lực, khả năng; 2. Sự chuyển động, công năng; 3. Cố gắng, tinh tiến, nỗ lực; 4. Một quân sĩ, một kị sĩ (s: bala, sthāman); 5. Một trong 80 tướng đặc thù của một vị Phật; 6. Năng lực siêu nhiên; 7. Một trong Thập như thị (十如是) được dạy trong kinh Pháp Hoa.
Lực ba-la-mật 力波羅蜜; C: lìbōluómì; J: rikiharamitsu; S: bala-pāramitā.|Sự toàn hảo của năng lực tu hành và nhận thức, ví như có thể đạt giác ngộ một cách không lầm lạc. Một trong mười Ba-la-mật (Thập ba-la-mật 十波羅蜜).
Lục ba-la-mật 六波羅蜜; C: liù pōluómì; J: ropparamitsu;|Sáu pháp Ba-la-mật (波羅蜜; s: pāramitā). Hạnh thanh tịnh của hàng Bồ Tát, đều lưu xuất từ quan điểm không vướng mắc vào lợi lạc của riêng mình (dựa trên trí huệ về tính không). Đó là: Bố thí (布施; s: dāna), Trì giới (持戒; s: śīla), Nhẫn nhục (忍辱; s: kṣānti), Tinh tiến (精進; s: vīrya), Thiền định (禪定; s: dhyāna), và Trí huệ (智慧; s: prajñā). Còn gọi là Lục độ (六度). Kinh văn đề cập sâu đến Lục Ba-la-mật là Thủ-lăng-nghiêm tam-muội kinh (首楞嚴三昧經; s: śūraṃgama-samādhi-sūtra).
Lực ba-la-mật-đa 力波羅蜜多; C: lì bōluómìduō; J: riki haramit-ta;|Lực ba-la-mật (力波羅蜜).
Lục ba-la-mật-đa 六波羅蜜多; C: liùbōluómìduō; J: ropparamitta;|Lục Ba-la-mật (六波羅蜜).
Lục căn 六根; S: ṣaḍindriya;|Chỉ sáu giác quan, đó là 1. Mắt (nhãn), 2. Tai (nhĩ), 3. Mũi (tỉ), 4. Lưỡi (thiệt), 5. Thân, 6. Ý (khả năng suy nghĩ; s: manas).
Lục chủng nhân 六種因; C: liùzhǒngyīn; J: rokushuin;|Lục nhân (六因).
Lục chủng nhiễm tâm 六種染心; C: liùzhǒng rănxīn; J: rokushu zen-shin;|Lục nhiễm tâm (六染心).
Lục cú nghĩa 六句義; C: liùjùyì; J: rokukōgi;|Sáu phạm trù (s: padārtha) hiện hữu do các trường phái ngoại đạo Ấn Độ như Thắng luận tông (勝論宗; s: vaiśeṣika) đề ra. Sáu phạm trù (s: padārtha) là: 1. Thật (實; s: dravya): thật thể các pháp; 2. Đức (徳; s: guṇa): Công năng, thuộc tính; 3. Nghiệp (業; s: karma): chỉ cho sự tạo tác, vận động; 4. Đồng (同; s: sāmānya): tính chất chung của các pháp; 5. Dị (異; s: viśeṣa): tính chất riêng của các pháp; 6. Hoà hợp (和合; s: sama-vaya): Sự nhiếp thuộc lẫn nhau giữa toàn thể và riêng biệt, giữa Thật và Đức, giữa Đồng và Dị. |Lục cú nghĩa không phái chỉ là những khái niệm, mà còn là thật thể (s: artha) được diễn đạt bằng ngôn ngữ (s: pada) tương ưng. Những điều nầy đều có trong bản Thắng luận (s: vaiśeṣika-sūtra), gồm 10 phẩm (s: adhyāya).
Lục đạo 六道; C: liùdào; J: rokudō; S: ṣaḍakula;|Sáu đường tái sinh; chỉ các dạng đời sống (gati) trong Luân hồi, trong Vòng sinh tử. Người ta phân biệt ba »thiện đạo« và ba »ác đạo« Ba thiện đạo gồm có cõi người (人; s: nāra), Thiên (天; s: deva) và A-tu-la (阿修羅; s: āsura). Ba ác đạo gồm Ngạ quỷ (餓鬼; s: preta), Ðịa ngục (地獄; s: nāraka) và súc sinh (畜生; s: paśu). Sáu cõi này nằm trong Ba thế giới.|Ba thế giới gồm có dục giới, sắc giới và vô sắc giới. Dục giới gồm sáu cõi thiên thấp nhất, loài người… Sắc giới gồm 17 tầng thiên giới và vô sắc giới gồm 4 tầng trời thiền định. Các thế giới này không khác nhau về thể tính, chỉ khác về nghiệp. Trong cả ba thế giới này thì thọ mệnh đều có hạn, tuy nhiên chỉ có loài người trong ba thế giới đó mới được giải thoát, vì thế đạo Phật coi trọng thân người hơn thiên giới và gọi là »thân người quý báu« Trong luân hồi, được sinh làm người được xem là hiếm hoi và là cơ hội quý báu để giác ngộ.
Lực đáo bỉ ngạn 力到彼岸; C: lì dàobǐàn; J: riki tōhigan;|Sự toàn hảo của năng lực (thực hành và nhận thức). Lực ba-la-mật (力波羅蜜).
Lục đáo bỉ ngạn 六到彼岸; C: liùdàobǐàn; J: rokutōhigan;|Sáu pháp Ba-la-mật. Lục Ba-la-mật (六波羅蜜).
Lục diệu pháp môn 六妙法門; C: liù miàofǎ mén; J: roku myouhou mon;|Sách; 1 quyển; Trí Khải (智顗) soạn.
Lục độ 六度; C: liùdù; J: rokudo; S: ṣāḍpāramitā; cũng được gọi là Lục ba-la-mật-đa (六波羅蜜多);|Sáu hạnh Ba-la-mật-đa (độ) là: 1. Bố thí ba-la-mật-đa (s: dānapāramitā), 2. Giới b. (śīla-pāramitā), 3. Nhẫn nhục b. (kṣāntipāramitā), 4. Tinh tiến b. (vīryapāramitā), 5. Thiền định B. (dhyānapāramitā) và 6. Trí huệ b. (prajñāpāramitā). Có khi người ta kể thêm bốn hạnh nữa, gọi chung là Thập độ, đó là: 7. Thiện xảo Phương tiện b. (upāya-kauśalya-p.), 8. Nguyện b. (praṇidhāna-p.), 9. Lực b. (bala-p.) và 10. Trí b. (jñāna-p.).|Bố thí (布施) bao gồm việc chia xẻ của cải vật chất và tinh thần cho người khác. Muốn được như thế, cần có lòng từ bi hỉ xả, sẵn sàng nhường cả phúc đức cho người khác. Giới (戒) là thái độ sống đúng đắn, từng bước loại trừ mọi tham ái, quyết tái sinh vào một nơi thuận lợi, vì ích lợi của mọi chúng sinh. Nhẫn nhục (忍辱) xuất phát từ tri kiến rằng, mọi phiền não trên đời đều có nguyên nhân của chúng, cần kiên nhẫn và thông cảm chúng. Tinh tiến (精進) là lòng quyết tâm không gì lay chuyển. Thiền định (禪定) chỉ phương pháp thiền quán, nhờ đó từ bỏ được ngã chấp và cảm thụ được vui buồn của chúng sinh. Trí huệ (智慧) là đạt được cấp giác ngộ vô thượng.
Lục dụ 六喩; C: liùyù; J: rokuyu;|Sáu ẩn dụ. 1. Trong kinh Kim Cương, sáu ví dụ về Không và Vô thường là: mộng, huyễn, bọt bóng, ảnh, sương móc, điện chớp; 2. Trong kinh Duy-ma-cật là: huyễn, điện chớp, mộng, lửa, ánh trăng chiếu trên mặt nước và hình ảnh phản chiếu trong gương; 3. Theo Quán Phật tam-muội hải kinh (觀佛三昧海經), 6 ví dụ tương ứng với những công đức khác nhau khi niệm danh hiệu Phật; 4. Trong Ngũ gia giải thuyết nghị (五家解説誼) của Kỉ Hoà, 6 dụ là 6 màu sắc biểu tượng cho sáu phương diện của tâm giác ngộ.
Lục dục thiên 六欲天; C: liùyùtiān; J: rokuyokuten;|Sáu tầng trời cõi Dục. Phía trên núi Tu-di (s: sumeru) là 6 tầng trời, xếp cao lên dần, trãi dài về hướng cõi Sắc giới. Sáu tầng trời cõi Dục là:|1. Tứ đại vương chúng thiên (四大王衆天): canh giữ 4 khu vực của thế gian ở bên dưới. Bốn vị vua là: Trì quốc thiên (持國天; s: dhṛita-rāṣṭra) cai quản phương Đông, Tăng thượng thiên (増上天; s: virūḍhaka) cai quản phương Nam, Quảng mục thiên (廣目天; s: virūpākṣa) cai quản phương Tây và Đa văn thiên (多聞天; s: vaiśravanā) cai quản phương Bắc; |2. Tam thập tam thiên (三十三天; s: trāyas-triṃśa) còn gọi là Đao lợi thiên (忉利天): gồm 33 cõi trời do 33 vị vua trời cai quản; 3. Dạ-ma thiên (夜摩天; s: yāma): cõi trời do Tu-dạ-ma thiên cai quản; 4. Đố-sử-đa thiên (睹史多天) còn gọi là Đâu-suất thiên (兜率天; s: tuṣita), là cõi Hỉ túc thiên, nơi Bồ Tát Di-lặc chuẩn bị thị hiện ở thế gian để thành Phật trong kiếp kế sau; |5. Lạc biến hoá thiên (樂變化天; s: nir-māṇa-rati): cõi trời nơi ước muốn của mình được thành tựu như ý một cách kì diệu;|6. Tha hoá tự tại thiên (他化自在天; s: paranirmita-vaśa-vartin): cõi trời mà chúng sinh ở đó có thể hưởng được những niềm vui từ những chúng sinh khác, cũng là nơi ma Ba tuần, vua của các loài Ma cư ngụ.
Lục gia thất tông 六家七宗|Biểu thị chỉ các tông phái trong thời kì đầu của Phật giáo Trung Quốc, khoảng thế kỉ thứ 4. Các tông phái này đều xuất phát từ việc nghiên cứu kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (prajñāpāramitā-sūtra) và vì vậy phải lí giải tính Không (空; s: śūnyatā). Dưới ảnh hưởng của Lão giáo, các nhà Phật học Trung Quốc thời đó liên tưởng ngay đến khái niệm Vô (無) để tiếp cận chữ Không. Cuối cùng phát sinh rất nhiều tông phái, mỗi người hiểu Không một cách khác nhau, đó là Lục gia thất tông.
Lục hạnh 六行; C: liùxíng; J: rokugyō;|Có hai nghĩa: 1. Sáu công hạnh, sáu pháp tu (của hàng Bồ Tát), còn gọi là Lục độ (六度); 2. Theo kinh Kim Cương tam-muội (金剛三昧經), đó là sự tu tập hướng đến các giai vị Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行), Thập hồi hướng (十廻向), Thập địa (十地) và Đẳng giác (等覺).
Lục hiện quán 六現觀; C: liùxiànguān; J: rokugenkan;|Sáu phương pháp nhận thức rõ ràng cảnh giới hiện hữu căn cứ vào trí hữu lậu và trí vô lậu theo cách giải thích của Duy thức tông. Đó là: 1. Tư hiện quán (思現觀): Huệ phát sinh từ tư duy y cứ vào lòng hoan hỉ; 2. Tín hiện quán (信現觀): Tâm tịnh tín hữu lậu và vô lậu vào Tam bảo. Đây là niềm tin không có gì làm thối chuyển; 3. Giới hiện quán (戒現觀): giới vô lậu, làm cho nội quán càng thêm sáng; 4. Trí đế hiện quán (智諦現觀): Căn bản trí và hậu đắc trí quán sát chân như trong giai vị Kiến đạo và Tu đạo; 5. Biên trí đế hiện quán (邊智諦現觀): Thế trí và Xuất thế trí y cứ vào các tướng thuộc chân như (an lập đế); 6. Cứu cánh hiện quán (究竟現觀): 10 trí vô lậu (Thập trí 十智) có trong Cứu cánh vị. Hiện quán.
Lục hoà kính 六和敬; C: liùhé jìng; J: rokuwakyō; S: śaḍ-sāramyadharma;|Sáu điều hoà đồng, kính ái mà những người tu học Phật pháp nên thực hiện để đạt Giác ngộ. Lục hoà kính bao gồm:|1. Thân nghiệp đồng (身業同): cùng một thân nghiệp hoà kính như lễ bái, làm việc thiện…; 2. Khẩu nghiệp đồng (口業同): cùng nói những lời hay…; 3. Ý nghiệp đồng (意業同): cùng chung ý chí; 4. Ðồng thí (同施): cùng chia xẻ vật chất với nhau; 5. Ðồng giới (同戒): cùng chuyên giữ giới luật; 6. Ðồng kiến (同見): cùng chung kiến giải.
Lục hợp 六合; C: liùhé; J: rikugō;|Gồm sáu nơi: Trên trời, dưới đất và bốn hướng; nói cách khác, là toàn thể vũ trụ (theo Bích nham lục 碧巖録).
Lục môn đà-la-ni kinh 六門陀羅尼經; C: liùmén tuóluóníjīng; J: rokumon daranikyō; S: ṣaṇmukhī-dhāraṇī; T: ['phags pa] sgo drug shes bya ba'i gzungs; |Kinh, 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 645 tại chùa Hoằng Phúc (弘褔寺). Luận giải kinh nầy bằng tiếng Phạn: Lục môn đà-la-ni kinh luận (六門陀羅尼經論; s: ṣaṇmukhī-dhāraṇī-vyākhyāna). Sáu cửa là 6 giác quan; Đà-la-ni (s: dhāranī) giống như thần chú (s: mantra), dễ tụng đọc, cầu nguyện.
Lục môn đà-la-ni kinh luận 六門陀羅尼經論; C: liù mén tuóluóníjīng lùn; J: roku mon daranikyō ron; S: ṣaṇmukhī-dhāraṇī-vyākhyāna; T: sgo drug pa'i gzungs kyi rnam par bshad pa.|Luận, 1 quyển. Được xem là của Thế Thân (世親; s: vasubandhu). Dịch giả khuyết danh.
Lục nhân 六因; C: liùyīn; J: rokuin;|Sáu loại nguyên nhân: Năng tác nhân (能作因), Câu hữu nhân (倶有因), Tương ứng nhân (相應因), Đồng chủng nhân (同種因), Biến hành nhân (遍行因), Dị thục nhân (異熟因).
Lục nhập 六入|Lục xứ (六處).
Lục nhiễm 六染; C: liùrăn; J: rokuzen;|Lục nhiễm tâm (六染心).
Lục nhiễm tâm 六染心; C: liùrănxīn; J: rokuzenshin;|Sáu loại phiền não làm ô nhiễm tâm được chủ trương trong Đại thừa khởi tín luận. Mặc dù thể của tâm vốn là thanh tịnh, nhưng vô minh sinh khởi từ (một niệm) bất giác vọng động, nên tâm trở nên bị trói buộc trong phiền não, có thể thấy trong 6 phương diện: 1. Chấp tương ưng nhiễm (執相應染); 2. Bất đoạn tương ưng nhiễm (不斷相應染); 3. Phân biệt trí tương ưng nhiễm (分別智相應染); 4. Hiện sắc bất tương ưng nhiễm (現色不相應染); 5. Năng kiến tâm bất tương ưng nhiễm (能見心不相應染); 6. Căn bản nghiệp bất tương ưng nhiễm (根本業不相應染).|Hai loại đầu tương ưng với 6 thức đầu (lục thức 六識), loại thứ 3 tương ưng với thức thứ 7, ba loại cuối cùng tương ưng với thức thứ 8 (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Lục phàm 六凡; C: liùfán; J: rokubon;|Sáu cõi phàm phu (chúng sinh chưa giác ngộ) trong Thập giới (十界): Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Người, Trời. Lục phàm tứ thánh (六凡四聖).
Lục phàm tứ thánh 六凡四聖; C: liùfán sìshèng; J: rokubon-shishō;|Mười cõi. Sáu cõi đầu là cõi giới của phàm phu (chúng sinh chưa giác ngộ) gồm: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, A-tu-la, Người, Trời. Bốn cõi giới sau là cõi giác ngộ của Thanh Văn, Duyên Giác, Bồ Tát và Phật.
Lục pháp 六法; C: liùfǎ; J: roppō;|Có hai nghĩa: 1. Sáu pháp mà hành giả phải thường quán niệm: niệm Phật, niệm Pháp, niệm Tăng, niệm giới, niệm thí, niệm thiên; 2. Sáu điều giới hàng Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā) phải giữ.
Lục pháp giới 六法戒; C: liùfǎjiè; J: roppōkai;|Lục pháp sự (六法事).
Lục pháp sự 六法事; C: liùfǎshì; J: roppōji;|Sáu điều giới hàng Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā; p: sikkhamānā) phải giữ (nữ học chúng xuất gia từ 18 đến 20 tuổi): không dâm dục, không trộm cắp, không sát hại, không nói dối, không uống rượu, không ăn phi thời.
Lục phiền não 六煩惱; C: liùfánnăo; J: rokubonnō;|Sáu phiền não căn bản, từ đó phát sinh các thứ Tùy phiền não (隨煩惱): Tham (貪, còn gọi là Ái 愛), Sân瞋, Si癡, Mạn (慢), Nghi (疑), và (tà) Kiến (見). Phiền não (煩惱).
Lực sĩ 力士; C: lìshì; J: rikishi;|1. Một người có sức mạnh lớn, một anh hùng, một vị thần (s: vīra, mahābalavān); 2. Một chủng tộc sống ở nơi Phật Thích-ca Mâu-ni nhập diệt.
Lục sư ngoại đạo 六師外道; C: liùshī wàidào; J: rokushi gedō;|Sáu vị luận sư lớn chủ trương lí thuyết trái với Phật pháp ở miền Trung Ấn vào thời Phật Thích-ca Mâu-ni: 1. San-xà-da Tì-la-chi-tử (珊闍耶毘羅胝子; p: sañjaya-velaṭ-ṭhiputta): chủ trương chủ nghĩa hoài nghi; 2. A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la (阿耆多翅舍欽婆羅; p: ajita-kesakambarin): chủ trương duy vật luận; 3. Mạt-già-lê Câu-xá-lê (末伽梨拘舍梨; p: makkhali-gosāla): chủ trương thuyết định mệnh; 4. Phú-lan-na Ca-diếp (富蘭那迦葉; p: purāṇa-kassapa): phủ nhận giá trị chân thật của thiện ác, do vậy không quý trọng đạo đức; 5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (迦羅鳩馱迦旃延; p: pakudha-kaccāyana): giải thích sự hiện hữu của thế giới thông qua 7 yếu tố cơ bản; 6. Ni-kiền-đà Nhã-đề-tử (尼乾陀若提子; p: nigaṇṭha-nātaputta): người sáng lập Kì-na giáo, theo chủ thuyết tương đối. Còn gọi là Ngoại đạo Lục sư (外道六師, theo kinh Tạp A-hàm quyển 43, kinh Tiễn mao thuộc Trung A-hàm quyển 57).
Lục tặc 六賊; C: liùzéi; J: rokusoku;|»Sáu kẻ trộm«. Chỉ 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý thường đem lại phiền não.
Lục thần thông 六神通; C: liùshéntōng; J: rokujinzū;|Sáu năng lực siêu nhiên (s: ṣaḍ abhijñāḥ) của một vị Phật, là sáu loại thần thông. Đó là: 1. Thần cảnh thông, Thân thông, Thân như ý thông, Thần túc thông (神境通,身通, 身如意通, 神足通); 2. Thiên nhãn thông (天眼通): có thể nhìn thấy toàn bộ tiến trình lưu chuyển của chúng sinh qua 6 cõi luân hồi; 3. Thiên nhĩ thông (天耳通): có thể nghe được toàn thể những tiếng khổ vui mà chúng sinh trải qua trong 6 cõi luân hồi; 4. Tha tâm thông (他心通): năng lực nhận biết tâm niệm của tất cả chúng sinh trong 6 cõi luân hồi; 5. Túc mệnh thông, Túc trú thông (宿命通,宿住通): năng lực nhận biết mọi sự việc xảy ra trong vô lượng kiếp trước mà chúng sinh đã trải qua, cũng như biết được toàn bộ thọ mệnh của chúng sinh trong trong 6 cõi luân hồi; 6. Lậu tận thông (漏盡通): năng lực chuyển hoá toàn bộ phiền não trong ba cõi, thế nên không còn là đối tượng của sinh diệt trong ba cõi nữa. Còn gọi là Lục thông (六通). Trong đó, loại thứ 2, thứ 5 và 6 được gọi là Tam minh 三明. Ngũ thần thông.
Lục thập nhị kiến 六十二見; C: liùshíèr jiàn; J: rokujūniken;|Sáu mươi hai tà kiến. Nhiều bản dịch có nội dung khác nhau về Sáu mươi hai tà kiến được thấy trong các kinh Duy-ma (維摩經; s: vimalakīrti-nirdeśa-sūtra), kinh Đại Bát-niết-bàn (s: mahāparinirvāṇa-sūtra), A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa-bhāṣya) và trong nhiều bộ kinh khác.
Lục thô 六麁 (麤); C: liùcū; J: rokuso;|Sáu tướng thô của vô minh được đề cập trong Đại thừa khởi tín luận: 1. Trí tướng (智相): tác dụng của hiện thức phát sinh ý phân biệt các pháp; 2. Tương tục tướng (相續相): Dựa vào sự phân biệt của trí tướng mà có sự sinh khởi các cảm giác vui khổ; 3. Chấp thủ tướng (執取相): sự chấp trước vào ý tưởng tương tục tướng; 4. Kế danh tự tướng (計名字相): định danh cho các ý tưởng chấp trước trên; 5. Khởi nghiệp tướng (起業相): tạo ra nghiệp thiện ác do các ý tưởng chấp trước trên; 6. Nghiệp hệ khổ tướng (業繫苦相): chịu luân hồi vì bị trói buộc trong nghiệp do những ý tưởng chấp trước nầy.|Sáu loại thô nầy được xem là đối nghịch với Tam tế (三細).
Lục thô tướng 六麁 (麤) 相; C: liùcūxiāng; J: rokusosō;|Lục thô (六麁).
Lục thông 六通; C: liùtōng; J: rokutsū; S: ṣāḍabhijñāna; Thông, thắng trí: s: abhijñā; p: abhiññā;|Sáu thắng trí mà Phật, Bồ Tát hay A-la-hán đạt được. Trong sáu thắng trí đó, người ta phân ra hai loại: 1. Thế tục: đó là năm thắng trí đầu tiên, đạt được do Tứ thiền định (s: dhyāna) mang lại; 2. Xuất thế: thần thông thứ sáu, đạt được nhờ thâm nhập Quán (s: vipaśyanā).|Sáu thắng trí này đều được Tiểu thừa lẫn Ðại thừa công nhận. Ðó là : 1. Thần thông (神通) hoặc Như ý thông (如意通; s: ṛddhividdhi-abhijñā); 2. Thiên nhĩ thông (天耳通; s: divyaśrotam-abhijñā), nghe được tất cả mọi âm thanh; 3. Tha tâm thông (他心通; s: cetaḥpayyāya-abhijñā), tức là rõ được ý của kẻ khác; 4. Túc mệnh niệm (宿命念; s: pūrvanivāsānusmṛti-abhijñā), biết các tiền kiếp của chính mình; 5. Thiên nhãn thông (天眼通; s: divyacakṣur-abhijñā), nhìn thấy địa ngục, chư thiên…; 6. Lậu tận thông (漏盡通; s: āśravakṣaya-abhijñā), biết rõ mình đã giải thoát, đoạn diệt ô nhiễm, là thắng trí xuất thế.
Lục thú 六趣; C: liùqù; J: rokushu;|Sáu vận mệnh. Sáu dạng đầu thai trong cõi sinh tử luân hồi. Lục đạo (六道).
Lục thức 六識; C: liùshì; J: rokushiki;|Sáu thức, là chức năng của 6 căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý tiếp xúc với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp để có được các hoạt dụng thấy (nhãn thức), nghe (nhĩ thức), ngửi (tỉ thức), nếm (vị thức), xúc chạm (thân thức) và hay biết (ý thức). Theo Du-già hành tông thì còn có tiềm thức ngoài 6 thức nầy (Nhị thức 二識).
Lục tổ đàn kinh 六祖壇經; C: liùzǔ tánjīng; J: rokuso dankyō; E: the platform sutra of the sixth patriarch.|Tập trung vào lời giảng của Tổ sư Thiền tông Huệ Năng tại Thiều Châu (韶州), bản kinh nầy bao gồm toàn bộ pháp ngữ và hành trạng của Lục tổ. Điểm quan trọng nhất của các bài pháp nầy là giáo lí đốn ngộ, sự trực nhận ra tự tính chính mình và thể đồng nhất của giới (s: śīla), định (s: dhyāna), và huệ (s: prajñā). Cái gọi là Thiền Nam tông (đốn ngộ) của Phật giáo Trung Hoa căn cứ vào giáo lí của bản kinh rất có uy thế nầy. Philip Yampolsky đã dịch kinh nầy sang tiếng Anh.
Lục tự chú vương kinh 六字呪王經; C: liùzì zhòuwáng jīng; J: rokujijuō kyō;|Lục tự thần chú vương kinh (六字神呪王經).
Lục tự thần chú vương kinh 六字神呪王經; C: liùzì shénzhòu wáng jīng; J: rokuji shinju ō kyō; S: ṣaḍakṣara-vidyā; t: yi ge drug pa'i rig sngags;|Sự cầu nguyện năng lực tiêu trừ tai chướng của Bồ Tát Quán Thế Âm. Gồm có các bản sau:|1. Lục tự chú vương kinh (六字呪王經), 1 quyển, không rõ người dịch, hoàn chỉnh năm 317-420; 2. Lục tự thần chú vương kinh (六字神呪王經), 1 quyển, hoàn chỉnh năm 502-557, không rõ người dịch; 3. Thỉnh Quán Thế Âm Bồ Tát tiêu phục độc hại đà-la-ni chú kinh (請觀世音菩薩消伏毒害陀羅尼呪經), 1 quyển. Gọi tắt là Tiêu phục độc hại kinh (消伏毒害經), Thỉnh Quán Thế Âm kinh (請觀世音經), Quán Âm kinh (觀世音經); Nan-đề (難提; s: nandi) dịch. Luận giải kinh nầy bằng tiếng Hán gồm có: Thỉnh Quán Âm kinh sớ (請觀音經疏) của Trí Khải (智顗), Thỉnh Quán Âm kinh sớ xiển nghĩa sao (請觀音經疏闡義鈔) của Trí Viên (智圓); 4. Thánh lục tự đại minh vương đà-la-ni (聖六字大明王陀羅尼經), 1 quyển, Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch.
Lục tướng 六相; C: liùxiāng; J: rokusō;|Sáu tướng có thể thấy được nơi hữu tình chúng sinh theo giáo lí tông Hoa Nghiêm. Đó là: Tổng (總), Biệt (別), Đồng (同), Dị (異), Thành (成), Hoại (壞). Trong tư tưởng Hoa Nghiêm, 6 tướng nầy được xem hoàn toàn tương nhiếp lẫn nhau.
Lục tuỳ niệm 六隨念; S: ṣaḍanusmṛtaya; cũng được gọi là Lục niệm xứ (六念處), Lục niệm (六念);|Sáu việc mà một tu sĩ luôn luôn tâm niệm, nghĩ nhớ đến. Lục tuỳ niệm gồm: 1. Phật (s: buddha); 2. Pháp (s: dharma); 3. Tăng (saṅgha); 4. Giới (s: śīla); 5. Bố thí (dāna); 6. Thiên (deva).
Lục xứ 六處; hoặc Lục nhập (六入); S: ṣaḍāyatana; P: saḷāyatana;|»Sáu xứ« tức là sáu đối tượng của sáu giác quan (Lục căn): 1. Sắc xứ, đối tượng của mắt, 2. Âm thanh, đối tượng của tai, 3. Hương, đối tượng của mũi, 4. Vị, đối tượng của lưỡi, 5. Xúc, cảm xúc, đối tượng của thân, 6. Tâm Pháp (tâm pháp có thể là một ý nghĩ, một khái niệm…), đối tượng của ý. Trong Mười hai nhân duyên, sáu xứ chính là yếu tố thứ 5 – lục nhập – chúng là đối tượng cảm nhận của người vừa sinh ra (Danh sắc), chúng làm cho con người có Xúc (s: sparśa) với thế giới bên ngoài.
Lung-gôm T: lunggom [rLung-sgom]; nghĩa là »kiểm soát những dòng năng lượng trong cơ thể.« |Phương pháp Du-già (yoga) của Phật giáo Tây Tạng nhằm kiểm soát năng lực. Ðây là một phép tu có gắn liền với sự kiểm soát hơi thở của hệ thống Du-già (s: prāṇāyāma) và Bốn niệm xứ (s: smṛtyupashāna) của Phật giáo nguyên thuỷ. Người tu tập Lung-gôm kiểm soát yếu tố »gió« trong các Trung khu khí lực (s: cakra). Tương tự như thế, phép tu Nội nhiệt (Na-rô lục pháp; t: nāro chodrug) dạy hành giả kiểm soát yếu tố »lửa«. Trong thuật ngữ của Kim cương thừa thì »gió« (tiếng Tây Tạng: lung) tượng trưng cho một số năng lực luân lưu trong thân thể. Trong một số nơi thuộc Tây Tạng, phương pháp Lung-gôm được áp dụng để vượt qua những khoảng cách lớn trong một thời gian ngắn.
Lượng 量; S: pramāṇa; E: valid cognition;|Một danh từ quan trọng trong Nhân minh học của đạo Phật, có nghĩa là »nhận thức, lượng biết đối tượng.« Người ta phân biệt ba loại lượng:|1. Hiện lượng (現量; s: pratyakṣapramāṇa): là năng lực nhận thức cảm tính, trực tiếp thông qua các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân.|Trong hiện lượng, người phân biệt hai loại:|1.1. Chân hiện lượng (真現量), là trí biết không tỏ ra sự phân biệt bao gồm ba đặc điểm: a) Hiện thức (現識; chỉ các giác quan), chỉ các thức của mắt, tai, mũi, lưỡi và thân hiện tại khởi tác dụng; b) Hiện cảnh (現境), chỉ các cảnh, các đối tượng của các giác quan như sắc, âm thanh, hương, vị và vật được chạm xúc; c) Bất tư lự (不思慮), nghĩa là trong lúc đối cảnh thì trí biết và vật đều hiện diện rõ ràng đồng thời trí vừa đối vật thì biết ngay, nhưng chưa tỏ ra ý phân biệt. Chân hiện lượng ở đây chính là hiện lượng hoặc gọi ngắn là »lượng« (e: valid cognition) trong Nhân minh học (因明學; s: hetuvidyā).|1.2. Tự (tợ) hiện lượng (似現量), là trí nhận thức có phân biệt, có cùng điểm a) và b) của chân hiện lượng nhưng khác nhau ở điểm c), tức là có tư lự. »Có tư lự« ở đây được hiểu là lúc đối cảnh, trí người nhìn thấy sự vật có phân biệt vật này, tên nọ…|Hiện lượng đúng, có giá trị phải chú trọng đến năm trường hợp sau: 1. Không nương »ức tưởng«, suy ức quá khứ, tưởng tượng vị lai; 2. Không dựa vào »ảo giác«, ví dụ như không được cho là »mặt trăng chạy theo mình«, »bờ chạy« thay vì thuyền đi; 3. Không dựa vào »thố giác«, nghĩa là không cho rằng sợi dây là con rắn; 4. Không nương vào »loạn giác«, không nhắm, dụi mắt mà cho là có hoa đốm; 5. Không nương vào cái »tư lự«, cái »hiểu biết phân biệt«, so sánh danh tướng sự vật.|Các trường phái đạo Phật cho rằng có bốn loại chân hiện lượng, đó là: 1. Căn hiện lượng (根現量; s: pratyakṣa), nhận thức trực tiếp qua những giác quan; 2. Ngũ câu ý thức hiện lượng (五俱意識現量; s: mānasapratyakṣa), tức là ý thức với năm căn cùng lúc nhận thức năm trần; 3. Tự chứng phần hiện lượng (自證分現量; s: sva-saṃvedāna), tức sự nhận biết của thức tự chứng phần, ví dụ như cảm giác »tôi biết, tôi đang tự chủ rằng tôi đang nhìn«; 4. Ðịnh tâm hiện lượng (定心現量; dịch sát nghĩa là »hiện lượng của một Du-già sư«; s: yogipratyakṣa), tức là sự nhận biết cảnh tượng trong lúc thiền định của một thiền giả (Du-già sư). Ðịnh tâm hiện lượng này có giá trị hơn hết so với ba loại hiện lượng trên bởi vì qua đó, nội dung của Tứ diệu đế, tính Không, tính Bất nhị của Niết-bàn, Luân hồi trở thành đối tượng nhận thức trực tiếp và Thiền giả sẽ tự biết, tự chứng minh được sự chân chính của tất cả lí thuyết Phật giảng. Cái hiểu biết gián tiếp, trợ mượn đã trở thành một niềm tin vững chắc.|2. Tỉ lượng (比量; s: anumāṇapramāṇa): là khả năng nhận thức lí tính, gián tiếp thông qua các quá trình của tư duy, trừu tượng như phán đoán, suy luận, chứng minh, bác bỏ. Tỉ lượng chính là cái biết bằng so sánh. Do sự kiện đã được biết, được thấy mà suy ra những gì chưa trực tiếp biết đến, thấy đến. Ví dụ như »cách núi thấy khói biết có lửa, cách tường thấy sừng biết có trâu«.|Có hai loại tỉ lượng:|2.1. Chân tỉ lượng (真比量): là trí suy luận đúng đắn, có hai điểm a) và b) đồng với chân hiện lượng nhưng c) là ý phân biệt chính chắn và d) luận thức đầy đủ;|2.2. Tự tỉ lượng (似比量): là suy luận không đúng, những đặc điểm a)-d) của chân tỉ lượng thiếu, không được đáp ứng. Ngoài ra, tự tỉ lượng còn vướng phải ba lỗi sau: 1. Nhìn cái không phải có; 2. Không nhìn thấy cái có; 3. Nhìn sai cái có.|3. Phi lượng (非量; s: abhāvapramāṇa): chính là Tự hiện lượng (hiện lượng sai) và Tự tỉ lượng (tỉ lượng sai).
Lưỡng đầu 兩頭; C: liǎngtóu; J: ryōtō;|1. Hai cực biên, hai khuynh hướng; 2. Một con rắn hai đầu; ai thấy nó sẽ bất đắc kì tử.
Lương Giới 良价|Ðộng Sơn Lương Giới
Lưỡng tông 兩宗; C: liǎngzōng; J: ryōshū;|›Hai tông phái‹ trước thời đại Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn) ở Hàn Quốc. Thiền tông (禪; k: sǒn) chú trọng về thiền định và Giáo tông (教; k: kyo) chú trọng việc học tập, nghiên cứu kinh luận. Do quyền lực chính trị khắt khe, hai tông nầy cuối cùng buộc phải kết hợp thành một tông chính của Phật giáo Hàn Quốc, gọi là tông Tào Khê (曹溪; k: cho-gye).
Lương triều Phó đại sư tụng Kim cương kinh 梁朝傅大師頌金剛經; C: liángzhāo fù-dàshī sòng jīngāngjīng; J: ryōchō fudaishi ju kongōkyō;|Luận giải về kinh Kim Cương của Song Lâm Phó (雙林傅). Đây là một trong 5 luận giải có trong tập Ngũ gia giải thuyết nghị (五家解説誼, k: ogahae sŏrŭi).
Lương Vũ Đế 梁武帝; C: liáng wŭdì; J: ryō butei, 464-549.|Vị Hoàng đế nổi tiếng ngưỡng mộ Phật pháp.
Lưu 流; C: liú; J: ru;|1. Chảy, trôi giạt; dòng chảy, sự trôi chảy, dòng suối (s: drava); 2. Dòng chảy tâm thức (s: strotas); 3. Trôi nổi, trôi dạt, lang thang, sa ngã. Không ổn định; 4. Đồng nghĩa với Lậu (漏), có nghĩa là phiền não (煩惱); 5. Một lớp, nhóm, loại (chủng loại 種類).
Lưu bố 流布; C: liúbù; J: rufu;|1. Phổ biến khắp thế gian, truyền bá Phật pháp khắp nơi (s: spharaṇa); 2. Từ hay thành ngữ thường được hiểu theo ngôn ngữ thế gian thường tình (s: vyapadeśa).
Lưu Cầu 劉虬; C: liúqiu; J: ryūkyū; 438-495.|Một nhà nghiên cứu Phật học thời Nam Bắc triều tại Trung Hoa. Ban đầu ông là một vị quan sứ, nhưng sau dành cuộc đời của mình cho việc nghiên cứu Phật học. Ông nổi danh vì những bài luận giải về những thuyết »Làm việc thiện không có nghiệp báo« và »Đốn giáo Tiệm giáo«. Ông cũng đưa ra một dạng phân chia thời gian thuyết pháp của đức Phật thành năm thời. Ngoài ra, ông cũng thuyết giảng và viết luận giải về kinh Pháp Hoa và Niết-bàn.
Lưu chuyển 流轉; C: liúzhuăn; J: ruten;|1. Khả năng các pháp hữu vi tương tục trong vận hành nhân quả không ngừng nghỉ. Là một trong các pháp tâm bất tương ưng hành theo giáo lí Duy thức; 2. Luân hồi (s: saṃsāra). Luân chuyển trong vòng sống chết do mê lầm. Đồng nghĩa với Luân hồi (輪廻).
Lưu lai 流來; C: liúlái; J: rurai;|Sự luân chuyển liên tục trong sinh tử luân hồi từ vô thuỷ cho đến bây giờ.
Lưu lãng 流浪; C: liúlàng; J: rūrō;|Đi lang thang không mục đích.
Lưu Thiết Ma 劉鐵磨; C: liú tiěmó; J: ryū tetsuma;|Một vị ni ngộ đạo thâm sâu, môn đệ của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu. Bà nổi tiếng trong những Pháp chiến được ghi chép lại. Ai đến bà mà sơ xuất đều bị »nghiền nát« (Thiết Ma nghĩa là »mài sắt«).|Một pháp chiến giữa bà và Thiền sư Quy Sơn được thuật lại trong Công án 24 của Bích nham lục: Lưu Thiết Ma đến Quy Sơn, Quy Sơn bảo: »Trâu cái già, ngươi mới đến.« Bà thưa: »Ngày mai Ðài Sơn có đại hội trai, Hoà thượng có đi dự chăng?« Quy Sơn buông thân nằm xuống, Bà liền đi ra.
Lưu thông 流通; C: liútōng; J: ruzū;|Truyền bá sâu rộng Phật pháp.
Lưu thông phần 流通分; C: liútōng fēn; J: ruzūbun;|Phần cuối cùng trong 3 phần mà kinh điển Phật giáo thường được chia ra. Nội dung trong phần nầy là phân công lại cho những đệ tử đảm nhiệm công việc truyền bá kinh điển lại mẫi mãi cho đời sau. Trong kinh điển Đại thừa, phần nầy có đặc điểm là tán thán nội dung kinh và miêu tả chi tiết công đức đạt được do truyền bá và tu tập theo giáo lí trong kinh.
Luy Lâu 羸樓|Trung tâm phát triển Phật giáo đầu tiên tại Việt Nam, nay là tỉnh Bắc Ninh. Luy Lâu là một trong ba trung tâm Phật giáo thời thế kỉ thứ 1, 2 bên cạnh Lạc Dương và Bành Thành, hai trung tâm thuộc Trung Quốc. Theo một số nhà nghiên cứu, Luy Lâu được hình thành trước cả hai trung tâm kia, thậm chí là nơi xuất phát của Lạc Dương và Bành Thành. Luy Lâu là nơi các tăng sĩ Ấn Ðộ đến bằng đường biển trước khi họ vào Trung Quốc nên giả thuyết nói trên có thể đứng vững. Ðây là một cứ điểm quan trọng cho thấy Phật giáo Việt Nam ban đầu được du nhập trực tiếp từ Ấn Ðộ chứ không phải chỉ từ Trung Quốc truyền xuống.
Ma cảnh 魔境; J: makyō;|Danh từ chỉ những cảm giác và hiện tượng quái dị mà hành giả có thể trải qua trong khi Toạ thiền. Những hiện tượng này gồm: âm thanh, hình tượng lạ, hương vị, những hoạt động thân thể ngoài ý muốn… và đôi khi nhìn được việc sẽ xảy ra. Hành giả không nên coi trọng những hiện tượng này – kinh dị hay cám dỗ – và bất động, tiếp tục tu tập.|Trong một ý nghĩa bao quát hơn thì tất cả những cảnh mà phàm phu, người chưa thức tỉnh, nhận thức được đều là ma cảnh. Chỉ có những người Giác ngộ mới thấy được chân cảnh.|Ma Cốc Bảo Triệt|麻谷寶徹; C: māgǔ bǎochè; J: mayoku hōtetsu; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Mã Tổ Ðạo Nhất. Sử sách không ghi rõ về Sư ngoài vài Pháp chiến.|Sư cùng Mã Tổ đi dạo, nhân dịp hỏi: »Thế nào là Ðại niết-bàn?« Mã Tổ đáp: »Gấp!« Sư hỏi: »Gấp cái gì?« Tổ đáp: »Xem nước.«|Có vị tăng hỏi: »Mười hai phần giáo con chẳng nghi, thế nào là ý Tổ sư từ phương Tây sang?« Sư đứng dậy lấy trượng xoay quanh thân một vòng, đứng một chân, bảo: »Hội chăng?« Tăng thưa: »Không hội.« Sư liền đánh. Một vị khác hỏi: »Thế nào là đại ý Phật pháp?« Sư im lặng.
Ma-du-la S: mathurā;|Ma-thâu-la.
Ma-ha 摩訶; ~ tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 11. Có lẽ Sư nối pháp Thiền sư Pháp Thuận.|Sư gốc người Chiêm Thành, thông minh từ thuở nhỏ và am hiểu cả hai thứ tiếng Phạn và Hán. Sau, Sư đến chùa Cổ Sơn thụ giáo với Thiền sư Pháp Thuận. Năm 1015, Sư dời về núi Ðại Vân ở Trường An, ngày ngày tu tập, đạt được Tổng trì tam-muội cùng các pháp thuật khó lường. Sư chu du đây đó hoằng hoá, thường hay thi triển thần thông làm phương tiện giáo hoá, người đời rất mến phục.|Năm Thiên Thành thứ 2 (1029), Sư được mời về trụ trì chùa Khai Thiên, phủ Thái Bình. Ở đây được sáu năm, Sư ra đi biệt tích, không ai biết Sư đi đâu, tịch ở đâu.
Ma-ha Ba-xà-ba-đề Cồ-đàm-di 摩訶波闍波提瞿曇彌; P: mahāprajāpatī gautamī;|Dì và sau là mẹ nuôi của đức Phật Thích-ca. Sau khi chồng qua đời, bà đến xin đức Phật thành lập Tỉ-khâu-ni đoàn. Lúc đầu Phật không cho phép vì lo ngại việc giữ Giới luật, nhưng cuối cùng vì lời khẩn cầu của A-nan-đà mà Ngài đồng ý và tiên đoán rằng vì sự có mặt của tỉ-khâu-ni mà Giáo pháp thay vì tồn tại 1000 năm chỉ còn 500 năm.
Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa kinh 摩訶般若波羅密多經; S: mahāprajñāpā-ramitā-sūtra;|Xem Ma-ha Bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh.
Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh 摩訶般若波羅密多心經; S: mahāprajñā-pāramitā-hṛdaya-sūtra;|Kinh ngắn nhất chỉ gồm hơn hai trăm năm mươi chữ (bản tiếng Việt) và »trái tim« của bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa. Tâm kinh là một trong những bộ kinh quan trọng nhất của Phật giáo Ðại thừa, được lưu hành rộng khắp tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và được hầu hết các tăng ni tụng niệm nằm lòng. Tâm kinh đóng vai trò quan trọng trong Thiền tông vì nói rõ về tính Không (s: śūnya-tā) và sự trực nhận tính Không đó một cách rõ ràng, cô đọng chưa hề có.||H 42: Nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) của Tâm kinh, viết theo chữ Devanāgarī, được Mithila Institute tại Darbhaṅga, Ấn Ðộ, xuất bản năm 1961.|Câu kinh căn bản của Tâm kinh là »Sắc chính là Không, Không chính là Sắc« (tạm hiểu: hiện tượng chính là bản thể, bản thể chính là hiện tượng), một điều mà Thiền tông luôn luôn nhắc nhở.|Toàn văn Tâm kinh:|प्रज्ञापारमिताहृदयसुत्रम्|(संक्षिप्तमातृका)|आर्यावलोकितेश्वरबोधिसत्त्वोगम्मीरायांप्रज्ञापारमितायांचर्यांचरमाणोव्यवलोकयतिस्म।पञ्चस्कन्धाः, |तांश्चखभावशून्यान्पश्यतिस्म।।|इहशारिपुत्ररूपंशून्यता, शून्यतैवरूपम्।रूपान्नपृथक्शून्यता, |शून्यतायानपृथग्रुपम्।यद्रूपंसाशून्यता, याशून्यतातद्रूपम्।।|एवमेववेदयासंज्ञासंकारविज्ञानानि।।|इहशारिपुत्रसर्वधर्माःशून्यतालक्षणाअनुत्पन्नाअनिरुद्धोअमलानविमलनोनानपरिपूर्णाः।|तस्माच्छारिपुत्रशून्यतायांनरूपम्, नवदना, |नसंज्ञा, नसंकाराः, नविज्ञानानि।नचक्षुःश्रोत्रघ्राणजिह्वाकायमनासि, |नरूपशब्दगन्दरसस्प्रष्टव्यधर्माः।नचक्षुर्धातुर्यावन्नमनोधातुः।।|नविद्यानाविद्यानविद्याक्षयोनाविद्याक्षयोयावन्नजरामरणंनजरामरणक्षयोनदुः|खसमुदयनिरोधमार्गानज्ञानंनप्राप्तित्वम्।।|बोधिसत्त्वस्य (श्च ?) प्रज्ञापारमितामाश्रित्यविहरतिचित्तावरणः. |चित्तवरणनास्तित्वादत्रस्तोविपर्यासातिक्रान्तोनिष्ठनिर्वाणः|त्र्यघ्वव्यवस्थिताःसर्वबुद्धाःप्रज्ञापारमितामाश्रित्यअनुत्तरांसम्यक्संबोधिमभिसंभुद्धाः।।|तस्माज्ज्ञातव्यःप्रज्ञापारमितामहामन्त्रोमहाविद्यामन्त्रोऽनुत्तरमन्त्रोऽसमसममन्त्रःसर्वदुः|खप्रशमनःसत्यममिथ्यत्वात्प्रज्ञापारमितायामुक्तोमन्त्रः।|तद्यथागतेगतेपारगतेपारसंगतेबोधिस्वाहा।।|prajñāpāramitāhṛdayasūtram|(saṃkṣiptamātṛkā)|— āryāvalokiteśvarabodhisattvo gambhīrāyāṃ prajñāpāramitāyāṃ caryāṃ caramāṇo vyavalokayati sma. pañca skandhāḥ, tāṃśca svabhāvaśūnyān paśyati sma.|iha śāriputra rūpaṃ śūnyatā, śūnyataiva rūpam. rūpānna pṛthak śūnyatā, śūnyatāyā na pṛthag rūpam. yadrūpaṃ sā śūnyatā, yā śūnyatā tadrūpam.|evameva vedayāsaṃjñāsaṃskāravijñānāni|— iha śāriputra sarvadharmāḥ śūnyatālakṣaṇā anutpannā aniruddhā amalā na vimalā nonā na paripūrṇāḥ. tasmācchāriputra śūnyatāyāṃ na rūpam, na vedanā, na saṃjñā, na saṃskārāḥ, na vijñānāni. na cakṣuḥśrotraghrāṇajihvākāyamanāsi, na rūpaśabdagandharasaspraṣṭavyadharmāḥ. na cakṣurdhāturyāvanna manodhātuḥ|na vidyā nāvidyā na vidyākṣayo nāvidyākṣayo yāvanna jarāmaraṇaṃ na jarāmaraṇakṣayo na duḥkhasamudayanirodhamārgā na jñānaṃ na prāptitvam.|— bodhisattvasya (śca?) prajñāpāramitāmāśritya viharati cittāvaraṇaḥ. cittāvaraṇanāstitvādatrasto viparyāsātikrānto niṣṭhanirvāṇaḥ. tryaghvavyavasthitāḥ sarvabuddhāḥ prajñāpāra-mitāmāśritya anuttarāṃ samyaksaṃbodhimabhi-saṃbuddhāḥ.|— tasmājjñātavyaḥ prajñāpāramitāmahāmantro mahāvidyāmantro 'nuttaramantro 'samasama-mantraḥ sarvaduḥkhapraśamanaḥ satyamamithyatvāt prajñāpāramitāyāmukto mantraḥ. tadyathā gate gate pāragate pārasaṃgate bodhi svāhā.|摩訶般若波羅密多心經|觀自在菩薩行深般若波羅蜜多時照見五蘊皆空度一切苦厄舍利子色不異空空不異|色色即是空空即是色受想行識亦復如是舍利子是諸法空相不生不滅不垢不淨不增不減|是故空中無色無受想行識無眼耳鼻舌身意無色聲香味觸法無眼界乃至無意識界無無明|亦無無明盡乃至無老死亦無老死盡無苦集滅道無智亦無得以無所得故菩提薩埵依般若波羅蜜多|故心無罣礙無罣礙故無有恐怖遠離顛倒夢想究竟涅槃三世諸佛依般若波羅蜜多|故得阿耨多羅三藐三菩提故知般若波羅蜜多是大神咒是大明咒是無上咒是無等等咒|能除一切苦真實不虛故說般若波羅蜜多咒即說咒曰揭諦揭諦波羅揭諦波羅僧揭諦菩提薩婆訶|Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh|Quán Tự Tại Bồ Tát hành thâm Bát-nhã Ba-la-mật-đa thời, chiếu kiến ngũ uẩn giai không, độ nhất thiết khổ ách. Xá-lợi-tử! Sắc bất dị không, không bất dị sắc, sắc tức thị không, không tức thị sắc, thụ tưởng hành thức diệc phục như thị.|Xá-lợi-tử! Thị chư pháp không tướng: Bất sinh bất diệt bất cấu bất tịnh bất tăng bất giảm, thị cố không trung vô sắc vô thụ tưởng hành thức, vô nhãn nhĩ tỉ thiệt thân ý, vô sắc thanh hương vị xúc pháp, vô nhãn giới nãi chí vô ý thức giới, vô vô minh diệc vô vô minh tận, nãi chí vô lão tử diệc vô lão tử tận, vô khổ tập diệt đạo, vô trí diệc vô đắc. Dĩ vô sở đắc cố Bồ-đề Tát-đoá y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố tâm vô quái ngại, vô quái ngại cố vô hữu khủng bố viễn li điên đảo mộng tưởng cứu cánh niết-bàn. Tam thế chư Phật y Bát-nhã Ba-la-mật-đa cố đắc a-nậu-đa-la tam-miệu tam-bồ-đề, cố tri Bát-nhã Ba-la-mật-đa thị đại thần chú, thị đại minh chú, thị vô thượng chú, thị vô đẳng đẳng chú, năng trừ nhất thiết khổ, chân thật bất hư. Cố thuyết Bát-nhã Ba-la-mật-đa chú tức thuyết chú viết: Yết-đế yết-đế, Ba-la yết-đế, Ba-la-tăng yết đế, Bồ-đề Tát-bà-ha.|»Bồ Tát Quán Tự Tại, khi tu chứng đại trí huệ siêu việt, thấy rõ năm uẩn đều không, vượt hết thảy khổ ách.|Này Xá-lị tử! Sắc chẳng khác Không, Không chẳng khác Sắc; Sắc chính là Không, Không chính là Sắc; thụ, tưởng, hành, thức cũng đều như vậy.|Xá-lị tử! Tướng Không của các pháp là không sinh, không diệt, không nhiễm, không sạch, không thêm, không bớt. Vì thế trong Không không có sắc, thụ, tưởng, hành, thức; không nhãn, nhĩ, thiệt, thân, ý; không sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp; không nhãn giới cho đến ý thức giới; không vô minh cũng không hết vô minh; cho đến không già chết, cũng không hết già chết; không khổ, tập, diệt, đạo; không trí huệ, cũng không chứng đạt vì không có gì để chứng.|Bồ Tát nương trí huệ siêu việt nên tâm không vướng ngại; vì không vướng ngại nên không sợ sệt, xa lìa hết thảy điên đảo mộng tưởng, rốt ráo đạt Niết-bàn. Các Phật ba đời nương trí huệ siêu việt nên được giác ngộ hoàn toàn, đúng đắn và cao nhất.|Vì thế nên biết rằng trí huệ siêu việt là sức lớn, sức sáng, sức cao nhất, sức không gì bằng, hay trừ hết thảy khổ đau, chân thật không sai. Cho nên từ trí huệ siêu việt rút ra nghĩa tinh yếu như sau:|Giải thoát, giải thoát, đã giải thoát, đã cùng giải thoát, giác ngộ hoàn toàn.«|(Dịch giả khuyết danh).
Ma-ha Tất-đạt 摩訶悉達; S: mahāsiddha; dịch nghĩa là Ðại thành tựu giả;|Danh hiệu chỉ những vị tu khổ hạnh, đã đạt cốt tuỷ của giáo pháp Tan-tra của Phật giáo (Vô thượng du-già) một cách siêu việt. Người ta nhắc đến nhiều nhất 84 vị Ma-ha Tất-đạt của thế kỉ thứ 8 đến thế kỉ thứ 12 tại Ấn Ðộ, là những vị tu học khác hẳn truyền thống tu tập ở các Tinh xá (s, p: vihāra) của Ðại thừa. Ðó là những vị nam nữ, thuộc tầng lớp xã hội khác nhau, là những người đã để lại cho Phật giáo Bắc Ấn Ðộ và Tây Tạng một ảnh hưởng quyết định.|Tất-đạt (s: siddha) là các vị đã đạt thần thông, thần thông này được gọi là Tất-địa (s: siddhi). Người Xuất gia hay Cư sĩ đều có thể đạt Tất-địa. Trong thời đức Phật còn tại thế, người ta đã thừa nhận trong quá trình tu tập, hành giả có thể đạt thần thông nhất định, nhưng các thần thông đó đều vô ích, không đáng quan tâm. Chính đức Phật cũng không cho phép đệ tử mình thi triển thần thông, trừ khi cần phải thi triển vì mục đích giáo hoá. Thế nhưng Mật tông, nhất là truyền thống Tan-tra có khuynh hướng khuyến khích việc thi triển thần thông, xem nó như một trong những Phương tiện thiện xảo để giáo hoá. Vì thế phần lớn các vị Tất-đạt hay xiển dương thần thông như bay trên không, đi dưới nước, xuyên qua tường hay kéo dài thọ mệnh. Các vị đạt một ít thần thông nhất định được gọi là Tất-đạt, các vị đạt được nhiều thần thông được gọi là Ma-ha Tất-đạt. Người ta kể ra khoảng 34 thần thông khác nhau. Các vị đạt Tất-địa không nhất thiết là đã giải thoát. Trong sách vở truyền lại, ít có vị nào được ghi là »nhập Niết-bàn«. Phần lớn được gọi là »đi vào cõi của Không hành nữ«, được hiểu là nơi không còn tái sinh, tiếp tục tu học để giải thoát hoàn toàn.|Chuyện về 84 vị Ma-ha Tất-đạt do Abhayadatta Śrī, một cao tăng Ấn Ðộ ghi lại trong thế kỉ 11,12 trong một tập dưới tựa Lịch sử của 84 Tất-đạt (s: caturraśīti-siddha-pravṛtti, bản dịch của Keith Dowman và H.-W. Schumann). Truyền thống Tây Tạng cũng có những tập nói về chư vị nhưng có khác đôi chút. Trong quyển sách này, sự tích các vị là dựa vào tập của Abhayadatta. Ða số 84 vị này đều sống trong khoảng từ thế kỉ thứ 8 đến 12 và truyền thừa cho nhau. Các vị thường có rất nhiều tên khác nhau, phần lớn dựa vào tính chất đắc đạo hay nghề nghiệp các vị đó. Các câu chuyện truyền lại với những thần thông khác nhau có thể được thêm bớt, nhưng người ta cho rằng tất cả các vị đó đều là những nhân vật lịch sử, đã sống thật trên trái đất này.|Ngày nay người ta còn tìm thấy tiểu sử của 84 vị Ma-ha Tất-đạt trong kinh sách Tây Tạng như Cha-tra-ba (s: catrapa), người hành khất; Kan-ta-li-pa (s: kantalipa), thợ may và Kum-ba-ri-pa (s: kumbharipa), thợ gốm. Người ta cũng phải kể các vị như nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) và người em gái La-kha Min-ka-ra (s: lakṣmīṅkarā) cũng như Luận sư San-ti-pa (s: śāntipa). Ðời sống các vị đó khác nhau rất nhiều nhưng tất cả đều có chung một điều là các vị đều phải trải qua một cơn khủng hoảng trong đời, gặp một lời khai thị của một vị Ðạo sư và biến khủng hoảng đó thành đạo giải thoát. Các vị thường có thái độ khó hiểu và ưa dùng nghịch lí để diễn tả cái không thể lĩnh hội được của sự thật vô thượng. Trong tiểu sử của vị Ma-ha Tất-đạt Tan-tê-pa (s: taṅtepa), người ta thấy sự hoà nhập giữa một cuộc đời tối tăm nhất và sự giác ngộ cao cả. Ông là người đánh bạc, phá tan gia sản và chỉ nhờ câu khai thị – thế giới thật ra cũng trống rỗng như túi tiền của mình – ông đạt giác ngộ và thực hiện Niết-bàn.|Các bài kệ ca tụng Chân như, trong đây được tạm dịch là chứng đạo kệ (s: dohā; Hán âm là Ðạo-bả, 道把) của các vị Ma-ha Tất-đạt thường rất thi vị và kích thích sức tưởng tượng. Tại Tây Tạng, truyền thống ca hát đó được Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) và Drug-pa Kun-leg tiếp nối. Bài ca sau đây của người thợ rèn Sa-ra-ha, một trong những vị Ma-ha Tất-đạt danh tiếng nhất, để lại ấn tượng khó quên: »Ai thấu hiểu rằng, đầu đuôi chẳng có tâm thức nào cả, người đó đã thực hiện tâm Phật ba đời.«
Ma-hi-đà 摩呬陀; S, P: mahinda;|Cao tăng Phật giáo thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên, con trai của A-dục vương (s: aśoka). Năm 250 trước Công nguyên, ông cầm đầu phái đoàn đi Tích Lan và thuyết phục nhà vua xứ này là Thiên Ái Ðế Tu (p: devānampiya tissa) theo Phật giáo. Sau đó, nhà vua cho xây dựng Ðại Tự (p: mahāvihā-ra) trong kinh đô A-nu-ra-đa-pu-ra (p: anurā-dhapura), trồng một nhánh cây Bồ-đề do Ma-hi-đà mang theo. Ông chết năm 60 tuổi tại Tích Lan.
Ma-hi-pa S: mahipa; »Người vĩ đại nhất«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 10. Ma-hi-pa là người xứ Ma-kiệt-đà (s: magadha).|Ông là người có sức mạnh vô địch, luôn luôn tự hào về sức mạnh đó. Ngày nọ, ông gặp một Du-già sư, vị này đọc được ý nghĩ đầy kiêu mạn của ông làm ông khâm phục. Ông xin theo học. Vị Du-già sư bèn dạy:|Mọi hiện tượng là tâm,|quán tưởng thật kiên cố,|rằng tâm là tính Không,|bất sinh và bất tử.|Thế mới là sức mạnh.|Nghe qua ông không hiểu, vị Du-già sư đổi cách nói:|Nếu ngươi biết rõ rằng,|sức mạnh: sự trống rỗng,|thì ngươi thật sự là,|một con người vô địch.|Hãy dán các hiện tượng,|năng lực và nhận thức,|trên không gian mênh mông|của đất trời vô tận.|Nhà vô địch nghiêng đầu cảm tạ. Ông tìm cách lấy tâm làm đối tượng quán tưởng thì tâm chạy đi đâu mất, ông tìm sự nhận thức để quán sát thì cũng không nắm bắt được nó. Ngày trước nó là trở ngại của ông thì bây giờ nó chính là phương tiện cho ông. Nhờ thế mà ông đạt thánh quả, sống thêm 300 trăm năm nữa và giáo hoá cho người đời thấy rằng sức mạnh đích thật chính là tự tính cuối cùng của tâm. Thánh đạo ca của ông có những dòng sau:|Dưới ngọn núi kiêu mạn,|là viên ngọc Như ý|của thật chứng giác ngộ.|Hành động đầy giác ngộ|của con người tài tình,|thoả ước vọng của ta,|vì người đó đã đạt,|đã nếm vị duy nhất.
Ma-kiệt-đà 摩竭陀; S, P: magadha;|Vương quốc ở Bắc Ấn Ðộ trong thời Phật Thích-ca tại thế. Các kinh đô lần lượt là Vương xá (s: rājagṛha) và Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Vua nước Ma-kiệt-đà là Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra) và con trai là A-xà-thế (s: ajātaśatru), sau đó đến A-dục vương (s: aśoka). Ma-kiệt-đà được xem là nơi phát sinh Phật giáo, sau hội nghị Kết tập lần thứ 3, giáo pháp đã từ đây truyền qua các vùng khác của Ấn Ðộ.|Dưới thời A-dục vương, Ma-kiệt-đà có diện tích lớn nhất. Ngôn ngữ ở đây là Mā-ga-dhī, và mối liên hệ của nó với ngôn ngữ của Phật giáo nam truyền là một điều ngày nay người ta vẫn chưa hiểu hết.
Mã Minh 馬鳴; S: aśvaghoṣa;|Nhà thơ và luận sư Ðại thừa người Ấn Ðộ, sống giữa thế kỉ 1 và 2, được xem là một trong những luận sư quan trọng nhất của Phật giáo. Tác phẩm quan trọng nhất của Mã Minh là bộ Hi khúc Xá-lị tử, Phật sở hạnh tán, một tác phẩm diễn tả cuộc đời đức Phật, bộ Tôn-già-lợi Nan-đà. Sư cũng đươc xem là tác giả của bộ Ðại thừa khởi tín luận.|Ðầu tiên, Mã Minh theo đạo Bà-la-môn và được một vị tăng tên là Bà-lật-thấp-bà (s: pārśva) đưa vào đạo Phật. Các tác phẩm của Sư đọc rất dễ hiểu và có nhiều ẩn dụ. Thí dụ như chuyện Tôn-già-lợi Nan-đà »chàng trai tuấn tú Nan-đà« người tuy đã vào chùa đi tu nhưng vẫn còn thương yêu người vợ. Chỉ sau nhiều lần giảng dạy của Phật, chàng mới hết nghiệp yêu thương và sống viễn li. Mã Minh được xem là một trong bốn vị minh triết Phật giáo, được xếp vào »bốn mặt trời chiếu rọi thế giới«. Ba vị kia là Thánh Thiên, Long Thụ và Cưu-ma-la-đa (s: kumāralāta), một Ðại sư của Kinh lượng bộ.|Các tác phẩm được liệt kê dưới tên Mã Minh: 1. Ðại thừa khởi tín luận (mahāyānaśraddhotpāda-śāstra); 2. Phật sở hạnh tán (buddhacarita-kāvya); 3. Ðại tông địa huyền văn bản luận (mahāyānabhūmiguh-yavācāmūla-śāstra); 4. Ðại trang nghiêm kinh luận (mahālaṅkāra-sūtra-śāstra); 5. Ni-kiền tử vấn vô ngã nghĩa kinh; 6. Thập bất thiện nghiệp đạo kinh (daśaduṣṭakarmamārga-sūtra); 7. Sự sư pháp ngũ thập tụng; 8. Lục đạo luân hồi kinh; 9. Hi khúc Xá-lị tử (śāriputraprakaraṇa); 10. Tôn-già-lợi Nan-đà (saudarananda-kāvya).
Mã-nhĩ-ba 馬爾波; T: marpa; 1012-1097;|Ðạo sư nổi tiếng của Nam Tây Tạng. Mã-nhĩ-ba đi Ấn Ðộ và mang về Tây Tạng giáo pháp Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), Na-lạc lục pháp (t: nāro chodrug). Ông là thầy của Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa), đóng vai trò quan trọng trong phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyu-pa). Mặc dù tu hành tích cực nhưng Mã-nhĩ-ba vẫn tham gia công việc thế tục một cách hài hoà.|Thời trẻ tuổi, ông đã học Phạn ngữ (sanskrit) và sau đó ông đổi toàn bộ sản nghiệp lấy vàng bắt đầu chuyến du hành Ấn Ðộ. Tại đây, ông gặp Na-rô-pa (t: nāropa), một vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) và được vị này hướng dẫn 16 năm. Trở lại Tây Tạng, ông dùng hết thời giờ để phiên dịch kinh sách, sống cuộc đời của một nông dân, lập gia đình với Dag-me-ma và có nhiều con. Sau đó, trên đường tìm những chú giải của những Mật kinh, ông lại đi Ấn Ðộ một lần nữa và sau khi về lại Tây Tạng, ông nhận Mật-lặc Nhật-ba làm đệ tử. Sau nhiều lần thử thách khắc nghiệt, ông mới chịu truyền bí pháp cho Mật-lặc Nhật-ba.|Lúc tuổi đã cao, Mã-nhĩ-ba lại đi Ấn Ðộ lần thứ ba vì một bí pháp khác. Tại đây, ông gặp A-đề-sa và thầy Na-rô-pa lần cuối. Mã-nhĩ-ba ưa thích dùng giấc mộng để quyết đoán trước tương lai và từng tiên tri sẽ có tông Ca-nhĩ-cư ra đời.
Ma-ni Ba-đra S: maṇibhadrā; »Bà nội trợ hạnh phúc«; |Một Du-già-ni Tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 11.|Tại thành A-gạt-chê (agarce) có một thương nhân nọ có người con gái 13 tuổi tên là Ma-ni Ba-đra. Nàng được gả chồng nhưng theo tục lệ thời đó, nàng vẫn ở với cha mẹ cho đến tuổi làm vợ. Trong thời gian đó thì Ðạo sư Kuk-ku-ri-pa (s: kukkuripa) đi qua nhà khất thực. Thấy vị Du-già sư, nàng liền bố thí cúng dường và xin học đạo, Kuk-ku-ri-ba nhận lời và hẹn nàng đến bãi thiêu xác trong thành. Suốt ngày nàng chỉ nhớ lời vị Ðạo sư dặn và khi đêm đến, nàng lén đi đến chỗ hẹn. Thấy căn cơ nàng đã chín muồi, vị Ðạo sư cho nàng nhập môn Cha-kra sam-va-ra tan-tra, Quán đỉnh và hướng dẫn nàng phép thiền quán. Nàng ở liên tiếp bảy ngày tu tập, và khi về nàng bị cha mẹ la rầy đánh đập nhưng sau đó vẫn tiếp tục tu tập. Một năm sau chồng tới rước về, nàng đi theo không hề phản đối, làm trọn vẹn bản phận người vợ. Nàng sinh hạ một trai một gái. |Mười hai năm trôi qua sau khi gặp Ðạo sư, ngày nọ nàng đi xách nước, lỡ vấp chân và bình nước bị vỡ. Cả nhà đợi hoài không thấy đi tìm thì thấy nàng nhập định, người bất động, mắt đăm đăm nhìn bình nước bị vỡ. Ðến tối nàng mới xuất thiền, đọc bài kệ:|Từ vô thuỷ xa xưa,|loài hữu tình đánh vỡ,|bình chứa nước đời sống,|nhưng không hiểu tại sao|họ vẫn về lại nhà?|Hôm nay ta đánh vỡ,|bình chứa nước của ta,|nhưng ta không trở lại,|chốn Tử sinh này nữa.|Ði tiếp tới Ðại lạc,|huyền diệu thay, Ðạo sư!|Các ngươi muốn hạnh phúc,|hãy biết tôn kính Ngài!|Nói xong Ma-ni Ba-đra nhấc mình lên không và giáo hoá cho quần chúng 21 ngày liên tục. Sau đó bà biến mất vào cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī).|Người ta còn nhắc thêm các dòng chứng đạo ca sau đây của bà:|Khi vô minh bao phủ,|thì mỗi một âm thanh,|kéo theo một phân biệt.|Khi Thật tại phơi bày,|thì Tự tính mọi chuyện,|lại chính là Thật tại.|Một câu chuyện gần giống như trên được Trúc Thiên thuật lại trong bản dịch Thiền luận (quyển thượng, trang 506-507) của Su-zu-ki: Thiền sư Lang Gia Huệ Giác (琅邪慧覺; thuộc tông Lâm Tế, môn đệ của Phần Dương Thiện Chiêu) có một vị nữ đệ tử. Sư trao cho cô ba chữ »tuỳ tha khứ« (隨他去; nghĩa là ›theo nó mà đi‹ hoặc ›mặc kệ nó‹) làm Thoại đầu tham quán. Cô chú tâm vào ba chữ này đến nỗi nhà cháy cô cũng không lo, cứ niệm »tuỳ tha khứ.«… Ngày nọ, chồng cô chiên bánh, liệng miếng bột vào chảo dầu sôi một tiếng xèo. Cô giật mình như tỉnh cơn mê, nhắc chảo dầu sôi đổ xuống đất, tay phủi miệng cười và hét to: »tuỳ tha khứ.« Chồng cô tưởng cô điên, không ngờ cô đã ngộ đạo.
Ma-nô-la 摩拏羅; S: manorata;|Tổ thứ 22 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Ma-thâu-la 摩愉羅; S: mathurā;|Một thành phố Ấn Ðộ nằm bên phải của sông Ya-mu-na (s: yamunā), tiểu bang Uttar-Pradesh. Giữa 150 và 250, đây là một trung tâm văn hoá, nghệ thuật Phật giáo quan trọng. Song song với Càn-đà-la (gandhāra), những tượng Phật đầu tiên được kiến tạo tại đây. Phật được trình bày dưới dạng một Dạ-xoa (s: yakṣa) đang đứng.|Thân của đức Phật được trình bày gọn, lực lưỡng, Ngài mang một ca-sa láng trơn nằm sát người, không có nếp xếp và để lộ nhiều phần của thân thể. Tượng Phật tại đây được trình bày không như tại Càn-đà-la – nghĩa là chỉ hướng nội – mà là một vị Thánh sẵn lòng cứu giúp, thuyết pháp vì chúng sinh.|Dưới ảnh hưởng của Càn-đà-la, thân thể của đức Phật được trình bày mềm mại và gầy hơn, ca-sa trở thành một y phục nhẹ nhàn với những nếp xếp song song mà qua nó, thân của Ngài hiện ra rõ ràng. Tượng Phật tại đây phát ra một nét dung hoà và nhân cách cao quý.
Mã Tổ Ðạo Nhất 馬祖道一; C: măzǔ dàoyī; J: baso dōitsu; 709-788; |Thiền sư Trung Quốc vĩ đại đời Ðường, môn đệ và người đắc pháp duy nhất của Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng. Sư có rất nhiều môn đệ đắc đạo không kém uy dũng như Bách Trượng Hoài Hải, Nam Tuyền Phổ Nguyện, Ðại Mai Pháp Thường, Ðại Châu Huệ Hải…|Sau Lục tổ Huệ Năng, Sư là người đã đem lại cho Thiền Trung Quốc một sắc thái đặc biệt. Sư chuyên sử dụng những phương pháp quái dị để dạy học trò như hét, im lặng, dựng phất tử, hay thình lình đánh gậy. Có khi Sư xô học trò xuống đất, vặn mũi bức tóc, tung ra những câu hỏi bất ngờ và cho những câu trả lời mâu thuẫn. Mục đích của mọi hành động đó là nhằm kéo thiền sinh ra khỏi mọi thói quen lí luận, dùng những cú sốc mạnh mẽ để giúp học trò khỏi vòng vây bọc của khái niệm để có một kinh nghiệm trực tiếp của Giác ngộ.|Sức giáo hoá của Sư mãnh liệt tới mức để lại được 139 đệ tử được truyền ấn. Mã Tổ được nhắc đến trong công án thứ 30 và 33 của Vô môn quan và công án thứ 3, 53 và 57 của Bích nham lục. Người đời sau vì quý trọng Sư quá nên gọi là Mã Tổ, tức là vị Tổ họ Mã. Sư cũng được phong danh là Giang Tây Pháp chủ. Tương truyền rằng Sư có những dấu hiệu đặc biệt của Thánh nhân (Ba mươi hai tướng tốt): mắt sáng như hổ và dáng đi như trâu, thè lưỡi đến mũi và dưới gan bàn chân có hình bánh xe.|Sư họ Mã, quê ở huyện Thập Phương. Lúc nhỏ, Sư vào chùa La Hán xin xuất gia với Hoà thượng Ðường ở Từ Châu, sau thụ giới cụ túc ở Du Châu. Sau, Sư đến Hoành Nhạc sống viễn li và ngày ngày tu tập thiền định. Cũng tại núi này, Sư gặp Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng và đắc pháp.|Cảnh Ðức truyền đăng lục kể câu chuyện sau về cách hoằng hoá của Sư và Thạch Ðầu Hi Thiên. Ðặng Ẩn Phong đến từ biệt Sư. Sư hỏi đi đâu, Ẩn Phong nói đi gặp Thạch Ðầu. Sư nói: »Ðường Thạch Ðầu trơn.« Ẩn Phong nói có cây gậy tuỳ thân, không sao. Ẩn Phong đến gặp Thạch Ðầu, dộng cây gậy xuống đất hỏi: »Ấy là tông chỉ gì?« Thạch Ðầu nói: »Trời xanh! Trời xanh!« Ẩn Phong không biết trả lời sao, về thuật lại Sư. Sư khuyên Ẩn Phong trở lại Thạch Ðầu, nếu Thạch Ðầu lại nói »Trời xanh« thì chỉ nên khòt mũi »Hư! Hư!«. Ẩn Phong nghe lời, đến Thạch Ðầu, dộng gậy, lại hỏi như trước. Lần này Thạch Ðầu chỉ khòt mũi »Hư! Hư!« Ẩn Phong không đáp được, lại trở về thuật lại, Sư nói: »Ta đã bảo ngươi đường Thạch Ðầu trơn.«|Có vị tăng đến hỏi Sư: »Thế nào được ngộ Ðạo?« Sư đáp: »Ta sớm chẳng ngộ Ðạo.« Tăng lại hỏi: »Thế nào là ý Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?« Sư liền nắm cây gậy đập và nói: »Nếu ta không đánh ngươi, các nơi sẽ chê ta.«|Lịch sử Thiền tông còn nhắc nhở những câu trả lời đặc biệt của Mã Tổ về »Phật là gì?« Những cuộc pháp chiến lừng danh của Sư với cư sĩ Bàng Uẩn được ghi lại trong Bàng cư sĩ ngữ lục. Các mẩu chuyện về Mã Tổ phần lớn được ghi trong Giang Tây Ðạo Nhất Thiền sư ngữ lục.|Ðời Ðường, niên hiệu Trịnh Nguyên, mùng bốn tháng hai, Sư có chút bệnh, tắm gội xong ngồi kết già thị tịch, thọ 80 tuổi, 60 tuổi hạ. Vua sắc thuỵ là Ðại Tịch.
Ma vương 魔王; S, P: māra; nguyên nghĩa là »kẻ phá huỷ«; |Hiện thân của thần chết, tượng trưng cho kẻ ngăn cản con người muốn Giác ngộ, muốn tạo Thiện (s: kuśala) nghiệp, muốn tiến bộ trên đường giác ngộ. Ma vương được xem là vua của tầng trời thứ sáu của dục giới (Tha hoá tự tại thiên, Ba thế giới, Thiên). Hình tượng của Ma vương được vẽ có trăm cánh tay, cưỡi voi.|Tương truyền lúc Phật Thích-ca sắp thành đạo, Ma vương tìm cách ngăn cản, không cho Ngài chuyển bánh xe pháp. Trước hết Ma vương hiện hàng trăm ngàn ma quỷ để trấn áp nhưng Ngài không sợ hãi, bất động. Sau đó Ma vương cho các ái nữ đẹp nhất tìm cách khuyến dụ nhưng dưới mắt Phật các nàng đó biến thành các con người xấu ác. Cuối cùng Ma vương đành khuất phục.
Mặc chiếu thiền 默照禪; C: mòzhǎo-chán; J: mokushō-zen; nghĩa là »Thiền của sự giác ngộ thầm lặng«;|Danh từ này xuất hiện và được sử dụng trong thời Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác (1091-1157) trong tông Tào Ðộng để phân biệt với phương pháp Khán thoại thiền trong dòng Lâm Tế. Theo phương pháp Mặc chiếu thiền, thiền sinh không cần phải dùng Công án mà chỉ việc ngồi trầm tĩnh tu tập Thiền định.|Như Khán thoại thiền trong dòng Lâm Tế, danh từ Mặc chiếu thiền được sử dụng ám chỉ dòng Tào Ðộng. Nói đến Mặc chiếu thiền là người ta nghĩ ngay đến Tào Ðộng.
Mặc nhiên 默然|Là sự lặng thinh, không trả lời. Biểu thị này thường được thấy trong hai trường hợp:|1. Chỉ sự im lặng của Phật Thích-ca Mâu-ni trước những câu hỏi về những chủ đề siêu nhiên, vượt khỏi tầm nhìn, vô bổ.|Các đệ tử của Ngài thường đặt những câu hỏi như »Có một Ngã hay không«, »Một Giác giả có tồn tại sau khi nhập Niết-bàn hay không«, »Thế giới vĩnh hằng hay không«. Ðức Phật giải thích sự im lặng của mình là những câu trả lời dành cho các câu hỏi này chẳng giúp ích gì trên con đường tu tập – bởi vì chúng không trợ giúp khắc phục tham ái, thành đạt trí huệ. Ngài lo ngại các vị đệ tử chỉ chú tâm vào những nghi vấn này mà xao lãng công trình tu tập.|Ðức Phật trình bày quan điểm của mình qua một ẩn dụ nổi tiếng: một người bị trúng tên. Người này được đưa đến y sĩ, và vị y sĩ muốn rút mũi tên ra lập tức. Nhưng kẻ bị trúng tên lại bảo: »Mũi tên này không được rút ra cho đến khi nào ta biết được kẻ nào đã bắn trúng ta, hắn thuộc về gia đình nào, thân thể lớn, bé hay vừa, da trắng, nâu hay đen.«|Và như người bị trúng tên chết trước khi nhận được những câu giải đáp – cũng như thế, các vị đệ tử sẽ bị những nỗi khổ thế gian đàn áp, sẽ chết trước khi nhận được những lời giải đáp về những vấn đề siêu nhiên, vô bổ nêu trên.|2. Chỉ sự im lặng như sấm sét (默如雷; mặc như lôi) của Cư sĩ Duy-ma-cật dành cho Bồ Tát Văn-thù, được ghi lại trong kinh Duy-ma-cật sở thuyết.
Mặc tích 墨跡; J: bokuseki; nghĩa là dấu mực;|Danh từ dùng để chỉ các tác phẩm, những lời văn, những chữ được các Thiền sư hoặc các vị tăng viết. Nội dung của các ›Dấu mực‹ thường là một pháp ngữ (j: hōgo) của các vị Thiền sư, Tổ sư. Một mặc tích được thực hiện không phải với tâm trạng ›muốn tạo‹ một tác phẩm nghệ thuật mà chính nó là một biểu hiện của một sự thật sinh động, xuất phát từ kinh nghiệm thiền.|Các mặc tích được các vị Thiền sư – đặc biệt là các vị thực hành Thư đạo (j: shodō) – trứ tác để cổ vũ, khuyến khích môn đệ, thường là được các môn đệ thỉnh cầu thực hiện. Khi thầy tặng môn đệ một mặc tích có nghĩa là vị thầy này ›cho đệ tử biết tâm trạng của mình‹. Có khi mặc tích chỉ là một chữ duy nhất, một chữ đặc biệt, có giá trị trung tâm cho Thiền, hoặc là một bài kệ ngộ đạo hoặc một câu pháp ngữ. Các mặc tích của các Ðại thiền sư Nhật Bản như Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki, 1275-1351), Nhất Hưu Tông Thuần (ikkyū sōjun, 1394-1481), Bạch Ẩn Huệ Hạc (hakuin ekaku, 1685-1768) và Tiên Nhai Nghĩa Phạm (sengai gibon) chính là những kiệt tác của nghệ thuật Thiền và nền nghệ thuật Nhật nói chung (xem sự tích về việc viết một mặc tích dưới Hành-trụ-toạ-ngọa).
Mai-tre-ya-na-tha S: maitreyanātha;|Một trong những người sáng lập Duy thức tông, được xem là sống ở thế kỉ 4-5. Các dữ liệu gần đây cho rằng đây chính là thầy của Vô Trước (s: asaṅga). Mặt khác, người ta xem Vô Trước là người được học hỏi trực tiếp từ đức Di-lặc (s: maitreya). Như vậy, có thể Mai-tre-ya-na-tha (maitreyanātha) chính là Bồ Tát Di-lặc. Vì vậy có người cho rằng Di-lặc là Sơ tổ của Duy thức tông.|Các tác phẩm sau đây được xem là của Mai-tre-ya-na-tha hoặc của Vô Trước: A-tì-đạt-ma tập luận (s: abhidharma-samuccaya) được trình bày theo dạng của Duy thức tông, Ðại thừa kinh trang nghiêm luận (mahāyānasūtralaṅkāra-śāstra), Trung biên phân biệt luận (mādhyānta-vibhāga-śāstra), một bài luận ngắn có tính giáo khoa và bộ luận Du già sư địa (yogācārabhūmi-śāstra) nổi tiếng.
Mạn 慢; S, P: māna;|Sự kiêu mạn tự cho ta bằng người (s: māna) hoặc hơn người (s: atimāna). Mạn là một trong mười Kết sử trói vào Luân hồi, chỉ hoàn toàn tan rã khi chứng quả A-la-hán. Mạn là một trong những Tuỳ miên (s: anuśaya; p: anusaya) và Phiền não (s: kleśa; p: kilesa).
Man-đa-la S: maṇḍala; nguyên nghĩa là »vòng tròn, vòng cung«;|Một khái niệm quan trọng của Phật giáo Tây Tạng và Kim cương thừa. Ðó là biểu tượng của vũ trụ và lực lượng trong vũ trụ diễn tả bằng những tranh vẽ. Người ta sử dụng Man-đa-la để tập trung thiền định, nó là xuất phát điểm của nhiều phương pháp Quán đỉnh. Tại Tây Tạng, người ta hiểu Man-đa-la là »trung tâm và ngoại vi«, là cơ sở để hiện tượng hợp nhất với bản thể. Vì vậy trong một Man-đa-la, người ta thường thấy vô số cảnh vật, hình tướng khác nhau, nhưng chúng nằm trong một tranh vẽ duy nhất với thứ tự trên dưới rõ rệt.|Trong Kim cương thừa, Man-đa-la không chỉ là đối tượng thiền quán mà còn là bàn thờ để thiền giả bày biện các lễ vật hay pháp khí. Tuy thế muốn được làm như thế, hành giả phải được một vị đạo sư thừa nhận và cho phép thực hiện Nghi quỹ (s: sādhana) đó. Mỗi Man-đa-la đều nhắm đến một vị Phật nhất định và vì thế lễ vật hay pháp khí đều phải phù hợp. Kim cương thừa xem mọi thứ đều có thể là Man-đa-la, từ thế giới ngoại cảnh đến chính bản thân hay tâm thức mình. Tuy nhiên theo truyền thống người ta hay xem Man-đa-la là một lâu đài hình vuông có bốn cửa nhìn ra bốn phía. Có 4 cách để xây dựng một Man-đa-la: 1. Bằng một bức hoạ (Thăng-ka), 2. Bằng cát nhuộm màu, 3. Bằng từng đống gạo nhỏ và 4. Bằng vật thể ba chiều, thường là kim loại. Nếu trung tâm của Man-đa-la vẽ một vị thần mặt mày dữ tợn, thường Man-đa-la đó hay chỉ tính vô thường của vạn sự, được vẽ với tử thi vây tròn chung quanh. Có khi Man-đa-la được vẽ với biểu tượng của các Phật gia (buddhakula).
Mạn-đát-la 曼怛羅; C: màndáluó; J: mantara; |Phiên âm chữ mantra trong tiếng Phạn, là lời nói mang một năng lực huyền nhiệm. Chân ngôn (眞言).
Mạn-đồ-la 曼荼羅; C: màntúluó; J: mandara; |Biểu tượng tượng trưng cho năng lực vũ trụ qua sắc thái hai hoặc 3 chiều, đặc biệt thường được dùng trong Mật tông Phật giáo, hỗ trợ cho pháp tu thiền định.
Mạn-đồ-la tập 曼荼羅集; C: màntúluó jí; J: mandara shū; |3 quyển, do Hưng Nhiên (興然, j: kōzen) sưu tập vào năm 1173. Là tuyển tập các hình tượng dành riêng cho mạn-đà-la, Trong một vài trường hợp, có một số đồ hình bổ khuyết cho kinh văn cùng nguồn gốc và là đối tượng cho việc thờ phượng. Nhiều hính tượng miêu tả trong tác phẩm nầy không được tìm thấy trong bản tuyển tập các hình tượng khác.
Mãn Giác 滿覺; 1052-1096|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 8 của dòng Thiền Vô Ngôn Thông. Sư nối pháp Thiền sư Quảng Trí và truyền tâm ấn lại cho đệ tử là Bản Tịnh.|Sư họ Nguyễn, thân phụ là Hoài Tố làm chức Trung thơ Viên ngoại lang. Lúc Lí Nhân Tông còn làm Thái tử, Sư được tuyển vào cung tham gia học thuật cùng với vua. Về sau, khi lên ngôi, Lí Nhân Tông ban cho Sư hiệu Hoài Tín.|Sau, Sư dâng biểu xin xuất gia, học với Thiền sư Quảng Trí và vân du khắp nơi. Sư là bậc lĩnh tụ pháp môn trong một thời, được vua Lí Nhân Tông cùng hoàng hậu hết sức kính nể và dựng chùa Giáo Nguyên thỉnh làm trụ trì.|Năm 1096 cuối tháng 11, Sư gọi chúng đọc bài kệ:|春去百花落。春到百花開|事逐眼前過。老從頭上來|莫謂春殘花落盡。庭前昨夜一枝梅|Xuân khứ bách hoa lạc|Xuân đáo bách hoa khai|Sự trục nhãn tiền quá|Lão tòng đầu thượng lai|Mạc vị xuân tàn hoa lạc tận|Ðình tiền tạc dạ nhất chi mai.|*Xuân đi trăm hoa rụng|Xuân đến trăm hoa cười|Trước mắt việc đi mãi|Trên đầu, già đến rồi|Chớ bảo xuân tàn hoa rụng hết|Ðêm qua – sân trước – một cành mai.|Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 45 tuổi. Sau lễ hoả táng, Xá-lị được thu lại thờ tại chùa Sùng Nghiêm, vua thuỵ hiệu là Mãn Giác.
Mãn nghiệp 滿業; C: mănyè; J: mangō;|Nghiệp đặc thù, chi tiết; còn gọi là Biệt báo (別報). Những hành vi tạo thành nghiệp – liên quan tức thời đến những nghiệp làm phát sinh các chi tiết khác biệt nhau giữa loài người, như sinh trong gia đình giàu hoặc nghèo, xấu hay đẹp, v.v… Điều này khác với kết quả tổng thể của nghiệp, như được sinh ra trong chủng loại nào,v.v… được gọi là Dẫn nghiệp (引業).
Mãn nguyện 滿願; C: mănyuàn; J: mangan;|1. Mãn nguyện, nguyện vọng thành tựu; 2. Hán dịch tên của Phú-lưu-na (富留那, pūrṇa) từ tiếng Phạn. Phú-lâu-na.
Mãn nguyệt 滿月; C: mănyuè; J: mangetsu; S: candra-aṃśu|1. Trăng tròn (s: candra-aṃśu); 2. Mãn Nguyệt, tên một vị Bồ Tát.
Mạn-thù ngũ tự tâm đà-la-ni kinh 曼殊五字心陀羅尼經; C: mànshū wŭzì xīntuóluóní jīng; J: manju goji shindarani kyō; |Tên gọi khác của bản dịch Kim cương đỉnh kinh du già Văn-thù Sư-lợi Bồ Tát pháp nhất phẩm (金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).
Mạn-thù Sư-lợi Bồ Tát chú tạng trung nhất tự chú vương kinh 曼殊師利菩薩呪藏中一字呪王經;; C: mànshūshīlì púsàzhòuzàng zhōng yīzì zhòuwáng jīng; J: manjushiri bosatsujuzō chū ichiji juō kyō; |1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch năm 703. Tương đương phẩm thứ 9 của Văn-thù Sư-lợi căn bản nghi quỹ (s: mañjuśrīmūlakalpa).
Man-tra S: mantra;|Là một số âm, chứa đựng sức mạnh đặc biệt của vũ trụ hoặc biểu hiện của một khía cạnh nào đó của Phật tính. Trong nhiều trường phái Phật giáo, Man-tra hay được lập lại trong các buổi tu tập hành trì, đặc biệt trong Kim cương thừa ở Tây Tạng. Ở đây Man-tra trở thành phương tiện trợ giúp tâm thức hành giả. Trong ba ải Thân, khẩu, ý thì Man-tra thuộc về khẩu và tác động thông qua âm thanh rung động do sự tụng niệm Man-tra phát sinh. Hành giả luôn luôn vừa đọc Man-tra vừa quán tưởng một đối tượng và tay giữ một Ấn (s: mudrā) nhất định như Nghi quỹ (s: sādhana) chỉ dẫn.|Trong các trường phái tại Tây Tạng thì chức năng của các Man-tra của mỗi cấp Tan-tra khác nhau. Có khi, trong lúc niệm Man-tra hành giả phải tập trung lên mặt chữ của Man-tra này hay tập trung lắng nghe âm thanh của nó. Nếu hành giả tập trung lên mặt chữ, thì các chữ đó hiện thành linh ảnh. Nếu tập trung lên âm thanh thì hành giả cần niệm thành tiếng hay tưởng tượng ra thanh âm của nó. Chương 5 của tác phẩm Subāhuparipṛcchā có ghi:|Lúc đọc Man-tra,|Ðừng quá gấp rút,|Ðừng quá chậm rãi,|Ðọc đừng quá to tiếng,|Ðừng quá thì thầm,|Không phải lúc nói năng|Không để bị loạn động.
Mãn tự 滿字; C: măn zì; J: manji;|1. Giáo lí viên mãn của Đức Phật; 2. Trong tiếng Phạn, chỉ cho sự kết hợp của một nguyên âm và phụ âm để tạo thành một chữ hoàn chỉnh.
Mãn túc 滿足; C: mănzú; J: manzoku;|1. Sự hoàn thành (ham muốn hay mục đích). Đáp ứng, thoả mãn, đáp lại, làm vừa lòng. Hoàn thành, hoàn chỉnh; 2. Giáo lí toàn hảo.
Mao luân 毛輪; C: maó lún; J: mōrin; S: keśa-uṇduka.|Sự ví von được dùng như nghĩa của Không hoa (空華). Ẩn dụ cho ảo giác mê lầm khi nhìn lên trời lâu, khiến mắt bị suy yếu mỏi mệt nên thấy những hình tượng như vậy.
Mạt hậu 末後; C: mòhòu; J: matsugo; |Sau cùng; lúc cuối cùng; điểm kết thúc.
Mật-lặc Nhật-ba 蜜勒日波; T: milarepa [mi-la-ras-pa]; 1052-1135, có nghĩa là »Mật-lặc, người mặc áo vải khổ hạnh«;|Một trong những thánh nhân nổi tiếng nhất của Tây Tạng. Ông là đệ tử của Mã-nhĩ-ba (t: marpa) và bị thầy thử thách khắc nghiệt. Cuối cùng ông được truyền giáo pháp Ðại thủ ấn và Na-rô lục pháp (nāro chodrug), sáng lập tông phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Ngày nay, Phật giáo Tây Tạng vẫn còn nhắc nhở lại cuộc đời phiêu bồng và những bài ca của ông.||H 43: Mật-lặc Nhật-ba đang lắng tai nghe âm thanh của chư thiên và pháp. Cũng có thuyết nói rằng, tay phải của ông đang ở trong một tư thế tu tập của Ðại cứu kính (t: dzogchen). Dây nịt quàng vai và đầu gối (s: yogapaṭṭa) của ông được nhiều Du-già sư (s: yogin) sử dụng trong những chu kì thiền định nhọc nhằn, giúp thiền giả ngồi vững, không ngả ra phía trước hoặc phía sau.|Mật-lặc Nhật-ba sinh tại Tây Tạng, gần biên giới Nepal. Lúc lên bảy, cha mất, gia sản bị chiếm đoạt, gia đình ông bị đối xử tàn tệ. Nhằm trả thù nhà, Mật-lặc Nhật-ba đi học huyền thuật, dùng phép hô phong hoán vũ giết hại nhiều người. Ăn năn về hành động đó, ông tìm gặp một vị Ðạo sư của tông Ninh-mã (t: nyingmapa) là Rong-ton xin học nhưng vị này khuyên nên gặp Mã-nhĩ-ba. Ông trở thành môn đệ của Mã-nhĩ-ba lúc 38 tuổi, nhưng suốt sáu năm chỉ được xem là kẻ hầu, và Mã-nhĩ-ba thử thách khắc nghiệt làm ông hầu như kiệt sức và gần muốn tự vận.|Với thời gian đó, ác nghiệp của ông đã được trả xong, Mã-nhĩ-ba bắt đầu dạy pháp cho ông bằng cách sống viễn li cô tịch, truyền cho giáo pháp của Na-rô-pa (t: nāropa) và đặc biệt chú trọng phép phát triển Nội nhiệt (Na-rô lục pháp). Chỉ với một chiếc áo vải mỏng manh, ông sống năm này qua năm khác trong cái lạnh của Hi-mã-lạp sơn, chỉ chuyên tâm thiền định trong các hang động. Sau chín năm độc ẩn, ông bắt đầu thu nhận môn đệ, trong đó có vị y sĩ Ðạt-bảo Cáp-giải (t: dvags-po lharje) là người quan trọng nhất. Mật-lặc Nhật-ba để lại nhiều bài ca bất hủ cho đời sau và những bài ca này được ghi lại trong một tập dưới tên Thập vạn ca (100.000 bài hát của Mật-lặc Nhật-ba).
Mạt-na 末那; C: mònà; J: mana; S: manas; P: mano;|Phiên âm chữ manas từ tiếng Phạn, thường dịch sang chữ Hán là Ý. Theo giáo lí Duy thức, mạt-na là thức thứ 7 trong 8 thức. Nó được xem là cứ điểm sinh khởi những quan niệm sai lầm về ngã (ngã si, ngã kiến, ngã mạn) và những phiền não do kết quả từ những quan niệm sai lầm trên. Mạt-na thức (末那識).
Mạt-na thức 末那識; C: mònàshì; J: manashiki; S: manas. |Thức mạt-na, thức thứ 7 trong 8 thức. Một trong các chức năng chính của nó là nhận lập trường chủ quan của thức thứ 8 (A-lại-da thức), lầm cho lập trường này là bản ngã của chính mình, vì vậy mà tạo ra ngã chấp. Bản chất của nó là suy tính, nhưng có sự khác nhau giữa nó và thức thứ 6. Nó được xem là tâm trạng của một lĩnh vực mà người ta không thể điều khiển một cách có chủ ý, thường sinh khởi những mâu thuẫn của những quyết định tâm thức, và không ngừng chấp dính vào bản ngã. Vì nó còn được xem là sự hoạt dụng của tâm thức con người – một tâm thức thấy được hạn cuộc của sự biến đổi trong vòng giới hạn – cho nên, điều tất yếu cho sự tồn tại của nó chính là việc con người có một vài điều chủ yếu tương tục biến chuyển không ngừng, mang công năng như một cơ sở của thức thứ 6. Du-già sư địa luận nói: »Mạt-na nhậm trì ý thức linh phân biệt chuyển, thị cố thuyết vi ý thức sở y 末那任持意識令分別轉是故説爲意識所依« nghĩa là: Mạt-na nhận lấy ý thức, khiến sinh khởi phân biệt; nên gọi nó là chỗ y cứ của ý thức. Thức nầy còn được gọi là nơi cùng tích chứa thiện ác, và nói theo lí thuyết thì nó là lĩnh vực kết nối giữa ý thức và A-lại-da thức. Gọi là »căn bản phiền não«, còn được gọi là »nhiễm ô thức«, có liên quan đến bốn loại ngã chướng nhiễm ô: ngã si, ngã kiến, ngã mạn và ngã ái.
Mạt-nô-sa 末奴沙; C: mònúshā; J: manusha;|Phiên âm từ chữ manuṣya trong tiếng Phạn, có nghĩa là con người, sự hiện hữu của con người, đặc biệt là trong 6 nẻo luân hồi (lục thú 六趣).
Mạt pháp 末法; C: mòfă; J: mappō;|Thời sau cùng của chính pháp, vốn có tên gọi khác là mạt thế (末世), là thời gian sau khi Đức Phật nhập niết-bàn; do người Trung Hoa hệ thống vào cuối thế kỉ thứ 6 như là thời kì thứ 3 và là thời cuối cùng trong 3 thời kì của Phật pháp. Chính tượng mạt (正像末).
Mạt thế 末世; C: mòshì; J: masse; S: paścima-kāla. |Thời tương lai. Đời sau. Giai đoạn chính pháp bị suy yếu. Thời đại cuối cùng.
Mật tông 密宗; C: mì-zōng;|Trường phái Mật giáo tại Trung Quốc, do ba Cao tăng Ấn Ðộ đưa vào trong thế kỉ thứ 8. Ðó là Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākāra-siṃha, 637-735), Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi, 663-723) và Bất Không Kim Cương (不空金剛; s: amoghavajra, 705-774). Thiện Vô Uý được phong là Quốc sư, là người dịch kinh căn bản của tông này là Ðại Nhật kinh (s: mahāvairocana-sūtra) ra chữ Hán, Bất Không dịch các Man-tra và Ðà-la-ni của bộ kinh đó.|Các yếu tố quan trọng của Mật tông là phép niệm Man-tra, phép bắt Ấn (s: mudrā) và sử dụng Man-đa-la cũng như các lần Quán đỉnh (灌頂; s: abhiṣeka). Mật tông là giáo pháp mà sư phụ truyền cho học trò bằng lời (khẩu quyết) và đó là lí do mà Mật tông không được truyền bá rộng rãi. Bất Không là thầy của ba nhà vua Trung Quốc và sau khi Sư mất thì Mật tông suy tàn vì không có vị đạo sư nào từ Ấn Ðộ đến nữa.|Trường phái này được Ðại sư Không Hải (空海; j: kūkai) đưa qua Nhật dưới tên Chân ngôn tông (j: shingon-shū), là một trong những tông phái quan trọng của nền Phật giáo Nhật Bản. Không Hải là môn đệ của Ðại sư Huệ Quả, một môn đệ của Bất Không.
Mâu-ni 牟尼; S, P: muni; nghĩa là Thánh nhân, Trí giả, người có trí huệ; |Danh từ chỉ người đã đạt được thánh quả, đã đắc đạo. Thời đức Phật Thích-ca, danh từ Mâu-ni cũng được sử dụng chỉ người tu hạnh không nói (tịnh khẩu).
Mâu Tử 牟子|sinh khoảng năm 165-170, được xem là Luận sư đầu tiên của Phật giáo Việt Nam. Tác phẩm quan trọng của Sư còn được nhắc lại là Lí hoặc luận (luận giải cho những nghi ngờ về đạo Phật).
Mê-đi-ni S: medhini; »Nông gia kiệt sức«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời nào.|Ông là một nông dân ở Hoa Thị thành (s: pāṭalipu-tra). Ngày nọ, một vị Du-già sư dạy ông phép thiền quán, nhưng cố gắng tới mấy đầu óc ông vẫn vương vấn chuyện cày cấy. Ông thú nhận điều đó với vị này, vị này dạy ông quán tưởng như sau:|Lưỡi cày ví tâm thức,|Trâu bị ví cảm thụ,|vui sướng và khổ đau,|hãy cày bừa đồng ruộng,|của cuộc đời thế gian.|Hãy gieo hạt nhận thức,|rồi gặt hái quả chín,|của niềm vui thanh tịnh,|phúc hạnh ngập đầy tràn,|suối nguồn của thật tại.|Sau mười hai năm quán tưởng, những khái niệm ràng buộc ông bấy lâu nay tự tan biến, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Nhờ nhận thức toàn diện,|về tri kiến tiên thiên,|nhờ phương tiện khéo léo,|của trí óc phân biệt;|mà Tự tính nổi lên,|từ chiều sâu thăm thẳm.|Lành thay, đã chứng đạt.
Mê-kha-la S: mekhalā;|Một Du-già-ni Tất-đạt (s: yoginī siddhā) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9.|Một gia đình nọ tại Ðê-vi Kốt-ta (devīkoṭṭa) có hai cô con gái, Mê-kha-la và Ka-na Kha-la (kanakhalā). Hai cô này sớm được gả cho hai công tử, nhưng hai ông chồng sớm chê trách hai nàng, mặc dù hai nàng không có lỗi lầm gì. Lần đó thì Ðạo sư Kan-ha-pa (s: kāṇhapa) du hoá, có bảy trăm Không hành nam (s: ḍāka), nữ thần theo hộ tống, thiên nhạc trỗi lên vang lừng, ai cũng thấy cũng nghe được. Hai nàng liền quyết đi theo để xin học hỏi. Vị Ðạo sư chấp nhận và hướng dẫn vào Kim cương Va-ra-hi (vajra-vārāhī) và dạy cho nàng cách quán tưởng.|Mười hai năm liên tục, hai nàng tu tập thiền định và sau đó tìm gặp lại thầy. Vị Ðạo sư hỏi các nàng là ai và đòi phẩm vật cúng dường. Khi nghe thầy đòi cúng dường »bản thân« thì hai nàng biến lưỡi thành kiếm, tự cắt đầu dâng thầy và đọc bài kệ:|Nhờ Ðạo sư khai thị,|đã thực hiện thiền quán,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa Niết-bàn, Sinh tử.|Tri Hành đã hợp nhất,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa việc Cho, việc Nhận.|Không vô biên đã cùng,|Tâm tỉnh giác thanh tịnh,|đã phá huỷ phân biệt,|giữa cái Ta và Người.|Xin cúng dường vật này,|dấu hiệu của Vô tâm.|Vị Ðạo sư không ngờ đệ tử mình đã ngộ đạo, nhưng khuyên:|Hãy nhìn Du-già-ni|đạt niềm vui giải thoát!|Hãy tạm quên hạnh phúc,|sống phục vụ tha nhân.|Căng-ha-ba đặt đầu lại trên vai họ, thân hai nàng đều nguyên vẹn như cũ. Những người chứng kiến đều rất khâm phục, gọi hai nàng là »Du-già-ni mất đầu«. Khi cả hai cúi đầu chạm chân vị Du-già sư thì họ đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Bài ca thành đạo của Mê-kha-la (người chị) như sau:|Mọi hiện tượng trong ngoài,|đó chính là Tâm hiện.|Thiền định không vướng mắc,|tất cả đều một vị.|Trong thiền định tối thượng,|không chút tâm sở cầu,|ta đã chứng Bất nhị,|và Phật quả hoàn toàn.
Mê-kô-pa S: mekopa; »Ðạo sư với cặp mắt nhìn trừng«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 11.|Ông là một người bán thức ăn rong tại Bengalen, có thói quen tốt là luôn luôn cúng dường thức ăn cho một Du-già sư nọ. Một hôm, vị Du-già sư hỏi tại sao ông cứ cúng dường thức ăn, ông cho hay là muốn thu thập Phúc đức cho đời sau. Nghe vậy, vị này dạy ông về tính nhất thể của Luân hồi và Niết-bàn. Tuỳ nơi tư duy con người mà Niết-bàn hay Sinh tử hiện ra là một hay khác và giải thoát cũng nằm nơi con người. Sau lời khai thị đó, Mê-kô-pa chỉ cần 6 tháng để đạt tri kiến về tự tính muôn vật, đạt Tất-địa. Sau đó ông đi lang thang trên bãi thiêu xác, hay vào thành mở mắt thật lớn nhìn người qua kẻ lại, như một người điên. Người đời gọi là ông là »Du-già sư trợn mắt.« Bài kệ thành đạo của ông như sau:|Ðạo sư há dạy rằng:|»Hãy liễu ngộ tự tính,|Từ bỏ óc phân biệt,|làm quen pháp Bất nhị,|sống trên bãi thiêu xác.|Ðã ngộ tính Bình đẳng,|thõng tay vào thế gian,|như một tên điên khùng«.
Mệnh (mạng) 命; C: mìng; J: myō;|Có các nghĩa sau: 1. Đời sống, tính mệnh; 2. Số phận hoặc định mệnh của con người, đặc biệt được ân định bởi mệnh trời (thiên mệnh 天命); 3. Luật lệ, nguyên tắc, trật tự. Vận, đạo, sử (運, 道, 使).
Mệnh căn 命根; C: mìnggēn; J: myōkon; S: jīvita-indriya.|Một trong 14 pháp Tâm bất tương ưng hành trong Câu xá luận (倶舎論); một trong 24 pháp Tâm bất tương ưng hành theo Duy thức tông. Tiềm lực mệnh sống của đời người trong một khoảng thời gian nhất định, nơi mà A-lại-da thức, – như là kết quả ảnh hưởng phổ quát của nghiệp lực – có năng lực tồn tại trong 50 đến 70 năm. Lực tiềm tàng nầy được duy trì trong danh ngôn chủng tử của A-lại-da thức.
Mệnh chung 命終; C: mìngzhōng; J: myōjū; P: maraṇa; S: maraṇa, kṛta-āyus, mṛtyu, cyuti. |Giờ phút cuối cùng của đời người; chết; qua đời.
Mệnh chung tâm 命終心; C: mìngzhōngxīn; J: myōshūshin; |Trạng thái tâm của người sắp qua đời. Sinh khởi 4 tâm trạng bám víu vào sự tồn tại của kiếp người, với tài sản sở hữu, gia đình thân thuộc và với sự hiện hữu trong tương lai. Tam ái (三愛)
Mi-na-pa S: mīnapa; »Người cá«; |Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, là một nhân vật thần kì không xác định được trong lịch sử. |Ông là một ngư phủ, ngày nọ ông bị cá nuốt vào bụng nhưng ông vẫn tiếp tục sống trong bụng cá. Ngày nọ, vua trời Ðại Thiên (s: mahādeva, maheśvara, śiva) giảng pháp thâm diệu cho hoàng hậu Ô-ma Ðề-vi (s: umādevī) tại đáy biển để không ai nghe lén. Mi-na-pa nghe được và sau khi vua trời biết thế, ông truyền pháp luôn cho ông. Sau 12 năm tu trong bụng cá, Mi-na-pa đạt chính kiến. Sách chép rằng ông giáo hoá đến 500 năm, làm nhiều phép thần thông, để dấu chân lên đá v.v…|Chứng đạo kệ của ông như sau:|Ngư phủ Mi-na-pa,|lạc trên biển số phận,|sống sót trong bụng cá.|Nhờ học phép Du-già,|tưởng chỉ dành Ô-ma Ðề-vi.|Sau đó, ngay đá tảng,|không mang nổi sức nặng,|đầy minh triết trong ta.
Miễn xuất 勉出; C: miǎnchū; J: mensui;|Cứu thoát ra khỏi, sự thoát khỏi, trả lại.
Minh 明; C: míng; J: myō; |1. Biết, sự hiểu biết; 2. Kinh Vệ-đà (veda); 3. Trí tuệ giác ngộ. Sự giác ngộ (s: vidyā); 4. Chiếu sáng (s: prabhā, āloka, avabhāsa); 5. Khéo léo, tài giỏi (s: kauśala); 6. Ngày mai.
Minh 冥; C: míng; J: myō;|Có các nghĩa sau: 1. Tối, đặc biệt trong ẩn dụ về Vô minh; 2. Liên kết toàn bộ; hợp nhất; 3. Huyền bí, thần bí.
Minh ám 明暗 (闇); C: míngàn; J: myōan;|Sáng và tối. Sự chiếu sáng và bóng tối (s: āloka-tamas).
Minh Am Vinh Tây 明菴榮西; J: myōan eisai; 1141-1215;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, dòng Hoàng Long. Sư được xem là vị Tổ khai sáng Thiền tông tại Nhật Bản. Sư đến Trung Quốc hai lần và lần thứ hai, Sư được Thiền sư Hư Am Hoài Sưởng (虛庵懷敞) ở chùa Vạn Niên trên núi Thiên Thai ấn chứng. Sư cũng là thầy đầu tiên của Ðạo Nguyên Hi Huyền, người khai sáng dòng Thiền Tào Ðộng tại Nhật.|Việc khai sáng Thiền tông tại Nhật được xem là thành tựu của Vinh Tây nhưng sự kiện này phải được đính chính lại một ít bởi vì sự thành lập Thiền tông tại Nhật – nếu nhìn một cách tổng quát – là một quá trình lâu dài, qua nhiều cấp bậc. Sư là người – có thể nói – thực hiện những bước quan trọng đầu tiên để Thiền tông được hưng thịnh tại đây.|Sư sinh ra trong một gia đình mộ đạo tại Bitchū (bây giờ là Okayama), học hỏi Phật pháp từ nhỏ. Năm 14 tuổi, Sư xuất gia trên núi Tỉ Duệ (j: hiei) tại Kinh Ðô (kyōto), trung tâm của Thiên Thai tông tại Nhật Bản. Sư chú tâm học hỏi tất cả những lí thuyết căn bản của Thiên Thai tông và cả Mật giáo của tông này (台密; Thai mật; j: taimitsu) trong thời gian ở tại đây.|Sau đó, Sư quyết định sang Trung Quốc để học hỏi thêm. Lần sang Trung Quốc đầu tiên (1168) đã mang đến cho Sư một ấn tượng về Thiền tông tại đây. Chuyến du học này kéo dài không lâu (7 tháng) và kết quả chỉ là những bài luận của Thiên Thai tông tại Trung Quốc mà Sư mang trở về quê nhà. Chuyến du học thứ hai xảy ra gần hai mươi năm sau đó (1187) và chuyến đi này là mốc ngoặt quan trong trong cuộc đời của Sư. Ban đầu, Sư có ý định đến tận Ấn Ðộ để thăm những thánh tích của đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni và sau khi đặt chân lên đất Trung Quốc, Sư liền xin phép đi từ đây sang Ấn Ðộ nhưng sự từ chối của chính quyền lúc bấy giờ buộc Sư phải ở lại. Ðây chính là cơ hội để Sư tham vấn các vị Thiền sư Trung Quốc. Dưới sự hướng dẫn của Hư Am Hoài Sưởng – một vị Thiền sư thuộc đời thứ tám dòng Hoàng Long Huệ Nam tông Lâm Tế – Sư đạt yếu chỉ Thiền và được Ấn khả. Sau bốn năm du học, Sư trở về Nhật, tuyên truyền giáo lí của Thiền tông tại đây. Trong thời gian sau (1198), Sư soạn bộ Hưng thiền hộ quốc luận (興禪護國論; j: kōzen gokokuron) để xiển dương Thiền tông và để chống đối lại sự phản bác mạnh mẽ của các vị tăng thuộc Thiên Thai tông. Sư viết như sau trong Hưng thiền hộ quốc luận: »Tổ Tối Trừng (j: saichō) của Thiên Thai tông đã từng dạy Thiền; nếu Thiền tông chẳng có ý nghĩa gì thì Ðại sư Tối Trừng cũng chẳng có ý nghĩa gì và – nếu Ðại sư Tối Trừng chẳng có ý nghĩa gì thì Thiên Thai tông cũng chẳng có ý nghĩa gì.«|Sư không những là một Thiền sư lỗi lạc mà còn rành về cả y thuật, đặc biệt là cách dưỡng sinh bằng trà. Sư có viết Khiết trà dưỡng sinh kí (喫荼養生記; j: kissa yōjōki), nói về tác dụng của trà và chính từ đây Trà đạo bắt đầu có tại Nhật. Tác phẩm khác của sư là Bồ-đề tâm luận khẩu quyết (菩提心論口訣, j: bodaishinron kōketsu), Hưng thiền hộ quốc luận (興禪護國論, j: kōzengokoku ron), Xuất gia đại cương (出家大綱, j: shukke daikō), còn thêm những luận giải về tông Thiên Thai và Mật giáo. |Trong những năm cuối đời, Sư hoằng hoá tại hai trung tâm Kinh Ðô (京都; j: kyōtō) và Liêm Thương (鎌倉; j: kamakura). Sư tịch năm 1215, thọ 75 tuổi.
Minh Chiêu Ðức Khiêm 明招德謙; C: míngzhāo déqiān; J: meishō hoặc myōshō tokken; tk. 10; |Thiền sư Trung Quốc dòng Ðức Sơn Tuyên Giám. Sư nối pháp Thiền sư La Sơn Ðạo Nhàn. Vì Sư chột mắt bên trái nên cũng được thời nhân gọi là Ðộc Nhãn Long (獨眼龍). Sư giáo hoá lại núi Minh Chiêu hơn 40 năm và những lời dạy của Sư được truyền bá rộng rãi thời đó. Tương truyền Sư ấn khả cho năm môn đệ.
Minh chủ 明主; C: míngzhŭ; J: myōshu;|Người lĩnh đạo thông thái và trung thực.
Minh đắc 明得; C: míng dé; J: myōtoku;|Tên gọi khác của món đầu tiên trong Tứ thiện căn, đó là Noãn (煖). Như cách ánh sáng hiện ra trước khi mặt trời mọc, người tu cũng có sự báo trước của trí tuệ giác ngộ. Giai vị nầy gọi là »Minh đắc«.
Minh Ðế 明帝; C: míngdì;|Hoàng đế cai trị nhà Hán từ năm 58-75, còn gọi là Hán Minh Ðế. Theo truyền thuyết, Minh Ðế nằm mộng mà sau đó cho truyền đạo Phật tại Trung Quốc. Ông nằm mơ thấy một vị thần áo vàng lơ lửng trước điện. Hỏi các đại thần, có người cho hay có thánh nhân xuất hiện ở Ấn Ðộ, là người giác ngộ đạt Phật quả. Người đó có »màu da vàng tuyền và biết bay«. Sau đó Minh Ðế gởi một phái đoàn đi Ấn Ðộ. Phái đoàn về mang theo bộ kinh Tứ thập nhị chương. Minh Ðế cho xây hẳn một lâu đài để thờ kinh đó. Ðó là bộ kinh đầu tiên được dịch ra chữ Hán và đạo Phật được truyền vào Trung Quốc bắt đầu từ đây.
Minh giới 冥界; C: míngjiè; J: myōkai;|Cõi tối tăm, thường nói đến ba cõi địa ngục, ngạ quỷ, và súc sinh. Đặc biệt là nói đến địa ngục.
Minh hạnh túc 明行足; C: míngxíngzú; J: myōgyōsoku;|Trí tuệ và công hạnh viên mãn. (s: vidyā-carana-saṃpanna; t: rig pa daṅ shabs su ldan pa). Người đã hoàn mãn trí tuệ và công hạnh tu tập. Là 1 trong 10 danh hiệu của Đức Phật. Vốn là một thuật ngữ của Kì-na giáo mà Phật giáo đã quen sử dụng.
Minh Hữu 明友; C: míngyŏu; J: myōyū;|Hán dịch tên của Prabhākaramitra, thường phiên âm là Ba-la-ca Phả-mật-đa-la (波羅迦頗蜜多羅).
Minh Không 明空; 1076-1141|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Không biết Sư nối pháp ai, chỉ biết rằng Sư kết bạn cùng với hai vị Ðạo Hạnh và Giác Hải.|Sư tên tục là Nguyễn Chí Thành, quê ở làng Loại Trì, huyện Chân Ðịnh, tỉnh Nam Ðịnh. Năm lên 29 tuổi, Sư cùng với hai vị Giác Hải và Ðạo Hạnh sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) học đạo, đạt được thần thông. Trở về quê, Sư kiến lập chùa Diên Phúc và chuyên trì chú Ðại bi tại đây.|Sư rất có công trong việc thu thập vật liệu để tạo »Ðại Nam tứ khí«, đó là tượng Phật, hồng chung, cái đỉnh, cái vạc. Tượng Phật A-di-đà được đúc và thờ tại chùa Quỳnh Lâm, huyện Ðông Triều tỉnh Hải Dương; cái đỉnh được đúc tại kinh đô, nơi tháp Báo Thiên; Ðại hồng chung được đúc tại Phổ Loại, vạc tại Minh Ðảnh.|Sư thường thi triển thần thông để giáo hoá chúng và tương truyền rằng, Sư cũng là người chữa bệnh hoá cọp của vua Lí Thần Tông.|Niên hiệu Ðại Ðịnh thứ 2 (1141), Sư viên tịch. Tượng của Sư và bia kí vẫn được tôn thờ tại chùa Lí Quốc Sư, quận Hoàn Kiếm, Hà Nội.
Minh liễu 明了; C: míngliăo; J: myōryō; S: uttāna-kriyā. |Sáng sủa dễ hiểu. Hiểu rõ.
Minh lợi 明利; C: mínglì; J: myōri;|1. Nhạy bén, sắc sảo, thường thấy ở những người có trí tuệ, hay thường thấy ở tri giác của người có kiến văn hoàn hảo v.v…; 2. Xuất sắc, ưu tú.
Minh Lương 明良; tk. 16-17|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Lâm Tế truyền sang miền Bắc, đời thứ 35. Sư nối pháp Thiền sư Chuyết Công. Môn đệ đắc pháp nổi tiếng của Sư là Thiền sư Chân Nguyên Huệ Ðăng.|Không rõ họ và quê quán Sư ở đâu. Chỉ biết khi nghe tin Hoà thượng Chuyết Công từ Trung Quốc sang, Sư tìm đến tham vấn.|Sư hỏi: »Khi sinh tử đến làm sao trốn tránh?« Chuyết Công đáp: »Chọn lấy nơi không sinh tử trốn tránh.« Sư hỏi: »Thế nào là nơi không sinh tử?« Chuyết Công đáp: »Ở trong sinh tử nhận lấy mới được.« Nghe vậy, Sư vẫn chưa ngộ. Chuyết Công bảo: »Hãy lui đi, đợi chiều hãy đến.«|Chiều, Sư lại đến. Chuyết Công bảo: »Ðợi sáng mai chúng sẽ vì ngươi minh chứng.« Sư nghe đây bỗng nhiên tỉnh ngộ, quì sụp xuống lạy. Sư được Chuyết Công Ấn khả và truyền tâm ấn.|Sau đó, Sư rời thầy trở về trụ trì chùa Vĩnh Phúc núi Côn Lương ở Phù Lãng. Nơi đây, Sư dốc lòng giáo hoá đồ chúng.|Sắp tịch, Sư truyền pháp cho Chân Nguyên và nói kệ:|美玉藏頑石。蓮花出淤泥|須知生死處。悟是即菩提|Mĩ ngọc tàng ngoan thạch|Liên hoa xuất ứ nê|Tu tri sinh tử xứ|Ngộ thị tức Bồ-đề.|*Ngọc quý ẩn trong đá|Hoa sen mọc từ bùn|Nên biết chỗ sinh tử|Ngộ vốn thiệt Bồ-đề.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Nay ta trở về«. Vừa dứt lời, Sư viên tịch.
Minh Nguyệt viện 明月院; C: míngyuèyuàn; J: myōgetsuin;|Viện Minh Nguyệt năm ra đời năm 1160 với tên Minh Nguyệt am (j: meigetsu-an) do Yamanouchi Tsunetoshi (山ノ内經俊) thành lập để cầu siêu cho thân phụ mình là Toshimichi, bị chết trong chiến trận Heiji vào năm trước. Năm 1256, Hojo Tokiyori chọn nơi nầy để kiến trúc chùa Phật giáo tên là Saimyōji (phía Tây bắc Viện Minh Nguyệt ngày nay). Năm 30 tuổi, Tokiyori xuất gia làm Tăng sĩ với pháp danh Giác Liễu Phòng Đạo Sùng (覺了房道崇 j: kakuryōbō dosū). Khi thị tịch vào 7 năm sau, sư viết bài thi kệ nầy khi dang trong tư thế toạ thiền:|Suốt 37 năm,|Ta giương cao tấm gương nghiệp.|Nay với một cú đập mạnh, ta phá ra từng mảnh.|Và đại đạo biến mất.|Về sau Saimyōji trở thành người kế vị ngôi chùa mới tên là »fukugenzan zenkōkōshōzenji« (zenkōji) do Tokimune con trai của Hojo Tokiyori thành lập. Vị trú trì đầu tiên là Mật Thất Thủ Nghiêm (密室守嚴, j: misshitsu shugon), đệ tử truyền pháp thứ 5 của Thiền sư Đại Giác (j: daikaku), người sáng lập chùa Kenchōji. Năm 1380, Tướng quân Ashikaga Ujimitsu thăng cấp cho Zenkōji do việc kiến trúc những cung điện mới, mở rộng lãnh thổ và xây dựng thêm chùa chiền. Trong cương vị thứ ba trong hàng tướng quân, Ashikaga Yoshimitsu xếp hạng chùa Zenkōji đứng hàng thứ nhất trong 10 ngôi đại tự ở vùng Kanto. Trong khi đó, Minh Nguyệt am được đổi tên thành Minh nGuyệt viện và được công nhận là chi nhánh của chùa Zenkōji. Tượng thờ chính ở điện Phật là Bồ Tát Quán Thế Âm, vị Bồ Tát của tình thương. Một bộ tranh minh hoạ cổ mang tên »Meigetsuin Ezu« cho cái nhìn tổng quát về tu viện nầy trong thời hoàng kim. Chùa Zenkōji bị rơi vào hoang phế chẳng bao lâu sau thời Minh Trị Phục hưng (1867), và chỉ còn Meigetsu-in đến ngày nay. Viện nầy thuộc chi nhánh Kenchōji trong dòng thiền Lâm Tế.
Minh nhất 冥一; C: míngyī; J: myōichi;|Hợp nhất một cách hài hoà thế nên khó phân biệt được.
Minh Phong Tố Triết 明峰素哲; J: meihō sotetsu; 1277-1350;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, nối pháp Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn (j: keizan jōkin) và là bạn đồng học của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki).
Minh Tâm 明心; ?-1034|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 7, nối pháp Thiền sư Ðịnh Hương (xem thêm dưới Bảo Tính).
Minh Trí 明智; ?-1196|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư họ Tô, tên Thiền Trí, quê ở làng Phù Cầm. Sư bẩm chất thông minh, nhân lúc gặp Thiền sư Ðạo Huệ liền xin xuất gia. Nơi Ðạo Huệ, Sư đạt yếu chỉ thiền, thông hiểu các bộ kinh luận lớn như Viên giác, Pháp hoa và Truyền đăng lục. Vua thấy vậy kính phục, phong hiệu là Minh Trí.|Niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 11, sắp thị tịch, Sư nói kệ:|隨風水月明。無影亦無形|色相這箇是。空空尋響聲|Tuỳ phong thuỷ nguyệt minh|Vô ảnh diệc vô hình|Sắc tướng giá cá thị|Không không tầm hưởng thanh.|*Theo gió trăng nước sáng|Không bóng cũng không hình|Sắc tướng chỉ thế ấy|Trong không tìm tiếng vang.|Nói xong, Sư lặng lẽ viên tịch.
Mỗ 某; C: mŏu; J: bō;|Người hay vật nào đó.
Mỗ giáp 某甲; C: mŏu jiă; J: bōkō; |Một người nào đó, một ai khác;
Mộc Am Tính Thao 木菴性瑫; C: mùān xìngtāo; J: mokuan shōtō; 1611-1684;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Hoàng Bá (j: ōbaku-shū). Sư nối pháp Thiền sư Ẩn Nguyên Long Kì, và cùng với thầy sang Nhật giáo hoá.|Tại Nhật, Ẩn Nguyên khai sáng tông Hoàng Bá và cử Sư làm vị Tổ thứ hai (1664). Sư thành lập Thuỵ Thánh tự (zuishō-ji) tại Ðông Kinh (tōkyō), góp công rất nhiều trong việc truyền bá tông này tại Nhật.
Mộng Song Sơ Thạch 夢窗疏石; J: musō soseki; 1275-1351;|Thiền sư Nhật Bản danh tiếng thuộc tông Lâm Tế. Sư là người rất có công trong việc truyền bá tông phong Lâm Tế tại Nhật, được Nhật hoàng phong danh hiệu Quốc sư.|Sư sinh ra trong một gia đình thuộc dòng dõi quý tộc, mất mẹ năm bốn tuổi. Vừa lên tám, Sư đã xuất gia và ban đầu chuyên tu tập theo Mật giáo (j: mikkyō). Trong khoảng thời gian 10 năm, Sư thu thập tất cả những ấn tượng huyền bí của Mật giáo tại đây. Một năm sau khi thụ giới cụ túc (1292), Sư chuyển sang tu tập theo phương pháp của Thiền tông. Nguyên nhân của sự thay đổi này chính là cái chết bi thảm của một vị thầy. Sư tự thấy rằng, vấn đề chính của cuộc sống là sinh tử luân hồi không thể giải quyết được bằng tri thức uyên bác, kiến thức của một học giả. Trong thời gian 100 ngày sau khi vị thầy lâm chung, Sư tụng kinh cầu an cho vị thầy và nhân đây, Sư có một giấc mộng rất quan trọng. Trong giấc mộng này, Sư được gặp hai vị Thiền sư Trung Quốc quan trọng đời Ðường là Thạch Ðầu Hi Thiên (石頭希遷; c: shítóu xīqiān; j: sekitō kisen) và Sơ Sơn Quang Nhân (疏山光仁; c: chūshān guāngrèn; j: sozan kōnin), một môn đệ của Ðộng Sơn Lương Giới. Thạch Ðầu xuất hiện dưới dạng một vị tăng của Chân ngôn tông, Sơ Sơn dưới dạng Bồ-đề Ðạt-ma. Sau giấc mộng này, Sư tự đặt tên cho mình là Sơ Thạch (so-seki) – ghép từ hai chữ đầu của Sơ Sơn và Thạch Ðầu. ›Cửa sổ của giấc mộng‹ (夢窗; Mộng Song; j: mu-sō) đã mở rộng, hướng dẫn Sư trên con đường Thiền.|Sau đó, Sư yết kiến nhiều vị Thiền sư danh tiếng đương thời – một trong những vị này là Nhất Sơn Nhất Ninh (c: yīshān yīníng; j: issan ichinei), một vị Thiền sư Trung Quốc danh tiếng – nhưng không hài lòng với những phương pháp tu tập của những vị này. Nghe danh của Thiền sư Cao Phong Hiển Nhật (高峰顯日; j: kōhō kennichi), Sư liền đến tham học. Sư học không lâu nơi Cao Phong nhưng vẫn được xem là môn đệ vì sau này Cao Phong chính là người Ấn khả cho Sư.|Vào một ngày tháng năm (1305), đang trên đường trở về am và trong lúc mệt mỏi, Sư vừa muốn dựa lưng vào tường thì có cảm giác bức tường bỗng nhiên biến mất, Sư té xuống và nhân đây ngộ được yếu chỉ thiền.|Sau sự việc quan trọng này, Sư vẫn chu du đây đó, chú tâm đến việc Toạ thiền (j: zazen). Cuối cùng, Sư nhận lời mời trụ trì Thiên Long tự (j: tenryū-ji) tại Kinh Ðô – một ngôi chùa được xếp vào hệ thống Ngũ Sơn (j: gosan) – và trở thành một nhân vật quan trọng của nền văn hoá Phật giáo tại đây.|Sư cũng là một trong những tác giả đứng hàng đầu của phong trào Ngũ Sơn văn học (j: gosan bungaku), một phong trào rất quan trọng trong việc truyền bá văn hoá, khoa học và nghệ thuật của Trung Quốc sang Nhật. Tên của Sư gắn liền với nhiều việc khai sơn, sáng lập thiền viện và đích thân Sư cũng trụ trì nhiều thiền viện danh tiếng, trong đó có Nam Thiền tự (nanzen-ji), một ngôi chùa với những kiến trúc, vườn cảnh nổi danh trên thế giới. Dưới sự chỉ đạo của Sư, một vị Tướng quân (shōgun) với tên Túc Lợi Tôn Thị (j: ashikaga takauji) truyền lệnh lập 66 ngôi chùa ở 66 nơi khác nhau với tên An Quốc tự (j: ankoku-ji) và từ đây, Thiền tông được truyền bá khắp nước Nhật. Một trong những tác phẩm quan trọng của Sư là Mộng trung vấn đáp (muchū-mondō), trong đó, Sư trình bày các yếu chỉ của Thiền tông qua các câu hỏi và trả lời. Ngoài ra, Sư cũng nổi danh trong nghệ thuật Thư đạo (shodō). Sư được bảy vị Nhật hoàng tôn làm thầy và được phong bảy danh hiệu khác nhau. Dưới danh hiệu Mộng Song Quốc sư, Sư đi vào lịch sử của Phật giáo Nhật Bản.
Một 沒 (没); C: mò; J: mochi;|Chìm, bị ngập dưới nước, biến mất, bị mất, bị tiêu huỷ, bị suy yếu, tàn tạ, diệt (滅, s: nirodha); 2. Phủ định; không, chẳng phải.
Một sinh 沒生; C: mòshēng; J: mochishō; |Hoại diệt và tái sinh. Biến mất rồi xuất hiện.
Mục Châu Trần Tôn Túc 睦州陳尊宿; C: mùzhōu chénzūnsù; J: boku-shū chinsonshuku; ~ 780-877, còn được gọi là Mục Châu Ðạo Minh (睦州道明);|Thiền sư Trung Quốc, Pháp tự của Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Sư là một trong những môn đệ xuất sắc nhất của Hoàng Bá, người sớm nhận ra tài năng của Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư cũng nổi danh là vị thầy nghiêm khắc của Thiền sư Vân Môn Văn Yển.|Sư họ Trần, quê ở Giang Nam, xuất gia từ nhỏ. Nghe danh Hoàng Bá, Sư đến học, giữ giới chăm chỉ, được mọi người kính trọng gọi là Tôn Túc nên thành danh là Trần Tôn Túc. Nơi Hoàng Bá, Sư đạt yếu chỉ và sau đó trở về chùa Khai Nguyên, nhưng ban đầu không để lộ danh. Nơi đây, Sư dùng cỏ bồ đan giày bán nuôi mẹ và để ngoài đường cho khách vãng lai dùng. Sau nhiều năm người ta mới biết Sư làm giày tặng chúng nên gọi Sư là Trần Bồ Hài. Mọi người kính trọng Sư, lần lượt đến tham vấn. Lời nói của Sư rất bí hiểm, ít người hội nổi.|Sư nổi danh là một vị thầy khó tính, lúc nào cũng đóng cửa phòng và tương truyền rằng, tiếng bước âm thầm đến cửa đủ làm cho Sư biết nội tâm của người đến. Nếu người này có đủ khả năng, Sư kêu vào, nắm cổ hỏi: »Nói! Nói!« Nếu người này bắt đầu suy nghĩ trả lời thì bị tống ra ngoài và Sư đóng sầm cửa lại. Cũng vì thế mà Vân Môn bị què một chân, nhưng nhờ đó đại ngộ. Cách dạy khắc khe của Sư cũng được ghi lại trong Công án 10 của Bích nham lục: Sư hỏi một tăng mới đến: »Vừa rời chỗ nào?« Tăng liền hét. Sư bảo: »Lão tăng bị một tiếng hét của ông.« Tăng lại hét. Sư bảo: »Ba hét bốn hét sau rồi làm gì?« Tăng lặng thinh. Sư liền đánh và nói: »Kẻ cướp rỗng này.«|Sư sắp tịch, gọi chúng lại nói: »Ta hết duyên nơi đây, sắp đi vậy.« Sư ngồi Kết già thị tịch, thọ 98 tuổi, được 76 tuổi hạ.
Mục-kiền-liên 目犍連; S: mahāmaudgalyāyana; P: mahāmo-ggallāna;|Một trong những đệ tử quan trọng của Phật Thích-ca. Mục-kiền-liên xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn, cùng gia nhập Tăng-già Phật giáo với bạn thân là Xá-lị-phất (s: śāriputra) và sớm nổi danh là người đạt nhiều thần thông (Lục thông). Trong một số chùa, người ta thấy tượng của Tôn giả và Xá-lị-phất đứng bên tả và hữu đức Phật. Trước khi Phật nhập diệt, cả hai vị đều bị ngoại đạo giết chết. Mục-kiền-liên được xem là một trong Mười đại đệ tử của Phật.
Muội 昧; C: mèi; J: mai; |1. Tối, mờ, không rõ, mờ mịt; 2. Bình minh, rạng đông; 3. Nén, che giấu, dành riêng (dùng làm việc gì); 4. Cắt.
Mười đại đệ tử Hán Việt: Thập đại đệ tử (十大弟子);|Mười đệ tử quan trọng của Phật, hay được nhắc nhở trong kinh sách Ðại thừa (s: mahā-yāna):|1. Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāś-yapa): Ðầu-đà đệ nhất, được xem là Sơ tổ Thiền tông Ấn Ðộ; 2. A-nan-đà (阿難陀; ānanda): Ða văn đệ nhất, người »nghe nhiều« được xem là Nhị tổ Thiền tông Ấn Ðộ. A-nan-đà hay được trình bày trong tranh tượng đứng bên cạnh Phật cùng với Ca-diếp; 3. Xá-lị-phất (舍利弗; s: śāriputra): Trí huệ đệ nhất, đệ tử quan trọng nhất của Phật trong các kinh Tiểu thừa (; p: hīnayāna); 4. Tu-bồ-đề (須菩提; subhūti): Giải Không (s: śūnya-tā) đệ nhất; 5. Phú-lâu-na (富樓那; s: pūrṇa): Thuyết Pháp (dharma) đệ nhất; 6. Mục-kiền-liên (目犍連; s: mahāmaud-galyāyana): Thần thông đệ nhất, hay đi đôi với Xá-lị-phất; 7. Ca-chiên-chiên (迦旃延; s: katyāyana): Biện luận đệ nhất; 8. A-na-luật (阿那律; s: aniruddha): Thiên nhãn đệ nhất; 9. Ưu-ba-li (優波離; upāli): Giới luật đệ nhất; 10. La-hầu-la (羅羅; rāhula): Mật hạnh đệ nhất.
Mười đại luận sư Hán Việt: Thập đại luận sư (十大論師); |Mười luận sư danh tiếng của Duy thức tông tại Ấn Ðộ sau thế hệ của Trần-na (陳那; s: dignāga) và Pháp Xứng (法稱; s: dhar-makīrti), viết luận giải về Duy thức tam thập tụng (s: triṃśikāvijñāptimātratāsiddhi-kārikā) của Thế Thân (世親; s: vasuban-dhu), đó là: 1. Thân Thắng (親勝; s: bandhuśrī), 2. Hoả Biện (火辨; s: citra-bhāṇa), 3. Ðức Huệ (德慧; s: guṇamati), 4. An Huệ (安慧; s: sthiramati), 5. Nan-đà (難陀; s: nanda), 6. Tịnh Nguyệt (淨月; s: śuddhacandra), 7. Hộ Pháp (護法; s: dhar-mapāla), 8. (Tối) Thắng Tử ([最]勝子; s: jinaputra), 9. Thắng Hữu (勝友; s: viśeṣami-tra), 10. Trí Nguyệt (智月; s: jñānacan-dra).
Mười danh hiệu Hán Việt: Thập hiệu (十號);|Mười danh hiệu của một vị Phật, thường được nhắc đến trong những bài kinh, luận:|1. Như Lai (如來; s, p: tathāgata), là »Người đã đến như thế«; 2. A-la-hán (阿羅漢; s: arhat), dịch nghĩa là Ứng Cung (應供), là »Người đáng được cúng dường«; 3. Chính Biến Tri (正遍知; s: samyaksaṃbuddha), dịch theo âm là Tam-miệu-tam-phật-đà (三藐三佛陀), là »Người hiểu biết đúng tất cả các pháp«; 4. Minh Hạnh Túc (明行足; s: vidyācaraṇasaṃpanna), nghĩa là »Người có đủ trí huệ và đức hạnh«; 5. Thiện Thệ (善逝; s: sugata), là »Người đã đi trên con đường thiện«; 6. Thế Gian Giải (世間解; s: lokavid), là »Người đã thấu hiểu thế giới«; 7. Vô Thượng Sĩ (無上士; s: anuttarapuruṣa), là »Ðấng tối cao, không ai vượt qua«; 8. Ðiều Ngự Ðại Trượng Phu (調御大丈夫; s: puruṣadamyasārathi), nghĩa là »Người đã điều chế được mình và nhân loại«; 9. Thiên Nhân Sư (天人師; s: devamanuṣyānāmśās-tṛ), là »Bậc thầy của cõi người và cõi trời«; 10. Phật Thế Tôn (佛世尊; s: buddhaloka-nātha, buddhalokajyeṣṭha, bhagavān), là »Bậc giác ngộ được thế gian tôn kính«.
Mười hai nhân duyên S: pratītya-samutpāda; P: paṭicca-samuppāda; Hán Việt: Thập nhị nhân duyên (十二因緣); nguyên nghĩa là Duyên khởi (緣起), Nhân duyên sinh (因緣生), nhưng vì luật nhân duyên này bao gồm mười hai nhân duyên (điều kiện, s: nidāna) nên gọi là Mười hai nhân duyên (s: dvādaśanidāna hoặc dvādaśāṅga-pratītyasa-mutpāda).|Một trong những giáo lí quan trọng nhất của đạo Phật. Nguyên lí này chỉ rõ, mọi hiện tượng tâm lí và vật lí tạo nên đời sống đều nằm trong một mối liên hệ với nhau, chúng là nguyên nhân của một yếu tố này và là kết quả của một yếu tố khác, làm thành một vòng với mười hai yếu tố. Các yếu tố này làm loài hữu tình cứ mãi vướng mắc trong Luân hồi (s: saṃsāra).|Nguyên lí mười hai nhân duyên và giáo pháp Vô ngã (s: anātman; p: anattā) là hai giáo pháp làm rường cột cho tất cả các tông phái Phật giáo. Các nhân duyên (nguyên nhân chính và điều kiện phụ) này gồm có 12 yếu tố như sau:|1. Vô minh (無明; s: avidyā; p: vijjā), sự không thấu hiểu Tứ diệu đế, không hiểu Khổ là tính chất căn bản của đời sống;|2. Vô minh sinh Hành (行; s: saṃskāra; p: saṅkhāra), hành động tạo nghiệp. Hành động này có thể tốt, xấu hay trung tính. Hành có thể ở trong ba dạng, Thân, khẩu, ý;|3. Hành sinh Thức (識; s: vijñāna; p: viññā-ṇa), làm nền tảng cho một đời sống tới. Thức này đi vào bụng mẹ. Thức lựa chọn cha mẹ đúng như Hành tốt xấu quy định; |4. Thức sinh Danh sắc (名色; s, p: nā-marūpa), là toàn bộ tâm lí và vật lí của bào thai mới, do Ngũ uẩn (s: pañcaskandha; p: pañca-khandha) tạo thành;|5. Danh sắc sinh Lục căn (六根; s: ṣaḍāya-tana; p: saḷāyatana), là các giác quan, sáu căn (năm giác quan và khả năng suy nghĩ là sáu); |6. Lục căn bắt đầu tiếp xúc với bên ngoài gọi là Xúc (觸; s: sparśa; p: phassa);|7. Xúc sinh Thụ (受; s, p: vedanā), là cảm nhận của con người mới với thế giới bên ngoài;|8. Thụ sinh Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: taṇhā), luyến ái xuất phát từ ham muốn, vô minh;|9. Ái sinh Thủ (取; s, p: upādāna) là điều cá nhân mới muốn chiếm hữu cho mình;|10. Thủ sinh ra Hữu (有; s, p: bhāva), là toàn bộ điều mà ta gọi là tồn tại, sự sống, thế giới.|11. Hữu sinh ra Sinh (生; s, p: jāti), một thế giới và cá nhân mới xuất hiện hẳn hoi;|12. Sinh sinh ra Lão tử (老死; s, p: jarāma-raṇa), vì có Sinh nên có hoại diệt.|Người ta có thể nhìn mười hai nhân duyên dưới nhiều cách phân tích khác nhau. Cách phân tích thông thường có tính thời gian là: yếu tố 1-2 thuộc về đời sống cũ, yếu tố 3-7 là điều kiện và nguyên nhân sinh thành của đời sống mới, yếu tố 8-10 là kết quả trong đời sống hiện tại, yếu tố 11-12 chỉ đời sống tương lai.|Mười hai nhân duyên chỉ rõ tính chất liên hệ lẫn nhau của dòng chảy »Tâm«, »Vật« của thế giới hiện tượng, trong đó những khái niệm quan trọng nhất là »Ta«, »Người«, »Sinh vật«. Nếu thuyết vô ngã chỉ rõ thế giới và con người do các yếu tố giả hợp kết thành với nhau, thật chất là trống rỗng; thì thuyết nhân duyên có tính chất tổng hợp các yếu tố đó, chỉ ra rằng mọi hiện tượng thân tâm đều bắt nguồn từ những hiện tượng khác. Sự phụ thuộc lẫn nhau đó có thể nhìn dưới khía cạnh đồng thời hoặc có thứ tự thời gian.|Thuyết Mười hai nhân duyên được các trường phái Phật giáo giải thích khác nhau. Tiểu thừa cho rằng thuyết này đã giải thích nguyên nhân của khổ và tất cả mọi pháp hữu vi (s: saṃskṛta) đều có nguyên nhân và điều kiện mới sinh ra nên chúng vô ngã – không có một tự tính nào. Như thế thuyết Mười hai nhân duyên nhằm dẫn đến quan điểm vô ngã.|Trong Ðại thừa, Mười hai nhân duyên được sử dụng để chứng minh sự không thật của sự vật và đặc biệt trong Trung quán tông (s: mādhyamika), Mười hai nhân duyên được định nghĩa là tính Không. Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa nhấn mạnh rằng, Mười hai nhân duyên không nên hiểu theo thứ tự thời gian. Thuyết này nói lên sự liên hệ của vạn vật một cách tổng quát.
Mười hai xứ Xứ: s, p: āyatana; Hán Việt: Thập nhị xứ (十二處); |Gồm Lục căn (nội xứ; p: ajjhattāyatana) tức là sáu giác quan và Lục xứ, hay lục nhập, lục cảnh (ngoại xứ; p: bāhirāyatana), sáu đối tượng của chúng: 1. Nhãn xứ (mắt) và 2. Sắc xứ (thấy được); 3. Nhĩ xứ (tai) và 4. Âm thanh (nghe được); 5. Tỉ (mũi) và 6. Hương; 7. Thiệt (lưỡi) và 8. Vị; 9. Thân và 10. Xúc; 11. Ý xứ hay tầm và 12. Tâm pháp.
Mười lực S: daśabala; P: dasabala; Hán Việt: Thập lực (十力);|Mười năng lực hiểu biết, mười trí của một vị Phật:|1. Thi thị xứ phi xứ trí lực (知是處非處智力; s: sthānāsthānajñāna; p: ṭhānāṭhāna-ñāṇa); Biết rõ tính khả thi và tính bất khả thi trong mọi trường hợp; 2. Tri tam thế nghiệp báo trí lực (知三世業報智力; s: karmavipākajñāna; p: kammavipāka-ñāṇa): Biết rõ luật nhân quả, quả báo, tức là Nghiệp nào tạo quả nào; 3. Tri nhất thiết sở đạo trí lực (知一切所道智力; s: sarvatra-gāminīpratipajjñāna; p: sabbattha-gāminī-paṭipadāñāṇa): Biết rõ nguyên nhân nào dẫn đến con đường tái sinh nào; 4. Tri chủng chủng giới trí lực (智種種界智力; s: anekadhātu-nānādhātujñāna; p: ane-kadhātu-nānādhātu-ñāṇa): Biết rõ các thế giới với những yếu tố thành lập của nó; 5. Tri chủng chủng giải trí lực (知種種解智力; s: nānādhimukti-jñāna; p: nānādhimutti-katāñāṇa): Biết rõ cá tính của chúng sinh; 6. Tri nhất thiết chúng sinh tâm tính trí lực (知一切眾生心性智力; s: indriyapārapara-jñāna; p: indriyaparopariyatta-ñāṇa): Biết rõ căn cơ học đạo cao thấp của mọi chúng sinh; 7. Tri chư thiền giải thoát tam-muội trí lực (知諸禪解脫三昧智力; sarva-dhyāna-vimokṣa-…-jñāna; p: jhāna-vimok-kha-…-ñāṇa): Biết tất cả các cách thiền định; 8. Tri túc mệnh vô lậu trí lực (知宿命無漏智力; pūrvanivāsānusmṛti-jñāna, pub-bennivāsānussati-ñāṇa): Biết rõ các tiền kiếp của chính mình; 9. Tri thiên nhãn vô ngại trí lực (知天眼無礙智力; cyutyupa-pādajñāna, cutūpapāta-ñāṇa): Biết rõ sự tiêu huỷ và tái xuất của chúng sinh; 10. Tri vĩnh đoạn tập khí trí lực (知永斷習氣智力; āśravakṣayajñāna, āsavakkhaya-ñāṇa): Biết các Ô nhiễm (s: āśrava) sẽ chấm dứt như thế nào.|Ba lực 8, 9, 10 được Phật nhắc đến khi Ngài thuật về sự đạt Bồ-đề của mình (Tất-đạt-đa Cồ-đàm). Chúng được gọi chung là Tam minh.
Na-lan-đà 那爛陀; S: nālandā;|Viện Phật học danh tiếng của Ấn Ðộ, được vua Thước-ca-la Dật-đa (s: śakrāditya) thành lập trong thế kỉ thứ hai, một nhà vua nước Ma-kiệt-đà. Dần dần Na-lan-đà trở thành nơi của các luận sư nổi tiếng của Trung quán tông và Duy thức tông giảng dạy. Các vị này đều lần lượt làm viện trưởng. Na-lan-đà lúc đông nhất có đến mười ngàn học viên. Các khách phương xa như Huyền Trang, Pháp Hiển, Nghĩa Tịnh đều ghé nơi đây tu học. Na-lan-đà là nơi giáo hoá của đạo Phật, hưng thịnh được 1000 năm. Tại Tây Tạng, một học viện cũng được đặt tên là Na-lan-đà và được xây dựng năm 1351. |Theo Huyền Trang và Nghĩa Tịnh thì trong thời cực thịnh có đến 10 000 tăng sĩ học tại Na-lan-đà. Các vị đó học giáo pháp Tiểu thừa, Ðại thừa, Nhân minh học, toán học, y khoa. Những vị giảng sư danh tiếng đã từng dạy đây là Long Thụ (s: nāgārjuna), Hộ Pháp (s: dharmapāla), Trần-na (s: dignāga), Giới Hiền (s: śīlabhadra), Huyền Trang, An Huệ (sthiramati) giảng dạy. Tương truyền Na-lan-đà bị tín đồ của Hồi giáo phá huỷ trong thế kỉ 12, 13.
Na-li-na-pa S: nalinapa; »Hoàng tử tự lực cánh sinh«; |Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là một hoàng tử nhưng sống trong sự nghèo nàn ở Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Lần nọ ông gặp một vị Du-già sư, xin vị đó chỉ cho con đường thoát khỏi Sinh tử. Vị đó cho ông vào Man-đa-la của Bí mật tập hội (s: guhyasamāja), dạy »quán chính thân mình« như sau:|Quán trên đỉnh đầu mình,|là âm HAṂ sắc trắng,|của Ðại lạc tuyệt đối.|Quán nơi lỗ rốn mình,|là âm BAṂ sắc đỏ,|nó như ngọn lửa cháy,|và hồ tan với HAṂ.|Rồi dần dần cả bốn|mức Lạc sẽ dâng trào:|một là thứ Lạc thụ,|sau đó đến Ðại lạc,|ba là Lạc xả bỏ,|cuối: Lạc uyên nguyên.|Thế mà rời Sinh tử,|đạt Ðại lạc thuần tuý,|của đạo vị giải thoát.|Na-li-na-pa thiền quán như thế và bốn mức Ðại lạc xuất phát từ bốn trung tâm trong người dâng lên, giải thoát ảo giác của Sinh tử, như hoa sen nở trên bùn mà không lấm mùi bùn. Sau chín năm thiền định, ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Trên đỉnh đầu của đoá|hoa sen mọc trong bùn,|đã có mầm Lạc thụ.|Nơi cổ họng: Ðại lạc,|Nơi tim: Lạc xả bỏ,|Lỗ rốn: Lạc uyên nguyên.|Ðó là chứng vô thượng.
Na-rô lục pháp T: nāro chodrug [nāro chos-drug]; cũng được gọi là Na-lạc du-già tốc đạo; »Sáu giáo pháp của Na-rô-pa (t: nāropa);|một loạt giáo pháp Tây Tạng thuộc Kim cương thừa, xuất phát từ các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) do Ðại sư Na-rô-pa truyền dạy. Na-rô-pa lại được Tai-lô-pa (tilopa) chân truyền. Na-rô-pa truyền lại cho Mã-nhĩ-ba (t: marpa), người đưa giáo pháp này qua Tây tạng trong thế kỉ 11. Song song với Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), Na-rô lục pháp là phương pháp thiền định quan trọng nhất của trường phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). |Sáu giáo pháp này gồm có:|1. Tạo Nội nhiệt (t: tumo; s: caṇḍa, caṇḍalī); |2. Quán huyễn thân (t: gyulu [sGyu lus]; s: mayākāyā, mahādeha), thấy thân này là giả tạo. Trong Kim cương thừa, huyễn thân này là một thân thanh nhẹ, cao hơn thân do Ngũ uẩn tạo thành, nhưng luôn luôn hiện diện trong đó. Quán huyễn thân cũng được hiểu là một phép tu Tan-tra nhằm thanh lọc thân thể thông thường để đạt Phật quả;|3. Quán giấc mộng (t: milam [rMi lam]; s: svapna-darśana). Theo cách tu này, giấc mộng cũng là một phương tiện để phát triển tâm thức. Một mặt, hành giả chủ động tạo tác giấc mộng của mình, mặt khác hành giả xem cuộc sống bình thường cũng chỉ là một giấc mộng;|4. Quán Cực quang (t: osel ['od-gsal]; s: ā-bhāsvara). Cực quang ở đây có nhiều nghĩa: 1. Ánh sáng của tâm thức sáng rực mà hành giả cần quán thấy bên cạnh tính Không (s: śūnyatā). Phép quán này là mục đích quan trọng nhất của giáo pháp Tan-tra (Ðại thủ ấn; s: mahāmudrā; Ðại cứu kính), 2. Phép quán, trong đó ánh sáng vô lượng của tâm thức tự chói rực, »như ngọn đèn vừa tự chiếu sáng mình vừa chiếu sáng các vật chung quanh« (theo Giuseppe Tucci);|5. Quán thân Trung hữu (t: bardo; s: an-tarābhava);|6. Chuyển thức (t: phowa; s: saṃkrānti); là phép tu trong lúc Cận tử, chuyển hoá tâm thức mình vào một Tịnh độ, thí dụ cõi của Phật A-di-đà. Hành giả Tây Tạng theo phép tu này đã tập luyện và chuẩn bị trong lúc còn sống, phần lớn họ đọc tụng một số thần chú và thiền theo các Nghi quỹ (s: sādhana). Tại phương Tây phép tu này được giáo phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) phổ biến.|Các phép tu này có nhiều điểm giống với các phép được mô tả trong Tử thư (t: bardo thodol). Người ta còn nhắc rằng Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) là người rất giỏi phép sử dụng nội nhiệt.|Na-rô lục pháp này xuất phát từ nhiều Tan-tra khác nhau và được các vị Ðạo sư khác nhau truyền lại. Theo một tác phẩm của Tai-lô-pa thì phép quán huyễn thân và cực quang là do Long Thụ (Long Thụ theo truyền thống Ma-ha Tất-đạt) khởi truyền. Phép nội nhiệt được xem là từ Cha-ya-pa (car-yapa), phép quán giấc mộng từ La-va-pa (lavapa), phép quán thân trung hữu và chuyển thức từ Pu-ka Tất-địa (pukasiddhi) khởi phát.|Hành giả chuyên trách tu tập sáu phép này dựa trên cách tận dụng thân xác vi tế của mình, sẽ đạt nhiều Thần thông (xem Tất-địa). Ðó là cách đưa thân vào trong các tầng phát triển của tâm và theo truyền thuyết Tây Tạng, năng lượng trong thân được vận dụng dưới ba dạng như sau: luồng năng lượng (t: lung) tác động lên các bộ phận trong thân thể, đạo quản năng lượng (tsa) là các kênh dẫn năng lượng luân lưu và cuối cùng là tiềm năng lượng (thig-le) là gốc chứa hệ thống năng lượng đó. Với các phép tu của Na-rô lục pháp mà những năng lượng này được kích động, được dùng như phương tiện đạt giác ngộ. Mục đích của tất cả những phép tu đó là thống nhất tính Không (s: śūnyatā) và các thụ tưởng của hành giả. Mật-lặc Nhật-ba có bài kệ »sáu hỉ lạc« sau đây về kinh nghiệm giác ngộ này:|Lửa của nội nhiệt tràn đầy khắp người – Hỉ lạc! Chân khí tràn ngập trong ba luồng năng lượng – Hỉ lạc! Luồng từ tâm giác ngộ chảy xuống – Hỉ lạc! Dưới gốc cũng tràn đầy năng lượng – Hỉ lạc! Ở giữa, âm dương hoà hợp – Hỉ lạc! Tràn đầy niềm vui thanh tịnh của thân – Hỉ lạc!
Na-rô-pa T: nāropa; S: nāḍapāda, nāroṭapa, yaśbhadra; 1016-1100 hay 956-1040, mệnh danh là »Kẻ vô uý«;|Một vị Ðại sư Ấn Ðộ theo truyền thống Tan-tra của 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Người truyền Mật giáo cho Sư là Tai-lô-pa (s: tilopa), một những Ma-ha Tất-đạt danh tiếng nhất.|Na-rô-pa được xem là người truyền những giáo pháp Ðại thủ ấn và vì vậy phép tu này được gọi là Na-rô lục pháp, »sáu giáo pháp của Na-rô-pa« (nāro chodrug), được Mã-nhĩ-ba (t: marpa) truyền qua Tây tạng và ngày nay vẫn là một giáo pháp quan trọng của tông phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Na-rô-pa đã từng giữ trách nhiệm quan trọng tại viện Phật học Na-lan-đà và sau mới trở thành đệ tử của Tai-lô-pa. Sư sống cùng thời với A-đề-sa.|Sư sinh ra trong một gia đình bán rượu, nhưng lại đi làm nghề đốn củi. Lúc nghe về một vị Du-già sư (yogin) tên Tai-lô-pa (tilopa), Sư liền xin theo học và phục vụ thầy suốt 12 năm không hề than vãn, mặc dù bị thầy đối xử tàn tệ. Lần nọ, Sư chịu phạm tội ăn trộm chỉ để làm vừa lòng thầy. Sau thời gian thử thách này, Tai-lô-pa mới chịu giáo hoá, gọi Sư là »Ðứa con uy tín và trì chí.« Chỉ sáu tháng sau, Sư đắc quả Ðại thủ ấn tất-địa (mahāmudrāsiddhi). Lời dạy cuối cùng của Tai-lô-pa cho Sư là »Không tưởng tượng, không suy ngẫm, không thiền, không tác động, giữ yên tịnh, không bám vào bất cứ đối tượng nào.«||H 44: Na-rô-pa (nāropa)|Na-rô-pa có nhiều môn đệ trở thành những vị Tất-đạt, trong đó có Mã-nhĩ-ba (t: marpa) là người nổi tiếng nhất. Sư cũng có lần giữ một chức giảng dạy trong viện Phật học Siêu Giới (s: vikramaśīla).|Thánh đạo ca của Na-rô-pa có những dòng sau:|Như đội quân đại đế,|chiếm trọn toàn lãnh thổ,|đất liền và biển cả.|Tu sĩ nào biết vị,|của niềm vui tự tại|của tự tính bẩm sinh,|kẻ đó thắng Luân hồi|và thanh tịnh lên ngôi
Na-tiên 那先; S, P: nāgasena; tk. 1, dịch nghĩa là Long Quân;|Cao tăng Phật giáo người Ấn Ðộ. Cuộc nói chuyện của Sư với vua Di-lan-đà về các câu hỏi hóc búa của giáo pháp đạo Phật đã được ghi lại trong tác phẩm Di-lan-đà vấn đạo (p: milindapañha).|Tương truyền rằng, Sư sinh trong một gia đình Bà la môn và năm 15 tuổi đã gia nhập Tăng-già Phật giáo. Sư học giáo pháp ở nhiều nơi, kể cả tại thủ đô Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) và đạt quả A-la-hán. Sử sách ghi rằng, Sư có trí nhớ phi thường, chỉ cần đọc qua một lần đã thuộc Luận tạng (s: abhi-dharma-piṭaka).
Na-tiên tỉ-khâu kinh 那先比丘經|Di-lan-đà vấn đạo kinh.
Nãi chí quảng thuyết 乃至廣説; C: năizhì guăngshuō; J: naishi kō-setsu;|Và vân vân…, và vân vân… Thường ở vị trí cuối cùng của một đoạn trích dẫn.
Năm chướng ngại S, P: nīvaraṇa; năm triền cái, ngũ chướng; |Năm tính chất của tâm làm tâm thức trì trệ, không đạt được Ðịnh (s, p: samādhi). Ðó là: 1. Tham (s: abhidyā), 2. Sân hận (s: pra-dośa), 3. Buồn ngủ, mệt mỏi (s: middha, styā-na), 4. Hối tiếc khó chịu (s: kaukrītya, anu-ddhatya), 5. Nghi ngờ (s: vicikitsā). Hành giả cần trừ năm uế nhiễm này mới đạt được Tứ thiền đầu tiên trong tám giai đoạn thiền định (Tứ thiền bát định).
Nam Dương Huệ Trung 南陽慧忠; C: nányáng huìzhōng; J: nanyo e-chū; 675 (?)-775 (772), còn được gọi là Huệ Trung Quốc sư, Trung Quốc sư;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc nhất, đạt yếu chỉ của Lục tổ Huệ Năng. Sư là vị Thiền sư đầu tiên được ban danh hiệu Quốc sư.|Sư họ Nhiễm, quê ở Chư Kị, Việt Châu. Từ nhỏ, Sư đã có phong cách xuất trần, dáng vẻ đoan trang, da trắng như tuyết. Tương truyền Sư từ nhỏ đến năm 16 tuổi không hề bước qua chiếc cầu ở trước nhà. Một hôm, thấy một vị Thiền sư đi ngang qua, Sư bỗng chạy ra xin xuất gia học đạo. Vị này nhận ra tài năng của Sư liền chỉ đến Lục tổ. Dưới sự hướng dẫn của Lục tổ, Sư đạt tâm ấn và Lục tổ có lời tiên đoán rằng, Sư sẽ là một vị »Phật đứng hiên ngang một mình giữa trời.«|Sau, Sư về cốc Ðảng Tử trên núi Bạch Nhai, Nam Dương. Nơi đây, Sư ẩn cư tu tập 40 năm không hề xuống núi, vì vậy đạo hạnh của Sư vang lừng khắp nơi. Năm 761, vua Ðường Túc Tông thỉnh Sư về kinh đô và tôn làm thầy (lúc này Sư khoảng 85 tuổi). Trong thời gian khoảng 16 năm, Sư tuỳ cơ thuyết pháp, ứng biến cao siêu. Những lời Vấn đáp sau đây nêu rõ phong cách hoằng hoá uy nghiêm của Sư và những quan niệm trung tâm của Thiền tông nói chung.|Một vị tăng đến hỏi Sư: »Thế nào là giải thoát?« Sư đáp: »Các pháp không đến nhau, ngay đó là giải thoát.« Tăng hỏi tiếp: »Thế nào đoạn được?« Sư bảo: »Ðã nói với ngươi các pháp không đến nhau, có cái gì để đoạn!«|Một vị khác hỏi: »Làm thế nào thành Phật?« Sư đáp: »Phật và chúng sinh đồng thời dẹp đi, ngay đó thành Phật!« Hỏi: »Làm thế nào được tương ưng?« Sư: »Không nghĩ thiện ác tự thấy Phật tính.« Hỏi: »Làm sao chứng được Pháp thân?« Sư: »Vượt qua cảnh giới Tì-lô.« (tức cảnh giới Ðại Nhật Phật, tượng trưng cho Pháp thân, Ba thân). Hỏi: »Pháp thân thanh tịnh làm thế nào đạt được?« Sư: »Không chấp Phật để cầu.« Hỏi: »Thế nào là Phật?« Sư: »Tâm tức là Phật.« Hỏi: »Tâm có phiền não chăng?«|Sư: »Tính phiền não tự lìa.« Hỏi: »Không cần phải đoạn trừ sao?« Sư: »Ðoạn phiền não tức gọi Nhị thừa. Phiền não không sinh gọi Ðại Niết-bàn.« Hỏi: »Ngồi thiền quán tịnh là làm gì?« Sư: »Chẳng Cấu chẳng tịnh đâu cần khởi tâm quán tướng tịnh.« Hỏi: »Thiền sư thấy mười phương hư không là Pháp thân chăng?« Sư: »Thấy tâm tưởng nhận, đó là cách thấy điên đảo.« Hỏi: »Tâm tức là Phật, có phải tu vạn hạnh chăng?« Sư: »Chư thánh đều đủ trang nghiêm, đâu có bác không nhân quả.«|Sư ngừng lại đây, bảo: »Nay tôi trả lời các câu hỏi của ông cùng kiếp cũng không hết, nói nhiều cách đạo càng xa. Cho nên nói: ›Thuyết pháp có sở đắc, đó là dã can kêu, thuyết pháp không sở đắc, đó là sư tử hống.‹«|Sư biết duyên sắp đoạn, từ giã vua trở về núi. Ngày mùng chín tháng chạp năm Ðại Lịch thứ 10, Sư nằm nghiêng bên phải nhập Niết-bàn, đệ tử xây tháp cạnh cốc thờ. Vua ban hiệu là Ðại Chứng Thiền sư. Môn đệ của Sư có Thiền sư Ðam Nguyên Ứng Chân và các vị vua Ðường.
Năm giới S: pañcaśīla; P: pañcasīla; Hán Việt: Ngũ giới (五戒);|Năm giới, là một trong những tụ tịnh giới nhỏ nhất mà hàng cư sĩ Phật tử phải thực hành. Đó là: 1. Bất sát sinh (不殺生), không được sát sinh; 2. Bất thâu đạo (不偸盗), không trộm cắp; 3. Bất tà dâm (不邪婬); 4. Bất vọng ngữ (不妄語), không được nói xằng bậy; 5. Bất ẩm tửu (不飲酒), không uống rượu.
Năm loại mắt S: pañcacakṣuṃṣi; Hán Việt: Ngũ nhãn (五眼)|Bao gồm: 1. Nhục nhãn (肉眼; s: mā-ṃsacakṣus), là con mắt thịt, con mắt của một phàm phu; 2. Thiên nhãn (天眼; s: divyacakṣus), con mắt của chư Thiên, có thể nhìn thấy được những hiện tượng siêu nhiên, quá khứ, vị lai, địa ngục …; 3. Pháp nhãn (法眼; s: dharmacakṣus), là con mắt pháp, thấy được sự đa dạng của các pháp hiện hữu; 4. Huệ nhãn (慧眼; s: prajñācakṣus), là con mắt trí huệ, nhìn thấu suốt được tính Không (s: śūnyatā) của các pháp; 5. Phật nhãn (佛眼; s: buddhacakṣus), là con mắt của một bậc giác ngộ, nhìn thấu suốt thể tính của vạn sự.
Năm lực S, P: pañca-bala; Hán Việt: Ngũ lực (五力);|Năm sức mạnh tinh thần hay năm khả năng xuất phát từ năm Căn (s, p: indriya) và giúp đạt giác ngộ. Năm lực đó là:|1. Tín lực (信力; s: śraddhābala), là tâm loại bỏ các loại tin tưởng sai lầm;|2. Tinh tiến lực (精進力; s: vīryabala) là năng lực tu trì Bốn tinh tiến (s: saṃyak-pra-hanani, cũng được gọi là chính cần) để diệt trừ bất thiện pháp;|3. Niệm lực (念力; s: smṛtibala), sức mạnh do tu trì Bốn niệm xứ (s: smṛtyupasṭhāna) đem lại;|4. Ðịnh lực (定力; s: samādhibala), sức mạnh do Thiền định (s: dhyāna) mang lại nhằm loại bỏ mọi tham ái;|5. Huệ lực (慧力; s: prajñābala) là sức mạnh nhờ phát khởi tri kiến Tứ diệu đế.|Năm lực là một phần của 37 giác chi (yếu tố giác ngộ, Bồ-đề phần; s: bodhipākṣika-dharma).
Nam Nhạc Hoài Nhượng 南嶽懷讓; C: nányuè huáiràng; J: nangaku ejō; 677-744;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ được truyền tâm ấn của Lục tổ Huệ Năng và là một trong hai ngọn lửa thiền chiếu sáng rực rỡ đời Ðường (ngọn đuốc thứ hai là Thiền sư Thanh Nguyên Hành Tư). Môn đệ lừng danh nối dòng của Sư là Mã Tổ Ðạo Nhất.|Sư họ Ðỗ, quê ở Kim Châu, xuất gia năm 15 tuổi. Sư ban đầu chăm chỉ học Luật giữ Giới, nhưng không hài lòng với kết quả, tự nhủ: »Phàm người xuất gia phải vì pháp Vô vi, trên trời và nhân gian không gì hơn được.« Sau, vì lời khuyên của nhiều đạo hữu, Sư đến yết kiến Lục tổ.|Ðến Tào Khê, Tổ Huệ Năng hỏi: »Ở đâu đến?« Sư thưa: »Ở Tung Sơn đến.« Tổ hỏi: »Vật gì đến?« Sư trả lời không được bèn ở lại. Sau tám năm, Sư chợt tỉnh, đến trình Tổ câu trả lời sau: »Nói là một vật là không đúng.« Tổ hỏi: »Lại có thể đạt được chăng?« Sư đáp: »Tu chứng tức chẳng không, nhiễm ô tức chẳng được.« Tổ bèn nói: »Chính cái không nhiễm ô này là chỗ hộ niệm của chư Phật, ngươi đã như thế, ta cũng như thế. Tổ Bát-nhã Ða-la ở Tây Thiên có lời sấm rằng: ›Dưới chân ngươi sẽ xuất hiện con ngựa tơ đạp chết người trong thiên hạ‹. Ứng tại tâm ngươi chẳng cần nói sớm.« Sư nhân đây hội ý, ở lại hầu Tổ 15 năm.|Sau khi từ giã Tổ, Sư đến núi Hoành Nhạc trụ trì chùa Bát-nhã. Nơi đây, Sư gặp một Sa-môn ngày ngày ngồi thiền. Sư nhìn biết là thượng căn, đến hỏi: »Ðại đức ngồi thiền làm gì?« Vị này trả lời: »Ðể làm Phật.« Sau đó, Sư lấy một viên gạch, đến trước am của vị này mài liên tục. Sa-môn thấy lạ hỏi Sư: »Thầy mài gạch để làm gì?« Sư đáp: »Mài để làm gương.« Vị này nói: »Mài gạch đâu có thể thành gương được?« Sư bảo: »Ngồi thiền cũng không thể thành Phật được« Sa-môn hỏi: »Vậy làm thế nào mới phải?« Sư hỏi vặn lại: »Như trâu kéo xe, nếu xe không đi, phải đánh trâu hay đánh xe?« Vị Sa-môn lặng thinh, Sư nói tiếp: »Ngươi học ngồi thiền hay học ngồi Phật? Nếu học ngồi thiền, thiền không phải ngồi nằm. Nếu học ngồi Phật, Phật không tướng nhất định, đối pháp không trụ, chẳng nên thủ xả. Ngươi nếu ngồi Phật tức là giết Phật, nếu chấp tướng ngồi chẳng đạt ý kia.«|Vị Sa-môn này chẳng ai khác hơn là Giang Tây Pháp chủ Mã Tổ Ðạo Nhất sau này. Nghe được chân ngôn như vậy, Ðạo Nhất liền quì xuống lễ bái, hỏi: »Dụng tâm thế nào mới hợp với vô tướng tam-muội.« Sư đáp: »Ngươi học pháp môn tâm địa như gieo giống, ta nói pháp yếu như mưa móc, nếu duyên ngươi hợp sẽ thấy đạo này.« Ðạo Nhất hỏi: »Ðạo không có sắc tướng làm sao thấy?« Sư bảo: »Con mắt pháp tâm địa hay thấy được đạo.« Ðạo Nhất hỏi tiếp: »Có thành hoại chăng?« Sư đáp: »Nếu thấy cái thành hoại, tụ tán mà nghĩ là thấy Ðạo thì không thể thấy Ðạo.« Sư làm bài kệ:|心地函諸種。遇澤即皆萌|三昧花無相。何壞復何成|Tâm địa chứa các giống|Gặp ướt liền nảy mầm|Hoa tam-muội không tướng|Thì sao có hoại thành?|Thiền sư Ðạo Nhất nghe đây như được mở mắt, ở lại hầu hạ Sư 10 năm. Trong tất cả môn đệ, chỉ có Ðạo Nhất được truyền pháp ấn.|Ngày mười một tháng tám đời Ðường, niên hiệu Thiên Bảo năm thứ ba, Sư thị tịch tại Hoành Nhạc, thọ 67 tuổi. Vua sắc phong là Ðại Huệ Thiền sư.|Những lời dạy của Sư nói trên có thể gây sự hiểu lầm. Vì sao »ngồi thiền không thể thành Phật được« trong khi đức Phật Thích-ca đạt Vô thượng bồ-đề sau khi ngồi thiền định và tất cả các vị Thiền sư chú trọng đến thiền hơn tất cả các tông phái khác? Cái mà Sư chỉ trích nơi Thiền sư Ðạo Nhất không phải là tác phong ngồi thiền, mà là cái tâm trạng đứng sau hành động đó. Cái ranh giới giữa »ta«, một người ngồi thiền để thành Phật và »thiền« – ở đây đồng nghĩa với Phật – phải được huỷ bỏ, tâm phải trống rỗng không còn câu chấp, ham muốn, đó là yếu chỉ mà Sư muốn truyền cho Ðạo Nhất Thiền sư tại đây. Ngay đức Phật Thích-ca cũng đã nói rõ trong Tương ưng bộ kinh (I, I): »Không buông xuôi (appathittam), không muốn đạt (anāyūham), ta đã vượt qua sóng bão…. Lúc buông xuôi, ta chìm đắm, lúc muốn đạt giác ngộ, ta bị bão táp gió lay. Không buông xuôi và vô nguyện, ta vượt qua sóng bão.«
Nam Nhạc Huệ Tư 南嶽慧思|Huệ Tư
Nam Phố Thiệu Minh 南浦紹明; J: nampo jōmyō; 1235-1309;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế dòng Dương Kì. Sư lúc đầu học pháp nơi Lan Khê Ðạo Long nhưng sau đích thân sang Trung Quốc tham học với Thiền sư Hư Ðường Trí Ngu (c: xūtáng zhìyú) và được Ấn khả. Trong dòng Thiền của Sư có nhiều vị nổi danh như Nhất Hưu Tông Thuần (j: ikkyū sōjun) và Bạch Ẩn Huệ Hạc (j: hakuin ekaku). Sư được Nhật hoàng ban hiệu Ðại Ứng Quốc sư (j: daiō kokushi).|Khác với các vị tiền nhân đưa Thiền tông sang Nhật như Minh Am Vinh Tây (j: myōan eisai), Viên Nhĩ Biện Viên (j: enni ben'en), Sư không hoà nhập Thiền tông với những giáo lí của các tông khác như Thiên Thai, Chân ngôn. Môn đệ danh tiếng nhất của Sư là Diệu Siêu Tông Phong (j: myōchō shūhō, cũng được gọi là Ðại Ðăng Quốc sư; daitō ko-kushi).|Mặc dù đã nổi danh lúc còn hoằng hoá nhưng vai trò thật sự quan trọng của Sư cho Thiền Lâm Tế tại Nhật chính là hệ thống truyền thừa vô song với các môn đệ lừng danh. Qua đó, người ta có thể xem Sư là vị Tổ chính của Thiền Lâm Tế tại Nhật (xem biểu đồ cuối sách) vì hầu hết tất cả những vị Thiền sư danh tiếng của tông Lâm Tế của Nhật sau này đều xuất phát từ hệ phái của Sư với tên gọi là Ứng-Ðăng-Quan phái (j: ō-tō-kan-ha) – viết tắt từ ba danh hiệu Ðại Ứng (ō) Quốc sư, Ðại Ðăng (tō) Quốc sư và Quan (kan) Sơn Huệ Huyền. Với sự hoằng hoá của Sư, giai đoạn du nhập của Thiền tông từ Trung Quốc sang Nhật đã kết thúc.
Nam Tháp Quang Dũng 南塔光涌; C: nántǎ guǎngyǒng; J: nantō kōyū; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, nối pháp Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch, Tổ thứ hai dòng Quy Ngưỡng. Ðạt yếu chỉ của Sư có Thiền sư Ba Tiêu Huệ Thanh.|Sư họ Chương, quê ở Phong Thành, Dự Chương. Lúc Sư ra đời, hào quang soi sáng khắp nhà, ngựa trong chuồng sợ hãi, vì vậy Sư được đặt tên là Quang Dũng. Sư xuất gia theo Ngưỡng Sơn từ nhỏ. Một thời gian Sư đến miền Bắc yết kiến Lâm Tế, rồi lại trở về hầu thầy. Ngưỡng Sơn hỏi: »Ngươi đến làm gì?« Sư thưa: »Làm lễ ra mắt Hoà thượng.« Ngưỡng Sơn hỏi: »Thấy Hoà thượng chăng?« Sư thưa: »Dạ thấy.« Ngưỡng Sơn bảo: »Hoà thượng sao giống như lừa?« Sư đáp: »Con thấy Hoà thượng cũng chẳng giống Phật.« Ngưỡng Sơn hỏi tiếp: »Nếu chẳng giống Phật thì giống cái gì?« Sư thưa: »Nếu có chỗ giống thì cùng lừa đâu khác.« Ngưỡng Sơn kinh ngạc nói: »Phàm thánh cả hai đều quên, tình hết, thể hiện bày, ta lấy đây nghiệm xét ngươi, hai mươi năm không ngờ vực. Ngươi nên gìn giữ đó.« Ngưỡng Sơn hay chỉ Sư nói với người: »Ðây là nhục thân Phật.«|Sư sau trụ ở Ngưỡng Sơn, tháp phía Nam. Một vị Tăng hỏi Sư: »Thế nào là diệu dụng một câu?« Sư đáp: »Nước đến thành hồ.« Tăng lại hỏi: »Chân Phật chỗ nào?« Sư đáp: »Nói ra không tướng, cũng không tại nơi khác.«|Không rõ Sư tịch nơi nào, năm nào.
Năm tỉ-khâu Hán Việt: Ngũ tỉ-khâu (五比丘);|Là năm vị Sa-môn (s: śramaṇa) được nghe Phật thuyết pháp đầu tiên tại Lộc uyển. Năm vị Sa-môn này trở thành năm vị đệ tử đầu tiên gia nhập Tăng-già của đức Phật. Năm vị này là: A-nhã Kiều-trần-như (s: ājñāta kauṇḍinya; p: koṇḍañña), Bà-sa-ba (s: bāṣpa; p: vappa), Bạt-đề (s: bhadriya; p: bhaddiya), Ma-ha Na-ma (s, p: mahānāma) và Át-bệ hoặc A-thuyết-thị (s: aśvajit; p: assaji).
Năm tội lớn S: pañcanantaryakarmāṇi; Hán Việt: Ngũ nghịch (五逆), Ngũ vô gián nghiệp (五無間業);|Năm trọng tội bị đoạ Ðịa ngục (s: naraka): 1. Giết cha (sát phu 殺父; s: pitṛghāta); 2. Giết mẹ (sát mẫu 殺母; s: mātṛghāta); 3. Giết một vị A-la-hán (sát A-la-hán 殺阿羅漢; s: arhadvadha); 4. Làm tổn thương đổ máu Phật (xuất Phật thân huyết 出佛身血; s: tathāgatasyāntike duṣṭacittarudhirotpada-na) và 5. Chia rẽ Tăng-già (Phá hoà hợp tăng 破和合僧; s: saṅghabheda).
Nam tông thiền 南宗禪; C: nánzōng-chán; J: nanshū-zen;|Thiền tông do Lục tổ Huệ Năng sáng lập sau Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Bắc tông thiền được Thần Tú Thiền sư khai sáng nhưng sau vài đời tàn rụi. Vì chia ra hai phái như vậy nên người ta thường gọi »Nam Năng, Bắc Tú« (南能北秀).
Năm trí S: pañcajñāna; Hán Việt: Ngũ trí (五智);|Năm loại trí được trình bày theo Mật giáo. Năm trí này miêu tả tất cả những khía cạnh của Tuyệt đối, của Chân như (s: tathatā) mà con người có thể thực hiện được khi đã chuyển hoá thân tâm. Thân tâm gọi cụ thể ở đây là năm nhóm, Ngũ uẩn với năm cấu uế, phiền não (s: pañcakleśa) phụ thuộc là tham dục (s: rāga), sân (s: dveṣa), si (s: moha, hoặc vô minh, s: avidyā), mạn (s: māna) và ganh ghét (s: īrṣyā). Năm trí bao gồm:|1. Pháp giới (thể tính) trí (法界 [體性] 智; dhamadhātu-jñāna): trí siêu việt của Pháp giới (dharmadhātu), trí tột cùng. Căn cơ của trí này là Sắc uẩn (rūpaskandha) cùng với Vô minh (avidyā), và thuộc về Thân (kāya) trong ba động cơ tạo nghiệp là Thân, khẩu, ý (citta-vāk-kāya). Trong Man-đa-la thì Pháp giới trí thuộc về Ðại Nhật Phật (vairocana), nằm ở trung tâm.|2. Ðại viên kính trí (大圓鏡智; ādarśa-jñā-na): trí như một tấm gương lớn, trí giúp người nhìn vạn vật với một tâm thức Vô ngã (anātman), không muốn chiếm đoạt, phân biệt đúng sai, chấp nhận vạn vật với mỗi sắc thể riêng của nó. Trí này được ví như một tấm gương vì một hạt bụi nó cũng không bỏ qua nhưng nếu hạt bụi này bay đi, gương không lưu lại dấu vết gì. Nguồn gốc của trí này là Thức uẩn (vijñānaskandha) cùng với tâm trạng Sân hận (dveṣa), thuộc về ý (citta) trong ba cửa tạo nghiệp. Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bất Ðộng (akṣobhya), nằm ở phương Ðông.|3. Bình đẳng tính trí (平等性智; s: samatā-jñāna): trí giúp con người thấy rõ sự bình đẳng giữa mình và chúng sinh. Tinh thần Từ bi (maitrī-karuṇā) của đạo Phật cũng xuất phát từ trí này chứ không phải xuất phát từ ý nghĩ »tội nghiệp, đáng thương« – cách nhìn của một người »trên cơ« nhìn xuống. Người Phật tử phát triển Bồ-đề tâm, phát triển lòng từ bi vì đã nhận ra chính mình trong tất cả hoàn cảnh, tất cả chúng sinh. Nguồn gốc của trí này là Thụ uẩn (ve-danāskandha) cùng với tâm trạng Kiêu mạn (māna). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bảo Sinh (ratnasambhava), vị trí ở phương Nam.|4. Diệu quan sát trí (妙觀察智; pratyave-kṣaṇa-jñāna): trí giúp người ta biến chuyển khả năng phân biệt, thị phi bằng trí thức bình thường thành trí huệ siêu việt (Bát-nhã), tuỳ cơ ứng biến, làm việc đúng thời điểm và địa điểm, không cần »dụng công.« Nguồn gốc của trí này là Tưởng uẩn (saṃjñā-skandha) cùng với tâm trạng Tham dục (rāga). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật A-di-đà (amitābha), giáo chủ phương Tây.|5. Thành sở tác trí (成所作智; kṛtyānuṣ-ṭhāna-jñāna), cũng được gọi là Thành sự trí (成事智): trí giúp người hoàn thành tất cả mọi việc mà không tạo Nghiệp (karma), đó là hành động Vô vi, xuất phát từ một tâm đã chứng ngộ được Vô ngã của chính bản thân và các Pháp Hữu vi. Nguồn gốc của trí này là Hành uẩn (saṃskāraskandha) cùng với tâm trạng ganh ghét (Hán dịch là »tật« 嫉; s: īrṣyā). Trong Man-đa-la thì trí này thuộc về Phật Bất Không Thành Tựu (amoghasiddhi), giáo chủ phương Bắc.|Cách trình bày như trên thuộc về truyền thống của Kim cương thừa (vajrayāna) Tây Tạng. Truyền thống Mật giáo tại Ấn Ðộ theo Bí mật tập hội tan-tra (guhyasamāja-tantra) thì có những điểm khác, cụ thể là: Bất Ðộng Như Lai trụ trì ở trung tâm Man-đa-la với những thuộc tính là Thức (vijñāna), Sân (dveṣa), Tâm (trong ba ải tạo nghiệp) và Pháp giới thể tính trí. Ðại Nhật Như Lai trụ trì ở hướng Ðông với thuộc tính Sắc (rūpa) trong ngũ uẩn, Vô minh (avidyā), Thân trong ba ải và Ðại viên kính trí. Trong Duy thức tông (vijñānavāda) hoặc Pháp tướng tông (Hiển giáo) người ta chỉ phân biệt bốn loại trí, không nhắc đến Pháp giới trí (xem thêm dưới Pháp tướng tông).
Nam Tuyền Phổ Nguyện 南泉普願; C: nánquán pǔyuàn; J: nansen fu-gan; 738-835;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ lừng danh của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư và là thầy của một học trò không kém uy dũng là Triệu Châu Tòng Thẩm. Ngoài Triệu Châu ra, Sư còn 17 đệ tử nối pháp nhưng không ai vượt qua pháp lực của hai vị Triệu Châu và Trường Sa Cảnh Sầm. Sư được nhắc đến nhiều trong các tập công án như Bích nham lục (công án 28, 31, 40, 63,64) và Vô môn quan (14, 19, 27, 34).|Sư họ Vương, quê ở Tân Trịnh, Trịnh Châu, xuất gia từ nhỏ. Trước khi đến tham vấn Mã Tổ, mong đạt được yếu chỉ »giáo ngoại biệt truyền«, Sư đã học kĩ giáo lí của Pháp tướng, Tam luận và Hoa nghiêm tông. Ðến Mã Tổ, Sư bỗng dưng đại ngộ, »được cá quên nơm«.|Một hôm, Sư bưng cháo cho chúng, Mã Tổ hỏi: »Trong thùng này, thông là cái gì?« Sư đáp: »Ông già nên ngậm miệng, nói năng làm gì?« Mã Tổ nghe vậy bèn thôi.|Rời Mã Tổ, Sư đến núi Nam Tuyền cất am ở ẩn, hơn 30 năm không xuống núi. Sau đó, một vị quan lên thỉnh Sư xuống dạy pháp và từ đây, học giả bốn phương đua nhau đến. Những lời dạy hùng dũng, có lúc lại »ngược«, mâu thuẫn với lời của những vị Thiền sư khác của Sư được nhiều người trong giới thiền hâm mộ và lấy đó làm Thoại đầu.|Sư thượng đường: »Các ngươi, Lão tăng lúc mười tuổi đã biết kế sống, có ai biết kế sống ra trình, sẽ cùng người ấy thương lượng, người ấy mới đáng ở núi.« Sư lặng thinh giây lâu nói: »Vô sự! Trân trọng! Mỗi người đều tu hành.« Ðại chúng vẫn ngồi yên, Sư bảo: »Huynh đệ người thời nay gánh Phật để trên vai mà đi, nghe Lão tăng nói ›Tâm chẳng phải Phật, trí chẳng phải đạo‹ bèn hội họp suy nghĩ. Lão tăng không có chỗ để các ngươi suy nghĩ. Nếu các ngươi trói hư không lấy gậy đập được, Lão tăng sẽ cho suy nghĩ.«|Có vị tăng hỏi Sư: »Trong hư không có một hạt châu là sao lấy được?« Sư bảo: »Chặt tre làm thang bắc trong hư không lấy.« Tăng hỏi: »Trong hư không làm sao bắc thang?« Sư hỏi lại: »Ngươi nghĩ thế nào lấy?«|Sư sắp tịch, một vị tăng hỏi: »Sau khi Hoà thượng trăm tuổi đi về chỗ nào?« Sư bảo: »Làm con trâu dưới núi.« Tăng hỏi: »Con theo Hoà thượng được chăng?« Sư đáp: »Nếu ngươi muốn theo ta phải ngậm theo một bó cỏ.« Niên hiệu Thái Hoà thứ tám, ngày rằm tháng hai, Sư có chút bệnh bảo chúng: »Sao che đèn huyễn lâu vậy, chớ bảo ta có đi lại!« Nói xong, Sư viên tịch, thọ 87 tuổi. Những lời dạy của Sư được ghi lại trong Trịnh Châu Nam Tuyền Phổ Nguyện Thiền sư quảng lục.
Nam Viện Huệ Ngung 南院慧顒; C: nányuàn huìyóng; J: nanin egyō; ?-930, cũng được gọi là Bảo Ứng Huệ Ngung;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế đời thứ ba, nối pháp Thiền sư Hưng Hoá Tồn Tưởng. Môn đệ của Sư có Phong Huyệt Diên Chiểu nổi bật nhất và chính sự huấn luyện môn đệ »khó dạy« này mà Sư nổi danh đến đời sau.|Sư hỏi một vị tăng mới đến: »Vừa nơi nào đến?« Tăng thưa: »Vừa rời Nhượng Châu« Sư hỏi: »Ðến làm gì?« Tăng thưa: »Ðến lễ bái Hoà thượng.« Sư bảo: »Dường như lão Ngung Bảo Ứng chẳng ở đây.« Tăng liền hét, Sư bảo: »Ðã nói với ông chẳng có ở đây, lại hét cái gì?« Tăng lại hét, Sư liền đánh. Vị tăng quì xuống lễ bái, Sư bảo: »Gậy này bản phận ngươi đánh ta, mà ta lại đánh ngươi, ba gậy năm gậy cốt lời này.«
Năng-đề Ca-diếp 曩提迦葉; C: năngtí jiāshě; J: nōdai kashō; |Là một trong những phiên âm tên của Nadī-Kāśyapa; Na-đề Ca-diếp (那提迦葉).
Nẵng-nga 曩誐; C: năngé; J: nōga; S: nāga;|Một loại rồng. Một trong 8 loại thiện thần hộ pháp xuất hiện trong kinh luận Đại thừa. Xem Long (龍).
Nê đoàn 泥團; C: nítuán; J: nidan;|Bùn; lớp bùn dày (s: mrt-pinda).
Nê-hoàn 泥洹; C: ní huan; J: naion;|Phiên âm chữ nirvāṇa từ tiếng Phạn. Là sự chấm dứt mọi phiền não. Thường phiên âm là Niết-bàn (涅槃).
Nê-lê 泥黎; C: nílí; J: nairi;|Phiên âm chữ niraya từ tiếng Phạn, có nghĩa là nơi tối tăm cực khổ hay là nơi chịu cực hình để chuộc tội, thường dịch sang tiếng Hán là Địa ngục (地獄).
Ngã 我; S: ātman; P: atta;|Tức là cái »ta« thể tính trường tồn, không bị ảnh hưởng của tụ tán, sinh tử. Ðạo Phật không công nhận sự hiện diện của ngã. Trong toàn bộ mọi hiện tượng tâm lí và vật lí không có một chủ thể gì được gọi là độc lập, thường còn (Vô ngã, Ngũ uẩn).|Theo đạo Phật, ý nghĩ cho rằng có »ta«, có »người« – những đơn vị độc lập không phụ thuộc vào nhau – chính là Vô minh, Si mê. Sự nhận thức là có »ta« tự khởi lên bởi vì con người thường bị tri thức mê hoặc – tri thức ở đây là thức thứ sáu, khả năng suy nghĩ phân biệt – cho rằng thế giới nhị nguyên vốn có sẵn và từ đó phát sinh ra sự suy nghĩ và hành động theo quan niệm rằng, »ta« và người, vật bên ngoài hoàn toàn là những đơn vị độc lập. Dần dần, ý nghĩ »ta« khắc sâu vào Tâm và những ý nghĩ khác như »ta yêu cái này, ta ghét cái nọ; cái này của ta, cái này của ngươi« bắt đầu nẩy nở. Những ý nghĩ nêu trên lại có ảnh hưởng trở lại với ý nghĩ »ta« và vì vậy, cái »ta« này cai trị tâm linh của con người. Nó sẵn sàng tấn công tất cả những gì mà nó cảm thấy bị đe dọa, tham khát những gì giúp nó gia tăng quyền lực. Thù hận, tham khát và xa rời chân tính là những tai hại phát sinh từ đó và chúng trực tiếp đưa con người đến bể Khổ.|Trong Thiền tông, người ta sử dụng phương pháp Toạ thiền (j: zazen) để phá vỡ cái vòng lẩn quẩn nêu trên. Trong quá trình tu tập dưới sự hướng dẫn của một vị Lão sư (j: rōshi), người ta có thể dần dần vượt khỏi sự khống chế của cái »Ngã«, tiêu diệt »Ngã« hay đúng hơn, vượt khỏi cái »ý nghĩ sai lầm là có tự ngã« bởi vì nhìn theo khía cạnh tuyệt đối thì người ta không thể tiêu diệt một cái gì không có thật, chưa hề có thật như cái »Ngã«.
Ngạ quỷ 餓鬼; S: preṭa; P: peta;|Là quỷ đói, một trong ba đường tái sinh xấu (Lục đạo). Ngạ quỷ là hạng chúng sinh được xem như hạnh phúc hơn Ðịa ngục (s: naraka) nhưng đau khổ hơn A-tu-la (s: āsura). Người ta cho rằng các yếu tố tái sinh thành quỷ đói là keo kiệt, ganh tị và tham lam. Loài chúng sinh này được biểu diễn bằng cái bụng rất lớn và cái miệng rất nhỏ.
Nga Sơn Thiều Thạc 峨山韶碩; J: gasan jōseki; 1275-1365;|Thiền sư Nhật Bản lỗi lạc thứ ba của tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū) sau hai vị Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen) và Oánh Sơn Thiệu Cẩn (j: keizan jōkin). Sư nối Pháp Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn.|Sư sinh trong một gia đình tại Noto, sớm xuất gia (1290) tu học giáo lí của Thiên Thai tông trên núi Tỉ Duệ. Một cuộc gặp gỡ với Thiền sư Oánh Sơn đã thay đổi quan niệm tu học của Sư và từ đây, Sư tôn Oánh Sơn làm thầy và chú tâm vào việc Toạ thiền và quán Công án. Dưới sự hướng dẫn của Oánh Sơn, Sư ngộ đạo và được Ấn khả.|Sư trụ trì Tổng Trì tự (sōji-ji) – với một cuộc gián đoạn ngắn và trong thời gian này Sư trụ trì Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) – gần 40 năm liền và đã đưa danh tiếng của ngôi chùa này lên đến tuyệt đỉnh. Sư rất chú trọng đến việc thuyết pháp, hoằng hoá quần chúng, nhất là những người thuộc những tầng cấp thấp của xã hội và cố gắng gieo vào tâm của các vị đệ tử tư tưởng của một vị Bồ Tát, quên mình, vì người, một tư tưởng mà Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn đã phát huy trong tông Tào Ðộng.|Sư cũng là người đầu tiên đưa thuyết Ngũ vị quân thần của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới (Ðộng Sơn ngũ vị) vào chương trình giảng dạy của tông Tào Ðộng tại Nhật. Sư có rất nhiều đệ tử nhưng nổi danh nhất là năm vị, đó là: 1. Thái Nguyên Tông Chân (太源宗眞; taigen sōshin, ?-1370), 2. Thông Huyễn Tịch Linh (通幻寂靈; j: tsūgen ja-kurei, 1322-1391), 3. Vô Ðoan Tổ Hoàn (無端祖環; j; mutan sokan, ?-1387), 4. Ðại Triệt Tông Linh (大徹宗令; j: daisetsu sōrei, 1333-1408), 5. Thật Phong Lương Tú (實峯良秀; j: jippō ryōshū, 1318-1405). Với sự nghiệp hoằng hoá của năm vị này, tông Tào Ðộng được truyền bá khắp nước Nhật.
Ngân sơn 銀山; S: kailāsa, kailāś, rajatādṛ;|Tên của một ngọn núi ở dãy Hi-mã-lạp sơn, được xem là trú xứ của thần Thấp-bà (s: śi-va). Ấn Ðộ giáo xem núi này là thiêng liêng nhất. Phật giáo cũng xem Ngân sơn là thánh địa. Trên một cao nguyên khoảng 4600m, ngọn núi này bỗng vọt lên trên 7000m. Từ ngọn núi này xuất phát bốn con sông quan trọng của châu Á là Brahmaputra, Indus, Sutlej và Karnali.|Hai tác giả về Phật giáo danh tiếng của phương Tây là Lạt-ma Gô-vin-đa và W. Y. Evans-Wentz đều đã chiêm bái Ngân sơn. Cảm hứng về ngọn núi này, Gô-vin-đa viết trong quyển The Way of the White Clouds: »Có những ngọn núi chỉ là núi và có những ngọn núi lại có một nhân cách riêng. Nhân cách một ngọn núi không phải chỉ vì hình dạng kì lạ của nó mà có… Nhân cách nói chung là một uy lực, tác động lên người khác mà chủ thể của nó không hề muốn hay không hề biết. Uy lực này nằm trong sự liên tục, sự nhất quán, sự hoà hợp của tính cách con người. Nếu chúng lại là nhân cách của một ngọn núi thì ngọn núi xuất hiện như một tập hợp của uy lực toàn vũ trụ và chúng ta xem đó là một ngọn núi thiêng.«|Evans-Wentz tả như sau: »Cảm giác nhìn ngắm ngọn núi thật vô cùng kì diệu làm người hành hương quên hết lo âu và sợ hãi. Ai có thể mô tả được sự vô lượng vô biên của không gian? Ai có thể mô tả một cảnh vật, cảnh vật đó là hiện thân của cái vô cùng, biết thở theo nhịp của cái vô cùng? Với hồ nước trong xanh, thảo nguyên xanh thẳm bát ngát và các ngọn đồi vàng rực bao quanh, hiện lên một dãy núi tuyết và ở giữa là ngọn núi với đỉnh cao trắng xóa, được người Tây Tạng gọi là ›Bảo ngọc đầy tuyết trắng.‹« (Cuchamana and the Secret Mountains, Stanford University 1981).
Ngạnh sáp 梗澁; C: gěngsè; J: kyōjū; |Cay đắng, khó khăn, khắc nghiệt.
Ngẫu hài 偶諧; C: ǒuxié; J: gukai;|Xứng hợp nhau; phù hợp với nhau; cùng tán thành. Phối hợp, liên hợp, liên kết, hợp nhất, kết hợp (結合).
Nghi 疑; S: vicikitsā; P: vicikicā;|Một thuật ngữ quan trọng, chỉ sự tâm lí nghi ngại, nghi ngờ, là một trong Năm chướng ngại (s: pañca-nīvaraṇa) và một trong ba Trói buộc (s: saṃyojana) của hành giả trên Thánh đạo (s: āryamārga). Theo đạo Phật, nghi được xem là thái độ »không muốn hiểu«, được biểu hiện bằng sự dao động, bằng sự lãnh đạm, bằng sự thiếu nhiệt thành. Còn lòng nghi ngờ lành mạnh hiểu như một thái độ thận trọng, không vội tin những gì người khác hay kinh sách, hay chính Phật nói mà phải tìm hiểu thử nghiệm thì lại là một đức hạnh mà chính Phật cũng khuyên nên có. Cần phân biệt cái nghi ở đây với Ðại nghi đoàn, khối nghi lớn cần phải có trong việc tu tập theo Thiền tông.
Nghi 儀; C: yí; J: gi;|Có các nghĩa sau: 1. Luật lệ, mẫu mực, kiểu mẫu; 2. Nghi thức, công chuyện, tình thế, vấn đề; 3. Phong cách, tư thái; 4.Tặng phẩm, tư thế; 5. Vật dụng, công cụ; 6. Phong thái hoàn mĩ.
Nghi quỹ 儀軌; C: yíguǐ; J: giki; S: sādhana hoặc tantra;|Luật tắc, luật lệ, mẫu mực, quy phạm, tín ngưỡng truyền thống. Thường được dùng trong Kim cương thừa để chỉ những bài chú về những phép tu thiền định đặc biệt. Những bài này thường thường trình bày các vị Hộ Thần (s: iṣṭadevatā, sādhita; t: yidam), như một thật thể mà hành giả có thể tiếp cận được, và cách thực hiện linh ảnh các vị đó. Trong Phật giáo Tây Tạng, đây là phương pháp tu học phổ biến, nhưng luôn luôn cần sự hướng dẫn của một vị Ðạo sư (guru). Mỗi hành giả sẽ được truyền tâm bằng một câu Man-tra liên quan đến một vị thần hỗ trợ.|Phần thực hiện Nghi quỹ bao gồm 3 phần: Chuẩn bị, phần chính và phần chấm dứt. Phần chuẩn bị thường là Quy y tam bảo và phát triển Bồ-đề tâm. Phần chính thường gồm có giai đoạn bắt đầu, giai đoạn tạo linh ảnh của một vị Hộ Thần và giai đoạn xóa tan linh ảnh. Ðó là lúc mà hành giả trực nhận Chân như, tính Không. Giai đoạn chấm dứt thường gồm có các lời chúc hay hồi hướng. Ðối với Phật giáo Tây Tạng thì việc thiết tưởng linh ảnh, Hộ Thần không hề có tính huyền hoặc hay cầu xin một đấng nào bên ngoài. Ðó là những phương pháp để tự đồng hoá với một nguyên lí năng lượng ở nơi chính mình. Các vị Phật trong hệ thống Ngũ Phật là những hình ảnh cơ bản nhất của các linh ảnh đó.
Nghĩa Huyền 義玄|Lâm Tế Nghĩa Huyền.
Nghĩa Không 義空; C: yìkōng; J: gikū; tk. 9;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư. Sư là Thiền sư đầu tiên đến Nhật Bản nhưng không có môn đệ nào xuất sắc ở đây. Vì vậy, sau vài năm Sư trở về Trung Quốc, không Ấn chứng cho ai. Cho đến thế kỉ 12/13, không có Thiền sư nào đến Nhật giáo hoá.
Nghĩa Tịnh 義淨; C: yìjìng; 635-713;|Cao tăng Trung Quốc, một trong những dịch giả quan trọng nhất, dịch kinh sách từ Phạn ngữ (sanskrit) ra Hán văn và cũng là người đi tham bái các thánh tích Phật giáo. Năm 671, Sư đi bằng đường biển qua Ấn Ðộ và lưu lại đó hơn 20 năm. Tại Viện Phật học Na-lan-đà, Sư tham cứu giáo lí của Phật giáo Tiểu thừa cũng như Ðại thừa và bắt đầu công trình dịch thuật từ Phạn ngữ sang Hán văn. Năm 695, Sư trở về Trung Quốc, mang theo khoảng 400 kinh, luận. Cùng hợp tác với Thật-xoa Nan-đà (s: śikṣānanda), Sư dịch kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) và Luật tạng. Tổng cộng, Sư đã dịch 56 tác phẩm với 230 tập. Ngoài một tập du kí Ấn Ðộ, Sư còn ghi lại tiểu sử của 56 vị tăng đã đi tham bái đất Phật bằng đường biển. Trong các vị này có 4 vị là người Việt Nam (Giao Chỉ).
Nghĩa Tồn 義存|Tuyết Phong Nghĩa Tồn.
Nghiệp 業; S: karma; P: kamma; C: yè; J: gō;|1. Hành vi, hành động, hoạt động (s: karman, karma); 2. Hành vi của con người; cách cư xử, tư cách, bao gồm 3 hành vi thuộc ý, miệng, và thân; 3. Dấu tích, kết quả lưu lại từ 3 hành vi của nghiệp; năng lực vận hành tiềm tàng – nhân duyên tạo thành từ những hành vi mà cuối cùng sẽ tạo ra các kết quả khác; 4. Hành vi xấu ác, tai hại. mê muội; 5. Hạnh thanh tịnh (s: anubhāva); 6. Nỗ lực, tinh tấn, phấn đấu (s: vyāyama). |Khái niệm nghiệp rất quan trọngỉtong đạo Phật, dùng chỉ quy luật chung nhất về nguyên nhân và kết quả. Theo đạo Phật, mỗi tác động (nghiệp) – dưới một điều kiện nhất định – sẽ tạo thành một quả (s, p: phala). Một khi quả đó chín, nó sẽ rơi trở lại người tạo ra nó. Muốn thành quả, một nghiệp phải là tốt (Thiện; s: kuśala) hay xấu (Bất thiện; s: akuśala) và là một hành động cố ý. Vì sự cố ý đó, một nghiệp để lại một dấu vết nơi tâm thức của người tạo nghiệp và tâm thức đó sẽ hướng theo những sự tạo tác của chính mình. Thời gian để một quả chín muồi có thể kéo dài rất lâu và chính nó tác động lên sự tái sinh và làm loài hữu tình, trong đó có con người, cứ lưu mãi trong Luân hồi (s, p: saṃsāra).|Một nghiệp được gây ra hoặc bằng một hành động thuộc thân, thuộc tâm hay ngôn ngữ. Như thế khi người ta có ý làm cái gì thì đã tạo nghiệp, không nhất thiết việc làm đó có xảy ra hay không. Chính tư tưởng đã tạo tác nghiệp. Một hành động sẽ không gây nghiệp nếu nó được thực hiện mà không xuất phát từ tham, sân, si. Một nghiệp tốt có thể mang lại kết quả tốt trong một sự tái sinh. Tạo nghiệp tốt không có nghĩa là chấm dứt tái sinh. Muốn thoát khỏi luân hồi, con người phải từ bỏ nghiệp tốt lẫn nghiệp xấu. Cần phải hiểu nghiệp và nghiệp lực không đồng nghĩa với thuyết cho rằng mọi sự đều được quyết định sẵn (thuyết định mệnh). Nghiệp làm con người tái sinh trong một cuộc đời, một hoàn cảnh nhất định, nhưng hành động con người trong cuộc đời đó vẫn có sự tự do. Nghiệp sinh ra hoàn cảnh, sự phản ứng đối với hoàn cảnh này lại nằm trong tay con người.
Nghiệp cảm 業感; C: yègăn; J: gōkan; |Trải qua, tự mình nhận chịu cảm giác khổ vui, là kết quả của những hành vi thiện hoặc ác mà mình đã tạo từ trước.
Nghiệp chướng 業障; C: yèzhàng; J: gōshō; S: karma-āvarana. |1. »Chướng ngại của nghiệp«. Sự chướng ngại của nghiệp xấu ác; 2. Chướng ngại gây ra do kết quả của hành vi xấu ác.
Nghiệp dụng 業用; C: yèyòng; J: gōyō; |Chức năng, hoạt dụng, hoạt động của nghiệp (s: kriyā).
Nghiệp nhân 業因; C: yèyīn; J: gōin; |Hành vi thiện hay ác là nguyên nhân cho kết quả tốt hay xấu.
Nghiệp nhiễm ô 業染汚; C: yèrănwū; J: gōzenma; |Sụ nhiễm ô của nghiệp (s: karma-saṃkleśa).
Nghiệp thức 業識; C: yèshì; J: gōshiki;|»Sự hoạt dụng của thức«; với nghĩa là thông qua tác dụng của vô minh mà tâm kẻ phàm phu bắt đầu bị phiền trược hay được thức tỉnh. Vì vô minh nên không biết được rằng chân như của các pháp vốn bình đẳng và thuần một vị, nên mới sinh khởi ý thức si mê sai lầm nầy. Đại khái tương đương với nghĩa của Chuyển thức (轉識)
Nghiệp trí 業智; C: yè zhì; J: gōchi; |1. Nghiệp và trí huệ; hành vi và tri thức; 2. Trí được tạo bằng nghiệp (nhiễm ô).
Nghiệp tướng 業相; C: yèxiāng; J: gōsō; S: karma-añjana|Sự biểu hiện của nghiệp. 1. Theo luận Đại thừa khởi tín, là một trong Tam tướng (Vô minh nghiệp tướng, Năng kiến tướng, và Cảnh giới tướng). Chỉ sự tỉnh thức của tâm thanh tịnh tuỳ vào căn bản vô minh; 3. Đặc tính của nghiệp.
Ngô 呉; C: wú; J: go;|1. Tên một triều đại thời cổ Trung Hoa: a. Thời Xuân Thu, Ngô là vương quốc hùng mạnh bị vương triều Yüeh đánh bại; b. Đông Ngô, phần lớn lãnh thổ phía Đông của thời Tam Quốc (CE 229-280), tương đương tỉnh Chiết Giang; 2. Hò hét, ồn ào, nói oang oang; 3. Cách phát âm của người Nhật dành cho những Hán tự vốn được đọc theo cách phát âm Ngô, không đọc theo âm Hán. Nhiều thuật ngữ Phật học dùng cách phát âm nầy.
Ngộ 悟; C: wù; J: satori (悟り);|Một thuật ngữ của Thiền tông, được dùng để chỉ sự »nhận thức«, »trực nhận«, »thấu hiểu xuyên suốt.« »Nhận thức« ở đây không phải là sự hiểu biết thông thường hoặc nhận thức theo các hệ thống triết lí mà chính là sự trực nhận chân lí không có sự phân biệt giữa »Người nhận thức« và »Vật được nhận thức« (Nhân vật bất nhị 人物不二). Một danh từ khác đồng nghĩa với ngộ là Kiến tính (j: ken-shō). Biểu thị Ðại ngộ triệt để cũng thường được sử dụng để chỉ sự Giác ngộ tột cùng, viên mãn.|Danh từ Ngộ được thông dụng khi Thiền tông bắt đầu hưng thịnh. Trước đó, các Cao tăng hay dùng chữ Bồ-đề (菩提), cách phiên âm chữ Bodhi của Phạn ngữ hoặc cách dịch nghĩa của nó là Giác, Giác ngộ (覺悟) hơn. Có lẽ các vị Thiền sư muốn thống nhất hoá tư tưởng »Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự«, chủ trương đem danh từ Ngộ vào pháp ngữ.|Nếu nghiên cứu kĩ cách sử dụng danh từ Ngộ và Giác (Bồ-đề) trong các kinh luận, thiền ngữ Trung Quốc, người ta có thể thấy được một sự khác biệt tinh tế trong cách sử dụng. Ngộ thường được dùng để chỉ cái kinh nghiệm thức tỉnh trong ý nghĩa ngay thức thì của nó trong khi Giác được dùng với nghĩa »Ngộ thường trực«. Người đã có kinh nghiệm Ngộ cần phải tu tập thêm để đạt đến mức toàn vẹn của Giác.|Trong thời gian Thiền tông phát triển tại Nhật, các vị Thiền sư tại đây lại phân biệt giữa hai danh từ Ngộ (j: satori) và Kiến tính (見性; j: kenshō) và sự khác biệt giữa hai danh từ này cũng giống như trường hợp giữa Giác và Ngộ. Trong những khóa thực hành thiền căn bản, các vị Lão sư (j: rōshi) thường dùng danh từ Kiến tính để chỉ những kinh nghiệm ngộ đạo ban sơ của thiền sinh, rất ít khi dùng chữ Ngộ.
Ngộ Ấn 悟印; 1019-1088|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 8, nối pháp Thiền sư Quảng Trí.|Sư tên Ðàm Khí, quê ở Tư lí làng Kim Bài. Năm lên mười, Sư được dạy chữ Hán và Phạn, học vấn ngày càng tiến. Năm 19 tuổi, Sư xuất gia thụ giới cụ túc, chuyên học hai bộ kinh Viên giác và Pháp hoa. Sư được Thiền sư Quảng Trí ở chùa Quán Ðỉnh truyền tâm ấn. Sau, Sư đi vào Ninh Sơn phủ Thiên Ứng kết cỏ làm am tu học, lấy hiệu là Ngộ Ấn.|Một vị tăng đến hỏi: »Thế nào là Phật, Pháp và Thiền?« Sư đáp: »Ðấng Pháp vương vô thượng, ở thân là Phật, ở miệng là Pháp, ở tâm là Thiền. Tuy có ba thứ, kì thật là một. Ví như nước ba con sông, tuỳ chỗ đặt tên tuy chẳng đồng, mà tính nước không khác.«|Niên hiệu Quảng Hựu thứ 4, ngày 14 tháng 6, Sư biết mình sắp thị tịch bèn gọi chúng nói kệ:|妙性虛無不可攀。虛無心悟得何難|玉焚山上色常潤。蓮發爐中濕未乾|Diệu tính hư vô bất khả phan|Hư vô tâm ngộ đắc hà nan|Ngọc phần sơn thượng sắc thường nhuận|Liên phát lô trung thấp vị càn.|*Diệu tính rỗng không chẳng thể vin|Rỗng không tâm ngộ việc dễ tin|Tươi nhuần sắc ngọc trong núi cháy|Lò lửa hoa sen nở thật xinh.|Nói xong, Sư vui vẻ thị tịch.
Ngộ tích 悟跡; J: goseki;|Là dấu vết của sự ngộ nhập, của kinh nghiệm Kiến tính; theo Thiền tông thì sự chứng ngộ thâm sâu không để lại một dấu vết gì. Người nào có những hành động mà những người xung quanh có thể nhận ra được là đã có chút tỉnh, có ngộ nhập thì vị này được gọi là có »ngộ tích« và các Thiền gia chính tông cũng không ngần ngại gì với sự quả quyết rằng, người đó »mang hơi hám của sự giác ngộ.« Chỉ khi nào »hơi hám« này hoàn toàn biến mất và người này sống thật tự nhiên với cái đã chứng ngộ được và cũng không tự biết mình đã chứng ngộ mà cũng không đề cao việc này – lúc đó người này mới được Thiền tông thừa nhận là đã chứng ngộ.|Quốc sư Nam Dương Huệ Trung một lần thử một vị tăng – vị này mang danh hiệu Tam Tạng (thông cả ba tạng kinh điển) và tự xưng là có tha tâm thông (Lục thông) – nghĩa là đọc được ý nghĩ của người. Sư hỏi vị này: »Ông thử nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng thưa: »Hoà thượng là thầy của một nước, sao lại đến Tây Xuyên xem đò đưa?« Sư im lặng giây lâu, hỏi tiếp: »Ông hãy nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng thưa: »Hoà thượng là thầy của một nước, sao lại đến cầu Thiên Tân xem khỉ đùa giỡn?« Sư im lặng giây lâu, lại hỏi: »Ông hãy nói, hiện giờ Lão tăng ở chỗ nào?« Tăng mờ mịt không biết nói gì. Sư liền quát: »Dã hồ tinh! Tha tâm thông ở chỗ nào!«|Thiền sư Vân Cư Ðạo Ưng lúc còn ở với thầy là Ðộng Sơn Lương Giới có thiên thần dâng cơm cúng dường, vì vậy mà Sư không đến trai đường. Nghe chuyện này, Ðộng Sơn bảo sư: »Ta bảo ông là kẻ vẫn còn kiến giải. Ông hãy đến đây buổi chiều.« Chiều, Sư đến. Ðộng Sơn gọi Sư: »Am chủ Ưng!« Sư ứng thinh: »Dạ!« Ðộng Sơn bảo: »Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác là cái gì?« Sư trở về am ngồi lặng lẽ, thiên thần tìm mãi không thấy, trải ba ngày như thế mới thôi cúng dường.
Ngoại đạo lục sư 外道六師; S: ṣaṭśāstārā;|Là sáu vị giáo chủ với sáu giáo thuyết khác nhau, thịnh hành lúc Phật còn tại thế. Sáu vị này là:|1. Phú-lan-na Ca-diếp (s: pūraṇa kāśyapa; p: pūraṇa kassapa), chủ trương luận thuyết Vô đạo đức, dạy đệ tử rằng, không có một sự thật nào tuyệt đối mà con người có thể tìm được, phủ nhận luật nhân quả;|2. Mạt-già-lê Câu-xá-lê tử (s: maskarī go-śālīputra; p: makkhali gosāla) chủ trương thuyết Tự nhiên thuộc Túc mệnh luận, cho rằng mệnh của con người không tuỳ thuộc vào nghiệp quả, không liên can gì đến những hành động đang làm;|3. San-xà-dạ Tì-la-chi tử (s: sañjayī vairatī-putra; p: sañjaya belaṭṭhiputta) theo thuyết Hoài nghi, không thừa nhận tính chính xác của cái hiểu biết phổ biến. Ông chủ trương thuyết »Không thể biết đến được« (Bất khả tri), cho rằng giáo pháp và tu hành không cần thiết trong việc chứng đạt chân lí.|4. A-kì-đa Sí-xá-khâm-bà-la (s: ajita keśa-kambala, p: ajita kesakambala) theo thuyết Duy vật, Khoái lạc, cho rằng sự kham nhận khổ ải nhất định đưa đến khoái lạc;|5. Ca-la-cưu-đà Ca-chiên-diên (s: karakuda katyāyana, p: pakudha kaccāyana) theo Cảm giác luận thuộc Vô nhân luận, cho rằng địa, thuỷ, hoả, phong, khổ, lạc, linh hồn là những yếu tố độc lập. Ông chỉ chấp nhận chân lí tuyệt đối ở một mức độ nào đó; |6. Ni-kiền-đà Nhã-đề tử (s: nirgrantha jñāti-putra; p: nigaṇṭha nātaputta) sáng lập Kì-na giáo. Ông cho rằng, khổ lạc được tạo ra từ đời trước, không thể tu mà diệt được mà phải chịu đền trả đời này.
Ngột Am Phổ Ninh 兀菴普寧; C: wūān pǔníng; J: gottan funei; 1197-1276;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm.|Sư được Thiền sư Lan Khê Ðạo Long khuyến khích sang Nhật năm 1260. Trước tiên, Sư đến Kinh Ðô (kyōto) và một thời gian trụ trì chùa Kiến Trường (kenchōji) theo lời mời của Tướng quân Bắc Ðiều Thời Lại (shōgun hōjō tokiyori). Sư cũng hướng dẫn vị Tướng quân này trên con đường tu thiền và vị này sau cũng được Sư Ấn khả. Sau, Sư trở về Trung Quốc và tịch tại đây.
Ngột ngột 兀兀; C: wùwù; J: gotsugotsu;|Kiên định, không dao động, không lay chuyển. Nỗ lực làm một việc.
Ngũ ác kiến 五惡見; C: wǔèjiàn; J: goakuken;|Xem Ngũ kiến (五見; s: pañca-dṛṣṭi).
Ngũ ấm 五陰; C: wǔyīn; J: goon; S: pañcaskandha; P: pañcakhandha;|Năm nhóm, năm tập hợp mà Đức Phật dạy, gọi chúng như là những nhân tố hợp thành những gì được chúng ta gọi là »chúng sinh«. Ngũ ấm là tiếng Hán cựu dịch từ chữ pañca-skandḥāh tiếng Phạn. Sau nầy dịch là Ngũ uẩn (五蘊).
Ngũ ấm thạnh khổ 五陰盛苦; C: wǔyīnshèngkǔ; J: goonjōku;|Khổ do năm uẩn. Cảm giác bất an từ sự kiện là sự hiện hữu của con người không nằm bên ngoài hợp thể ngũ uẩn. Đây là một trong »Tứ khổ Bát khổ« (四苦八苦) do Phật Thích-ca Mâu-ni dạy trong Tứ đế (四諦).
Ngũ ẩn 五隱; C: wǔyǐn; J: goon;|Ngũ ấm (五陰), Ngũ uẩn.
Ngũ bách kết tập 五百結集; C: wǔbăi jiéjí; J: gohyaku ketsujū;|Lần kết tập kinh điển với 500 vị A-la-hán. Xem Đệ nhất kết tập (第一結集).
Ngũ bách La-hán 五百羅漢; C: wǔbăi luóhàn; J: gohyaku rakan;|Có hai nghĩa: 1. 500 vị A-la-hán với Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāśyapa) làm thượng thủ để kết tập kinh điển lần thứ nhất ngay sau khi đức Phật nhập niết-bàn; 2. 500 vị A-la-hán do Hiếp Tôn giả (脅尊者; s: pārśva) làm thượng thủ để kết tập Tì-bà-sa luận (毘婆沙論; s: vibhāṣā-śāstra) trong hội nghị kết tập kinh điển lần thứ 4 dưới sự bảo trợ của vua Ka-nị-sắc-ca (迦膩色迦王; s: kaniṣka).
Ngũ bách tập pháp 五百集法; C: wǔbăi jífǎ; J: gohyaku shūhō;|Hội nghị kết tập kinh điển gồm 500 vị A-la-hán. Xem Đệ nhất kết tập (第一結集).
Ngũ bộ đại luận 五部大論; C: wǔbù dàlùn; J: gobudairon;|»Năm bộ luận lớn của Đại thừa« do Bồ Tát Di-lặc trứ tác.
Ngũ bộ tâm quán 五部心觀; C: wǔbù xīnguān; J: gobu shinkan;|Tên gọi đầy đủ là Lí-đa tăng-bá-la ngũ bộ tâm quán (悝多僧蘖囉五部心觀), được trình bày ở Trung Hoa theo chỉ dẫn của sư Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhakarasiṃha). Gồm những bức hoạ miêu tả hình ảnh các vị thần, các thủ ấn, và biểu tượng của Kim Cương giới mạn-đồ-la (金剛界曼荼羅; s: vajradhātu-mahāmaṇḍala), với những lời thần chú và chú thích hoàn toàn bằng tiếng Phạn. Một bản sao tác phẩm nầy do Pháp Toàn (法全) truyền lại cho Viên Trân (圓珍; j: enchin) năm 885 sau CN. Để nghiên cứu thêm, xin xem tác phẩm của Śaśibala (1986).
Ngũ cái 五蓋; C: wǔgài; J: gogai;|Chữ Cái cũng được viết là 盖, »Năm loại ngăn che (trí huệ)«. Năm loại phiền não chướng ngại chân tâm: đó là tham dục (貪欲), sân khuể (瞋恚), hôn trầm (沈), điệu hối (掉悔), nghi (疑).
Ngũ căn 五根; C: wǔgēn; J: gokon; S: pañca-indriya.|I. Năm căn, năm giác quan. Đó là Nhãn căn, nhĩ căn, tỉ căn, vị căn, và xúc căn. Trong giáo lí Duy thức, chúng được xem như là một phần của A-lại-da thức.|II. Năm căn lành: 1. Tín căn (信根); 2. Tinh (tiến) căn (精根); 3.Niệm căn (念根); 4. Định căn (定根); 5. Huệ căn (慧根). Năm căn lành nầy được xếp vào trong 37 phẩm trợ đạo.
Ngũ cảnh 五境; C: wǔjìng; J: gokyō; S: pañca-visaya.|Năm đối cảnh. Theo giải thích của Du-già hành phái, đây là 5 yếu tố để cho Ngũ căn tiếp xúc. Đó là: đối tượng của mắt (sắc 色; s: rūpa); đối tượng của tai (thanh 聲; s: śabda), đối tượng của mũi (hương 香; s: gandha), đối tượng của lưỡi (vị 味 s: rasa), đối tượng của thân (xúc 觸; s: sprastavya:). Đối tượng của 5 giác quan. Sự sắp xếp nầy chủ yếu được phát triển trong Câu-xá luận (倶舎論). Theo giáo lí của Pháp tướng tông, Ngũ cảnh được xem như là những khía cạnh của Ngũ thức. Xem thêm Ngũ trần (五塵).
Ngũ chi tác pháp 五支作法; C: wǔzhī zuòfǎ; J: goshisahō;|Phương pháp lập luận gồm 5 phần, gồm: 1. Tông (宗; s: pratijñā): tiền đề; 2. Nhân (因; s: hetu): lí do; 3. Dụ (喩; s: udāharana): thí dụ dẫn chứng; 4. Hợp (合; s: upanaya): sự quy nạp; 5. Kết (結; s: nigamana): kết luận. Pháp nầy đã được các nhà Cổ nhân minh học trước Trần-na (陣那; s: dignāga) sử dụng.
Ngũ chúng 五衆; C: wǔzhòng; J: goshū;|Có các nghĩa sau: 1. Từ Hán cổ (Cưu-ma-la-thập, s: kumārajīva) để dịch từ »Ngũ uẩn« (theo kinh Pháp Hoa); 2. Năm chúng đệ tử của Đức Phật: Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu, p: bhikkhu), Tỉ-khâu-ni (比丘尼; s: bhikṣuṇī, p: bhikkhunī), Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā, p: sikkhamānā), Sa-di (沙彌; s: śrāmaṇera, p: sāmaṇera), và Sa-di-ni (沙彌尼; s: śrāmaṇerikā, p: sāmaṇerī). Trong Năm chúng nầy, Tỉ-khâu và Tỉ-khâu-ni thụ nhận Cụ túc giới, Thức-xoa-ma-na thụ nhận Sáu pháp (Lục pháp 六法; sau khi thụ giới Sa-di), Sa-di và Sa-di-ni thụ nhận mười giới (Thập giới 十戒; theo Đại trí độ luận quyển thứ 10 大智度論卷十; Tứ Phần luật hành sự sao tư trì kí, phần 1, quyển 1 四分律行事鈔資持記卷中一之一).
Ngũ chủng thô trọng 五種麤 (麁) 重; C: wǔzhǒng cūzhòng; J: goshu sojū;|Năm ý nghĩa thô trọc, nặng nề, yếu đuối và khúc mắc của phiền não, đó là: 1. Hiện trọng tướng (現重相); 2. Cương cường tướng (剛強相); 3. Chướng ngại tướng (障碍相); 4. Khiếp liệt tướng (怯劣相); 5. Vô năng lực tự tại tướng (無能力自在相; theo Du-già luận 瑜伽論).
Ngũ chướng 五障; C: wǔzhàng; J: goshō; S: pañca-avara-ṇāni.|Có các nghĩa sau: 1. Năm loại chướng ngại: Phiền não chướng (煩惱障), Nghiệp chướng (業障), Sinh chướng (生障), Pháp chướng (法障), Sở tri chướng (所知障); 2. Năm loại chướng ngại đối với phụ nữ: Không thể sinh trong cõi trời Phạm thiên, không thể sinh trong cõi trời Đế thích, không thể sinh làm Ma vương, không thể sinh làm Chuyển luân thánh vương, không thể làm Phật; 3. Năm loại chướng ngại: Lừa dối (khi 欺), lười biếng (đãi 怠), nóng nảy (sân 瞋), giận (hận 恨), thù (oán 怨).
Ngũ Ðài sơn 五臺山; C: wǔtái-shān; J: godaizan;|Một trong Tứ đại danh sơn của Trung Quốc, nằm ở tỉnh Sơn Tây. Ngũ Ðài sơn là một trong những danh thắng được xem là thiêng liêng nhất của Trung Quốc, là mục đích của nhiều người đi hành hương. Núi này được xem là trú xứ của Bồ Tát Văn-thù Sư-lị (s: mañjuśrī) và cũng là một trung tâm quan trọng của nền Phật giáo Mông Cổ. (Về chi tiết chuyện nầy, xin xem Trung Quốc Phật Giáo Sử Từ Điển 中国仏教史辞典, trang 112.2 của Kamata). Những tu viện đầu tiên ở đây được kiến lập trong thế kỉ 4-5; trong thế kỉ thứ 6 đã có hơn 200 và trong số đó, 57 vẫn còn tồn tại đến ngày nay. Ngôi chùa chính được xây dựng vào khoảng từ năm 471-500, còn được gọi là Thanh Lương sơn (清涼山).|Niềm tin rằng, Ngũ Ðài sơn là trú xứ của Bồ Tát Văn-thù cũng được phổ biến tại Ấn Ðộ và Nepal, vốn bắt nguồn từ một đoạn văn trong kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm. Ðoạn kinh này bảo rằng, đức Văn-thù xuất hiện ở một xứ nằm hướng Ðông bắc và giáo hoá nơi đây. Người ta cũng tìm thấy nhiều đoạn văn tương tự trong những bài kinh khác.|Ngũ Đài Sơn (k: odaesan) là một trong những sơn tự lớn của Phật giáo Hàn Quốc, toạ lạc ở Kangwǒndo.
Ngũ đạo 五道; C: wǔdào; J: godō;|Có hai nghĩa:|1. Chỉ năm đường tái sinh của Hữu tình, đó là Lục đạo loại trừ A-tu-la ra, bao gồm: Địa ngục (地獄), Ngạ quỷ (餓鬼), Súc sinh (畜生), Nhân gian (人間), và Thiên thượng (天上). Cũng viết là Ngũ thú (五趣; s: gati-pañcaka).|2. Ngũ đạo (s: pañca-mārga), cũng được gọi là Duy thức tu đạo ngũ vị; song song với Thập địa là con đường tu học của một vị Bồ Tát với năm giai đoạn, được Ðại sư Vô Trước (asaṅga) đề xướng: 1. Tư lương đạo (資糧道; saṃbhāra-mārga), tức là tích trữ lương Phật đạo, trì Giới, Nhiếp căn, tu tập Chỉ, Quán; 2. Gia hạnh đạo (加行道; prayoga-mārga), ở đây có nghĩa là chuẩn bị, tu tập như trên để những thiện căn vững chắc, trở thành thiện căn bản (kuśalamūla); 3. Kiến đạo (見道; darśana-mārga), cũng được gọi là Thông đạt đạo; 4. Tu tập đạo (修習道; bhāvanā-mārga), thực hành 37 Bồ-đề phần; 5. Vô học đạo (無學道; aśaikṣa-mārga), có nghĩa là đến bờ bên kia, không còn gì để học, cũng được gọi là Cứu kính đạo (究竟道; niṣṭhāmārga), tức là đạo tột cùng, đạo tuyệt đối đoạn hoặc, chứng ngộ chân lí;|Các phép tu hành của mỗi giai đoạn trên được trình bày khác nhau trong Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), Ðộc giác thừa (prat-yekabuddhayāna) và Bồ Tát thừa (bo-dhisattvayāna). Trong Bồ Tát thừa thì Kiến đạo mới là bước đầu của Bồ Tát thập địa. Mặc dù có mang tên là Duy thức tu đạo ngũ vị nhưng ngũ đạo được áp dụng trong tất cả các tông phái Phật giáo Ðại thừa. Tại Tây Tạng, Ngũ đạo được nhắc đến nhiều trong các tác phẩm mang tên Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim).
Ngũ độn sử 五鈍使; C: wǔdùnshǐ; J: godonshi;|Năm loại phiền não ảnh hưởng đến người tu tập sơ cơ, đó là: Dục (欲), sân (瞋), si (癡), mạn (慢), nghi (疑). Đây là năm loại đầu trong Thập sử (十使), năm loại sau là Ngũ lợi sử (五利使).
Ngũ dục 五欲; C: wǔyù; J: goyoku;|Có ba nghĩa sau: 1. Sự khao khát từ 5 giác quan. Năm loại ham muốn phát sinh từ sự tiếp xúc của các giác quan mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý với cảnh trần. Là sự ham muốn thường tình của người đời; 2. Nói đến 5 đối tượng trong ý nghĩa chính nó là nguyên nhân của những tham dục nầy; 3. Năm loại tham dục: tài sản (tài), nữ sắc (sắc), ăn uống (thực), tiếng khen (danh), ngủ nghỉ (thùy).
Ngũ gia giải 五家解; C: wǔjiā jiě; K: ogahae; J: gokekai.|Tên gọi tắt của bản Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh ngũ gia giải thuyết nghị (金剛般若波羅蜜經五家解説誼; k: kǔmgang panyaparamilgyǒng o ka hae sǒrǔi).|Ngũ gia giải thuyết nghị |五家解説誼; C: wǔjiā jiě shuōyí; K: ogahae sǒrǔi; J: goke kaisetsugi.|Tên gọi tắt của bản Kim Cương Bát-nhã Ba-la-mật kinh ngũ gia giải thuyết nghị (金剛般若波羅蜜經五家解説誼; k: kǔmgang panyaparamilgyǒng o ka hae sǒrǔi)
Ngũ gia thất tông 五家七宗; J: goke-shishishū;|Năm nhà và bảy tông của Thiền tông Trung Quốc. Ngũ gia gồm có:|1. Quy Ngưỡng tông, do hai Thiền sư khai lập là Quy Sơn Linh Hựu (771-853) và môn đệ Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền sư (807-883 hoặc 813/814-890/891);|2. Lâm Tế tông, do Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền (?-866) khai sáng;|3. Tào Ðộng tông, do hai Thiền sư khai sáng, đó là Ðộng Sơn Lương Giới (807-869) và Tào Sơn Bản Tịch (840-901);|4. Vân Môn tông, được Thiền sư Vân Môn Văn Yển (864-949), môn đệ của Tuyết Phong Nghĩa Tồn Thiền sư thành lập;|5. Pháp Nhãn tông, do Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích (885-958) thành lập (trước đó tông này cũng được gọi là Huyền Sa tông, gọi theo tên của Thiền sư Huyền Sa Sư Bị, thầy của Thiền sư La-hán Quế Sâm, sư phụ của Ðại Pháp Nhãn);|Nếu kể cả hai nhánh của Lâm Tế tông được thành lập sau Thiền sư Thạch Sương Sở Viên (Từ Minh) thì có tất cả là bảy tông:|6. Dương Kì phái, được Thiền sư Dương Kì Phương Hội (992-1049) thành lập;|7. Hoàng Long phái, được Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam (1002-1069) sáng lập.
Ngũ giáo 五教; C: wǔ jiāo; J: gokyō;|Năm loại giáo pháp. Theo nội dung, phương thức và thời gian truyền bá, giáo lí trong các kinh điển Phật giáo được chia thành 5 loại. Sự phân loại nầy thường theo nội dung (giáo hoá căn cơ) sâu cạn của kinh. Cách phân loại của tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai là phổ biến hơn cả. Nhưng vào trước thời kì phán giáo (thời kì Trung Hoa phân chia Nam-Bắc triều), đã có một số phân loại. Đó là:|A. Năm giáo pháp theo đề xuất của sư Tự Quỹ (自軌): 1. Giáo lí Duyên khởi (như Nhất thiết hữu bộ…); 2. Giáo lí Giả danh (như Thành thật luận…); 3. Giáo lí tính không (kinh Bát-nhã), 4. Giáo lí Diệu hữu (kinh Niết-bàn); 5. Giáo lí Chân tế (Thật tại Tối thượng, kinh Hoa Nghiêm).|B. Năm giáo pháp theo sư Huệ Quán (慧觀) và Pháp Vân (法雲): 1. Giáo lí về Hữu (kinh A-hàm); 2. Giáo lí về Tính không (kinh hệ Bát-nhã); 3. Giáo lí về khen ngợi pháp Bồ Tát, phê phán pháp Thanh văn (ức dương giáo, Bao biếm ức dương giáo, kinh Duy-ma-cật); 4. Đồng quy giáo (kinh Pháp Hoa); 5. Thường Trụ giáo (kinh Niết-bàn).|C. Theo giáo lí của tông Hoa Nghiêm do sư Pháp Tạng (法藏) chủ trương, 5 giáo pháp gồm: 1. Tiểu thừa giáo (小乘教); 2. Đại thừa thuỷ giáo (大乘始教), là giáo lí cơ sở của Đại thừa, đó là giáo lí của tông Pháp tướng và tông Tam luận; 3. Đại thừa chung giáo (大乘終教): là giáo lí thời kì cuối của Đại thừa, khẳng định mọi chúng sinh đều có Phật tính; 4. Đại thừa đốn giáo (大乘頓教); 5. Đại thừa viên giáo (大乘圓教), là giáo lí hoàn chỉnh nhất của Đại thừa, còn gọi là giáo lí Hoa Nghiêm.
Ngũ giáo chương 五教章; C: wǔjiāo zhāng; J: gokyōjō;|Hoa Nghiêm ngũ giáo chương.
Ngũ giáo cửu sơn 五教九山; C: wǔjiāo jiǔshān; J: gokyōkyūsan; K: ogyo kusan.|Năm giáo pháp và Chín tông phái (Cửu sơn). Mô tả tình hình sinh hoạt của Tăng-già Phật giáo từ cuối triều đại Tân La cho đến gần hết thời kì Cao Li (k: koryǒ). Những giáo pháp và tông phái nầy được hợp nhất lại trong thời kì Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn) thành hai tông phái Giáo (教; k: kyo) và Thiền (禪; k: sǒn).
Ngũ giáo lưỡng tông 五教兩宗; C: wǔjiāo liǎngzōng; J: gokyō ryōshū; K: ogyo yangjong.|Năm giáo phái và hai Thiền phái. Đề cập đến tình hình phân định các tông phái Phật giáo ở Hàn Quốc vào thời kì Cao Li (k: koryǒ), sau sự phân phái Ngũ giáo cửu sơn. Hai Thiền phái trong thời điểm nầy là Thiên Thai (k: ch'ǒnt'ae) và Thiền (k: sǒn).
Ngũ giới 五戒; C: wǔjiè; J: gokai; S: pañca-śīla; P: pañca-sīla;|Năm giới.
Ngũ hạnh 五行; C: wǔxíng; J: gogyō;|Có các nghĩa sau: |I. Năm pháp tu của Phật giáo Đại thừa được dạy trong Đại thừa khởi tín luận, đó là năm loại đầu trong Lục độ: Bố thí (布施), Trì giới (持戒), Nhẫn nhục (忍辱), Tinh tiến (精進), và Chỉ quán (止観); |II. Năm công hạnh của hàng Bồ Tát được dạy trong kinh Niết-bàn: 1. Thánh hạnh (聖行): chỉ Bồ Tát tu tam học (Giới, Định, Huệ); 2. Phạm hạnh (梵行): tu tập tâm từ bi để cứu giúp chúng sinh; 3. Thiên hạnh (天行): Phát nguyện tu tập vì lợi ích cho người khác; 4. Anh nhi hạnh (嬰兒行): Thể hiện thiện tâm để cứu độ hàng Trời, Người và Tiểu thừa; 5. Bệnh hạnh (病行): thị hiện có các bệnh khổ như chúng sinh để cứu giúp họ;|III. Ngũ hành: Năm thành tố tạo nên vũ trụ theo tư tưởng Trung Hoa cổ đại: Mộc, Hoả, Thổ, Kim, và Thuỷ. Được thấy đầu tiên trong chương Hồng phạm (洪範) của Thư kinh (書經);|VI. Ngũ Thường trong Nho giáo: Nhân (仁), Nghĩa (義), Lễ (禮), Trí (智), Tín (信). (Theo Tuân Tử, Phi thập nhị tử 荀子・非十二子)
Ngũ không 五空; C: wǔkōng; J: gokū;|Năm loại tính Không (được đề cập trong kinh Kim Cương tam-muội (金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra): Tam giới không, Lục thú không, Pháp tướng không, Danh sắc không, Nghĩa thức không.
Ngũ kiến 五見; C: wǔjiàn; J: goken; S: pañca-dṛṣṭi.|Năm nhận thức sai lầm. »Ngũ kiến« (五見) còn được gọi là Ngũ ác kiến (五惡見) và Ác kiến (惡見). Đó là:|1. Ngã kiến (我見): quan niệm chấp trước về tự thể tồn tại riêng biệt của bản ngã, đi đôi với quan niệm thực có bản ngã sở hữu mọi thứ trong vũ trụ. Còn gọi là Thân kiến (身見), Hữu thân kiến (有身見; s: satkāya-dṛṣṭi); 2. Biên kiến (邊見; s: antaparigraha-dṛṣṭi): quan niệm chấp trước về một bên, hoặc là thường kiến (e: eternalism), hoặc là đoạn kiến (e: nihilism); 3. Tà kiến (邪見; s: mithyā-dṛṣṭi): Không có kiến giải chân chính về mối tương quan nhân quả; 4. Kiến thủ kiến (見取見; s: dṛṣṭi-parāmarśa-dṛṣṭi): Kiến chấp cho một quan niệm sai lầm rồi áp đặt trên những quan niệm khác; 5. Giới cấm thủ kiến (戒禁取見; śīla-vrataparāmarśa-dṛṣṭi): Quan niệm chấp trước sai lầm về tu khổ hạnh, giới luật và thệ nguyền của ngoại đạo có thể dẫn đến chân lí.|Bốn kiến giải đầu loại trừ kiến giả cuối cùng được gọi là Tứ kiến (四見).
Ngũ lợi sử 五利使; C: wǔlìshǐ; J: gorishi;|Năm loại phiền não (do mê lầm về lí) mà những người tu tập lâu năm thường gặp: thân kiến (身見), biên kiến (邊見), tà kiến (邪見), kiến thủ kiến (見取見), giới cấm thủ kiến (戒禁取見). Cũng còn gọi là Ngũ kiến (五見). Đây là năm loại sau cùng trong Thập sử (十使). Năm loại đầu gọi là Ngũ độn sử (五鈍使).
Ngũ luân cửu tự minh bí mật thích 五輪九字明祕密釋; C: wǔlún jiǔzì míng mìmì shì; J: gorin kuji myō himitsu shaku;|Luận giải về năm luân xa và chín chủng tự bí mật do Giác Tông (覺鑁; j: kakuban) biên soạn. Trình bày về nhiều loại thiền định bí mật, các pháp quán tưởng để hợp nhất sự thăng hoa. Năm luân xa trong thân thể tương quan với Ngũ tạng (五藏) trong lí thuyết đạo Lão (giải thích bằng hình minh hoạ), và chín chủng tự chân ngôn của Phật A-di-đà, hrīḥ a mṛ ta te se ha ra hūṃ, tương ứng với mạn-đồ-la của 8 vị Đại Bồ Tát chung quanh Phật A-di-đà. Xin xem bản dịch tiếng Anh của Pruden (1979).
Ngũ lực 五力; C: wǔlì; J: goriki; S: pañca-balani.|Năm lực đạt được do tu tập »Năm thiện pháp căn bản« (Ngũ thiện căn 五善根): 1. Tín lực (信力); 2. Tinh tiến lực (精進力); 3. Niệm lực (念力); 4. Định lực (定力); 5. Huệ lực (慧力).
Ngữ lục 語錄; J: goroku;|Danh từ được dùng để chỉ những lời dạy, bài viết của những vị Thiền sư. Các tác phẩm này thường được mang tên của chư vị và được gắn thêm danh từ »ngữ lục« này phía sau.
Ngũ minh 五明; S: pañcavidyā;|Là năm nghành học truyền thống tại Ấn Ðộ, nhằm trau dồi trí huệ nhận thức các hiện tượng tập tục. Năm khoa này vẫn còn được giảng dạy tại những ngôi chùa lớn tại Tây Tạng (Tông-khách-ba), bao gồm cụ thể:|1. Y phương minh (醫方明; s: cikitsāvidyā): là y học, dược học; 2. Công xảo minh (工巧明; s: śilavidyā): nghiên cứu công nghệ, nghệ thuật, kĩ thuật, khoa học; 3. Nhân minh (因明; s: hetuvidyā): cách gọi Luận lí học theo đạo Phật; 4. Thanh minh (聲明; s: śabdavidyā): khoa nghiên cứu ngôn ngữ, văn phạm, có thể hiểu là ngôn ngữ học; 5. Nội minh (内明; s: adhyātmavidyā): là nghiên cứu tôn giáo mình, tìm hiểu ý nghĩa của kinh sách thuộc nội điển.
Ngũ nghịch 五逆; C: wǔnì; J: gogyaku; S: pañcanantarya-karmāṇi;|Năm tội lớn
Ngũ nhẫn 五忍; C: wǔrěn; J: gonin;|Năm loại nhẫn nhục được ghi trong Nhân vương kinh (仁王經): 1. Phục nhẫn (伏忍); 2. Tín nhẫn (信忍); 3. Thuận nhẫn (順忍); 4. Vô sinh nhẫn (無生忍); 5. Tịch diệt nhẫn (寂滅忍).
Ngũ nhãn 五眼; C: wǔyăn; J: gogen; S: pañcacakṣuṃṣi;|Năm loại mắt
Ngũ phần luật 五分律; C: wǔfēn lǜ; J: gobunritsu;|Bộ giới luật gồm 5 quyển của Hoá Địa bộ (còn gọi là Di-sa-tắc bộ; s: mahīśāsaka).
Ngũ phần pháp thân 五分法身; C: wǔfēn fǎshēn; J: gobun hōshin;|Năm phần pháp thân chứng đạt được hoặc trong quả vị Vô học (無學位); hoặc trong quả vị Phật. Ý nghĩa của thuật ngữ nầy là thể tính bao hàm trong giới (戒), định (定), huệ (慧), giải thoát (解脱), và giải thoát tri kiến (解脱知見; theo kinh Niết-bàn 涅槃經)
Ngũ pháp 五法; C: wǔfǎ; J: gohō;|Năm pháp, ngũ sự. Thường đề cập đến 5 pháp, năm phạm trù, giới luật, giáo pháp, v.v… được nói đến trong kinh văn từ trước hay sau nầy, thế nên có nhiều nghĩa khác nhau. Các thuật ngữ đặc biệt thường dùng là: |I. Ngũ uẩn (五蘊, theo Câu-xá luận 倶舎論); II. Ngũ trí (theo Duy thức tông): 1. Chân như (眞如); 2. Đại viên kính trí (大圓鏡智); 3. Bình đẳng tính trí (平等性智); 4. Diệu quan sát trí (妙觀察智); 5. Thành sở tác trí (成所作智).|III. Năm phạm trù về danh và tướng được giải thích trong kinh Lăng-già (楞伽經; s: lankāvatāra-sūtra): 1. Tướng (相); 2. Danh (名); 3. Vọng tưởng (妄想); 4. Chính trí (正智); 5. Như như (如如; s: bhūta-tathatā).|IV. Viết tắt của Ngũ vị thất thập ngũ pháp (五位七十五法).|V. Năm thức (五識).
Ngũ pháp tạng 五法藏; C: wǔfǎzàng; J: gohōzō;|Năm phạm trù về các cấu trúc cơ bản của các pháp (s: pañca-dharma-kośāḥ). Theo Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhi-sastra) Ngũ pháp tạng gồm: Quá khứ tạng (過去藏; s: atīta-kośa); Hiện tại tạng (現在藏; s: pratyutpanna-kośa); Vị lai tạng (未來藏; s: anāgata-kośa); Vô vi tạng (無為藏; s: asaṃskṛta-kośa); và Bất khả thuyết tạng (不可説藏; s: anabhilāpya-kośa). Ba tạng trước được gọi là Hữu vi tụ, Tạng thứ tư gọi là Vô vi tụ, Tạng thứ 5 gọi là Phi nhị tụ, chẳng phải hữu vi chẳng phải vô vi.
Ngũ Phật 五佛; C: wǔfó; J: gobutsu; S: pañca-buddha;|I. Năm vị Phật theo Mật giáo, trong Kim cương giới mạn-đồ-la (金剛界曼荼羅; s: vajradhātumaṇḍala) và Thai tạng giới mạn-đồ-la (胎藏界曼荼羅; s: garbhadhātu-maṇḍalas). Trong cả hai đồ hình mạn-đồ-la, 4 Đức Phật ngự ở 4 phương, còn Phật Đại Nhật Như Lai (Tì-lô Giá-na 毘盧遮那; s: mahāvairocana) trụ tại trung tâm. Trong Kim cương mạn-đồ-la, 5 vị Phật là: 1. Tì-lô Giá-na (毘盧遮那; s: mahāvairocana; 2. A-súc (阿閦; s: akṣobhya); 3. Bảo Sinh (寶生; s: ratnasaṃbhava); 4. A-di-đà (阿彌陀; s: amitābha); 5. Bất Không Thành Tựu (不空成就; s: amoghasiddhi). Trong Thai tạng giới mạn-đồ-la, còn gọi là Thai tạng giới ngũ Phật (胎藏界五佛), 5 vị Phật là: 1. Tì-lô Giá-na (毘盧遮那); 2. Đức Phật Bảo Tràng (寶幢; s: ratnaketu); 3. Khai Phu Hoa Vương (開敷華王; s: saṃkusumitarāja); 4. Vô Lượng Thọ (無量壽; s: amitāyus), 5. Thiên Cổ Lôi Âm (天鼓雷音; s: divyadundubhi-meganirghoṣa). Xem thêm Ngũ Trí Như Lai để biết thêm giải thích về từng loại trí tuệ biểu hiện qua mỗi vị Phật nầy.|II. 1. Phật trong 10 phương; 2. Phật quá khứ; 3. Phật vị lai; 4. Phật hiện tại; 5 Phật Thích-ca Mâu-ni.
Ngũ Phong Thường Quán 五峰常觀; C: wǔfēng chángguàn; J: gohō jō-kan; tk 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Bách Trượng Hoài Hải. Sư được nhắc lại trong Bích nham lục, Công án 70 và 71.
Ngũ quả 五果; C: wǔguǒ; J: goka;|Có hai nghĩa: 1. Sự tinh giản mọi liên hệ nhân quả thành 5 phạm trù; 2. Thuật ngữ để gọi 5 quả vị của pháp tu Tiểu thừa.
Ngũ sơn thập sát 五山十剎; C: wǔshān shíshā; J: gozan jis-setsu;|Nghĩa là năm núi và mười chùa; chỉ một giáo hội bao gồm năm ngọn núi và mười chùa tại hai thành phố Hàng Châu và Minh Châu, được Tống Ninh Tông sáng lập. Ngũ sơn thập sát tại Trung Quốc được theo gương của Ngũ tinh xá thập tháp tại Ấn Ðộ mà thành lập. Thiền tông Nhật Bản cũng theo cách tổ chức này mà thành lập Ngũ sơn thập sát tại hai thành phố lớn là Kinh Ðô (kyōto) và Liêm Thương (kamakura). Ngũ sơn thập sát tại Nhật đã trở thành những trung tâm quan trọng của văn hoá và nghệ thuật tại đây (Ngũ sơn văn học). Tất cả năm núi và mười chùa tại Trung Quốc và Nhật Bản đều thuộc về tông Lâm Tế.|Danh từ »Sơn« ở đây được sử dụng như một chùa, một Thiền viện bởi vì hầu hết các thiền viện đời xưa đều được thành lập trên một ngọn núi và các vị Thiền sư trụ trì tại đây cũng thường được gọi dưới tên ngọi núi này.|Ngũ sơn tại Trung Quốc là:|1. Kính sơn tại Hàng Châu với Hưng Thánh Vạn Thọ tự; 2. A-dục vương sơn tại Ninh Ba với Mậu Phong Quảng Lợi tự; 3. Thái Bạch sơn tại Hàng Châu với Thiên Ðồng Cảnh Ðức tự; 4. Bắc sơn tại Hàng Châu với Cảnh Ðức Linh Ẩn tự; 5. Nam sơn với chùa Tịnh Từ Báo Ân Quang Hiếu.|Ngũ sơn thập sát tại Trung Quốc thì cố định, còn tại Nhật thì thay đổi theo thời đại, vương triều. Mãi đến năm 1386 thì danh sách của Ngũ sơn tại đây mới có thể được gọi là hoàn chỉnh, cố định. Ngũ sơn bao gồm (Kinh Ðô [kyōto]-Liêm Thương [kamakura]):|1. Thiên Long tự (j: tenryū-ji) – Kiến Trường tự (kenchō-ji); 2. Tướng Quốc tự (shōkoku-ji) – Viên Giác tự (engaku-ji); 3. Kiến Nhân tự (kennin-ji) – Thọ Phúc tự (jufuku-ji); 4. Ðông Phúc tự (tōfuku-ji) – Tịnh Trí tự (jōchi-ji); 5. Vạn Thọ tự (manju-ji) – Tịnh Diệu tự (jōmyō-ji).|Nam Thiền tự (nanzen-ji), một ngôi chùa lớn tại Kinh Ðô cũng có khi được đặt trên địa vị cao hơn Ngũ sơn tại đây.
Ngũ sơn văn học 五山文學; J: gozan bungaku;|Tên gọi chung của những tác phẩm của các vị Thiền sư Nhật Bản thuộc hệ thống Ngũ sơn tại Kinh Ðô (kyōto) trong thời Túc Lợi (ashikaga hoặc muromachi, 1338-1573). Thiền sư Trung Quốc Nhất Sơn Nhất Ninh – đến Nhật năm 1299 – và môn đệ người Nhật của sư là Tuyết Thôn Hữu Mai (雪村有梅; j: sesson yūbai) được xem là Khai tổ của của phong trào văn học này. |Các tác giả nổi danh nhất của Ngũ sơn văn học là Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) – không những là một Thiền sư trứ danh mà còn là một nghệ sĩ xuất chúng –, Hổ Quan Sư Luyện (虎關師鍊; j: kokan shiren, 1278-1346) – một môn đệ khác của Nhất Sơn Nhất Ninh –, Nghĩa Ðường Châu Tín (義堂周信; j: gidō shūshin, 1325-1388) và Tuyệt Hải Trung Tân (絕海中津; j: zekkai chū-shin, 1336-1405), cả hai đều là môn đệ của Mộng Song Sơ Thạch.|Các tác giả nêu trên chuyên nghiên cứu và phổ biến cách làm thơ (thi pháp) và triết lí của Tân nho giáo. Vì vậy, trong thời gian này, văn hoá, nghệ thuật và khoa học của Trung Quốc được truyền sang Nhật rất mạnh. Nhiều vị còn nổi danh trong các lĩnh vực nghệ thuật như Thư đạo (j: shōdō),… Qua những bài văn rõ ràng mạch lạc của mình – tất cả đều được viết bằng tiếng Nhật – Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch đã góp công rất nhiều trong việc phổ biến Thiền học tại Nhật.
Ngũ sự Tì-bà-sa luận 五事毘婆沙論; C: wǔshì pípóshā lùn; J: goji bibasha ron; S: pañca-vastuka-vibhāṣa; E: five phenomena vibhāṣa treatise.|Được Pháp Cứu (法救; dharmatrāta) soạn; gồm 2 quyển. Ngài Huyền Trang dịch vào năm 663. Đây là một luận A-tì-đạt-ma về 5 loại cấu trúc cơ bản của pháp giới: sắc (色; s: rūpa), tâm (心; s: citta), tâm sở (心所; s: caittas), bất tương ưng (不相應), và vô vi (無爲).
Ngũ tạng 五臟; C: wǔzàng; J: gōzō;|Năm thứ nội tạng: tim, phổi, gan, thận, dạ dày. Còn gọi là Ngũ nội (五内).
Ngũ thần thông 五神通; C: wǔ shéntōng; J: goshintsū;|Năm năng lực thần thông của đức Phật: Có thể đi lại bất kì nơi nào tùy ý (Thần túc thông); Có thể thấy được suốt khắp (Thiên nhãn thông); Có thể nghe được mọi chuyện (Thiên nhĩ thông); Có thể thấu rõ ý nghĩ trong tâm người khác (Tha tâm thông); Có thể biết rõ những kiếp trước (Túc mệnh thông).
Ngũ thể 五體; C: wǔtǐ; J: gotai;|Có các nghĩa sau: 1. Năm chi phần thân thể: Hai đầu gối, hai khuỷu tay, và đầu; 2. Toàn thân thể.
Ngũ thể đầu địa 五體投地; C: wǔtǐ tóudì; J: gotaitōji; S: pañca-mandala-namaskāra.|Cách lễ lạy với năm phần thân thể gồm hai đầu gối, hai khuỷu tay, và đầu chạm sát đất. »Gieo năm vóc sát đất.« Phủ phục toàn thân thể sát đất để thể hiện lòng cung kính.
Ngũ thiền định Phật 五禪定佛; C: wǔ chándìng fó; J: go zenjō butsu;|Ngũ Phật (五佛).
Ngũ thời 五時; C: wǔshí; J: goji;|Năm thời thuyết giáo. Sự phân chia các giai đoạn Phật Thích-ca Mâu-ni tùy căn cơ mà dùng nhiều phương thức giảng dạy giáo pháp cho chúng sinh, từ khi ngài thành đạo cho đến khi nhập niết-bàn. Mặc dù có nhiều lí thuyết khác nhau về sự sắp xếp nầy, tất cả đều xuất phát từ căn nguyên giải thích của sư Huệ Quán (慧觀) vào thế kỉ thứ 5.|A. Huệ Quán chủ trương phân chia giáo pháp thành Đốn giáo và Tiệm giáo; lại phân chia Tiệm giáo thành 5 thời: 1. Tam thừa biệt giáo: (như kinh A-hàm, v.v…); 2. Tam thừa thông giáo (như kinh Bát-nhã; s: prajñāpāramitā-sūtra, v.v…); 3. Ức dương giáo (như kinh Duy-ma-cật, v.v…); 4. Đồng quy giáo (kinh Hoa Nghiêm, v.v…); 5. Thường Trụ giáo (kinh Niết-bàn,v.v…). Đây là cách phân loại giáo pháp của Niết-bàn tông.|B. Theo giáo lí tông Hoa Nghiêm của Lưu Cầu (劉虬), Đốn giáo và Tiệm giáo trong kinh Hoa Nghiêm được chia thành 5 giáo pháp sau: 1. Nhân Thiên giáo; 2. Hữu tướng giáo (kinh A-hàm và những kinh công nhận các pháp có tự thể riêng biệt); 3. Vô tướng giáo (giáo lí Bát-nhã Ba-la-mật-đa, v.v…, phủ nhận các pháp tồn tại với tự thể riêng biệt); 4. Đồng quy giáo (như kinh Pháp Hoa, v.v…); 5. Thường trụ giáo (kinh Niết-bàn, v.v…).|C. Trí Khải có thay đổi chút ít so với phán giáo của Lưu Cầu. Theo giáo lí tông Thiên Thai, năm thời giáo là: 1. Thời kì Hoa Nghiêm: sau khi đức Phật thành đạo, ngài giảng kinh Hoa Nghiêm trong vòng 21 ngày cho hàng Bồ Tát. Đây là giáo pháp dành cho hàng căn cơ lanh lợi, theo giáo pháp nầy, các hàng Bồ Tát như thế có thể trực ngộ nhanh chóng lí chân như.|2. Thời kì Lộc Uyển: Sau khi đức Phật giảng kinh Hoa Nghiêm, những người có căn cơ thấp không thể hiểu nổi; thế nên ngài chuyển sang giáo pháp phương tiện nầy để hướng dẫn cho chúng sinh được lợi lạc. Nên đức Phật nói pháp cho hàng cho háng căn cơ thấp tại vườn Lộc Uyển gần thành Ba-la-nại. Thời kì này là 12 năm, kinh điển khai triển trong thời kì nầy là kinh A-hàm, nên giáo pháp thời nầy được gọi là thời A-hàm; 3. Thời Phương đẳng (s: vaipulya, sơ khởi Đại thừa). Vì căn cơ chúng sinh thời đó đang đắm chấp vào giáo lí Tiểu thừa nên bây giờ đức Phật giảng pháp Đại thừa như kinh Duy-ma-cật, kinh Kim Quang Minh, và kinh Thắng Man, truyền bá rộng rãi Tạng giáo, Thông giáo, Biệt giáo và Viên giáo. Giáo pháp nầy nhằm đưa chúng sinh từ đắm chấp Tiểu thừa sang Đại thừa. Thời kì nầy kéo dài 8 năm; 4. Thời Bát-nhã: Thời kì nầy Đức Phật giảng kinh Bát-nhã Ba-la-mật-đa suốt 22 năm để giác ngộ cho chúng sinh về lí Tính không; 5. Thời Pháp Hoa, Niết-bàn: Đức Phật nói rõ mục tiêu tối hậu của giáo lí Tiểu thừa và Đại thừa đều là giải thoát như nhau. Nên giáo pháp nầy còn gọi là Nhất thừa giáo, khẳng định sự hiện hữu của Phật tính trong mỗi chúng sinh.
Ngũ thời bát giáo 五時八教; C: wǔshí bājiāo;|Hệ thống giáo pháp theo giải thích của Trí Khải. Thứ tự thời gian Đức Phật giảng pháp được chia thành 5 thời kì (Ngũ giáo). Phương pháp Đức Phật dùng để giáo hoá cũng được phân thành 4 loại (giáo hoá nghi), và nội dung của giáo pháp được chia thành 4 phạm trù (giáo hoá pháp).|A. Bốn giáo hoá nghi là: 1. Đốn giáo: giáo lí chỉ dạy chúng sinh giác ngộ ngay Phật tính nơi chính mình; 2. Tiệm giáo: giáo lí dẫn đắt chúng sinh giác ngộ qua nhận thức từ cạn đến sâu; 3. Bí mật giáo: giáo lí chúng sinh được truyền thụ bí mật tương ứng với căn cơ riêng mình mà người khác không hay biết; 4. Bất định giáo: dành cho chúng sinh tuy cùng nghe kinh trong một pháp hội, nhưng tùy theo căn tính riêng mỗi người màcó sự thể nhập giáo pháp khác nhau. Thêm nữa, giáo pháp »phi đốn phi tiệm, phi mật phi hiển« còn được gọi là giáo pháp »Pháp Hoa và Niết-bàn.«|B. Bốn giáo hoá pháp: 1. Giáo pháp Tiểu thừa hay Tam tạng giáo; 2. Thông giáo: Đây là giáo lí Đại thừa gồm các kinh Phương đẳng, Bát-nhã Ba-la-mật-đa, Pháp Hoa và Niết-bàn, dành cho hàng Thanh văn, Duyên giác và Bồ Tát; 3. Biệt giáo: đây là giáo lí dành riêng cho hàng Bồ Tát. Hành giả tu tập theo giáo pháp nầy biết rõ có sự nhấn mạnh vào lí Trung đạo để thể hội lí Tính không và tự thể của các pháp. Giáo lí của tông Hoa Nghiêm thuộc dạng nầy; 4. Viên giáo: Chủ trương giác và mê không khác nhau trong thể tính. Viên giáo siêu việt và viên dung tất cả các pháp, đây chính là giáo pháp giác ngộ chân thật của Đức Phật. Viên giáo thật sự bao gồm tất các giáo pháp khác, được kinh Pháp Hoa xiển dương một cách trọn vẹn nhất.
Ngũ thời giáo 五時教; C: wǔshí jiāo; J: ojikyō;|Ngũ thời bát giáo.
Ngũ thông 五通; C: wǔtōng; J: gotsū;|Năm năng lực siêu nhiên: 1. Thần cảnh trí chứng thông (神境智證通), cũng gọi là Thần cảnh thông (神境通), Thần túc thông (神足通), Thân như ý thông (身如意通), Như ý thông (如意通); 2. Thiên nhãn trí chứng tông (天眼智證通), cũng gọi là Thiên nhãn trí thông (天眼智通), Thiên nhãn thông (天眼通); 3. Thiên nhĩ trí chứng thông (天耳智證通), còn gọi Thiên nhĩ trí thông (天耳智通), Thiên nhĩ thông (天耳通); 4. Tha tâm trí chứng thông (他心智證通), hoặc Tha tâm trí thông (他心智通), Tri tha tâm thông (知他心通), Tha tâm thông (他心通); 5. Túc trú tuỳ niệm trí chứng thông (宿住隨念智證通), cũng gọi là Túc trú trí thông (宿住智通), Thức túc mệnh thông (識宿命通), Túc mệnh thông (宿命通; theo Phật Quang Đại từ điển)
Ngũ thú 五趣; C: wǔqù; J: goshu; S: gati-pañcaka.|Năm cõi loài hữu tình sinh đến sau khi chết: Địa ngục, Ngạ quỷ, Súc sinh, Người, Trời. Cũng được gọi là Ngũ đạo (五道).
Ngũ thụ 五受; C: wǔshòu; J: goju;|Năm cảm giác, năm cảm thụ: Ưu thụ (優受), hỉ thụ (喜受), khổ thụ (苦受), lạc thụ (樂受) và xả thụ (捨受, cảm thụ thân tâm không vui, không khổ, thoát khỏi tất cả những cảm thụ nêu bên trên).
Ngũ thủ uẩn 五取蘊; C: wǔqǔyùn; J: goshuun; S: pañca-upādāna.|Xem năm thứ uẩn mà như một cái gì đó rồi chấp trước nó một cách lầm lạc. Ngũ uẩn (五蘊).
Ngũ thừa 五乘; C: wǔshèng; J: gojō;|Có hai nghĩa: 1. Năm pháp môn tu tập đưa đến những quả báo khác nhau tùy theo mỗi thừa; 2. Theo Hiển chính luận (顯正論; k: hyǒn chǒng non), 5 thừa là: Bồ Tát thừa, Bích-chi Phật thừa, A-la-hán thừa, Nhân thừa, Thiên thừa.
Ngũ thức 五識; C: wǔshì; J: goshiki;|Có các nghĩa sau:|I. Năm thức phát sinh do 5 giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, với 5 đối tượng của chúng là: sắc, thanh, hương, vị, xúc, phát sinh các thức là: Nhãn thức (眼識), Nhĩ thức (耳識), Tỉ thức (鼻識), Thiệt thức (舌識), Thân thức (身識). Do các thức nầy được xem là 5 thức đầu trong 6 thức, nên chúng thường được gọi là Tiền ngũ thức (前五識) trong Hán ngữ. Theo giáo lí Du-già hành tông, đây là 5 thức đầu tiên trong Bát thức (八識). Trong Tam giới, chúng sinh ở cõi Dục có đủ 6 thức, ở cảnh giới Đệ nhất thiền của cõi Sắc thì không còn Nhĩ thức và Thiệt thức, khi đến cảnh giới Đệ nhị thiền thiên trở lên thì chỉ còn thức (phân biệt) thứ sáu (theo Câu-xá-luận 倶舎論).|II. Năm thức đề cập trong luận Đại thừa khởi tín: 1. Nghiệp thức (業識): phát khởi khi tâm chưa giác ngộ do vô minh; 2. Chuyển thức (轉識): Nghiệp thức trải qua một sự chuyển biến thành thức năng kiến; 3. Hiện thức (現識): Căn cứ vào sự chuyển biến của Nghiệp thức mà thế giới khách quan được biểu hiện; 4. Trí thức (智識): Thức tạo ra những phân biệt sai lầm căn cứ vào sự nhận biết đối tượng trong thế giới khách quan; 5. Tương tục thức (相續識): y cứ vào sự phân biệt sai lầm, các tư tưởng đau khổ, vui thích tương tục không dứt, nên tương tục trong luân hồi.
Ngũ tỉ-khâu 五比丘; C: wǔbǐqiū; J: gohiku;|Năm vị Tỉ-khâu ban đầu cùng thực hành pháp tu khổ hạnh với Thích-ca Mâu-ni, sau đó là những người đầu tiên thụ nhận giáo pháp của Đức Phật trong lần chuyển pháp luân đầu tiên (Sơ chuyển pháp luân 初轉法輪), sau đó trở thành những đệ tử đầu tiên của Đức Phật. Năm vị này là: Kiêu-trần-như (憍陳如; s: kauṇḍinya), Át-bệ (額鞞; s: aśvajit), Bạt-đề (跋提; s: bhadrika), Thập Lực Ca-diếp (十力迦葉; s: daśabala-kāś-yapa), và Ma-nam Câu-lợi (摩男倶利; s: mahānāman).
Ngũ tính 五性; C: wǔxìng; J: goshō; S: pañca-gotrāṇi.|Năm tính. Xem Ngũ tính các biệt (五性各別).
Ngũ tình 五情; C: wǔqíng; J: gojō;|Năm loại tình thức tham luyến, sinh khởi khi tiếp xúc với 5 đối tượng của giác quan: sắc, thanh, hương, vị xúc (theo kinh Pháp Hoa 法華經).
Ngũ tính các biệt 五性各別; C: wǔxìng gěbié; J: goshō kakubetsu;|Năm tính khác nhau. Giáo lí của Du-già hành phái (瑜伽行派) phân chia căn tính bản hữu của chúng sinh thành 5 loại, đó là: 1. Định tính Thanh Văn; 2. Định tính Duyên Giác; 3. Định tính Bồ Tát; 4. Bất định tính; 5. Vô chủng tính (Nhất-xiển-đề 一闡提; s: icchantika). Giáo lí nầy là một trong những điểm tranh luận của các tông phái bản xứ tại Đông Nam Á, như Hoa Nghiêm có nhiều điểm bất đồng với Du-già hành tông.
Ngũ tịnh cư thiên 五淨居天; C: wǔjìngjū tiān; J: gojōgoten;|Một trong những cõi trời theo trong thần thoại Phật giáo Ấn Độ. Tên 5 cõi trời thuộc Đệ tứ thiền. Đó là: 1. Vô phiền; 2. Vô nhiệt; 3. Thiện kiến; 4. Thiện hiện; 5. Sắc cứu cánh. Các bậc Thánh đã chứng quả vị Bất lai được sinh ở cõi trời nầy.
Ngũ Tổ Pháp Diễn 五祖法演; C: wǔzǔ fǎyǎn; J: goso hōen; ~ 1024-1104;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, dòng Dương Kì. Sư nối pháp của Bạch Vân Thủ Ðoan. Các môn đệ có tiếng của Sư là Viên Ngộ Khắc Cần (Phật Quả), Thanh Viễn Phật Nhãn, Huệ Cần Phật Giám và Khai Phúc Ðạo Ninh.|Sư họ Ðặng, quê ở Miên Châu, xuất gia năm 35 tuổi. Sau khi thụ giới cụ túc, Sư chuyên học pháp môn Duy thức. Những thuyết này không giải đáp những thắc mắc nên Sư xuống miền Nam tham vấn các vị Thiền sư. Cuối cùng đến hội Bạch Vân và nơi đây, Sư được Ấn chứng.|Công án của Sư sau đây thường được nhắc lại: »Giữa đường gặp người đạt đạo, chớ nói hay im mà đối đãi. Thử hỏi đối đãi ra làm sao?«
Ngũ Tôn Phật 五尊佛; C: wǔzūn fó; J: goson butsu.|Ngũ Phật.
Ngũ trần 五塵; C: wǔchén; J: gojin;|Đối tượng của 5 giác quan: màu sắc, âm thanh, mùi hương, vị nếm và xúc chạm. Gọi là »trần« vì nó làm ô nhiễm 5 thức. Xem thêm Ngũ cảnh (五境).
Ngũ trí 五智|Năm trí.
Ngũ Trí Như Lai 五智如來; C: wǔzhì rúlái; J: gochi nyorai;|Năm vị Phật hiện thân của 5 dạng trí huệ khác nhau: 1. Đại Nhật Như Lai (s: ma-hāvairocana), hiện thân cho trí tuệ viên mãn từ thể tính của pháp giới (Pháp giới thể tính trí 法界體性智); 2. A-súc Như Lai (s: akṣobhya), hiện thân của Đại viên kính trí (大圓鏡智); 3. Bảo Sinh Như Lai (s: ratna-saṃbhāva), hiện thân của Bình đẳng tính trí (平等性智); 4. A-di-đà Như Lai (s: amitābha), hiện thân của Diệu quan sát trí (妙觀察智); 5. Bất Không Thành Tựu Như Lai hay Thích-ca Mâu-ni Như Lai hiện thân của Thành sở tác trí (成所作智). Xem thêm Ngũ Phật (五佛).
Ngũ Trí Phật 五智佛; C: wǔzhì fó; J: gochi butsu;|Ngũ Phật.
Ngũ trọc 五濁; C: wǔzhuó; J: gotaku; S: pañcakaṣāya; cũng đọc là Ngũ trược; |Danh từ Hán Việt dùng để chỉ những thứ nhơ bẩn cặn đục (Hán: trọc) dấy lên trong một Kiếp suy giảm. Ngũ trọc bao gồm: |1. Kiếp trọc (劫濁; s: kalpakaṣāya): nhiều căn bệnh dấy lên, nạn đói hoành hành, chiến tranh mọi nơi…; 2. Kiến trọc (見濁; s: dṛṣṭikaṣāya): tà kiến thịnh hành; 3. Phiền não trọc (煩惱濁; s: kleśakaṣāya): chúng sinh có nhiều tham dục, tâm thần phiền loạn; 4. Chúng sinh trọc (眾生濁; s: sattva-kaṣāya): chúng sinh không tuân theo luân lí, không sợ quả báo…; 5. Mệnh trọc (命濁; s: āyuskaṣāya): thọ mệnh của con người ngắn dần.
Ngũ trùng duy thức 五重唯識; C: wǔzhòng wéishì; J: gojū yuishiki;|Năm cấp độ lĩnh hội nguyên lí Duy thức. Đo là năm sự phân loại theo trình độ thể nhập giáo lí Duy thức từ cạn đến sâu. Đo là: 1. Khiển hư tồn thật thức (遣虚存實識); 2. Xả lạm lưu thuần thức (捨濫留純識); 3. Nhiếp mạt quy bản thức (攝末歸本識); 4. Ẩn liệt hiển thắng thức (隱劣顯勝識); 5. Khiển tướng chứng tính thức (遣相證性識). Đây là giáo lí Ngũ trùng duy thức do sư Khuy Cơ (窺基) trình bày trong Đại thừa pháp viên nghĩa lâm chương (大乘法圓義林章). Trong tác phẩm nầy, khi phân chia giữa nhận thức chủ quan và thế giới khách quan thì 100 pháp thuộc về thế giới khách quan, trong khi Ngũ trùng duy thức được xem như là thể tính của nhận thức chủ quan.
Ngũ trược 濁|Ngũ trọc.
Ngũ tự chú pháp 五字咒法; C: wǔzì zhòufǎ; J: goji juhō;|Tên viết tắt của Kim Cương đỉnh kinh Du-già Văn-thù Sư-lợi Bồ Tát pháp nhất phẩm (金剛頂經瑜伽文殊師利菩薩法一品).
Ngũ uẩn 五蘊; C: wǔyùn; J: goun; S: pañca-skandha; P: pañca-khandha; cũng gọi là Ngũ ấm (五陰), năm nhóm;|Năm (pañca) nhóm (skandha) tượng trưng cho năm yếu tố tạo thành con người, toàn bộ thân tâm. Ngoài ngũ uẩn đó ra không có gì gọi là cái »ta.«|Ngũ uẩn là: 1. Sắc (色; s, p: rūpa), chỉ thân và sáu giác quan (Lục căn); 2. Thụ (受; s, p: vedanā), tức là cảm giác; 3. Tưởng (想; s: saṃjñā; p: saññā); 4. Hành (行; s: saṃskāra; p: saṅkhāra); 5. Thức (識; s: vijñāna; p: viññāṇa).|Ngũ uẩn cũng được gọi là năm ràng buộc vì chỉ có Phật hay A-la-hán mới không bị dính mắc nơi chúng. Ðặc tính chung của chúng là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Kinh Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh nhấn mạnh đến tính Không của ngũ uẩn (xem Năm trí).|Sắc do Tứ đại chủng (s, p: mahābhūta) tạo thành, đó là bốn yếu tố đất, nước, gió, lửa. Sắc tạo nên các giác quan và đối tượng của các giác quan. Thụ là toàn bộ các cảm giác, không phân biệt chúng là dễ chịu, khó chịu hay trung tính. Tưởng là nhận biết các cảm giác như âm thanh, màu sắc, mùi vị…, kể cả nhận biết ý thức đang hiện diện. Hành là những hoạt động tâm lí sau khi có tưởng, ví dụ chú ý, đánh giá, vui thích, ghét bỏ, quyết tâm, tỉnh giác… Thức bao gồm sáu dạng ý thức liên hệ tới sáu giác quan: ý thức của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.|Tính chất khổ và vô thường của năm uẩn là một trong những quan điểm quan trọng nhất của Phật giáo. Khổ xuất phát từ sự bấp bênh, không chắc thật của các uẩn đó; và con người được thành tạo từ năm uẩn đó không gì khác hơn là một sự giả hợp, không có một cái »ta« thật sự đứng đằng sau con người đó (Vô ngã). Tri kiến về tính vô ngã của ngũ uẩn là một tri kiến rất quan trọng, nó có thể đưa đến giải thoát. Ðại sư người Ðức Ni-a-na Ti-lo-ka (nya-nātiloka) trình bày như sau về tầm quan trọng đó: »Ðời sống của mỗi chúng ta thật chất chỉ là một chuỗi hiện tượng thân tâm, một chuỗi hiện tượng đã hoạt động vô lượng kiếp trước khi ta sinh ra và sẽ còn tiếp tục vô tận sau khi ta chết đi. Ngũ uẩn này, dù riêng lẽ từng uẩn hay hợp chung lại, chúng không hề tạo thành một cái gì gọi là cái ta. Ngoài chúng ra, không còn cái gì được gọi là một thể của cái ta độc lập với chúng, để ta tạm gọi nó là cái ta. Lòng tin có một cái ta, có một nhân cách độc lập chỉ là một ảo tưởng.« Joseph Goldstein cũng viết: »Cái mà chúng ta gọi là cái ta chỉ là ngũ uẩn đang hiện hành vô chủ.«
Ngũ vị 五位; C: wǔwèi; J: go-i;|Năm phẩm loại. Năm giai vị. Có các nghĩa sau: 1. Theo Du-già hành phái (瑜伽行派; e: yogācāra school), quá trình tu đạo được chia thành 5 bậc. Năm giai vị nầy được liệt kê trong luận tạng của Tiểu thừa và Đại thừa. Chúng chủ yếu được giải thích trong A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa-bhāṣya) và Duy thức tam thập tụng – cả hai đều là trứ tác của Thế Thân (世親; s: vasu-bandhu). I. Theo trường phái Duy thức, Ngũ vị bao gồm: Tư lương vị (資糧位), Gia hạnh vị (加行位), Thông đạt vị (通達位), Tu tập vị (修習位) và Cứu cánh vị (究竟位). Theo luận Câu-xá thì Ngũ vị bao gồm: Tư lương vị (資糧位), Gia hạnh vị (加行位), Kiến đạo vị (見道位), Tu đạo vị (修道位) và Vô học vị (無學位); II. Theo kinh Kim cương tam-muội (金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra), Ngũ vị là: Tín vị (信位), Tư vị (思位), Tu vị (修位), Hạnh vị (行位), và Xả vị (捨位).
Ngũ vị thiền 五味禪|Chỉ năm phương pháp tu thiền, do Thiền sư Khuê Phong Tông Mật phân chia ra trong tác phẩm Thiền nguyên chư thuyên tập đô tự (禪源諸詮集都序):|1. Phàm phu thiền (凡夫禪; j: bompu-zen): Cách thiền của phàm phu, những người không theo đạo mà chỉ muốn thân thể, tâm trạng được khoẻ mạnh.|2. Ngoại đạo thiền (外道禪; gedō-zen): Chỉ những phương pháp thiền nằm ngoài Phật giáo.|3. Nhị thừa thiền (二乘禪) hay Tiểu thừa thiền (小乘禪; shōjō-zen): Thiền theo những phương pháp được nêu ra trong kinh sách Phật giáo Nam truyền. Cách thiền này dẫn đến Diệt tận định, và nếu hành giả ở trong trạng thái này khi chết thì không tái sinh nữa, thoát khỏi Luân hồi (saṃsāra).|4. Ðại thừa thiền (大乘禪; daijō-zen): Mục đích chính ở đây là Kiến tính (見性; ken-shō), Giác ngộ. Kinh nghiệm giác ngộ cho thấy rằng, ta chính là vạn vật mà vạn vật không khác ta và từ kinh nghiệm này, những hành động hằng ngày sẽ là những hành động cứu độ tất cả chúng sinh.|5. Tối thượng thừa thiền (最上乘禪; saijō-jō-zen): Trong dạng thiền này, đường đi và mục đích trở thành một. Thiền không phải là một phương pháp để đạt giác ngộ nữa mà trở thành một sự biểu hiện trực tiếp của Phật tính (j: busshō). Kinh sách viết rằng, đây là cách thiền của các chư Phật và là cách thiền tuyệt đỉnh (vô thượng, tối thượng, không còn cách nào hơn được) trong Phật pháp.|Quan niệm thường gặp như Ðại thừa thiền là Thiền của tông Lâm Tế và Tối thượng thừa thiền là Thiền của tông Tào Ðộng không đúng lắm bởi vì hai dạng Thiền trên bổ sung lẫn nhau mặc dù người ta chú trọng đến kinh nghiệm Kiến tính trực tiếp và phương pháp dẫn đến kinh nghiệm này hơn trong tông Lâm Tế; còn trong tông Tào Ðộng thì phương pháp Chỉ quản đả toạ (只管打坐; j: shikantaza) được xếp ở hàng đầu.|Ngũ vị thiền của sư Tông Mật phản ánh quan niệm truyền thống của Phật giáo, nhưng nhìn theo thời nay – trong thời đại mà Thiền được truyền bá khắp nơi trên hoàn cầu, vượt qua giới hạn của các nền văn hoá Phật giáo – quan niệm này không còn đúng lắm và cần được đính chính lại. Ví dụ như một người theo Thiên chúa giáo hoặc Hồi giáo vẫn có thể thực hiện Tiểu thừa, Ðại thừa hoặc Tối thượng thừa thiền mặc dù theo hệ thống ngũ vị thì tất cả những loại thiền nằm ngoài Thiền tông đều phải được gọi là »Ngoại đạo thiền.« Ngũ vị thiền như vậy đặc biệt có giá trị trong phạm vi lí thuyết của Thiền tông Phật giáo, trong khi nhìn từ khía cạnh tuyệt đối, so sánh với những kinh nghiệm của các Thánh nhân của tất cả truyền thống tôn giáo trên thế giới thì nó chẳng có giá trị là bao.
Ngũ vị vô tâm 五位無心; C: wǔwèi wúxīn; J: goi mushin;|Theo giáo lí của Du-già hành tông, có 5 trường hợp mà ý thức (意識; s: mano-vijñāna) không hiện hữu: 1. Ngủ say (Cực trọng thùy miên 極重睡眠; s: acittaka); 2. Hôn mê, ngất xỉu (Cực trọng muộn tuyệt 極重悶絶; s: mūrcchā); 3. Vô tưởng định (無想定; s: asaṃjñi-samāpatti); 4. Sinh trong Vô tưởng thiên (無想天; s: āsaṃjñika); 5. Trong Diệt tận định (滅盡定; s: nirodha-samāpatti; theo Thành duy thức luận 成唯識論)
Ngũ vô gián nghiệp 五無間業; S: pañcanantaryakarmāṇi;|Năm tội lớn
Ngưng 凝; C: níng; J: gyō;|Có hai nghĩa: 1. Đông lại, đóng băng, làm cho cứng; 2. Chăm chú vào, tập trung vào.
Ngưng nhiên 凝然; C: níngrán; J: gyōnen;|Có các nghĩa sau: |1. Vững chắc, kiên định, yên tĩnh, không thay đổi, bất động; |2. Ngưng Nhiên (1240-1321), Cao tăng tông Hoa Nghiêm Nhật Bản, là tác giả đã biên soạn nhiều bản tóm tắt tiểu sử quan trọng của các vị Tổ sư các tông phái Phật giáo Trung Hoa. Họ của sư là Fujiwara và sư xuất thân từ quận Y dư (伊予; j: iyo) thuộc vùng Shikoku. Năm 18 tuổi, sư xuất gia với Đại sư Viên Chiếu (圓照; j: enshō) ở Giới Đàn viện (戒檀院; j: kaidan-in) (một chi phái của Đông Đại tự 東大寺; j: tōdaiji). Sư thụ giới năm 20 tuổi. Sư tham học giới luật với các vị Huyền Chứng (證玄; j: shōgen) và Tịnh Nhân (淨因; j: jōin), thụ pháp Mật giáo với Thánh Thủ (聖守; j: shōshu). Mặc dù sư xuất thân từ tông Hoa Nghiêm, nhưng sư cũng nghiên cứu giáo lí Duy thức, Tam luận, Tịnh độ, Thiền, Nho giáo, Lão giáo và các triết gia (Trung Hoa) thời Chiến Quốc. Năm 1276, sư giảng kinh Hoa Nghiêm tại Đại Phật đường, Đông Đại tự. Sau khi Viên Chiếu (圓照; j: enshō) tịch, sư kế vị thầy mình trú trì Giới Đàn viện (戒檀院), tiếp tục giảng kinh Hoa Nghiêm và giảng dạy giới luật (戒律). Năm 1313 sư đến Tōshōdaiji (cũng thuộc Nại Lương, Nara), ở đó 5 năm trước khi trở về lại Giới Đàn viện. Ngoài việc thuyết giảng, sư còn biên soạn các bài nghiên cứu về giáo lí các tông Hoa Nghiêm, Thiên Thai, Chân ngôn, Tam luận, Pháp tướng, Câu-xá, Thành thật, Luật và Tịnh độ, cũng như nghiên cứu lịch sử, Thần đạo và âm nhạc. Sư biên soạn tổng cộng hơn 1200 quyển. Sư viên tịch tại Giới đàn viện năm 82 tuổi. Những tác phẩm nổi tiếng của sư gồm Bát tông cương yếu (八宗綱要), Tam Quốc Phật Pháp truyền thông lục khởi (三國佛法傳通縁起) và Tịnh độ nguyên lưu chương (淨土源流章).
Ngưỡng sơn 仰山; C: yăngshān; J: gyōsan;|Chỉ Thiền sư Huệ Tịch (慧寂), Ngưỡng Sơn Huệ Tịch (仰山慧寂).
Ngưỡng Sơn Huệ Tịch 仰山慧寂; C: yǎngshān huìjì; J: kyōzan ejaku; 807-883;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ lừng danh của Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu và cùng thầy khai sáng tông Quy Ngưỡng. Trí huệ và kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu của Sư nổi danh trong thiền giới thời đó nên Sư cũng có biệt danh là »Tiểu Thích-ca.« Môn đệ hàng đầu của Sư là Nam Tháp Quang Dũng, Vô Trước Văn Hỉ và Tây Tháp Quang Mục.|Trước tuổi 20, Sư yết kiến và trau dồi kinh nghiệm với nhiều ngôi sao sáng trong Thiền tông và đã mang danh là một thiền sinh xuất sắc. Dưới sự hướng dẫn của Quy Sơn, Sư đạt yếu chỉ thiền.|Sư họ Diệp, quê ở Hoài Hoá, Thiều Châu. Sư muốn xuất gia nhưng cha mẹ không cho, bèn chặt hai ngón tay, thệ nguyện cầu chính pháp để đáp ân nghĩa. Cha mẹ đành cho phép. Chưa thụ giới cụ túc, Sư đã đi du phương.|Ðến Thiền sư Thạch Sương Tính Không, nghe một vị tăng hỏi Tính Không: »Thế nào là ý Tổ sư từ phương Tây sang?« Tính Không liền đáp: »Như người trong giếng sâu ngàn thước, người này chẳng nhờ một tấc giây mà ra được, người này trả lời được.« Câu trả lời này cứ quấn mãi tâm Sư. Ðến Thiền sư Ðam Nguyên Ứng Chân, Sư hỏi: »Thế nào là người trong giếng ra được?« Ðam Nguyên liền đáp: »Ðồ ngốc! Ai ở trong giếng?« Sư chưa rõ việc nhưng vẫn được Ðam Nguyên truyền cho cách sử dụng 97 viên tướng để hoằng hoá, một phương pháp quan trọng để hướng dẫn môn đệ sau này trong tông Quy Ngưỡng.|Ðến Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu, Quy Sơn hỏi: »Ngươi là Sa-di có chủ hay không chủ?« Sư thưa: »Có chủ.« Quy Sơn lại hỏi: »Chủ ở chỗ nào?« Sư từ bên Ðông sang bên Tây đứng, Quy Sơn biết môn đệ hảo hạng. Sư trình lại câu hỏi »Thế nào ra khỏi giếng ngàn thước không cần giây.« Quy Sơn hét: »Huệ Tịch!« Sư ứng: »Dạ.« Quy Sơn bảo: »Ra rồi!« Nhân đây, Sư đại ngộ, lại hỏi: »Thế nào là chỗ trụ của chư Phật?« Quy Sơn bảo: »Dùng cái diệu tư (nghĩ nhớ) mà không tư, xoay cái tư tinh anh sáng suốt vô cùng. Tư hết, trở về nguồn, nơi tính tướng thường trụ, sự lí không hai, Chân Phật như như.« Sư trút sạch hồ nghi nơi đây, ở lại hầu hạ Quy Sơn.|Sư đến phiên chăn trâu sườn núi, thấy một vị tăng lên núi không bao lâu trở xuống, Nghe Sư hỏi vì sao, vị tăng thuật lại: »Hoà thượng hỏi tôi tên gì, tôi thưa Quy Chân, Hoà thượng hỏi Quy Chân ở đâu, tôi đáp không được.« Sư bảo vị tăng, nếu Quy Sơn hỏi như vậy nữa thì trả lời »Quy Chân ở trong mắt, trong tai, trong mũi.« Vị tăng lại lên núi ra mắt Quy Sơn. Quy Sơn hỏi lại như trước, vị tăng trả lời như Sư đã dạy và bị Quy Sơn quở: »Kẻ nói suông vô ích, đây là lời của thiện tri thức đứng đầu 500 người!«|Sư và thầy đồng tình đồng ý như hai cha con nên người đời cũng nói rằng »Hai cha con hát bằng một miệng.« Sư học hỏi nơi Quy Sơn 15 năm, trước về Vương Mãn, sau về Ngưỡng Sơn trụ trì, người người đua nhau đến học.|Sư thượng đường dạy chúng: »Hết thảy các ngươi, mỗi người tự hồi quang phản quán, chớ ghi ngôn ngữ của ta. Các ngươi từ kiếp vô thuỷ đến giờ trái sáng hợp tối, gốc vọng tưởng quá sâu khó nhổ mau được. Do đó giả lập phương tiện dẹp thức thô của các ngươi, như đem lá vàng dỗ con nít khóc, có cái gì là phải? Như các người bán hàng hoá cùng vàng lập phố bán. Bán hàng hoá chỉ nghĩ thích hợp với người mua. Vì thế, nói ›Thạch Ðầu là phố chân kim, chỗ ta là phố tạp hoá.‹ Có người đến tìm phẩn chuột ta cũng bết phẩn chuột cho, kẻ khác đến cầu chân kim ta cũng trao cho… Tìm hỏi thì có trao đổi, chẳng tìm hỏi thì không ta. Nếu nói bên thân Thiền tông cần một người làm bạn cũng không, huống là có năm bảy trăm chúng. Nếu ta nói Ðông nói Tây, ắt giành nhau lượm lặt, như đem nắm tay không để lừa gạt con nít, trọn không có thật. Nay ta nói rõ các ngươi, việc bên cạnh thánh, chớ đem tâm nghĩ tính, chỉ nhằm vào biển tính của chính mình mà tu hành như thật…«|Sư trước ở Ngưỡng Sơn, sau dời về Quan Âm chỉ dạy tăng chúng. Sắp tịch, Sư làm bài kệ: |一二二三子,平目復仰視|兩口一無舌,即是吾宗旨|Nhất nhị nhị tam tử|Bình mục phục ngưỡng thị|Lưỡng khẩu nhất vô thiệt|Tức thị ngô tông chỉ.|Một hai hai ba con|Mắt thường lại ngước xem|Hai miệng một không lưỡi|Ðây là tông chỉ ta.|Nói xong, Sư ngồi hai tay bó gối viên tịch, thọ 77 tuổi. Vua phong danh hiệu Trí Thông Thiền sư. Những lời khuyên dạy của Sư được ghi trong Viên Châu Ngưỡng Sơn Huệ Tịch Thiền sư ngữ lục.
Ngưu Ðầu thiền 牛頭禪; C: níutóu-chán; J: gozu-zen;|Một dòng thiền nhỏ tại Trung Quốc, không được xếp vào Ngũ gia thất tông. Khai tổ dòng này là Thiền sư Pháp Dung ở Ngưu Ðầu sơn, một môn đệ của Tứ tổ Ðạo Tín. Nhánh Thiền này được Truyền Giáo Ðại sư (j: dengyō daishi) Tối Trừng (saichō) truyền sang Nhật, cũng là người thành lập Thiên Thai tông (j: tendai-shū) tại đây. Dòng này tàn lụi chỉ sau vài thế hệ.
Nguỵ kinh 僞經; C: wèijīng; J: gikyō;|»Kinh giả mạo,« một trong hai loại kinh nguỵ tạo chính ở Đông Á, rất đáng ngờ vì nó giống như kinh văn xuất phát từ Ấn Độ.
Nguyên 源; C: yuán; J: gen;|1. Suối nguồn, giếng phun; 2. Khởi nguyên, nguồn, nguyên do.
Nguyên Hiểu 元曉; C: yuánxiao; J: gangyō; K: wǒnhyo, 617-686. |Một trong những nhà lĩnh đạo tư tưởng, tác gia và luận sư của Phật giáo Hàn Quốc. Sư sống vào cuối thời Tam Quốc và đầu thời đại Tân La thống nhất. Sư đóng một vai trò năng động trong sự thâu hoá sâu rộng trào lưu Phật giáo du nhập vào bán đảo Cao Li đương thời. Sư rất tâm đắc và ảnh hưởng tư tưởng Như Lai tạng (如來藏; s: tathāgatagarbha), Duy thức và Hoa Nghiêm (華嚴; k: hwaǒm). Tuy nhiên, với công trình nghiên cứu rộng rãi của sư qua các luận giải và chuyên luận, sư đã dung nhiếp toàn bộ giáo lí đạo Phật được lưu truyền ở Cao Li, gồm các Tông phái như Tịnh độ, Niết-bàn, Tam luận, và Thiên Thai (Pháp Hoa tông). Sư viết hầu như toàn bộ các luận giải về những bộ kinh quan trọng của Đại thừa, tổng cộng hơn 80 tác phẩm với hơn 200 quyển. Trong số những tác phẩm nổi tiếng mà sư đã trứ tác là Luận giải về Đại thừa khởi tín luận (大乘起信論), Luận giải về kinh Niết-bàn, Luận giải về kinh Kim Cương tam-muội. Các tác phẩm nầy được các học giả thượng thủ Phật học Trung Hoa và Nhật Bản tôn trọng nhất, đáp ứng cho sự duy trì Đại thừa khởi tín luận như là tác phẩm quan trọng nhất trong truyền thống Phật giáo Hàn Quốc.|Trong thời gian đầu, Nguyên Hiểu trải qua cuộc đời mình như là một Tăng sĩ, nhưng sau khi giác ngộ được lí Duy thức, Sư rời khỏi Tăng đoàn và chuyển sang truyền bá Phật pháp dưới hình tướng của một cư sĩ. Vì khía cạnh độc đáo này của Sư, nên Sư kết thúc cuộc đời mình khi trở thành một vị anh dùng dân tộc nổi tiếng Cao Li. Sư là đồng sự và là bạn của Nghĩa Tương (義湘; k: ǔisang), một vị Tăng người Tân La có thế lực thuộc tông Hoa Nghiêm (k: hwaǒm). Kết quả quan trọng của sự hợp tác nầy là việc sáng lập tông Hoa Nghiêm như là một dòng pháp có ưu thế trên bán đảo Triều Tiên. 23 tác phẩm hiện còn lưu hành của Nguyên Hiểu nay đang được tiến hành dịch sang tiếng Anh trong chương trình hợp tác giữa Đại học Dongguk và SUNY tại Stony Brook.
Nguyện Học 願學; ?-1174|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10, kế thừa Thiền sư Viên Trí.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Phù Cầm. Lớn lên, Sư đến tham vấn Thiền sư Viên Trí ở chùa Mật Nghiêm và ngộ đạo nơi đây.|Sư đạt nhiều thần thông như trị bệnh, cầu mưa… Vua Lí Anh Tông kính phục, để Sư ra vào cung tự do. Sau, Sư viện cớ già bệnh về trụ trì chùa Quảng Báo ở làng Chân Hộ, Như Nguyệt. Học chúng đến rất đông, không dưới 100 người.|Niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ 8, Sư gọi chúng lại phó chúc, nói kệ rồi viên tịch.
Nguyên Thiều 元韶; 1648-1728, còn được gọi là Siêu Bạch Hoán Bích;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế, đời pháp thứ 33. Sư là người đầu tiên truyền tông phong Lâm Tế sang miền Trung Việt Nam.|Sư xuất gia năm 19 tuổi tại chùa Báo Tư, thụ giáo với Hoà thượng Bản Quả Khoáng Viên. Năm 1677, Sư theo thuyền đi từ Trung Quốc đến phủ Quý Ninh (Quy Nhơn) lập chùa Thập Tháp Di Ðà để dạy chúng. Sau đó, Sư lại ra Thuận Hoá lập chùa Hà Trung rồi lên Xuân Kinh lập chùa Quốc Ân và tháp Phổ Ðồng.|Sau, vì Cao tăng giáo hoá chúng hiếm hoi (có lẽ vì Thiền sư Hương Hải đã ra miền Bắc cùng với khoảng 50 đệ tử) nên Sư phụng mệnh sang Trung Quốc mời các danh tăng và thỉnh pháp khí. Sư về Quảng Ðông và mời được các vị nổi danh thời đó như Thạch Liêm, Hưng Liên Quả Hoằng, Giác Phong…|Ngày 19 tháng 10 năm Mậu Thân, niên hiệu Bảo Thái thứ 9 (1728), Sư có chút bệnh bèn gọi chúng lại phó chúc và nói kệ:|寂寂鏡無影。明明珠不容|堂堂物非物。蓼蓼空勿空|Tịch tịch kính vô ảnh|Minh minh châu bất dung|Ðường đường vật phi vật|Liêu liêu không vật không.|*Lẳng lặng gương không ảnh|Sáng sáng ngọc không hình|Rõ ràng vật không vật|Vắng lặng không chẳng không.|Nói xong, Sư ngồi yên viên tịch, thọ 81 tuổi. Ðồ chúng lập tháp ở chùa Kim Cang để thờ.* Một tháp khác cũng được lập tại Thuận Hoá. Chúa Nguyễn ban hiệu là Hạnh Ðoan Thiền Sư. |*Theo nguồn tài liệu của sử gia Nguyễn Hiền Ðức thì Sư ẩn vào Nam, có lẽ vì lí do chính trị thời đó, đến Ðồng Nai lập chùa Kim Cang hoằng hoá. Nhờ vậy mà Phật giáo Nam bộ bắt đầu hưng thịnh và lan rộng khắp nơi. Hệ thống truyền thừa còn tồn tại đến ngày nay. Tuy vậy, nguồn tài liệu này vẫn chưa được chính thức thừa nhận vì còn chứa nhiều điểm mâu thuẫn.
Nguyên thủ 元首; C: yuánshǒu; J: genshu;|Người đứng đầu, người lĩnh đạo, thủ lĩnh, nhà cai trị, quốc chủ, tối cao, thứ nhất, đầu tiên.
Nguyệt Am Tông Quang 月菴宗光; J: gettan sōkō; 1326-1389;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, dòng Nam Phố Thiệu Minh (nampo jōmyō), hệ phái Diệu Tâm tự (myōshin-ji).|Sư sống cùng thời với Thiền sư Bạt Ðội Ðắc Thắng (bassui tokushō), sớm xuất gia và tham học với nhiều vị Thiền sư Nhật danh tiếng đương thời như Cổ Tiên Ấn Nguyên (kosen ingen), Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) và Cô Phong Giác Minh (kohō kakumō). Nơi Thiền sư Ðại Trùng Tông Sầm (大蟲宗岑; daichū sáshin), Sư triệt ngộ. Sau một thời gian dài chu du đây đó, Sư khai sáng thiền viện Ðại Minh (daimyō-ji) tại Tajima, tỉnh Hyōgo và bắt đầu cuộc đời giáo hoá vinh quang của mình.|Pháp ngữ của Sư được các môn đệ biên tập và lưu lại đến ngày nay và trong số đó có rất nhiều bài thuyết pháp dành cho giới Cư sĩ. Sư giữ quan niệm rằng, cư sĩ cũng có thể tu tập thiền với những kết quả khả quan và nếu họ tu tập với tất cả tấm lòng thì có thể vượt qua cả những vị tăng ni vì trong thời của Sư, rất nhiều vị xuất gia tu hành chỉ chú trọng đến việc học suông. Sư được xem là một tấm gương sáng, là một vị Thiền sư sống với quần chúng, sống vì quần chúng ngoài tăng đoàn. Ví dụ như Sư chẳng ngần ngại gì khi thuyết pháp cho một nữ Cư sĩ, vốn theo đuổi thực hành những nghi lễ rườm rà, ôm ấp nhiều khái niệm về thiên đường, địa ngục, cõi Phật… Chẳng đi quanh co, Sư giảng ngay về Tâm và Phật tính cho vị nữ cư sĩ này: »Tâm này chính là Phật. Tâm này từ vô thuỷ vô minh đến giờ chưa từng vướng mắc Phiền não. Nếu phiền não chẳng có thì cũng chẳng có pháp nào được chứng đắc khi đạt đạo. Và nếu như Giác ngộ cũng như phiền não không thật có thì tâm này chẳng bao giờ liên quan gì đến sinh tử Luân hồi… Chẳng có Vô minh để vượt qua, chẳng có vọng niệm nào phải đoạn diệt. Vì không có thiện ác nên thiên đường địa ngục cũng không tìm đâu ra. Vì phải cũng như trái đều không có nên cũng chẳng có Tịnh độ cũng như trần cảnh.«
Nguyệt đăng tam-muội kinh 月燈三昧經; C: yuèdēng sānmèi jīng; J: gattō zammai kyō; S: samādhirāja-sūtra; t: chos thams cad kyi rang bzhin mnyam pa nyid rnam par spros pa ting nge 'dzin gyi rgyal pa;|Kinh dạy cho Candrapradita Kumāra về pháp thiền đinh thù thắng nhất, trong đó giang giải rằng hành giả nếu đem hết công phu quán chiếu thâm sâu với tâm hoà hợp thì có thể đạt được giác ngộ. Trong 3 bản dịch tiếng Hán (tất cả đề cùng tên), chỉ có bản của Na-liên-đề Da-xá (s: narendrayaśas) là hoàn chỉnh, mặc dù bản nầy dường như hơi có rút ngắn lại hơn là dựa vào bản tiếng Phạn và bản tiếng Tây Tạng.|1. (Với tên khác) Nhập ư đại bi đại phương đẳng đại tập thuyết kinh (入於大悲大方等大集説經), Na-liên-đề Da-xá (那連提耶舍, s: narendrayaśas) dịch năm 557. |2. (Với tên khác) Đãi huệ tam muội kinh (逮慧三昧經), Tiên Công (先公) dịch; 1 quyển. Môt bản dịch khác của bản 6 quyển của Na-liên-đề Da-xá (s: narendrayaśas).|3. (Với tên khác) Văn-thù-sư-lợi Bồ Tát thập sự hạnh kinh (文殊師利菩薩十事行經), 1 quyển. Gồm phần trích từ quyển thứ 7 trong bản dịch của Na-liên-đề Da-xá. Về bản tiếng Anh của chương 8, xin xem Regamey (1938).
Nguyệt Quang 月光; C: yuèguāng; J: gakkō;|Danh hiệu của một vị Bồ Tát.
Nguyệt Quang đồng tử kinh 月光童子經; C: yuèguāngtóngzǐjīng; J: gakkō-dōshikyō;|1 quyển. Theo truyền thống, thường gán cho Pháp Hộ (s: dharmapāla), nhưng theo những học giả hiện đại thì đó là một kinh văn nguỵ tác.
Nguyệt tạng kinh 月藏經; C: yuèzàng jīng; J: getsuzōkyō;|Xem Đại tập Nguyệt tạng kinh (大集月藏經).
Nguyệt Xứng 月稱; S: candrakīrti; tk. 6/7;|Ðược xem là Luận sư quan trọng nhất trong tông Trung quán sau Long Thụ. Sư quê ở Nam Ấn, xuất gia từ lúc nhỏ tuổi. Nhân lúc đọc trứ tác của Long Thụ, Sư bỗng hiểu ý. Sau, Sư trở thành viện trưởng của Na-lan-đà và viết nhiều bài luận chú về các tác phẩm của Long Thụ. Các tác phẩm quan trọng của Sư là Minh cú luận (明句論; nguyên bản Phạn ngữ), Nhập trung quán luận (入中觀論). Tương truyền rằng, trong một cuộc hành trình truyền Pháp về hướng Nam, Sư đã giáo hoá rất nhiều người. Sư sống rất thọ, nhưng chắc chắn là không thọ đến 300 (!) tuổi như sử sách Tây Tạng thuật lại.|Các tác phẩm còn lưu lại của Sư (trích): 1. Minh cú luận (s: prasannapadā), gọi đủ là Trung quán minh cú luận (s: madhyamakavṛtti-prasannapadā), tác phẩm chú giải Trung quán luận (madhyamaka-śāstra) của Long Thụ (nāgārjuna) duy nhất bằng nguyên văn Phạn ngữ (sanskrit), bản Tạng ngữ cũng còn; 2. Nhập trung quán luận (madh-yamakāvatāra), chỉ còn bản Tạng ngữ; 3. Nhập trung luận thích (madhyamakāvatāra-bhāṣya), chỉ còn bản Tạng ngữ; 4. Nhân duyên tâm luận thích (pratītya-samutpāda-hṛdaya-vṛtti), một tác phẩm chú giải Nhân duyên tâm luận tụng (pratītyasamut-pāda-hṛdaya-kārikā), được xem là của Long Thụ, chỉ còn bản Tạng ngữ; 5. Thất thập không tính luận thích (śūnyatā-saptativṛtti), chú giải Thất thập không tính luận (śūnyatā-saptati) của Long Thụ. Long Thụ (và Parahita) cũng có soạn một tác phẩm dưới tên này. Chỉ còn bản Tạng ngữ; 6. Lục thập tụng như lí luận thích (yukti-ṣaṣṭhikā-vṛtti), luận giải Lục thập tụng như lí luận (yukti-ṣaṣṭhikā), một tác phẩm được xem là của Long Thụ, chỉ còn bản Tạng ngữ; 7. Bồ Tát du-già hành tứ bách luận thích (bo-dhisattvayogācāra-catuḥśataka-ṭīkā), chú thích bộ Tứ bách luận (catuḥśataka) của Thánh Thiên (āryadeva), chỉ còn bản Tạng ngữ; 8. Trung quán luận tụng (madhyamaka-śāstra-stuti).
Nhậm (nhiệm) 任; C: rèn; J: nin;|Có các nghĩa sau: 1. Từ chức, giao lại; 2. Đảm nhận một công việc hoặc vai trò; 3. Nhường vị trí của mình cho một người khác. Đảm nhận một vai trò và trách nhiệm trong đời sống. »Sự đảm đương«; 4. Gọi tắt của từ Nhậm vận (任運), nghĩa là sự việc được phát khởi một cách ngẫu nhiên, không do bởi sự tạo tác của tâm thức phân biệt hiện tại (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Nhậm bệnh 任病; C: rènbìng; J: ninbyō;|Bệnh »để mặc«. Một trong 10 kiến chấp sai lầm được trình bày trong chương thứ 10 của kinh Viên Giác.
Nham Ðầu Toàn Hoát 巖頭全豁; C: yántóu quánhuò; J: gantō zenkatsu; 828-887;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ xuất sắc của Ðức Sơn Tuyên Giám Thiền sư. Thiền sư Thuỵ Nham Sư Ngạn là người nối pháp của Sư.|Sư họ Kha, quê ở Tuyền Châu, xuất gia lúc còn nhỏ tuổi. Sau, Sư du phương, kết bạn cùng Tuyết Phong Nghĩa Tồn và Khâm Sơn Văn Thuý Thiền sư (Sư và Tuyết Phong trở thành hai môn đệ hàng đầu của Ðức Sơn, Khâm Sơn sau đến Ðộng Sơn Lương Giới thụ pháp). Nơi Ðức Sơn, Sư ngộ yếu chỉ thiền. Cùng với Tuyết Phong, Sư đến từ giã Ðức Sơn, Ðức Sơn hỏi: »Ði về đâu?« Sư thưa: »Tạm từ Hoà thượng hạ sơn.« Ðức Sơn hỏi: »Con về sau làm gì?« Sư thưa: »Chẳng quên« Ðức Sơn lại hỏi: »Con nương vào đâu nói lời này?« Sư thưa: »Ðâu chẳng nghe: ›Trí vượt hơn thầy mới kham truyền trao, trí ngang bằng thầy, kém thầy nửa đức.‹« Ðức Sơn bảo: »Ðúng thế! Ðúng thế! Phải khéo hộ trì.« Sau khi rời Ðức Sơn, Sư đến núi Ngọa Long Ðộng Ðình cất am. Học giả đến học tấp nập.|Có một vị tăng mới đến, Sư hỏi: »Từ đâu đến?« Tăng thưa: »Từ Tây Kinh đến.« Sư hỏi: »Sau trận giặc Hoàng Sào lại lượm được kiếm chăng?« Tăng thưa: »Lượm được.« Sư đưa cổ ra làm thế nhận chặt, tăng nói: »Ðầu thầy rơi.« Sư cười to.|Sư dạy chúng: »Phàm việc trong đại tổng cương tông phải biết cú. Nếu chẳng biết cú khó hội được câu nói. Cái gì là cú? Khi trăm việc chẳng suy nghĩ, gọi là chính cú, cũng gọi là cư đỉnh (ở trên đỉnh), là được trụ, là rõ ràng, là tỉnh tỉnh, là chắc thật, là khi Phật chưa sinh, là đắc địa… Phá tất cả thị phi sẽ được tự do tự tại với những gì còn đối đãi. Nếu nhìn chẳng thấu liền bị người đâm đui mắt…«|Sau này có người hỏi Phật, hỏi pháp, đạo, thiền, Sư đều »Hư!« lên một tiếng. Sư thường bảo chúng: »Khi Lão già này đi sẽ rống lên một tiếng.«|Ðời Ðường, niên hiệu Quang Khải, giặc cướp lộng hành, chúng tăng đều lánh đi nơi khác. Sư vẫn an nhiên ở lại. Giặc cướp đến, thấy không có gì lấy được, tức giận đâm Sư. Sư không đổi thần sắc, chỉ rống lên một tiếng xa mười dặm rồi tịch. Tiếng rống của Sư nổi danh trong lịch sử của Thiền tông, và đã gây thắc mắc cho nhiều thiền sinh đời sau (Bạch Ẩn Huệ Hạc).
Nhậm trì 任持; C: rénchí; J: ninji; S: ādhāna, dhāraṇa, dhṛti.|Giữ gìn, duy trì, bảo tồn, hộ trì.
Nhậm vận 任運; C: rènyùn; J: nin'un;|Có các nghĩa sau: 1. Cam chịu số phận; 2. Tự nhiên, vốn đã như vậy. Hiện hữu một cách tự nhiên. (Pháp nhĩ 法爾). Không gắng sức, không dụng công; 3. Bẩm sinh, sinh ra đã…; cùng nương với nhau mà sinh khởi, đồng nghĩa với Câu (倶).
Nhậm vận khởi 任運起; C: rényùnqǐ; J: ninunki;|Sinh khởi trên cơ sở tự tính; (phiền não) vốn đã sinh khởi; phiền não câu sinh. Câu sinh khởi (倶生起, theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Nhậm vận phiền não 任運煩惱; C: rényùnfánnăo; J: nin'un bonnō;|Đồng nghĩa với: 1. Câu sinh phiền não. Phiền não có sẵn, có từ đời sống trước, khác hẳn với phiền não mới phát sinh do tâm phân biệt hiện hành. Phiền não nầy phát sinh đồng thời với thức thứ bảy (mạt-na thức, theo Nhị chướng nghĩa 二障義); 2. Không nhất thiết phân biệt như trong mục 1, nhưng đặc biệt được định nghĩa như là Ngã với ba thứ kiến chấp của nó, Tát-cada kiến (薩迦耶見), Ngã mạn (我慢), và Ngã ái (我愛). Được nói là Câu sinh phiền não được giải trừ ở giai vị Tu đạo (修道, vì quá vi tế, không thể giải trừ ở giai vị Kiến đạo 見道; theo Du-già luận).
Nhậm vận sở khởi 任運所起; C: rényùn suǒqǐ; J: ninnun sho-ki;|Sự việc được phát sinh một cách tự nhiên (ngẫu nhiên, bẩm sinh). Đồng nghĩa với Câu sinh khởi (倶生起).
Nhân 仁; C: rén; J: jin;|Có các nghĩa sau: 1. Lòng tốt, lòng từ, nhân đức, nhân đạo, lòng tốt bẩm sinh của con người; 2. Đạo lí cơ bản để làm người; 3. Đức tính mà mọi người tốt đều nhắm đến; 4. Người có đức hạnh tốt; 5. Tâm thể của con người; [Thuật ngữ Phật học] 6. »Ngài«, tiếng xưng hô kính trọng với những người có địa vị cỡ ngang mình, hoặc cao hơn một chút.
Nhân 人; C: rén; J: nin, jin;|Người, loài người. Tha nhân. Theo thuật ngữ Phật học, có hai nghĩa: 1. Loài người, chúng sinh, loài hữu tình trong Dục giới, do gieo nhân trong quá khứ mà được thân người hiện tại. Là một trong sáu nơi (Lục đạo 六道) mà chúng sinh sẽ sinh về sau khi chết; 2. Ngã, bản ngã. Cá nhân như một hữu thể; linh hồn. Chấp vào sự hiện hữu của cá nhân mình (ngã chấp).
Nhẫn 忍; S: kṣānti; P: khanti;|Một trong mười hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ). Nhẫn nhục có nghĩa kiên trì chịu đựng sự căm ghét hay phỉ báng của kẻ khác, chịu sự khổ ải mà không mất đạo tâm tinh tiến.
Nhân chấp 人執; C: rénzhí; J: ninshū;|Chấp vào bản ngã; chấp vào sự hiện hữu như một con người. Thuật ngữ thường đề cập là Ngã chấp (我執). Nhân ngã chấp (人我執; theo Du-già luận 瑜伽論).
Nhân dân 人民; C: rénmín; J: ninmin; S: manuṣya; P: ma-nussā.|Loài người nói chung. Hàng phàm phu (s: manuṣya; p: manussā; theo kinh Pháp Hoa).
Nhân đạo 人道; C: réndào; J: nindō;|Cõi giới được tái sinh làm người. Một trong sáu cõi chúng sinh đi đầu thai (s: mānuṣya-gati). Xem Nhân gian (人間), Lục đạo (六道).
Nhân đầu tràng 人頭幢; C: réntóuchuáng; J: nintōtō;|Dịch chữ daṇḍa từ tiếng Phạn (sanskrit) và Pa-li. Đàn-noa (檀拏).
Nhân duyên 因緣; S: hetuprātyaya; J: innen;|Nghĩa là cái lí do chính (nhân; s: hetu) và các điều kiện phụ trợ giúp (duyên; s: prātyaya); danh từ này được sử dụng trong các trường phái Phật giáo để làm sáng tỏ luật Nhân quả, Nghiệp (s: karma).
Nhân giả 仁者; C: rénzhě; J: jinsha;|»Ngài«, tiếng xưng hô kính trọng với những người có địa vị ngang hoặc hơn mình một chút.
Nhân gian 人間; C: rénjiān; J: ningen;|Có các nghĩa: 1. Người, loài người; 2. Nơi loài người sinh sống, thế gian; 3. Loài người (s: manuṣya, manuṣa), phiên âm là Mạt-nô-sa (末奴沙), Ma-nô-xà (摩奴闍)… và còn được dịch là Nhân gian giới (人間界), Nhân giới (人界), Nhân thú (人趣), Nhân đạo (人道) và Thế gian (世間). Một trong 6 nơi (Lục đạo 六道), năm đường (Ngũ thú 五趣), hoặc mười cõi (Thập giới 十界) mà loài hữu tình thụ sinh; 4. Ở ngay trong thế giới loài người.
Nhân gian giới 人間界; C: rénjiānjiè; J: ningenkai;|Cõi con người sinh sống. Nhân giới (人界).
Nhân giới 人界; C: rénjiè; J: ninkai;|Nơi loài người sinh sống, là một trong mười giới (Thập giới 十界).
Nhân không 人空; C: rénkōng; J: ningū;|Không có một ngã tính hiện hữu riêng biệt, thường hằng; cũng thường được gọi là Ngã không (我空) và Nhân vô ngã (人無我). Trong Phật giáo Đại thừa, điều nầy được nhận thấy trước tiên, nhưng không là một cấp bậc nhìn nhận tính không một cách rốt ráo, mới mức độ kế tiếp là Pháp không (法空). (Theo Phật tính luận 佛性論)
Nhân không quán 人空觀; C: rénkōngguān; J: ningūkan;|Pháp quán sát về không có một ngã tính hiện hữu thường hằng, nhất định; hay là chúng sinh có một ngã tính. Pháp quán nầy là sơ khởi, sâu hơn là pháp quán các pháp không tồn tại trên cở sở tự tính (Pháp không quán 法空觀).
Nhân ngã 人我; C: rénwǒ; J: ninga;|1. Quan niệm (sai lầm về) bản ngã, nghĩa là quan niệm có một cá nhân hiện hữu, một bản ngã tồn tại riêng biệt; 2. Theo triết học của phái Số luận (s: sāṃkhya), đó là ý niệm về một linh hồn (phi vật chất).
Nhân ngã chấp 人我執; C: rénwǒzhí; J: ningashū;|Tin rằng có sự hiện hữu của một bản ngã, hay của cá nhân, còn gọi là Nhân ngã kiến (人我見). Đây là một kiến chấp rất nặng, nhưng cũng còn được xem là ít vi tế hơn Pháp ngã chấp (法我執).
Nhân ngã kiến 人我見; C: rénwǒjiàn; J: ningaken;|Có hai nghĩa sau: 1. Quan niệm cố chấp có một bản ngã hiện hữu riêng biệt, đó là một kiến chấp sai lầm. Thường sánh đôi với từ Pháp ngã kiến (法我見), kiến chấp sai lầm vi tế hơn về các pháp; 2. Chấp vào cảm nhận chủ quan.
Nhân nhượng 仁讓; C: rénràng; J: ninjō;|Nhân đức, lòng khoan dung.
Nhân phi nhân 人非人; C: rénfēirén; J: ninhinin;|»Người mà cũng không phải người.« Có hai nghĩa: 1. Một từ đề cập tổng quát đến tám loại quỷ thần; 2. Đặc biệt đề cập đến loài Khẩn-na-la (緊那羅; s: kiṃnara).
Nhân quả 因果; J: inga;|Là »nguyên nhân và kết quả«; trong Thiền tông – một tông phái với một cơ sở siêu thời gian và không gian, đặc biệt chú trọng đến kinh nghiệm trực nhận – người ta thường sử dụng câu »Nhân quả nhất như« (因果一如; j: inga ichinyo), nghĩa là nhân quả là một (Nghiệp).
Nhân sư tử 人師子; C: rénshīzǐ; J: ninshishi;|»Sư tử trong loài người«, một trong những danh hiệu của đức Phật, ví đức tính thẳng thắn, dũng mãnh của Ngài như tính can đảm của loài sư tử.
Nhân thiên 人天; C: réntiān; J: ninden;|»Người và Trời«. Hai trong năm (hoặc sáu) nơi mà loài hữu tình tái sinh. Được sinh vào trong hai cõi giới nầy thường được xem là có được quả báo do tạo những »nghiệp lành«; khác với tạo »nghiệp ác«, sẽ có quả báo sinh vào những cõi thấp kém hơn; hoặc là khi đã chuyển hoá toàn bộ nghiệp chướng, sẽ có quả báo sinh vào cảnh giới bậc Thánh (A-la-hán, Duyên Giác, Phật…).
Nhân thiên giáo 人天教; C: réntiān jiāo; J: ninden kyō;|Giáo lí dành cho loài người và trời, giáo pháp đầu tiên trong Năm giáo pháp (Ngũ giáo) do Thiền sư Tông Mật (宗密) sắp xếp. Đó là những giáo lí căn bản về quả báo, để khuyến khích con người có thú hướng sinh về cõi người vã cõi trời.
Nhân thiên nhãn mục 人天眼目; C: réntiān yănmù; J: ninden gan-moku;|Tác phẩm gồm 6 quyển của Trí Chiêu (智昭).
Nhân thú 人趣; C: rénqù; J: ninshu;|Cõi người, nhân gian (人間), nơi thụ sinh làm người (s: manuṣya-gata). một cõi trong lục đạo, lục thú.
Nhân vô ngã 人無我; C: rén wúwǒ; J: ninmuga; S: pudgala-nairātmya, anātman;|Sự hiện hữu của con người là hợp thể của Ngũ uẩn, nên không có một chủ thể nào là thường hằng.
Nhân vương bát-nhã ba-la-mật kinh 仁王般若波羅蜜經; C: rénwáng bōruò bōluómì jīng; J: ninō hanyaharamitsukyō;|Tên gọi đầy đủ trong Đại Chính tân tu đại tạng là Phật thuyết nhân vương bát-nhã ba-la-mật kinh (佛説仁王般若波羅蜜經); thường được gọi tắt là Nhân vương kinh (仁王經), 2 quyển, được Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch sang Hán văn.
Nhân vương bát-nhã kinh sớ 仁王般若經疏; C: rénwáng bānruòjīng shū; J: jinou hannyakyō so;|Gồm 6 quyển, được Cát Tạng (吉蔵) biên soạn.
Nhân vương hộ quốc bát-nhã ba-la-mật kinh 仁王護國般若波羅蜜經; C: rénwáng hùguó bānruò bōluómì jīng; J: ninnō gokoku hannya haramitsu kyō;|Kinh, gồm 2 quyển, được Bất Không (不空) dịch. Là một bộ kinh trí huệ về một vị vua nhân đức hộ trì cho đất nước mình. Có lẽ xuất xứ biên soạn kinh là ở Đông Nam Á. Nội dung kinh gồm có những giải thích về Thập tam không (十三空), Thập tứ nhẫn (十四忍), Nhị đế (二諦).
Nhân vương kinh 仁王經; C: rénwáng jīng; J: ninōgyō;|1. Tên gọi tắt của Nhân vương bát-nhã Ba-la-mật kinh (仁王般若波羅蜜經), được Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch; 2. Tên gọi tắt của Nhân vương hộ quốc bát-nhã ba-la-mật kinh (仁王護國般若波羅蜜經), được Bất Không (不空) dịch.
Nhập A-tì-đạt-ma luận 入阿毘達磨論; C: rù āpídámó lùn; J: nyū abidatsuma ron; S: abhidharma-āvatārapraka-raṇa;|2 quyển; của Tắc-kiến Đà-la (塞建陀羅; s: skandhila); Huyền Trang dịch năm 658. Luận giải được cho là bản giới thiệu về Câu-xá luận (倶舍論; s: abhidharmakośa-bhāṣya), đặc biệt tập trung vào khuôn khổ cấu trúc của 75 pháp (七十五法). Theo Nakamura, những đoạn trong bản được tìm thấy tại Tocharian và bản Tây Tạng cho biết Huyền Trang đã dịch chưa hoàn chỉnh luận nầy. Đã có bản dịch Pháp văn của Van Velthem căn cứ vào bản tiếng Hán và Tây Tạng.
Nhập bồ-đề hành luận 入菩提行論; S: bodhicaryāvatāra; cũng thường được gọi ngắn là Bồ-đề hành luận hoặc Nhập Bồ Tát hạnh luận (s: bodhisattvacaryāva-tāra);|Một tác phẩm của Tịch Thiên (s: śāntideva) rất được coi trọng trong Phật giáo Tây Tạng. Tác phẩm này nêu lên những nét tiêu biểu nhất của Ðại thừa. Bộ sách này được chia thành mười chương và đặc biệt chương thứ 9 nói về lập trường của Trung quán tông (cũng được gọi là Không tông; s: śūnyatāvāda). Văn tự của tác phẩm này rất dễ tiếp thu và có sức truyền cảm sâu đậm mặc dù nó bao hàm rất nhiều lí thuyết khó diễn bày. Có lẽ vì vậy nên Nhập bồ-đề hành luận được lưu truyền và tụng niệm hằng ngày ở Tây Tạng, Mông Cổ, Miến Ðiện, Nepāl. Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 cũng rất nhiều lần diễn thuyết và bình luận tác phẩm này trong những dịp sang châu Âu, Mĩ.|Tịch Thiên miêu tả rất rõ ràng nếp sống của một Bồ Tát, từ lúc phát Bồ-đề tâm thực hành Lục độ cho đến khi đạt trí huệ Bát-nhã. Ðặc biệt là Sư rất đề cao việc phát Bồ-đề tâm, cứu độ tất cả chúng sinh (ba trong mười chương đầu). Ðiều đó cho thấy, Sư không chủ ý viết một quyển sách lí thuyết khô khan. Nhập bồ-đề hành luận là một bài hướng dẫn hành động cụ thể mà ai cũng có thể thực hiện được.
Nhập đại thừa luận 入大乘論; C: rù dàshéng lùn; J: nyū daijō ron;|Luận; gồm 2 quyển; do Kiên Ý (堅意) soạn; Đạo Thái (道泰) cùng nhiều vị khác soạn dịch.
Nhập diệt 入滅; C: rùmiè; J: nyūmetsu;|Có hai nghĩa: 1. Thể nhập vào cõi vắng lặng, sự tịch diệt hoàn toàn thân tâm trong cảnh giới trí huệ tột cùng. Cũng như Nhập tịch (入寂; s: parinirvṛta); 2. Sự tịch diệt của một vị cao tăng Phật giáo.
Nhập Lăng-già kinh 入楞伽經; C: rù lèngqié jīng; J: nyū ryōga kyō; S: laṅkāvatāra-sūtra;|Một bộ kinh Ðại thừa, đặc biệt nhấn mạnh đến tính giác ngộ nội tại, qua đó mọi hiện tượng nhị nguyên đều biến mất, đạt tâm vô phân biệt. Ðó là tâm thức đã chứng được Như Lai tạng (s: tathāgata-garbha) vốn hằng có trong mọi loài. Kinh này chỉ rõ văn tự không đóng vai trò quan trọng gì trong việc trao truyền giáo pháp.|Kinh này có ba bản dịch Hán ngữ: 1. Bản dịch của Cầu-na Bạt-đà-la (s: guṇabhadra) dưới tên Lăng-già A-bạt-đa-la bảo kinh (楞伽阿跋佗羅寶經) 4 quyển; 2. Bản của Bồ-đề Lưu-chi (s: bodhiruci) với tên Nhập Lăng-già kinh (入楞伽經), 10 quyển; 3. Ðại thừa nhập Lăng-già kinh (大乘入楞伽經) của Thật-xoa Nan-đà (śikṣānanda), 7 quyển.|Những thuyết trong kinh này rất gần với quan điểm của Thiền tông. Cùng với kinh Kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa và Ðại thừa khởi tín luận (s: mahāyānaśraddhotpāda-śāstra), kinh Nhập Lăng-già là một trong những bộ kinh Ðại thừa có ảnh hưởng lớn đến Thiền tông Trung Quốc. Người ta cho rằng bộ kinh này do Bồ-đề Ðạt-ma (bodhi-dharma), Sơ tổ thiền Trung Quốc chính tay truyền cho Nhị tổ Huệ Khả. Ngay cả giáo pháp tiệm ngộ (giác ngộ từng bậc) của Thần Tú cũng bắt nguồn từ kinh Nhập Lăng-già này. |Kinh bao gồm 9 chương văn xuôi trộn lẫn với các câu kệ và một chương chỉ toàn văn vần. Kinh này lần đầu được dịch ra Hán văn trong thế kỉ thứ 5. Kinh Nhập Lăng-già được Phật thuyết tại Tích Lan, theo lời mời của một nhà vua xứ này, trong đó Phật trả lời những câu hỏi của Bồ Tát Ðại Huệ (mahāmati). Giáo pháp trong kinh này là nền tảng của Duy thức tông (s: yogācāra, vijñānavāda).
Nhập Lăng-già tâm huyền nghĩa 入楞伽心玄義; C: rùlèngqiéxīn xuányì; J: nyūryōgashin gengi;|Luận giải về kinh Lăng-già (s: laṅkāvatāra-sūtra) của Pháp Tạng (法藏), 1 quyển.
Nhập quán 入觀; C: rùguān; J: nyūkan;|An trú trong thiền định. Ngược với Xuất quán (出觀, theo Kim Cương tam-muội luận 金剛三昧論).
Nhập thai 入胎; C: rùtāi; J: nyūtai;|Vào thai mẹ (s: garbha-avakrānti). Nhập thai tướng (入胎相).
Nhập thai tướng 入胎相; C: rùtāixiāng; J: nyūtaisō;|Một trong 8 giai đoạn (Bát tướng 八相) của cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni. Ngài từ cung trời Đâu-suất nhập vào thai mẹ là Hoàng hậu Ma-da (s: māya). Cũng gọi là Thác thai (托胎).
Nhập tịch 入寂; C: rùjí; J: nyūjaku;|Thể nhập vào cõi vắng lặng, niết-bàn (涅槃). Có hai nghĩa: 1. Mục đích tu tập của hàng Nhị thừa, rốt ráo là thân tâm tịch diệt không còn dấu vết; 2. Sự tịch diệt của một vị cao tăng đồng nghĩa với Nhập diệt (入滅).
Nhập trú 入住; C: rùzhù; J: nyūjū;|Có hai nghĩa: 1. Thể nhập vào và an trụ; giai vị Nhập trú (theo Câu-xá luận 倶舎論); 2. Thể nhập giai vị Thập trú (theo kinh Hoa Nghiêm).
Nhất 一; C: yī; J: ichi; |1. Một, số một, đơn độc (s: eka; t: gcig); 2. Một người nào đó, một vật nào đó (s: ekatya); 3. Giống nhau; số ít, một người, một loại (s: ekadhya).
Nhất âm giáo 一音教; C: yīyīnjiāo; J: ittonkyō;|Còn gọi là: Nhất viên giáo (一圓教). Giáo lí của chư Phật là nhất như. Tư tưởng nầy do Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) lập ra khi sư đến Trường An vào khoảng 502 sau CN. Sở dĩ có nhiều giáo lí như Tiểu thừa-Đại thừa, Không-Hữu là do căn cơ và tính tình của chúng sinh.
Nhật Bản Ðạt-ma tông 日本達磨宗; J: nihon (nippon) daruma-shū;|Một trường phái thiền nhỏ của Nhật Bản được Thiền sư Ðại Nhật Năng Nhẫn (j: dai-nichi nōnin) sáng lập. Tông này được thành lập dựa vào tông Lâm Tế của Trung Quốc và nổi danh là một tông với phương pháp tu tập chân chính.|Tông này không tồn tại được bao lâu vì sau khi thiền đường của họ bị thiêu huỷ (1928) sau một sự tranh chấp với các vị tăng chùa Hưng Phúc (kōfukuji) và sau khi Thiền sư Cô Vân Hoài Trang (j: koun ejō) đến Ðạo Nguyên Hi Huyền (dōgen kigen) tham học. Một thời gian sau, các vị đệ tử quan trọng của Giác Yển (kakuan) – vị kế thừa thứ hai của tông này – như Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai), Nghĩa Diễn (義演; gi'en), Hàn Nham Nghĩa Doãn (寒巖義尹; kangan gi'-in),… đều đến gia nhập dòng thiền Tào Ðộng của Ðạo Nguyên.|Tông này chủ trương »Kiến tính thành phật« (見性成佛; kenshō jōbutsu) và »Kiến tính linh tri« (見性靈知; kenshō reichi), rất chú tâm đến hai bộ kinh Viên giác (engakkyō) và Thủ-lăng-nghiêm (shuryōgongyō). Thiền sư Giác Yển thường trích những phần trong hai bộ kinh này làm tài liệu giảng dạy. Một đặc điểm của tông này nữa là sự tu tập thiền thuần tuý, tránh không pha trộn với những khuynh hướng tu tập thịnh hành khác thời bấy giờ như niệm danh Phật A-di-đà, thực hành các nghi lễ theo Chân ngôn tông (shingon-shū). Tuy vậy, họ cũng không tránh được các ảnh hưởng của các tông giáo khác biệt này và chính sự pha trộn giáo lí của Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai) sau này tại Vĩnh Bình tự (eihei-ji) – Thiền Tào Ðộng của Ðạo Nguyên và Mật giáo – là nguyên do chính của sự chia rẽ của tông Tào Ðộng thế hệ thứ ba sau này.
Nhất Biến 一遍; C: yībiàn; J: ippen;|Thiền sư Nhật Bản, được xem là vị tổ của Thời tông (時宗), một phái của Tịnh độ Phật giáo, có chùa chính là Du Hành tự ở Fujisawa. |Nhất Biến sinh ra trong thời đại quận công Ehime và được học tập rất sớm với với một đệ tử của Pháp Nhiên. Sư xuất gia rồi hoàn tục một lần, nhưng sau đó thay đổi ý định. Sau khi hành hương đến Thiện Quang tự (善光寺; j: zenkōji) ở quận Nagano, sư đến một ngôi chùa hẻo lánh ở Ehime, thực hành pháp tu rất nghiêm mật, cuối cùng, Sư đạt được sự an trú toàn vẹn nơi Phật A-di-đà. Qua kinh nghiệm của mình, Sư trở nên rất tự tin cho rằng với bất kì tầng bực thiết tha tu tập của bất cứ căn cơ nào của chúng sinh, dù nam hay nữ, họ đều có thể được vãng sinh ở Tịnh độ, dù chỉ bằng công đức trì niệm một danh hiệu đức Phật A-di-đà. Sau đó, sư đi khắp nơi trong nước, phát cho mọi người những tờ giấy ghi chép lời chỉ dạy căn bản cho pháp tu Tịnh độ. Có đến hàng ngàn người hành trì theo sự khuyến giáo của sư. Khi biết mình sắp viên tịch vào năm 51 tuổi, sư đốt tất cả nhưng gì sư đã trước tác, nên nay chẳng còn tác phẩm nào của sư lưu hành.
Nhất bút tam lễ 一筆三禮; C: yībǐ sānlǐ; J: ippitsu sanrai;|Nhất đao tam lễ (一刀三禮).
Nhất cá bán cá 一個半個; C: yīgě bàngě; J: ichigohango;|Một thành phần rất nhỏ; rất ít.
Nhất chỉ tiểu tiêu tức 一紙小消息; C: yīzhǐ xiǎoxiāoxí; J: isshi koshōsoku;|Một lá thư riêng của Pháp Nhiên gởi cho một đệ tử của mình ở Kuroda, được lưu lại trong tông môn Tịnh độ, được dùng cho đến ngày nay để chỉ dạy cho những hành giả trong tông môn này. Ngược với bài viết Nhất Mai khởi thỉnh văn (一枚起請文; j: ichimai kishomon), thư này bày tỏ lòng nhiệt thành từ kinh nghiệm cá nhân của Pháp Nhiên về hiệu nghiệm của pháp tu Niệm Phật (念佛; j: nembutsu). Cả hai bản văn Nhất chỉ tiểu tiêu tức và Nhất mai khởi thỉnh văn đều được chư tăng ngày nay sử dụng trong công phu hằng ngày.
Nhất Cú Tri Giáo 一句知教; tk. 16-17|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng pháp hệ thứ 35. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Tịnh Chu ở An Kiết. Một trong những đệ tử đắc pháp của Sư là Thiền sư Thông Giác, người Việt Nam. Với Thông Giác, Thiền Tào Ðộng được truyền sang miền Bắc Việt Nam lần đầu tiên.|Trong thời du phương, Sư có dịp yết kiến Thiền sư Tịnh Chu và đắc pháp nơi đây.|Sau, Sư từ biệt thầy về núi Phụng Hoàng, Hồ Châu giáo hoá. Nơi đây, Sư khai đường dạy chúng. Học giả bốn phương quy tụ về đây rất đông.|Sắp tịch, Sư truyền pháp cho đệ tử Thông Giác và bài kệ:|春色色草茸茸|萬宇枝條開切切。一莖楊發產重重|水浸月圓澄海底。山頭日出露巖峰|Xuân sắc sắc, thảo nhung nhung|Vạn vũ chi điều khai thiết thiết|Nhất hành dương phát sản trùng trùng|Thuỷ tẩm nguyệt viên trừng hải để|Sơn đầu nhật xuất lộ nham phong.|*Xuân sặc sỡ, cỏ như nhung|Khắp chốn ngàn cây bông trổ gấp|Một cành dương liễu nẩy trùng trùng|Trăng chìm đáy biển nước sóng lặng|Ðỉnh núi nhật lên bày chót cao.|Nói kệ xong, Sư từ giã chúng ngồi yên mà hoá.
Nhất Cửu 一九; C: yījiǔ; J: ichikū;|Một cách gọi xưng danh Phật A-di-đà của tông Chân Ngôn.
Nhất đại 一代; C: yīdài; J: ichidai;|Nghĩa là một thời đại, có liên hệ đến bậc giáo chủ của thời đại này là Phật Thích-ca Nâu-ni.
Nhất đại tam đoạn 一代三段; C: yīdài sānduàn; J: ichidai-sandan;|Chỉ ba thời đoạn giáo hoá của đức Phật, được hiểu là thời gian đầu, những pháp hội chính và thời gian trước khi ngài nhập Niết-bàn.
Nhất đại tạng giáo 一大藏教; C: yīdàcángjiāo; J: ichidaizōkyō;|Toàn bộ giáo lí nhà Phật được chứa trong Ðại tạng, trong Tam tạng.|Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần trình bày như sau trong Bích Nham lục, lời thuỳ thị của Công án thứ hai: Ngay cả chư Phật quá khứ, hiện tại và vị lai — chư vị cũng chỉ tự biết. Các vị Tổ sư từ đời này sang đời khác — họ cũng không thể trình bày toàn vẹn. Nhất đại tạng giáo và những bài chú giải cũng không thể nào diễn bày hết tất cả. Và cũng có nạp tăng tự cho mình có mắt sáng — họ không biết tự cứu như thế nào (設使三世諸佛只可自知,暦代祖師全提不起,一大藏教詮注不及,明眼衲僧自救不了).
Nhất đạo nghĩa 一道義; C: yīdàoyì; J: ichidougi;|Luận nói về giáo lí Nhất thừa của Nguyên Hiểu (元曉; k: wǒnhyo).
Nhất đao tam lễ 一刀三禮; C: yīdāo sānlǐ; J: ittō sanrai;|Nghĩa là một nhát đao hạ xuống thực hiện ba lễ. Khi tạc hình tượng Phật, đều phải đảnh lễ Tam bảo ba lần trước khi thực hiện mỗi nét chạm khắc. Tương tự cũng có thành ngữ Nhất bút tam lễ (一筆三禮) và Nhất tự tam tạng (一字三蔵) biểu thị cùng một quy tắc cho giới hoạ sĩ và văn sĩ.
Nhất dị 一異; C: yīyì; J: ichi-i;|Một và nhiều; đồng nhất và dị biệt.
Nhất Hạnh 一行; 683-727; cũng được gọi là Nhất Hạnh Thiền sư.|Cao tăng đời Ðường, được xem là trong tám vị Tổ chủ trương Phó thụ bát tổ (傅授八祖) của tông Chân Ngôn.|Sau khi cha mẹ mất một cách đột ngột, sư đầu tiên làm quen với Ðạo giáo. Sau đó, sư đến vị Tổ thứ bảy của Bắc tông thiền là Phổ Tịch (普寂; 631-739) tu học Thiền, rồi đến học Luật nơi Huệ Chân (惠眞; 673-751), một đệ tử của Hoằng Cảnh (弘景). Thêm vào đó, trong khoảng thời gian lưu lại ở dãy Thiên Thai, sư nghiên cứu Toán học, Thiên văn học cũng như cách bói toán theo Ðạo gia, một biệt tài trứ danh của sư sau này. Năm 716, sư trở thành môn đệ của Thiện Vô Uý (善無畏), sau đó được mời vào cung của Huyền Tống. Sư cũng được Kim Cương Trí (金剛智) hướng dẫn vào những kĩ thuật tu học của Mật giáo sau cuộc hội ngộ lần thứ nhất vào năm 720. Tác phẩm lớn nhất của sư, một bài sớ vĩ đại về kinh Ðại Nhật với tên Ðại Nhật kinh sớ được hoàn tất vào năm 725. Sư cũng được xem là người phát minh ra đồng hồ chạy bằng dây thép xoắn.
Nhất hạnh tam-muội 一行三昧; C: yīxíng sānmèi; J: ichigyō zanmai; S: ekavyūha-samādhi.|Chuyên một công phu tu tập chính định. Chính định viên mãn hợp nhất thân tâm trong mọi công hạnh (theo Văn-thù Sư-lợi thuyết Ma-ha bát-nhã ba-la-mật kinh 文殊師利説摩訶般若波羅蜜經, Khởi tín luận 起信論).
Nhất hoá 一化; C: yī huà; J: ichike;|Chỉ một cuộc đời hoằng hoá của đức Phật, của các vị Tổ sư.
Nhất hồi chu 一回周; C: yīhuízhōu; J: ikkaishū;|Ngày giỗ đầu tiên sau khi mất. Còn gọi là Nhất hồi kị (一回忌).
Nhất hồi kị 一回忌; C: yīhuíjì; J: ikkaiki;|Ngày giỗ đầu tiên sau khi mất. Còn gọi là Nhất hồi chu (一回周).
Nhất hướng 一向; C: yīxiàng; J: ikkō;|1. Nhiệt tình, chỉ nhắm tới một mục đích, không mong mỏi điều gì khác ngoài mục đích đang dự tính. Tha thiết, nhiệt thành; 2. Hoàn toàn, toàn vẹn, đầy đủ (s: eka-aṃsa); 3. Triệt để, cho đến mức có thể được; 4. Chỉ riêng về một hướng, chỉ có, chỉ là.
Nhất hướng thuyết 一向說|Nghĩa là »Phật lúc nào cũng dạy một điều duy nhất«.
Nhất hướng xuất sinh Bồ Tát kinh 一向出生菩薩經; C: yīxiàng chūshēng púsà jīng; J: ikkō shusshō bosatsu kyō;|Tên gọi khác của bản Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經).
Nhất Hưu Tông Thuần 一休宗純; J: ikkyū sōjun; 1394-1481;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế (j: rinzai), hệ phái Ðại Ðức tự (j: daitokuji-ha). Sư là một trong những Thiền sư danh tiếng nhất của Thiền tông Nhật Bản. Với phong điệu của một »Cuồng Thánh«, Sư đả phá những phong cách tệ mạt trong những thiền viện lớn mà Sư cho rằng đang trên đường tàn lụi. Cách sống và giáo hoá của Sư vượt trên tất cả những tục lệ và vì vậy có rất nhiều tích nói về Sư, phần đúng, phần huyền hoặc.|Tương truyền Sư là con của một cung phi, bị Nhật hoàng hất hủi khi mang thai Sư. Lên năm tuổi, Sư được mẹ gửi vào một ngôi chùa gần nhà. Năm lên mười ba, Sư đến Kiến Nhân tự (kennin-ji) nhưng chỉ khoảng bốn năm sau đó, Sư rời chùa này vì không hài lòng với phong cách sinh hoạt quá phàm tục của những vị tăng tại đây. Sư đến tham học với Khiêm Ông (gen'ō) – một vị tăng độc cư tu tập – và cũng có chút sở đắc nơi đây nhưng không bao lâu, Khiêm Ông tịch và Sư lại phải lên đường cầu đạo.|Chỉ một năm sau, Sư tìm được vị chân sư của mình là Hoa Tẩu Tông Ðàm (華叟宗曇; kesō sōdon, 1352-1428), vị trụ trì của Ðại Ðức tự. Hoa Tẩu không ở tại chùa Ðại Ðức mà lại ngụ tại một am gần đó để tránh sự náo nhiệt, phong cách quá nhập thế của một Thiền viện thời đó. Sư lưu lại đây chín năm và và kiên nhẫn chịu đựng phương pháp tu tập rốt ráo của Hoa Tẩu. Nhân khi tham Công án thứ 15 của tập Vô môn quan – với tên Ðộng Sơn (Thủ Sơ) ba hèo (Ðộng Sơn tam đốn) – Sư có ngộ nhập. Không bao lâu sau, trong khi toạ thiền trên một chiếc thuyền, Sư nhân nghe một con quạ kêu to bỗng nhiên ngộ đạo. Sư bèn trình Hoa Tẩu và được vị này Ấn khả. Sư không nhận ấn chứng này và có thuyết bảo rằng, Sư xé bỏ bản ấn chứng này ngay sau khi nhận. Sư tự tin rằng, kinh nghiệm giác ngộ của ai chỉ có người ấy biết và không ai có thẩm quyền quyết định được cái thật hoặc giả của kinh nghiệm giác ngộ của Sư. Với những hành động này, Sư đảo ngược truyền thống ấn chứng của Thiền tông và chính Sư cũng không ấn chứng cho ai trong cả cuộc đời hoằng hoá của mình. Mặc dù vậy, Sư ở lại hầu cho đến lúc Hoa Tẩu viên tịch (1428).|Trong suốt một thời gian khoảng 30 năm, Sư không dừng chân nơi nào, chỉ chu du tuỳ duyên hoằng hoá nơi quần chúng. Sư tiếp xúc với mọi tầng cấp của xã hội Nhật thời bấy giờ như quan tước, võ sĩ, văn hào, nghệ sĩ… và cả kĩ nữ, và Sư đặc biệt đề cao tính tình chất phác của họ. Con đường hoằng hoá quần chúng của Sư đi xa, cũng có nhiều người cho rằng đi quá xa so với giáo lí của nhà Phật. Sư không để ý gì đến Giới luật, ăn thịt cá, mê rượu, gái. Một mặt Sư chê bai, than trách về tư cách đạo đức giả, gian trá của các vị tăng tại những Thiền viện lớn bấy giờ, mặt khác Sư lại rất chú tâm đến việc phổ biến Phật pháp trong quần chúng và các hành động »phá giới« của Sư nêu trên đều có thể xem là trùng hợp với việc thực hành Phật pháp của phần lớn của Phật tử nằm ngoài Tăng-già thời bấy giờ. Sư viết: »Thời xưa, mọi người có tín tâm đều vào cửa chùa, nhưng ngày nay tất cả đều rời chùa. Nếu nhìn kĩ thì người ta sẽ thấy rằng, các phường chủ không biết gì – không tham thiền, chẳng quán công án mà chỉ chú tâm đến vật chất, trang trí bồ đoàn. Họ rất tự hào về ca-sa của họ nhưng mặc dù họ mang ca-sa, họ cũng chỉ là phàm phu thay áo. Dù họ mang ca-sa, ca-sa cũng trở thành dây xích, gậy sắt trói buộc, hành hạ thân họ.«|Sư chỉ trích mạnh mẽ sự tôn thờ và ham muốn thác sinh nơi Cực lạc Tịnh độ của Phật tử. Sư dạy: »Nếu ai thanh lọc tâm địa và Kiến tính, người ấy chẳng còn muốn tái sinh cõi Phật, chẳng còn sợ địa ngục, chẳng còn phiền não phải đoạn, chẳng còn phân biệt thiện ác; người ấy đã đạt tự do tự tại trong sinh tử luân hồi, muốn tái sinh vào nơi nào cũng được – chỉ khi tâm người ấy mong cầu.« Vì thế mà Sư chế nhạo tất cả những phong tục có tính cách mê tín dị đoan như đốt đèn, cầu cúng, dâng lễ vật cho người chết và tụng kinh cầu siêu cầu an.|Sư tự gọi mình là »Cuồng Vân« (狂雲; kyōun) và rất nhiều câu chuyện thú vị về việc tuỳ cơ hoằng hoá và nhạo đời của Sư được lưu truyền. Một lần nọ, Sư khất thực tại một nhà giàu sang với quần áo rách rưới dơ bẩn và chỉ nhận được nửa xu. Sau đó, Sư thay y phục, mặc ca-sa tía đến khất thực và được mời ngay vào nhà dùng cơm cùng với gia đình. Sư liền cởi áo tía ra, đặt nó vào ngay chỗ ngồi ăn và bảo rằng: »Bữa ăn thịnh trọng ngày hôm nay không phải dành cho ta mà là áo ca-sa tía này.«|Tính tình chân chính, phong cách tự do, bất lệ thuộc của Sư chính là nguyên do vì sao Sư rất được quần chúng mộ đạo yêu thích. Sư là một trong những vị Thiền sư nổi danh nhất thời trung cổ của Nhật Bản. Năm 1456, Sư nhận lời trụ trì Diệu Tâm tự (myōshinji) và sống tại một am gần đó. Từ đây, Sư được các vị tăng dần dần chấp nhận, tôn kính, ngay cả những vị mà ngày xưa Sư chỉ trích thậm tệ. Vào những năm cuối đời, Sư được cử trụ trì Ðại Ðức tự (daitoku-ji). Không bao lâu sau – vào năm 1481 – Sư viên tịch, thọ 87 tuổi.
Nhất khoả minh châu 一顆明珠; C: yīkē míngzhū; J: ikkamyōju;|Viên ngọc báu sáng ngời. Một tiểu luận của Đạo Nguyên Hi Huyền, lập trên cơ sở lời trần thuật của sư Huyền Sa Sư Bị: »Mười phương thế giới đều là hạt minh châu.« Luận giải nầy là một chương trong tác phẩm Chính pháp nhãn tạng (正法眼藏; j: shōbōgenzō).
Nhất lai 一來; C: yīlái; J: ichirai; S: sakṛḍāgāmin; P: sakaḍāgāmin; phiên âm Hán Việt là là Tư-đà-hàm (斯陀含);|Chỉ các bậc thánh đã đạt được quả giai đoạn hai của Thánh đạo (s: ārya-mārga). Các vị đó đã đoạn diệt gần hết ba gốc Bất thiện (s: akuśala) là Ba độc tham, sân và si, chỉ còn sinh lại một lần nữa trước khi đạt Niết-bàn.|Thánh quả Nhất lai là một trong Tứ quả (p: cātvariphalani) trên con đường tu tập trở thành một bậc A-la-hán. Thánh quả này được chia làm hai thành phần: 1. Nhất lai hướng (一來向), nghĩa là người vừa bước nhập quả vị và 2. Nhất lai quả (一來果), người đã thành tựu quả vị này. Hành giả chứng đắc quả vị nầy là đã chuyển hoá toàn triệt sáu loại đầu tiên trong chín loại phiền não (Cửu chủng phiền não 九種煩惱); hành giả ấy sẽ tái sinh một lần nữa trong cõi trời hay cõi người, rồi sau đó chứng nhập Niết-bàn. Cũng được gọi là Đệ nhị quả.
Nhất lai hướng 一來向; C: yīláixiàng; J: ichiraikō;|Hành giả đang thể nhập vào quả vị Nhất lai.
Nhất lai quả 一來果; C: yīláiguǒ; J: ichiraika; S: sakṛ-dāgāmi-phala.|Hành giả đã hoàn thành viên mãn quả vị Nhất lai. Nhất lai.
Nhật Liên 日蓮; C: rìlián J: nichiren; 1222-1282;|Cao tăng Nhật Bản, Khai tổ tông Nhật Liên. Theo quan niệm của Sư, biểu hiện cao quý tuyệt đỉnh của Phật pháp chính là Diệu pháp liên hoa kinh và chỉ bộ kinh này mới có thể cứu độ chúng sinh. Sư còn cho rằng, tinh hoa của Phật giáo đã trọn vẹn cô đọng lại trong tên của kinh này và vì vậy, phương pháp tu hành chính của tông này là niệm câu »Nam-mô diệu pháp liên hoa kinh« (j: namu myōhō reng-kyō). |Nhật Liên là người chỉ trích mọi trường phái khác của Phật giáo, muốn đưa Nhật Liên tông làm quốc giáo. Sư chỉ trích cả chính quyền đương thời và cuối cùng bị lên án tử hình nhưng được cứu thoát trong một trường hợp lạ lùng, sau đó bị lưu đày trên một hòn đảo. Nhật Liên trở về Liêm Thương (kama-kura) năm 1274 và tám năm sau thì mất.|Sư là con một ngư phủ nghèo tại miền Nam nước Nhật, xuất gia thụ giới năm 15 tuổi tại chùa Thanh Trừng ở quê. Trên đường tìm đạo, Sư đến Liêm Thương (kamakura) và sau đó lên núi Tỉ Duệ (hieizan), trung tâm của Thiên Thai tông Nhật Bản. Sư nhận thấy Thiên Thai tông với giáo pháp theo Diệu pháp liên hoa kinh rất gần với tư tưởng của mình. Năm 1253, Sư trở về chùa cũ vì thấy kinh Diệu pháp liên hoa không còn đóng vai trò quan trọng nữa trong Thiên Thai tông. Sư tự lập ra môn phái mới và cho rằng chỉ có Diệu pháp liên hoa mới cứu độ con người, là con đường duy nhất dẫn đến giải thoát. Quan điểm của Sư rất cực đoan, cho rằng chỉ cần tụng đọc tên bộ kinh này là đủ. Vì thế mà Sư bị trục xuất ra khỏi chùa. Sau đó Sư truyền bá giáo pháp của mình ngay ngoài đường ngoài chợ và công kích mãnh liệt các tông phái khác. Sư tuyên truyền rằng Tịnh độ tông (jōdō-shū) chỉ dẫn người ta xuống địa ngục, Pháp Nhiên (hōnen, người sáng lập Tịnh độ tông) là »kẻ thù của chư Phật«, chịu trách nhiệm về tình trạng lụn bại tại Nhật. Thiền tông (zen-shū) chỉ là tông phái của ma quỷ, Chân ngôn tông (shingon-shū) là sự khánh kiệt và Luật tông (ritsu-shū) là sự phản bội. Sư cho rằng, muốn cứu nước Nhật cần thống nhất các môn phái dưới giáo pháp của kinh Diệu pháp liên hoa. Cuối cùng Sư bị lưu đày trên đảo Tá Ðộ (sado). Nơi đây, Sư viết một số tác phẩm và tự xem mình là tái sinh của hai vị Bồ Tát có trách nhiệm cứu quốc và truyền bá kinh Diệu pháp liên hoa. Sư coi trọng đại nguyện phải truyền bá giáo pháp này trong thời mạt pháp và chịu đựng mọi gian khổ.|Tác phẩm chính của sư gồm Quán tâm bản tôn sao (觀心本尊抄, j: kanjin honzon shō), Tuyển thời sao (撰時抄, j: senji shō), và Thủ hộ quốc gia luận (守護國家論, j: shugo kokka ron).
Nhật Liên tông 日蓮宗; C: rìliánzōng; J: nichiren-shū;|Một tông phái Phật giáo Nhật Bản, lấy tên của vị tổ sáng lập là Nhật Liên. Giáo pháp của tông phái này đặt nền tảng trên bộ Diệu pháp liên hoa kinh và danh hiệu phải niệm hàng ngày chính là tên của bộ kinh đó. Tông này có tính chất quốc gia cực đoan, muốn xây dựng một nền Phật giáo Nhật Bản rồi bành trướng ra ngoài. Qua thế kỉ 20, một khuynh hướng của Nhật Liên tông mới (Nhật liên chân tông, j: nichiren-shō-shū) ra đời với Nikko, xem Nhật Liên là »đức Phật thời mạt pháp« Nhật Liên tông có nhiều ảnh hưởng đến các tôn giáo quần chúng tại Nhật.|Giáo lí chủ yếu của tông nầy là Ngũ thời phán giáo và Tam đại bí pháp (三大祕法). Thứ nhất là Man-đa-la do Nhật Liên sáng tạo, trình bày giáo pháp Diệu pháp liên hoa. Ở giữa Man-đa-la này là hình một ngôi chùa, ngôi chùa tượng trưng cho Như Lai (s: tathāgata). Ngôi chùa này cũng diễn tả năm âm của tên kinh Diệu pháp liên hoa. Chung quanh tên này người ta thấy tên các vị Bồ Tát hoặc thiên nhân bảo hộ kinh. Di bảo thứ hai chỉ là đơn thuần tên kinh Diệu pháp liên hoa. Tụng đọc danh hiệu kinh này, hành giả sẽ thanh lọc Thân, khẩu, ý và thay thế luôn cho việc quy y Tam bảo. Di bảo thứ ba là một Khai đàn. Khai đàn mới đầu chỉ là một bục dùng để mở lễ truyền pháp quán đỉnh trong thiền viện nhưng được Nhật Liên đưa lên thành vật tượng trưng. Bản thân nước Nhật cũng là một Khai đàn. Quan điểm này cuối cùng tượng trưng cho đầu óc quốc gia cực đoan của giáo phái.
Nhật Nguyệt Đăng Minh Phật 日月燈明佛; C: rìyuèdēngmíng fó; J: nichigatsutōmyō butsu;|Đức Phật có hào quang sáng chói của mặt trời, mặt trăng và đèn (s: candra-sūrya-pradīpa-buddha). Đức Phật được đề cập trong kinh Pháp Hoa, vị Phật thường giảng thuyết cùng một bài pháp vô lượng kiếp trong quá khứ.
Nhất Nhiên 一然; C: yīrán; J: ichinen; K: iryǒn (1206-1289);|Một vị cao tăng Hàn Quốc vào thời Cao Li (k: koryǒ). Là nhà văn sáng tác sung sức nhất, nổi tiêng với tác phẩm Tam quốc di sự (三國遺事; k: samguk yusa), là một tập hợp những sự kiện và giai thoại làm nền tảng khoa giáo cho việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn Quốc.
Nhất như 一如; C: yīrú; J: ichinyo;|Là cái »Một«, »Không hai«; 1. Sự vô phân biệt giữa cái này cái nọ; 2. Nguyên tắc căn bản của tất cả những hiện hữu, đồng nghĩa với Chân như (眞如), Pháp tính (法性), Thật tướng (實相); 3. Lúc nào cũng như thế.
Nhất niệm 一念; C: yīniàn; J: ichinen;|Một ý nghĩ, một ý niệm, một khoảnh khắc của một ý nghĩ.
Nhất niệm bất sinh 一念不生; J: ichinen-fushō;|Có nghĩa là »một ý nghĩ cũng không phát sinh ra«; theo Thiền tông thì khi tâm thức của một người bình thường không sản sinh ra một ý niệm vô minh nào thì chính ngay lúc ấy người này là Phật. Nhất niệm bất sinh được dùng để chỉ một trạng thái thoát khỏi mọi khái niệm, vô minh, cảm giác – một trạng thái chỉ có thể thực hiện được bằng cách Toạ thiền (j: zazen) và trạng thái này cũng chính là toạ thiền trong dạng thuần tuý nhất.
Nhất niệm vạn niên 一念萬年; J: ichinen-mannen;|Nghĩa là khoảnh khắc của một khái niệm bằng mười ngàn năm và ngược lại; biểu đạt này được dùng để miêu tả kinh nghiệm của các vị Thánh nhân của tất cả các thời đại, các nền văn hoá. Thành ngữ này muốn diễn tả rằng, đối với các bậc giác ngộ thì thời gian không có thật – theo quan niệm thông thường. Dưới cái nhìn của các vị này thì một khoảnh khắc của một niệm, một nhận thức, một Sát-na chính là vĩnh cửu (chữ vạn trong tiếng Hán được dùng để chỉ một con số rất lớn, vô lượng). Biểu thị »Nhất niệm vạn niên« được tìm thấy trong bản Tín tâm minh của Tam tổ Tăng Xán.
Nhất phần 一分; C: yīfēn; J: ichibun;|Một phần, từng phần, cục bộ, không hoàn chỉnh. Phản nghĩa với toàn phần, cụ phần (具分).
Nhất phần Bồ Tát 一分菩薩; C: yīfēn púsà; J: ichibun bosat-su;|Chỉ một vị Bồ Tát chỉ thụ nhận và thực hành một phần giới bản (theo Bồ Tát Anh Lạc bản nguyện kinh 菩薩瓔珞本業經).
Nhất phần gia 一分家; C: yīfēnjiā; J: ichibunke;|Một nhánh của Duy thức tông do An Huệ (安慧; s: sthiramati) đề xướng. Sư chủ trương – đối nghịch với giáo thuyết cho rằng thức có ba hoặc bốn phần –, thức chỉ có một phần. Luận điểm nầy được tranh cãi nhiều trong trường phái của Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla). Họ cho rằng nầy cho rằng thức có bốn phần (四分).
Nhất pháp giới 一法界; C: yīfǎjiè; J: ichihokkai;|Chỉ một pháp giới; riêng một pháp giới. Chỉ một, độc nhất, tuyệt đối một pháp giới hiện hữu. Nơi duy nhất bao gồm và lưu xuất tất cả các pháp (theo Khởi tín luận 起信論).
Nhất pháp trung đạo 一法中道; C: yīfǎ zhōngdào; J: ippōchūdō;|Trong giáo lí Duy thức, chỉ quan niệm rằng mỗi một tính trong Tam tính (三性), tự nó đã chứa sẵn đầy đủ ý nghĩa Trung đạo. Nghĩa là, theo tính »biến kế sở chấp« thì »nhân hữu« – con người thì hiện hữu –, và »pháp không« pháp giới không hiện hữu. Ý nghĩa Trung đạo ở đây là »nhân không pháp không.«
Nhất Phật thế giới 一佛世界; C: yīfó shìjiè; J: ichibutsusekai;|Cõi Phật, thế giới Phật.
Nhất phương 一方; C: yīfāng; J: ippō;|1. Một bên, một mặt; 2. Phía bên kia, phần bên kia; 3. Trong lúc ấy; 4. Rất, lắm.
Nhất Sơn Nhất Ninh 一山一寧; C: yīshān yīníng; J: issan ichinei; 1247-1317;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế. Sau khi nhà Tống bị Mông Cổ lật đổ, Sư được Nguyên Thành Tông cử đến Nhật Bản để nối lại mối quan hệ – vốn bị gián đoạn từ khi Mông Cổ cố gắng xâm lấn nhiều lần. Sư vừa đặt chân lên đất Nhật (1299) liền bị nghi là gián điệp, bị bắt giam. Sau khi được tha, Sư được cử trụ trì Kiến Trường tự (kenchō-ji), năm 1302 trụ trì Viên Giác tự (engaku-ji) và năm 1312, Thiên hoàng Hậu Ðề Hồ (go-daigo) cử Sư làm Phương trượng chùa Nam Thiền (nanzen-ji) tại Kinh Ðô (kyōto).|Sư nổi danh không chỉ là một Thiền sư mà còn là một nghệ sĩ xuất trần, một hoạ sĩ tinh thông Thư pháp (Thư đạo; j: shōdō).|Cùng với môn đệ người Nhật là Tuyết Thôn Hữu Mai (sesson yūbai, 1290-1346), Sư được xem là vị Khai tổ của phong trào văn hoá Ngũ sơn (Ngũ sơn văn học). Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki) – cũng một thời gian tu học với Sư – là người đã góp phần lớn trong việc giúp đỡ các Thiền viện tại Kinh Ðô trở thành những trung tâm của văn hoá, nghệ thuật và khoa học với sắc thái Trung Quốc rõ rệt.
Nhất sư ấn chứng 一師印證; J: isshi-injō; nghĩa là »sự ấn khả chứng minh của một vị thầy«;|Chỉ sự tu tập của một thiền sinh dưới sự hướng dẫn của một vị thầy duy nhất. Sự cần thiết của nhất sư ấn chứng được Thiền tông – nhất là tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū) – tại Nhật Bản đề cao từ khoảng thế kỉ 17 để chống lại khuynh hướng chạy tới chạy lui qua nhiều vị thầy của các thiền sinh thời bấy giờ.|Việc tu học trong Thiền tông dưới một vị thầy khác với cái học nơi thế tục ở một điểm: nơi đây thiền sinh không được học suông (tri) rồi truyền cái học suông này cho người khác mà còn phải thực hiện cái chân lí đã được học qua lí thuyết ngay ở chính mình, cứ như người khát nước uống nước (hành). Chỉ khi nào tri và hành hợp nhất thì thiền sinh mới có thể hi vọng một ngày nào đó sẽ Kiến tính (kenshō) ngộ đạo. Vì lí do này mà niềm tin và sự tu tập nơi một vị thầy – trong một tông phái tự gọi là Phật tâm tông và chủ trương việc Dĩ tâm truyền tâm – được xem là tối trọng. Mà cũng có khi một vị thầy nhìn nhận ra khả năng cao tột của một thiền sinh mới đến – nhưng thấy cơ duyên của thiền sinh này không hợp nơi mình thì vị này cũng gửi thiền sinh này đi nơi khác. Việc gửi các môn đệ đi học qua lại nhau của hai vị Mã Tổ Ðạo Nhất và Thạch Ðầu Hi Thiên là những ví dụ hay nhất của phương pháp giảng dạy này.|Vì trong Thiền tông không có bản quy định, thước đo cụ thể cho việc ấn chứng nên các Lão sư (j: rōshi) chỉ có thể hướng dẫn và ấn chứng cho một đệ tử theo khả năng, trình độ đã đạt của mình và một sự hướng dẫn gần gũi trực tiếp. Một khi sự hướng dẫn của một vị thầy bị gián đoạn thì vị thầy sau không thể tiếp nối việc này một cách hoàn hảo. Thiền sinh vì vậy phải có niềm tin vững chắc nơi vị thầy – sau khi đã tìm được vị thích hợp – và chỉ học với vị này mà thôi. Sau khi thiền sinh đã đạt mức độ giác ngộ của vị thầy thì có thể Hành cước đây đó để trau dồi kinh nghiệm qua những cuộc Vấn đáp (j: mondō), cũng thường được gọi là Pháp chiến (j: hossen) với các vị Thiền sư khác.
Nhất tâm 一心; C: yīxīn; J: ishin; P: ekāgattā; S: svacitta-mātra, eka-agra, eka-citta, dhyāna.|Tâm. 1. Là nền tảng căn bản nhất. Là chân như của mọi hiện hữu. »Nhất« nghĩa thông thường là đồng nhất với tuyệt đối. ›Tâm‹ có nghĩa là ›chắc thật‹. Cũng vậy, nhất tâm là căn bản của toàn thể hữu tình. Là thực tại tuyệt đối căn bản của mọi hịên tượng trong vũ trụ. Đây là tư tưởng trung tâm của Đại thừa khởi tín luận (起信論), trong đó, Nhất tâm được xem là đồng nhất với Pháp thân (法身; s: dharmakāya) và Pháp giới (法界; s: dharmadhātu); 1. Hợp nhất tâm, do vậy, nên gọi ›hợp nhất tinh thần‹ hay là sự tập trung tâm ý. Tâm an trú vào đức Phật A-di-đà khi quán tưởng đến ngài; 3. Tập trung toàn tâm toàn ý một cách nhiệt thành, không để cho tán loạn.
Nhất tam-muội 一三昧; C: yīsānmèi; J: ichisanmai;|Tâm an trú vào cảnh giới nhất như, tâm đạt định; viết tắt của Nhất hạnh tam-muội (一行三昧)
Nhất thân 一身; C: yīshēn; J: isshin;|1. Một thân, một người; 2. Chỉ một đời; đời nầy (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Nhất thật viên tông 一實圓宗; C: yīshíyuánzōng; J: ichijitsu-enshū;|Tên gọi khác của tông Thiên Thai (天台宗).
Nhất thể 一體; J: ittai;|Chỉ kinh nghiệm »là một« với vũ trụ khi chứng ngộ chân lí. Tất cả những hiện tượng, tất cả các pháp chẳng khác Nhất thể, đều quy về Nhất thể.
Nhất Thiền 一禪; C: yīchán; J: ichizen; K: ilsǒn (1533-1608);|Nguyên là Thiền sư Hàn Quốc, thời đại Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), là một trong bốn vị đệ tử thượng thủ của Hưu Tĩnh (休靜; k: hyujǒng).
Nhất thiết 一切; C: yīqiē; J: issai;|Toàn thể, tất cả. Cũng được dịch ý ra chữ Hán là: phổ (普), biến (遍), cụ (具).|Nhất thiết bí mật tối thượng danh nghĩa đại giáo vương nghi quỹ |一切祕密最上名義大教王儀軌; C: yīqiè mìmì zuìshàng míngyì dàjiàowáng yíguǐ; J: issai himitsu saijō myōgi daikyō ō giki;|Hai quyển, gọi tắt là Bí mật danh nghi quỹ (祕密名儀軌), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch vào năm 1009 sau C.N. Là bản kế tục có tính chất luận giải (s: akhyānatantra) của Chân thật nhiếp kinh (眞實攝經; s: tattvasaṃgraha). |Phần lớn nghi quỹ nầy luận giải về ý nghĩa của các ý niệm tương ưng của Du-già (Tứ ấn, các tiến trình của Định…) và tên gọi của 37 vị Thánh trong kinh Chân thật nhiếp. Đó là một cuộc luận chiến liên tục chống lại đạo đức quy ước và việc thực hành các lễ nghi được xem là vô ích trong việc tu tập giải thoát. Thay vì vậy, nghi quỹ nầy nhấn mạnh toàn triệt vào các phương pháp quán sát bản tâm, như sự nhận ra tham, sân, si chẳng khác gì hơn là Như Lai – như là tiền đề cho giáo lí căn bản của Mật giáo sau nầy, đặc biệt là giáo lí trong Bí mật tập hội (祕密集會; s: guhyasamāja). Theo chiều hướng này, một đoạn văn được trích dẫn rất thường, có vẻ như tán thành việc thực hiện những chuyện đồi bại như giết hại, nói dối, trộm cắp và dâm dục. Bản dịch của Thí Hộ đã làm khó hiểu đoạn văn nầy – những đoạn khác thì hoàn toàn tối nghĩa –, cũng như lược bỏ nhiều thuật ngữ đề cập đến giới tính trong kinh văn Du-già (chẳng hạn dùng chữ Tướng giả 相者 để thay cho linga; dùng chữ Phá giả 破者 để thay cho bhaga. Tuy nhiên, cũng đáng chú ý khi Ratnākaraśānti giữ thái độ trung hoà dối với những thuật ngữ nầy trong luận giải của mình mang tên Śrīsarvarahasyanibaṃdho-rahaḥpradīpo-nāma; chẳng hạn sư viết: người ta nên giết chết ý tưởng về chúng sinh. Thay vì bản dịch tiếng Anh, chỉ có luận giải bằng tiếng Ấn Độ, cùng với toàn kinh văn tiếng Tây Tạng. (Xin xem Thần bí tư tưởng luận tập của Wayman, Alex: The Sarvarahasyatantra, Acta Indologica 神秘思想論集; về tác phẩm nghiên cứu trước đây của Nhật Bản từ bản dịch tiếng Tây Tạng, xem Mai Vĩ Tường Vân 栂尾祥雲; j: toganō shoūn: Issai himitsusaijō myōgi kyō no kenkyū 一切祕密最上名義經の研究, Studies in the Sarvarahasya-nāma-tantrarāja).
Nhất thiết chủng trí 一切種智; C: yīqiē zhǒngzhì; J: ichisetsu-shuchi; S: sarva-ākāra-jña-tā, sarvajña-jñā-na.|1. Trí hiểu biết rộng khắp, trí huệ bao trùm khắp tất cả; trí huệ nhận biết sự khác biệt giữa từng hiện tượng trong pháp giới; 2. Trí huệ nhận biết tất cả mọi hiện tượng; như Nhất thiết trí (一切智); 3. Huệ giác viên mãn của chư Phật (佛智).
Nhất thiết công đức trang nghiêm vương kinh 一切功德莊嚴王經; C: yīqiè gōngdé zhuāngyánwáng jīng; J: issai kudoku shōgonnō kyō; S: sarvadharmaguṇavyūharāja-sūtra; T: chos thams cad kyi yon tan bkod pa'i rgyal po|Kinh, 1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch.
Nhất thiết duy tâm tạo 一切唯心造|Nghĩa là »tất cả đều được tâm tạo«, không có gì nằm ngoài tâm, tất cả đều là sự chuyển biến của thức (thức biến); Duy thức tông, Pháp tướng tông.
Nhất thiết hạnh (hành) 一切行; C: yīqiēxíng; J: issaigyō;|Tất cả các sự tạo tác, các hoạt động (của thân, khẩu, ý). Tất cả mọi những hiện tượng. Tất cả các sự chức năng (theo Du-già luận 瑜伽論).
Nhất thiết hữu 一切有; C: yīqiè yǒu; J: issai-u;|1. Tất cả những gì hiện hữu; 2. Một quan điểm của Nhất thiết hữu bộ, cho rằng tất cả đều có.
Nhất thiết hữu bộ 一切有部; S: sarvāstivāda; còn gọi là Căn bản nhất thiết hữu bộ (根本一切有部; s: mūlasar-vāstivāda) hoặc Thuyết nhất thiết hữu bộ (說一切有部)|Bộ phái cho rằng mọi sự đều có (Nhất thiết hữu; s: »sarvam asti«). Là một nhánh của Tiểu thừa, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) dưới thời vua A-dục. Giáo phái này quan niệm là tất cả, hiện tại, quá khứ, vị lai đều hiện hữu đồng thời. Tông phái này hoạt động mạnh tại Kaschmir và Càn-đà-la (gandhāra). Quan điểm của bộ này được xem như nằm giữa Tiểu thừa và Ðại thừa. Nhất thiết hữu bộ có kinh điển riêng viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), ngày nay chỉ còn bản dịch chữ Hán và Tây Tạng.|Tác phẩm quan trọng nhất của bộ này là A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośa) của Thế Thân, Ðại tì-bà-sa luận (s: mahāvibhāṣā), một bộ luận được biên soạn trong lần Kết tập tại Kaschmir dưới sự chủ trì của Thế Hữu (vasumitra). Ðại tì-bà-sa luận trình bày quan điểm chính thức của Nhất thiết hữu bộ và là tác phẩm được hoàn tất cuối cùng trong bảy tác phẩm của Luận tạng (s: abhi-dharma-piṭaka). Một số tác phẩm khác cần được nhắc tới là A-tì-đàm tâm luận (abhidharma-hṛdaya), là bộ luận trung tâm của A-tì-đạt-ma với mười chương. Tì-bà-sa luận của Ca-chiên-diên tử cũng viết tổng quát về giáo lí bộ này. Tác phẩm Thế gian giả thiết (s: lokaprajñapti) trình bày quan điểm về sự hình thành thế giới đáng lưu ý. Các quan điểm về giới luật được trình bày trong Tì-nại-da Tì-bà-sa (vinayavibhāṣā).|Giáo pháp của Nhất thiết hữu bộ có tính đa nguyên, xuất phát từ sự phủ nhận cái ngã, một tính chất cá nhân hoặc linh hồn và thừa nhận những đơn vị luân chuyển theo thời gian, được gọi là pháp. Bộ này cho rằng có 75 pháp, và cho đó là những đơn vị cuối cùng, không thể chia cắt (tương tự khái niệm »nguyên tử« của Âu Châu thời thượng cổ) đều hiện hữu đồng thời. Chỉ các pháp này là »có thật.« Họ phân biệt các pháp tuỳ thuộc, Hữu vi (s: saṃskṛta) và các pháp độc lập, Vô vi (s: asaṃskṛta). |Các pháp độc lập là Hư không (s: ākāśa), Niết-bàn vô trụ (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa) và Niết-bàn thường trụ (s: pratiṣṭhita-nirvāṇa).|Các pháp hữu vi được chia làm bốn nhóm: Sắc pháp (s: rūpadharma), Tâm (Thức) pháp (s: citta, vijñāna), các hoạt động của những Tâm sở hữu pháp (s: cetasikadharma) và Tâm bất tương ưng hành pháp (s: cittaviprayuktasaṃskāra) – các pháp không thuộc tâm không thuộc vật như già, chết, Vô thường…|Các pháp hữu vi này – theo quan điểm của Nhất thiết hữu bộ – không phải từ đâu sinh ra mà luôn luôn đã có, chỉ đổi từ trạng thái tiềm tàng qua hiện hữu. Vì quan điểm này mà Nhất thiết hữu bộ có tên »Nhất thiết hữu«, nghĩa là quá khứ vị lai đều được chứa trong một »pháp« duy nhất. Trong Nhất thiết hữu bộ, người ta cũng khám phá vài yếu tố nguyên thuỷ của Ðại thừa, như quan điểm Ba thân (s: trikāya) và niềm tin nơi Bồ Tát Di-lặc, đức Phật tương lai.
Nhất thiết kinh 一切經; C: yīqiējīng; J: issaikyō;|Toàn bộ kinh điển của Phật giáo, bao gồm tất cả các Kinh, Luật và Luận.
Nhất thiết kinh âm nghĩa 一切經音義; C: yīqiē jīng yīnyì; J: issai setsu kyō ongi;|100 quyển, Huệ Lâm (慧琳) trứ.
Nhất thiết lưu kinh 一切流經; C: yīqiēliú jīng; J: issairu kyō;|Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh (一切流攝守因經).
Nhất thiết lưu nhiếp kinh 一切流攝經; C: yīqiēliú shè jīng; J: issairu shō kyō;|Nhất thiết lưu nhiếp thủ nhân kinh (一切流攝守因經).
Nhất thiết nhân trung tôn 一切人中尊; C: yīqiē rénzhōng zūn; J: issai ninchū son;|Người được tôn kính nhất trong nhân gian. Chỉ một vị Phật, nhưng đặc biệt là Phật Tì-lô-giá-na (毘盧遮那; Đại Nhật Phật. Theo Đại Phương Quảng Phật hoa nghiêm kinh 大方廣佛華嚴經).
Nhất thiết nhất tâm thức 一切一心識; C: yīqiē yīxīnshì; J: issai isshinshiki;|Tất cả các pháp đều chỉ biến hiện từ tâm thức (theo Thích Ma-ha-diễn luận 釋摩訶衍論).
Nhất thiết Như Lai 一切如來; C: yīqiē rúlái; J: issai nyorai;|Tất cả các Đức Như Lai, tất cả chư Phật.
Nhất thiết Như Lai bảo 一切如來寶; C: yīqiē rúlái băo; J: issai nyorai hō;|Bảo châu như ý của tất cả chư Phật, đặc biệt là của một vị Phật trong Man-đa-la Thai tạng giới, Ngài cầm hoa sen trên tay trái và viên bảo châu như ý trong tay phải.
Nhất thiết Như Lai chư pháp bản tính mãn tịnh liên hoa tam-muội 一切如來諸法本性滿淨蓮華三昧; C: yīqiē rúlái zhūfǎ běnxìng mănjìng liánhuā sānmèi; J: issai nyorai shohō honshō manjō renge sanmai;|Một loại Liên hoa tam-muội (蓮華三昧) của Đức Phật Tì-lô-giá-na mà từ trong đó, Đức Phật A-di-đà hoá sinh. Đây là một loại thiền định của Như Lai, quán sát bản tính của tất cả chúng sinh đều thanh tịnh như hoa sen.
Nhất thiết Như Lai định 一切如來定; C: yīqiē rúláidìng; J: issai-nyoraijō;|Trạng thái Định của tất cả các vị Như Lai. Bậc định cao nhất trong 108 cấp bậc định được các Bồ Tát tu tập, còn gọi là Đại không tam-muội (大空三昧; s: śūnyasamādhi) và Kim cương tam-muội (金剛三昧; s: vajrasamādhi). Cảnh giới vi diệu của thiền định, chứng đắc được nhờ thấu đạt nguyên lí tất cả các pháp đều có Phật tính.
Nhất thiết Như Lai kim cương thệ giới 一切如來金剛誓誡; C: yīqiē rúlái jīngāng shìjiè; J: issai nyorai kongō seikai;|Lời thệ nguyện kiên cố của các đức Như Lai, như tiếng gầm của loài sư tử, tuyên bố rằng tất cả các loài hữu tình đều sẽ được thành Phật.
Nhất thiết Như Lai nhãn sắc như minh chiếu tam-ma-địa 一切如來眼色如明照三摩地; C: yīqiē rúlái yănsè rúmíng zhào sānmódì; J: issai nyorai genshiki nyomyō shō sanmaji;|Một dạng định của Phật Đại Nhật, trong đó ánh sáng từ mắt của ngài phóng ra từng luồng hào quang. Do công đức của định nầy, Phật Đại Nhật chính thức tuyên thuyết »chân ngữ« thâu nhiếp hết tất cả các nguyên lí và tu tập các công hạnh (theo Du-kì kinh 瑜祇經).
Nhất thiết Như Lai sở hộ quán sát chúng sinh thị hiện Phật sát 一切如來所護觀察衆生示現佛刹; C: yīqiē rúlái suǒhù guānchá zhòngshēng shìxiàn fóchà; J: issai nyorai shogo kansatsu shūjō shigen bussatsu;|Trang nghiêm vương đà-la-ni chú kinh (莊嚴王陀羅尼呪經).
Nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá-lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh 一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經; C: yīqiè rúláixīn mìmì quánshēn shèlì băoqièyìn tuóluóní jīng; J: issai nyorai shin himitsu zenshin shari hōkyōin darani kyō; S: sarva-tathāgata-dhiṣṭhānahṛdayaguhya-dhātu-karaṇḍamudrā-dhāraṇī; T: de bshin gshegs pa thams cad kyi byin gyi rlabs sems can la gzigs sin sangs rgyas kyi shing gi bkod pa tun tu ston pa; Gọi tắt là Bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh (寶篋印陀羅尼經; s: karaṇḍamudrā-dhāraṇī).|Một bộ kinh thuộc Mật giáo. Có hai bản dịch tiếng Hán: 1. Bất Không (不空; s: amoghavajra) dịch 1 quyển với tên Nhất thiết Như Lai tâm bí mật toàn thân xá-lợi bảo khiếp ấn đà-la-ni kinh (一切如來心祕密全身舍利寶篋印陀羅尼經); 2. Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch, 1 quyển với tên Nhất thiết Như Lai chính pháp bí mật khiếp ấn tâm đà-la-ni kinh (一切如來正法祕密篋印心陀羅尼經).
Nhất thiết Như Lai trí ấn 一切如來智印; C: yīqiē rúlái zhì yìn; J: issai nyorai chi in; S: sarvatathāgata-jñāna-mudrā.|Là dấu hiệu biểu tượng cho trí huệ của chư Phật trong Mật tông Phật giáo, là một hình tam giác trên hoa sen trong đồ hình man-đa-la Thai tạng giới (theo Đại Nhật kinh 大日經). Cũng có nghĩa như Nhất thiết Phật tâm ấn (一切佛心印).
Nhất thiết Phật hội 一切佛會; C: yīqiē fóhuì; J: issai butsue;|Pháp hội của tất cả những vị Phật. Thuật ngữ để gọi hai Man-đa-la Thai tạng giới (胎臓界; s: garbhadhātu-maṇḍala) và Kim Cương giới (金剛界; s: vajradhātu-maṇḍala; theo Thập địa kinh luận 十地經論).
Nhất thiết Phật tâm ấn 一切佛心印; C: yīqiē fóxīn yìn; J: issai busshin'in;|Dấu hiệu ở trên ngực của Đức Phật, đặc biệt là trên ngực (s: trikoṇa) của Đức Phật Tì-lô-giá-na; dấu hiệu biểu trưng cho trí huệ của chư Phật; đó là một ngọn lửa hình tam giác hướng xuống dưới, biểu tượng cho năng lực hàng phục mọi cám dỗ; còn gọi là Nhất thiết Như Lai trí ấn (一切如來智印) và Nhất thiết biến trí ấn (一切偏智印), dấu hiệu biểu tượng cho huệ giác.
Nhất thiết thế tôn tối tôn đặc thân 一切世尊最尊特身; C: yīqiē shìzūn zuìzūn tèshēn; J: issai seison saison tokushin;|Người đáng được tôn kính nhất trong những người được thế gian tôn kính. Một danh hiệu của Phật Tì-lô-giá-na (毘盧遮那; Đại Nhật Phật, theo Đại Nhật kinh 大日經).
Nhất thiết thiên trí ấn 一切偏智印; C: yīqiē piānzhì yìn; J: issai henchi in;|Dấu hiệu biểu tượng cho Nhất thiết trí. Cũng có nghĩa như Nhất thiết Phật tâm ấn (一切佛心印).
Nhất thiết trí 一切智; C: yīqiè zhì; J: issaichi; S: sarvajñatā, sarvākārajñatā;|Trí toàn vẹn, »hiểu biết tất cả«; chỉ trí huệ của một vị Phật, là điểm quan trọng, tiêu biểu nhất của một bậc Chính đẳng chính giác.|Theo quan điểm Tiểu thừa thì Nhất thiết trí được hiểu là mọi hiểu biết đưa đến giải thoát. Còn Ðại thừa cho rằng Nhất thiết trí là trí huệ hiểu biết tất cả các Pháp và thể tính thật sự của nó là Không. Trí này hay được xem là đồng nghĩa với Bát-nhã (s: prajñā). Còn gọi là Phật trí (佛智, theo Pháp Hoa kinh 法華經).
Nhất thiết trí địa 一切智地; C: yīqiēzhì dì; J: issaichi ji; S: sarvajña-bhūmi.|Cảnh giới của sự thông đạt vạn pháp (theo kinh Pháp Hoa 法華經)
Nhất thiết trí huệ 一切智慧; C: yīqiēzhìhuì; J: issaichie;|Nhất thiết trí (theo kinh Pháp Hoa 法華經).
Nhất thiết trí tạng 一切智藏; C: yīqiē zhì zàng; J: issai chi zō;|Kho tàng chứa đựng tất cả trí huệ, bản tâm của chư Phật (theo Hoa Nghiêm kinh 華嚴經).
Nhất thiết tức nhất 一切即一; C: yīqiē jíyī; J: issai sokuichi;|Tất cả các pháp đều bao hàm trong Một. Tư tưởng của tông Hoa nghiêm, cho rằng thể tính của các pháp bao dung, tương nhiếp lẫn nhau. Xem Nhất tức nhất thiết (一即一切, theo Đại Phương Quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sớ 大方廣佛華嚴經疏).
Nhất thố mao trần 一兎毛塵; C: yītùmáochén; J: ichitomōjin;|Một nguyên tử của hạt bụi trên đầu sợi lông thỏ. Là đơn vị đo lường, bằng một phần 22.588.608.000 Do-tuần (s: yojana; theo luận Câu-xá 倶舎論).
Nhất thời 一時; C: yīshí; J: ichiji; S: ekaṃ-samayam.|1. »Một lần nọ«, »Thời ấy«, thường được dùng trong đoạn mở đầu kinh văn do đức Phật thuyết, không nhất thiết đề cập đến một thời gian cụ thể nào; 2. Cùng một lúc.
Nhất thừa 一乘; C: yīshèng; J: ichijō; S: ekayāna;|Là »Cỗ xe duy nhất« đưa chúng sinh đến Giác ngộ, thành Phật; danh từ này bao hàm hai ý nghĩa. Với cái nhìn tương đối thì danh từ Nhất thừa chính là Phật thừa (佛乘; s: buddhayāna), Bồ Tát thừa (菩薩乘; s: bodhisattvayāna) hoặc Ðại thừa (大乘; s: mahāyāna), được dùng đối ngược với Tiểu thừa (s: hīnayāna) hoặc Ðộc giác thừa (s: pratyekabuddhayāna). Với ý nghĩa tuyệt đối, Nhất thừa bao gồm cả ba cỗ xe (s: triyāna), bao gồm giáo lí có tính chất tạm thời của chúng và chuyển hoá chúng.|Sau sự xuất hiện của khái niệm Nhất thừa, không còn giáo pháp nào của Phật pháp trước đó có thể tồn tại được vì giáo pháp tối thượng đã là nội dung của Nhất thừa. Khái niệm Nhất thừa được đề xướng trong kinh Diệu pháp liên hoa, trong kinh được Phật cho là cao siêu nhất.|Theo giải thích của Khuy Cơ (窺基), giáo lí Nhất thừa của Pháp tướng tông (法相宗) có hai bậc, Nhiếp nhập đại thừa (攝入大乗) và Xuất sinh đại thừa (出生大乗). Nhiếp nhập đại thừa là phương tiện tiếp dẫn người có căn tính bất định (不定性) đến với Nhất thừa, vì thức thể của mỗi chúng sinh khó có khả năng nhận ra Phật tính, cho nên giáo lí nầy khó tương ưng toàn diện với ý nghĩa Nhất thừa. Nhưng vì tất cả đương cơ trong pháp hội kinh Pháp hoa (法華經) đều có khả năng thành Phật, nên giáo lí nầy trở nên rất chân xác và thiết thức trong trường hợp đó. Xuất sinh Đại thừa có nghĩa là tất cả các pháp môn của Phật đều chỉ »xuất sinh« từ giáo lí Đại thừa. Khuy Cơ cho rằng đây là giáo lí trong kinh Thắng-man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra) và kinh Niết-bàn (涅槃經; s: nirvāṇa-sūtra). Theo Hoa Nghiêm tông (華嚴宗) và Thiên Thai tông (天台宗) thì có sự phân biệt giữa Nhất Phật thừa nầy với Bồ tát thừa trong hệ thống Tam thừa.
Nhất thừa Bồ Tát 一乘菩薩; C: yīshèng púsà; J: ichijō bo-satsu;|Là vị Bồ Tát đã nhận thức được chân lí Nhất thừa.
Nhất thừa gia 一乘家; C: yīshèngjiā; J: ichijōke;|Các trường phái và học giả Phật giáo xiển dương giáo lí Nhất thừa như: Hoa Nghiêm tông, Thiên Thai tông, Thiền tông, v.v…
Nhất thừa hiển tính giáo 一乘顯性教; C: yīshèng xiǎnxìng jiāo; J: ichijō kenshō kyō;|Giáo lí Nhất thừa nhằm hiển bày bản tính. Một trong 5 dạng giáo lí Phật pháp do Khuê Phong Tông Mật phân loại (Nguyên nhân luận 原人論).
Nhất thuyết bộ 一說部; S: ekavyāvahārika;|Bộ phái Phật giáo xuất phát từ Ðại chúng bộ. Văn-thù vấn kinh (s: mañjuśrīparivarta) gọi là »Chấp nhất ngữ ngôn bộ«, còn Tông luân luận của Khuy Cơ viết rằng, bộ này quan niệm rằng »Thế pháp, xuất thế pháp đều không thật, chỉ là danh.«
Nhất triêu 一朝; C: yī zhāo; J: itchō;|Qua một đêm, trong một ngày. Chỉ một khoảng thời gian rất ngắn.
Nhất trượng lục tượng 一丈六像; C: yīzhàngliù xiàng; J: ichijōroku zō;|Hình dáng cao một trượng sáu của Đức Phật, chiều cao của hoá thân Phật. Trượng lục (丈六).
Nhất tự bất thuyết 一字不說; J: ichiji-fusetsu;|Nghĩa là »một chữ cũng chưa hề thuyết«; một danh từ thường được dùng trong Thiền tông để nhấn mạnh rằng Phật và các vị Tổ chưa bao giờ đá động đến Chân lí tuyệt đối trong những bài thuyết pháp của chư vị bởi vì cái tuyệt đối này không thể nào diễn bày được (Bất khả thuyết). Vì thế nên đức Phật ban đầu không muốn rời Giác Thành (bodhga-yā), không muốn trở về thế tục để giáo hoá chúng sinh. Nhưng, vì quá thương chúng sinh đang trôi nổi trong Vòng sinh tử nên Ngài quyết định rời chỗ toạ thiền đi hoằng hoá. Nói theo các vị Thiền sư là »để rơi mình vào cỏ mà nói chuyện« (落草譚; lạc thảo đàm) – tức là rời tâm thức sung sướng an lạc tuyệt đối để bước vào tâm thức của một phàm phu để chỉ đường chúng sinh đến bờ Giác ngộ.|Vì lí do trên mà Thiền tông quan niệm rằng, tất cả những bài Kinh (s: sūtra) của đức Phật và Ngữ lục của chư vị Thiền sư đều chỉ là »Ngón tay chỉ mặt trăng – nhưng không phải chính là mặt trăng.« Chân lí tuyệt đối chỉ có thể – nếu có thể! – được »truyền« bằng một phương pháp bí mặt, siêu việt mà Thiền tông gọi là »Dĩ tâm truyền tâm.«|Thiền tông tự nêu tông chỉ của mình là »Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, kiến tính thành Phật« – thay vì dựa vào lời của Phật thuyết trong các kinh sách, bởi vì ngôn ngữ trên giấy mỗi người đều hiểu một cách riêng biệt – tuỳ theo trình độ và khả năng của người đang xem nó. Thiền tông không quan niệm rằng, tất cả kinh sách đều vô dụng, nhưng chúng không thể biểu lộ hết tất cả. Chúng thật sự vô dụng trong việc miêu tả cái tuyệt đối, Chân như.
Nhất tự đỉnh luân vương kinh 一字頂輪王經; C: yīzìdǐng lúnwáng jīng; J: ichijichō rin'ō kyō;|Bồ-đề trường sở thuyết nhất tự đỉnh luân vương kinh (菩提場所説一字頂輪王經).
Nhất tự kì đặc Phật đỉnh kinh 一字奇特佛頂經; C: yīzì qítè fódǐng jīng; J: ichiji kidoku bucchō kyō; S: uṣṇīṣacakravarti-tantra.|Kinh, 3 quyển, Bất Không (不空) dịch.
Nhất tự kinh 一字經; C: yīzì jīng; J: ichijikyō;|Kinh, xem Nhất tự Phật đỉnh luân vương kinh (一字佛頂輪王經).
Nhất tự quan 一字關; J: ichiji-kan; |Tức là »ải của một chữ«; một chữ bao hàm tất cả ý nghĩa giảng dạy. Danh từ này thường dùng cho những Thoại đầu một chữ. Nổi danh về cách sử dụng nhất tự quan để dạy môn đệ là Thiền sư Vân Môn Văn Yển.|Nhất tự quan nổi tiếng nhất là »Vô« của Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm (Vô môn quan, công án thứ nhất), »Quan« của Vân Môn (Bích nham lục, Công án 8).
Nhất tự tâm chú kinh 一字心呪經; C: yīzì xīnzhòu jīng; J: ichiji shinju kyō;|Đại đà-la-ni mạt pháp trung nhất tự tâm chú kinh (大陀羅尼末法中一字心呪經).
Nhất tự tam lễ 一字三禮; C: yīzì sānlǐ; J: ichiji sanrai;| Nhất đao tam lễ.
Nhất tướng 一相; C: yīxiāng; J: issō; S: eka-lakṣaṇa.|»Nhất thể«; tính chất không thay đổi, đồng dạng. Tuyệt đối bình đẳng, không phân biệt cũng chẳng đối lập. Thể của Chân như.
Nhất vãng 一往; C: yīwăng; J: ichiō;|1. Duy nhất, chỉ, chỉ là; 2. Thông thường, tóm tắt, đại thể (theo Nhị chướng nghĩa 二障義); 3. Một lần, một vòng.
Nhất vị 一味; C: yīwèi; J: ichimi; S: eka-rasa.|»Chỉ có một (mùi) vị duy nhất,« sự đồng nhất của tất cả những hiện hữu. Thuật ngữ này xuất xứ từ ẩn dụ đại dương, tất cả các biển chỉ có một vị mặn duy nhất.
Nhất vị uẩn 一味蘊; C: yī wèi yùn; J: ichimiun; S: eka-rasa-skandha.|Một nguyên tắc được Nhất thiết hữu bộ thiết thuyết, xem như là chủ thể trải qua những biến chuyển, là cái được tái sinh, là tâm thức vi tế nhất bắt đầu từ vô thuỷ vô minh.
Nhất Viên 一圓; J: ichien;|Vô Trụ Ðạo Hiểu
Nhất-xiển-đề 一闡提; C: yīchăntí; J: issendai; S: icchantika.|Dịch âm từ tiếng Phạn »icchantika«; cũng được dịch ý là »Đoạn thiện căn« (斷善根), là người phá bỏ mọi căn lành của mình, hoặc Tín bất cụ túc (信不具足), là người không có đủ niềm tin vào Phật pháp. Người đã tiệt đoạn những căn lành và vì vậy, khó được cứu độ. Dù họ có tu tập tinh cần đến mức nào, họ cung không thể nào đạt giải thoát.|Thuật ngữ »icchan« nguyên đề cập đến người thường có tâm trạng ham muốn dục lạc. Ở Ấn Độ, từ nầy đề cập đến những người theo chủ nghĩa hưởng lạc hoặc là những kẻ ham muốn đời sống thế tục. Trong Phật pháp, từ nầy nói đến những người thiếu những nhân duyên tu tập căn bản để thành Phật. Giáo lí này do Du-già hành tông chủ trương. Các tông phái Phật giáo khác như Thiên Thai, Hoa Nghiêm phản bác thuyết này, cho rằng tất cả mọi chúng sinh đều có thể thành Phật. Thuyết nầy trở thành đầu mối của những cuộc tranh luận trong giới Phật học Á Đông sau này, được thảo luận rất kĩ trong tác phẩm Phật tính luận (佛性論).
Nhị 二; C: èr; J: ni;|Có hai nghĩa: 1. Hai, thứ hai; 2. Nhị nguyên; sự phân hai; »ta và người«.
Nhị báo 二報; C: èrbào; J: nihō;|Có hai nghĩa: 1. Hai dạng nghiệp báo: Chính báo (正報, nghiệp báo trực tiếp) và Y báo (衣報, không trực tiếp, tuỳ theo điều kiện xung quanh); 2. Tổng báo (總報) và Biệt báo (別報).
Nhị chân như 二眞如; C: èr zhēnrú; J: ni shinnyo;|Hai loại Chân như (s: tathatā): 1. Theo giáo lí Du-già hành tông thì đó là An lập chân như (安立眞如), được biểu hiện qua ngôn ngữ văn tự và Phi an lập chân như (非安立眞如), siêu việt mọi phân biệt đối đãi. Dạng thứ nhất tương quan với sự chứng ngộ của hàng Nhị thừa (二乘); dạng thứ hai tương quan với sự chứng ngộ của hàng Bồ Tát; 2. Theo Đại thừa khởi tín luận, Vô cấu, Siêu việt chân như, và Chân như là cội nguồn của mọi hiện tượng.
Nhị chủng duyên sinh 二種縁生; C: èrzhǒngyuànshēng; J: nishu enshō;|Hai loại duyên sinh được trình bày trong Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論), đó là Biệt tự tính (別自性) duyên sinh và Phân biệt ái phi ái (分別愛非愛) duyên sinh.
Nhị chủng nhẫn nhục 二種忍辱; C: èrzhǒng rěnrù; J: nishunin-niku;|Hai loại nhẫn nhục: 1. Chịu đựng những khắc nghiệt từ thiên nhiên như nóng, lạnh, tuyết, mưa, v.v…2. Nhẫn chịu những sự bức hại, lăng nhục do con người gây ra.
Nhị chủng sinh tử 二種生死; C: èrzhǒng shēngsǐ; J: nishu-shōji;|»Hai dạng luân hồi«: Phần đoạn sinh tử (分段生死; hạng phàm phu chưa giác ngộ phải trải qua) và Biến dịch sinh tử (變易生死; những người đã giác ngộ thị hiện).
Nhị chướng 二障; C: èrzhàng; J: nishō;|I. Hai loại chướng ngại Phân biệt chướng (分別障) và Câu sinh chướng (倶生障) theo giáo lí của Duy thức tông; II. Phiền não chướng (煩惱障), là chướng ngại đầu tiên trong 7 chuyển thức (轉識), có thể được trừ diệt qua pháp tu tiệm thứ của hàng Thanh văn và Bích-chi Phật; Sở tri chướng (所知障), là loại phiền não vi tế nhất xuất phát từ căn bản thức (A-lại-da thức 阿頼耶識) chỉ có thể được chuyển hoá bởi Bồ Tát đã trực chứng Tính không (s: āvaraṇa-dvaya). Theo kinh Viên Giác, hai loại nầy được gọi là Sự chướng (事障) và Lí chướng (理障), tương ứng với các tên gọi đã nêu trên. Xem thêm Nhị chướng nghĩa (二障義) để biết chi tiết về các loại chướng ngại nầy.
Nhị chướng nghĩa 二障義; C: èrzhàng yì; J: nishōgi; K: ijang'ǔi|Giáo lí về hai loại chướng ngại. Một luận giải chi tiết đề cập nhiều lí thuyết khác nhau về giáo lí hai chướng ngại của Du-già hành phái (瑜伽行派) của Nguyên Hiểu (元曉; k: wǒnhyo). Luận giải nầy khảo sát và so sánh những giải thích khác nhau về hai thứ chướng ngại được trình bày trong các kinh văn của Du-già hành tông, nổi tiếng nhất là Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācārabhūmi-śāstra), kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra), Đối pháp luận (對法論; s: mahāyānābhi-dharma-samuccaya-vyākhyā), kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālādevī-simhanāda-sūtra), và Hiển dương luận (顯揚論; s: prakaranāryavāca-śāstra). Đầu tiên, Nguyên Hiểu định nghĩa những đặc điểm của các loại chướng ngại rất sâu rộng theo thuật ngữ của Hiển giáo lẫn Mật giáo. Sau đó, sư giải thích cách giải trừ chúng theo thuật ngữ của nhiều bản kinh văn khác nhau của Du-già hành tông, cách chuyển hoá phiền não đã được thủ đắc bởi nhiều tầng lớp hành giả khác nhau. Vì thế nên luận văn này là một tài liệu giáo khoa thích hợp nhất để tìm hiểu các ý niệm về phiền não, nhiễm ô trong Phật học và những chướng ngại cho tiến trình giải thoát gây ra bởi tâm phân biệt của con người.
Nhị chuyển 二轉; C: èrzhuăn; J: niten;|Hai sự chuyển hoá. Chuyển phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障) thành Đại giác ngộ và Niết-bàn.
Nhị đế 二諦; C: èrdì; J: nitai;|›Sự thật hai mặt‹. Sự thật tuyệt đối và sự thật quy ước. Sự thật tuyệt đối, Thắng nghĩa đế (勝義諦), là cái nhìn về thật tại qua thân chứng của người đã giác ngộ. Vì sự thật nầy siêu việt ý niệm nhị nguyên nên không thể diễn đạt chính xác qua cơ cấu ngôn ngữ được. Còn sự thật quy ước, là chân lí tương đối, Thế tục đế (世俗諦), là thật tại được diễn đạt bởi người chưa giác ngộ, và được biểu hiện đễ dàng qua cơ cấu ngôn ngữ nhị nguyên.
Nhị diệt 二滅; C: èrmiè; J: nimetsu;|Hai pháp tịch diệt, đó là: 1. Trạch diệt (pháp tịch diệt nhờ vào công phu giản trạch qua thiền định); 2. Phi trạch diệt (pháp tịch diệt tùy thuận thể tính thanh tịnh của chân như, không nhờ công phu giản trạch qua thiền định).
Nhị đức 二德; C: èrdé; J: nitoku;|Hai đức hạnh. Có ba nghĩa: 1. Trí (智) và Đoạn (斷) đức của hàng A-la-hán; 2. Trí đức và Bi đức; 3. Tính đức và Tu đức.
Nhị duyên 二縁; C: èryuàn; J: nien;|Hai loại duyên: Nội duyên (内縁) và Ngoại duyên (外縁).
Nhị hạnh 二行; C: èrxíng; J: nigyō;|Có các nghĩa: 1. Kiến hành (見行) và Ái hành (愛行); 2. Hai loại hiện hành Phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障); 3. Chính hạnh (正行) và Tạp hạnh (雜行); 4. Ngã hạnh (我行) và Ngã sở nghiệp (我所業).
Nhị hoặc 二惑; C: èrhuò; J: niwaku;|Hai thứ phiền não: 1. Kiến tu hoặc (見修惑): Kiến hoặc được đoạn trừ ở giai vị Kiến đạo và Tu hoặc được đoạn trừ ở giai vị Tu đạo; 2. Hai loại phiền não lớn và nhỏ (Đại tiểu nhị hoặc 大小二惑).
Nhị huệ 二慧 (惠); C: èrhuì; J: nie;|Hai loại trí tuệ, Văn tư 聞思.
Nhị không 二空; C: èrkōng; J: nikū;|Hai loại tính không. Có nhiều thuyết: 1. Các yếu tố cấu thành sự hiện hữu (pháp) cũng như chủ thể nhận thức về hiện hữu ấy (ngã) đều là không. 2. Người biết và vật được nhận biết đều không; 3. Đãn không và Bất đãn không; 4. Tính không và Tướng không.
Nhị kiến 二見; C: èrjiàn; J: niken;|Hai quan niệm, hai kiến giải. Có nhiều nghĩa: 1. Thường kiến (常見) và Đoạn kiến (斷見), còn được gọi là Hữu kiến (有見) và Vô kiến (無見); 2. Tỉ lượng (比量) và Hiện lượng (現量); 3. Thân kiến (身見) và Biên kiến (邊見), gồm hai loại đầu trong Thập hoặc (十惑).
Nhị lợi hạnh 二利行; C: èrlì xíng; J: nirigyō;|Pháp tu đạt đến hai lợi ích: Tự lợi và lợi tha (自利利他).
Nhị ngã kiến 二我見; C: èrwǒ jiàn; J: nigaken;|Hai quan niệm về Tự ngã. Tin rằng có sự hiện hữu của cái ta chủ thể (ngã 我) và khách thể (pháp 法).
Nhị nghiệp 二業; C: èryè; J: nigō;|Hai loại nghiệp báo: 1. Mãn nghiệp (滿業) và Dẫn nghiệp (引業); 2. Thiện nghiệp (引業) và Ác nghiệp (惡業).
Nhị ngộ 二悟; C: èrwù; J: nigo;|Hai dạng giác ngộ: Đốn ngộ (頓悟) và Tiệm ngộ (漸悟).
Nhị nhập 二入; C: èrrù; J: ninyū;|Hai lối thể nhập đạo giác ngộ xuất xứ từ giáo pháp của Bồ-đề Đạt-ma và trong kinh Kim Cương tam-muội (s: 金剛三昧經; s: vajrasamādhi-sūtra), đó là Lí nhập (理入) và Hạnh nhập (行入), gồm có 4 hạnh.
Nhị phàm phu 二凡夫; C: èrfánfū; J: nibonbu;|Hai loại phàm phu: 1. Nội phàm (内凡): người đã đạt được phần nào sự chứng ngộ chân lí đạo Phật. 2. Ngoại phàm (外凡): những người đang còn bị vướng mắc trong vô minh (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Nhị phiền não 二煩惱; C: èr fánnăo; J: nibonnō;|Hai dạng phiền não. Theo kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra) thì đây là Trú (住) phiền não và Khởi (起) phiền não. Có 4 Trú phiền não và có vô số Khởi phiền não.
Nhị phọc 二縛; C: èrfú; J: nibaku;|Hai loại ràng buộc: Tương ưng phọc và Sở duyên phọc. Từ điển Phật Quang còn liệt kê ba cặp khác của Nhị phọc (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Nhị quả 二果; C: èrguǒ; J: nika;|Có hai nghĩa: 1. Nhất lai, quả vị thứ hai trong bốn quả vị (Tứ quả 四果) của Tiểu thừa; 2. Hai quả vị đầu trong bốn quả vị của Tiểu thừa: Dự lưu (預流) và Nhất lai (一來).
Nhị tâm 二心; C: èr xīn; J: nishin;|Có ba nghĩa sau: 1. Hai dạng tâm: Chân tâm (tâm không phân biệt) và Vọng tâm (tâm phân biệt); 2. Định tâm và tán tâm; 3. Tâm luôn luôn nghi ngờ.
Nhị tế 二際; C: èrjì; J: nisai;|Hai dạng hiện hữu; hai dạng hiện thật; hai thái cực. Quan niệm phân đôi về phương thức hiện hữu của vạn vật, như quan niệm vạn vật tồn tại (hữu) hay không tồn tại (vô). Thuật ngữ được dùng liên quan đế́n hai thật thể nầy là Niết-bàn (涅槃; s: nirvāṇa) và luân hồi sinh tử (生死; s: saṃsāra), các ý niệm nầy được phân biệt thành hai trong Phật giáo Tiểu thừa, nhưng Phật giáo Đại thừa xem là một (theo Hoa Nghiêm kinh 華嚴經).
Nhị thập bát thiên 二十八天; C: èrshíbā tiān; J: nijūhatten;|Hai mươi tám tầng trời. Sáu tầng trời cõi Dục (Lục dục thiên 六欲天), mười tám tầng trời cõi Sắc (Sắc giới 色界), và bốn cõi trời Vô sắc (Vô sắc giới 無色界).
Nhị thập duy thức luận 二十唯識論; C: èrshí wéishì lùn; J: nijūyuishikiron; S: vimśatikā-śāstra;|Hai mươi luận tụng về Duy thức do Thế Thân (世親; s: vasubandhu) trứ tác, Huyền Trang (玄奘) và Chân Đế (眞諦; c: paramārtha) dịch sang Hán văn. Nội dung gồm hai mươi bài kệ bảo vệ giáo thuyết của Du-già hành tông đối với các sự phê phán. Còn được gọi là Duy thức nhị thập luận (唯識二十論).
Nhị thập ngũ hữu 二十五有; C: èrshíwǔ yǒu; J: nijūgōu;|1. Hai mươi lăm cõi hiện hữu của chúng sinh. Đó là sự phân chia ba cõi chúng sinh đang luân hồi thành hai mươi lăm thành phần. Trong cõi Dục có 14 cách hiện hữu, trong cõi Sắc có 7, trong cõi Vô Sắc có 4. Hai mươi lăm cõi hiện hữu này được sắp xếp thành: Tứ ác đạo (四惡道), Tứ châu (四洲), Lục dục thiên (六欲天), Tứ thiền thiên (四禪天), Ngũ tịnh cư thiên (五淨居天), và Tứ không xứ thiên (四空處天); 2. Cũng là thuật ngữ thường được chỉ cho »Tam giới« (三界) hoặc là »tất cả chúng sinh«.
Nhị thập nhất chủng lễ tán kinh 二十一種禮讃經; C: èrshíyīzhǒng lǐzàn jīng; J: nijūisshu raisan kyō;|Tên gọi tắt của Thánh giáo độ Phật mẫu nhị thập nhất chủng lễ tán kinh (聖救度佛母二十一種禮讃經).
Nhị thập nhị căn 二十二根; C: èrshíèrgēn; J: nijūnikon;|Hai mươi hai căn (pháp tăng thượng đặc biệt về sự tướng). Gồm 6 căn: mắt (nhãn 眼), tai (nhĩ 耳), mũi (tĩ 鼻), lưỡi (thiệt 舌), thân (身), ý (意); 3 căn nam (男), nữ (女) và mệnh (命); 5 thọ căn: hỉ (喜), khổ (苦), lạc (樂), ưu (憂), và xả (捨); 5 thiện căn: tín (信), cần (勤), niệm (念), định (定), và huệ (慧); 3 vô lậu căn là: vị tri đương tri căn (未知當知), dĩ tri căn (已知) và cụ tri căn (具知).
Nhị thập nhị chủng ngu si 二十二種愚癡; C: èrshíèrzhǒng yúchī; J: nijūnishu guchi;|Hai mươi hai thứ ngu si phải được chuyển hoá ở hai giai vị Bồ Tát thập nhất địa (十一地; gồm Bồ Tát thập địa và Phật địa). Thêm vào mỗi một cặp nầy là tiến trình diễn biến và phiền não thô trọng (麁重) dính mắc với nhau: 1. Chấp trước bổ-đặc-già-la cập pháp ngu si (執著補特伽羅及法愚癡) và Ác thú tạp nhiễm ngu si (惡趣雜染愚癡); 2. Vi tế ngộ phạm ngu si (微細誤犯愚癡) và Chủng chủng nghiệp thú ngu si (種種業趣愚癡); 3. Dục tham ngu si (欲貪愚癡) và Viên mãn văn trì đà-la-ni ngu si (圓滿聞持陀羅尼愚癡); 4. Đẳng chí ái ngu si (等至愛愚癡) và Pháp ái ngu si (法愛愚癡); 5. Nhất hướng tác ý khí bội sinh tử ngu si (一向作意棄背生死愚癡) và Nhất hướng tác ý thú hướng niết-bàn ngu si (一向作意趣向涅槃愚癡); 6. Hiện tiền quán sát chư hành lưu chuyển ngu si (者現前觀察諸行流轉愚癡) và Tướng đa hiện hành ngu si (相多現行愚癡); 7. Vi tế tướng hiện hành ngu si (微細相現行愚癡) và Nhất hướng vô tướng tác ý phương tiện ngu si (一向無相作意方便愚癡); 8. Ư vô tướng tác công dụng ngu si (於無相作功用愚癡) và Ư tướng tự tại ngu si (於相自在愚癡); 9. Ư vô lượng thuyết pháp vô lượng pháp cú văn tự hậu hậu huệ biện đà-la-ni tự tại ngu si (於無量説法無量法句文字後後慧辯陀羅尼自在愚癡) và Biện tài tự tại ngu si (辯才自在愚癡); 10. Đại thần thông ngu si (大神通愚癡) và Ngộ nhập vi tế bí mật ngu si (悟入微細祕密愚癡); 11. Ư nhất thiết sở tri cảnh giới cực vi tế trước ngu si (於一切所知境界極微細著愚癡) và Cực vi tế ngu si (極微細愚癡).
Nhị thập nhị ngu 二十二愚; C: èrshíèr yú; J: nijūni gu;|Nhị thập nhị chủng ngu si (二十二種愚癡).
Nhị thập nhị ngu si 二十二愚癡; C: èrshíèr yúchī; J: nijūni guchi;|Nhị thập nhị chủng ngu si (二十二種愚癡).
Nhị thừa (thặng) 二乘; C: èrshèng; J: nijō;|Chỉ Thanh Văn (聲聞; s: śrāvaka) và Bích-chi Phật (辟支佛; s: pratyekabuddha). Hai pháp tu nầy thường được giới thiệu trong kinh văn Đại thừa, trong đó, hai thừa nầy bị xem nhẹ như là một đại biểu được gọi là truyền thống »Tiểu thừa« (小乘; s: hīnayāna), với hệ thống giáo lí tương phản với lí tưởng thực hành Bồ Tát đạo. Họ được xem như những người tu tập theo tinh thần chỉ mong đạt đến sự chứng ngộ với quả vị A-la-hán chứ không thể thành Phật. Có nghĩa là họ có khả năng cắt đứt vô lượng phiền não phát sinh bởi ba món độc (Tam độc 三毒; e: three poisons). Nhưng họ không thể tiến xa hơn nữa trên con đường tu đạo theo lí tưởng của hàng Bồ Tát vì họ thiếu sự phát huy lòng Từ bi (慈悲), thương yêu chúng sinh cũng như thiếu sự liễu ngộ về Tính không của các pháp. Một trong các bản kinh văn Đại thừa đầu tiên trình bày chi tiết về sự khác nhau trong pháp tu tập của hàng Nhị thừa và Bồ Tát là kinh Thắng Man (勝鬘經; s: śrīmālā-sūtra).
Nhị thức 二識; C: èrshì; J: nishiki;|Có hai nghĩa: I. Hai loại thức theo Đại thừa khởi tín luận: 1. A-lại-da thức (阿頼耶識), được diễn tả như là sự chứa đựng cả Như Lai tạng và vô minh bao gồm tất cả chủng tử của các pháp; 2. Phân biệt sự thức (分別事識, còn được gọi là Ý thức 意識) nương A-lại-da thức mà sinh khởi, và nhận biết, phân biệt sáu cảnh; II. Chỉ hai thức căn bản là Mạt-na thức (末那識) và A-lại-da thức (阿頼耶識).
Nhị tông 二宗; C: èrzōng; J: nishū;|Hai tông phái Phật giáo. Lưỡng tông (兩宗).
Nhị trí 二智; C: èrzhì; J: nichi;|Hai dạng trí huệ: 1. Tận trí (盡智, trí huệ diệt tất cả phiền não) và Vô sinh trí (無生智); 2. Căn bản trí (根本智) và Hậu đắc trí (後得智), cũng gọi là Như lí trí (如理智) và Như lượng trí (如量智); 3. Quyền trí (權智) và Thật trí (實智).
Nhị tử 二死; C: èrsǐ; J: nishi;|Hai dạng chết: Chết vì phần đoạn sinh tử trong vòng luân hồi và cái chết mầu nhiệm (còn gọi là thị tịch) của người chứng ngộ.
Nhị tư lương 二資糧 (粮); C: èrzīliáng; J: nishiryō;|Hai loại lương thực thiết yếu cho con đường đến giác ngộ, phải được tích tập sớm qua các công hạnh Phúc đức (福徳) và Trí huệ (智慧). Còn được gọi tắt là Phúc trí (福智).
Nhị vô kí 二無記; C: èr wújì; J: ni muki;|Hai dạng hành vi đạo đức trung tính làm trở ngại đến tiến trình giải thoát: Hữu phú vô kí (有覆無記) và Vô phú vô kí (無覆無記).
Nhị y 二依; C: èryī; J: nie;|Hai dạng cấu nhiễm: 1. Dạng cấu nhiễm tiềm ẩn trong thân như máu, tinh dịch, đờm dãi…; 2. Dạng cấu nhiễm xuất hiện trên thân như da bị phỏng, phồng rộp, bị thối… (theo Du-già luận 瑜伽論).
Nhị y xứ 二依處; C: èryīchù; J: niesho;|Hai phương diện để y cứ được đề cập trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra): 1. Nhận thức đúng đắn về chân lí bao trùm pháp giới; 2. Sự hiểu biết và niềm tin vào năng lực tinh thần của một hữu thể (s: pudgala; theo Du-già luận 瑜伽論)
Nhiễm 染; C: răn; J: zen;|1. Nhuộm (áo quần, v.v…); bị nhuộm hay biến màu; 2. Thuốc nhuộm, mực, màu; 3. Bị ảnh hưởng tâm lí hoặc về thể chất bởi một việc gì đó; 4. Học tập, trở thành thói quen; [Phật học] 1. Bị phiền não, bị nhiễm ô, bị tiêm nhiễm (s: saṃkleśa); 2. Bất tịnh, không trong sạch, sự ô uế, vọng tâm; 3. Tham lam, ham muốn (s: rāga); mê mờ.
Nhiễm ái 染愛; C: rănài; J: zen'ai; |Ái dục nhiễm ô; chấp trước nhiễm ô.
Nhiễm não 染惱; C: rănnăo; J: nennō; |Làm ô nhiễm, làm vẩn đục, phiền não.
Nhiễm ô 染汚; C: rănwū; J: zenma;|1. Dơ bẩn, hư hỏng. Làm dơ áo quần,v.v… Bẩn thỉu, thô bỉ, ô uế. Làm tâm thanh tịnh bị nhiễm ô bởi phiền não (s: saṃkleśa); 2. Giấu diếm, dối gạt, bao phủ bên ngoài bởi sự ô trọc.
Nhiễm phẩm 染品; C: rănpǐn; J: zenbon; |Hạng bị ô nhiễm, ngược với hạng thanh tịnh (thanh tịnh phẩm 清淨品).
Nhiễm số 染數; C: rănshŭ; J: zenshu; |Thói quen nhiễm ô. Tập khí ô nhiễm.
Nhiễm tâm 染心; C: rănxīn; J: zenshin; |1. Vọng tâm, tâm bị nhiễm ô (s: kliṣṭa-citta); 2. Tâm thế gian, tâm thế tục; 7. Thức thứ 7.
Nhiễm tập 染習; C: rănxí; J: zenshū; |Tập khí nhiễm ô.
Nhiễm tịnh 染淨; C: rănjìng; J: zenjō;|Dơ bẩn (s: kleśa) và trong sạch (s: saṃkleśa-vyavadāna)
Nhiễm tướng 染相; C: rănxiāng; J: zensō; |Tướng trạng ô nhiễm (s: saṃkleśa-lakṣaṇa).
Nhiên Ðăng Cát Tường Trí 然燈吉祥智; S: dīpaṅkaraśrījñāna;|A-đề-sa
Nhiên Ðăng Phật 然燈佛; S, P: dīpaṅkara;|Vị cổ Phật từng sống cách thời đại chúng ta vô lượng kiếp. Ðức Phật này là vị đầu tiên của 24 vị Phật trước đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Tương truyền dưới thời Nhiên Ðăng Phật thì đức Thích-ca là một nhà sư khổ hạnh tên là Thiện Huệ (s: sumedha). Với thiên nhãn thông, Nhiên Ðăng Phật nhận ra Thiện Huệ sẽ thành Phật dưới tên Cồ-đàm (gautama) và thụ kí cho Thiện Huệ. Phật Nhiên Ðăng được xem là vị Phật quan trọng nhất trong các vị trước Thích-ca. Ngài là vị đại diện cho Phật quá khứ tương tự như trường hợp Di-lặc được xem là đại diện cho Phật vị lai. Tại Trung Quốc và Việt Nam, người ta thờ »Tam thế Phật« là thờ ba vị này.|Theo truyền thuyết, thân Phật Nhiên Ðăng cao »80 trượng«, giáo hoá 84.000 vị A-la-hán, Ngài sống 100.000 năm. Tháp đựng xá-lị Phật Nhiên Ðăng cao 36 do-tuần (s: yojana  15-20km).
Nhiếp căn 攝根; S, P: indriyasaṃvara; nghĩa là phòng hộ các giác quan;|Phương pháp tu tập quán sát sự vật một cách khách quan và tránh những ý nghĩ bâng quơ, không cho tâm thức lạc lõng trong những cảm giác như yêu thích, ghét bỏ, sân hận… khi tiếp xúc với một pháp nào đó bằng những căn môn (giác quan). Nhiếp căn là yếu tố quan trọng để đạt Ðịnh (s, p: samādhi), cần phải được thực hành trong đời sống hàng ngày, đó là một quy định của Giới (s: śīla).|Phép nhiếp căn được mô tả như sau: »Vị tỉ khâu khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân chạm xúc, ý khởi pháp, vị ấy không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Vị ấy để tâm không cho các yếu tố bất thiện tác dụng lên mắt, vị ấy đạt được nhiếp căn nhãn thức, tỉ thức, thiệt thức, v.v… Tập được nhiếp phục các căn, vị ấy cảm nhận được hỉ lạc thanh tịnh.«
Nho 儒; C: rú; J: ju;|Có các nghĩa sau: 1. Học giả, giới trí thức (Nho sĩ); 2. Yếu, mềm; 3. Người theo đạo Khổng, Nho giáo.
Nho quả 儒果; C: rúguǒ; J: juka;|Cao tăng thời Bắc Nguỵ, thành viên của Địa luận tông (地論宗) phái Bắc. Sư là đệ tử của Đạo Sủng (道寵).
Nho Thích chất nghi luận 儒釋質疑論; C: rúshì zhíyí lùn; J: jushaku shitsugi ron; K: yusǒk chirǔi ron.|Tác phẩm biện giải được viết vào trước thời kì Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn), trong đó tác giả vô danh đã công kích Phật giáo từ quan điểm của Tân Nho giáo dựa trên quan điểm bất đồng về triết học của Tam giáo (三教). Một số sử gia gán tác phẩm nầy cho Kỉ Hoà (己和), vì ông ta được biết dã soạn một vài tác phẩm tương tự rất gần với thời gian tác phẩm nầy xuầt hiện, nhưng do vì văn phong có nhiều điểm khác nhau giữa tác phẩm của Kỉ Hoà và tác phẩm nầy nên giả thuyết kia vẫn còn mong manh.
Nhữ 汝; C: rŭ; J: nyo;|1. Anh, mày. Từ để xưng hô của người lớn đối với kẻ nhỏ hày đồng vai vế (s: mārsa); 2. Tên một con sông ở Trung Hoa.
Nhữ đẳng 汝等; C: rǔděng; J: nyotō; S: mārsa|Các anh, chúng mày.
Như Hiện Nguyệt Quang 如現月光; ?-1765|Thiền sư Việt Nam thuộc tông Lâm Tế truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 37. Sư nối pháp Thiền sư Chân Nguyên và truyền lại cho đệ tử là Tính Tĩnh.|Sư sinh ở làng Ðường Hào, huyện Thanh Hà, tỉnh Hải Dương, xuất gia năm 16 tuổi tại chùa Long Ðộng trên núi Yên Tử. Nơi đây, Sư chuyên cần tu học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Chân Nguyên. Khi Chân Nguyên tịch, Sư được truyền y bát của phái Trúc Lâm Yên Tử, kế thừa thầy chăm sóc các ngôi chùa Long Ðộng, Quỳnh Lâm và Nguyệt Quang.|Năm 1748, Sư được vua Lê Hiến Tông phong chức Tăng thống và năm 1757 hiệu Tăng Thống Thuần Giác Hoà Thượng. Sư sống rất đạm bạc, ăn mặc rất sơ sài nhưng các vị đại thần đều quý trọng. Tương truyền rằng, Sư có hơn 60 vị đệ tử anh tài mà Thiền sư Tính Tĩnh là vị được truyền y bát Trúc Lâm, thay thế Sư chăm lo các ngôi chùa nêu trên.|Ngày mùng 6 tháng 9 năm Ất Dậu, Sư gọi chúng lại từ biệt rồi tịch. Môn đệ xây tháp thờ tại chùa Nguyệt Quang. Chùa này bây giờ nằm ở phường Ðông Khê, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
Như Lai 如來; S, P: tathāgata;|Là »Người đã đến như thế«; danh hiệu chỉ một vị đã đến bậc giác ngộ cao nhất, bậc Chính đẳng chính giác. Như Lai là một trong mười danh hiệu của một vị Phật. Theo ý nghĩa nguyên thuỷ thì danh từ Như Lai không phải là một »danh hiệu.« Phật Thích-ca Cồ-đàm sử dụng danh từ này để tránh sử dụng chữ »ta«, »tôi« trong lúc giảng dạy, thuyết Pháp và đây cũng là một phong cách biểu lộ sự khiêm tốn của Ngài.|Với sự phát triển của Phật giáo theo thời gian, ý nghĩa của danh từ Như Lai đã biến đổi. Trong Ðại thừa, Như Lai chỉ Ứng thân (s: nirmāṇakāya, Ba thân) của Phật. Ðó là con người toàn hảo, có thể xuất hiện dưới mọi dạng khác nhau, có Mười lực (s: daśabala) của một vị Phật. Như Lai cũng biểu hiện cụ thể của Chân như, thể tính của vũ trụ, được xem là sứ giả trực tiếp của Chân như, là gạch nối giữa hiện tượng và bản thể. Trong nhiều trường hợp, Như Lai được xem là đồng nghĩa với Trí huệ (s: prajñā) và tính Không (s: śūnyatā).
Như Lai tạng 如來藏; S: tathāgata-garbha;|Nghĩa là cái gốc, nơi xuất xứ của Như Lai; quan điểm Ðại thừa, chỉ mỗi chúng sinh đều chứa Pháp thân (s: dharmakāya, Ba thân) trong thân mình, chứa khả năng thành Phật, khả năng Giác ngộ. Trong các kinh Ðại thừa, Như Lai tạng đồng nghĩa với Phật tính, Pháp giới, Chân như.
Nhu nhuyến 柔軟; C: róuruăn; J: nyūnan; |Linh động, mềm dẻo, hoà nhã, dịu dàng, ôn hoà (s: mṛdu).
Nhu nhuyến âm 柔軟音; C: róuruănyīn; J: nyūnan'on; |Âm thanh lời nói dịu dàng, hoà ái của Đức Phật, là một trong tám loại âm thanh lời nói của ngài.
Như thật tri kiến 如實知見; S: yathābhūtaṃ-jñānadarśana; P: yathābhūta-ñāṇadassana; tức là »Nhìn nhận vạn vật như chúng đích thật là«;|Mục đích tối thượng của đạo Phật và là điểm khác nhau giữa một phàm phu và một bậc Giác ngộ. Trong khi bậc giác ngộ đã đạt Như thật tri kiến thì những người còn u mê cứ quanh quẩn mãi trong cái tranh cãi, vướng mắc vào những Ðảo kiến, phân biệt, thị phi, cho tất cả những hiện tượng xung quanh là thật, là trường tồn, là có tự Ngã. Ðó chính là yếu tố trói buộc chúng sinh vào Luân hồi.
Như Trừng Lân Giác 如澄麟角; 1696-1733|Thiền sư Việt Nam thuộc tông Lâm Tế truyền sang Ðàng ngoài, pháp hệ thứ 37. Sư kế thừa Thiền sư Chân Nguyên, sau thành lập một nhánh thiền gọi là Liên Phái.|Sư tên Trịnh Thập, con của Phổ Quang Vương. Lớn lên, Sư được vua Lê Hi Tông gả công chúa thứ tư cho. Một hôm, Sư sai quân đào đất làm ao nuôi cá bỗng dưng tìm thấy một cọng sen lớn. Sư cho đó là điềm lành liền đổi nhà thành chùa, đặt tên là Liên Tông, viện tên là Li Cấu. Sư cũng dâng sớ xin vua được phép xả tục xuất gia. Vua nhận lời và ngay khi được phép, Sư đến Thiền sư Chân Nguyên Chính Giác tại chùa Long Ðộng.|Chân Nguyên gặp Sư hỏi: »Duyên xưa gặp gỡ, vì sao đến chậm vậy?« Sư thưa: »Thầy trò hội hiệp thời tiết đến thì gặp.« Chân Nguyên bảo: »Trùng hưng Phật Tổ sau này là trông cậy ở ngươi.«|Từ đây, Sư ngày ngày ngiên cứu, thông suốt Tam tạng. Sư được Chân Nguyên truyền giới và Tâm ấn. Sau đó, Sư trở về trụ trì tại chùa Liên Tông. Ðồ chúng nghe tin đến học rất đông, do đó mà phái thiền Liên Tông hoặc Liên Phái được thành lập.|Một hôm, Sư bảo chúng: »Giờ quy tịch của ta sắp đến. Ta được pháp nơi Hoà thượng Chân Nguyên, sẽ trao lại cho các ngươi. Hãy nghe kệ đây:|本從無本。從無爲來|還從無爲去。我本無來去|死生何曾累|Bản tòng vô bản, tòng vô vi lai|Hoàn tòng vô vi khứ, ngã bản vô lai khứ|Tử sinh hà tằng luỵ.|*Vốn từ không gốc|Từ không mà đến|Lại từ không mà đi|Ta vốn không đến đi|Tử sinh làm gì luỵ.«|Sư bảo: »Thân khổ Tứ đại này đâu thể giữ lâu.« Nói xong, Sư ngồi yên thị tịch, nhằm niên hiệu Long Ðức thứ 2, thọ 37 tuổi.
Như ý châu 如意珠; S: cintāmaṇi;|1. Ngọc như ý, được xem là thuộc tính của các vị Phật và Bồ Tát (Ðịa Tạng, Quán Thế Âm, Bảo Sinh Phật);|2. Ngọc cũng tượng trưng cho tâm thức tự tại.
Như ý túc 如意足; S: ṛddhipāda; P: iddhipāda; hoặc Thần túc, thường được gọi là Tứ như ý túc (四如意足; s: catvāra ṛddhipādāḥ), Tứ thần túc;|Chỉ những nẻo đường dẫn đến Thần thông (Lục thông). Như ý túc bao gồm: 1. Dục (chanda), nghĩa là tập trung vào ý chí mạnh mẽ; 2. Tinh tiến (s: vīrya), tập trung vào nghị lực; 3. Tâm (citta), chú tâm; 4. Trạch pháp (s: mīmāṃsā), chú tâm vào sự tra tầm.
Nhuận 潤; C: rùn; J: jun, nyun;|1. Thấm nước, làm cho đất màu mỡ, làm phong phú, làm ích lợi, trang nghiêm; 2. Sáng ngời, xuất sắc; 3. [Phật học] Tính chất kết dính, sự kết dính (s: sneha). Ứơt, thấm nước; 3. Trạng thái lỏng, dễ biến đổi (s: seka); 4. Đem sự an lạc đến cho chúng sinh.
Nhuận sinh 潤生; C: rùnshēng; J: nyunjō;|Sự nuôi dưỡng hay »tưới tẩm« các nhiễm ô. Nuôi dưỡng các phiền não.
Nhương tướng kim cương đà-la-ni kinh 壤相金剛陀羅尼經; C: răngxiàng jīngāng tuóluóníjīng; J: esō kongō daranikyō; S: vajravidāraṇa-dhāraṇī; T: rdo rje rnam par 'joms pa shes bya ba'i gzungs| 1 quyển. Sa-la-ba (沙羅巴, t: zhwa lu pa) dịch. Bản phiên âm Phạn phù hợp với bản dịch tiếng Tây Tạng và Phạn. Các bản dịch khác là Kim cương tồi toái đà-la-ni (金剛摧碎陀羅尼).
Ni-a-na Ti-lô-ka P: nyanātiloka; nghĩa là Tam thế trí giả, »Trí giả thông ba thời«, 1878-1957;|Cao tăng người Ðức kiêm dịch giả lừng danh. Sư tên thật là Walter Florus Gueth, sinh trưởng trong một gia đình Thiên chúa giáo, học ngành âm nhạc và trở thành một tay chơi đàn violon xuất sắc. Trong một chuyến viếng thăm Tích Lan, Sư bỗng mộ đạo Phật và sau đó đến Miến Ðiện gia nhập giáo hội. Sư là một trong những học giả quan trọng nhất trong lĩnh vực kinh sách văn hệ Pā-li, đã dịch các tác phẩm sau đây sang Ðức và Anh ngữ: Di-lan-đà vấn đạo (p: milindapañha, 1919-1924), Tăng-nhất bộ kinh (aṅguttara-nikāya, 1922), Thanh tịnh đạo (visuddhi-magga, 1952). Những bản dịch của Sư rất hay và chính xác, đặc biệt là tác phẩm Thanh tịnh đạo của Ðại sư Phật Âm (p: buddhagosa). Ngoài ra, Sư cũng biên soạn nhiều sách giáo khoa và một quyển từ điển đạo Phật.
Niệm 念; S: smṛti; P: sati; nghĩa là »nhớ, nghĩ«; |Trong đạo Phật, niệm chỉ sự chú tâm hay tỉnh giác. Ðó là lúc hành giả chú tâm lên các hoạt động của thân thể và tư duy. Ðó chính là chính niệm, yếu tố thứ bảy của Bát chính đạo, một trong Bảy giác chi (s: bodhyaṅga) và một trong Năm lực (s: pañcabala). Tâm thức đó được gọi là »đúng đắn« vì nó giúp hành giả giác ngộ. Nhờ chính niệm, người ta phát khởi tri kiến về vô thường, vô ngã và khổ của sự vật. Niệm là phép tu căn bản trong Bốn niệm xứ (s: smṛtyupasthāna; p: satipaṭṭhāna).
Niêm hoa vi tiếu 拈花微笑; J: nenge-mishō; nghĩa là »cầm hoa mỉm cười«;|Một câu nói thường được dùng trong Thiền tông để chỉ việc truyền pháp nằm ngoài ngôn ngữ của Phật Thích-ca Mâu-ni cho Tổ thứ nhất là Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa). Cách »Dĩ tâm truyền tâm« này là sự bắt đầu của »Giáo ngoại biệt truyền«, một danh hiệu mà chư vị Thiền sư tự đặt cho trường phái của mình.|Câu chuyện Niêm hoa vi tiếu trên được thuật lại trong một bộ Kinh với tên Ðại phạm thiên vương vấn Phật quyết nghi kinh (j: daibontennō-mombutsu-ketsugi-kyō). Tương truyền rằng, Phạm thiên vương (s: brahmā) một hôm viếng thăm một hội thuyết pháp của đức Phật trên đỉnh Linh Thứu. Ông cúng dâng đức Phật một cành hoa (có thuyết nói là hoa Sen, một thuyết khác là hoa Ưu-đàm) và thỉnh Phật vì chúng thuyết Pháp. Thay vì thuyết pháp thì Phật chỉ cầm một nhành hoa, se giữa những ngón tay và im lặng mỉm cười. Chẳng ai trong chúng hiểu được thâm ý ngoài Ma-ha Ca-diếp với một nụ cười trả lời. Theo Vô môn quan, Công án thứ 6 – một cách trình bày ngắn gọn của sự kiện này – thì Phật bảo rằng: »Ta có Chính pháp nhãn tạng, Niết-bàn diệu tâm, thật tướng không tướng, vi diệu pháp môn, bất lập văn tự, giáo ngoại biệt truyền, nay trao lại cho Ma-ha Ca-diếp.«|Ma-ha Ca-diếp vì vậy mà được xem là Tổ thứ nhất của Thiền tông.
Niệm Phật 念佛; J: nembutsu;|Là tụng niệm danh hiệu Phật; trong một nghĩa hẹp thì Niệm Phật là phương pháp tu tập chính của tông Tịnh độ và Phật ở đây chính là Phật A-di-đà. Nếu ai niệm danh hiệu Phật A-di-đà với tất cả niềm tin và hi vọng thì có thể thác sinh vào cõi Cực lạc của Ngài.|Sau đây là một vài cách niệm Phật, Bồ Tát thường gặp:|南無阿彌陀佛。Nam-mô A-di-đà Phật; Nhật ngữ: Namu Amida Butsu; Phạn ngữ: Namu Ami-tābha Buddha;|南無本師釋迦牟尼佛。 Nam-mô Bản sư Thích-ca Mâu-ni Phật; Phạn ngữ: Namu Upādh-yāya Śākyamuni Buddha;|南無大悲觀世音菩薩。 Nam-mô Ðại bi Quán Thế Âm Bồ Tát; Namu Mahākaruṇā Avaloki-teśvara Bodhisattva.
Niết 涅; C: niè; J: ne;|Phiên âm chữ nir từ tiếng Phạn. Xem mục từ kế tiếp.
Niết-bàn 涅槃; S: nirvāṇa; P: nibbāna; C: nièpán; J: nehan; dịch nghĩa là Diệt (滅), Diệt tận (滅盡), Diệt độ (滅度), Tịch diệt (寂滅), Bất sinh (不生), Viên tịch (圓寂), Giải thoát (解脫), Vô vi (無爲), An lạc (安樂);|Tiếng phiên âm tương đương với chữ nibban thuộc hệ ngôn ngữ Ấn âu thông dụng; 1. Tình trạng ngọn lửa phiền não; đã bị dập tắt; 2. Là động từ, có nghĩa là nhập niết-bàn; 3. Vô vi.|Niết-bàn mục đích tu hành của mọi trường phái Phật giáo. Trong đạo Phật nguyên thuỷ, Niết-bàn được xem là đoạn triệt Luân hồi (saṃsāra) và đi vào một thể tồn tại khác. Ðó là sự tận diệt gốc rễ của ba nghiệp Bất thiện (s: akuśala) là tham, sân và si. Ðồng thời Niết-bàn có nghĩa là không còn chịu sự tác động của Nghiệp (s: karma), không còn chịu quy luật nhân duyên, Vô vi (s: asaṃkṛta), đặc tính của nó là thiếu vắng sự sinh, thành, hoại, diệt.|Với sự xuất hiện của Ðại thừa (s: mahāyā-na), người ta có một quan điểm mở rộng của Niết-bàn dựa trên khái niệm Bồ Tát (s: bo-dhisattva) và trên tính nhất thể của vạn vật. Niết-bàn được xem là sự thống nhất với cái Nhất thể tuyệt đối (sự bình đẳng của chúng sinh; s: sattvasamatā) đó, sự thống nhất của luân hồi với »dạng chuyển hoá« của nó. Ở đây Niết-bàn được xem như sự lưu trú trong tính tuyệt đối, sự an lạc khi thấy mình cùng một thể với tuyệt đối, khi thấy mình giải thoát khỏi mọi ảo giác, mọi biến tướng, mọi tham ái.|Nhiều người hiểu Niết-bàn chỉ là một cõi hư vô tịch diệt. Ngay Phật giáo nguyên thuỷ đã bác bỏ quan niệm đó. Trong nhiều kinh sách, người ta mô tả Niết-bàn như một »ngọn lửa đã tắt«: Phật giáo quan niệm ngọn lửa tắt không có nghĩa là nó hoại diệt, nó đi vào Hư không (s: ākāśa), trở thành vô hình, thì như thế, Niết-bàn không phải là sự hoại diệt, đó là tình trạng đi vào một sự tồn tại khác. Như lửa phát sinh từ hư không và trở về với hư không, thì Niết-bàn là một tình trạng của tâm thức trở về với một cõi xứ không chịu sự sinh diệt. Ðó là một tình trạng không có một vị trí địa lí, mà là một dạng siêu việt, Xuất thế (出世; s: lokottara) và chỉ có những hành giả đã đạt mới biết được. Vì vậy, trong đạo Phật nguyên thuỷ, Niết-bàn hầu như được hiểu xa cách thế gian, giải thoát khỏi phiền não.|Trong một số kinh sách khác, Niết-bàn được hiểu là sự »an lạc« nhưng phần lớn được hiểu là sự giải thoát khỏi cái Khổ (s: duḥkha). Vì không có ngôn ngữ để diễn tả Niết-bàn, đó là phạm vi nằm ngoài ngôn ngữ và lí luận, nên có nhiều người hiểu Niết-bàn theo quan niệm hư vô. Cách thế dễ tiếp cận nhất về Niết-bàn là hiểu sự tồn tại là một tình trạng đầy dẫy khổ đau và Niết-bàn là dạng tồn tại thiếu vắng sự khổ đau đó. Ðối với hành giả Phật giáo thì định nghĩa liệu Niết-bàn là một dạng tồn tại thật sự hay chỉ là cõi tịch diệt không hề quan trọng. Vì lí do này mà Phật Thích-ca từ chối mọi mô tả về Niết-bàn.|Trong Tiểu thừa (s: hīnayāna), người ta phân biệt hai loại Niết-bàn:|1. Hữu dư niết-bàn (有餘涅槃; s: sopadhi-śeṣa-nirvāṇa; p: savupadisesa-nibbāna): Niết-bàn còn tàn dư, Niết-bàn trước khi tịch diệt. Niết-bàn này là trạng thái của các bậc thánh nhân đã dứt bỏ mọi Phiền não, không còn tái sinh. Các vị này còn sống trên đời nên vẫn còn Ngũ uẩn, còn có nhân trạng nên gọi »hữu dư«. Trong Hữu dư niết-bàn hành giả còn khổ vì còn chịu nghiệp cũ. Có lúc hành giả thoát được cái khổ đó một cách tạm thời trong một số tình trạng thiền định nhất định. Từ quan điểm Hữu dư Niết-bàn này của Tiểu thừa mà phát sinh khái niệm Niết-bàn vô trụ (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa) của Ðại thừa.|2. Vô dư niết-bàn (無餘涅槃; s: nirupadhi-śeṣa-nirvāṇa; p: anupadisesa-nibbāna): là Niết-bàn không còn Ngũ uẩn (s: pañca-skan-dha), Mười hai xứ (s, p: āyatana), mười tám Giới (s, p: dhātu) và các Căn (indriya). Niết-bàn vô dư đến với một vị A-la-hán sau khi chết, không còn tái sinh. Loại Niết-bàn này cũng được gọi là Niết-bàn toàn phần hay Bát-niết-bàn (般涅槃; s: parinirvāṇa).|Ngay trong Tiểu thừa thì quan điểm của mỗi phái cũng khác nhau. Nhất thiết hữu bộ (s: sar-vāstivāda) luận về Niết-bàn với khái niệm khả quan, cho rằng Niết-bàn là thể không sinh thành hoạt diệt, có thể dần dần đạt đến bằng cách loại trừ khổ. Cứ diệt một loại khổ thì đạt được một cảnh giới của Niết-bàn. Vì thế mà có nhiều loại Niết-bàn và hầu như Niết-bàn là một cảnh giới cụ thể. Ðối với Kinh lượng bộ (sautrāntika) thì Niết-bàn chỉ là dạng chấm dứt khổ, nhưng không phải là một cảnh giới vĩnh hằng. Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya) cho rằng có một cá nhân (s: pudgala) thường còn, hiểu Niết-bàn là cõi mà cá nhân đó tiếp tục tồn tại. Ðối với Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) – được xem là tiền thân của phái Ðại thừa – thì khái niệm Niết-bàn vô dư không còn quan trọng nữa. Từ đây các bộ phái sau bắt đầu phát triển và sử dụng danh từ Vô trụ niết-bàn (s: apratiṣṭhita-nirvāṇa). Ðó là trạng thái Niết-bàn của các vị Phật đã thoát khỏi ràng buộc của thế gian nhưng chưa muốn hoàn toàn tịch diệt.|Trong Ðại thừa, người ta nhấn mạnh đến tính chất Bồ Tát nhiều hơn và vì thế khái niệm Niết-bàn không được đề cao nhưng vẫn là mục đích cao nhất trên đường giải thoát. Không có tông phái Ðại thừa nào xem Bồ Tát là mức cuối cùng của Phật đạo; đối với Bồ Tát, việc »nhập Niết-bàn« chỉ được »hoãn lại« sau khi toàn thể chúng sinh đều được giải thoát. Theo quan điểm Ðại thừa, Niết-bàn là sự thống nhất với cái tuyệt đối, không phải chỉ mỗi một cá nhân mà với mọi hiện tượng và vì vậy, Ðại thừa không thấy sự khác biệt giữa Niết-bàn và sinh tử. Ở đây, người ta phân biệt hai loại Niết-bàn: Vô trụ niết-bàn (s: apratiṣṭhitanirvāṇa) và Thường trụ niết-bàn (s: pratiṣṭhita-nirvāṇa; »thường trụ« ở đây với ý nghĩa cố định, bất động).|Trong các phái Ðại thừa, quan niệm về Niết-bàn cũng khác nhau: phái Trung quán (s: mādhyamika) cho rằng, Niết-bàn nằm trong tính Không (s: śūn-yatā), đó là sự »chấm dứt cái thiên hình vạn trạng«, cái chấm dứt đó là sự vắng bóng của mọi ràng buộc thế gian. Niết-bàn là sự thống nhất với Chân như (s: tathatā) không diễn tả được, là cái luôn luôn hiện hữu, nhưng không được nhận biết. Niết-bàn và sinh tử không hề khác nhau, đứng trên phương diện lí tính tuyệt đối mà nói. Chính cái Thức vô minh của chúng ta ngăn cản không cho nhận ra cái lí tính tuyệt đối đó.|Duy thức tông cũng cho rằng Niết-bàn và luân hồi không khác, mọi hiện tượng đều không tồn tại, không thật có. Ðối với tông này thì Niết-bàn xuất hiện khi mọi phân biệt chấm dứt. Duy thức tông cho rằng có hai dạng Niết-bàn: Niết-bàn của A-la-hán, đó là người khi chết chỉ còn Chân như tuyệt đối là tồn tại. Ðó là người »đã yên nghỉ.« Dạng Niết-bàn đó tuy nhiên không ưu việt bằng Niết-bàn của Phật, là dạng chủ động »dập tắt ngọn lửa đời sống« nhưng cũng chủ động ban phát lòng từ bi. Ðây là dạng thống nhất của Chân như với mọi chúng sinh, trong đó mỗi cá nhân vẫn còn tồn tại trong nghĩa quy ước.|Trong Thiền tông, Niết-bàn cũng không hề tách rời với thế giới này mà chính là sự trực ngộ được thể tính của Tâm, là thể tính của con người, thể tính của Phật. Thực hiện Niết-bàn phải thông qua trí huệ và vì vậy, có khi Niết-bàn được xem là đồng nghĩa với Trí huệ Bát-nhã. Niết-bàn và Trí huệ chỉ là hai mặt của một cái duy nhất. Niết-bàn là trạng thái của một người đã đạt trí huệ Bát-nhã, đã đạt tri kiến về Tâm và ngược lại Bát-nhã là trí huệ của một người đã thực hiện Niết-bàn.
Niết-bàn đường 涅槃堂; J: nehandō;|Tên gọi của nhà dưỡng bệnh trong một Thiền viện. Những tên gọi khác của Niết-bàn đường là An Lạc đường (j: anrakudō) hoặc Diên Thọ đường (j: enjudō).
Niết-bàn hội 涅槃會; C: nièpán huì; J: nehan'e;|Pháp hội cử hành vào ngày 15 tháng 2, ngày Đức Phật Thích-ca Mâu-ni nhập niết-bàn. Pháp hội nầy có ở các quốc gia Phật giáo Á Đông.
Niết-bàn kinh 涅槃經; C: nièpán jīng; J: nehangyō;|Một trong các kinh văn chính của Phật giáo Đại thừa Á Đông, có 3 bản dịch:|1. Đại bát Niết-bàn kinh (大般涅槃經; s: mahāparinirvāna-sūtra); 40 quyển, do Đàm Vô Sấm dịch vào thời Bắc Lương.|2. Cùng nhan đề trên; gồm 36 cuốn; Huệ Nghiêm (慧嚴; s: jñānabhadra) và Hui-ning dịch vào đời Tống.|3. Phật thuyết Đại bát Niết-bàn kinh (佛説大般泥洹經), 6 quyển; Phật-đà-bạt-đà-la (s: buddhabhadra) và Pháp Hiển (法顯) dịch vào đời Tây Tấn năm 416-418.|Kinh nầy được cho là bài pháp cuối cùng của Đức Phật trước khi ngài nhập niết-bàn, nhấn mạnh rằng tất cả các loài hữu tình đều có Phật tính; và tất cả chúng sinh, kể cả Nhất-xiển-đề, đều sẽ thành Phật. Bản kinh đầu tiên có lẽ đã được truyền bá dần vào lúc Đàm Vô Sấm dịch xong, do vì bản kinh mà Pháp Hiển mang về Trung Hoa chỉ là một phần của bộ 6 quyển, trong khi bản dịch sau nầy của Đàm Vô Sấm (s: dharmakṣema) lên đến 40 quyển. Mãi về sau, Huệ Quán (慧觀), Huệ Nghiễm (慧嚴; 363-443); Tạ Linh Vận (謝靈運, 385-433) và một số người khác vào đời Lưu Tống (420-479), đã hợp nhất và cải thiện bản dịch của Phật-đà-bạt-đà-la và Pháp Hiển thành bản dịch riêng gồm 36 quyển. Bản dịch nầy gọi là Nam bản Đại bát Niết-bàn kinh, và bản của Đàm Vô Sấm dịch được gọi là Bắc bản.
Niết-bàn tịch tĩnh 涅槃寂靜; C: nièpán jíjìng; J: nehan jakujō;|Niết-bàn là hoàn toàn vắng lặng (s: śāntaṃ nirvāṇam). Là một trong Tam pháp ấn trong giáo lí Phật pháp.
Niết-bàn tông 涅槃宗; C: nièpán zōng; J: nehanshū;|Một trong 13 tông phái Phật giáo Trung Hoa. Tông nầy, tập trung vào giáo lí trong kinh Niết-bàn, tán thành những học thuyết như sự thường tại của Pháp thân, và sự hiện hữu của Phật tính trong toàn thể chúng sinh. Khi bản Bắc của kinh Niết-bàn lưu truyền đến Hồ Nam, thì Đạo Sinh (道生), người bị phê phán do học thuyết báo trước Nhất-xiển-đề có Phật tính, mới được minh oan. Việc nghiên cứu kinh nầy trở nên thịnh hành, bản Bắc của kinh Niết-bàn được lưu truyền đến ngày nay. Huệ Quán đưa ra phán giáo Ngũ thời đốn tiệm (頓漸五時), cho rằng nội dung kinh Niết-bàn phản ánh trọn vẹn ý chỉ của Đức Phật nhất. Đỉnh cao của việc truyền bá kinh Niết-bàn là vào thời đại Nam Bắc triều (439-589). Sau thời nhà Tuỳ, nhiều luận giải về kinh nầy được viết do những cao tăng như Huệ Viễn (慧遠), Cát Tạng (吉蔵), Quán Đỉnh (灌頂), nhưng nó bắt đầu bị lu mờ dần như là một tồn tại riêng lẻ khi có sự ra đời của Nhiếp luận tông (攝論宗) và Thiên Thai tông (天台宗). Hoàn toàn biến mất vào thời nhà Đường, đặc biệt sau sự ra đời của Tam luận tông (三論宗), Pháp tướng tông (法相宗), và Hoa Nghiêm tông (華嚴宗), nhưng học thuyết căn bản của nó vẫn có ảnh hưởng sâu sắc đến những tông phái kế thừa. Tông Niết-bàn còn được truyền bá sang Hàn Quốc và Nhật Bản, nơi nó có ảnh hưởng rất đáng kể.|Như các trường phái khác của Phật giáo Trung Quốc, Niết-bàn tông cũng chia nhiều »thời giáo«, các thời kì giáo hoá của Phật. Kinh Ðại bát-niết-bàn được xem là giáo lí sau cùng của đức Phật.
Niết-bàn tông yếu 涅槃宗要; C: nièpán zōngyào; J: nehan shūyō;|Tác phẩm của Nguyên Hiểu (元曉), iảng giải nội dung kinh Niết-bàn, qua phương diện Niết-bàn và Phật tính, cũng như thảo luận về phần yếu chỉ của kinh nầy.
Niệt-gu-na-pa S: nirguṇapa; »Kẻ vô dụng giác ngộ«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, có lẽ là đệ tử của Kan-ha-pa (s: kāṇhapa), sống trong thế kỉ thứ 10.|Niệt-gu-na-pa sinh trong một gia đình thuộc giai cấp thấp kém tại Pu-va-đê-sa (s: pūrvadeśa). Khi ông sinh ra cha mẹ rất vui mừng, nhưng chẳng bao lâu gia đình rất thất vọng vì ông là người ngớ ngẩn, không làm được gì cả. Ngày nọ, buồn quá, ông kiếm chỗ vắng vẻ ngoài chơi và tình cờ có một Du-già sư đi qua.Vị này khuyên ông tu tập, nhưng ông chỉ chịu thực hiện nếu phép tu này cho phép ông vừa nằm vừa tu! Thế mà vị Du-già sư vui lòng cho ông nhập môn và dạy phép quán Sắc với Không không hề rời nhau:|Người biết, vật được biết,|cả hai đều hư vọng.|Kẻ không biết điều này,|chỉ chuốc lấy khổ đau,|đáng thương thay cho họ.|Thế nhưng ngay khổ đau,|lại cũng chẳng có thật.|Khi tâm thức trở thành,|nguồn ánh sáng thanh tịnh.|Khi hiện tượng, tính Không,|không bao giờ lìa tách,|thì ngươi đạt tự tại,|vào xóm chợ thị thành,|như thánh nhân điên khùng.|Niệt-gu-na-pa nghe lời khai thị, lên đường khất thực, tu tập quán tưởng đến khi ông nhận thấy nhất thể của Sắc và Không chỉ là ánh sáng và đạt thánh quả. Mọi người hỏi ông là ai, ông nhìn thẳng vào mắt họ và khóc vì thương xót, họ nhìn thấy lòng từ bi trong mắt ông và cũng khóc theo. Còn những kẻ có căn cơ được ông nhận làm đệ tử. Thành đạo ca của ông như sau:|Lời dạy của Ðạo sư,|chỉ thẳng vào Trung đạo.|Lời dạy của Ðạo sư,|làm yên lành cảm thụ,|đang vùng vẫy trong tâm,|làm yên lành tư tưởng,|đang chồng chéo lẫn nhau.|Phép quán tưởng thiền định,|làm dịu mọi mâu thuẫn,|ta trở nên tỉnh giác,|hoá giải chúng dễ dàng.
Ninh-mã phái T: nyingmapa [rñyiṅg-ma-pa]; cũng được gọi là Cựu phái vì được sáng lập từ lần đầu Phật giáo truyền qua Tây Tạng, hoặc Hồng giáo, vì các tu sĩ phái này thường mang y phục màu hồng (hoặc mũ màu hồng);|Một trong bốn tông phái chính của Phật giáo Tây Tạng. Tông này thống nhất truyền thống của Ðại sư Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và của các cao tăng Tì-ma-la Mật-đa (hoặc Tịnh Hữu; s: vimalamitra), Biến Chiếu (s: vairocana) từ Ấn Ðộ truyền qua trong thế kỉ thứ 8. Từ thế kỉ 15 trở đi, giáo lí của tông này được xắp xếp theo hệ thống nhưng không được thu nhận vào Ðại tạng (Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ) của Tây Tạng. Giáo pháp này lấy Ðại cứu kính (t: dzogchen) làm cơ sở và dựa trên luận giải của Long-chen-pa.|Phái Ninh-mã nguyên thuỷ gồm có cả tăng sĩ lẫn cư sĩ và giữ được truyền thống của mình qua thời kì Phật giáo bị Lãng-đạt-ma (t: langdarma) bức hại (836-842). Qua thế kỉ thứ 11, phái này bắt đầu phát triển và trong nội bộ chia làm ba dòng chính: dòng »lịch sử«, dòng »trực tiếp« và dòng »kiến chứng.«|Dòng lịch sử hay tuyên giáo (t: kama) dựa trên hiển giáo xuất phát Phổ Hiền, trong đó có các giáo pháp quan trọng của Ba thừa chỉ được tìm thấy trong dòng Ninh-mã như Ma-ha du-già (s: mahāyoga), A-nậu du-già (anuyoga) và A-tì du-già (atiyoga).|Dòng trực tiếp hay Ter-ma dựa trên các bí lục do Liên Hoa Sinh truyền lại. Ví dụ như Tử thư (t: bardo thodol) là một tác phẩm Terma.|Dòng kiến chứng dựa trên sư tiếp xúc trực tiếp với Báo thân của các vị Ðạo sư (đã nhập diệt) trong lúc nhập định, theo lời khai thị của các vị đó để tuyên giáo các giáo pháp cụ thể trong những thời kì nhất định. Qua cách truyền giáo này mà Long-chen-pa được xem là trực tiếp nhận những lời khai thị của Liên Hoa Sinh.
Nội căn 内根; C: nèigēn; J: naikon;|Cảnh giới bên trong, cảnh giới của tâm.
Nội lục xứ 内六處; C: nèiliùchù; J: nairokusho;|Sáu chỗ bên trong, đó là 6 giác quan (căn) và thức (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Nội nhiệt 內熱; hay Nội hoả; T: tumo [gtum-mo]; S: caṇḍa, caṇḍalī;|Một trong sáu phép tu của Na-rô-pa (t: nāropa), được gọi là Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug) tại Tây Tạng. Nhờ kiểm soát hơi thở, chú tâm vào các Trung khu (s: cakra) và tập trung vào linh ảnh của một số âm ngữ như RAṂ hoặc RAṂ (Man-tra), hành giả có thể nâng thân nhiệt lên tới mức hầu như »ngồi trong lửa.« |Phương pháp này thật ra xuất phát từ Du-già (yoga) Ấn Ðộ nhưng được phổ biến mạnh tại Tây Tạng vì, một phần nhằm đạt giác ngộ, phần khác nhằm chống lạnh.
Nội phàm 内凡; C: nèifán; J: naibon;|Giai vị cao của hàng đệ tử phàm (chưa xuất gia); ngược lại, người bên ngoài chưa ngộ chính lí gọi là Ngoại phàm (外凡). Theo Tiểu thừa, giai vị nầy được gọi là Tứ thiện căn vị (四善根位). Đại thừa gọi là Tam hiền vị (三賢位).
Ô 汚; C: wū; J: o;|1. Nhuốm bẩn, làm dơ, làm ô uế, làm hư hỏng; 2. Bị nhuốm bẩn, bị dơ, bị hư hỏng; 3. Sự dơ bẩn, điều ô trọc, sự ô nhiễm; 4. Sự nhục nhã, sự hổ thẹn, ô danh; 5. Kém cỏi, hạ tiện, tầm thường.
Ô Cựu 烏臼; C: wūjiù; J: ukyū; ~ tk 8.-9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất. Bích nham lục có nhắc đến Sư trong Công án 75. Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên dùng gậy (Bổng hát) để giáo hoá.
Ô nhiễm 污染; S: āśrava, āsrava; P: āsava;|Nguyên nghĩa là Lậu, nghĩa là rỉ chảy, tiết lậu ra ngoài, cũng có thể hiểu là Phiền não; có ba thứ ô nhiễm làm gốc của mọi khổ đau và nguyên nhân của Luân hồi: 1. Ô nhiễm qua dục Ái (欲漏; Dục lậu; s: kāmāśrava; p: kāmāsava); 2. Ô nhiễm qua sự tồn tại (有漏; Hữu lậu; s: bhavāśrava; p: bhavāsava); 3. Ô nhiễm của Vô minh (無明漏; Vô minh lậu; s: avidyāśrava; p: avijjāsava).|Giải thoát ba ô nhiễm này (漏盡; lậu tận) đồng nghĩa với việc đắc quả A-la-hán (s: arhat).|Quan điểm về ô nhiễm này là quan điểm cuối cùng trong mọi suy luận từ trước đến nay về nguyên nhân của sự dính mắc trong vòng sinh tử. Quan điểm này bao gồm ba dạng của Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā) và vô minh, là nguồn gốc của Khổ như trong Mười hai nhân duyên chỉ rõ.
Ô-trượng-na 烏仗那; T: orgyen; S: oḍḍiyana, uḍḍiyana; dịch theo âm Hán Việt;|Một vùng đất huyền thoại được Phật giáo Tây Tạng cho là nơi sinh của Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và quê hương của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Vùng đó ngày nay thuộc về Pakistan. Các trường phái Phật giáo cổ thì cho rằng Ô-trượng-na nằm phía bắc Ấn Ðộ. Cả hai truyền thuyết đều nhất rằng Ô-trượng-na là nơi sản sinh ra một số giáo pháp Tan-tra (Mật tông Ấn Ðộ). Một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) là In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) được xem là vua xứ Ô-trượng-na.
Oánh Sơn Thiệu Cẩn 瑩山紹瑾; J: keizan jōkin; 1268-1325;|Thiền sư Nhật Bản, Tổ thứ tư của tông Tào Ðộng (j: sōtō) sau Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Sư nối pháp Thiền sư Triệt Thông Nghĩa Giới (tettsū gikai, 1219-1309), thành lập Tổng Trì tự (sōji-ji), một trong hai ngôi chùa quan trọng nhất của dòng Tào Ðộng song song với Vĩnh Bình tự (eihei-ji). Sư trứ tác Truyền quang lục (denkōroku), một tác phẩm được tất cả các dòng thiền Nhật Bản ưa chuộng và sử dụng cho đến ngày nay. Sư được các đệ tử trong tông môn Tào Ðộng cung kính gọi là Ðại Tổ (大祖; daiso), Ðạo Nguyên được gọi là Cao Tổ (高祖; kōso).|Sư quê tại Echizen, sớm được bà mẹ sùng tín gửi đến Vĩnh Bình tự để tu học. Sư thụ giới lần đầu (1280) nơi Thiền sư Cô Vân Hoài Trang (koun ejō, 1198-1280) – vị Tổ thứ hai của tông Tào Ðộng. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Hoài Trang quy tịch và Sư lưu lại tu học với Thiền sư Nghĩa Giới đến năm 17 tuổi. Sau đó, Sư bắt đầu một cuộc Hành cước kéo dài bốn năm (1285-1288), thu thập kiến thức cho cuộc đời hoằng hoá vinh quang của mình. Sư yết kiến nhiều vị cao tăng của nhiều tông phái khác nhau, tu tập Thiền theo Thiền sư Tịch Viên (寂圓; jakuen, 1207-1299, bạn đồng học với Ðạo Nguyên nơi Thiên Ðồng Như Tịnh) tại Bảo Khánh tự (hákyō-ji). Tại Kinh Ðô (kyōto), Sư tu tập Thiền theo tông Lâm Tế dưới sự hướng dẫn của hai vị Ðông Sơn Trạm Chiếu (東山湛照; tōzan tanshō, 1231-1291) và Bạch Vân Huệ Hiểu (白雲慧曉; hakuun egyō, 1228-1297), cả hai đều là môn đệ của Viên Nhĩ Biện Viên (enni ben' nen, 1202-1280). Một cuộc viếng thăm núi Tỉ Duệ (hieizan) được Sư sử dụng để nghiên cứu giáo lí của Thiên Thai tông (tendai-shū). Sư cũng đến tham vấn Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (shinchi kakushin, 1207-1298) – người đã đem tập Công án quan trọng Vô môn quan sang Nhật.|Khi trở về học với Nghĩa Giới – lúc bấy giờ trụ trì chùa Ðại Thừa (daijō-ji) – Sư đại ngộ (1294) khi Nghĩa Giới trao cho môn đệ công án thứ 17 của Vô môn quan để tham cứu. Trong cuộc vấn đáp trong công án này, Thiền sư Nam Tuyền Phổ Nguyện trả lời sư Triệu Châu Tòng Thẩm: »Tâm bình thường là Ðạo« (Bình thường tâm thị đạo). Khi Sư suy nghĩ trình Nghĩa Giới ›Bình thường tâm‹, Nghĩa Giới liền đánh ngay vào miệng Sư. Ngay lúc này, mắt tâm Sư liền mở sáng. Không bao lâu sau, Nghĩa Giới phó chúc Sư là người nối dõi tông đường và từ đây, Sư bắt đầu cuộc đời giáo hoá của mình.|Sau khi thừa kế Nghĩa Giới trụ trì chùa Ðại Thừa (1303), học chúng từ khắp nơi đến tham học và ngôi chùa này trở thành một trung tâm Phật giáo quan trọng của các miền Ðông bắc Nhật Bản. Nơi đây, Sư hoàn tất hai tác phẩm quan trọng của mình là Truyền quang lục (dentōroku) và Toạ thiền dụng tâm kí (坐禪用心記; zazenyōjinki). Trong Toạ thiền dụng tâm kí, Sư khuyên mọi người chú tâm đến việc Toạ thiền (zazen) và đặc biệt nhấn mạnh sự quan trọng của tư tưởng người đang toạ thiền. Tập này bắt đầu bằng những câu:|»Toạ thiền giúp con người khai sáng tâm lực và an trụ nơi cội nguồn. Ðó chính là sự thấy rõ Bản lai diện mục, là sự phát minh tâm địa. Thân tâm đều biến mất, không còn vướng mắc vào những hành động như ngồi, nằm. Vì thế nên hành giả không nên nghĩ thiện, ác, vượt hẳn ngôn ngữ như phàm, thánh, Vô minh, Giác ngộ, rời bỏ cõi của chúng sinh và Phật.«|Dựa trên các giáo lí nền tảng, Sư hướng dẫn rất tỉ mỉ về việc thực hành toạ thiền:|»Các buổi lễ long trọng và những ngôi chùa vĩ đại thờ Phật đều rất có ý nghĩa, nhưng nếu ai muốn toạ thiền rốt ráo, người ấy không được tham gia tổ chức các lễ này… Không nên toạ thiền ở nơi nào quá sáng hoặc quá tối, quá nóng hoặc quá lạnh, cũng không nên toạ thiền gần những người say đắm vào việc vui chơi hoặc kĩ nữ! Thiền đường, bên cạnh một vị thầy uy tín, cao vút trên núi hoặc tận sâu dưới thung lũng là những nơi thích hợp. Bên cạnh suối xanh, trên đỉnh núi cao là những nơi thuận tiện để kinh hành… Hành giả không được quên việc quán tất cả các Pháp đều Vô thường vì việc ấy giúp trau dồi tâm kiên cường… Lúc nào cũng giữ lòng Từ bi và chuyển tất cả những phúc đức thu thập được đến tất cả chúng sinh! Không được phát tâm kiêu mạn, không được khinh thường Phật pháp! Những phong cách này chính là phong cách của phàm phu, ngoại đạo. Nếu lúc nào cũng chú tâm đến lời nguyện đoạn tất cả phiền não để đạt Giác ngộ thì phải toạ thiền và vô tác (không làm). Ðây là quy luật quan trọng của việc toạ thiền.«|Một trong những thành công lớn của Sư là việc thành lập hai ngôi chùa lớn của tông Tào Ðộng, đó là Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) và Tổng Trì tự (sōji-ji, 1322). Hậu Ðề Hồ (go-daigo) Thiên hoàng nâng cấp Tổng Trì tự ngang hàng với Vĩnh Bình tự (eihei-ji) và gọi là Ðại bản sơn (daihonzan) của tông Tào Ðộng.|Trong khoảng thời gian cuối đời, Sư lui về Vĩnh Quang tự và giao phó việc quản lí chùa Tổng Trì cho vị đại đệ tử là Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365). Trước khi tịch, Sư còn soạn tập Oánh Sơn thanh quy (keizan shingi). Hài cốt của Sư được chia ra và thờ cúng tại bốn ngôi chùa: Ðại Thừa, Vĩnh Quang, Tổng Trì và Tịnh Trụ (jōjū-ji).
OṂ S: OṂ (ॐ); có khi được viết là AUM, phát âm theo Việt ngữ là Ôm, kéo dài âm Ô;|Là biểu tượng âm thanh cao quý và trọn vẹn nhất trong Ấn Ðộ giáo, được một vài trường phái Phật giáo, nhất là Kim cương thừa xem như một Man-tra.||H 45: OṂ|OṂ được xem là tượng trưng của cả hai, sắc và âm. OṂ là âm thanh tượng trưng sức mạnh của tâm thức nội tại, của Phật tính trong thế giới giả tạm, trong Ảo ảnh (s: māyā) này. OṂ được biểu diễn bằng ba vòng cung và một chấm nhỏ. Ba vòng cung biểu diễn sắc thể, ý thức và vô ý thức và chấm nhỏ nằm ngoài ba vòng đó biểu hiện trí huệ cao nhất dung chứa cả ba. Hình dạng của OṂ là một biểu hiện cụ thể của Chân như. Không có khái niệm hay vật thể nào trong vũ trụ có thể tồn tại độc lập. Tất cả đều là biến thể một một Chân tâm duy nhất, có liên hệ với Chân tâm đó và vì vậy chúng liên hệ lẫn nhau.|OṂ gồm có ba đường cong, một hình bán nguyệt và một dấu chấm. Các dạng này được xem nằm trong một thể thống nhất. Ba đường cong được nối với nhau, diễn tả ba tâm trạng (s: avasthā): tỉnh (s: jāgrat, vaiśvānara), mộng (s: svapna) và say ngủ (s: suṣupti). Dấu chấm và hình bán nguyệt, đứng rời, diễn tả Chân tâm là trạng thái »Thứ tư« (s: turīya), đứng trên và là nền tảng của ba trạng thái đó. Vòng bán nguyệt chỉ sự vô cùng và dấu chấm riêng lẽ chỉ óc suy luận (vòng bán nguyệt) không thể tiếp cận được Chân tâm.|Vòng tròn lớn (số 1) diễn tả tâm trạng thông thường, đó là hoạt động tiếp xúc ngoại cảnh. Vòng số 2 diễn tả giấc mộng, đó là tâm thức nội tại, do quá trình suy luận hình thành, không phụ thuộc vào ngoại cảnh và được xem là gạch nối giữa vòng 1 và 3. Vòng cao nhất (số 3) diễn tả tầng tiềm thức, đó là tâm trạng khi con người say ngủ. Vòng số 3 cũng chỉ là giai đoạn tiếp nối, nó là cấp gần với tâm trạng tuyệt đối nhất. Tâm trạng đó chính là dấu chấm, nó chiếu rọi và chế ngự ba tầng tâm thức kia, được gọi đơn giản là »Thể thứ tư« (s: turīya). »Thể thứ tư« là nguồn gốc của tất cả. Chỉ những người tu hành đã vượt ba tâm thức thô thiển trước mới tiếp cận được với thể thứ tư này.
OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ ॐमणिपद्मेहूं S: OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ; có thể dịch là » OṂ, ngọc quý trong hoa sen, HŪṂ.« Câu này được dịch âm Hán Việt là »Án ma-ni bát-mê hồng«;|Một Man-tra Phạn ngữ (sanskrit), được xem là Man-tra cầu đức Quán Thế Âm và là Man-tra quan trọng và lâu đời nhất của Phật giáo Tây Tạng. Thông thường người ta không giảng nghĩa Man-tra, nhưng ở đây cần nói thêm là, »ngọc quý« biểu hiện cho Bồ-đề tâm (s: bodhicitta), »hoa sen« chỉ tâm thức con người, ý nghĩa là tâm Bồ-đề nở trong lòng người. Tuy nhiên Man-tra có những âm thanh riêng biệt và những tác dụng bí ẩn theo cách trình bày của Kim cương thừa. Ðối với Phật giáo Tây tạng thì OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ chính là lòng từ bi rộng lớn, muốn đạt Niết-bàn vì lợi ích của chúng sinh. Vì vậy sáu âm của thần chú này cũng được xem là tương ưng với sáu cõi tái sinh của dục giới (Vòng sinh tử, Ba thế giới).
Pa-cha-ri-pa S: pacaripa; »Người bán bánh mì«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời nào.|Ông là người bán bánh mì cho chủ trong thành Cham-pa (s: campā). Ngày nọ ông không bán được chiếc nào cả, sẵn lúc đói bụng ông đành phải ăn một chiếc. Ngay lúc này một Ðạo sư xuất hiện. Vị ấy chính là một hoá thân của Quán Thế Âm. Ông tỏ lòng kính trọng và cúng dường phần bánh còn lại. Sau đó vị này cho ông Quy y Tam bảo, thụ Giới Bồ Tát và đọc Man-tra của Quán Thế Âm. Ông kiên trì tu học và sống bằng khất thực. Ngày nọ, ông gặp lại chủ bánh mì và người này đòi tiền bánh. Vì không có tiền trả nên mọi người xúm nhau đánh ông. Ông đành kêu to: »Không phải mình ta ăn bánh, cả thầy lẫn trò đều ăn.« Tiếng kêu ông cứ vang dội mãi một cách kì lạ làm chủ bánh mì sợ hãi. Sau đó ông đến tượng Quán Thế Âm cầu khẩn xin tiền, quả nhiên tượng cho ba mươi đồng tiền vàng, ông đem trả nợ. Lúc đó ông mới biết thầy mình là Quán Thế Âm. Sau đó ông định đến trú xứ của Quán Thế Âm là Pô-ta-la (s: potala) để tạ ơn nhưng giữa đường ông đạp gai nhọn. Ðau quá ông gọi tên thầy thì Quán Thế Âm hiện ra khuyên ông nên về lại Cham-pa mà giáo hoá cho người đời. Pa-cha-ri-pa mừng quá bay bỗng lên không, người đời thán phục và xin học giáo pháp. Chứng đạo ca của ông như sau:|Chẳng phải nhìn đâu xa,|hãy nhìn đúng trung tâm,|Lạc, xả, đầy hạnh phúc!|Tu tập phép Tan-tra,|Du-già sư đạt định.
Pa-li pāli;|Một thổ ngữ Ấn Ðộ, xuất phát từ Phạn ngữ (sanskrit) và được Thượng toạ bộ dùng để viết các bộ kinh điển của mình. |Về nguồn gốc của Pā-li, các học giả có nhiều ý kiến khác nhau. Giáo sư Rhys-Davids thì cho rằng, Pā-li là ngôn ngữ của xứ Kiêu-tát-la (s: kośala) trong vùng Ðông bắc Ấn Ðộ. Max Walleser, một nhà Ấn Ðộ học người Ðức cho rằng Pā-li là ngôn ngữ của kinh đô Hoa Thị thành (pāṭaliputra) của xứ Ma-kiệt-đà (magadha). Nhiều học giả cho rằng Pā-li chính là ngôn ngữ của đức Phật khi Ngài thuyết pháp và của giới thượng lưu tại Ma-kiệt-đà. Tuy nhiên, nhiều tài liệu khảo cổ cho thấy có sự khác nhau rõ rệt giữa tiếng Ma-kiệt-đà và Pā-li. Etienne Lamotte – một học giả người Pháp – cho rằng, Pā-li là một thổ ngữ của miền Trung Ấn Ðộ và thuộc họ ngôn ngữ Prakṛta.
Pan-ka-ja-pa S: paṅkajapa; »Liên hoa sinh Bà-la-môn«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ. Ông là đệ tử của Sa-ra-ha (s: saraha), sống khoảng đầu thế kỉ thứ 9.|Tương truyền ông là một Liên Hoa tử, là người sinh ra trong một đoá sen. Gần nơi ông sinh có một bàn thờ, thờ tượng Bồ Tát Quán Thế Âm, nhưng ông không biết, cứ tưởng đó là tượng của Ðại Thiên (s: mahādeva) và ngày nào ông cũng mang hoa đến cúng dường. Lần nọ vị Ma-ha Tất-đạt Long Thụ (nāgārjuna) đi qua đền thờ, mang theo một cánh hoa cúng thì Quán Thế Âm hiện ra, ban phép lành cho Long Thụ bằng cách đặt lại một cánh hoa trên đầu. Pan-ka-ja-pa lấy làm giận hỏi Long Thụ tại sao ông dâng cúng suốt 12 năm mà thần không hiện ra còn với Long Thụ thì chỉ cần một lần duy nhất. Long Thụ nói tâm ông chưa thanh tịnh, ông liền xin thụ pháp. Long Thụ giảng:|Nhờ tu tập từ bi,|mà dục lạc thế gian,|cùng tâm thức vô thuỷ,|trở về thành một mối.|Vì trong chính tri kiến,|không hề có phân biệt,|đó là Quán Thế Âm.|Ông nghe lời dạy lĩnh hội ngay và chỉ sau bảy ngày, ông đạt thánh quả. Sau khi giáo hoá được nhiều người, ông biến mất vào cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī).
Phá Táo Ðoạ 破灶墮; C: pozàoduò; tk. 7-8;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Huệ An Quốc sư. Huệ An là môn đệ đắc pháp của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn.|Sư ẩn cư trong núi Tung Nhạc, không để ai biết tên họ của mình và có những lời nói và hành động rất kì đặc.|Trong núi có một cái miếu rất linh, dân chúng xa gần mang tài vật và giết hại rất nhiều sinh mệnh để cúng tế miếu này. Ðặc biệt là trong miếu chỉ thờ một cái bếp. Một hôm, Sư cùng thị giả vào miếu, lấy gậy gõ vào bếp ba cái và quở: »Ngươi vốn là bùn đất hợp thành, Thánh từ đâu đến, linh từ chỗ nào lại!« Nói xong Sư đập cho ba gậy, bếp liền lật đổ. Giây lát, có một người mặc áo xanh, đầu đội mão đến làm lễ trước mặt Sư. Sư hỏi: »Ngươi là ai?« Người lạ đáp: »Con vốn là thần miếu ở đây. Từ lâu chịu nghiệp báo, hôm nay nhờ Thầy nói pháp vô sinh nên con được thoát kiếp. Con riêng đến nơi để tạ ơn Thầy.« Sư bảo: »Ấy là tính sẵn có của ngươi, chẳng phải ta cưỡng nói.« Táo thần làm lễ một lần nữa rồi biến mất. Thị giả thấy vậy thưa: »Từ lâu con ở bên cạnh Hoà thượng, chưa từng được chỉ dạy. Táo thần có sở đắc gì mà được thoát kiếp?« Sư bảo: »Ta không có đạo lí gì khác để dạy y, chỉ nói với y rằng: › Ngươi vốn là bùn đất hợp thành, Thánh từ đâu đến, linh từ chỗ nào lại!‹« Thị giả đứng lặng yên. Sư hỏi: »Hiểu chăng?« Thị giả thưa: »Chẳng hiểu.« Sư hỏi: »Tính sẵn có vì sao chẳng hiểu?« Thị giả liền lễ bái Sư. Sư nói: »Bể rồi! Ðổ rồi!«|Vì tích này mà Huệ An Quốc sư gọi Sư là Phá Táo Ðọa (theo Vườn thiền rừng ngọc, bản dịch của Thông Thiền).
Phái 派; C: pài; J: ha;|1. Sự phân chia, phân nhánh, một phần, phân lớp; 2. Một nhóm, bè cánh, truyền thống, trường phái; 3. Sai khiến đi.
Phàm 凡; C: fán; J: bon; S: pṛthagjana;|Có các nghĩa sau: 1. Tất cả, chung, tổng quát, mỗi; 2. Con người, thế tục, trần gian; 3. Ngu đần, đần độn (s: bala); 4. Người thế tục, kẻ phàm phu, phản nghĩa với Thánh; 5. Tất cả, hoàn toàn, tổng quát, toàn thể; 6. Theo thói quen, theo lệ thường; khoảng chừng.
Phẩm 品; C: pǐn; J: hin, hon; |Có các nghĩa sau: 1. Thuộc về một thứ lọai nào đó; 2. Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài; 3. Sự phân loại, mức độ; 4. Một phần của tác phẩm, chương, đoạn (s: parivarta, patala, varga). Varga được phiên âm là bạt-cừ (跋渠).
Phạm 梵; C: fàn; J: bon; |1. Phiên âm chữ Brahman trong tiếng Phạn. Là nguyên lí tối thượng, nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu trong tín ngưỡng Vệ-đà. Về sau, Brahman được nhân cách hoá trở thành một vị thần, và cuối cùng trở thành vị thần hộ pháp trong Phật giáo; 2. Phiên âm chữ brāhmaṇa trong tiếng Phạn, là một hiền nhân; 3. Thanh tịnh, phạm hạnh, thần thánh; 3. Tiếng Phạn.
Phạm bái 梵唄; C: fànbài; J: bonbai; |Bài hát hay kệ tán ca ngợi đức hạnh của đức Phật.
Phạm chúng thiên 梵衆天; C: fànzhòngtiān; J: bonshuten; S: brah-ma-kāyikāḥ. |Tầng trời của những quyến thuộc của Phạm thiên. Là tầng trời thứ nhất trong Tứ thiền thiên (四禪天) thuộc Sắc giới
Phạm hạnh 梵行; C: fànxíng; J: bongyō; S: brahmacarya; P: brahmacariya; cũng được dịch là Tịnh hạnh;|1. Hạnh thanh tịnh. Phạm (梵) nghĩa là thanh tịnh, thuật ngữ chỉ cho sự tu tập để giải trừ tham dục. Là công phu tu tập của tầng lớp Bà-la-môn thực hiện trong khi học đạo; 2. Là một trong những sự kiềm chế kỉ luật, Dạ-ma; 3. Tu tập hạnh thanh tịnh. Tu tập giới luật của tăng sĩ Phật giáo. Pháp tu giải trừ tham dục.
Phẩm loại 品類; C: pǐnlèi; J: honrui; |Loại, hạng, phạm trù, thứ, loài.
Phàm ngu 凡愚; C: fányú; J: bongu;|Người chưa giác ngộ (s: bāla; theo Hiển dương luận 顯揚論).
Phạm Nhật 梵日; C: fànrì; J: bonnichi; K: pŏmil, 810-889. |Một nhà lĩnh đạo phong trào Thiền tông Hàn Quốc. Sư sang Trung Hoa tham học với Diêm Quan Tề An (鹽官齊安) và Dược Sơn Duy Nghiễm (樂山惟嚴). Sư được xem là người khai sáng phái Xà-quật sơn (闍崛山, k: sagul san).
Phàm phu 凡夫; C: fánfū; J: bonbu;|Có các nghĩa sau: 1. Người ngu, người dốt nát. Người không sáng suốt, người không thông hiểu giáo lí Phật pháp (s: bāla, p: bāla); 2. Huyền Trang dùng từ nầy để dịch chữ pṛthag-jana, thay thế cho từ Dị sinh (異生), nghĩa là hàng thế tục chưa được giác ngộ, là người không thông hiểu ý nghĩa Tứ thánh đế. Trong các kinh văn của Du-già hành tông, thuật ngữ nầy chỉ cho hành giả chưa nhập giai vị Kiến đạo (見道). Nhị phàm phu (二凡夫).
Phàm phu tâm thức 凡夫心識; J: bonpu-(no)-jōshiki;|Nghĩa là tâm thức của một kẻ phàm, của một người tầm thường; tâm thức này đối nghịch lại với tâm thức của một người đã Kiến tính, ngộ đạo. Ðặc tính của phàm phu tâm thức là Vô minh (s: avidyā), sự tự nhận diện với một cái »ta« không có thật (huyễn Ngã), độc lập với thế giới »bên ngoài«, với kết quả là sự ô nhiễm với ba độc tham, sân và Si. Theo đạo Phật thì phàm phu tâm thức là tâm trạng bị bệnh và nếu ôm ấp nó – hoặc nói cách khác – bị nó vây phủ, người ta không thể nhận được cái bản tính thanh tịnh sẵn có (Tự tính thanh tịnh tâm), tức là Phật tính và cứ trầm luân trong biển khổ, bị trói buộc trong Vòng sinh tử, Luân hồi cho đến khi tâm thức này được đoạn diệt bởi kinh nghiệm kiến tính, giác ngộ.|Nếu cho rằng, tu tập thiền là một phương pháp hướng dẫn con người đi từ vô minh đến giác ngộ thì sự phân biệt giữa phàm phu và giác ngộ tâm thức có thể chấp nhận được. Nhưng nhìn từ lập trường tuyệt đối thì phàm phu tâm thức và giác ngộ tâm thức không phải là hai. Bản tính của phàm phu và giác ngộ tâm thức, Niết-bàn và Sinh tử là một. Sự khác biệt duy nhất ở đây là phàm phu không tự nhận được cái bản tính thanh tịnh sẵn có trong khi một bậc giác ngộ lúc nào cũng tự biết, tự chủ được việc này và lúc nào cũng tìm được vị an lạc nơi đó.
Phạm phụ thiên 梵輔天; C: fànfŭ tiān; J:; S: brahma-purohita.|Cư dân là quyến thuộc của Đại phạm thiên (s: mahābrahman), là tầng trời thứ hai trong 3 tầng trời thuộc Sơ thiền, được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền thuộc Sắc giới (Sắc giới thập thất thiên 色界十七天).
Phàm thánh 凡聖; C: fánshèng; J: bonshō;|Hàng phàm phu và bậc Thánh. Theo truyền thống Tiểu thừa, từ Sơ quả (初果) trở lên được xem là bậc Thánh. Theo tinh thần Đại thừa, từ Sơ địa của Thập địa trở lên được xem là bậc Thánh. Dưới các bậc nầy, được xem là người mê, hàng phàm phu, hay người thế tục.
Phàm thánh bất nhị 凡聖不二; C: fánshèngbùèr; J: bonshōfuni;|Kẻ phàm và bậc thánh đồng nhất với nhau về phương diện bản thể, đều có Phật tính.
Phàm thánh nhất như 凡聖一如; C: fánshèng yīrú; J: bonshō ichi-nyo;|Kẻ phàm và bậc thánh đồng nhất với nhau trên cơ sở Phật tính (佛性).
Phàm thánh y chính 凡聖依正; C: fánshèng yīzhèng; J: bonshō-ishō;|»Sự khác nhau giữa phàm và thánh nằm trong sự chính trực.« (Một câu văn được Hàm Hư 涵虚 lặp lại nhiều lần trong tác phẩm Viên Giác kinh thuyết nghị 圓覺經説誼 của mình).
Phạm thiên 梵天; C: fàntiān; J: bonten; S: brahma-loka. |1. Cõi trời Phạm thiên ở Sắc giới; 2. Brahman, theo tư tưởng Ấn Độ thì đó là nền tảng cơ bản nhất của hiện hữu, được xem là một vị thần hộ pháp trong Phật giáo, thường dùng để gọi Sơ thiền thiên (初禪天). Đây là một thuật ngữ để gọi 3 cõi trời gồm chung trong đó: Đại chúng thiên (大衆天, brahmā-kāyika), Phạm phụ thiên (梵輔天, brahma-purohita), Đại phạm thiên (大梵天, mahā-brahmā). Thuật ngữ nầy cũng thường dùng để chỉ cho chính Đại phạm thiên (大梵天, s: mahā-brahmā)
Phạm thiên khuyến thỉnh 梵天勸請; C: fàntiān quànqǐng; J: bonten kanshō; |Sự cầu thỉnh từ Phạm thiên. Huyền thoại liên quan đến chuyện sau khi Đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo, ngài nói rằng ban đầu không muốn giáo hoá chúng sinh, ngài cho rằng giáo lí ngài chứng ngộ được quá thâm sâu khó hiểu. Lúc ấy, đấng Phạm thiên (s: brahmā) trong Ấn Độ giáo xuất hiện và cầu thỉnh Đức Phật hãy vì chúng sinh mà truyền đạt những kinh nghiệm chứng ngộ của ngài.
Phạm trú 梵住; S, P: brahma-vihāra;|Bốn phạm trú.
Phạm tự 梵字; C: fànzì; J: bonji; |Chữ viết Ấn Độ, vốn là dạng chữ Phạn cổ xưa, về sau thuật ngữ nầy trở nên dung để đề cập đến kiểu chữ Devanāgari.
Phạm Tướng 梵相; C: fànxiāng; J: bonsō; 1346-1410|Thiền sư thuộc tông Lâm Tế, xuất thân từ vùng bây giờ là quận Yamanashi. Sư trải qua sự nghiệp hoằng hoá ở các ngôi chùa Thiên Long (天竜寺, j: tenryūji) và Tướng Quốc (相國寺, j: sōkokuji) ở Kinh Đô.
Phạm võng kinh 梵網經; S: brahmajāla-sūtra; C: fànwăngjīng; J: bonmōkyō; |2 quyển; Cưu-ma-la-thập dịch năm 406. Xuất phát từ một phẩm trong một bộ kinh lớn (120 quyển) nhan đề Bồ Tát giới kinh (菩薩戒經, s: bodhisattva-śīla-sūtra). Đây là kinh văn căn bản chỉ rõ nội dung giới luật Đại thừa, được Phật giáo Trung Quốc, Nhật Bản áp dụng. Kinh ghi 10 giới luật quan trọng mà Phật tử không được vi phạm: 1. Giết hại, 2. Trộm cắp, 3. Tà dâm, 4. Nói dối, 5. Say sưa, 6. Nói xấu người khác, 7. Chê người, tự khen mình, 8. Ganh ghét, 9. Giận dữ, 10. Phỉ báng Tam bảo. Tăng ni vi phạm có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.|Ngoài ra kinh Phạm võng còn ghi thêm 48 giới luật phụ khác. Ðặc biệt trong kinh này còn cho phép tự mình quy y tăng, nếu không có một Tăng-già chính thức hiện diện. Như thế 58 giới luật trong kinh Phạm võng là trọn giới luật Bồ Tát mà mỗi vị tỉ-khâu có nhiệm vụ giữ gìn.
Phạm vương 梵王; C: fànwáng; J: bonō; |Vua cõi trời Đại phạm.
Phán 判; C: pàn; J: han, pan;|Có các nghĩa sau: 1. Chia, phân, cắt ra.|2. Phân biệt, nhận ra, nhận rõ sự khác nhau giữa các pháp; 3. Đánh giá, phân xử việc gì; 4. Quyết định, xác định.
Phân biệt 分別; C: fēnbié; J: funbetsu;|Có các nghĩa sau: 1. Sự phán quyết, sự kết luận (đối với hiện tượng ngoại giới; p: vinicchaya). Thuật ngữ nầy thường dùng với ý nghĩa chê bai, liên quan đến các tâm hành có tính thiên vị và cục bộ gây chướng ngại cho tính dụng của tâm giác ngộ. Suy nghĩ với sự phân biệt (s: vikalpa, kalpana); 2. Bất đồng ý kiến, tranh luận, không tán thành (p: vivadati); 3. Sự thụ kí của đức Phật cho một đệ tử sẽ được thành Phật trong tương lai; 4. Luận nghị (論議; s: upadeśāh), một trong 9 (hay 12) thể loại trong kinh văn Phật giáo; 5. Phân loại, chia ra từng phần, giải quyết được, sắp xếp; 6. Sự phân tích, sự phân huỷ, sự phân biệt, sự khác nhau (s: vibhāga, lakṣayati); 7. Trong nghĩa tích cực, là phân biệt rõ chính với tà, chính pháp và tà thuyết.
Phân biệt bộ 分別部; S: vibhajyavādin;|Một bộ phái Tiểu thừa, tách ra từ Trưởng lão bộ (s: sthavira, p: theravāda) khoảng 240 năm trước Công nguyên. Từ bộ này lại xuất phát ra Thượng toạ bộ, Ẩm Quang bộ và Hoá địa bộ (xem biểu đồ của các bộ phái cuối sách).
Phân biệt chướng 分別障; C: fēnbié zhàng; J: funbetsushō;|Chướng ngại do phân biệt. Là Phiền não chướng (煩惱障) và Sở tri chướng (所知障) sinh khởi từ ý thức phân biệt. Vì phân biệt là chức năng của thức thứ 6 nên Phân biệt chướng sinh khởi từ thức đó. Nó sinh khởi do tà sư, tà thuyết, hay là tà kiến. Phân biệt khởi (分別起).
Phân biệt du-già luận 分別瑜伽論; C: fēnbié yúqié lùn; J: funbetsu-yugaron;|Được xem là một tác phẩm của Bồ Tát Di-lặc (彌勒), Thế Thân (世親) luận giải. Là 1 trong 11 bộ luận của Pháp tướng tông, nhưng chưa được dịch sang Hán văn.
Phân biệt duyên khởi sơ thắng pháp môn kinh 分別縁起初勝法門經; C: fēnbié yuànqǐ chūshèng fǎmén jīng; J: funbetsu engi shoshō hōmon kyō; S: vikalpa-pratītya-samutpāda-dhar-mottara-praveśa-sūtra.|Kinh, 2 quyển, Huyền Trang dịch tại chùa Đại Từ Ân năm 650. Đây là bài thuyết pháp về Mười hai nhân duyên.
Phân biệt khởi 分別起; C: fēnbiéqǐ; J: funbetsuki;|Phiền não sinh khởi từ phân biệt. Phiền não sinh khởi sau khi xuất sinh trong thế gian nầy, tùy thuộc vào những tà kiến mà người ta đã ôm ấp do y cứ vào giáo lí sai lầm… Những phiền não nầy sẽ được giải trừ khi qua giai vị Kiến đạo. Phiền não nầy khác với Câu sinh khởi (倶生起) và Nhậm vận khởi (任運起).
Phân biệt kinh 分別經; C: fēnbié jīng; J: funbetsu kyō;|Tên gọi tắt của kinh Phật thuyết A-nan phân biệt (佛説阿難分別經).
Phân biệt lực 分別力; C: fēnbiélì; J: bunbetsuriki;|Năng lực nhận biết, năng lực phán đoán (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Phân biệt sự thức 分別事識; C: fēnbié shìshì; J: funbetsu jishiki;|1. Thức phân biệt các hiện tượng các nhau (s: vastu-prativikalpa-vijñāna); 2. Thức thứ 6, ý thức (意識; s: mano-vijñāna).
Phân biệt thức 分別識; C: fēnbiéshì; J: funbetsushiki;|Đồng nghĩa với thức thứ 6, Ý thức (意識).
Phân biệt tính 分別性; C: fēnbié xìng; J: funbetsushō;|Bản tính y theo tâm phân biệt (s: pari-kalpita-svabhāva). Đồng nghĩa với Biến kế sở chấp tính (遍計所執性; s: parikalpita-svabhāva).
Phần Châu Vô Nghiệp 汾州無業; C: fénzhōu wuýè; 760-821;|Thiền sư Trung Quốc, pháp tự của Mã Tổ Ðạo Nhất Thiền sư.|Sư họ Ðỗ, quê ở Thượng Lạc, Thương Châu, theo học kinh luận lúc lên chín và xuất gia lúc mười hai tuổi. Nghe tiếng Mã Tổ, Sư tìm đến tham học. Mã Tổ thấy Sư tướng mạo kì đặc, tiếng nói thanh như chuông bèn bảo: »Phật đường to lớn mà trong ấy không có Phật.« Sư lễ bái quì thưa: »Về kinh điển con hiểu biết đơn sơ, thường nghe Thiền môn ›Tức tâm là Phật‹ thật chưa hiểu thấu.« Tổ bảo: »Chỉ cái tâm chưa hiểu đó là phải, lại không có vật khác.« Sư hỏi: »Thế nào là mật truyền tâm ấn của Tổ sư từ Ấn Ðộ sang?« Tổ bảo: »Ðại đức chính đang ồn, hãy đi, khi khác lại!« Sư vừa quay đầu đi, Tổ gọi: »Ðại đức!« Sư xoay đầu lại, Tổ hỏi: »Là cái gì?« Ngay đây Sư lĩnh hội, quì lễ bái. Tổ bảo: »Kẻ độn, lễ bái làm gì!«|Sau khi ngộ huyền chỉ, Sư diêu du đây đó và sau dừng tại Tinh xá Khai Nguyên, Tây Hà tuỳ duyên hoằng hoá. Khi đáp những câu hỏi của thiền khách, Sư thường nói: »Chớ vọng tưởng!« (莫妄想; mạc vọng tưởng). Vua nhiều phen thỉnh Sư nhưng Sư lúc nào cũng từ chối không đến. Sau có hai vị quyết tâm thỉnh Sư đi cho bằng được, Sư chúm chím cười đáp: »Bần đạo có đức gì làm phiền Thế chủ. Mời các Ngài đi trước, tôi sẽ đi đường riêng.« Sau khi sứ giả về, Sư tắm gội, nửa đêm bảo đệ tử vào khuyên: »Các ngươi! Tính thấy nghe hiểu biết cùng hư không đồng tuổi, chẳng sinh chẳng diệt, tất cả cảnh giới vốn tự không lặng, không một pháp có thật, người mê không hiểu bị cảnh làm lầm, trôi lăn không cùng. Các ngươi phải biết, tâm tính vốn tự có, chẳng phải do tạo tác, ví như kim cương không thể phá hoại. Tất cả như bóng vang không có thật. Cho nên kinh nói: ›Chỉ đây một việc thật, ngoài hai thỉ chẳng chân.‹ Thường hiểu tất cả thông, không một vật hợp tình, là chỗ chư Phật dụng tâm. Các ngươi cố gắng thật hành.« Nói xong Sư ngồi kết già thị tịch, thọ 62 tuổi, 42 tuổi hạ. Lễ trà tì có mây năm sắc, hương thơm lạ bốn phương. Vua sắc phong là Ðại Ðạt Quốc sư, tháp hiệu Trừng Nguyên.
Phân đoạn 分段; C: fēnduàn; J: bundan;|Có hai nghĩa: 1. Sự phân chia, sự phân biệt (s: pariccheda); 2. Những khía cạnh khác nhau của một lí thuyết đơn độc.
Phân đoạn sinh tử 分段生死; C: fēnduàn shēngsǐ; J: bundan-shōji;|Có hai nghĩa: 1. Việc sống chết mà hàng phàm phu phải trôi lăn trong cõi giới vô minh nầy. Sự luân hồi trong một thân xác và cuộc sống tiên định; 2. Phần đoạn sinh tử. Dạng sinh tử luân hồi của hàng phàm phu, khác với Biến dị sinh tử (變易生死), dạng luân hồi mà hàng Bồ Tát trải qua.
Phần Dương Thiện Chiêu 汾陽善昭; C: fényáng shànzhāo; J: hun'yo zen-shō; 947-1024;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế, môn đệ của Thủ Sơn Tỉnh Niệm và thầy của Thạch Sương Sở Viên. Tương truyền rằng, Sư tham vấn rất nhiều Thiền sư để học hỏi được tất cả những tinh hoa của Thiền tông trong thời kì suy tàn. Vì vậy, những nét đặc biệt của những tông khác đều được tông Lâm Tế hấp thụ và lưu truyền. Sư cũng là một trong những Thiền sư đầu tiên trứ tác những bài kệ tụng lời nói dạy của các vị Tiên sư (xem thêm dưới Tuyết Ðậu Trọng Hiển, Trí Môn Quang Tộ).|Sư họ Du, quê ở Thái Nguyên. Lúc nhỏ Sư đã có thái độ thâm trầm, trí huệ cao cả. Vì cha mẹ mất sớm nên Sư xuất gia và du phương. Trước, Sư tham vấn nhiều vị Thiền sư nhưng chưa ngộ ý chỉ. Ðến Thiền sư Thủ Sơn. Sư hỏi: »Bách Trượng cuốn chiếu, ý chỉ thế nào?« Thủ Sơn đáp: »Áo rồng vừa phất toàn thể hiện.« Sư hỏi: »Ý thầy thế nào?« Thủ Sơn đáp: »Chỗ voi đi bặt dấu chồn.« Nghe câu này, Sư thông suốt. Sau, theo lời thỉnh của chúng, Sư về chùa Thái Bình ở Phần Dương. Ở đây, Sư ba mươi năm không rời cổng, đức hạnh vang xa.|Có vị quan quen với Sư, thỉnh Sư trụ trì một ngôi chùa nhưng Sư vẫn từ chối. Ông lại sai sứ giả đi thỉnh lần nữa, sứ giả nói: »Quyết thỉnh thầy cùng đi, nếu thầy không đi, tôi liều chết thôi.« Sư cười bảo: »Bởi nghiệp già không thể xuống núi, giả sử đi phải có trước sau, tại sao lại quyết đồng?« Sư sửa soạn hành lí, hỏi các đệ tử có ai muốn đi theo. Vị đầu ra nói được, Sư hỏi: »Một ngày ngươi đi được bao nhiêu dặm?« Vị này trả lời: »Năm mươi dặm.« Sư trả lời không được. Vị thứ hai ra nói 70 dặm, Sư cũng nói không được. Thị giả ra nói: »Con đi theo được, chỉ Hoà thượng đi đến đâu con đi đến đó.« Sư bảo: »Ngươi đi theo được.« Nói xong Sư bảo: »Ta đi trước nghe!« và dừng lại ngồi tịch. Thị giả đứng khoanh tay tịch theo. Sư thọ 78 tuổi.
Phần Dương Vô Đức Thiền sư ngữ lục 汾陽無徳禪師語録; C: fényáng wúdéchánshī yŭlù; J: funyō mutoku zenshi goroku;|Ngữ lục của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu, Thạch Sương Sở Viên (楚圓) biên soạn.
Phân giải 分解; C: fēnjiě; J: bunkai;|Phân tích, chia thành từng phần, sự phân tích, tháo dỡ hết vật che đậy bên ngoài, sự phân huỷ, sự giải tán, sự giảm trừ.
Phán giáo 判教; C: pànjiāo; J: hankyō;|Phân định giáo lí theo chủ đề, thời gian… Sự Phân định giáo lí là một khía cạnh chủ yếu của việc nghiên cứu nguồn gốc kinh điển của nhiều Tăng sĩ Phật giáo từ thế kỉ thứ 5-8 trong các tông phái Phật giáo Trung Hoa như Pháp tướng, Thiên Thai, Hoa Nghiêm. Một số nhà phán giáo nổi bật là Huệ Viễn (慧遠), Trí Khải (智顗), Pháp Tạng (法藏), và Tông Mật (宗密). Tứ giáo (四教), Ngũ giáo (五教).
Phân giới 分界; C: fēnjiè; J: bunkai;|Sự phân định ranh giới, giới tuyến, ranh giới, biên giới.
Phân lượng 分量; C: fēnliàng; J: bunryō;|Có hai nghĩa: 1. Số lượng, mức độ, phạm vi; 2. Trọng lượng.
Phân minh 分明; C: fēnmíng; J: bunmyō;|Thấy một cách rõ ràng. Rõ ràng (s: vyakta, vispasta).
Phạn ngữ 梵語; sanskrit (saṃskṛta); nguyên nghĩa là »trọn vẹn, hoàn hảo«, cũng được gọi là Nhã ngữ;|Ngôn ngữ được dùng để ghi lại những bài kinh của Ðại thừa Phật pháp, nói chung là ngôn ngữ được sử dụng trong các Thánh kinh của Ấn Ðộ.
Phân tế 分際; C: fēnjì; J: bunzai;|Có ba nghĩa: 1. Sự phân biệt; 2. Sự giới hạn, cực độ; 3.Trạng thái, chi tiết.
Phân tề 分齊; C: fēnqí; J: bunzai;|Có các nghĩa sau: 1. Sự khác nhau, sự phân biệt; 2. Mức độ, giới hạn, phạm vi, lĩnh vực (s: pariccheda, pravibhāga); 3. Trạng thái, tình trạng sự việc, điều kiện; 4. Ranh giới giữa 2 làng.
Phân thân 分身; C: fēnshēn; J: bunjin;|Có nghĩa là »phân chia thân«, là hoá thân của đức Phật để giáo hoá và cứu độ chúng sinh.
Phân tích quán 分析觀; C: fēnxī guān; J: bunshakukan;|Pháp quán sát bằng phân tích.
Phân tích thân phần P: dhātu-vavatthāna;|Một trong 40 phép tu tập được trình bày trong Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga) của Ðại sư Phật Âm (s: buddhaghoṣa). Theo phương pháp này, hành giả trong tâm phân thân ra những phần tử và nhận thức được rằng, thân thể chẳng qua là sự tổng hợp của Tứ đại chủng, đó là Ðịa, Thuỷ, Hoả, Phong. Từ đó kiến chấp Ngã bị tiêu diệt.|Ẩn dụ sau đây được ghi lại trong Thanh tịnh đạo (XI, 2) để mô tả cách tu tập này: |»Ngoài ra, ồ chư tăng, một tỉ-khâu quán chính cái thân thể này trong mọi tư thế và phân nó ra theo từng bộ phận: ›Ở thân phần này ta tìm thấy yếu tố đất, yếu tố nước, yếu tố lửa, yếu tố gió.‹ Giống như một đồ tể hoặc người phụ tá của ông – sau khi ông ta mổ một con bò và phân nó ra thành nhiều phần rồi ngồi đợi (bán) ở ngã tư đường, cũng như vậy, ồ chư tăng, một tỉ-khâu phân chia chính cái thân thể này trong bất cứ tư thế nào ra thành tứ đại chủng… Người đồ tể – kẻ đã nuôi con bò lớn, dẫn đến nơi làm thịt, trói lại, để đấy rồi làm thịt – ông ấy không bao giờ thoát khỏi ý nghĩ ›Bò‹ nếu ông ta chưa mổ và phân nó ra thành từng miếng. Nhưng khi ông ta đã phân nó ra thành từng miếng và ngồi đó thì ông ta không còn mang theo ý nghĩ ›Bò‹, và thay vào đó là ý nghĩ ›Thịt‹. Ông ta không mang những ý nghĩ như ›Tôi bán một con bò‹ hoặc ›Người ta mua một con bò.‹ Cũng như thế, thâm tâm của một tỉ-khâu – khi vị này còn là một Phàm phu, có nhà hoặc không nhà – không thoát khỏi ý nghĩ ›Tự ngã‹ hoặc ›Một người nam‹ hoặc ›Cá nhân‹, cho đến khi vị này phân ngay chính cái thân này trong bất cứ tư thế nào ra thành từng phần và quán từng yếu tố. Nhưng khi vị này đã phân cái thân này ra thành từng phần và yếu tố thì sẽ thoát khỏi ý nghĩ ›Tự ngã‹, tâm của vị này sẽ dần dần vững chắc trong lúc quán các yếu tố.«
Phân tướng môn 分相門; C: fēn xiāng mén; J: funsōmon;|Nhất thừa là tuyệt đối, là độc lập. »Phương diện riêng biệt« của Nhất thừa.
Phân, phần, phận 分; C: fēn; J: fun, bun;|Có các nghĩa sau: 1.Chia, cắt ra, phân ra; 2. Bị chia cắt; 3. Phân biệt; 4. Phần việc. Phần việc của một người trong đời sống. theo ý nghĩa cá tính hoặc thiên hướng.|Ý nghĩa trong Phật học: 1. Khoảnh khắc thời gian nhỏ (thời phần; s: kala); 2. Một nhánh, một chi phần (s: anga). Một phần trong Tam đoạn luận Phật giáo (Nhân minh luận; s: hetu-vidyā; 因明); 3. Một trong Mười hai nhân duyên; 4. Một phần (s: ava-yāna); 5. Cục bộ, thiên vị; 6. Một phương diện theo kinh Hoa Nghiêm; 7. Sự phân định, sự phán quyết.
Phảng phất 仿佛; C: pángfó; J: hōfutsu;|Có hai nghĩa: 1. Rất tương đồng, hoàn toàn giống hệt nhau về hình tướng; 2. Lan man, mờ ảo, lờ mờ. Đồng nghĩa với Phảng phất 彷彿 và 髣髴, »phảng phất như…«;
Pháp 法; C: fă; J: hō; S: dharma; P: dhamma; cũng đươc dịch theo âm Hán Việt là Ðạt-ma, Ðàm-ma; |Chữ dharma vốn xuất phát từ tiếng Ấn Độ, ngữ căn dhr, có nghĩa là »nắm giữ«, đặc biệt là nắm giữ tính năng hoạt động của con người. Thuật ngữ nầy có nhiều nghĩa:|1. Tập quán, thói quen, tiêu chuẩn của phép cư xử; 2. Điều phải làm; nghề nghiệp, bổn phận, nghĩa vụ; 3. Trật tự xã hội; quy củ trong xã hội; 4. Điều lành, việc thiện, đức hạnh; 5. Sự thật, thật tại, chân lí, luật tắc (s: satya); 6. Nền tảng của thế gian và các cõi giới; 7. Tín ngưỡng tôn giáo; 8. Tiêu chuẩn để nhận thức về chân lí, về luật tắc; 9. Giáo lí, sự giải thích; 10. Bản thể, bản tính; 11. Thuộc tính, phẩm chất, đặc tính, cấu trúc cơ bản. Ý nghĩa nầy của thuật ngữ thường được dùng trong các luận giải của Du-già hành tông, liệt kê tất cả kinh nghiệm thế gian thành 100 pháp hoặc 100 cấu trúc cơ bản. Thực tế các pháp không tồn tại trên cơ sở tự tính nầy hàng Nhị thừa không thể nào nhận thức được, nhưng là một đối tượng quán sát đặc biệt của hàng Bồ Tát. Không nhận thức được tính không của các cấu trúc cơ bản là điều rất quan trọng cho sở tri chướng. Xem Bách pháp; 12. Trong Luận lí học, là tiền đề hay là đối tượng của một động từ. |Tổng quát lại, người ta có thể hiểu pháp là »tất cả những gì có đặc tính của nó – không khiến ta lầm với cái khác – có những khuôn khổ riêng của nó để nó làm phát sinh trong đầu óc ta một khái niệm về nó« (theo Phật học đại từ điển của Ðinh Phúc Bảo, lời dịch của Thích Nhất Hạnh).
Pháp ái 法愛; C: făài; J: hōai; |1. Yêu mến, gắn bó với giáo pháp; 2. Tìm cầu chân lí.
Pháp bản 法本; C: făběn; J: hōbon; |»Nguồn gốc pháp«. Thuật ngữ Phạn chỉ cho kinh điển. Được gọi là Pháp bản vì pháp siêu việt mọi đức hạnh là nguồn gốc của lời Phật dạy.
Pháp bảo đàn kinh 法寶壇經; C: fǎbǎo tánjīng; J: hōbōdan-gyō; trọn tên là Lục tổ đại sư pháp bảo đàn kinh; |Một quyển sách căn bản của Thiền tông, nói về cuộc đời và pháp ngữ của Lục tổ Huệ Năng, được môn đệ của Tổ là Thiền sư Pháp Hải ghi chép lại. Ðây là quyển sách duy nhất trong các tác phẩm Phật giáo được hoàn thành tại Trung Quốc được gọi là »Kinh« (經), mặc dù danh từ này chỉ được sử dụng cho những bài thuyết pháp của đức Phật.
Pháp chấp 法執; C: făzhí; J: hōshū; |1. »Chấp trước vào (thực tại của) các pháp (s: dharma-grāha)«. Tin rằng dù Ngã (我) là giả hợp của ngũ uẩn, nhưng sự hiện hữu của các pháp (法) lại là một hiện thật có tự tính. Các kinh luận của Du-già hành tông chủ trương rằng hành giả pháp tu Nhị thừa có thể giải trừ chấp trước vào ý niệm về một cái ngã thường hằng và có sẵn, nhưng họ không thể nhận thức được sự chấp trước (một cách vô ý của chính họ) vào sự hiện hữu các pháp (法). Hàng Bồ Tát, nhận thức được thực tế các pháp (法) không có tự tính thường hằng, nên thoát khỏi sở tri chướng (所知障). Còn được gọi là pháp ngã chấp(法我執).|2. Chấp trước vào giáo lí. Bám chắc vào Phật pháp (s: dharma-grāha). Đồng nghĩa với Pháp phọc (法縛).
Pháp chiến 法戰; J: hossen;|Chỉ các cuộc tranh luận quyết liệt về Phật Pháp. Ðó là phương pháp đặc trưng của Thiền tông, trong đó thiền giả dùng mọi cách không khoan nhượng để bày tỏ sự thật. Pháp chiến gồm có đấu khẩu, Vấn đáp, cử động, ra dấu… giữa các Thiền sư. Trong rất nhiều Công án, người ta kể lại các cử chỉ quái dị hoặc các câu trả lời lạ lùng của các Thiền sư. Người ta hay nhắc đến Phất tử, tiếng hét (Hát), cây gậy và những hành động bất ngờ của các vị Thiền sư.|Danh từ »pháp chiến« có thể gây hiểu lầm, thật ra đây không phải là ai tìm cách thuyết phục hoặc đánh bại ai. Trong các trận chiến này, mỗi thiền giả bày tỏ kinh nghiệm giác ngộ của mình và tìm nơi người đối thoại một kinh nghiệm sâu xa hơn, hầu như không có cảm giác ta-người thông thường.
Pháp cú kinh 法句經; C: făjù jīng; J: hokkukyō; S: dharma-pada; P: dhammapada;|Một phần kinh quan trọng thuộc Tiểu bộ kinh, gồm 423 bài kệ do Phật thuyết giảng. Kinh này được nhiều người hâm mộ, thuyết tụng, nhất là ở những nước theo Nam tông Phật pháp. Tại Tích Lan, tất cả những Tỉ-khâu đều thuộc lòng tất cả 423 bài kệ bằng tiếng Pā-li của kinh này.|Hai bài kệ đầu của kinh này đã gây ấn tượng cho không ít Phật tử:|*Tâm dẫn đầu các pháp,|Tâm là chủ tạo tác.|Nếu nói hay hành động|Với tâm niệm bất tịnh|Khổ não liền theo sau|Như xe theo bò vậy.|*Tâm dẫn đầu các pháp,|Tâm là chủ tạo tác.|Nếu nói hay hành động|Với tâm niệm thanh tịnh|An lạc liền theo sau|Như bóng chẳng rời hình.|(Bản dịch và thi hoá của Tịnh Minh)
Pháp Cứu 法救; C: făjiù; J: hokku; S: dharmatrāta.|Phiên âm là Đạt-ma-đa-la (達摩多羅). Sơ Tổ của Nhất thiết hữu bộ Ấn Độ, có lẽ đã sống vào khoảng thế kỉ thứ 2. Sư cho rằng chúng sinh trong 3 cõi đều thật sự hiện hữu và đều khác biệt lẫn nhau.|Có sự lẫn lộn với một vị tên Dharmatrāta khác, sống vào khoảng thế kỉ thứ tư, và cũng thuộc Nhất thiết hữu bộ. Sư được xem là tác giả của Tạp A-tì-đàm tâm luận (雜阿毘曇心論).
Phạp đạo 乏道; C: fádào; J: bōdō;|Tiếng Hán dịch từ chữ samaṇa của tiếng Pa-li hoặc śramaṇa từ tiếng Phạn. Xem Sa-môn (沙門).
Pháp điện 法殿; C: fădiàn; J: hōden; |1. Nơi giảng pháp; 2. Cung điện, dụ cho chính pháp của Đức Phật.
Pháp dụ 法喩; C: făyú; J: hōyu; |Dùng để so sánh sự giống nhau trong giáo lí, đạo lí được truyền dạy (pháp 法) và ẩn dụ để diễn tả pháp ấy (dụ 喩, s: upamā-upameya).
Pháp Dung 法融; C: fǎróng; J: hōyū; 594-657;|Thiền sư Trung Quốc, người sáng lập thiền phái Ngưu Ðầu. Sư là môn đệ của Tứ tổ Ðạo Tín.|Thuở nhỏ Sư theo học Nho giáo và năm 19 tuổi đã thông kinh sử. Vì không hài lòng với những gì đạt được, Sư chuyển qua tham học Phật pháp và đến núi Ngưu Ðầu ở trong hang đá gần chùa U Thê, ngày đêm tu tập thiền định. Ðạo hạnh của Sư cảm hoá được cả thú rừng nên chúng đem hoa quả đến cúng dường. Tổ Ðạo Tín nhân lúc qua đây xem khí tượng biết trên núi có bậc dị nhân, đích thân lên núi tìm Sư. Sư ngồi thiền không để ý đến ai. Tổ thấy thế bèn hỏi: »Ở đây làm gì?« Sư đáp: »Quán tâm.« Tổ hỏi: »Ai quán, tâm là vật gì?« Sư nghe không đáp được bèn đứng dậy làm lễ, hỏi và biết được Tổ là Thiền sư Ðạo Tín. Sư chỉ Tổ vào hang phía sau tạm nghỉ. Thấy thú dữ lăng xăng, Tổ ra vẻ sợ, Sư hỏi: »Ngài vẫn còn cái đó sao?« Tổ hỏi lại: »Cái đó là cái gì?« Sư không đáp được. Một lát sau, Tổ viết lên bàn toạ của Sư chữ »Phật« (佛). Sư trông thấy giật mình, Tổ hỏi: »Vẫn còn cái đó sao?« Sư nghe không hội bèn làm lễ cầu xin chỉ dạy. Tổ bèn dạy: »Phàm trăm ngàn pháp môn đồng về một tấc vuông. Diệu đức như hà sa thảy ở nơi nguồn tâm. Tất cả môn giới, định, huệ, thần thông biến hoá, cả thảy đều ở tâm ngươi… Không có tam giới có thể ra, không có Bồ-đề có thể cầu… Chỉ tâm ngươi tự tại, chớ khởi tham sân, chớ ôm lòng lo buồn, rỗng rang không ngại, mặc tính tung hoành, chẳng làm việc thiện, chẳng làm việc ác, đi đứng ngồi nằm, mắt thấy gặp duyên thảy đều là diệu dụng của Phật. Vì vui vẻ không lo buồn nên gọi là Phật.« Sư hỏi: »Tâm đã đầy đủ, cái gì là Phật? Cái gì là tâm?« Tổ đáp: »Chẳng phải tâm thì không hỏi Phật, hỏi Phật thì chính là tâm.« Sư hỏi: »Ðã không khởi quán hạnh, khi gặp cảnh khởi tâm làm sao đối trị?« Tổ đáp: »Cảnh duyên không tốt xấu, tốt xấu khởi nơi tâm, nếu tâm chẳng theo danh, vọng tình từ đâu khởi? Vọng tình đã chẳng khởi, chân tâm mặc tình biết khắp. Ngươi chỉ tuỳ tâm tự tại, chẳng cầu đối trị, tức gọi là Pháp thân thường trụ, không đổi thay.« Sư nhân đây đốn ngộ.|Sư trụ trì tại Ngưu Ðầu sơn, học chúng đến rất đông. Sau có vị quan thỉnh Sư đến chùa Kiến Sơ hoằng hoá. Sư nhận lời cầu thỉnh đến chùa Kiến Sơ nhưng chỉ một năm sau (657), ngày 23 tháng giêng, Sư viên tịch tại đây, thọ 64 tuổi, 41 tuổi hạ.
Pháp duyên 法縁; C: făyuàn; J: hōen; |1. Nhân duyên theo cách trình bày trong Phật pháp; 2. Nhân duyên xuất sinh các pháp, như từ bi và trí huệ.
Pháp giới 法界; C: făjiè; J: hokkai; S: dharmadhātu; P: dhammadhātu; nghĩa là »Cảnh giới của các Pháp«;|Pháp (法) xuất phát từ tiếng Phạn với ngữ căn dhr, có nghĩa giữ gìn, duy trì, đặc biệt duy trì hành vi của con người. Giới (界, s: dhātu) xuất phát từ danh từ giống đực với ngữ căn dha trong tiếng Phạn, có nghĩa là »phần tử, yếu tố«, nhưng sau khi thành thuật ngữ Phật học, nó bắt đầu có nghĩa là »tính«. Trong thuật ngữ nầy, Pháp có nghĩa là các cấu trúc cơ bản (chư pháp 諸法) và giới có nghĩa là »đánh dấu phạm vi« của các pháp.|1. Là 1 trong 18 pháp giới (Thập bát giới 十八界), là đối tượng của mạt-na thức. Nơi mà các pháp được nhận biết, do vậy nghĩa nầy tương đương với »pháp xứ« (法處); 2. Phạm vi, ranh giới; 3. Đặc biệt trong giáo lí Đại thừa, pháp giới đề cập đến nền tảng ý thức hoặc nguyên lí – nguồn gốc của các hiện tượng. Trong hình thái giáo lí nầy, khi toàn thể vũ trụ hiển bày như là thế giới hiện tượng thì các hiện tượng ấy được xem như là biểu hiện cuả chân như. Do vậy, Pháp giới nầy, hiện hữu chân thật như chúng đang là, tương đương với Pháp thân (法身) Phật; 4. được xem như là 1 trong 18 giới theo giáo lí của Du-già hành tông, gồm 82 pháp được xếp vào trong các phạm trù: bất khả tư nghì pháp, sắc pháp, tâm pháp, tâm bất tương ưng hành pháp, vô vi pháp; 5. Giáo lí Hoa Nghiêm chủ trương 4 pháp giới: Sự pháp giới, Lí pháp giới, Lí sự vô ngại pháp giới, Sự sự vô ngại pháp giới; 6. Trong luận Đại thừa khởi tín, Pháp giới được đồng nhất với nghĩa Nhất tâm (一心).
Pháp giới đồ kí tòng tuỷ lục 法界圖記叢髄録; C: făjiè tújì cóngsuǐ lù; J: hokkai zuki sōzui roku; |4 quyển.
Pháp giới hải huệ 法界海慧; C: făjiè hăihuì; J: hokkai kaie; |Trí huệ rộng lớn và thanh tịnh quán sát Pháp giới.
Pháp giới tính 法界性; C: făjiè xìng; J: hokkaishō; |Bản tính của pháp giới. Thuật ngữ diễn tả sự hợp nhất của hai khái niệm »pháp giới« và »chân tính«.
Pháp giới trí 法界智; S: dharmadhātu-jñāna;|Một trong Năm trí theo Kim cương thừa.
Pháp giới vô lượng 法界無量; C: făjiè wúliàng; J: hokkai muryō; |Giai vị thứ 10 trong Thập hồi hướng của hàng Bồ Tát. Giai vị mà hàng Bồ Tát chứng thực rằng mọi hiện hữu đều là trung đạo, không có tự tính riêng biệt.
Pháp hạnh 法行; C: făxíng; J: hōgyō; S: dharma-carana. |1. Hành vi, công hạnh tương ứng với thực tại. Theo kinh Viên Giác, Pháp hạnh là công năng tu tập, chỉ cho sự tuỳ thuận với chứng ngộ của chư Phật, ngược với phương pháp tiệm tiến. Nên gọi là »chân như hạnh«; 2. Tuỳ thuận theo; 3. Làm cho suy nghĩ của mình xứng hợp với giáo lí; 4. Người quay bánh xe pháp, truyền bá chính pháp (s: dharmacārin).
Pháp hỉ 法喜; C: fă xĭ; J: hōki; |Niềm vui trong Phật pháp; niềm hân hoan khi được tiếp nhận Phật pháp (s: prītijanana).
Pháp Hiền 法賢; ?-626|Thiền sư Việt Nam thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi, đắc pháp của Tổ Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Ðỗ, quê ở Chu Diên (Sơn Tây), thân hình cao lớn, chững chạc. Ban đầu Sư xuất gia thụ giới cụ túc với sư Quán Duyên tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu), hằng ngày cùng các tăng hữu nghe các Ðại sư truyền giảng yếu chỉ Thiền tông.|Gặp lúc Thiền sư Tì-ni-đa Lưu-chi từ Quảng Châu đến chùa này. Thấy Sư, Tổ nhìn kĩ rồi hỏi: »Ngươi họ chi?« Sư không đáp, hỏi lại: »Hoà thượng họ gì?« Tổ bảo: »Ngươi không có họ ư?« Sư thưa: »Họ không phải không có, nhưng Hoà thượng cần gì phải biết?« Tổ quát: »Biết để làm gì?« Sư ngay đây tỉnh ngộ liền sụp lạy.|Sau khi Tổ viên tịch, Sư đến núi Thiên Phúc tu tập thiền định, quên cả vật lẫn bản thân mình. Chim rừng đến vây quanh, dã thú đến đùa giỡn. Nhiều người nghe tin đua nhau đến học với Sư. Nhân đây, Sư kiến lập chùa Chúng Thiện tuyển dạy môn đệ. Thứ sử nhà Tuỳ là Lưu Phương về trình lại với triều đình. Tuỳ Cao Tổ bèn sai sứ đem Xá-lị của Phật đến Việt Nam để Sư xây tháp cúng dường.|Sư tịch năm Bính Tuất, niên hiệu Ðường Vũ Ðức thứ 9 (626).
Pháp Hiển 法顯; C: fǎxiăn; J: hōken, 320?-420?|Cao tăng Trung Quốc. Năm 399, Sư đi Ấn Ðộ và học hỏi kinh điển đạo Phật, nhất là Luật tạng (s: vinaya-piṭaka). Sư về lại Trung Quốc bằng đường biển năm 414 và cùng với Giác Hiền (s: buddhabhadra) dịch bộ Ðại bát-niết-bàn kinh (s: mahāparinirvāṇa-sūtra) và Luật tạng của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) ra chữ Hán. Sư cũng thuật lại trong Phật quốc kí chuyến du hành Ấn Ðộ (Phật quốc kí), là một tư liệu quý báu về lịch sử, văn hoá và tình trạng Phật giáo của thế kỉ thứ 4-5.|Pháp Hiển là tăng sĩ đầu tiên của một phong trào học Phật của Trung Quốc. Sư là người đầu tiên thật sự đến Ấn Ðộ, thu thập kinh sách, học hỏi giáo pháp với các tăng sĩ tại đó và lại trở về Trung Quốc. Chuyến du hành của Sư bắt đầu từ Trường An đến các trung tâm Ấn Ðộ như Benares, Càn-đà-la (gandhāra), Giác Thành (bodhgayā), Ma-kiệt-đà (magadha), Patna. Sư cũng ở Tích Lan hai năm, sau đó đi Su-ma-tra và Ja-va (Nam Dương). Tổng cộng, Sư thăm 30 nước khác nhau. Tại Hoa Thị thành (pāṭaliputra) Sư tìm được Luận tạng của Ðại chúng bộ và Nhất thiết hữu bộ cũng như một văn bản của Ðại bát-niết-bàn kinh. Sau đó Sư cũng tìm thấy Luận tạng của Hoá địa bộ và mang tất cả về Trung Quốc.
Pháp Hộ 法護; C: făhù; J: hōgo; S: dharmarakṣa.|1. Dharmarakṣa thuộc đời Đông Tấn Trúc Pháp Hộ (竺法護); 2. Tăng sĩ Ấn Độ (?-1058), đến Trung Hoa vào đời Tống năm 1004, là một nhà dịch kinh đã lưu lại rất nhiều nơi.
Pháp Hoa huyền tán 法華玄贊; C: făhuā xuánzàn; J: hokke gensan; |20 quyển, Khuy Cơ biên soạn. Nhan đề đầy đủ là Pháp liên hoa kinh huyền tán (法蓮華經玄贊). Đó là giải thích về kinh Pháp Hoa theo quan điểm của Pháp tướng tông. Bao gồm trích dẫn luận giải của Thế Thân về kinh Pháp Hoa, cũng như trích dẫn luận giải của vài học giả nổi tiếng khác về Duy thức.
Pháp Hoa kinh 法華經; C: făhuā jīng; J: hokkekyō; |Có 2 bản dịch: 1. Diệu pháp liên hoa kinh (妙法蓮華經), Cưu-ma-la-thập dịch; 2. Chính Pháp Hoa kinh (正法華經), Trúc Pháp Hộ (s: dharmarakṣa) dịch.
Pháp Hoa luận 法華論; C: fă huá lùn; J: hokkeron; |Diệu Pháp Liên Hoa kinh ưu-ba-đề-xá (妙法蓮華經憂波提舎).
Pháp Hoa nghĩa sớ 法華義疏; C: făhuā yìshū; J: hokke gisho; |Tác phẩm của Cát Tạng (吉藏).
Pháp Hoa nhất thừa 法華一乘; C: făhuā yīshèng; J: hōkke ichijō; |Giáo lí Nhất thừa được dạy trong kinh Pháp Hoa.
Pháp Hoa tam bộ kinh 法華三部經; C: făhuā sānbù jīng; J: hokke sanbu kyō; |Ba bộ kinh căn bản của tông Thiên Thai và Nhật Liên (日蓮). Đó là Vô lượng nghĩa kinh (無量義經), là phần giới thiệu về kinh Pháp Hoa, kinh Pháp Hoa, là phần kinh văn chính, và Phổ Hiền quán kinh (普賢觀經), xem như là phần kết giáo lí trong kinh.
Pháp Hoa tông 法華宗; C: făhuāzōng; J: hokkeshū; |Tên gọi khác của tông Nhật Liên (日蓮宗).
Pháp Hoa tông yếu 法華宗要; C: făhuā zōngyào; J: hokke shūyou; |Giáo lí thiết yếu về kinh Niết-bàn. 1 quyển, của Nguyên Hiểu (元曉).
Pháp hội 法會; C: făhuì; J: hōe; |1. Một buổi lễ, tập hợp với mục đích đọc tụng kinh điển; 2. Phật sự, tích cực hoạt động cứu độ chúng sinh. Tập trung lại để cùng làm các việc cúng dường chư Phật và chúng sinh, giảng pháp, v.v… tại một pháp hội.
Pháp huý 法諱; C: făhuì; J: hōki; |Tên được đặt khi xuất gia. Pháp danh được trao cho khi thụ giới.
Pháp Kế 法繼; C: făjì; J: hōkei; |Tăng sĩ đời Bắc Nguỵ, Trung Hoa, thành viên của Bắc phái Địa luận tông, đệ tử của Đạo Sủng (道寵).
Pháp khí 法器; C: făqì; J: hōki; |1. Người sẵn sàng đúng lúc để tin nhận giáo lí Phật pháp; 2. Trong Thiền tông, người có năng lực để được giao phó Chính pháp nhãn tạng, niết-bàn diệu tâm (正法眼藏涅槃妙心); 3. Những khí cụ được dùng trong lễ nghi tôn giáo.
Pháp không 法空; C: făkōng; J: hōkū; |Tính không của các pháp, Tính không của các đối thể. Đồng nghĩa với Pháp vô ngã (法無我). Quan điểm có ảnh hưởng mạnh của Đại thừa cho rằng không chỉ những chúng sinh cá biệt không có một bản ngã (我空) mà các hợp thể cơ cấu các pháp cũng là không, trống không (pháp không 法空, s: dharma-śūnyatā). Quan điểm nầy được các nhà Đại thừa xem như là mức độ nội chứng để phân biệt với hàng Nhị thừa, vì họ vốn chỉ nhận thức được Ngã không. Theo thuật ngữ Nhị chướng (二障) trong Du-già hành tông Phật giáo thì thực chứng được pháp không là điều rất quan trọng để giải trừ Sở tri chướng (所知障).
Pháp không quán 法空觀; C: făkōngguān; J: hōkūkan; |Pháp thực hành thiền trong đó hành giả quán sát hợp thể cơ cấu của các pháp không có ngã tính. Xem mục Pháp không (法空) ở trên. Pháp thiền quán nầy vượt xa pháp thiền quán sát Nhân vô ngã hay Nhân không quán (人空觀).
Pháp kiều 法橋; J: hōkyō;|Một danh từ chỉ đạo Phật, ví Phật pháp như một cái cầu độ chúng sinh bước qua bể khổ Luân hồi.
Pháp Kinh 法經; C: făjīng; J: hōkyō; tk 6. |Người sưu tập mục lục kinh điển Phật giáo. Năm 549, sư cùng một nhóm 20 vị đã hoàn thành Chúng kinh mục lục (衆經目録).
Pháp Kinh lục 法經録; C: făjīnglù; J: hōkyōroku; |Tên gọi tắt thông dụng của Chúng kinh mục lục (衆經目録).
Pháp lạc 法樂; C: fălè; J: hōraku; |1. Hưởng được niềm vui chân lí, giác ngộ giải thoát. Niềm vui có được do tu học Phật pháp; 2. Niềm vui do giải trừ chấp trước, nhờ tụng kinh, hoặc do bất kì mọi sự tu tập khác.
Pháp Lãng 法朗; C: fǎlǎng; J: hōrō; K: pŏmnang;|1. Cao tăng Trung Quốc (507-581), một trong trong những vị đại biểu xuất sắc của Tam luận tông. Sư gia nhập Tăng-già năm 21 tuổi và chăm chỉ tu học Thiền định và Luật tạng. Sau, Sư chuyển qua tu học kinh luận của Tam luận tông và năm 558, Sư đến Nam Kinh xiển dương giáo lí Tam luận. Tương truyền rằng, môn đệ theo học với Sư có đến hàng ngàn. Sau khi Sư tịch, đệ tử xuất sắc là Gia Tường Ðại sư Cát Tạng đã đưa giáo lí của tông này đến tuyệt đỉnh.|2. Nguyên là Thiền sư (và có lẽ là vị Thiền sư sớm nhất) của Hàn Quốc. Sư sang Trung Hoa để học Thiền dưới sự bảo trợ của Tổ sư thiền Trung Hoa Đạo Tín (道信, 580-651). Pháp Lãng được truyền thống công nhận là khởi nguyên của việc truyền thừa Thiền tông Hàn Quốc, và là người đồng khai sáng Hi Dương sơn (曦陽) với Trí Săn Đạo Hiến (智詵道憲, k: chisŏn tohŏn) thuộc Thiền tông Hàn Quốc.
Pháp liên hoa kinh huyền tán 法蓮華經玄贊; C: fă liánhuá jīng xuán zàn; J: hōrengekyō gensan; |Pháp hoa huyền tán (法華玄贊) ở trên.
Pháp Loa 法螺; 1284-1330|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Sư là môn đệ của Trần Nhân Tông, là Tổ thứ hai của dòng thiền này. Sư là người ấn hành Ðại tạng kinh tại Việt Nam khoảng năm 1329. Kinh này đã bị Trương Phụ thời nhà Minh phá huỷ, ngày nay không còn. Sư để lại nhiều tác phẩm Thiền học và luận thuyết về các kinh Nhập Lăng-già, Diệu pháp liên hoa, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Sư có nhiều đệ tử đắc pháp mà người để lại tên tuổi đến ngày nay trong thiền học và thi ca là Huyền Quang. Sư mất sớm, lúc mới 46 tuổi.|Sư tên tục là Ðồng Kiên Cương, quê ở làng Cửu La, phủ Nam Sách, tỉnh Hải Dương. Cha tên là Ðồng Thuần Mậu, mẹ là Vũ Từ Cứu. Tháng 8 năm Quý Mùi (1283), mẹ Sư đêm nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần và sau đó sinh ra Sư. Sư còn nhỏ đã có chí khác thường, không nói lời ác, không thích ăn thịt cá.|Năm 1304, Ðiều Ngự Giác Hoàng Trần Nhân Tông đi khắp nơi trong nước, có ý tìm người kế thừa. Khi xa giá vừa đến thôn, Sư đỉnh lễ xin xuất gia, Trần Nhân Tông bảo ngay: »Ðứa bé này có đạo nhãn, sau này hẳn là pháp khí« và cho theo về thụ giới Sa-di. Ðiều Ngự lại bảo Sư đến Quỳnh Quán học nơi Hoà thượng Tính Giác. Khi đã có sở đắc, Sư từ tạ trở về với Ðiều Ngự.|Một hôm, Sư dâng ba bài tụng nhưng cả ba đều bị chê. Ðiều Ngự khuyên Sư phải tự tham. Sư vào phòng đầu óc nặng trĩu, thức đến quá nửa đêm, nhìn thấy bông đèn tàn rụng xuống bỗng nhiên đại ngộ. Ðiều Ngự thầm ấn khả cho Sư. Từ đây, Sư tu theo 12 hạnh Ðầu-đà.|Năm sau, Ðiều Ngự đích thân truyền Giới Thanh văn và Bồ Tát cho Sư. Năm 1306, Ðiều Ngự cử Sư làm chủ giảng tại chùa Báo Ân. Tại đây Sư gặp Huyền Quang lần đầu tiên, lúc đó Sư mới 23 tuổi. Hai năm sau, Ðiều Ngự mất, Sư phụng mệnh đưa Xá-lị về kinh đô và sau khi trở về núi, Sư soạn lại những bài tụng của Ðiều Ngự lúc ở Thạch thất và biên tập lại dưới tên Thạch thất mị ngữ.|Tháng 12 năm 1319, Sư kêu gọi Tăng chúng và cư sĩ chích máu in Ðại tạng kinh hơn 5000 quyển. Vua Trần Anh Tông cũng tự chích máu mình viết Ðại tạng kinh cỡ nhỏ. Sư chuyên giảng kinh Hoa nghiêm, mỗi lần giảng cả ngàn người nghe.|Năm 1330, Sư lâm bệnh nặng, đệ tử xin bài kệ, Sư viết:|萬緣裁斷一身閒。四十餘年夢幻間|珍重諸人休借問。那邊風月更邇寬|Vạn duyên tài đoạn nhất thân nhàn|Tứ thập dư niên mộng huyễn gian|Trân trọng chư nhân hưu tá vấn|Na biên phong nguyệt cánh nhĩ khoan.|*Muôn duyên cắt đứt, tấm thân nhàn,|Hơn bốn mươi năm cõi mộng tàn.|Giã biệt! Xin đừng theo hỏi nữa,|Bên kia trăng gió mặc thênh thang.|Viết xong, Sư ném bút an nhiên viên tịch, thọ 47 tuổi. Nhục thân Sư được đệ tử nhập tháp tại Thanh Mai Sơn.|Các tác phẩm của Sư còn được lưu truyền: 1. Ðoạn sách lục; 2. Tham thiền chỉ yếu; 3. Kim cương đạo trường đà-la-ni kinh; 4. Tán Pháp hoa kinh khoa sớ; 5. Bát-nhã tâm kinh khoa; và một vài bài kệ trước lúc tịch.
Pháp Long tự 法隆寺; C: fălóng sì:; J: hōryūji;|Chùa toạ lạc gần vùng nay là An Dương, phía Bắc tỉnh Hồ Nam, được biết đó là nơi có tấm bia ghi công hạnh ngài Tín Hành (信行), người đã sáng lập Tam giai giáo; 2. Đại bản sơn của phái Thánh Đức ở Nại Lương (j: nara), do Thái tử Thánh Đức (j: shōtoku) sáng lập năm 607. Nay còn nhiều di sản văn hoá được lưu trữ ở đây.
Pháp luân 法輪; C: fămén; J: hōmon; S: dharmacakra; P: dhammacakka; nghĩa là bánh xe pháp;|Bánh xe pháp; Thuật ngữ »bánh xe« xuất phát từ chữ cakra trong tiếng Phạn, là một loại vũ khí của Ấn Độ thời cổ đại. Do vậy, Pháp luân là vũ khí để hàng phục mọi tà kiến ngoại đạo – là giáo lí của Đức Phật.|Trong đạo Phật, pháp luân tượng trưng cho giáo pháp của đức Phật, gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Trung đạo. Pháp luân thường được vẽ như một bánh xe tám nhánh, tượng trưng cho Bát chính đạo (xem Tám báu vật).|Truyền thuyết cho rằng, pháp luân được chuyển ba lần: 1. Phật giảng pháp lần đầu sau khi đạt chính quả tại Lộc uyển; 2. Lúc thành hình giáo pháp Ðại thừa; 3. Lúc thành hình giáo pháp Kim cương thừa (s: vajrayāna).||H 46: Pháp luân. Hai con nai là biểu hiện của Lộc uyển (vườn nai; s: mṛgadāva), nơi đức Phật chuyển pháp luân lần đầu.
Pháp mạch 法脈; C: fămài; J: hōmyaku; |Dòng truyền thừa Phật pháp, sự truyền thừa Phật pháp.
Pháp Minh 法明; C: fămíng; J: hōmyō; |Ánh sáng của pháp. 1. Ánh sáng vốn có là bản tính giác ngộ giải thoát của mọi hiện tượng; 2. Pháp Minh (k: pŏmmyŏng, thế kỉ thứ 13), Thiền sư thộc tông Tào Động Hàn Quốc. Sư xuất gia từ nhỏ, sang Trung Hoa học Phật pháp vào đời Tống. Năm 1247, sư đến Nhật Bản, bỏ qua nhiều năm hành cước qua các vùng Kansai, Kantō and Tohoku. Được biết sư có quen thân với Đạo Nguyên trước khi vị này viên tịch.
Pháp môn 法門; C: fǎmén; J: hōmon;|Giáo lí Phật pháp; học thuyết; chính pháp. Giáo lí của Đức Phật. Cánh cửa chân lí. Cửa ngõ dẫn vào chân lí. Cánh cửa dẫn đến giải thoát giác ngộ (s: dharma-mukha). |Trong ý hẹp thì Pháp môn chỉ những bài Kinh của đức Phật, hoặc những phương pháp Phật dạy đưa đến Giác ngộ. Mỗi bài dạy này được ví như là một cửa (môn) để mọi người bước qua và giác ngộ. Trong Tứ hoằng thệ nguyện thì nguyện thứ ba là »Pháp môn vô số lượng, thệ nguyện đều tu học.«
Pháp ngã 法我; C: făwǒ; J: hōga; |Tin rằng các pháp đều hiện hữu trên cở sở tự tính. Xem Pháp chấp (法執).
Pháp ngã kiến 法我見; C: făwǒ jiàn; J: hōga ken; |Quan niệm rằng các pháp (法) đều hiện hữu trên cở sở tự tính. Giáo lí Đại thừa, đặc biệt điển hình là tư tưởng Du-già hành tông, cho rằng Phật tử hàng Nhị thừa (tức bên ngoài Đại thừa) có khả năng xoá bỏ quan điểm chấp trước vào có một bản ngã tồn tại trên cở sở tự tính (nhân ngã kiến 人我見), nhưng chưa có khả năng cắt đứt quan điểm chấp trước vào các đối tượng khách quan như là tồn tại trên cở sở tự tính.
Pháp ngữ 法語; C: făyŭ; J: hōgo; |1. Giáo lí chân thực, giáo pháp khế hợp với thực tại; 2. Lời giảng về pháp tu tập giải thoát của một Thiền sư.
Pháp Nhãn 法眼; C: făyăn; J: hōgen; S: dharma-cakṣus. |1. »Con mắt pháp«, năng lực nhận ra các pháp một cách tường tận. Với Pháp nhãn này, Bồ Tát có thể cứu độ tất cả chúng sinh; 2. Dạng thứ 2 trong Ngũ nhãn (五眼); 3. Tên của một vị Thiền sư quan trọng (885-958) vào đời Đường Trung Hoa, thường được biết với thuỵ hiệu là Thanh Lương Quốc Sư (清涼國師). Còn được biết qua pháp danh Văn Ích (文益). Pháp Nhãn Văn Ích.
Pháp Nhãn tông 法眼宗; C: fǎyǎn-zōng; J: hōgen-shū;|Một trường phái của Thiền tông tại Trung Quốc, được xếp vào Ngũ gia thất tông. Tông này bắt nguồn từ Thiền sư Huyền Sa Sư Bị, nối pháp của Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn và ban đầu cũng được gọi là Huyền Sa tông. Sau, danh tiếng của Thiền sư Pháp Nhãn Ích – hai đời sau Huyền Sa – vang dội khắp nơi và vì thế, tông này được gọi là tông Pháp Nhãn. 63 pháp tự của sư Pháp Nhãn hoằng hoá khắp nơi, truyền tông này qua đến cả Triều Tiên. Tông này hưng thịnh ba đời nhưng tàn lụi sau đời thứ năm.
Pháp Nhãn Văn Ích 法眼文益; C: fǎyǎn wényì; J: hōgen buneki; 885-958; |Thiền sư Trung Quốc, khai sáng tông Pháp Nhãn, môn đệ nối pháp của Thiền sư La Hán Quế Sâm và là thầy của Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều. Sư là một trong những Thiền sư trội nhất của đời đó và vì vậy dòng Thiền của Sư sau được gọi là Pháp Nhãn tông mặc dù trước đó được gọi là Huyền Sa tông (Huyền Sa Sư Bị). Sư có 63 môn đệ ngộ huyền chỉ.|Sư xuất gia lúc 5 tuổi, thụ giới cụ túc năm 20. Tại pháp hội của Thiền sư Trường Khánh Huệ Lăng, mặc dù Sư chưa đốn ngộ nhưng học chúng rất kính nể. Sư cùng kết bạn với hai vị Thiệu Tu và Hồng Tiến, rủ nhau đi hành cước. Ðến viện Ðịa Tạng gặp trời trở tuyết, ba người xin ở lại đây. Thiền sư trụ trì đây là Quế Sâm hỏi: »Ði đây làm gì?« Sư đáp: »Ði hành cước.« Quế Sâm hỏi: »Thế nào là việc hành cước?« Sư trả lời: »Chẳng biết.« Quế Sâm nói: »Chẳng biết là rất thân thiết.« Sau, nhân lúc ba người ngồi sưởi ấm, bàn về Triệu luận, Quế Sâm lại hỏi: »Sơn hà đại địa cùng Thượng toạ là đồng nhất, là khác biệt?« Sư đáp: »Khác.« Quế Sâm đưa hai ngón tay lên. Sư nói: »Ðồng.« Quế Sâm cũng đưa hai ngón tay lên rồi đứng dậy đi.|Tuyết tan, cả ba đều rủ nhau đi tiếp. Quế Sâm tiễn chân ra cổng chỉ phiến đá hỏi: »Thường Thượng toạ nói ›Tam giới duy tâm, vạn pháp duy thức‹, như vậy thì phiến đá này là trong hay ngoài tâm?« Sư không đáp được bèn ở lại cầu học. Ở lại hơn một tháng mà mỗi lần Sư trình kiến giải nói đạo lí đều bị Quế Sâm gạt đi nói »Phật pháp không phải như vậy.« Sư thưa: »Con đã hết lời cùng lí rồi.« Quế Sâm bảo: »Nếu luận Phật pháp thì tất cả hiện thành.« Qua câu này, Sư Ðại ngộ triệt để.|Sư sau trụ ở đâu chúng cũng đến rất đông, tương truyền rằng lúc nào cũng không dưới ngàn người. Tông của Sư hưng thịnh ba đời nhưng tàn lụi sau đời thứ năm|Niên hiệu Hiền Ðức năm thứ năm nhà Châu, ngày mùng năm tháng bảy năm Mậu Ngọ, Sư từ giã chúng ngồi kết già viên tịch, thọ 74 tuổi, 54 tuổi hạ. Vua sắc phong là Ðại Pháp Nhãn Thiền sư, tháp hiệu Vô Tướng.
Pháp nhĩ 法爾; C: făěr; J: hōni; |1. »Theo quy luật«. Tất nhiên, tự nhiên. Sự vận hành của quy luật vũ trụ (s: dharmatā); 2. Sự tất định (s, p: niyati); 3. Từ ban đầu, bẩm sinh.
Pháp Nhiên 法燃; j: hōnen; 1133-1212;|Tịnh độ tông
Pháp nhũ 法乳; C: fărǔ; J: hōnyū; |»Dòng sữa pháp«. Dụ cho giáo lí của bậc đạo sư. Lời dạy của đạo sư khiến cho đệ tử lớn mạnh tâm đạo cũng như sữa giúp cho sự tăng trưởng của trẻ em.
Pháp như như 法如如; C: fărúrú; J: hōnyonyo; |Tất cả các pháp tuyệt đối chân thật như chúng đang là.
Pháp phọc 法縛; C: făfú; J: hōbaku; |Chấp trước vào pháp; chấp cứng vào văn tự kinh điển và không nhận ra được điểm chính trong Phật pháp. Đồng nghĩa với Pháp chấp (法執).
Pháp Phong 法豐; C: fă fēng; J: hōbu; |Dịch nghĩa tên của Dharmakṣema. Đàm Vô Sấm (曇無讖).
Pháp phục 法服; C: făfú; J: hōfuku; |Y phục của tăng ni.
Pháp quán kinh 法觀經; C: făguānjīng; J: hōkankyō; |Trúc Pháp Hộ (竺法護) dịch.
Pháp sư 法師; C: făshī; J: hōshi, hosshi; |1. Thầy truyền dạy giáo pháp; vị tăng hay ni hành xử như một người dẫn đạo cho chúng sinh (s: dharma-kathika; t: chos smra ba); 2. Theo Thập địa kinh (十地經) thì Pháp sư là người chuyên chỉ dạy về Bồ Tát thập địa. Kinh Pháp Hoa có giới thiệu 5 loại Pháp sư; 3. Người thông đạt xuất sắc giáo lí Phật pháp; 4. Chỉ một vị tăng hay ni.
Pháp Tạng 法藏
Pháp tạng 法藏; C: făzàng; J: hōzō; |1. Kho tàng giáo pháp – thường đề cập đến kinh điển Phật giáo (s: dharma-kośa) để phân biệt với Luật tạng. Đây là phần kinh do ngài A-nan trùng tuyên trong kì kết tập lần thứ nhất (Đệ nhất kết tập 第一結集).|2. Phật pháp như là sự thật tối hậu trong ý nghĩa, tư tưởng triết học.|3. (643-712); Tăng sĩ học giả vào đầu đời Đường, do những đóng góp to lớn của Sư vào sự phát triển và củng cố tông Hoa Nghiêm, nên được xem là Tổ thứ 3 của tông nầy. Sau khi phát tâm tu tập ban đầu tại Thái Bạch sơn (太白山), sư trở thành đệ tử của vị Tổ thứ 2 tông Hoa Nghiêm là Trí Nghiễm (智儼). Sau khi Trí Nghiễm viên tịch vào năm 670, sư chính thức xuất gia tại chùa Thái Nguyên (太原寺). Sau đó sư lần lượt đi đến rất nhiều chùa để truyền bá giáo lí Hoa Nghiêm và hỗ trợ chương trình phiên dịch. Cuối cùng sư trở nên nổi tiếng trong giới quan chức triều đình nhà Đường. Sư là thầy của Hoàng hậu Vũ Tắc Thiên. Sư viết rất nhiều sách và luận giải, tác phẩm gồm có: 1. Hoa Nghiêm kinh thám huyền kí (華嚴經探玄記), 20 quyển; Hoa Nghiêm ngũ giáo chương (華嚴五教章), 3 hoặc 4 quyển; Khởi tín luận nghĩa kí (起信論義記), 5 quyển. Các đệ tử của sư gồm có Văn Siêu (文超) và Huệ Uyển (慧苑). Sư cũng là sư đệ của một đệ tử khác của ngài Trí Nghiễm – là Nghĩa Tương (義湘, k: ǔisang), người sáng lập tông Hoa Nghiêm tại Hàn Quốc. Sư kết giao thân mật với vị nầy và còn giữ liên lạc sau khi Nghĩa Tương trở về Tân La.|4. Tăng sĩ thuộc Tam giai giáo xuất thân từ chùa Tịnh Vực (淨域寺), sau được bổ nhiệm coi sóc Vô tận tạng (無盡藏) ở Phúc Quang tự (福先寺) và Hoá Độ tự (化度寺).
Pháp Tạng bộ 法藏部; C: făzàng bù; J: hōzōbu; S: dharma-guptaka;|Một bộ phái Phật giáo, xuất phát từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) và Hoá địa bộ (s: mahīśasaka). Bộ phái này do Cao tăng Tích Lan tên là Pháp Tạng (dharmagupta) thành lập và lưu truyền rộng rãi tại Nam Ấn Ðộ. Pháp Tạng bộ có một quan niệm về Bố thí khác với các tông phái khác: họ cho rằng cúng dường Tăng không mang lại phúc đức bằng cúng dường Phật. Luật tạng (s: vinaya-piṭaka) của phái này gồm có bốn phần, được nhiều phái Phật giáo xem như hoàn chỉnh nhất. Bộ này được dịch ra Hán văn năm 105 sau Công nguyên, bao hàm 250 giới dành cho tăng và 348 giới dành cho ni.
Pháp tập biệt hạnh lục tiết yếu tính nhập tư kí 法集別行録節要并入私記; C: făjíbié xínglù jiéyào bīngrùsījì; J: hōshūbetsugyō roku sechiyōhyōnyū shiki; K: pŏpchip pyŏrhaeng nok chŏryo pyŏngip sagi;|Tác phẩm của Tri Nột (知訥). Bản dịch tiếng Anh của Robert Buswell trong tác phẩm The Korean Approach to Zen.
Pháp tập yếu tụng kinh 法集要頌經; C: făjí yàosòng jīng; J: hōshū yōshō kyō; |Của Pháp Cứu (法救, s: dharmatrāta).
Pháp thân 法身; C: făshēn; J: hōshin; S: dharmakāya|1. Theo giáo lí Hữu bộ là lời dạy chân thực của Đức Phật, hoặc là pháp vi diệu trong Thập lực. Kinh sách ghi lại giáo pháp; 2. theo giáo lí Đại thừa chung, Pháp thân là tên gọi chỉ cho sự hiện hữu tuyệt đối, sự biểu hiện của mọi thực thể tồn tại. Là chân thể của thực tại. Đức Phật như là nguyên lí vĩnh hằng. Thể tính của hiện hữu vốn thường thanh tịnh, không một tướng phân biệt, đồng đẳng với tính không; 3. Một trong Tam thân của Phật. Thân pháp giới của Phật – là chân thân vượt ngoài sắc tướng. Là căn bản của tất cả các pháp; 4. (Giáo) pháp như là thân Phật, khác với thân thể vật lí của Đức Phật; 5. Như Lai tạng (s: tathāgatagarbha); 6. Bốn loại Pháp thân (Tứ chủng Pháp thân 四種法身); 7. Theo luận Đại thừa khởi tín, Pháp thân được đồng nhất với Nhất tâm; 8. Theo Bạch Ẩn (白隱, j: hakuin), là 1 trong những loại công án. Pháp thâh công án là công án giúp sáng tỏ nguyên lí thực tại tuyệt đối (Phật tâm) để siêu việt mọi hiện hữu; 9. Theo giáo lí Duy thức, Pháp thân có đủ Pháp giới thanh tịnh, cũng như Đại viên kính trí. Xem Ba thân
Pháp Thiên 法天; S: dharmadeva;|Tên một vị tăng Ấn Ðộ đến Việt Nam rất sớm trong thế kỉ thứ 5. Tương truyền rằng Sư cùng Bồ-đề Ðạt-ma, Sơ tổ Thiền Trung Quốc đến Việt Nam (Giao Chỉ) trước rồi sau đó Bồ-đề Ðạt-ma mới đi Trung Quốc. Pháp Thiên đã giảng dạy về các phương pháp Thiền quán cho người Việt Nam. Học trò có tiếng của Sư là Huệ Thắng.
Pháp Thuận 法順; 914-990|Thiền sư Việt Nam thuộc đời thứ 10 của dòng thiền Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Ðỗ, xuất gia thụ giới từ nhỏ với Thiền sư Long Thụ. Trong thời nhà Tiền Lê mới dựng cơ nghiệp, Sư hay được vua Lê Ðại Hành mời vào triều luận bàn chính sự. Về sau Sư rút lui không nhận phong thưởng, vua Lê rất kính trọng, thường gọi là Ðỗ Pháp sư.|Năm 986 nhà Tống sai sứ là Lí Giác sang phong tước hiệu cho Lê Ðại Hành, vua sai Sư giả làm lái đò đón sứ. Trên sông, thấy hai con ngỗng bơi, Lí Giác ngâm:|鵝鵝兩鵝鵝。仰面向天涯|Nga nga lưỡng nga nga,|Ngưỡng diện hướng thiên nhai.|*Song song ngỗng một đôi,|Ngửa mặt ngó ven trời.|Sư liền ngâm tiếp (bản dịch của Thích Mật Thể):|白毛鋪綠水。紅掉擺青波|Bạch mao phô lục thuỷ|Hồng trạo bãi thanh ba.|*Lông trắng phơi dòng biếc,|Sóng xanh chân hồng bơi.|Ngày nọ vua Lê Ðại Hành hỏi vận nước thế nào, Sư đáp (bản dịch của Thích Thanh Từ):|國祚如藤絡。南天裏太平|無爲居殿閣。處處息刀兵|Quốc tộ như đằng lạc, nam thiên lí thái bình|Vô vi cư điện các, xứ xứ tức đao binh.|*Vận nước như dây cuốn,|Trời Nam sống thái bình|Rảnh rang trên điện các|Chốn chốn dứt đao binh.|Niên hiệu Hưng Thống thứ hai (990), Sư không bệnh, an nhiên tịch, thọ 76 tuổi. Tác phẩm quan trọng nhất của Sư là Bồ Tát hiệu sám hối văn.
Pháp Thuận 法順|Ðế Tâm Ðỗ Thuận
Pháp Thường 法常|Ðại Mai Pháp Thường
Pháp tính 法性; C: făxìng; J: hosshō; |1. Bản tính chân thực của các »pháp« (mọi hiện hữu, mọi hiện tượng). Bản thể của mọi hiện hữu; Thực tại của Phật pháp; Chân như, Pháp giới; 2. Thực tại như đã hoàn chỉnh trong chính nó; 3. Không, tính không.
Pháp tính bình đẳng 法性平等; C: fă xìng píngděng; J: hosshōbyōdō; |Sự bình đẳng trong thể tính của thực tại.
Pháp tính tông 法性宗; C: făxìngzōng; J: hōshōshū; K: pŏpsŏngjong.|Tên gọi có tính co giãn được dùng sau sự kiện một hệ thống nghiên cứu học thuật Hàn Quốc quan tâm đến đề tài Như Lai tạng (如來藏, s: tathāgatagarbha) và A-lại-da thức (阿頼耶識, s: ālayavijñāna), nhưng là những vấn đề được tiếp cận từ quan điểm »duyên khởi tính« hơn là phát xuất từ những đặc tính riêng. Do vậy, dạng nghiên cứu những vấn đề ngược lại những gì được gọi là »Pháp tướng« (法相, k: pŏpsang). Sự thành lập tông nầy thường được xem là ảnh hưởng của Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo).
Pháp trí 法智; C: făzhì; J: hōchi; |Trí huệ vô lậu trang nghiêm, thấy biết rõ 4 sự thật của các hiện tượng nhân duyên trong thế gian, vận hành để giải trừ phiền não (s: dharma-jñāna). Là một trong Tam trí và Thập trí.
Pháp trú kí 法住記; C: făzhùjì; J: hōjūki; |Tên bản dịch cuốn Nandimitrāvadāna, được Huyền Trang dịch năm 654. Là tên gọi tắt của Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kí (大阿羅漢難提蜜多羅所説法住記). Một quyển, của Nandimitra (phiên âm là Nan-đề-mật-đa-la 難提蜜多羅, Hán dịch là Khánh Hữu 慶友); còn có tên khác là Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kệ (大阿羅漢難提蜜多羅所説法住偈), Đại A-la-hán Nan-đà-mật-đa-la sở thuyết pháp trú kí (大阿羅漢難陀蜜多羅法住記), và Kí pháp trú truyện (記法住傳). Đề tài tác phẩm nầy tập trung vào giải thích về khái niệm Thập lục La-hán còn lưu lại thế gian để hộ trì Phật pháp. Tác phẩm còn cho rằng sự hiện hữu của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni trên thế gian là có giới hạn, và chư tăng làm thế nào để thay ngài hoằng truyền Phật pháp.
Pháp tự 法嗣; C: fǎsì; J: hōshi;|Là người nối pháp của vị thầy mình; người nối pháp này ít nhất phải đạt được trình độ ngộ nhập, Kiến tính của vị thầy và đã được Ấn khả.|Tuy nhiên, các vị Ðại thiền sư thường nhấn mạnh rằng, »Thiền« không thể được dạy truyền và chính vì vậy mà những danh từ như »giáo hoá«, »truyền tâm ấn« … chỉ có thể hiểu là những danh từ tạm bợ, được dùng để mô tả một hiện tượng không thể trình bày. Nhiệm vụ của một Thiền sư có thể so sánh với một chất xúc tác (e: catalyst) trong hoá học. Với sự hiện diện hoặc giáo hoá của một vị thầy, thiền sinh có thể tự chứng ngộ và ngay lúc đó, không có gì có thể gọi là thầy »truyền« trò »nhận.«|Trong thời gian đầu, biểu tượng của sự công nhận pháp tự là y bát của vị thầy truyền giao lại cho đệ tử. Danh từ »y bát« sau được hiểu như là »truyền tâm ấn ngoài giáo pháp«, một đặc tính của Thiền tông tại Ðông, Ðông nam á.
Pháp tướng 法相; C: făxiāng; J: hossō; |Pháp tướng tông (法相宗).
Pháp tướng giáo 法相教; C: făxiāngjiāo; J: hossōkyō; |1. Giáo lí Pháp tướng tông, dạng Á Đông của Du-già hành phái Ấn Độ. Được miêu tả như một dạng giáo lí đặc biệt với sự phân loại nhiều hệ thống học thuyết, đặc biệt tương phản với giáo lí Bát-nhã về Tính không; 2. Theo 5 hệ thống giáo lí (五教) mà Tông Mật phân định thì Pháp tướng giáo là giáo lí về sự trình hiện của các pháp (hiện tượng giới của các pháp)
Pháp tướng tông 法相宗; C: fǎxiàng-zōng; J: hossō-shū;|Hình thái Á Đông của Du-già hành phái Ấn Độ. Tông nầy do Huyền Trang lập nên, khi trở về Trung Hoa sau chuyến cầu học ở Ấn Độ, sư đã mang về rất nhiều những tác phẩm quan trọng của Duy thức tông. Với sự hỗ trợ của triều đình và nhiều người phụ tá, sư đã dịch những kinh văn nầy sang tiếng Hán. Giáo lí Pháp tướng tông đã được truyền sang Hàn Quốc (k: pŏpsang), Nhật Bản (j: hossō), nơi tông nầy đã có được những ảnh hưởng đáng kể. Mặc dù Pháp tướng tông chìm dần như một tông phái độc lập, nhưng giáo lí Duy thức vẫn tạo nên một ảnh hưởng lớn mà sau nầy giáo lí ấy phát triển trong những truyền thống Á Đông, đáng kể nhất là tông Thiên Thai, Hoa Nghiêm tông và Thiền tông. Peter Gregory nhận xét: »Pháp tướng tông liên hệ đặc biệt với tư tưởng của Huyền Trang và Khuy Cơ, không như những hình thái cổ điển của Du-già hành phái Trung Hoa, Pháp tướng tông khước từ ý niệm Như Lai tạng nên phủ nhận cảnh giới chứng ngộ mà có thể trực nhận được, từ lí do đó, nên tông này chỉ được xem như một hình thái sơ đẳng theo cách nhìn của Hoa Nghiêm tông Đại thừa. Thuật ngữ Pháp tướng tự nó được dùng đầu tiên bởi nhà tư tưởng Hoa Nghiêm tông là Pháp Tạng, để nhấn mạnh vị thế thứ yếu của giáo lí Pháp tướng, vốn chỉ đề cập đến »sự trình hiện của chư pháp« tương phản với giáo lí Hoa Nghiêm, đề cập đến hạ tằng của »tính« mà các trình hiện của chư pháp lấy làm nền tảng«. (Gregory-1995: 213). Xem Du-già hành phái (瑜伽行派) và Duy thức (唯識).|Tông này mang tên Pháp tướng vì họ chuyên nghiên cứu về »Tướng của các Pháp« (法相; s: dharmalakṣaṇa). Pháp tướng tông xem toàn bộ thế giới do 100 pháp tạo thành, được chia làm 5 nhóm: I. 8 Tâm pháp (心法; s: cittadharma), II. 51 Tâm sở hữu pháp (心所有法; s: caitasikadharma), III. 11 Sắc pháp (色法; s: rūpadharma), IV. 24 Tâm bất tương ưng hành pháp (心不相應行法; cittaviprayukta-saṃskāradharma); V. 6 Vô vi pháp (無爲法; asaṃskṛtadharma).|100 pháp của Pháp tướng tông bao gồm cụ thể:|I. 8 Tâm pháp (cittadharma): bao gồm tám thức Thức (vijñāna), là A-lại-da, ý thức (manas), Mạt-na thức (manovijñāna), và năm thức cảm giác khác;|II. 51 Tâm sở hữu pháp (caitasikadharma), bao gồm 51 Tâm sở (theo lối sắp xếp của Duy thức tông);|III. 11 Sắc pháp (rūpadharma), tức là các hiện tướng sinh lí, vật lí, bao gồm: 1. Nhãn căn: mắt, cơ quan giúp cho nhãn thức phát sinh; 2. Nhĩ căn: lỗ tai, cơ quan giúp nhĩ thức phát sinh; 3. Tỉ căn: mũi, cơ quan giúp tỉ thức phát sinh; 4. Thiệt căn: lưỡi, cơ quan giúp thiệt thức phát sinh; 5. Thân căn: da thịt, cơ quan giúp cho thân thức phát sinh; 6. Sắc trần: đối tượng của nhãn thức; 7. Thanh trần: âm thanh, đối tượng của nhĩ thức; 8. Hương trần: mùi hương, đối tượng của tỉ thức; 9. Vị trần: đối tượng của thiệt thức; 10. Xúc trần: đối tượng của thân thức; 11. Pháp xứ sở nhiếp sắc: chỉ các vật có hình, danh, sắc, tướng trong pháp giới.|IV. 24 Tâm bất tương ưng hành pháp (cittavi-prayukta-saṃskāradharma), chỉ các pháp độc lập với tâm, bao gồm: 1. Ðắc (prāpta): sự hình thành của các pháp; 2. Mệnh căn (prāṇa): sự sống của sinh mệnh; 3. Chúng đồng phận (nikāyasabhāga): sự giống nhau trong từng loại; 4. Dị sinh tính (visabhāga): sự khác biệt của từng loại; 5. Vô tưởng báo (āsaṃjñika): quả báo vô tưởng; 6. Vô tưởng định (asaṃjñāsamāpatti): sự tạm diệt của các tâm sở; 7. Diệt tận định (nirodhasamāpatti); 8. Danh thân (nāmakāya): sự cấu thành của các danh từ; 9. Cú thân (padakāya): sự cấu thành của từng câu; 10. Văn thân (vyañjaṇakāya): sự cấu thành của các mẫu tự và các vạch; 11. Sinh (jāti): sự phát sinh, hình thành của các pháp; 12. Trụ (sthitī): sự tồn tại nhất thời của các pháp; 13. Lão (jāra): sự suy tàn của các pháp; 14. Vô thường (anityā); 15. Lưu chuyển (pravṛtti): sự biến chuyển liên tục theo luận nhân quả; 16. Ðịnh dị (pratiniyama): sự sai khác của các hiện tượng nhân quả; 17. Tương ưng (yoga): sự liên hợp với nhau của các pháp; 18. Thế tốc (jāva): sự chuyển biến mau lẹ của các pháp; 19. Thứ đệ (anu-krama): trật tự trong sự chuyển biến của các pháp; 20. Phương (deśa): không gian; 21. Thời (kāla): thời gian; 22. Số (saṃkhyā): số lượng của các pháp; 23. Hoà hợp tính (sāmagrī): tính hoà hợp của các pháp; 24. Bất hoà hợp tính (anyathātva): tính bất hoà hợp của các pháp.|V. 6 Vô vi pháp (asaṃkṛtadharma), các pháp không tuỳ thuộc, Vô vi (asaṃkṛta), bao gồm: 1. Hư không vô vi; 2. Trạch diệt vô vi; 3. Phi trạch diệt vô vi; 4. Bất động diệt vô vi; 5. Tưởng thụ diệt vô vi; 6. Chân như vô vi;|Trong lúc các trường phái khác xem thức là một pháp thì Pháp tướng tông cho rằng có tám dạng của thức, gồm có: 1-5, năm thức của năm giác quan; 6. Ý thức (manovijñāna), là thức suy nghĩ, đánh giá đo lường các ấn tượng do năm thức kia mang lại; 7. Mạt-na (manas), thức tự ý thức về chính mình, thức »ô nhiễm«, là thức nghĩ rằng mình có một cái ta và 8. A-lại-da thức (ālayavijñāna), thức tàng chứa tất cả các kinh nghiệm của đời sống vô tận. A-lại-da thức được xem mênh mông như biển cả, bản thân nó không chủ động tạo tác. Nhưng một khi Mạt-na tác động lên A-lại-da thức thì những chủng tử nằm sẵn trong A-lại-da thức được khởi động và tạo tác những sự vật tưởng chừng như khách quan. Mạt-na là thức liền phân biệt khách thể chủ thể, tạo nên ý thức nhị nguyên, ý thức về một cái »ta« và »cái không phải ta«. Sáu giác quan (kể cả ý thức) là những kẻ báo cho Mạt-na các thông tin từ bên ngoài, không hề đánh giá tốt xấu. Và chính Mạt-na là kẻ đánh giá phải trái hay dở, ra lệnh cho sáu ý thức kia hoạt động và phản ứng. Ðồng thời, Mạt-na thức lại đưa các cảm giác hay Chủng tử (bīja) đó vào A-lại-da thức. Chủng tử này lại là kẻ ảnh hưởng và tạo tác lên thế giới bên ngoài và vòng tròn ấy tiếp tục vô cùng tận. Mạt-na được xem là gạch nối giữa sáu ý thức kia và A-lại-da thức, là kẻ tưởng mình có một cái ta, là kẻ gây »ô nhiễm« lên A-lại-da thức. Muốn tránh vòng tròn ô nhiễm vô tận đó, hành giả phải chấm dứt hoạt động đầy phân biệt của Mạt-na, biến thức này thành »Bình đẳng tính trí«, là thức đứng trên mọi tính chất nhị nguyên. Nhờ đó, hành giả đạt được tri kiến về tính chất huyễn hoặc của vạn sự.|Pháp tướng tông chia đặc tính xuất hiện của các pháp làm ba (s: trisvabhāva): 1. Huyễn giác hay Biến kế sở chấp (parikalpita), hiện tượng xuất hiện theo ý tưởng tượng của con người; 2. Y tha khởi (paratantra): Chân lí xuất hiện có tính thời gian, dựa lên nhau mà có; 3. Cấp Viên thành thật (pariniṣpanna): đây là cấp bậc của Chân như thường hằng, vượt trên mọi điều kiện và mọi tương đối. Tính chất của cấp này là bất nhị, đó là sự thật »như như« (如如; s: tathatā), trong đó mọi hiện tượng và tính chất riêng biệt đều được chuyển hoá. Ðó là Niết-bàn, là trạng thái đích thật của Chân như. Muốn đạt được cấp cuối cùng, hành giả phải vượt qua mọi tiến trình tu dưỡng và phát triển tâm, phải đạt Phật quả. Muốn thế, năm thức đầu tiên phải biến thành Thành sở tác trí, ý thức thành Diệu quan sát trí, Mạt-na thức thành Bình đẳng tính trí và A-lại-da thức thành Ðại viên kính trí (xem Năm trí).|So với các giáo phái Ðại thừa khác, Pháp tướng tông có chỗ khác biệt là không công nhận mỗi chúng sinh đều có Phật tính và có thể đắc quả Phật. Ví dụ như Nhất-xiển-đề (s: icchantika) là kẻ không bao giờ đạt Phật quả. Sau đời Ðường, Pháp tướng tông bị mất uy tín nhiều cũng vì quan điểm này.
Pháp uẩn 法蘊; C: fă yùn; J: hōun; |Bộ sưu tập giáo lí.
Pháp uyển châu lâm 法苑珠林; C: făyuànzhūlín; J: hōonjurin; |Tác phẩm của Đạo Thế (道世).
Pháp vân địa 法雲地; C: făyúndì; J: hōunji; s: dharma-meghā; t: chos kyi sprin|Giai vị thứ 10 trong Thập địa của Bồ Tát đạo. Giai vị mà trí huệ thấm nhuần khắp pháp giới như mưa rơi từ một đám mây.
Pháp vị 法位; C: făwèi; J: hōi; S: dharma-niyāmatā. |1. Nhân duyên hay tiến trình mà các pháp (sinh mệnh, vật thể, tâm ý) được biểu hiện. Những luận sư thuộc phái Hữu bộ ban sơ, trong lúc cố gắng giải thích làm sao chúng ta có thể phân biệt giữa quá khứ, hiện tại, vị lai đã kết luận rằng đó là do quan điểm hoạt dụng khác nhau giữa các sự hiện hữu. Lí thuyết nầy được giải thích chi tiết trong Câu-xá luận, cho rằng thời gian mà các pháp đã hoại là quá khứ. Quan điểm nầy, nếu như không được giải thích kĩ, có thể dẫn đến kết quả xu hướng dẫn đến tà kiến cho rằng các pháp có một bản ngã nhất định và có tự tính riêng của chúng. Do vậy, quan điểm nầy bị Long Thụ và các vị khác bác bỏ.|2. Một pháp, hay mỗi pháp hiện hữu trong một vị thế tương ứng với chân tính như thật của nó.|3. Thành viên trong tăng đoàn.
Pháp vô khứ lai tông 法無去來宗; C: fă wú qùlái zōng; J: hōmukorai shū; |Chủ trương »Pháp vốn chẳng có quá khứ lẫn vị lai«.
Pháp vô ngã 法無我; C: făwúwǒ; J: hōmuga; |Hợp thể các yếu tố hiện hữu không tồn tại trên cơ sở tự tính. Đây là một nhận thức cao cấp về tính không hơn là quan điểm Nhân vô ngã (人無我). Đồng nghĩa với Pháp không (法空) và Vô tự tính (無自性).
Pháp vương 法王; C: fă wáng; J: hō-ō; |1. Vua của các pháp – Đức Phật; 2. Vị vua chân thực trong việc truyền bá chính pháp.
Pháp vương tử trú 法王子住; C: fă wángzí zhù; J: hō-ōshi jū; |Giai vị thứ 9 trong Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ Tát. Là giai vị xuất sinh trí huệ tương ứng với giáo pháp của Đức Phật, và niềm xác tín là tương lai sẽ thành Phật.
Pháp xứ 法處; C: fă chù; J: hossho; S: dharma-āyatana. |Một trong 12 xứ theo giáo lí Duy thức. Là những gì hiện hữu ngay lúc phát sinh ý niệm. »Ý niệm«. Cảnh giới sở đối của ý niệm.
Pháp xứ sở nhiếp sắc 法處所攝色; C: făchù suŏshè sè; J: hossho-shojōshiki; |Còn gọi là Đoạ pháp xứ sắc (墮法處色). Theo giáo lí Pháp tướng tông, thuật ngữ nầy chỉ cho các sắc pháp bao gồm trong đối tượng của 6 giác quan mà không được bao hàm trong Ngũ căn (五根) và Ngũ cảnh (五境). Nghĩa là có những pháp đối tượng của tâm được gom vào trong sắc pháp.|Theo giáo lí Duy thức, có 5 loại bao hàm trong loại nầy: 1. Cực lược sắc (極略色): Lí giải tính chất cực nhỏ sự hiện hữu của 5 giác quan, 5 trần cảnh, tứ đại, v.v… đúng theo sự phân tích qua trí huệ. Đây là mức độ vi tế được lí thuyết hoá qua phân tích, nhưng không thể cảm nhận được qua các giác quan. Đối tượng vật thể quá nhỏ không thể thấy được, nhưng sự hiện hữu của chúng của thể được xác nhận qua tỉ lượng (sự phân tích); 2. Cực sắc (極色): Những hiển sắc cực kì vi tế trong phạm trù tương quan như ánh sáng, bóng tối, chói chang, u ám; và những phạm trù tương quan với vật thể như dài, ngắn, vuông tròn; 3. Thụ sở dẫn sắc (受所引色): Vô biểu sắc phát sinh trong tâm mình từ kết quả thụ nhận giới pháp. (Vô biểu sắc 無表色 và Giới thể 戒體). Theo học thuyết trong A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, đây chỉ đơn giản là »Vô biểu sắc«, nhưng theo Duy thức, »chủng tử thiện« có được như là tâm hành ngay vào lúc thụ nhận giới pháp được gọi là »giới thể«. Nên thuật ngữ trên được hiểu là »tâm hành có được ngay khi thụ giới«. Chỉ là sắc pháp có tạm thời; 4. Định sở dẫn sắc (定所引色): là sắc pháp mà các bậc thánh có thể tự tại biến hiện trong định. Khi nghĩ đến nước hoặc lửa, họ có thể tạo ra ngay. Hoặc có thể biến đất cát thành vàng bạc,v.v… 5. Biến kế sở khởi sắc (遍計所起色): trường hợp của thức thứ 6, không quan hệ gì với 5 thức trước, tương ứng với quá khứ, hoặc sinh khởi những ảo tượng như hoa đốm giữa hư không, sắc pháp này sinh khới do sức phân biệt sai lầm của thức thứ 6.
Pháp Xứng 法稱; S: dharmakīrti;|Tên của hai luận sư Phật giáo:|1. Devarakṣita Jayabahu Dharmakīrti, sống khoảng năm 1400, một Cao tăng của Phật giáo Tích Lan và tác giả của hai tác phẩm nói về sự phát triển của đạo Phật tại đây là Nikāya-saṃgrahaya và Saddharmalaṅkāra-ya.|2. Một trong những Luận sư quan trọng nhất của triết học đạo Phật, đại điện quan điểm của Duy thức tông (vijñānavāda) và Nhân minh học (s: hetuvidyā), sống trong thế kỉ thứ 7 (~ 600-650) tại Nam Ấn Ðộ và là môn đệ của Hộ Pháp (dharmapāla) tại Na-lan-đà (Mười đại luận sư).|Sư sinh ra trong một gia đình theo đạo Bà-la-môn (s: brāhmaṇa) và đã tinh thông tất cả những môn học thời đó lúc còn trẻ. Sau đó, Sư bắt đầu nghiên cứu, tu học Phật pháp với tư cách của một Cư sĩ. Phật học lôi cuốn Sư đến mức Sư bỏ đạo Bà-la-môn, đến viện Na-lan-đà thụ giới cụ túc và tham học với Hộ Pháp. Các tác phẩm của Trần-na (s: di-gnāga, diṅnāga) tại viện Phật học này chính là yếu tố ngộ đạo của Sư. Sau khi kết thúc giai đoạn tu tập, Sư bắt đầu công việc hoằng hoá, xiển dương đạo Phật, viết nhiều luận giải, đại diện Phật giáo tham dự nhiều cuộc tranh luận. Trong những cuộc tranh luận này, Sư dùng Nhân minh học để hàng phục đối phương và trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng đặt Sư lên một địa vị cao hơn cả Trần-na. Trong những năm cuối đời mình, Sư từ bỏ việc chu du đây đó và lui về một trụ trì một Tinh xá tại Orissa (bây giờ là Kālinga) và mất tại đây.|Sử sách mô tả Sư là một người tự lực cánh sinh, căm ghét tính phàm tục của dân dã và các tăng chúng dối trá, nhưng Sư cũng được tả là một Ðại sư thiếu khiêm tốn, nếu không nói là kiêu mạn. Nhà sử học nổi tiếng của Tây Tạng là Bố-đốn (t: buston) có ghi lại một sự việc sau: Sau khi Sư viết và trình bày Lượng thích luận (s: pramāṇavarttika-kārikā) và -chú (-vṛtti), nhiều người không hiểu nổi. Những người hiểu được thì trở nên ganh tị, tuyên bố rằng, tác phẩm này không đúng. Họ lấy dây buộc bài luận này vào lưng một con chó và cho nó chạy rong ngoài đường, với kết quả là những trang (lá bối) của luận này bay tung toé khắp nơi. Thấy cảnh tượng này, Sư tuyên bố rằng: »con chó sẽ chạy đến khắp nơi và truyền bá tác phẩm này toàn thế giới«.|Những lời sau đây của Sư còn được lưu lại: »Loài người có những đặc tính, tư tưởng rất phàm; họ không hướng vào nội tâm để tìm lấy cái tinh hoa, cốt tuỷ. Không chú ý đến những lời dạy của Thiện tri thức đối với họ chưa đủ, họ còn phát lòng thù ghét và ganh tị. Vì vậy mà ta cũng chẳng viết cho họ. Tuy thế, tâm của ta đã có được niềm an vui khi viết tác phẩm này bởi vì qua nó, lòng quý trọng thiền định thâm sâu vượt qua mọi ngôn ngữ của ta đã được bù đáp.«|Sư viết nhiều luận giải nhưng quý giá hơn hết là các tác phẩm về Nhân minh học Phật giáo. Trong lĩnh vực này, truyền thống Tây Tạng có giữ lại bảy tác phẩm của Sư, được gọi chung là Pháp Xứng nhân minh thất bộ, là luận lí học nền tảng của Phật giáo Tây Tạng (tất cả đều chưa được dịch ra Hán ngữ).|Bảy tác phẩm chính về Nhân minh học của Sư là: 1. Quan tướng thuộc luận (saṃbandhaparīkṣāpra-karaṇa), chỉ còn bản Tạng ngữ; 2. Lượng quyết định luận (pramāṇaviniścaya), chỉ còn bản Tạng ngữ. Bộ luận này được chia làm 3 phần với chủ đề thụ tưởng, kết luận và trình bày phương pháp suy diễn ba đoạn (e: syllogism). Luận này được xem là bản nhỏ của Lượng thích luận vì hơn nửa phần được trích ra từ đây; 3. Lượng thích luận (pramāṇavart-tika-kārikā), luận quan trọng nhất, chú giải Tập lượng luận (pramāṇasamuccaya) của Trần-na (dig-nāga); 4. Chính lí nhất đích luận (nyāyabindu-pra-karaṇa); 5. Nhân luận nhất đích luận (hetubindu-nāma-prakaraṇa), bản Tạng ngữ có, bản Phạn ngữ mới được tìm thấy. Bộ luận này được chia làm 3 phần, giảng giải về ba đoạn của suy luận; 6. Luận nghị chính lí luận (vādanyāya-nāma-prakaraṇa), chỉ còn bản Tạng ngữ, nói về cách tranh luận với địch thủ; 7. Thành tha tướng thuộc luận (saṃtānān-tarasiddhi-nāma-prakaraṇa), triết luận chống đối quan niệm Duy ngã và nói về »sự thật« của ý nghĩ người khác;
Pháp y 法衣; J: hō'e;|Danh từ dùng chỉ áo Ca-sa của một vị tăng tu học Phật pháp. Trong Thiền tông thì pháp y chính là biểu hiện của việc »Dĩ tâm truyền tâm« trong hệ thống truyền thừa của các vị Tổ sư, bắt nguồn từ đức Phật Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni). Tại Trung Quốc, pháp y dược các vị Tổ sư truyền cho nhau làm một dấu hiệu của sự Ấn khả chứng minh.
Phật 佛; S, P: buddha; T: sangs rgyas;|Dạng viết tắt của chữ Phật-đà, dịch âm của từ Buddha ra Hán ngữ, cũng được gọi là Bụt-đà, Bụt, dịch nguyên nghĩa là Bậc giác ngộ, Giác giả. Danh từ Phật có nhiều nghĩa:|1. Phật là người đã dứt khỏi Luân hồi (s: saṃsāra), đạt Giác ngộ hoàn toàn, đạt giải thoát (Niết-bàn). Nội dung quan trọng nhất của giáo pháp giác ngộ là Tứ diệu đế. Phật là người đã vượt qua mọi tham Ái (s: tṛṣṇā; p: taṇhā), là người biết phân biệt hay dở tốt xấu nhưng tâm không vướng mắc vào các phân biệt đó. Sau khi chết, một vị Phật không còn tái sinh.|Người ta phân biệt hai quả vị Phật: Ðộc giác Phật (s: pratyeka-buddha), là người hoàn toàn giác ngộ, nhưng không giáo hoá, và Tam-miệu Tam-phật-đà, dịch ý là Bậc Chính đẳng chính giác, (s: samyak-saṃbuddha) là người giáo hoá chúng sinh về những điều mình chứng ngộ. Một vị Tam-miệu Phật là một vị đạt Nhất thiết trí (s: sarvajñatā), Mười lực (s: daśabala), chứng Bốn tự tín. Vị Phật của thời đại chúng ta là Thích-ca Mâu-ni. Ðức Thích-ca – một nhân vật lịch sử có thật – không phải là vị Phật đầu tiên và duy nhất. Trong những kinh Tiểu thừa nguyên thuỷ, người ta đã nhắc các vị Phật trong các thời đại trước: Tì-bà-thi (s: vi-paśyin; p: vipassi), Thi-khí (s: śikin; p: sikhī), Tì-xá-phù (s: viśvabhū, p: vessabhū), Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda, p: kakusandha), Câu-na-hàm (s, p: konagāmana) và Ca-diếp (s: kāśyapa, p: kas-sapa). Vị Phật sẽ xuất hiện trong tương lai để tiếp tục hoằng pháp là Di-lặc (s: maitreya, p: metteyya). Trong kinh sách, người ta còn nhắc đến 13 vị Phật khác mà vị quan trọng nhất là Nhiên Ðăng (s, p: dīpaṅkara). Trong thời quá khứ, Phật Thích-ca là người tu khổ hạnh mang tên Thiện Huệ (sumedha), đệ tử của Nhiên Ðăng Phật. Lịch sử các vị Phật được ghi trong Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikā-ya).|Bắt đầu con đường tiến lên Phật quả, một vị Bồ Tát phát nguyện trước một vị Phật, quyết tâm thành đạo giác ngộ. Trải qua vô lượng kiếp, vị Bồ Tát đó thực hành mười hạnh Ba-la-mật-đa. Trước khi sinh lần cuối, vị đó thường giáo hoá ở cung trời Ðâu-suất (s: tuṣita). Khi sinh lần cuối vị Phật sẽ mang trong người Ba mươi hai tướng tốt, 80 vẻ đẹp khác cũng như đã đạt 37 Bồ-đề phần. Các vị Phật khi sinh ra thì mẹ của các Ngài sẽ chết bảy ngày sau đó. Lúc lớn lên, đến thời kì thích hợp, các vị Phật sẽ sống không nhà và sau khi giác ngộ sẽ thành lập Tăng-già. Lúc đức Phật nhập Niết-bàn là cũng là lúc chấm dứt quá trình đạt đạo.|2. Nhân vật lịch sử Thích-ca Mâu-ni. Ngài sinh năm 563 trước Công nguyên, con trai của một tiểu vương của dòng họ Thích-ca (s: śākya), ngày nay thuộc nước Nepal, gần Hi-mã-lạp sơn. Tên thật Ngài là Tất-đạt-đa (s: siddhārtha), thuộc họ Cồ-đàm (s: gautama; p: gotama), vì vậy cũng có người gọi là Phật Cồ-đàm. Sau quá trình tu hành đạt đạo, Ngài mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni – »Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca.« Nhằm phân biệt đức Phật lịch sử với Phật tính (xem phần 3), người ta nên gọi rõ là Phật Thích-ca.|3. Phật tính, được xem là gốc của mọi hiện tượng; mọi hiện tượng là biểu hiện của Phật tính. Nếu phái Tiểu thừa chỉ công nhận mỗi thời đại chỉ có một vị Phật, và vị này là phải là một nhân vật lịch sử và là đạo sư giáo hoá, thì phái Ðại thừa cho rằng có vô số đức Phật được biểu hiện khác nhau. Theo quan điểm Ba thân (s: trikāya) của Ðại thừa thì Phật tính biểu hiện qua ba dạng chính và mỗi dạng Phật biểu hiện một tính chất của Chân như.|Các dạng siêu việt của Phật tính, Chân như (xem Phật gia) được kể là các vị Phật A-di-đà, Ðại Nhật, Bảo Sinh, Bất Ðộng, Bất Không Thành Tựu, Kim cương Tát-đoá. Các vị này là thầy của các vị Bồ Tát và là giáo chủ của các Tịnh độ. Các dạng Phật-đà siêu việt của Chân như đều có tính chất siêu thế gian, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, toàn năng, vô lượng thọ. Theo quan điểm Ba thân thì Báo thân Phật (s: saṃbhogakāya) chính là hình ảnh lí tưởng của các vị Bồ Tát tự tạo nên để theo đó mà tu học. Báo thân lại chính là Chân tâm của Ứng thân (hay Hoá thân; s: nirmāṇakāya), là thân của Phật có dạng con người sống trên địa cầu. Khoảng năm 750 sau Công nguyên, sau khi Kim cương thừa ra đời thì trong các trường phái Ðại thừa cũng chấp nhận ngoài Pháp thân (dharmakāya) có thêm năm vị Phật chuyển hoá từ Pháp thân đó, được gọi là Ngũ Phật hay Phật gia, vì mỗi một vị Phật đó được xem có thêm một vị Phật lịch sử (từng sống trên địa cầu) và một vị Bồ Tát đi kèm: 1. Cùng với Phật Ðại Nhật là vị Ca-la-ca-tôn-đại (s: krakuccanda) và Bồ Tát Phổ Hiền (s: samantabhadra), 2. Cùng với Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya) là vị Ka-na-ca Mâu-ni (s: kanakamuni) và Bồ Tát Kim Cương Thủ (s: vajrapāṇi), 3. Cùng với Phật Bảo Sinh là vị Phật lịch sử Ca-diếp (s: kāśyapa) và Bồ Tát Bảo Thủ (s: ratnapāṇi), 4. Cùng với Phật Bất Không Thành Tựu là vị Phật Di-lặc và Bồ Tát Phổ Chùy Thủ (s: viśvapāṇi), 5. Cùng với Phật A-di-đà là đức Thích-ca Mâu-ni và Bồ Tát Quán Thế Âm (s: ava-lokiteśvara).|4. Một khái niệm chỉ cái tuyệt đối, cuối cùng của thế giới. Thể này nằm ngoài mọi suy luận, không thể nghĩ bàn, là bản thể không hề biến hoại của Phật tính.«
Phật Âm 佛音; C: fóyīn; J: button; S: buddhaghoṣa; P: buddhagosa; tk. 4;|Một Ðại luận sư của Thượng toạ bộ (p: the-ravāda). Sư sinh trong một gia đình Bà-la-môn tại Ma-kiệt-đà (magadha), gần Giác Thành (bodh-gayā). Sau khi đọc kinh sách đạo Phật, Sư theo Phật giáo, đi Tích Lan học giáo lí của Thượng toạ bộ dưới sự hướng dẫn của Tăng-già Ba-la (p: saṅghapāla thera). Sư viết 19 bài luận văn về Luật tạng (s, p: vinayapiṭaka) và về các Bộ kinh (p: nikāya). Tác phẩm chính của Sư là Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga), trình bày toàn vẹn quan điểm của phái Ðại tự (p: mahāvihāra) trong Thượng toạ bộ.
Phật bản hạnh tán 佛本行讚; C: fó běnxíng zàn; J: butsu hongyō san;|Phật sở hạnh tán (佛所行讚).
Phật bản hạnh tập kinh 佛本行集經; C: fó běnxíng jíjīng; J: butsu hongyou shūkyō; S: abhiniṣkramaṇa-sūtra.|Kinh; Xà-na-quật-đa (闍那崛多) dịch, gồm 60 quyển. Trình bày lịch sử đầy đủ nhất của đức Phật tiện dụng cho người Trung Hoa, bao gồm cả tiểu sử các đệ tử lớn của đức Phật.
Phát bồ-đề tâm 發菩提心; J: hotsu-bodaishin;|Chỉ sự quyết định đạt Bồ-đề bằng con đường của một vị Bồ Tát. Một thệ nguyện xuất phát từ Ðại tín căn và Ðại nghi đoàn.
Phật cảnh giới 佛境界; C: fójìngjiè; J: bukkyōkai;|Cõi Phật, cảnh giới Phật, đất Phật…
Phật cốt 佛骨; C: fógǔ; J: bukkotsu; |Phần xương (tinh tuý) của đức Phật còn lưu lại sau khi trà tì. Thường gọi là Xá-lợi (舎利), phiên âm từ tiếng Phạn śarīra.
Phật-đà 佛陀; C: fótuó; J: budda; S: buddha.|Có các nghĩa sau: 1. Tiếng Hán phiên âm từ chữ Buddha của tiếng Phạn (sanskrit), có nghĩa là »tỉnh thức, giác ngộ« hoặc »người tỉnh thức, người giác ngộ«. Hầu hết những tác giả và nhà phiên dịch gọi gọn lại bằng một đầu là Phật; 2. Hai chữ nầy cũng là phần đầu pháp danh của nhiều vị ở Ấn Độ và vùng Trung Á.
Phật-đà Bạt-đà-la 佛陀跋陀羅; C: fótuóbátuóluó; J: budda-baddara; S: buddhabhadra.|Có các nghĩa sau: 1. Cao tăng, sinh ở thành Ca-tì-la-vệ (s: Kapilavastu), đến Trung Hoa năm 408. Sư là người phiên dịch đầu tiên kinh Hoa Nghiêm (60 quyển) và kinh Quán Phật Tam-muội hải (觀佛三昧海經); Giác Hiền; 2. Tên vị đệ tử của Dharmakoṣa, người mà Huyền Trang gặp ở Ấn Độ năm 630-640.
Phật-đà Đa-la 佛陀多羅; C: fótuóduōluó; J: buddatara, S: buddhatrāta.|Tên được ghi ở cuối kinh Viên Giác (圓覺經), như là dịch giả của kinh nầy. Thực tế vấn đề nầy còn đáng ngờ, vì dường như khá rõ ràng là kinh được soạn ở Trung Hoa. Tên Phật-đà Đa-la cũng dường như không thấy có sự tương quan với những bộ kinh khác.
Phật-đà Ðạt-đa 佛陀達多; P: buddhadatta; dịch nghĩa là Phật Thọ;|Luận sư của Thượng toạ bộ (p: theravāda), sống trong thế kỉ thứ 4-5. Sư sinh tại Tích Lan và viết các tác phẩm của mình tại A-nu-ra-đa-pu-ra (anurādhapura). Sư viết nhiều bài luận về Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka), Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya) và tác phẩm quan trọng nhất là Nhập a-tì-đạt-ma luận (p: abhidhammāvatāra), luận giải A-tì-đạt-ma (p: abhidhamma), trình bày quan điểm của Thượng toạ bộ một cách ngắn gọn, rõ ràng.
Phật-đà Già-da 佛陀伽耶; C: fótuóqiéyé; S: buddhagayā.|Địa danh, được ghi nhận là nơi Phật Thích-ca Mâu-ni thành đạo. Phát âm theo tiếng Hindi mới là Bodhgayā. Ở vào khoảng 10km về hướng Nam của thành phố Gaya hiện đại ngày nay trong vùng Biharu.
Phật-đà Phiến-đa 佛陀扇多; C: fótuóshànduō; J: buddasenta; S: buddhaśānta.|Tên người, dịch nghĩa sang tiếng Hán là Giác Định (覺定). Người miền Bắc Ấn Độ, sang Trung Hoa năm 511 thời Bắc Nguỵ, ở đây sư cùng với Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支; s: bodhiruci) và Lặc-na Ma-đề (勒那摩提; s: ratnamati) dịch Thập địa kinh luận (十地經論; s: daśabhūmika-śāstra). Sau sư trú tại chùa Bạch Mã, dịch Nhiếp Đại thừa luận (攝大乘論; s: mahāyāna-saṃgraha) và một số kinh luận khác. Ngày sinh, ngày mất của sư không rõ.
Phật-đà-tiên 佛駄先; C: fótuóxiān; J: buddasen; S: buddhasena.|Phật-đại-tiên (佛大先).
Phật-đà Tư-na 佛陀斯那; C: fótuósīnà; J: buttashina; S: buddhasena.|Phật-đại-tiên (佛大先).
Phật-đại-tiên 佛大先; C: fódàxiān; J: butsudaisen; S: buddhasena.|Luận sư của phái Hữu bộ, sống vào thế kỉ thứ 5, ở nước Kế Tân (罽賓國; kashmir). Còn gọi là Phật-đà-tiên (佛駄先), Phật-đà Tư-na (佛陀斯那).
Phật đản hội 佛誕會; C: fódànhuì; J: buttan'e.|Nghi lễ cử hành để kỉ niệm ngày sinh của đức Phật.
Phật đạo 佛道; C: fódào; J: butsudō;|1. Giáo pháp của đức Phật, Phật giáo. Phật đạo thường được dùng đồng nghĩa với Phật pháp nhưng trong trường hợp này thì khía cạnh thực hành để thấu triệt chân lí được nhấn mạnh hơn; 2. Con đường dẫn đến Phật quả, Niết-bàn, Giải thoát; 3. Vô thượng chính đẳng chính giác, Phật quả tối thượng. Trong Thiền tông, người ta thường hiểu Phật đạo dưới nghĩa này.
Phật đệ tử 佛弟子; C: fódìzǐ; J: butsudeshi.|Đệ tử của đức Phật. Nghĩa chính xác nhất là 10 vị đệ tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni, như Ma-ha Ca-diếp (摩訶迦葉; s: mahākāśyapa), Xá-lợi-phất (舎利弗; s: śāriputra), Mục-liên (目連; s: maudgalyāyana), A-nan (阿難; s: ānanda)…, nhưng cũng được dùng để gọi chung cả hàng Phật tử tại gia và xuất gia.
Phật địa 佛地; C: fódì; J: butsuji;|Có các nghĩa sau: 1. Quả vị Phật; đòng nghĩa với Phật vị (佛位), Phật quả (佛果). Giai vị cuối cùng của hàng Bồ Tát, chứng đạt được nhờ chuyển hoá toàn vẹn Nhị chướng (二障, theo Du-già luận 瑜伽論); 2. Giai vị thứ 11 của Thập nhất địa trong kinh Giải Thâm Mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).
Phật địa kinh 佛地經; C: fódì jīng; J: butsujikyō.|1 quyển, Huyền Trang dịch, hoàn chỉnh năm 645 tại chùa Hoằng Phúc. Tên đầy đủ là Phật thuyết Phật địa kinh (佛説佛地經). Kinh giảng giải về 5 khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí, giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
Phật địa kinh luận 佛地經論; C: fódìjīng lùn; J: butsujikyōron.|Luận; gồm 7 quyển do Thân Quang (親光) cùng một số các vị khác trứ tác. Huyền Trang dịch năm 650. Còn gọi là Phật địa luận (佛地論). Tác giả giải thích 5 pháp đề cập trong kinh Phật địa. Kết hợp với những luận giải về Phật địa. Vì có một số đoạn xuất hiện trong Thành duy thức luận (成唯識論), nên có người suy đoán những đoạn văn trùng lặp nầy là của Hộ Pháp (護法; s: dharmapāla) mặc dù hiển nhiên là cả Phật địa kinh luận lẫn Thành duy thức luận đều không phải của Hộ Pháp. Bản dịch Phật địa kinh luận bằng tiếng Tây Tạng cũng có đoạn văn trùng lặp nầy. Người Tây Tạng cho luận giải nầy là của Giới Hiền (戒賢; s: śīlabhadra), viện chủ Học viện Na-lan-đà (s: nālandā) trong thời đoạn Huyền Trang còn lưu lại tại đây. Có bản dịch Anh ngữ luận giải nầy của Tiến sĩ John Keenan, nhưng chưa phổ biến (luận án Tiến sĩ).
Phật địa luận 佛地論; C: fódìlùn; J: butsujiron;|Phật địa kinh luận (佛地經論).
Phật đỉnh đại bạch tản cái đà-la-ni kinh 佛頂大白傘蓋陀羅尼經; C: fódǐng dà báisăngài tuóluóní jīng; J: butchō dai byakusankai darani kyō.|Đại Phật đỉnh Như Lai phóng quang Tất-đát-đa bát-đát đà-la-ni (大佛頂如來放光悉怛多鉢怛陀羅尼).
Phật đỉnh phóng vô cấu quang minh nhập phổ môn quán sát nhất thiết Như Lai tâm đà-la-ni kinh 佛頂放無垢光明入普門觀察一切如來心陀羅尼經; C: fódǐng fàngwúgòu guāngmíng rù pǔmén guānchá yīqiè rúláixīn tuóluóní jīng; J: bucchō hōmuku kōmyō nyū fumon kanzatsu issai nyorai shin darani kyō; S: samantamukha-praveśara-śmivimalo-ṣṇīṣaprabhāsa-sarvatathāgata-hṛdayasamā-valokita-dharaṇī; T: kun nas sgor 'jug pa'i 'od zer gtsug tor dri ma med par snang ba de bzhin gshegs pa tham cad kyi snying po dang dam tshig la rnam par lta ba shes bya ba'i gzungs.|2 quyển, tên gọi tắt là Như Lai tâm kinh (如來心經; s: tathāgatahṛdaya-dhāraṇī), Thí Hộ (施護; s: dānapāla) dịch. Kinh văn gốc về một man-đà-la quay chung quanh Vimaloṣṇīṣa (nhục kế thù thắng thanh tịnh của Như Lai). Đà-la-ni nầy được khắc trên cổng vòm của Cư Dung Quan (居庸關), ở gần Bắc Kinh bằng tiếng Phạn (sanskrit), Tây Tạng, Hán, Uighur, Mông Cổ, và tiếng Tangut.
Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh 佛頂尊勝陀羅尼經; C: fódǐng zūnshèng tuóluóní jīng; J: bucchō sonshō daranikyō; S: uṣṇīṣavijayādhāraṇī; T: de bzhin ghegs pa thams cad kyi gtsug tor rnam par rgyal ba shes bya ba'i gzungs rtog pa dang bcas pa;|Kinh nói về sự thù thắng vi diệu của Phật đỉnh (Tôn thắng Phật đỉnh 尊勝佛頂; s: uṣṇīṣavijayā), có năng lực làm tăng tuổi thọ và tiêu trừ khổ nạn sinh tử luân hồi. Bản văn thứ tư trong Bảy bộ sao lục (s: saptavāra). Các bản dịch của kinh nầy còn lưu truyền ở các nước Khotan, Uighur, Tangut, Mông Cổ, cùng với rất nhiều bản dịch tiếng Tây Tạng và chữ Hán. Bản dịch dùng trong Chân Ngôn tông là của Phật-đà Ba-lị (s: buddhapāli, Đại chính 967), Pháp Thiên (法天, Đại chính 978) và Vũ Triệt (武徹, Đại chính 974c). Trong số các bản dịch chữ Hán, bản dịch của Pháp Thiên tương ưng với 4 bản dịch tiếng Tây Tạng (To.598, P.200), trong khi các bản dịch trước đó lại tương ưng với một bản dịch khác (To.597/984, P.198/609).|Các bản dịch chữ Hán hiện còn là: 1. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Phật-đà Ba-lị (佛陀波利; s: buddhapāli) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Giáo tích nghĩa kí (教跡義記) của Pháp Sùng (法崇); 2. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Đỗ Hành Khải (杜行顗) dịch. Luận giải bằng tiếng Hán có Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh thích (佛頂尊勝陀羅尼經釋) của Độc Pháp (讀法); 3. Tối thắng đà-la-ni kinh (最勝陀羅尼經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara). Bản đà-la-ni được duyệt lại này xuất hiện trong nhiều nghi quỹ đời Đường như Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni niệm tụng nghi quỹ pháp (佛頂尊勝陀羅尼念誦儀軌法) và Du-già tập yếu diệm khẩu thí thực nghi quỹ (瑜伽集要焔口施食儀軌) của Bất Không (不空; s: amoghavajra) và Tôn thắng Phật đỉnh tu du-già pháp nghi quỹ (尊勝佛頂修瑜伽法儀軌) của Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṃha); 4. Tối thắng Phật đỉnh đà-la-ni tịnh trừ nghiệp chướng chú kinh (最勝佛頂陀羅尼淨除業障呪經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara) dịch; 5. Phật đỉnh tôn thắng đà-la-ni kinh (佛頂尊勝陀羅尼經), 1 quyển, Nghĩa Tịnh (義淨) dịch; 6. Tối thắng Phật đỉnh đà-la-ni kinh (最勝佛頂陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch; 7. Nhất thiết Như Lai Ô-sắt-nị-sa tối thắng tổng trì kinh (一切如來烏瑟膩沙最勝總持經), Pháp Thiên dịch, là bản phiên âm tương ưng với bản dịch của Chỉ Không (指空; s: dhyānabhadra); 8. Vu-sắt-sa Tì-tả-dã đà-la-ni (于瑟沙毘左野陀囉尼), 1 quyển, Chỉ Không (指空; s: dhyānabhadra) dịch. Ấn bản tiếng Phạn (sanskrit): Anecdota Oxonensiāryan Series, quyển 1, phần III của F. Max Müller và Bunyu Nanjio, Oxford xuất bản năm 1884.
Phật Ðồ Trừng 佛圖澄|C: fó túchéng; J: buttochō; S: buddhasiṃha; 232-348; |Cao tăng Ấn Ðộ. Năm 310, Sư đến Lạc Dương để thành lập một trung tâm Phật giáo tại đây. Nhờ trổ tài thần thông (tiên tri, gọi mưa), Sư được Tấn Hoài Ðế kính ngưỡng và trở thành cố vấn của ông hai mươi năm.|Thời niên thiếu, sư tu học ở nước Ô-trượng-na (烏仗那國; s: udyāna), đạt được thần thông. Những phép lạ mà sư thi triển đã tác động rất lớn đến vua chúa thời đó như Thạch Lặc, đã tôn sư làm Quốc sư. Phật-đồ-trừng cũng là một trong những vị thầy của sư Đạo An (道安). Sư nổi tiếng đã lập rất nhiều ngôi chùa trong sự nghiệp truyền bá Phật giáo ở Trung Hoa. |Sư truyền bá Phật pháp rất chú trọng đến các việc làm nhân đạo, không sát hại, không đàn áp bức bách và điểm cuối có ảnh hưởng tốt đến vương triều bấy giờ. Nhờ sự hỗ trợ của Sư, lần đầu tiên dân Trung Quốc được công khai gia nhập Tăng-già và thụ giới. Tương truyền rằng, Sư cũng có công thành lập Tăng-già cho các Tỉ-khâu-ni.
Phật đức 佛德; C: fódé; J: buttoku;|Dịch từ chữ Jñānagupta tiếng Phạn (sanskrit), thường được phiên âm là Xà-na-quật-đa (闍那崛多).
Phật gia 佛家; S: buddhakula;|Năm dạng xuất hiện cơ bản của Báo thân (s: saṃbhogakāya; Ba thân). Ðó là năm cách thể hiện của trí huệ (s: prajñā), xuất hiện dưới mọi dạng »xấu,« »tốt« khác nhau. Mỗi một hiện tượng thế gian đều thuộc về một trong năm nhóm này, nên mỗi nhóm được xem như một »gia đình« (Phật gia) với mọi quyến thuộc. Trong Kim cương thừa (s: vajrayāna), Ngũ Phật được nêu thành nguyên lí vũ trụ, thể hiện trong mọi tranh tượng. Các hình ảnh của năm Phật gia này cũng là cơ sở của phép quán linh ảnh hay được áp dụng trong những Nghi quỹ (s: sādhana). Năm vị Phật chủ của năm gia đình này là: Ðại Nhật Như Lai (s: vairocana), Bất Ðộng Như Lai (s: akṣobhya), Bảo Sinh Như Lai (s: ratnasambhava), A-di-đà Như Lai (s: amitābha) và Bất Không Thành Tựu Như Lai (s: amoghasiddhi).|Vị đầu tiên trong năm Như Lai là Ðại Nhật, có sắc trắng, được đặt vào trung tâm Man-đa-la. Thuộc về Phật gia này có Vô minh (s: avidyā), nguồn gốc của Luân hồi (s: saṃsāra). Cũng thuộc về Phật gia này là trí huệ cao tột của Pháp thân thường trụ, được gọi là Pháp giới trí (法界智; s: dhar-madhātu-jñāna; Năm trí). Phía đông của Man-đa-la là Bất Ðộng Như Lai. Ðó là vị Phật chủ của Phật gia Kim cương (s: vajra). Năng lượng của nhóm này khi xấu thì biến thành sự sân hận (s: dveṣa), khi được chuyển hoá thì thành Ðại viên kính trí (大圓鏡智; s: ādarśa-jñāna), có nghĩa là đạt được trí như một tấm gương tròn sáng. Thân Phật Bất Ðộng được vẽ màu xanh thẩm. Phía Nam của Man-đa-la là Bảo Sinh Như Lai, sắc vàng, Phật chủ của Phật gia Bảo sinh (s: ratna). Năng lượng này có gốc là mạn (s: māna), được chuyển hoá thì trở thành Bình đẳng tính trí (平等性智; s: samatā-jñāna). Phía Tây của Man-đa-la là Phật A-di-đà, Phật chủ của Phật gia Liên hoa (hoa sen; s: padma). Màu đỏ của A-di-đà tượng trưng cho tham dục (s: rāga), một khi năng lượng này biến thể thành xấu ác, nhưng khi được chuyển hoá thì đó là Diệu quan sát trí (妙觀察智; s: pratyavekṣaṇa-jñāna). Cuối cùng, phía Bắc là Bất Không Thành Tựu Như Lai, Phật chủ của Phật gia Nghiệp (s: karma; cũng được gọi là Yết-ma), mang sắc xanh lục. Ðó là năng lượng của sự ghanh ghét (s: īrṣyā), một khi được chuyển hoá sẽ thành Thành sở tác trí (成所作智; s: kṛtyā-nuṣṭhāna-jñāna).|Trong một vài Tan-tra thì sự sắp xếp Man-đa-la có chút khác nhau, nhất là trong Phật gia trung tâm và Phật gia Kim cương. Các Phật gia có nhiều quyến thuộc, thuộc tính, vật cỡi, châu báu khác nhau, có khi được biểu diễn thêm bằng dạng nữ nhân.
Phật giáo 佛教; S: buddhaśāsana; P: buddhasāsana;|Một trong ba tôn giáo lớn trên thế giới (hai tôn giáo lớn khác là Thiên chúa giáo và Hồi giáo). Phật giáo do đức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni sáng lập khoảng thế kỉ thứ 5 trước Công nguyên. Ngài là người đầu tiên giảng Tứ diệu đế, là giáo pháp trung tâm của đạo Phật, là điều mà Ngài đã chứng ngộ lúc đạt đạo. Bốn chân lí đó chính là câu trả lời cho câu hỏi của thời đại đó là: Tại sao con người cứ bị trói buộc trong Luân hồi (輪回; s: saṃ-sāra) và liệu con người có thoát khỏi nó chăng. Ðức Phật xem cuộc đời là Vô thường (無常; s: anitya; p: anicca), Vô ngã (無我; s: anātman; p: anattā) và vì vậy mà con người phải chịu Khổ (苦; s: duḥkha; p: duk-kha). Thấu hiểu Ba tính (三相; s: trilakṣaṇa; p: tilakkhaṇa) đặc trưng của sự vật đó là bắt đầu đi vào đạo Phật. Khổ xuất phát từ Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: taṇhā) và Vô minh (無明; s: avidyā; p: avijjā), và một khi dứt được những nguyên nhân đó thì ta có thể thoát khỏi Vòng sinh tử (有輪; s: bhavacakra; p: bhavacakka). Cô chế làm cho chúng sinh còn vướng mãi trong vòng sinh tử được đạo Phật giải thích bằng thuyết Mười hai nhân duyên (緣起; duyên khởi; s: pratītyasamut-pāda; p: paṭiccasamuppāda). Chấm dứt vòng sinh tử chính là chứng ngộ Niết-bàn (涅槃; s: nirvāṇa; p: nibbāna). Theo Tứ diệu đế, con đường dẫn đến Niết-bàn là Bát chính đạo (八正道; s: aṣṭāṅgika-mārga; p: aṭṭhāṅgika-magga;), tức là tu học Giới (戒; s: śīla; p: sīla), Ðịnh (定; s: samādhi, dhyāna; p: samādhi, jhāna) và Huệ (慧; Trí huệ; s: prajñā; p: paññā). Tư tưởng cơ bản của đức Phật đều được nhắc lại trong các kinh sách, nhưng có khi chúng được luận giải nhiều cách khác nhau và vì vậy ngày nay có nhiều trường phái khác nhau, hình thành một hệ thống triết lí hết sức phức tạp. Giáo pháp đạo Phật được tập hợp trong Tam tạng (三藏; s: tripiṭaka; p: tipiṭaka). Tăng-già (僧伽; s, p: saṅgha) của đạo Phật gồm có Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu; p: bhikkhu), Tỉ-khâu-ni (比丘尼; s: bhikṣuṇī; p: bhikkhunī) và giới Cư sĩ. |Sự phát triển đạo Phật có thể được chia làm bốn giai đoạn:|1. Giữa thế kỉ thứ 6 đến giữa thế kỉ thứ 5 (trước Công nguyên): Giai đoạn nguyên thuỷ, do đức Phật giáo hoá và các đệ tử của Ngài truyền bá.|2. Kể từ thế kỉ thứ 4 trước Công nguyên: Giai đoạn bắt đầu phân hoá ra nhiều trường phái qua các lần Kết tập (hội nghị) về giáo pháp.|3. Kể từ thế kỉ thứ 1 sau Công nguyên: Xuất hiện giáo phái Ðại thừa (大乘; s: mahāyāna;) với hai tông phái quan trọng là Trung quán tông (中觀宗; s: mādhyamika) và Duy thức tông (唯識宗; s: vijñānavāda, yogācāra).|4. Kể từ thế kỉ thứ 7: Sự xuất hiện của Mật tông Phật giáo (Phật giáo Tây Tạng, Kim cương thừa).|Sau thế kỉ thứ 13, Phật giáo được xem là bị tiêu diệt tại Ấn Ðộ, là nơi sản sinh đạo Phật. Từ thế kỉ thứ 3, đạo Phật được truyền đi các nước khác ngoài Ấn Ðộ và mang nặng bản sắc của các nước đó. Ngày nay, phái Tiểu thừa (小乘; s: hīnayāna) với quan điểm của Thượng toạ bộ (上座部; s: sthaviravāda; p: theravāda) được truyền bá rộng rãi tại Tích Lan, Thái lan, Miến Ðiện, Campuchia. Ðại thừa được truyền tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Hàn Quốc. Giáo pháp Kim cương thừa – cũng được xếp vào Ðại thừa – phát triển mạnh tại Tây Tạng, Mông Cổ. Ngày nay, chưa ai có một con số tín đồ Phật giáo chính xác, người ta ước lượng có khoảng từ 150 đến 500 triệu người.|Phật giáo tại Miến Ðiện: Truyền thuyết cho rằng Miến Ðiện đã tiếp cận với đạo Phật trong thời vua A-dục (s: aśoka, thế kỉ thứ 3 trước Công nguyên). Theo một thuyết khác, đạo Phật đã đến Miến Ðiện trong thời đức Phật còn tại thế, do hai thương nhân từ Ấn Ðộ mang tới. Những vị này mang theo cả tóc Phật, ngày nay được giữ trong đền Shwe-Dagon tại Rangun.|Kể từ thế kỉ thứ 5, Phật giáo phát triển rực rỡ với sự có mặt của Thượng toạ bộ và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Kể từ thế kỉ thứ 7, hai phái Tiểu thừa và Ðại thừa cùng song hành tại Miến điện, sau đó Mật tông cũng bắt đầu có ảnh hưởng. Thế kỉ thứ 11, nhà vua A-na-ra-tha tuyên bố chỉ chấp nhận Thượng toạ bộ và từ đó, Ðại thừa biến mất tại đây. Tại Miến Ðiện, Pagan ở miền Bắc trở thành trung tâm Phật giáo. Phật giáo Miến Ðiện liên hệ chặt chẽ với Phật giáo Tích Lan, nhất là với Ðại Tự (p: mahāvihāra). Thế kỉ thứ 15, vua Ðạt-ma Tất-đề (p: dhammaceti) lại xác định lần nữa rằng, Phật giáo Miến Ðiện mang nặng quan điểm của Thượng toạ bộ. Sự có mặt của người Anh trong thế kỉ thứ 19 làm xáo trộn Phật giáo Miến Ðiện đáng kể. Mãi đến lúc giành lại độc lập năm 1947, Miến Ðiện mới trở lại cơ chế cũ. Năm 1956 tại Rangun có một cuộc kết tập kinh điển quan trọng. Ngày nay, 85% dân Miến Ðiện là Phật tử, đạo Phật được xem là quốc giáo.|Phật giáo tại Tích Lan: Người ta cho rằng Phật giáo đến Tích Lan khoảng năm 250 trước Công nguyên, do Ma-hi-đà và Tăng-già Mật-đa (p: saṅghamitta), hai người con của A-dục vương (s: aśoka; p: asoka), truyền từ Ấn Ðộ. Nhà vua Tích Lan hồi đó là Thiên Ái Ðế Tu (p: devānampiya tissa) trở thành Phật tử và thành lập Ðại Tự (p: mahāvihāra) nổi tiếng, nơi đó ông trồng một nhánh cây Bồ-đề của nơi Phật thành đạo. Ðại Tự trở thành trung tâm của Thượng toạ bộ.|Theo thời gian, nhiều tông phái Phật giáo khác thành hình và gây nhiều tranh cãi, đến nỗi có khi nhà vua phải can thiệp. Ðó là những tranh luận ban đầu của Tiểu thừa và mầm mống của Ðại thừa, của cả Mật tông thời bấy giờ. Cuối cùng, Thượng toạ bộ thắng, trong đó Phật Âm (s: buddhaghoṣa) – một Luận sư xuất sắc của Thượng toạ bộ – đóng vai trò quyết định. Tác phẩm của Phật Âm ngày nay vẫn còn ảnh hưởng lên Phật giáo Tích Lan. Ðến thế kỉ thứ 12, vua Ba-lạc-la Ma-bà-ha-y (p: parakkambahu), họp hội nghị Phật giáo và ép tất cả các trường phái phải theo giáo lí của Thượng toạ bộ tại Ðại Tự.|Qua thế kỉ thứ 16 người Bồ-đào-nha vào Tích Lan và tìm cách du nhập đạo Thiên chúa. Ðến thế kỉ thứ 17, người Hoà-lan lại ủng hộ việc khôi phục đạo Phật tại Tích Lan. Ngoài ra, Miến Ðiện và Thái Lan cũng có ảnh hưởng đáng kể lên nền đạo Phật tại đây. Kể từ khi Tích Lan giành lại độc lập năm 1948, đạo Phật luôn luôn đóng một vai trò quan trọng trong việc tín ngưỡng và nền văn hoá của xứ này.|Phật giáo tại Nam Dương: Người ta cho rằng Phật giáo du nhập đến Nam Dương khoảng thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Cao tăng Pháp Hiển, vị tăng Trung Quốc đầu tiên đến Ấn Ðộ, cũng là người đến Nam Dương năm 418. Cuối thế kỉ thứ 5 thì Phật giáo bắt đầu phát triển tại Nam Dương, đến thế kỉ thứ 7 thì Su-ma-tra và Ja-va trở thành hai trung tâm Phật giáo quan trọng. Tại đây, giáo lí Ðại thừa được truyền bá rộng rãi, có một số tư tưởng Tiểu thừa, có lẽ của Nhất thiết hữu bộ, được thừa nhận. Dưới thời vua Shai-len-dra, Phật giáo phát triển rực rỡ, đó là thời kì xây dựng tháp tại Bô-rô-bu-đua (borobudur), là Phật tích lớn nhất còn lưu tới ngày nay. Khoảng cuối thế kỉ thứ 8, Mật tông bắt đầu thịnh hành. Ðại thừa và Mật tông tồn tại mãi đến thế kỉ thứ 15, trong suốt thời gian này, Phật giáo Nam Dương liên hệ nhiều với Ấn Ðộ và với viện Na-lan-đà (s: nālandā). Với sự xâm nhập của Hồi giáo (e: islamism), Phật giáo bắt đầu tàn lụi tại Nam Dương, kể từ thế kỉ thứ 15. Ngày nay chỉ còn một số nhỏ tín đồ, nhất là trong giới người Hoa.|Phật giáo tại Campuchia: Người ta cho rằng Phật giáo du nhập vào Campuchia trong thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên, theo văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), theo trường phái Nhất thiết hữu bộ và đạt được đỉnh cao khoảng thế kỉ thứ 5, thứ 6. Năm 791 người ta tìm thấy gần đền Ðế Thiên Ðế Thích (Ăng-kor Wat) một văn bản chứng tỏ rằng, Ðại thừa đã có mặt nơi đây song song với việc thờ thần Thấp-bà (s: śiva). Sự hỗn hợp này có lẽ bắt nguồn từ việc thờ cúng Bồ Tát Quán Thế Âm, mà Thấp-bà được xem là một hoá thân. Mọi nhà vua của Campuchia cũng đều được xem là hoá thân của Quán Thế Âm. Sau một thời gian thì yếu tố thần Thấp-bà hầu như bị mất đi, nhưng đến thế kỉ thứ 13, người ta lại tôn thờ thần Thấp-bà và tăng già Phật giáo bị bức hại. Theo các Cao tăng Trung Quốc thì trong thời gian này, Thượng toạ bộ được phát triển trong lúc Ðại thừa bị lu mờ. Một số văn bản bằng văn hệ Pā-li ghi năm 1309 chứng minh rằng, Thượng toạ bộ được hoàng gia công nhận và kể từ đó là giáo phái chính thống của Campuchia. Mãi đến cuối thế kỉ thứ 19, Phật giáo truyền từ Thái Lan mới bắt đầu có ảnh hưởng.|Phật giáo tại Thái Lan: Người ta biết rất ít việc đạo Phật được truyền bá đến Thái Lan. Kết quả khảo cổ cho thấy Phật giáo đến Thái Lan khoảng thế kỉ thứ 6 từ Miến Ðiện. Ban đầu giáo lí Tiểu thừa có ảnh hưởng rộng rãi. Khoảng giữa thế kỉ thứ 8 và 13, Ðại thừa được truyền bá rộng hơn. Giữa thế kỉ 11 và 14, ảnh hưởng của Ấn Ðộ giáo bắt đầu phát triển. Trong thế kỉ 13, hoàng gia Thái Lan chính thức công nhận Thượng toạ bộ và mối liên hệ với Tích Lan trong thời kì này càng làm cho bộ này phát triển thêm rộng rãi. Năm 1782, nhà vua triệu tâp một đại hội nhằm kiểm điểm lại Tam tạng kinh điển. Trong thế kỉ thứ 19, nhà vua Ma-ha Mông-cút (mongkut) lên ngôi, bản thân ông cũng là một tăng sĩ, ông là người đặt nền tảng cho nền Phật giáo cận đại. Ông thành lập Pháp tông (dhammayut), cơ sở dựa vào Luật tạng và ngày nay có nhiều tín đồ nhất tại Thái Lan. Vua Chu-la-lang-korn – trị nước từ 1868 đến 1910 – cho xuất bản các tạng kinh quan trọng của đạo Phật, có thể gọi là đầy đủ nhất từ xưa đến nay. Ngày nay, 95% dân số Thái Lan theo đạo Phật.|Phật giáo tại Hàn Quốc: Từ Trung Quốc, Phật giáo lan qua Hàn quốc trong thế kỉ thứ 4 sau Công nguyên và phát triển rực rỡ nhất là giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 9. Trong thời kì này, các trường phái quan trọng của Trung Quốc đều được thành lập tại Hàn Quốc như Thiền tông, Hoa nghiêm tông, Mật tông (Chân ngôn tông). Bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra) cũng được truyền bá rộng rãi rất sớm tại Hàn Quốc. Người ta cũng tìm thấy nhiều tác phẩm văn hoá mang đặc tính Phật giáo tại đây. Suốt thời nhà Lí (yi, 1392-1910), nền văn hoá Khổng giáo trở thành quốc đạo và tăng ni Phật giáo bị ép buộc phải vào núi tu hành. Sau năm 1945, Phật giáo được phục hưng và phát sinh một phong trào mới gọi là Viên Phật giáo (e: won-buddhism). Ngày nay, tại Hàn Quốc người ta ít phân biệt các tông phái đạo Phật và thực hành song song với nhau thiền quán, niệm Phật A-di-đà và tụng kinh. Phép niệm thần chú cũng được truyền bá rộng rãi, vốn có nguồn gốc từ Mật tông của thời trung cổ. Trong giới trí thức, Thiền tông được nhiều người theo, trong lúc giới dân giã lấy niệm danh hiệu các đức Phật làm chủ yếu. Trộn lẫn với đạo Phật là hình thức thờ đa thần như thần núi, linh vật, thần tinh tú.
Phật giáo Nhật Bản 日本佛教|Tại Nhật, Phật giáo du nhập năm 522 với điểm xuất phát là Hàn Quốc. Mới đầu người Nhật thấy đây là một nền văn hoá ngoại lai, nhưng năm 585, Phật giáo được Nhật hoàng Dụng Minh (j: yomei) thừa nhận. Dưới thời vua Thánh Ðức (j: shokotu, 593-621), Phật giáo trở thành quốc giáo. Năm 594 nhà vua ra lệnh cho dân chúng phải thờ phụng Tam bảo (s: triratna). Ông khuyến khích dịch và viết kinh sách, bản thân ông cũng viết luận giải về các kinh (Duy-ma-cật sở thuyết kinh) và cho xây chùa chiền và thành lập Pháp Long tự (j: hōryū-ji) nổi tiếng ở Nại Lương (nara). Các Cao tăng Trung Quốc và Hàn Quốc được mời đến giáo hoá, người Nhật bắt đầu gia nhập Tăng-già. Trong thời kì này, tông Tam luận được thịnh hành.|Trong thời gian từ 710-794, có sáu tông phái tại Nhật Bản, phần lớn do Trung Quốc du nhập: Câu-xá (j: kusha), Pháp tướng (j: hossū), Tam luận (j: sanron), Thành thật (j: jōjitsu), Luật (j: ritsu), Hoa nghiêm (j: ke-gon). Phật giáo Nhật Bản có ảnh hưởng mạnh lên hoàng tộc, nhất là Hoa nghiêm tông. Bộ kinh Kim quang minh tối thắng vương (s: suvarṇaprabhāsottamarāja-sūtra) đóng một vai trò rất quan trọng trong việc truyền bá đạo Phật tại Nhật Bản vì được triều đình thời đó chấp nhận. Ðến thời kì Bình An (heian, 794-1184), tông Thiên Thai (j: tendai) và Chân ngôn (j: shingon) bắt đầu có ảnh hưởng. Ðến giữa thế kỉ thứ 10, việc tôn thờ phật A-di-đà bắt đầu thịnh hành và từ đó thành hình ra Tịnh độ (j: jōdo-shū) và Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) trong thời đại Liêm Thương (kamakura, 1185-1333). Năm 1191, Thiền tông du nhập Nhật Bản, một tông phái Phật giáo đã chứng tỏ dược sức sống mãnh liệt đến ngày nay. Thiền Nhật Bản cũng có hai hệ phái: Tào Ðộng (j: sōtō) và Lâm Tế (j: rinzai).|Trong thế kỉ thứ 13, Nhật Liên (nichiren) thành lập Nhật Liên tông, chủ trương theo kinh Diệu pháp liên hoa, xem đó là kinh quan trọng duy nhất. Trong các thế kỉ sau đó, đạo Phật không còn phát triển. Ðến thế kỉ 19, quan điểm Thần đạo (j: shintō) trở thành quốc giáo. Sau thế chiến thứ hai, Phật giáo phục hưng, hình thành các phái như Sáng Giá Học Hội (sōka gakkai), Lập Chính Giải Chính (risshō koseikai), Nhật Bản Sơn Diệu Pháp Tự (nipponzan myōhōji). Các tông phái này đều lấy Diệu pháp liên hoa kinh làm căn bản.
Phật giáo Tây Tạng 西藏佛教; cũng được nhiều nơi gọi là Lạt-ma giáo (e: lamaism);|Một hệ phái Phật giáo quan trọng thuộc Ðại thừa, được truyền bá nhiều nơi gần Hi-mã-lạp sơn, không chỉ ở Tây Tạng. Ðặc trưng của Phật giáo Tây Tạng là sự trộn lẫn của các giới luật của Nhất thiết hữu bộ và các phép tu của Kim cương thừa. Phật giáo Tây Tạng được xem là thành hình trong thế kỉ thứ 8 dưới triều vua Tri-song Ðet-sen (t: tri-song detsen, 755-597), do hai Cao tăng Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) và Liên Hoa Sinh (padmasambhava) truyền sang. Ðợt đầu của việc truyền bá đạo Phật qua Tây Tạng chấm dứt trong thế kỉ thứ 9. Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) được thành lập từ thời gian đó. Sau một thời gian bị bức hại, Phật giáo lại phục hưng trong thế kỉ 11, phát sinh hai trường phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa) và Tát-ca (t: sakyapa) và đó là thời gian mà rất nhiều kinh sách được dịch ra tiếng Tây Tạng. Kể từ thế kỉ 14, phái Cách-lỗ (t: ge-lugpa) thịnh hành, được xem là một trong bốn trường phái lớn của Phật giáo Tây Tạng. Ngày nay, trên thế giới, Phật giáo Tây Tạng được coi trọng, nhiều Lạt-ma Tây tạng đang giáo hoá tại các nước phương Tây.|Trước khi Phật giáo du nhập vào Tây Tạng thì đạo Bôn được xem là quốc giáo. Khoảng dưới thời vua Tùng-tán Cương-bố (t: songten gampo; 620-649) thì hoàng gia bắt đầu quay qua Phật giáo. Năm thế hệ sau vị vua này thì Phật giáo được tuyên bố chính thức là quốc giáo và với sự xây dựng tu viện Tang-duyên (samye, 775), các tăng sĩ Tây Tạng bắt đầu thành lập Tăng-già.|Mới đầu Phật giáo Tây Tạng cũng có tiếp xúc, tranh luận với Thiền tông Trung Quốc, nhưng sau đó, người ta theo hẳn giáo lí của Trung quán tông (s: mādhyamika; t: dbu ma pa). Khoảng dưới thời vua Lãng-đạt-ma (langdarma, 838-842), Bôn giáo lại được phục hồi, Phật giáo bị bức hại. Trong thời gian đó, chỉ có phái »áo trắng«, là các vị cư sĩ tại gia, được bảo tồn. Ngày nay phái này còn lưu truyền với phái Ninh-mã (nying-mapa).|Với A-đề-sa, đạo Phật lại được truyền bá lần thứ hai sang Tây Tạng. Từ đây, người ta lại quan tâm đến các trường phái, nhất là các phái truyền tâm từ thầy qua trò, và từ đó sinh ra các tu viện lớn của tông Tát-ca (1073), lôi kéo được »dịch giả« Mã-nhĩ-ba (marpa) – người sáng lập tông Ca-nhĩ-cư (kagyupa) – sang Ấn Ðộ thu thập kinh sách. Trong Phật giáo Tây Tạng và các tông phái tại đây, các vị đại sư được gọi là Lạt-ma, đóng một vai trò rất quan trọng. Một trong các vị quan trọng nhất là Tông-khách-ba (t: tsong-kha-pa), »Nhà cải cách«, là người thiết lập và tổ chức lại toàn bộ các tông phái. Sư cũng là người xây dựng tu viện Gan-den (1409) và thành lập tông Cách-lỗ (t: gelugpa).|Các tông phái và giáo lí khác như Ðoạn giáo (chod), tuy có một hệ thống kinh sách mạch lạc, nhưng lại không xây dựng tu viện nên cuối cùng hoà vào các dòng khác. Các dòng tu quan trọng của Tây Tạng thường hay có một hệ thống các tu viện, đồng thời cũng bắt nguồn từ các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Về mặt lí thuyết, ngoài A-tì-đạt-ma, Phật giáo Tây Tạng còn dựa vào các giáo pháp Ðại thừa của Long Thụ (s: nāgārjuna) và Vô Trước (s: asaṅga), xem đó là hai lí thuyết căn bản mà đặc biệt là triết lí Trung quán cụ duyên (mādhyamika-prāsaṅ-gika) được xem trọng hơn hết. Ngoài ra Nhân minh học (s: hetuvidyā; có thể gọi là logic, luận lí học) cũng được đưa vào để luận giải các vấn đề có tính giáo khoa. Ðặc biệt, các phép tu Tan-tra hay được dùng để biến các kiến thức lí thuyết thành kinh nghiệm bản thân.|Năm chủ đề (s: pañcavacanagrantha) quan trọng phải được học hỏi, nghiên cứu trong một thiền viện tại Tây Tạng trước khi đạt được danh hiệu Ge-she (tương ưng với Hoà thượng tại Ðông, Ðông nam á, có thể so sánh với bằng cấp Tiến sĩ của Tây phương): 1. Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: pra-jñāpāramitā); 2. Trung quán (mādhyamika); 3. Nhân minh hoặc Lượng học (pramāṇavāda); 4. A-tì-đạt-ma (abhidharma); 5. Luật (Tì-nại-da; vina-ya).
Phật giáo Trung Quốc 中國佛教|Theo truyền thuyết thì đạo Phật vào Trung Quốc khoảng thế kỉ thứ 2 sau Công nguyên. Mới đầu nhiều người nghĩ rằng, đạo Phật là một tông phái của đạo Lão (Lão Tử). Sự hiểu lầm này bắt nguồn từ quan điểm chung của hai tôn giáo này; cả hai đều hướng đến giải thoát. Có người cho rằng, mới đầu người Trung Quốc không hiểu đạo Phật vì ngôn ngữ chữ Hán thời đó không tiếp cận được với các khái niệm hoàn toàn trừu tượng của Phật giáo và khi dịch kinh sách Phật giáo, người ta đành dùng ngôn đạo Lão. Vì vậy về sau, khi đạo Phật đã phổ biến, công các dịch giả rất lớn và tên tuổi của họ còn lưu truyền đến ngày nay. Khoảng thế kỉ thứ 3, các nhà dịch kinh bắt đầu dịch từ Phạn ngữ (sanskrit) ra tiếng Hán, mà những đại diện kiệt xuất là An Thế Cao (安世高), người chuyên dịch các kinh Tiểu thừa, và Chi Khiêm (支謙), người chuyên dịch các tác phẩm Ðại thừa.|Năm 355, Tăng-già được thành lập. Kể từ thế kỉ thứ 4, nhiều trường phái Bát-nhã Ba-la-mật-đa ra đời với Cao tăng Chi Ðộn (支遁; Chi Ðạo Lâm) là nhân vật quan trọng nhất. Năm 399, Pháp Hiển đi Ấn Ðộ và sau đó một số Cao tăng khác như Huyền Trang cũng lên đường đi Ấn Ðộ. Trong thế kỉ thứ 5, thứ 6, Phật giáo phát triển mạnh mẽ và được sự ủng hộ của triều đình. Nhờ vậy trong thời gian này, nhiều chùa chiền được xây cất, nhiều tác phẩm ra đời. Vào năm 466 và 574-577 có hai lần Phật giáo bị bức hại nhưng vẫn phát triển mạnh. Trong thời kì này, hai vị có công lớn nhất trong việc dịch kinh điển là Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumāra-jīva) và Chân Ðế (真諦; s: paramārtha). Với trình độ văn chương rất cao, hai vị này đã làm cho hầu hết các kinh Tiểu thừa và Ðại thừa đều có mặt tại Trung Quốc. Ðóng vai trò quan trọng trong Phật giáo Trung Quốc là các kinh Nhập Lăng-già (入楞伽經; s: laṅ-kāvatārasūtra), Ðại bát-niết-bàn (大般涅槃經; s: mahāparinirvāṇa-sūtra) và Thành thật luận (成實論; s: satyasiddhi). Từ đó, các tông phái như Tam luận tông (三論宗), Thành thật tông (成實宗) và Niết-bàn tông (涅槃宗) ra đời.|Giữa thế kỉ thứ 6 và thứ 10, Phật giáo Trung Quốc phát triển rực rỡ. Các tông Hoa nghiêm (華嚴), Thiên Thai (天台), Thiền (禪), Tịnh độ (淨土), Pháp tướng (法相) ra đời, trong đó người ta nhắc nhở đến các vị Cao tăng như Huyền Trang Tam Tạng (玄奘), Trí Khải (智顗), Ðế Tâm Ðỗ Thuận (帝心杜順). Với sự hiện diện của Huệ Năng (慧能) và các môn đệ kế thừa, Thiền tông phất lên như một ngọn lửa sáng rực đời Ðường.|Với thời gian, giáo hội Phật giáo – nhờ không bị đánh thuế – trở thành một tiềm lực kinh tế và có những điểm mâu thuẫn với triều đình. Nhiều nông dân cúng dường đất cho nhà chùa rồi thuê lại đất đó để trốn thuế. Năm 845, Phật giáo bị bức hại, giáo hội bị triệt hạ, tăng ni bị buộc phải hoàn tục. Từ thời điểm đó, Phật giáo Trung Quốc không bao giờ trở lại được thời đại huy hoàng như trước, nhưng vẫn để lại những dấu ấn quan trọng trong nền văn hoá nước này.|Trong đời nhà Tống (thế kỉ 10-13), Phật giáo hoà nhập với Khổng giáo và Lão giáo thành một nền văn hoá, trong các tông phái chỉ còn Thiền và Tịnh độ là quan trọng. Dưới thời nhà Minh (thế kỉ 14-17), có một khuynh hướng hợp nhất giữa Thiền và Tịnh độ (禪淨合一; Thiền Tịnh hợp nhất) và gây được ảnh hưởng đáng kể (Vân Thê Châu Hoằng).|Giữa thế kỉ thứ 17 và 20, Phật giáo Tây Tạng bắt đầu gây ảnh hưởng tại Trung Quốc. Qua thế kỉ 20, Phật giáo Trung Quốc lại bị bức hại, nhất là trong thời kì cách mạng văn hoá (1966-1976).
Phật giáo Việt Nam 越南佛教|Lịch sử Phật giáo tại Việt Nam được trình bày khá rõ trong Việt Nam Phật giáo sử luận của Nguyễn Lang. Theo tác phẩm này, trong thế kỉ thứ nhất, thứ hai sau Công nguyên, ngoài hai trung tâm Phật giáo tại Trung Quốc là Lạc Dương và Bành Thành, một trung tâm thứ ba xuất hiện tại Luy Lâu, thuộc xứ Giao Chỉ, ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, Việt Nam. Có người cho rằng, Luy Lâu hình thành trong đầu thế kỉ thứ nhất, sớm hơn cả Lạc Dương và Bành Thành, làm bàn đạp cho sự thành lập hai nơi đó. Ðiều chắc chắn là trung tâm Luy Lâu được hình thành do các tăng sĩ Ấn Ðộ trực tiếp mang lại, chứ không phải từ Trung Quốc truyền xuống. Tập luận thuyết đầu tiên về đạo Phật được Mâu Tử (sinh khoảng năm 165) viết tại Giao Châu. Khang Tăng Hội (康僧會; cuối thế kỉ thứ hai) được xem là tăng sĩ đầu tiên của Việt Nam. Qua thế kỉ thứ ba thì tại Giao Châu đã có khoảng năm trăm vị tăng sĩ và lưu hành ít nhất 15 bộ kinh, trong đó bộ Tứ thập nhị chương (四十二章經; s: dvācat-vāriṃśat-khanda-sūtra) là kinh chủ yếu dành cho người xuất gia. Sau đó Thiền tông vào Việt Nam rất sớm, Khang Tăng Hội được xem là Khai tổ của Thiền học Việt Nam. Sư là tác giả của tập Nê-hoàn phạm bối (泥洹梵唄), một tập thi ca về Niết-bàn dịch từ văn hệ Pā-li. Sư cũng viết tựa cho tập kinh An-ban thủ ý (安般守意; p: ānāpānasati), soạn bộ Lục độ tập kinh (六度集經) và dịch một kinh bản của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa. Như thế, trong đầu thế kỉ thứ ba, Phật giáo Việt Nam đã là Phật giáo Ðại thừa.|Khoảng thế kỉ thứ năm, người ta nhắc đến hai vị Thiền sư ở Giao Châu là Pháp Thiên (法天; s: dharmadeva) và Huệ Thắng (慧勝), theo thiền pháp Ðại thừa. Người ta biết rằng Sơ tổ Thiền tông Trung Quốc là Bồ-đề Ðạt-ma đến nước này năm 520, nhưng có truyền thuyết cho rằng, Ngài có thể đã cùng Pháp Thiên đến Giao Châu cuối đời nhà Tống (khoảng năm 470).|Cuối thế kỉ thứ sáu, Thiền sư Tì-ni-đa Lưu-chi (毘尼多流支; s: vinītaruci; cũng gọi là Diệt Hỉ) – học trò của vị Tổ thứ ba của Thiền Trung Quốc là Tăng Xán (僧璨) – đến Giao Châu khai sáng dòng thiền cùng tên. Sau đó còn có phái thiền Vô Ngôn Thông (無言通) và Thảo Ðường cũng xuất phát từ Trung Quốc lưu hành tại Việt Nam. Phái Thiền của Tì-ni-đa Lưu-chi truyền được 19 đời (đến năm 1213), bắt đầu bằng kinh Tượng đầu tinh xá (象頭精舍經), một bộ kinh thuộc hệ thống Bát-nhã, tạo sự lớn mạnh của Phật giáo Ðại thừa và cả Mật tông tại Việt Nam. Phái Thiền Vô Ngôn Thông truyền được bốn thế kỉ, sử dụng chủ yếu các kinh Viên giác (圓覺), Pháp hoa (法華), chủ trương »Ðốn ngộ« (頓悟) và »Vô sở đắc« (無所得), rất gần với Thiền phương nam của Trung Quốc. Phái thiền Thảo Ðường (草堂) bắt đầu từ cuối thế kỉ thứ mười một, do Thiền sư Thảo Ðường sáng lập, vốn là một tù nhân của vua Lí Thánh Tông bị bắt năm 1096. Sách Thiền uyển tập anh (禪苑集英) cho rằng Thảo Ðường là môn đệ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển (雪竇重顯), là phái chủ trương dung hợp giữa Phật và Nho giáo tại Trung Quốc. Phái Thảo Ðường truyền được sáu thế hệ trong đó có những người nổi tiếng như Không Lộ (空露) và Giác Hải (覺海; hai vị cũng được xếp vào thiền phái Vô Ngôn Thông).|Khoảng thế kỉ thứ mười, Việt Nam giành được quyền độc lập và Phật giáo bắt đầu có ảnh hưởng trong giới vua quan. Năm 971 Ðinh Tiên Hoàng ban chức »Tăng thống« đầu tiên cho Thiền sư Khuông Việt (匡越; Ngô Chân Lưu; 吳真流). Vua Lê Ðại Hành mời Thiền sư Pháp Thuận (法順) và Vạn Hạnh (萬行) làm cố vấn chính trị. Về sau Vạn Hạnh phò Lí Công Uẩn (李公蘊) lên ngôi (1010), nhà vua cho dựng nhiều chùa chiền, sùng bái đạo Phật. Năm 1036, Lí Thái Tông (李太宗) lên ngôi, cũng là một nhà vua quý trọng đạo Phật. Năm 1049, chùa Một Cột (延祐; Diên Hựu) được xây dựng. Các nhà vua đời Lí về sau đều tôn sùng đạo Phật và lấy đạo từ bi làm phương pháp trị nước. Trong thời gian này, Phật giáo Ðại thừa với các bộ kinh như Kim cương, Dược sư, Pháp hoa, Viên giác… được truyền tụng. |Ðầu thế kỉ thứ 13, nhà Trần lên ngôi, đồng thời ba thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, Vô Ngôn Thông và Thảo Ðường dần dần nhập lại một. Ðây là thời kì phát triển rực rỡ nhất của Phật giáo Việt Nam. Các nhà vua đời Trần cũng đều là những Thiền sư uyên bác, mà một trong những người xuất sắc nhất phải kể đến là vua Trần Thái Tông (陳太宗; 1218-1277). Thiền phái duy nhất Việt Nam thời này, được xem là sự tổng hợp của ba thiền phái kia là thiền Yên Tử hay Trúc Lâm. Trần Thái Tông đã để lại một loạt tác phẩm thiền học rất quan trọng. Một nhân vật quan trọng của Phật giáo đời Trần là Huệ Trung Thượng sĩ (慧忠上士), tức là Trần Quốc Tung, anh cả của Trần Hưng Ðạo, anh vợ của Trần Thánh Tông. Sau Thái Tông là Trần Nhân Tông (陳仁宗), cũng là một ông vua xuất gia, trở thành tổ thứ sáu của trường phái Yên Tử và Ðệ nhất tổ của dòng thiền Trúc Lâm Yên Tử. Trong thời nhà Trần, các bộ kinh Kim cương, Pháp hoa, Bát-nhã, Nhập Lăng-già và Hoa nghiêm được lưu truyền rất rộng rãi. Hai nhà sư đóng góp lớn nhất vào việc học Phật thời đó là Pháp Loa (法螺) và Huyền Quang (玄光).|Ðến cuối thế kỉ 14, Phật giáo bắt đầu suy đồi, nhà Trần đã nằm trong tay Hồ Quý Li. Trong đời nhà Lê, vua quan coi trọng Nho giáo với kết quả là năm 1464, Lê Thánh Tông cấm xây dựng chùa mới.|Khoảng giữa thế kỉ 17, lúc Nam Bắc phân tranh, Phật giáo lại phục hưng, trong đó Thiền sư Chân Nguyên và Hương Hải hoạt động ở Ðàng ngoài. Ở Ðàng trong, chúa Nguyễn Hoàng (1558-1613) là người tôn trọng đạo Phật, cho xây chùa Thiên Mụ năm 1601. Tại đây, môn phái của Thiền sư Liễu Quán (了觀) có công phục hưng Phật giáo. Ðầu thế kỉ thứ 19, Gia Long thắng Tây Sơn, chấm dứt những năm chinh chiến, trong đó đạo Phật cũng bị thương tổn. Các vua triều Nguyễn như Minh Mệnh, Thiệu Trị, Tự Ðức cũng có để tâm phục hưng lại đạo Phật. Trong tiến trình lịch sử Việt Nam, tuy có lúc thịnh lúc suy, nhưng nói chung Phật giáo chưa bao giờ mất ảnh hưởng trong dân tộc Việt Nam.
Phật Hộ 佛護; C: fóhù; J: butsugo; S: buddhapālita;|Là Luận sư kiệt xuất của Trung quán tông của Đại thừa Ấn Độ. Sư nổi tiếng với sự phát triển pháp biện chứng phủ định để chứng minh khái niệm về Tính không, và cách biện chứng này đã dẫn đến những điểm bất đồng với các Đại luận sư Trung quán như Thanh Biện (清辯; s: bhāvaviveka, 490-570), nhưng lại có những điểm hoà đồng với những hàng hậu bối như Nguyệt Xứng (月稱; s: candrakīrti, ~ 650). Một vài quan điểm đối lập quan trọng trong truyền thống rộng rãi của Trung Quán tông có thể được thấy qua những quan điểm bất đồng giữa Thanh Biện và Phật Hộ: trong khi Thanh Biện dùng luận lí học để khẳng định chân lí Tính không theo lập trường xác định, Phật Hộ từ chối giá trị của việc dùng tiền đề luận lí học, và quan điểm này của sư dẫn đến một sự từ khước mọi quan điểm tích cực, mọi lập trường có tính chất khẳng định nói chung. Lập trường của hai vị Phật Hộ và Nguyệt Xứng sau này kết thúc ở sự phân phái Trung luận ra một nhánh mới gọi là Quy mậu biện chứng phái (歸謬論證派; s: prāsaṅgika). Sư có để lại một bài luận quan trọng về Trung quán luận của Long Thụ với tên Phật Hộ căn bản trung sớ (buddhapālita-mūlama-dhyamaka-vṛtti), còn được giữ lại trong Tạng ngữ.
Phật huệ 佛慧; C: fóhuì; J: butsue, butte.|Trí huệ của Phật, trí giác ngộ.
Phật kinh 佛經; C: fó jīng; J: bukkyō.|Giáo lí đạo Phật. Kinh Phật.
Phật lâm niết-bàn kí pháp trú kinh 佛臨涅槃記法住經; C: fó lín nièpán jì fǎzhù jīng; J: butsu rin nehan kihōjū kyō.|Kinh, 1 quyển, Huyền Trang dịch năm 652.
Phật lực 佛力; C: fólì; J: butsuriki; |Có các nghĩa sau: 1. Năng lực của Đức Phật; 2. Năng lực của chư Phật và Bồ Tát bảo hộ cho chúng sinh tu tập.
Phật mẫu bảo đức tạng bát-nhã ba-la-mật kinh 佛母寶悳藏般若波羅蜜經; C: fómǔ băo-dézàng bānruò bōluómì jīng; J: butsumo hō-tokuzō hannya haramitsu kyō; S: prajñāpārami-tāratnaguṇa-saṃcayagāthā. |Kinh, gồm 3 quyển. Tên gọi tắt là Bảo Đức tạng kinh (寶悳藏經); Pháp Hiền (法賢) dịch. Về tiếng Phạn, xem bản của Yuyama biên tập năm 1976.
Phạt-na Bà-tư 伐那婆斯; C: fánàpósī; J: banabashi; S: vanavasin.|Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
Phật nhãn 佛眼; C: fóyăn; J: butsugen; S: buddha-cakṣus.|Mắt Phật. Cái nhìn của nhất thiết trí viên mãn, đạt được sau khi chứng Phật quả. Cao nhất trong Ngũ nhãn (五眼).
Phật Như Lai 佛如來; C: fó rúlái; J: butsu nyorai.|Chỉ đức Phật.
Phật pháp 佛法; S: buddha-dharma; P: buddha-dhamma; |Chỉ lời dạy, giáo lí của đức Phật, Phật giáo.
Phật quả 佛果; C: fóguǒ; J: bukka; S: buddhaphala.|1. Quả vị Phật. Kết quả của việc tu tập Phật đạo. Giác ngộ, tỉnh giác. Đối lại là Phật nhân (佛因); 2. Hiệu của Thiền sư Viên Ngộ, Viên Ngộ Khắc Cần.|Phật quả chỉ trạng thái Giác ngộ hoàn toàn của một đức Phật. Ðạt Phật quả là mục đích cao nhất của mọi chúng sinh. Theo các kinh điển thượng thừa Phật giáo thì mỗi một chúng sinh đều có Phật tính, đã là một đức Phật nên Phật quả không cần phải »đạt« và tu hành chính là chứng ngộ Phật tính đó, biến thành đời sống hàng ngày.
Phật sở hạnh tán 佛所行囋; C: fó suǒxíng zàn; J: butsu shogyō san; T: saṅs-rgyas-kyi spyod-pa shes-bya-baḥi sñan-ṅag chen-po; S: buddha-carita;|Là tác phẩm văn vần của Mã Minh (馬鳴; s: aśvaghoṣa), tác phẩm bằng thơ đầu tiên nói về toàn bộ cuộc đời Phật Thích-ca Mâu-ni từ ngày sinh ra tới lúc nhập Niết-bàn. Tác phẩm này gồm có 28 bài thơ, ngày nay chỉ còn 13 bài viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit). Tác phẩm này cũng được dịch ra tiếng Tây Tạng.|Theo các du kí của người Trung Quốc qua Ấn Ðộ khoảng thế kỉ thứ 7, người ta biết là Phật sở hạnh tán rất được ưa chuộng trong dân gian thời đó. Sách này nghe qua như các bài truyền tụng về các vị anh hùng, đầy tính chất thơ nhạc. Kinh này giúp truyền bá đạo Phật rất rộng rãi. Luận này được Đàm-vô-sấm dịch (曇無讖; s: dharmakṣema). Còn được gọi các tên: Phật bản hạnh tán (佛本行讚), Phật sở hạnh tán kinh (佛所行讚經), Phật sở hạnh tán truyện (佛所行讚傳), Phật sở hạnh tán kinh truyện (佛所行讚經傳), Mã Minh Bồ Tát tán (馬鳴菩薩讚), Mã Minh tán (馬鳴讚). Cowell dịch sang tiếng Anh năm 1969, Johnston dịch năm 1936.
Phật sở hạnh tán kinh 佛所行讚經; C: fó suǒxíng zànjīng; J: butsu shogyō san kyō.|Phật sở hạnh tán.
Phật sở hạnh tán kinh truyện 佛所行讚經傳; C: fó suǒxíng zànjīng chuán; J: butsu shogyō sangyō den.|Phật sở hạnh tán.
Phật sở hạnh tán truyện 佛所行讚傳; C: fó suǒxíng zàn chuán; J: butsu shogyō san den.|Phật sở hạnh tán.
Phật sự 佛事; C: fóshì; J: butsuji; S: buddha-kārya;|Có các nghĩa: 1. Công hạnh Đức Phật thể hiện. Hoằng truyền Phật pháp. Công hạnh cứu độ chúng sinh; 2. Mọi công hạnh thi tác sau khi tu tập chứng ngộ được gọi là Phật sự.
Phật tâm 佛心; C: fóxīn; J: busshin;|Có các nghĩa: 1. Tâm Phật, tâm đại từ bi; 2. Tâm Phật mà mọi chúng sinh đều vốn có; cũng như Phật tính (佛性).
Phật tâm tông 佛心宗; C: fúxīn-zōng; J: busshin-shū;|Một tên gọi khác của Thiền tông vì tông này chủ trương »Dĩ tâm truyền tâm« và tâm này chính là tâm (ấn) của đức Phật truyền cho Ðại Ca-diếp (s: mahākāśyapa).
Phật thân 佛身; C: fóshēn; J: busshin; S, P: buddhakāya; nghĩa là thân của Phật; |Sắc thân (thân vật chất của đức Phật). Do từ sự lưu tâm của Phật tử nên phát sinh lí thuyết về một »sắc thân Phật«. Phật Thích-ca Mâu-ni đưa ra quan niệm tin vào Pháp, rằng chính ngài cũng tịch diệt nhưng Pháp thì không thể nào hoại diệt, do vậy nên dạy rằng sau sự tịch diệt của ngài thì Pháp vẫn thường còn. Tuy nhiên, nhiều đệ tử vẫn giữ quan niệm về con người của Đức Phật, xem như chính thân của ngài là biểu hiện của Phật pháp. Do vậy, ngay cả khi Phật còn tại thế, sắc thân của ngài đã được xem là siêu việt. Vì điểm nầy nên, sau khi Phật nhập diệt, Pháp mà ngài đã giảng được xem như bất hoại, và được đưa ra như một đối lập với thân tự nhiên, và cũng từ đó mà phát sinh ra lí thuyết »hai thân«.
Phật Thế Tôn 佛世尊; C: fóshìzūn; J: butsuseson;|Đức Phật được tôn quý ở thế gian. Một trong Mười danh hiệu của đức Phật, phiên âm là Bạc-già-phạm (蒲伽梵; s: bhagavān).
Phật thị 佛氏; C: fóshì; J: busshi.|Những nhà tư tưởng Phật giáo, triết gia Phật giáo, những người tu tập theo đạo Phật.
Phật thị tạp biện 佛氏雜辨; C: fóshì zábiàn; J: busshi zōben; K: pulsshi chappyǒn.|Luận chiến phê phán đạo Phật vào thế kỉ thứ 14 từ phía Nho giáo của Trịnh Đạo Truyền (鄭道傳; k: chǒng tojǒn, bút danh là Tam Phong 三峰; k: sambong, 1342-1398). Trong tác phẩm nầy, ông đưa ra những vấn đề bao quát nhất để bài xích Phật giáo, tách riêng ra phần giáo lí và thực hành để phê bình chi tiết. Ông Trịnh cho rằng tác phẩm nầy được viết ra một cách khách quan để bài bác Phật giáo, tất cả là »để khỏi bị phá hoại nền đạo đức và cuối cùng là nhân tính.« Mức độ cuộc tấn công Phật giáo của Phật thị tạp biện bao gồm một tóm tắt đầy đủ về những lí lẽ khác nhau của các nhà Nho giáo và Tân Nho giáo từ thời kì Phật giáo du nhập vào Đông Á thế kỉ thứ 2. Các lí lẽ được trình bày thành 18 chương, mỗi chương phê phán mỗi khía cạnh riêng biệt về giáo lí hay thực hành của đạo Phật.
Phật thừa 佛乘; S: buddhayāna; cũng còn được gọi là Nhất thừa (s: ekayāna);|»Cỗ xe duy nhất«, giáo pháp cao tột đưa đến Giác ngộ và Phật quả.
Phật thuỳ niết-bàn lược thuyết giáo giới kinh 佛垂般涅槃略説教誡經; C: fóchuí boniè-pán lüèshuō jiāojiè jīng; J: bussui hannehan ryakusetsu kyōkaikyō;|Kinh, Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch.
Phật thuyết A-di-đà kinh 佛説阿彌陀經; C: fóshuō āmítuójīng; J: bus-setsu amidakyō; S: amitābha-sūtra.|Kinh, Cưu-ma La-thập (鳩摩羅什) dịch. Xem chi tiết ở mục A-di-đà kinh.
Phật thuyết A-nan phân biệt kinh 佛説阿難分別經; C: fóshuō ānán fēnbié jīng; J: bussetsu anan funbetsu kyō.|Kinh; 1 quyển, Pháp Kiên (法堅) dịch. Thường gọi tắt là A-nan phân biệt kinh (阿難分別經) và Phân biệt kinh (分別經). Nói về lời dạy của đức Phật cho Tôn giả A-nan.
Phật thuyết bất tăng bất giảm kinh 佛説不増不減經; C: fóshuō bùzēngbùjiǎn jīng; J: bussetsu fuzoufukan kyō.|Kinh, 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chi (菩提流支) dịch.
Phật thuyết Bồ Tát bản nghiệp kinh 佛説菩薩本業經; C: fóshuō púsà běnyè jīng; J: bussetsu bosatsu hongyō kyō.|Kinh. Chi Khiêm (支謙; s: lokakṣema) dịch.
Phật thuyết Bồ Tát nội tập lục ba-la-mật kinh 佛説菩薩内習六波羅蜜經; C: fóshuō púsà nèixí liùbōluómì jīng; J: bussetsu bosatsu naishū rokuharamitsukyō.|Kinh. Nghiêm Phật Điều (嚴佛調) dịch.
Phật thuyết giải tiết kinh 佛説解節經; C: fóshuō jiějié jīng; J: bussetsu gesekkyō.|Kinh, 1 quyển. Chân Đế (眞諦; s: para-mārtha) dịch. Là một chương trong kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra), tương đương với phẩm Thắng nghĩa đế tướng (勝義諦相品, xem Đại chính 675).
Phật thuyết huệ ấn tam-muội kinh 佛説慧印三昧經; C: fóshuō huìyìn sānmèi jīng; J: bussetsu kaiinsanmai kyō.|Kinh; 1 quyển. Chi Khiêm (支謙; s: lokakṣema) dịch.
Phật thuyết Như Lai hưng hiển kinh 佛説如來興顯經; C: fóshuō rúlái xīngxiǎn jīng; J: utsusetsujoraikougankyō.|Kinh; 4 quyển, Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmarakṣa) dịch.
Phật thuyết phân biệt thiện ác sở khởi kinh 佛説分別善惡所起經; C: fóshuō fēnbié shànè suǒqǐ jīng; J: bussetsu funbetsu zen'aku shokikyō.|Kinh; An Thế Cao dịch.
Phật thuyết pháp tập kinh 佛説法集經; C: fóshuō fǎjí jīng; J: bussetsu hōshūkyō; S: dharmasangiti-sūtra.|Kinh; Bồ-đề Lưu Chi (菩提流支; s: bodhiruci) dịch.
Phật thuyết Phật địa kinh 佛説佛地經; C: fóshuō fódì jīng; J: bus-setsubutsuchikyō.|Kinh; 1 quyển. Huyền Trang dịch. Thường gọi là Phật địa kinh. Kinh giảng giải về 5 khía cạnh của Phật địa, gồm Pháp giới thanh tịnh và Bốn pháp chuyển thức thành trí. Kinh giải thích chi tiết về Thập địa và Phật địa.
Phật thuyết quán Di-lặc Bồ Tát thượng sinh Đâu-suất thiên kinh 佛説觀彌勒菩薩上生兜率天經; C: fóshuō guān mílèpúsà shàngshēng dōushuòtiān jīng; J: bussetsu kan mirokubosatsu jōshō tosotsuten kyō.|Kinh, 1 quyển. Thường gọi tắt là Di-lặc thượng sinh kinh (彌勒上生經). Một trong những kinh văn chính của trường phái tôn xưng Bồ Tát Di-lặc. Kinh nói về việc thị hiện của Bồ Tát Di-lặc ở cung trời Đâu-suất (兜率天; s: tuṣita), với lời Đức Phật thụ kí Bồ Tát Di-lặc sẽ trụ ở cung trời này 12 năm.
Phật thuyết quán Vô Lượng Thọ Phật kinh 佛説觀無量壽佛經; C: fóshuō guān wú-liángshòu fó jīng; J: bussetsu kan muryōju butsu kyō.|Kinh. Tên gọi đầy đủ của Quán Vô Lượng Thọ kinh (觀無量壽經).
Phật thuyết thất Phật kinh 佛説七佛經; C: fóshuō qīfó jīng; J: bussetsu shichibutsu kyō.|Tên gọi đầy đủ của Thất Phật kinh.
Phật thuyết tịnh nghiệp chướng kinh 佛説淨業障經; C: fóshuō jìngyèzhàng jīng; J: bussetsu jōgyōshou kyō.|Tên đầy đủ của Tịnh nghiệp chướng kinh (淨業障經).
Phật tính 佛性; C: fóxìng; J: busshō; S: buddhatā, bud-dha-svabhāva;|Theo quan điểm Ðại thừa, Phật tính là thể bất sinh bất diệt của mọi loài. Vì thế, mọi loài đều có thể đạt giác ngộ và trở thành một vị Phật, không bị đời sống hiện tại hạn chế. Có nhiều quan điểm khác nhau về Phật tính, người ta tranh cãi liệu tất cả mọi loài đều có Phật tính, liệu thiên nhiên vô sinh vô tri như đất đá có Phật tính hay không.|Giữa Tiểu thừa và Ðại thừa có sự khác biệt, liệu Phật tính có thường hằng trong mọi loài hay không. Tiểu thừa hầu như không nhắc đến Phật tính, cho rằng không phải chúng sinh nào cũng có thể thành Phật. Ðại thừa xem đạt Phật quả là mục đích cao nhất, đó là thể hiện Phật tính nằm sẵn trong mọi chúng sinh, thông qua những phép tu học nhất định.|Theo Thiền tông thì mỗi chúng sinh đều có Phật tính (j: busshō), nhưng nói chung thì không tự biết và cũng không sống với sự tự hiểu biết này như một bậc giác ngộ, một vị Phật. Sự thức tỉnh này và sự sinh diệt – một biểu hiện từ khoảnh khắc này đến khoảnh khắc nọ của sự đồng nhất với Phật tính – chính là mục đích của Thiền.|Như vị Thiền sư hiện đại người Nhật Bạch Vân An Cốc viết thì Phật tính – cũng đồng nghĩa với Pháp tính (s: dharmatā; j: hosshō) – chính là cái mà người ta gọi trong Ðại thừa là tính Không (s: śūnyatā; j: ku). Sư dạy: »Qua kinh nghiệm giác ngộ – nguồn gốc của tất cả những giáo lí đạo Phật – người ta ngộ được thế giới của tính Không. Thế giới này – chuyển động, không có trọng lượng, vượt mọi cá thể – vượt khỏi trí tưởng tượng của con người. Vì thế nên chúng ta không thể nào hiểu được và cũng không thể nào tìm hiểu được cái tự tính chân thật của vạn vật, cái Phật tính, pháp tính của chúng. Vì tất cả những gì chúng ta có thể tưởng tượng ra được đều phải có màu sắc nên tất cả những gì chúng ta tưởng tượng về Phật tính tất nhiên là sai. Cái người ta có thể tưởng tượng được chỉ là sự phản chiếu của Phật tính – nhưng không phải Phật tính. Nhưng, mặc dù Phật tính không thể diễn bày (Bất khả thuyết), không thể nghĩ bàn (Bất khả tư nghị), chúng ta vẫn có thể tỉnh thức, chứng ngộ được nó bởi vì chúng ta bản lai là Phật tính.«
Phật tính luận 佛性論; C: fóxìng lùn; J: busshōron.|Luận, gồm 4 quyển. Được xem là của Thế Thân (世親; s: vasubandhu). Chân Đế (眞諦; s: paramārtha) dịch sang Hán ngữ. Luận giải nầy trình bày rất chi tiết lí thuyết Phật tính trong 16 chương, qua 4 phương diện: 1. Nhân duyên sinh; 2. Phá chấp; 3. Hiển thể; 4. Biện tướng.|Luận giải thích như thế nào mà chúng sinh có được Phật tính, bác bỏ vọng chấp của ngoại đạo và Tiểu thừa. Tác giả trích dẫn rộng rãi kinh Thắng Man, Pháp Hoa và luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācāra-bhūmi-śāstra).
Phật tính Phật 佛性佛; C: fóxìng fó; J: busshō butsu.|»Phật như là Phật tính.« Khía cạnh thứ nhì của Tam giai giáo (三階教), đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (普佛; Phổ Phật), chỉ rõ Phật tính là Chính nhân (Chính nhân Phật tính 正因佛性) của tất cả chúng sinh hữu tình (ngoại trừ chúng sinh vô tình).
Phật Tổ lịch đại thông tải 佛祖歴代通載; C: fózǔ lìdài tōngzài; J: busso rekitai tsūsai; |Tác phẩm ghi chép toàn bộ về sự truyền thừa của chư Phật và Tổ sư của sư Niệm Thường (念常, 1282-1323); gồm 22 quyển, hoàn tất vào năm 1341.
Phạt-tô-mật-đa-la 伐蘇蜜多羅; C: fásūmìduōluó; J: bassomit-tara;|Phiên âm từ chữ Phạn Vasumitra, dịch sang Hán ngữ là Thế Hữu (世友).
Phật Tổ thống kỉ 佛祖統紀; C: fózǔ tǒngjì; J: busso touki.|Biên niên sử về Đức Phật và chư Tổ; gồm 54 quyển. Chí Bàn (志磐, 1220-1275). Hoàn tất năm 1269.
Phật toạ 佛座|Nơi Phật ngồi, cái nền Phật ngồi. Phật toạ được trình bày trong tranh tượng phần lớn dưới ba dạng: 1. Sư tử toạ, 2. Liên hoa toạ và 3. Tu-di toạ.|Sư tử là chúa tể của loài thú, biểu hiện của Thế giới vương và năng lực chinh phục được tất cả của Phật pháp. Hoa sen là biểu hiện của sự tinh khiết, vô cấu nhưng đôi lúc cũng được xem là biểu tượng của vũ trụ và vị Phật ngồi trên đó được hiểu như một Vũ trụ vương, hiện thân của thể tính tuyệt đối, của Chân như. Dạng liên hoa toạ được tìm thấy lần đầu trong nghệ thuật Càn-đà-la (gan-dhāra) ở thế kỉ 3-4. Dạng ngồi thứ ba được tìm thấy trong nghệ thuật Trung Quốc và Nhật Bản. Phật ngồi trên núi Tu-di và núi này có dạng như một đồng hồ cát, tức là ở chính giữa hẹp hơn ở hai đầu.|Thỉnh thoảng người ta cũng trình bày đức Phật ngồi trên thân xoắn lại của một con rắn chín đầu và chín đầu này vươn qua khỏi đầu của đức Phật để bảo vệ Ngài. Một cách trình bày khác là hai con nai quì đối nhau trước chỗ Phật ngồi, ở giữa có một bánh xe pháp (Pháp luân). Cách trình bày này nhắc lại lần Phật chuyển pháp luân tại Lộc uyển, thuyết giảng Phật pháp cho năm vị Tỉ-khâu.
Phật trí 佛智; C: fózhì; J: butchi.|Trí huệ Phật (s: buddha-jñāna). Đồng nghĩa Nhất thiết trí (一切智).
Phật trí huệ 佛智慧; C: fózhìhuì; J: butchie;|Trí huệ Phật (s: buddha-jñāna); người có trí huệ Phật. Người giác ngộ.
Phất tử 拂子; J: hossu; S: camāra; cũng gọi là Phất trần; |Cây đuổi ruồi, có truyền thống từ các vị Sa-môn tại Ấn Ðộ. Phất tử được dùng để đuổi ruồi và các côn trùng biết bay để chúng khỏi bị đạp. Phất tử nguyên là một khúc gỗ, được gắn một chùm lông đuôi ngựa ở một đầu. Trong những thiền viện tại Trung Quốc thời xưa, chỉ có vị trụ trì trong viện mới được sử dụng phất tử và các vị này sử dụng nó như là một phương tiện khai thị cho môn đệ. Phất tử trở thành một biểu tượng của »Dĩ tâm truyền tâm« trong Thiền tông và cũng được các Thiền sư truyền lại cho môn đệ xuất sắc nhất.
Phật tượng 佛像; C: fóxiàng; J: butsuzō;|Hình ảnh của đức Phật.
Phật tưởng Phật 佛想佛; C: fóxiǎng fó; J: bussō butsu|Khía cạnh thứ tư và là phương diện cụ thể nhất của Tam giai giáo, đề xướng tư tưởng Phật hiện hữu trong mọi chúng sinh (Phổ Phật 普佛), chỉ rõ tất cả chúng sinh nên tưởng đến thể tính tối thượng của mình, đó là, như chư Phật giác ngộ viên mãn.
Phật vị Tâm Vương Bồ Tát thuyết đầu-đà kinh 佛爲心王菩薩説投陀經; C: fó wéi xīnwáng púsà shuō tóutuó jīng; J: butsui shin'ou bosatsu setsu touta kyō.|Kinh.
Phạt-xà-la Phất-đa-la 伐闍羅弗多羅; C: fádūluófúduōluó; J: batoraputara; S: vajraputra.|Tên của 1 trong 16 vị A-la-hán, nguyện ở lại thế gian nầy để đảm nhiệm việc truyền bá chính pháp.
Phật xá-lợi 佛舍利; C: fóshèlì; J: butsushari.|Phần còn lưu lại của nhục thân Phật sau khi trà tì, chính là Phật cốt (佛骨; s: buddha-dhātu, jina-dhātu). Xem Xá-lợi (舎利).
Phệ-đà 吠陀; C: fèituó; J: haita;|Phiên âm chữ Veda từ tiếng Phạn, là kinh văn căn bản của Bà-la-môn Ấn Độ giáo.
Phệ lưu li 吠琉璃; C: fèiliúlí; J: bairuri; S: vaiḍūrya; E: lapiz lazuli.|Một loại đá quý màu xanh da trời. Thường gọi tắt là Lưu li (瑠璃).
Phi trạch diệt 非擇滅; S: apratisaṃkhyā-nirodha;|Là diệt độ không cần sự cố gắng, vô tình, không phụ thuộc, không dựa trên Bát-nhã (s: prajñā), không phân biệt, phân tích (phi trạch). Ðây là một trong những Pháp (s: dharma) không phụ thuộc (Vô vi) trong học thuyết của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivā-da) và Duy thức tông (s: yogācāra).
Phiền não 煩惱; S: kleśa; P: kilesa; J: bonnō;|Ðặc tính của tâm thức chuyên sinh ra các pháp Bất thiện (s: akuśala; p: akusala) và làm con người bị vướng mãi trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Khi dứt bỏ tất cả phiền não, hành giả xem như đạt thánh quả A-la-hán (s: arhat).|Có nhiều cách phân loại phiền não. Trong luận Thanh tịnh đạo, Ðại sư Phật Âm chia phiền não ra làm 10 loại: tham, sân (giận dữ), si (mê mờ), Mạn (kiêu mạn), Kiến (kiến giải sai lầm, tà kiến), Nghi (nghi ngờ), hôn trầm (buồn ngủ mệt mỏi), trạo cử (lăng xăng vọng động), vô tàm (không biết tự thẹn), vô quý (không biết thẹn với người).|Người ta thường gặp tại Trung Quốc, Nhật và Việt Nam cách phân chia phiền não ra bốn loại: 1. Ngã si (我癡), 2. Ngã kiến (我見), 3. Ngã mạn (我慢) và 4. Ngã ái (我愛).|Có khi người ta cũng chia phiền não ra hai nhóm, Căn bản phiền não (根本煩惱; s: mūlakleśa) và phiền não phụ thuộc, cấu uế trong tâm, được gọi là Tuỳ phiền não (隨煩惱; s: upakleśa). Căn bản phiền não gồm có tham, sân, si, mạn, nghi, Ðảo kiến (tin có tự ngã, tin nơi sự thường hằng, tin nơi sự huỷ diệt, phủ nhận nghiệp, chấp chặt vào tri kiến sai lầm, cho rằng giáo pháp sai lầm có thể cứu độ). Tuỳ phiền não là các tâm bất thiện đi liền với các Căn bản phiền não. Ðôi lúc phiền não cũng được hiểu là Năm chướng ngại (s, p: nīvaraṇa). Nếu đảo kiến tương đối dễ đối trị thì các phiền não khác không thuộc suy luận mà thuộc về cảm giác thụ tưởng nên rất khó khắc phục. Muốn đối trị chúng, hành giả phải chuyên tu tập thiền định.
Phổ 普; C: pŭ; J: fu;|Rộng rãi, nói chung, toàn thể.
Phổ biến 普徧 (遍); C: pŭbian; J: fuhen; |Thâm nhập khắp nơi. Phổ biến, truyền bá khắp nơi.
Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh 普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經; C: pŭbiàn guāngmíng qīngjìng chìchéng rúyìbăo yìnxīn wúnéngshèng dàmíngwáng dàsuíqiú tuóluóní jīng; J: fuhen kōmyō shōjō shijō nyoishō inshin munōshō daimyōō daizuigu daranikyō; S: mahā-pratisarā-vidyārājñī; T: phags pa rig pa'i rgyal mo so sor 'brang ba chen mo;|Là kinh văn đầu tiên trong Ngũ vị lục (s: pañcarakṣā), dâng lên cho Đại tuỳ cầu (大隨求, s: mahāpratisarā), vị bảo hộ thoát khỏi điều xấu ác, tội lỗi và bệnh tật. Có 2 bản dịch tiếng Hán đang lưu hành:|1. Phổ biến quang minh thanh tịnh xí thạnh như ý bảo ấn tâm vô năng thắng đại minh vương đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (普遍光明清淨熾盛如意寶印心無能勝大明王大隨求陀羅尼經), viết tắt là Đại tuỳ cầu đà-la-ni kinh (大隨求陀羅尼), 2 quyển, Bất Không dịch. Luận giải tiêng Nhật của Minh Giác (明覺, j: myōkaku) nhan đề Đại tuỳ cầu đà-la-ni khám chú (大隨求陀羅尼勘註) .|2. Đại tuỳ cầu ấn đắc đại tự tại đà-la-ni thần chú kinh (隨求即得大自在陀羅尼神呪經), 1 quyển; Bảo Tư Duy (寶思惟, s: maṇicintana) dịch. Bản dịch tiếng Anh từ bản kinh tương ứng xin xem Lewis (1995).
Phổ chiếu 普照; C: pŭzhào; J: fushō;|1. Chiếu sáng rộng khắp (s: spharaṇa; t: khyab pa); 2. (k: pojo); thuỵ hiệu của Thiền sư Hàn Quốc Tri Nột (知訥, k: chinul); 3. (j: fushō); thuỵ hiệu của Thiền sư Ẩn Nguyên (隱元), người sáng lập Hoàng Bá tông (黄檗, j: ōbaku) ở Nhật Bản.
Phó chúc 付囑; C: fùzhǔ; J: fuzoku;|Có các nghĩa sau: 1.Nhắm đến một người nào đó, và có sự thỉnh cầu ở họ điều gì; 2. Giao phó, đề nghị, giao cho (nhiệm vụ, trách nhiệm). Trong đạo Phật thì Phó chúc có nghĩa là sự giao phó trọng trách truyền bá giáo pháp của đức Phật (cho đệ tử).
Phổ-đà sơn 普陀山; C: pǔtuó-shān; S: potalaka; cũng được gọi là Tiểu Bạch Hoa, Mai Sầm sơn;|Một ngọn núi trên đảo Phổ-đà, một trong Tứ đại danh sơn của Trung Quốc. Núi này là một trong những trung tâm Phật giáo quan trọng tại đây và được xem là trú xứ của Bồ Tát Quán Thế Âm.|Một vài truyền thuyết kể lại việc Phổ-đà sơn trở thành trú xứ của Quán Thế Âm. Tên Phổ-đà vốn xuất phát từ chữ »Potalaka« của Phạn ngữ, tên của một hòn đảo tại Ấn Ðộ dương. Hòn đảo này cũng được biết là trú xứ của Quán Thế Âm. Năm 847, một vị tăng người Ấn Ðộ bỗng nhiên thấy Quán Thế Âm xuất hiện trong một hang động trên một ngọn núi. Sau đó, vị này đặt tên cho núi này là Potalaka, dịch âm là Phổ-đà.|Một truyền thuyết khác kể rằng, vào khoảng năm 850, một vị tăng đốt hết những ngón tay của mình để cúng dường. Nghe ông than thở, đức Quán Thế Âm hiện ra cứu giúp, vì ông thuyết pháp.|Một truyền thuyết rất nổi tiếng khác bảo rằng, một vị tăng người Nhật muốn thỉnh một tượng Quan Âm từ Ngũ Ðài sơn sang Nhật. Trên đường trở về nước thì thuyền của ông không may gặp bão. Ông nguyện trước bức tượng Quan Âm rằng, nếu thoát khỏi nạn này ông sẽ xây dựng một ngôi chùa để cúng dường. Ngay sau đó thì thuyền của ông – như được một bàn tay vô hình – được dẫn ngay đến núi Phổ-đà. Ðể báo ân, ông bèn lập một ngôi chùa tại đây và từ đó, Quan Âm cũng được xem là vị Bồ Tát chuyên giúp những người đi biển.
Phổ diệu kinh 普曜經; S: lalitavistara; C: pŭyàojīng; J: fuyō kyō; còn được gọi là Thần thông du hí kinh (神通遊戲經), nguyên nghĩa là »Trình bày chi tiết cuộc đời đức Phật«;|Được xem là bản dịch sớm nhất của Phương quảng đại trang nghiêm kinh (方廣大莊嚴經, s: lalitavistara). Pháp Hộ (法護, s: dharmarakṣa) dịch vào thời Tây Tấn, năm 308; gồm 8 quyển, 33 phẩm. Đó là tác phẩm đề cập đến cuộc đời Đức Phật theo tinh thần Đại thừa.|Kinh bao gồm nhiều đoạn văn trình bày hai đời cuối cùng của Phật Thích-ca Mâu-ni. Kinh mang tính chất tiếp nối giữa Tiểu thừa (s: hīnayāna) và Ðại thừa (s: mahāyāna), được soạn giữa thế kỉ thứ hai trước và sau Công nguyên, chịu ảnh hưởng của phái Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) và về sau được Ðại thừa hoàn chỉnh.
Phổ Đức 普徳; C: pŭdé; J: futoku; K: podŏk|Tăng sĩ thuộc Cao cú lệ (k: koguryŏ), bị lưu đày sang Tân La vào thời Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo). Là người nổi tiếng tinh thông về kinh Niết-bàn.
Phổ Giác 普覺; C: pŭjué; J: fukaku; |»Giác ngộ rộng khắp«. Một trong 12 vị Bồ Tát đương cơ trong kinh Viên Giác (圓覺經).
Phổ Hiền 普賢; S: samantabhadra; C: pǔxián; J: fugen; |Một trong những Bồ Tát quan trọng của Phật giáo Ðại thừa. Ngài được xem là người hộ vệ của những ai tuyên giảng đạo pháp và đại diện cho »Bình đẳng tính trí« tức là trí huệ thấu hiểu cái nhất thể của sự đồng nhất và khác biệt. Bồ Tát Phổ Hiền hay được thờ chung với Phật Thích-ca và Bồ Tát Văn-thù (s: mañjuśrī). Ngài ngồi trên voi trắng sáu ngà, voi trắng tượng trưng cho trí huệ vượt chướng ngại, sáu ngà cho sự chiến thắng sáu giác quan. Trong Ngũ Phật, Phổ Hiền được xem ở trong nhóm của Phật Ðại Nhật (s: vai-rocana). Biểu tượng của Phổ Hiền là ngọc như ý, hoa sen, có khi là trang sách ghi thần chú của Ngài. Tại Trung Quốc, Phổ Hiền được xem là một trong bốn Ðại Bồ Tát, trú xứ của Ngài là núi Nga Mi. Ðó là nơi Ngài lưu trú sau khi cỡi voi trắng từ Ấn Ðộ sang Trung Quốc.|Trong Kim cương thừa, tên Phổ Hiền được sử dụng chỉ Bản sơ Phật (s: ādi-buddha), hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Phổ Hiền này (không phải vị Ðại Bồ Tát) được vẽ với màu xanh đậm, tượng trung cho tính Không. Tranh tượng cũng vẽ Ngài hợp nhất (Yab-Yum) với nữ thần sắc trắng, tượng trưng cho sự nhất thể. Trong phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā), thân của Phổ Hiền là Báo thân (s: saṃbhogakāya) và đóng một vai trò trung tâm.
Phổ Hiền Bồ Tát đà-la-ni kinh 普賢菩薩陀羅尼經; C: pŭxián púsà tuóluóníjīng; J: fugen bosatsu daranikyō; S: samantabhadrāṣṭottaraśatakanāmadhāraṇī-mantra-sahita; t: kun tu bzang po'i mtshan brgya rtsa brgyad pa gzungs sngags dang bcas pa |1 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch.
Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện tán 普賢菩薩行願讚; C: pŭxián púsà xíngyuàn zàn; J: fugen bosatsu gyōgan san; S: bhadra-caryā-praṇidhānarāja; T: bzang po spyod pa'i smon lam gyi rgyal po'i rgya cher 'grel pa;|Gọi tắt là Phổ Hiền hạnh nguyện tán (普賢行願讚), Bất Không (不空, s: amogha-vajra) dịch.
Phổ Hiền cảnh giới 普賢境界; C: pŭxián jìngjiè; J: fugenkyōkai; |Theo giáo lí kinh Hoa Nghiêm, đó là cảnh giới chứng nhập bởi các căn cơ bậc thượng của nhất thừa Bồ Tát Phổ Hiền. Là phương diện thực tại của cảnh giới mà chúng sinh chưa thành Phật có thể nhận biết, được diễn tả là cảnh giới Phổ Hiền. Vì Phổ Hiền là Bồ Tát tượng trưng cho tu tập thiền định, là điều có thể giải thích được; khác với cảnh giới trí tuệ giải thoát của Bồ Tát Văn-thù Sư-lợi là không thể nghĩ bàn.
Phổ Hiền hạnh nguyện tán 普賢菩薩行願讚; C: pŭxián xíngyuàn zàn; J: fugen gyōgan san; |Tên ngắn của Phổ Hiền Bồ Tát hạnh nguyện tán.
Phổ Hiền quán kinh 普賢觀經; C: pŭxián guān jīng; J: fugen kan kyō; |Tên gọi đầy đủ là (Phật thuyết) quán Phổ Hiền Bồ Tát hạnh pháp kinh ([佛説] 觀普賢菩薩行法經).
Phổ Hoá 普化; C: pǔhuà; J: fuke; ?-860; cũng được gọi là Trấn Châu Phổ Hoá;|Thiền sư Trung Quốc dòng Mã Tổ, môn đệ của Thiền sư Bàn Sơn Bảo Tích. Sư nổi danh vì những hành động quái dị và những hành động này còn được ghi lại trong Lâm Tế lục.|Sau khi Bàn Sơn tịch, Sư đến trợ giúp Lâm Tế hoằng hoá trong thời gian đầu. Khi việc đã xong, toàn thân biến mất không để lại dấu vết. Dòng Thiền của Sư được Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm truyền sang Nhật với tên Phổ Hoá tông (j: fukeshū)|Bàn Sơn sắp tịch, gọi đệ tử đến bảo: »Có người vẽ được chân dung ta chăng?« Tất cả môn đệ đều trình đã vẽ đến nhưng chẳng hợp ý Bàn Sơn. Sư liền ra thưa: »Con vẽ được.« Bàn Sơn bảo: »Sao chẳng trình Lão tăng?« Sư liền lộn nhào rồi ra. Bàn Sơn liền bảo: »Gã này sau chụp gió chạy loạn đây.«|Như Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch tiên đoán trước, Sư là người phụ giúp Lâm Tế Nghĩa Huyền hoằng hoá trong thời gian đầu tại Trấn Châu. Lâm Tế lục có ghi lại nhiều giai thoại của Sư với Lâm Tế. Một trong những câu chuyện thường được nhắc đến nhất là việc thiên hoá của Sư. Một hôm Sư ra giữa chợ hô hào xin người qua lại một cái áo dài. Ai cũng cho nhưng Sư không vừa lòng. Lâm Tế nghe vậy liền khiến một vị đệ tử mua một chiếc quan tài. Sư đến viện, Lâm Tế bảo: »Ta có cho ông cái áo dài rồi!« Sư bèn tự vác đi quanh chợ kêu lên rằng: »Lâm Tế làm cho tôi một cái áo dài rồi. Tôi qua cửa Ðông Thiên hoá đây!« Mọi người đua nhau theo xem, Sư bèn nói: »Hôm nay chưa, ngày mai ra cửa Nam thiên hoá!« Cứ như thế ba ngày thì không ai đi theo và đến ngày thứ tư, một mình Sư ra ngoài thành, tự đặt mình vào quan tài, nhờ người đóng nắp lại. Tin đồn ra thì mọi người đổ xô lại, mở quan tài ra xem thì không thấy xác đâu, chỉ nghe trên không tiếng chuông văng vẳng xa dần.
Phổ Hoá tông 普化宗; C: pǔhuà-zōng; J: fuke-shū; |Một nhánh thiền nhỏ không quan trọng tại Trung Quốc, được Thiền sư Phổ Hoá khai sáng trong thế kỉ thứ 9. Trong tông này, người ta thay thế việc tụng kinh niệm Phật bằng cách thổi sáo – cây sáo này được gọi là Xích bát (尺八; j: shakuhachi).|Phổ Hoá tông được Thiền sư Tâm Ðịa Giác Tâm (j: shinchi kakushin, 1207-1298) truyền sang Nhật trong thời đại Liêm Thương (kamakura). Các người theo tông này – phần lớn thuộc giới Cư sĩ – chu du khắp nơi, lúc nào cũng mang một cái nón tre che cả khuôn mặt và thổi sáo. Họ được gọi là »Hư vô tăng« (虛無僧; j: komusō). Tông này sau bị cấm vì có nhiều hiệp sĩ (侍; j: samurai) vô chủ, lợi dụng chiếc nón tre che mặt che đậy tông tích, hành vi bất thiện.
Phổ Hương 普香; C: pŭxiāng; J: fukō; S: samantagan-dha;|Tên một vị thần trong kinh Pháp Hoa.
Phổ Huyễn 普幻; C: pŭhuàn; J: fugen; K: pohwan, 1245-1278;|Tăng sĩ học giả thuộc Thiền tông Hàn Quốc thế kỉ thứ 13, nổi tiếng là chuyên gia về kinh Thủ Lăng Nghiêm. Sư viết 2 cuốn luận giải về kinh nầy: Lăng Nghiêm kinh tân khoa (楞嚴經新科, k: nŭngŏmgyŏng singwa), 2 quyển, có khả năng hiện còn lưu hành, và Thủ Lăng Nghiêm kinh hoàn giải bổ kí (首楞嚴經環解補記, k: surŭngŏmgyŏng hwanhae pogi), 2 quyển, hiện đang lưu hành.
Phổ khuyến toạ thiền nghi 普勸坐禪儀; J: fukan zazengi;|Một tác phẩm của vị Tổ tông Tào Ðộng Nhật Bản là Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen). Sư biên soạn quyển sách này sau khi từ Trung Quốc trở về nhằm khuyến khích các môn đệ tinh tiến Toạ thiền. Sư nhấn mạnh là toạ thiền không phải là »Phương tiện đạt giác ngộ« bởi vì ngay khi ngộ đạo, người ta cũng phải tiếp tục toạ thiền bởi vì toạ thiền là việc thực hành căn bản của chư Phật. Toạ thiền là một cách tu tập vô cùng tận.
Phổ Minh 普明; C: pŭmíng; J: fumyō; |Ánh sáng chói lọi chiếu khắp. Tự điển Phật Quang Sơn liệt kê 8 nhân vật mang tên nầy.
Phổ Ngu 普愚; C: pŭyú; J: fugu; K: pou, 1301-1382; |Thiền sư Hàn Quốc xuất thân từ Hồng Châu (洪州), thường được gọi với pháp danh Thái Cổ (太古, k: t'aego). Sư xuất gia vào năm 13 tuổi, được biết năm 19 tuổi, sư quyết chí giải trừ mối nghi sinh tử của mình, xúc tiến tham công án Vô và thấu suốt công án nầy năm 30 tuổi. Năm 1341, sư trú tại Trùng Hưng tự (重興寺, k: chunghŭngsa) ở Tam giác sơn, nơi sư bắt đầu thâu nhận đồ chúng. Sư lập một nơi ẩn cư ở phía Đông ngôi chùa, gọi đó là Thái Cổ (t'aego), ở đó sư viết tập Ca nhất thiên (歌一篇, k: kailp'yŏn). Sau đó sư viết Sơn trung tự lạc ca (山中自樂歌, k: sanjungjallakka). Sau, sư được mời làm Vương sư và Quốc sư. Sư là truyền nhân thuộc dòng thiền Lâm Tế (臨濟, k: imje), dòng thiền theo tinh thần của Đại Huệ (大慧); chú trọng vào việc tham thoại đầu. Sư nổi tiếng qua thi ca, các tác phẩm đã được môn đệ sưu tập lại.
Phổ Nhãn 普眼; C: pŭ yăn; J: fugen; |»Cái nhìn suốt khắp«, »mắt vũ trụ«. 1. Con mắt từ bi của Bồ Tát Quán Thế Âm nhìn toàn thể chúng sinh; 2. Nhận ra rằng các pháp đều bao hàm trong một pháp; 3. Một trong 12 vị Bồ Tát đương cơ trong kinh Viên Giác; nhan đề của phẩm thứ 3 trong kinh Viên Giác.
Phổ pháp 普法; C: pŭfă; J: fuhō; |Theo giáo lí Tam giai giáo, Phổ pháp là giáo lí phổ biến thích nghi với mọi chúng sinh có căn cơ chậm lụt và vô minh, được xêp vào hàng thứ ba; khác với biệt pháp (別法), thích ứng với chúng sinh căn cơ bậc thượng của Nhất thừa (一乘, s: ekayāna) và Tam thừa (三乘, s: triyāna).
Phổ Phật 普佛; C: pŭfó; J: fubutsu;|Theo giáo lí Tam giai giáo; Phổ Phật thích ứng cho chúng sinh mù quáng vô minh, thuộc loại có căn cơ xếp hạng thứ 3 (tam giai 三階); được trình bày chi tiết bằng 4 phương diện Như Lai Tạng Phật (如來藏佛), Phật tính Phật (佛性佛), Đương lai Phật (當來佛), và Phật tưởng Phật (佛想佛).
Phổ vi thừa giáo 普爲乘教; C: pŭwéi shèngjiāo; J: fuijōkyō;|»Giáo lí bao gồm hết tất cả các thừa«. Gọi như thế vì giáo lí nầy chứa đựng hết thảy 5 thừa. Là tên gọi khác của Pháp tướng tông. Đây là một thuật ngữ Pháp tướng tông thường dùng để gọi tên tông của mình xuất phát từ ngài Khuy Cơ (窺基).
Phổ Vũ 普雨; C: pŭyŭ; J: fu-u; K: pou,1515-1565; |Thiền sư Hàn Quốc vào thời Chosŏn. Sư sống vào thời kì có chút nới lỏng của sự đàn áp Phật giáo nhờ sự thừa kế của Hoàng hậu thừa kế Văn Định Vương Hậu (文定王后, k: munjŏng), là một Phật tử thuần thành, nắm vương quyền từ con của mình là Minh Tông (明宗, k: myŏngjong; trị vì từ 1545-1567), bà liền bãi bỏ nhiều biện pháp cấm ngăn Phật giáo.
Phong Can 豐干; C: fēnggān; J: bukan; tk. 7;|Thiền sư Trung Quốc đời Ðường. Sư là người trụ trì chùa Quốc Thanh trên núi Thiên Thai. Ngoài ra người ta không biết gì hơn ngoài vài sự tích được ghi lại trong Hàn Sơn thi. Tương truyền cũng có một vài bài thơ của Sư trong tập thơ này (xem thêm Hàn Sơn).
Phóng diệm khẩu 放焰口; C: fàngyànkǒu; nghĩa là »Phóng thả những miệng đang cháy«;|Một nghi lễ dành cho người đã chết. Diệm khẩu là một loại Ngạ quỷ. Buổi lễ này – vốn bắt nguồn từ hệ thống Tan-tra của Mật tông – được thực hành với mục đích giải thoát những con quỷ đói ra khỏi những cảnh khổ đau của địa ngục và tạo điều kiện cho chúng tái sinh trở thành người hoặc bước vào những Tịnh độ. Lễ này rất được ưa chuộng và phổ biến, được các thân quyến của những người chết tổ chức thực hiện và cũng có khi được thực hiện chung với lễ Vu-lan-bồn (s: ullambana). Ngày nay, buổi lễ này không thuộc vào một trường phái nhất định nào của Phật giáo.|Lễ Phóng diệm khẩu kéo dài khoảng 5 tiếng và được thực hiện vào buổi tối bởi vì trong thời gian này, quỷ đói dễ di chuyển kiếm ăn hơn. Các vị tăng thực hiện nghi lễ này đều mang mũ đỏ hoặc vàng dưới dạng một vương miện, sử dụng những khí cụ thuộc Mật giáo như chuông, Kim cương chử (s: vajra) và kêu gọi Tam bảo hỗ trợ. Sau đó, các vị mở cửa địa ngục bằng những thủ ấn, khế Ấn, mở những »miệng đang cháy« và rót nước dịu ngọt vào, một loại nước trước đó được ban phép lành bằng những Man-tra. Ngay sau đó thì những Diệm khẩu này Quy y tam bảo, Thụ giới Bồ Tát. Nếu buổi lễ này được thực hiện nghiêm chỉnh với kết quả tốt thì những quỷ đói có thể lập tức tái sinh vào cõi người hoặc một tịnh độ.|Lễ này còn được thực hiện đến ngày nay tại các nước Ðông, Ðông nam á, đặc biệt là tại Ðài Loan (taiwan) và Hương Cảng (hongkong). Theo truyền thuyết thì lễ này bắt nguồn từ Tôn giả A-nan-đà. Sau khi nằm chiêm bao thấy những Diệm khẩu, Tôn giả sợ hãi. Ðể ngăn ngừa khả năng tái sinh thành loài quỷ đói này, Tôn giả bèn tham vấn đức Phật và Ngài liền đọc chú Ðà-la-ni (s: dhāraṇī) để cứu giúp chúng.
Phong Huyệt Diên Chiểu 風穴延沼; C: fēngxué yànzhǎo; J: fuketsu enshō; 896-973;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối dòng của Nam Viện Huệ Ngung. Sư là thầy của Thủ Sơn Tỉnh Niệm, được xem là một trong những Ðại Thiền sư trong môn phong Lâm Tế – như lời tiên đoán của Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Bích nham lục có ghi lại pháp ngữ của Sư trong Công án 38 và 61.|Sư họ Lưu, quê ở Dư Hàn, lúc nhỏ đã có chí hơn người. Vì thi làm quan lần đầu không thành, Sư quyết chí xuất gia, học kinh luật nghiêm túc, và sau đó Hành cước. Ðến các vị Tôn túc như Tuyết Phong Nghĩa Tồn, Thuỵ Nham Sư Ngạn, Kính Thanh Ðạo Phó, Sư đều trổ tài hùng biện của mình, ai ai cũng chấp nhận mặc dù Sư chưa phát minh đại sự. Nhân nghe thị giả Khoách của Nam Viện thuật lại, Sư ước mong đến đây đọ sức.|Ðến Thiền sư Nam Viện, Sư vào cửa chẳng lễ bái. Nam Viện bảo: »Vào cửa cần biện chủ.« Sư thưa: »Quả nhiên mời thầy phân.« Nam Viện lấy tay trái vỗ gối một cái, Sư hét. Nam Viện lấy tay mặt vỗ gối một cái, Sư cũng hét. Nam Viện bảo: »Vỗ bên trái gác lại, vỗ bên mặt là sao?«Sư đáp: »Mù.« Nam Viện liền chỉ cây gậy. Sư hỏi: »Làm gì? Con đoạt cây gậy đập Hoà thượng, chớ bảo không nói.« Nam Viện liền ném cây gậy nói: »Ba mươi năm trụ trì, hôm nay bị gã Chiết mặt vàng vào cửa hãm hại.« Sư thưa: »Hoà thượng giống như người mang bát không được, dối nói chẳng đói.« Nam Viện hỏi: »Xà-lê từng đến đây chăng?« Sư thưa: »Là lời gì?« Nam Viện bảo: »Khéo khéo hỏi lấy.« Sư thưa: »Cũng chẳng cần bỏ qua.« Nam Viện bảo: »Hãy ngồi uống trà.«|Nam Viện cũng chưa biết được mức độ ngộ nhập của Sư sau cuộc vấn đáp hào hứng này. Vài hôm sau, Nam Viện chỉ hỏi đơn giản: »Hạ này ở chỗ nào?« Sư thưa: »Ở Lộc Môn cùng thị giả Khoách đồng qua hạ.« Nam Viện bảo: »Vốn là thân kiến tác gia đến.« và hỏi thêm: »Người kia nói với ông cái gì?« Sư thưa: »Trước sau chỉ dạy con một bề làm chủ.« Nam Viện nghe vậy hiểu ngay mọi việc, đánh đuổi Sư ra khỏi phương trượng, nói: »Kẻ này là loại thua trận, dùng làm gì!«|Sư từ đây đành chịu thua, ở lại nhận chức Tri viên. Một hôm, Nam Viện vào vườn hỏi: »Phương Nam một gậy làm sao thương lượng?« Sư thưa: »Thương lượng rất kì đặc«, và hỏi lại: »Hoà thượng nơi đây một gậy thương lượng như thế nào?« Nam Viện cầm cây gậy lên bảo: »Dưới gậy vô sinh nhẫn, gặp cơ chẳng nhượng thầy.« Sư nhân đây triệt ngộ, ở lại Nam Viện sáu năm và được Nam Viện Ấn khả.|Niên hiệu Trường Hưng năm thứ ha (931), Sư sang Nhữ Thuỷ nơi chùa Phong Huyệt, một ngôi chùa đang bị hư hoại. Sư dừng lại đây, ban ngày lượm trái rụng ăn, tối đốt dầu thông, suốt bảy năm như vậy. Dần dần, đồ chúng hay tin góp sức xây dựng chùa mới và Sư bắt đầu giáo hoá.|Sư thượng đường bảo chúng: »Phàm con mắt người tham học gặp cơ liền phải đại dụng hiện tiền, chớ tự ràng buộc nơi tiết nhỏ. Giả sử lời nói trước tiến được, vẫn còn kẹt vỏ dính niệm, dù là dưới câu liền được tinh thông, chưa khỏi phạm đến lại là thấy cuồng. Xem thấy tất cả các ông đều là nhằm đến nương người tìm hiểu, sáng tối hai lối vì các ông một chút quét sạch, dạy thẳng mỗi người các ông như sư tử con gầm gừ rống lên một tiếng, đứng thẳng như vách cao ngàn nhẫn, ai dám để mắt nhìn đến, nhìn đến là mù mắt y.«|Sư thượng đường, có vị tăng bước ra hỏi: »Thầy xướng gia khúc tông phong ai, nối pháp người nào?« Sư đáp: »Siêu nhiên vượt khỏi ngoài Uy Âm, kiễng chân luống nhọc khen đất cát«. Tăng hỏi: »Hát xưa không âm vận, thế nào hoà được bằng?« Sư đáp: »Gà gỗ gáy nửa đêm, chó rơm sủa hừng sáng.«|Ðời Tống, niên hiệu Khai Bảo, năm thứ sáu, ngày rằm tháng tám, Sư lên toà ngồi kết già viên tịch, thọ 78 tuổi, 59 tuổi hạ. Trước khi tịch, Sư để lại bài kệ sau:|Ðạo tại thừa thời tu tế vật|Viễn phương lai mộ tự đằng đằng|Tha niên hữu tẩu tình tương tự|Nhật nhật hương yên dạ dạ đăng.|*Phải thời truyền đạo lợi quần sinh|Chẳng quản phương xa tự vươn lên|Năm khác có người dòng giống đó|Ngày ngày hương khói đêm đêm đèn.
Phù-đà Mật-đà 浮陀蜜陀; S: buddhamitra;|Tổ thứ 9 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phù-đà Nan-đề 浮陀難提; S: buddhanandi;|Tổ thứ 8 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phù-đồ 浮圖; C: fútú; J: futo;|Phiên âm chữ buddha (Phật 佛) hoặc chữ stūpa (tháp 塔) từ tiếng Phạn. Còn có thể chỉ cho chùa viện hoặc là tăng sĩ Phật giáo. Cũng được dùng chỉ Phật pháp (viết 浮屠).
Phù Dung Ðạo Khải 芙蓉道楷; C: fúróng dàokăi; J: fuyo dōkai; 1043-1118, cũng được phiên thiết là Phù Dung Ðạo Giai;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng. Sư nối pháp Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh và là thầy của nhiều vị danh tiếng như Ðan Hà Tử Thuần, Hương Sơn Pháp Thành, Ðại Trí Tề Liên và Bảo Phong Duy Chiếu.|Sư họ Thôi, quê ở Nghi Thuỷ, Nghi Châu, tính tình cương trực. Thuở nhỏ Sư đã tu học kham nhẫn, vào ở ẩn trong núi Y Dương. Sau, Sư đến kinh đô tu học tại chùa Thuật Ðài và thụ giới cụ túc tại đây.|Bước đầu du phương, Sư đến tham học nơi Thiền sư Nghĩa Thanh ở núi Ðầu Tử chùa Hoa Nghiêm. Sư hỏi: »Ngôn giáo của Phật Tổ như việc cơm nước thường ngày trong nhà. Lìa rời việc này riêng có chỗ vì người hay chăng?« Ðầu Tử đáp: »Ngươi nói sắc lệnh của Thiên tử trong cõi này, lại nhờ vua Võ, Thang, Nghiêu, Thuấn hay chăng?« Sư suy nghĩ đáp lại, Ðầu Tử thấy thế liền cầm phất tử bịt miệng Sư, nói: »Ngươi phát ý ra đã đáng ăn ba mươi gậy rồi!« Ngay câu này, Sư tỉnh ngộ, làm lễ và ra đi. Ðầu Tử gọi: »Xà-lê hãy lại đây!« Sư chẳng ngó lại. Ðầu Tử liền nói: »Ngươi đến chỗ chẳng nghi chăng?« Sư liền bịt tai.|Sau, Sư coi trông việc nhà trù. Ðầu Tử hỏi: »Việc trong nhà trù không phải là dễ.« Sư thưa: »Chẳng dám.« Ðầu Tử hỏi: »Ngươi thổi cơm ư? Nấu cháo ư?« Sư thưa: »Nhân công đãi gạo nhúm lửa, trị nhật nấu cháo thổi cơm.« Ðầu tử hỏi: »Còn ngươi làm gì?« Sư thưa: »Nhờ ơn Hoà thượng từ bi cho con rảnh rang.«|Sau, Sư trở về Nghi Châu núi Mã An truyền bá Phật pháp. Ban đầu, Sư ở Tiên Ðộng, sau dời đến chùa Long Môn, rồi lại sang trụ núi Thái Dương thuộc Dĩnh Châu và Ðại Hồng ở Tuỳ Châu. Môn phong của tông Tào Ðộng rất hưng thịnh vùng Tây bắc.|Niên hiệu Sùng Ninh năm thứ ba (1104), vua ban chiếu mời Sư trụ trì Thiền viện Thập Phương Tịnh Nhân ở Ðông Kinh. Ðến niên hiệu Ðại Quan năm thứ nhất (1107), Vua áp đặt Sư trụ trì tại Thiên Ninh không được từ chối. Vì nghe lời ca tụng đạo hạnh của Sư, vua ban tử y và danh hiệu Ðịnh Chiếu Thiền sư. Sư thắp hương tạ ân xong rồi dâng biểu từ chối không nhận. Vua Tống Huy Tông xem biểu của Sư xong sai quan là Lí Hiếu Thọ khuyên Sư không nên từ chối. Quan họ Lí khuyên dụ nhiều lời nhưng Sư vẫn một mực từ chối. Vua nổi giận bắt Sư đem giam. Quan tra khảo hỏi Sư: »Trưởng lão thân gầy ốm như vậy có bệnh chăng?« Sư đáp: »Ngày thường cũng có bệnh nhưng hiện nay thì không bệnh.« Quan tra khảo lại nói: »Nếu nói có bệnh thì đối với pháp luật khỏi bị hình phạt.« Sư bảo: »Ðâu dám dối trá nói bệnh để mong khỏi tội« và an nhiện chấp nhận hình phạt. Sau đó, Sư bị đày ra Tri Châu, người người đều đau xót nhưng Sư sắc khí vẫn nhàn hạ.|Mùa đông năm sau, vua ban sắc phóng thích. Sư cất am tại hồ Phù Dung và từ đây, tăng chúng hội họp vây quanh. Tại đây mỗi ngày chỉ có một chén cháo, những người không chịu nỗi đều dần dần đi bớt nhưng số tăng thường trực không dưới một trăm.|Sư dạy chúng: »Phàm người xuất gia vì chán trần lao cầu thoát sinh tử, thôi tâm dứt niệm cắt vin theo, gặp thanh gặp sắc như hoa trồng trên đá, thấy lợi thấy danh như bụi rớt trong mắt. Vì từ vô thuỷ đến giờ, những cái ấy đâu chẳng từng trải qua, cần gì lại nhọc nhằn tham luyến? Hiện nay chẳng dứt còn đợi chừng nào? Thời nay dứt sạch lại còn việc gì? Nếu được trong tâm vô sự thì Phật Tổ vẫn là oan gia, tất cả thế sự tự nhiên lạnh nhạt, mới là phù hợp bên này…|Các ngươi đâu chẳng thấy, Ẩn Sơn đến chết chẳng chịu tiếp người, Triệu Châu (Tòng Thẩm) đến chết chẳng biên thư cho đàn việt, thà lượm trái giẻ trái lật mà ăn. Ðại Mai (Pháp Thường) lấy lá sen làm áo. Chỉ Y Ðạo Giả mặc y phục bằng giấy, Thượng toạ Huyền Thái chỉ mặc bằng bố. Thạch Sương (Khánh Chư) nơi nhà cây khô cùng người ngồi nằm, chỉ cần chết hẳn tâm của các ngươi. Ðầu Tử (Ðại Ðồng) sai người nấu cơm lẫn khoai rồi đồng ăn, cốt được tỉnh việc của các ngươi. Các bậc Thánh từ trước có những gương cao đẹp như thế, nếu không có chỗ đặc biệt làm sao chịu nổi…«.|Năm thứ tám niên hiệu Chính Hoà (1118) ngày 14 tháng năm, Sư cầm bút viết bài kệ:|吾年七十六,世緣今已足|生不愛天堂,死不怕地獄|撒手橫身三界外,騰騰任運何拘束|Ngô niên thất thập lục|Thế duyên kim dĩ túc|Sinh bất ái thiên đường|Tử bất phạ địa ngục|Tán thủ hoành thân tam giới ngoại|Ðằng đằng nhậm vận hà câu thúc.|*Ta tuổi bảy mươi sáu|Duyên đời nay đã đủ|Sinh chẳng thích thiên đường|Chết chẳng sợ địa ngục|Buông tay đi ngang ngoài tam giới|Mặc tình vươn bảng nào buộc ràng.|Ngay sau khi viết kệ, Sư viên tịch, thọ 76 tuổi.
Phú-na Da-xá 富那耶舍; S: puṇyayaśa;|Tổ thứ 11 của Thiền tông Ấn Ðộ
Phù trần 浮塵; C: fúchén; J: fujin;|»Bụi lăng xăng«. Là mọi hiện tượng tạo tác. Vì không nhận ra chân tính của mình, nên thấy các pháp sinh khởi và hoại diệt một cách lăng xăng không có cơ sở.
Phù tưởng 浮想; C: fúxiăng; J: fusō;|Vọng tưởng, niệm tưởng lăng xăng.
Phúc 福; S: puṇya; P: puñña; hoặc phúc đức;|Phúc đức nhờ bố thí, hay thực hiện nghi Lễ (s: pūjā), tụng kinh niệm Phật. Người ta cho rằng phúc này có thể tạo Thiện nghiệp để tái sinh trong một đời sống hạnh phúc hơn. Trong Ðại thừa – với mong cầu mọi chúng sinh cùng được giác ngộ – nhiều hành giả không quan tâm đến phúc đức riêng của mình mà »hồi hướng«, trao truyền phúc đức của mình cho mọi người. Ðó là một trong những hạnh Bồ Tát quan trọng.
Phục 伏; C: fú; J: buku;|Có các nghĩa: 1. Chinh phục, hàng phục, ngăn chặn, đánh bại (s: abhibhava, nigraha). Thuật ngữ nầy thường dùng để chỉ sự hàng phục phiền não. Khi đi cùng với thuật ngữ Đoạn (斷) thì nó có nghĩa là sự khởi đầu, giai đoạn đầu của việc chuyển hoá phiền não, vì thuật ngữ đi sau là Đoạn (斷) liên quan đến sự chuyển hoá rốt ráo toàn bộ phiền não, khác với việc đè nén, đối trị. Trong ý nghĩa nầy, nó đồng nghĩa với Trị (治), xem Phục đoạn (伏斷); 2. Ẩn nấp, che đậy, náu mình, tiềm ẩn.
Phục 服; C: fú; J: fuku; |1. Mặc; 2. Áo quần; 3. Theo, lắng nghe, cùng đi với. Đáp ứng, phục vụ.
Phục diệt 伏滅; C: fúmiè; J: bukumetsu;|Có các nghĩa: 1. Phá huỷ, cắt đứt, trừ diệt, làm tiêu tan (s: vinivartate; t: ldog pa); 2. Hàng phục và làm tiêu tan hết sạch phiền não. Đồng nghĩa với Phục đoạn (伏斷; theo Thành duy thức luận 成唯識論).
Phục đoạn 伏斷; C: fúduàn; J: fukudan;|Có các nghĩa: 1. Sự hàng phục và đoạn trừ phiền não. Phục ám chỉ việc giải trừ sức mạnh và ảnh hưởng của phiền não và Đoạn chỉ cho sự tiêu diệt phiền não vĩnh viễn. Đồng nghĩa với Phục diệt (伏滅); 2. Giải trừ phiền não với ý nghĩa đè nén, phản nghĩa với sự diệt trừ vĩnh hằng (vĩnh đoạn 永斷; theo Du-già luận 瑜伽論).
Phục hổ 伏虎; C: fúhǔ; J: fukko;|Có các nghĩa sau: 1. Người hàng phục hổ (Phục hổ nhân), tên ám chỉ Đức Phật và các vị Tổ sư kiệt xuất đã dùng giáo pháp để hàng phục mọi oán nghịch; 2. Tên của một bậc cổ đức, được thêm vào trong bản gốc 16 vị A-la-hán để thành 18 vị (Thập bát A-la-hán 十八羅漢, vị kia là Hàng Long A-la-hán).
Phục nhẫn 伏忍; C: fúrěn; J: bukunin;|Điều nhẫn nhục thứ nhất được dạy trong Nhân vương kinh (仁王經). Phục nhẫn là giữ cho phiền não không sinh khởi.
Phục ưng 服鷹; C: fú yīng; J: fukuyō; |Giữ trong tâm, ghi nhớ kĩ. Nhớ một cách trọn vẹn.
Phước Phúc
Phường 坊; C: fáng; J: bō;|Có các nghĩa sau: 1. Trú xứ của tăng sĩ; 2. Một khu nhỏ trong thành phố; vùng lân cận; khu phố; 3. Phân xưởng, cửa hàng.
Phương đẳng kinh 方等經; S: vaipulya-sūtra;|Chỉ một thể loại kinh Ðại thừa với các nội dung nhất định. Các kinh sau đây thuộc về kinh Phương đẳng: Bát-nhã ba-la-mật-đa, Hoa nghiêm, Bảo tích. Ngoài ra Phương đẳng kinh của Trung Quốc còn kể thêm kinh Ðại bát-niết-bàn, Ðại tập (s: mahāsaṃ-nipāta-sūtra) và Diệu pháp liên hoa.
Phương tiện 方便; S, P: upāya; J: hōben; thường được gọi là »Phương tiện thiện xảo« (善巧方便; s: upāya-kauśalya);|Có nhiều khía cạnh:|1. Phương tiện của Bồ Tát nhằm giúp chúng sinh giải thoát, với nhiều cách thức khác nhau, từ giáo hoá đơn giản cho đến những thần thông siêu nhiên. Phương pháp này được xem là một trong những hạnh Ba-la-mật-đa (Lục độ) mà Bồ Tát hoàn thành trong cấp thứ 7 của Bồ Tát thập địa (Thập địa).|2. Phương tiện trong cách trình bày giáo pháp. Nhiều trường phái Phật giáo (Hoa nghiêm, Thiên Thai) cho rằng chính đức Phật lịch sử đã áp dụng phương tiện này rồi, khi Ngài tuỳ căn cơ từng người mà giảng dạy. Ðặc biệt Ngài đã trình bày giáo lí Tiểu thừa trong giai đoạn một, rồi lúc cuối đời mới giảng pháp Ðại thừa đầy đủ hơn, đặc biệt trong kinh Diệu pháp liên hoa.|Phương tiện được xem là khía cạnh hoạt động của cái Tuyệt đối trong thế giới tương đối của hiện tượng, hiện thành lòng Từ (s, p: maitrī). Phương tiện là khía cạnh ngược của trí Bát-nhã (s: prajñā). Nếu Bát-nhã tượng trưng cho thể tính duy nhất của vạn sự thì phương tiện tượng trưng cho chính cái thiên hình vạn trạng. Trong cách nhìn của bậc giác ngộ thì với con mắt Bát-nhã (Huệ nhãn), Phật hay Bồ Tát không thấy có chúng sinh đau khổ, vì không có gì hiện hữu ngoài Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Còn nếu các Ngài nhìn với con mắt của lòng Từ (s: maitrī) thì khắp nơi đều là Khổ, Khổ do chấp trước vào sắc tướng. Muốn cứu độ chúng sinh thoát khổ, các Ngài dùng mọi phương tiện giúp chúng sinh đạt Niết-bàn, vốn xuất phát từ lòng Từ vô lượng của Pháp thân.
Phương trượng 方丈; J: hōjō;|Có nhiều nghĩa: 1. Chỉ căn phòng của vị trụ trì của một ngôi chùa. Danh từ này ám chỉ căn phòng của Duy-ma-la-cật (s: vimalakīr-ti), một vị Cư sĩ đạt Giác ngộ viên mãn của một vị Phật (Duy-ma-cật sở thuyết kinh); 2. Chỉ vị trụ trì của một ngôi chùa; 3. Danh hiệu của một Thượng toạ trong một Thiền viện.
Phur-bu T: phurbu;|Chỉ một loại đao trừ ma quỷ do Liên Hoa Sinh (padmasambhava) áp dụng trong các cuộc hành lễ của Phật giáo Tây Tạng. Phur-bu cũng là biểu tượng trong các phép quán tưởng, tương truyền do Ye-she Tsog-yel (t: yeshe tsogyel) bày ra, nhằm hoá giải các tà lực.|Trong các cuộc hành lễ của các Lạt-ma, ngày nay vẫn còn phép trừ tà bằng đao Phur-bu. Nơi đây, ma quỷ thường được biểu diễn bằng một hình nộm và Pháp sư dùng Phur-bu đâm vào tim. Quan niệm của Kim cương thừa cho rằng, đây là một hành động từ bi, vì ma quỷ bị Phur-bu đâm chết sẽ được giải thoát.|Phur-bu có liên hệ mật thiết với một phép Tan-tra đặc biệt, tương truyền do Liên Hoa Sinh áp dụng lúc bắt đầu lên đường đi Tây Tạng. Phur-bu là một vị Hộ thần (t: yidam) và có vai trò quan trọng trong phái Tát-ca (t: sakyapa) và Ninh-mã (t: nyingma-pa).
Pu-ta-li-pa S: putalipa; »Khất sĩ với bức tranh«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông là người Ban-ga-la (s: baṅgala), thuộc giới thương nhân. Ngày nọ có một Du-già sư khất thực đến, ông phục vụ tận tình và phát lòng muốn học hỏi. Vị này truyền cho ông năng lực của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và dạy phép quán tưởng. Ngoài ra vị này còn cho ông một cuộn hình của Hộ Thần Hô Kim cương. Ông đeo cuộn hình vào cổ và thiền quán 12 năm. Sau đó ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) mà không ai biết cả.|Lần nọ, ông đi ngang lâu đài một nhà vua, vị này thờ các thần của Ấn Ðộ giáo. Vua thấy bức hình ông mang vẽ thần Hô Kim cương ngồi trên toà được các vị thần của mình nâng, rất giận. Pu-ta-li-pa nói Hô Kim cương là thần của các vị kia. Cuối cùng nhà vua cho vẽ lại bức hình, nhưng Pu-ta-li-pa dùng thần lực hoán chuyển ngôi thứ. Vua chịu thua và xin ông giáo hoá. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Phật tính trong mọi loài.|Hãy bỏ con đường sai,|do tư duy xây cất.|Theo con đường tất yếu,|của trái tim vạch rõ,|rồi ngươi sẽ chứng đạt.|Ai được truyền năng lực,|của Ðạo sư đích thật,|là kẻ được chân như,|xuyên chiếu khắp tất cả,|kẻ ấy nếm được mùi,|Tuyệt đối vô sinh tử,|của Kim cương bất hoại.
Quả 果; C: guŏ; J: ka;|1. Trái cây, kết quả; 2. Sinh ra quả, một kết quả, sự tất yếu, sự kết luận; 3. Sự khai hoa kết trái. Kết quả của một hành vi hay tu tập, phương diện quả của nghiệp (s: karma, phala, kārya); 4. Kết quả của việc tu tập, chứng ngộ, giác ngộ, giải thoát, – là Phật quả; 5. Một trong Bốn quả vị của hàng Thanh văn; 6. Một trong Mười như thị được đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是)
Quả báo 果報; C: guŏbào; J: kahō; S, P: vipāka;|Kết quả, hiệu quả của các hành vi trước đây; kết quả của nghiệp (s: karma, phala). Là sự chín muồi của một »quả« (dị thục quả) trong nguyên lí Nhân quả (Nghiệp). Một khi quả chín, nó sẽ tác động lên người gieo quả đó theo một cách nhất định. Sự chín muồi một quả có thể xảy ra trong đời này, cũng có thể trong đời sau. Người ta cho rằng một quả xấu mà chín ngay trong đời này vẫn tốt hơn là đợi đến đời sau.
Quả báo thức 果報識; C: guŏbàoshì; J: kahōshiki; |Thành thục thức; một cách diễn tả thức A-lại-da.
Quả câu hữu 果倶有; C: guŏjùyŏu; J: kaguu; |Tính chất đồng thời của các chủng tử và sự hiện hành của chúng. Một trong 6 đặc tính của chủng tử trong tàng thức (chủng tử lục nghĩa 種子六義).
Quả địa vạn đức 果地萬徳; C: guŏdì wàndé; J: kaji mantoku; |Công đức vô lượng của Đức Phật. Khác với Nhân vị vạn hạnh (因位萬行).
Quả đức 果徳; C: guŏ dé; J: katoku;|1. Công đức nằm trong kết quả; 2. Công đức nằm bên sau sự giác ngộ.
Quả phần 果分; C: guŏfēn; J: kabun; |Phương diện kết quả của công phu tu tập – Phật quả, khác với phương diện nhân (nhân phần 因分) – là chúng sinh. Tính hải quả phần (性海果分).
Quả phần bất khả thuyết 果分不可説; C: guŏfēn bùkě shuō; J: kabunfu-kasetsu; |Ngược với Nhân phần khả thuyết (因分可説). Theo giáo lí kinh Hoa Nghiêm, niềm tin vào quả vị Phật (giác ngộ) không phải là điều có thể giải thích bằng ngôn từ.
Quả phần khả thuyết 果分可説; C: guŏfēn kěshuō; J: kabun kasetsu; |Theo giáo lí Mật tông, đực tin vào sự hoàn hảo của »quả phần« (nghĩa là cảnh giới Phật là »quả«) là điều có thể giảng giải được. Điều nầy ngược với giáo lí chỉ có nhân phần của Phật quả mới có thể giải thích được – giai đoạn tu tập có thể được xem là nguyên nhân của sự giác ngộ là có thể giải thích được, nhưng cảnh giới tối thượng, lĩnh vực tu đạo thì không thể giảng giải được.
Quả tính 果性; C: guŏxìng; J: kashō; |1. Sự giác ngộ như kết quả của việc tu tập, khác với Lí tính (理性); nguyên lí không thay đổi hay là bản tính như là nguyên nhân của giác ngộ.
Quai 乖; C: guāi; J: ke;|Xung đột; mâu thuẫn; đặc biệt là trái nghịch với đạo lí Phật pháp chân chính, chẳng hạn trái với tinh thần Vô ngã hoặc luật nhân quả (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Quải tích 掛錫; J: kashaku;|Nghĩa là »treo Tích trượng«; chỉ bước nhập môn của một thiền tăng sau một cuộc Hành cước, khi đã tìm được vị Thiền sư thích hợp với căn cơ của mình.|Thiền sinh có thể tự chọn Thiền viện để gia nhập. Quan trọng nhất cho sự tu tập của thiền sinh là việc chọn đúng vị thầy thích hợp mà mình tin tưởng tuyệt đối. Vì vậy mà các thiền sinh thường đến viếng nhiều thiền viện, tham vấn nhiều vị Thiền sư khác nhau trước khi chọn được vị »chân sư« của mình. Nhưng – như thiền sinh chọn thầy – các vị Thiền sư cũng lựa chọn kĩ các vị mới đến trước khi cho phép nhập môn. Nếu Thiền sư thấy rõ mình không phải là thầy thích hợp cho một thiền sinh nào đó thì sẽ gửi vị này đến một vị khác thích hợp hơn.|Khi đến cổng (sơn môn) của một thiền viện sau một cuộc hành cước, thiền sinh sẽ thấy hai tấm bản gỗ nằm hai bên của cửa cổng: Một bản ghi tên của thiền viện và bản khác ghi tên của vấn đề mà vị Thiền sư trụ trì đang Ðề xướng. Những bước chân vào cổng của thiền sinh – cửa cổng thường được xây dựng rất kiên cố, cách biệt với bên ngoài – với lòng mong mỏi được thâu nhận làm đệ tử chính là những biểu hiện của sự quyết chí bước vào con đường tu học vô cùng tận để chứng ngộ Phật pháp.
Quán 觀; S: vipaśyanā; P: vipassanā; |Nghĩa là quán sát bằng trí huệ, minh sát; có thể hiểu hai cách, đó là: 1. Phương pháp tu tập quán sát song song với tu Chỉ và 2. Kết quả, mục đích, sự trực chứng Ba tính chất của vạn sự (s: trilakṣaṇa) là Vô thường, Vô ngã và Khổ. Trong Ðại thừa, quán cũng được xem là sự phân tích sự vật để tự trực nghiệm tính Không (s: śūnyatā). Kiến giải này giúp ngăn ngừa tham Ái khởi sinh. Quán là một trong hai yếu tố giúp đạt Giác ngộ, yếu tố kia là Chỉ (s: śamatha).
Quán (xuyến) tập 串習; C: guànxí; J: genshū;|Tập thành thói quen; phát triển thông qua hành động thường xuyên, đều đặn. Thực hành thường xuyên, thường dùng ý thức chuyên cần tu tập nhắm đến việc gieo trồng thiện căn (善根).
Quan Âm 觀音; J: kannon; nguyên là Quán Thế Âm nhưng do tránh tên nhà vua Ðường là Thế Dân nên gọi là Quan Âm hoặc Quán Âm.|Tên của Bồ Tát Quán Thế Âm (觀世音; s: avalokiteśvara) tại Trung Quốc và các nước lân cận. Phật tử Trung Quốc thường thờ cúng Quan Âm bên cạnh các vị Bồ Tát Phổ Hiền (普賢; s: samantabhadra), Ðịa Tạng (地藏; s: kṣitigarbha) và Văn-thù (文殊; s: mañjuśrī). Ðó là bốn vị Ðại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.|Quan Âm hiện thân trong mọi hình dạng để cứu độ chúng sinh, nhất là trong các nạn lửa, nước, quỷ dữ và đao kiếm. Phụ nữ không con cũng hay cầu Quan Âm. Trong kinh Ðại thừa vô lượng thọ (s: sukhāvatīvyūha), Quan Âm cũng hay được nhắc tới bên cạnh Phật A-di-đà (s: amitābha). Tại Trung Quốc và Việt Nam, Quan Âm hay được diễn tả dưới dạng nữ nhân.|Tranh trượng hay trình bày Quan Âm dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng phổ biến nhất là dạng một vị Bồ Tát nghìn tay nghìn mắt. Có khi Quan Âm ẵm trên tay một đứa bé, có khi có một đồng tử theo hầu. Người ta cũng hay vẽ Quan Âm hiện lên trong mây, hoặc cỡi rồng trên thác nước. Hình ảnh Quan Âm đứng trên một hải đảo cứu người bị nạn cũng phổ biến, biển cả tượng trưng cho Luân hồi. Tay Quan Âm hay cầm hoa sen hay bình nước Cam lộ.|Theo quan niệm Trung Quốc, Quan Âm ngự tại Phổ-đà Sơn, miền Ðông Trung Quốc, đó là một trong Tứ đại danh sơn – bốn trú xứ của bốn Ðại Bồ Tát của Phật giáo Trung Quốc.|Tại Trung Quốc – đến thế kỉ 10 – Quan Âm còn được giữ dưới dạng Nam giới, thậm chí trong hang động ở Ðôn Hoàng, người ta thấy tượng Quan Âm để râu. Ðến khoảng thế kỉ thứ 10 thì Quan Âm được vẽ mặc áo trắng, có dạng nữ nhân. Có lẽ điều này xuất phát từ sự trộn lẫn giữa đạo Phật và đạo Lão trong thời này. Một cách giải thích khác là ảnh hưởng của Mật tông (xem Tan-tra) trong thời kì này: đó là hai yếu tố Từ bi (s: maitrī-karuṇā) và Trí huệ (s: prajñā) được thể hiện thành hai dạng nam nữ, mỗi vị Phật hay Bồ Tát trong Mật tông đều có một »quyến thuộc« nữ nhân. Vị quyến thuộc của Quán Thế Âm được xem là vị nữ thần áo trắng Ða-la (s: tārā), và Bạch Y Quan Âm là tên dịch nghĩa của danh từ đó. Kể từ đó quần chúng Phật tử Trung Quốc khoác cho Quan Âm áo trắng và xem như là vị Bồ Tát giúp phụ nữ hiếm muộn.|Có rất nhiều huyền thoại về Bồ Tát Quan Âm. Theo một huyền thoại Trung Quốc thì Quan Âm là con gái thứ ba của một nhà vua. Lớn lên, mặc dù vua cha ngăn cản nhưng công chúa quyết đi tu. Cuối cùng vua nổi giận, sai đem giết nàng. Diêm vương đưa nàng vào địa ngục, ở đó công chúa biến địa ngục thành Tịnh độ, cứu giúp người hoạn nạn. Diêm Vương thả nàng ra và công chúa tái sinh lại trên núi Phổ-đà biển Ðông và trở thành người cứu độ cho ngư dân. Ðến khi vua cha bị bệnh nặng, nàng cắt thịt đắp lên chỗ bệnh. Nhà vua khỏi bệnh và nhớ ơn, cho tạc tượng nàng. Tương truyền rằng, vì hiểu lầm ý của nhà vua mà người ta tạc nên bức tượng nghìn tay nghìn mắt, được lưu truyền đến ngày nay.
Quán bất tịnh Bất tịnh quán (不淨觀)|Là phép quán tử thi được gọi theo kinh điển Nam truyền (Thanh tịnh đạo). Bất tịnh tưởng (nghĩ đến) cũng là quán 32 thân phần. Phép quán này là cách đối trị cái tham dục và sự thấy đảo ngược của tâm, cho là sạch đẹp những gì vốn không sạch (Ðảo kiến).
Quán đỉnh 灌 (潅) 頂; S: abhiṣeka; C: guàndĭng; J: kanchō; nghĩa là rưới nước lên đầu; |Một nghi thức tôn giáo trong những buổi lễ long trọng. Trong Kim cương thừa, danh từ quán đỉnh được dùng chỉ những nghi lễ, trong đó vị Ðạo sư (s: guru; t: lama) cho phép đệ tử tu tập một Tan-tra. Vì vậy trong Phật giáo Tây Tạng, người ta hay sử dụng danh từ »Truyền lực« (t: dbang-bskur).|Trong Vô thượng du-già (s: anuttarayoga-tantra), người ta kể bốn cấp quán đỉnh từ dưới lên trên: 1. Quán đỉnh bình (s: ka-lābhiṣeka; bình ở đây là tịnh bình); 2. Quán đỉnh bí mật (s: guhyābhiṣeka); 3. Quán đỉnh trí huệ (s: prajñābhiṣeka); 4. Quán đỉnh thứ tư (s: caturthābhiṣeka).|Quán đỉnh bình bao gồm sự khai giảng về năm khía cạnh của Phật gia (s: buddhaku-la).|Thông thường, vị Ðạo sư đọc Nghi quỹ (s: sā-dhana) qua một lần và lần đọc này có giá trị cho phép người đệ tử tu học Nghi quỹ này. Sau đó, Ðạo sư bình giảng những điểm khúc mắc, khó hiểu, những bí truyền trong Nghi quỹ để bảo đảm sự tu tập chính tông, đúng đắn của đệ tử.
Quân Như 均如; C: jūnrú; J: kinnyo; K: kyunyŏ, 923-973.|Học giả Hàn Quốc có uy tín về kinh Hoa Nghiêm trong thời kì Cao Li (k: koryŏ). Ông viết nhiều luận giải về tác phẩm của các vị tổ Hoa Nghiêm tông Trung Hoa và thiết lập nền tảng cho việc lập lại mối tương quan của Hoa Nghiêm tông và Thiền tông trong tương lai qua thái độ cởi mở theo quan điểm của lớp người sau. Các tác phẩm của ông là một nguồn rất quan trọng cho tri thức hiện đại để nhận ra bản chất đặc biệt của Hoa Nghiêm tông Triều Tiên. Một trong những tài liệu có liên quan đến Quân Như là Quân Như truyện (均如傳, k: kyunyŏ-jŏn), đã được Adrian Buzo và Tony Prince dịch sang tiếng Anh.
Quan Sơn Huệ Huyền 關山慧玄; J: kanzan egen; 1277-1360;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, nối pháp của Tông Phong Diệu Siêu (j: shūhō myōchō). Sư kế thừa và trụ trì Ðại Ðức tự (daitoku-ji), sau lại trụ trì Diệu Tâm tự (myōshin-ji). Cả hai đều là những thiền viện danh tiếng nhất của tông Lâm Tế tại Kinh Ðô (kyōto).|Sư sinh tại Shinano (phủ Nagano), sớm đã được cha gửi đến một người chú tại Liêm Thương (kamakura) để học Phật pháp. Nơi đây, Sư may mắn được học với Thiền sư Nam Phố Thiệu Minh (nampo jōmyō, 1235-1309). Sau khi Nam Phố tịch, Sư trở về quê nhà tu học khổ hạnh. Khi nghe danh tiếng của Thiền sư Tông Phong tại Liêm Thương, Sư liền đến Ðại Ðức tự tại Kinh Ðô đến tham học. Tông Phong giao cho Sư Công án »Quan« (Bích nham lục, công án 8) của Thiền sư Vân Môn Văn Yển để tham cứu. Sau hai năm quán công án này – một thời gian tu tập cực kì khắc khe với một công án nổi danh là khó giải – Sư ngộ được yếu chỉ của Thiền tông. Tông Phong liền làm một bài kệ ấn chứng cho môn đệ của mình, năm đó Sư đã vượt ngoài năm mươi (1329).|Sau đó, theo lời khuyên của thầy, Sư lên núi ẩn cư tám năm để tiếp tục tu luyện và trong thời gian này, Sư làm việc hằng ngày trên đồng ruộng, đêm thì Toạ thiền trên những tảng đá. Sau thời gian này, Sư nhận lời trụ trì chùa Diệu Tâm. Phong cách giảng dạy của Sư rất nghiêm khắc và cũng vì thế mà Lâm Tế chính mạch được truyền đến những đời sau qua dòng thiền này. Sư chẳng chú trọng đến đồ vật trang trí trong thiền viện và cũng không thích những nghi lễ rườm rà. Sư đòi hỏi nơi đệ tử một ý chí, một tâm trạng tinh tiến tuyệt đối. Một trong những công án Sư thường đưa ra để tham quán là »Ðối với Huệ Huyền, nơi đây không có sinh tử.« Chỉ những thiền sinh đầy ý chí quyết định mới dám ở lại đây, phần lớn đều rời Sư sau một thời gian. Dưới sự hoằng hoá của Sư, Diệu Tâm tự cũng được gọi là »Ðịa ngục tột cùng của Phật pháp.« Sư cũng được gọi là »Tổ sư với những đức tính thầm kín« (Ẩn đức tổ sư; 隱德 [の] 祖師; j: intoku [no] soshi).|Trước khi tịch, Sư trao pháp y lại cho vị kế thừa duy nhất là Thụ Ông Tông Bật (授翁宗弼; j: jūo sōhitsu, 1296-1380), chuẩn bị hành lí và đứng mà tịch. Dòng thiền của Sư sau trở thành dòng chính của tông Lâm Tế Nhật Bản.
Quán thân Thân quán (身觀); P: kāyagata-sati;|Chỉ sự tỉnh giác, chú tâm vào thân thể. Một phần tu tập được ghi lại trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna), bao gồm: tỉnh giác trong lúc thở ra, thở vào cũng như trong lúc đi, đứng, ngồi, nằm (Hành, trụ, toạ, ngọa); tỉnh giác trong mọi hành động; quán 32 thân phần; Phân tích thân phần (p: dhātu-vavatthāna); Quán tử thi.|Tuy nhiên, danh từ »Quán thân« thường được sử dụng để chỉ riêng cách quán 32 thân phần.
Quán Thế Âm 觀世音; S: avalokiteśvara; J: kanzeon; T: chen-resi [sPzan-ras-gzigs]; cũng gọi là Quán Tự Tại, Quan Âm;|Một trong những vị Bồ Tát (s: bodhisattva) quan trọng nhất trong Ðại thừa (s: mahāyā-na). Có nhiều luận giải khác nhau về nguyên nghĩa tên Ngài. Có người hiểu »īśvara« là một »người nam« quán chiếu thế giới, có người hiểu »svara« là »Âm«, tức là vị Bồ Tát lắng nghe mọi tiếng thế gian.|Nhìn chung, Quán Thế Âm là thể hiện lòng Bi (s, p: karuṇā), một trong hai dạng của Phật tính. Vì vậy, có khi người ta đặt tên cho Ngài là bậc Ðại Bi (s: mahākaruṇika). Dạng kia của Phật tính là Trí huệ (Bát-nhã; s: prajñā), là đặc tính được Bồ Tát Văn-thù (s: mañjuśrī) thể hiện. Quán Thế Âm là vị Bồ Tát thể hiện nguyện lực của Phật A-di-đà (s: amitābha) và được xem như quyến thuộc của Ngài (Tịnh độ tông). Với lòng từ bi vô lượng, Quán Thế Âm thể hiện sức mạnh huyền diệu cứu giúp mọi chúng sinh quán tưởng đến Ngài lúc gặp hiểm nguy. Trong nhân gian, Ngài là vị bảo hộ tránh khỏi tai hoạ và hay được phụ nữ không con cầu tự.|Trong các loại tranh tượng về Ngài, người ta thấy có 33 dạng, khác nhau về số đầu, tay và các đặc tính. Thông thường ta thấy tượng Ngài có ngàn tay ngàn mắt, có khi 11 đầu. Trên đầu có khi có tượng của A-di-đà, xem như đặc điểm chính. Trên tay có khi thấy Ngài cầm hoa sen hồng, vì vậy Ngài cũng có tên là Liên Hoa Thủ (người cầm hoa sen; s: padmapāṇi) hay nhành dương liễu và một bình nước Cam-lộ (s: amṛta). Số tay của Ngài biểu hiện khả năng cứu độ chúng sinh trong mọi tình huống.|Trong tranh tượng với 11 đầu, thì Quán Thế Âm mang 9 đầu của chín vị Bồ Tát, một đầu của một vị Phật và cuối cùng là đầu của Phật A-di-đà. Cứ mỗi ba đầu tượng trưng là ba đặc tính: từ bi với chúng sinh khổ nạn, quyết tâm đối trị cái xấu, hoan hỉ với cái tốt. Theo một cách nhìn khác thì 11 đầu biểu tượng cho mười cấp của Thập địa và Phật quả.|Một thuyết khác giải thích tích của 11 đầu và nghìn tay: lúc Quán Thế Âm quán chiếu cảnh khổ của chúng sinh thì đầu Ngài đau xót vỡ ra từng mảnh. Phật A-di-đà xếp các mảnh đó lại thành 11 đầu. Xuất phát từ nguyện lực cứu độ mọi chúng sinh, thân Ngài mọc ra nghìn tay, trong mỗi tay có một mắt. Quán Thế Âm cũng hay được vẽ là kẻ cứu độ chúng sinh trong sáu nẻo Luân hồi (Lục đạo): trong súc sinh, Quán Thế Âm đầu ngựa, hoặc cưỡi sư tử; trong địa ngục, là kẻ có nghìn cánh tay; trong cõi A-tu-la, là kẻ có 11 đầu.||H 47: Quán Thế Âm Bồ Tát được trình bày trong hình này dưới một dạng ít thấy, đó là »Sư Tử Hống Quán Tự Tại« (獅子吼觀自在; s: siṃhanāda-lokeśvara). Dưới dạng này, Ngài là một dược sư, đặc biệt cứu độ những người bệnh phong cùi (e: lepra). Mắt Ngài đang nhìn bệnh nhân và mắt chính giữa (huệ nhãn) đang tập trung chẩn bệnh. Hai bảo vật bên vai cũng là những dụng cụ của một dược sĩ, bình sắc thuốc bên trái của Ngài và đao trừ tà (bệnh) bên phải. Sư tử Ngài cưỡi xuất phát từ một sự tích. Tương truyền rằng, có một con sư tử sinh được một con nhưng con chết ngay sau khi sinh. Ðau đớn quá nó rống lên thật to và nhờ tiếng rống uy dũng này, nó làm cho con nó sống lại. Vì thế mà có sự liên hệ giữa tên của Ngài (»giọng sư tử«) với nghề nghiệp của một dược sĩ »gọi người sống lại«.|Tại Trung Quốc, Việt Nam và Nhật, Quán Thế Âm có tên là Quan Âm, hay được trình bày dưới dạng »Phật Bà« Tại Tây Tạng, Quán Thế Âm (t: chenresi [spzan-ras-gzigs]) là »người bảo vệ xứ tuyết« và có ảnh hưởng trung tâm trong truyền thống Phật giáo tại đây. Người ta xem Ngài là cha đẻ của dân tộc Tây Tạng và nhờ Ngài mà Phật giáo được truyền bá qua nhà vua Tùng-tán Cương-bố (t: songten gampo, 620-649), được xem là một hiện thân của Quán Thế Âm. Ðạt-lại Lạt-ma và Cát-mã-ba (t: karmapa) cũng được xem là hiện thân của Ngài. Câu Man-tra OṂ MA-NI PAD-ME HŪṂ được xem là thuộc tính của Quán Thế Âm, là thần chú đầu tiên truyền đến Tây Tạng và ngày nay được tụng đọc nhiều nhất. Tranh tượng của Ngài được biểu diễn bằng một người có 11 đầu và ngàn cánh tay hoặc trong dạng có bốn tay, ngồi toà sen.
Quân tử 君子; C: jūnzí; J: kunshi; |Người tốt, người tài, người đức hạnh theo giáo lí nhà Nho, được lập trong sự tương phản với Tiểu nhân (小人).
Quán Tự Tại 觀自在|Quán Thế Âm
Quán tử thi 觀死屍; P: sīvathikā;|Một phần trong phép quán thân, được ghi lại trong kinh Bốn niệm xứ (p: satipaṭṭhāna-sutta).
Quán vô lượng thọ kinh 觀無量壽經; S: amitayurdhyāna-sūtra;|Một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của Tịnh độ tông. Kinh mô tả thế giới Phương Tây của Phật A-di-đà và dạy cách hành trì: bằng cách sống thanh tịnh, giữ Giới luật (s: śīla) và niệm danh hiệu Phật A-di-đà, hành giả giải thoát các nghiệp bất thiện và được tái sinh nơi Tịnh độ của Ngài.|Kinh này chỉ rõ quá trình phát sinh giáo pháp của Tịnh độ tông và thật ra đã được đức Phật lịch sử Thích-ca trình bày. Tương truyền rằng, hoàng hậu Vaidehi, mẹ của vua A-xà-thế, bị con mình bắt hạ ngục cùng với chồng là Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra). Bà nhất tâm cầu nguyện Phật và khi Phật hiện đến, Bà xin tái sinh nơi một cõi yên lành hạnh phúc. Phật dùng thần lực cho bà thấy mọi thế giới tịnh độ, cuối cùng bà chọn cõi Cực lạc của A-di-đà. Phật dạy cho bà phép thiền định để được tái sinh nơi cõi đó. Phép thiền định này gồm 16 phép quán tưởng, và tuỳ theo nghiệp lực của chúng sinh, các phép này có thể giúp tái sinh vào một trong chín cấp bậc của Tịnh độ. Mười sáu phép quán tưởng đó là: quán mặt trời lặn; quán nước; quán đáy sông; quán cây cối; quán nước cam lộ; quán thế giới thực vật; quán nước và đáy nước; quán toà sen; quán ba báo thân của ba vị thánh A-di-đà, Quán Thế Âm, Ðại Thế Chí; quán ba ứng thân của Phật A-di-đà; của Quán Thế Âm; của Ðại Thế Chí; quán A-di-đà trong cõi Tịnh độ; quán ba vị thánh trong cõi Tịnh độ; quán cấp thượng căn trong cõi Tịnh độ; quán cấp trung căn và hạ căn trong cõi Tịnh độ. Các phép quán này giúp hành giả có thể thấy được A-di-đà và hai vị Bồ Tát Quán Thế Âm và Ðại Thế Chí ngay trong đời này và đó là dấu hiệu chắc chắn hành giả sẽ được tái sinh về Tịnh độ.
Quang 光; C: guāng; J: kō;|Có các nghĩa sau: 1. Ánh sáng, sự rực rỡ, sự chói lọi; 2. Ánh sáng mặt trời; 3. Sự biểu hiện, sự hiển hiện (s: ābhāsa); 4. Phản nghĩa của tối tăm, u ám, sự hiểu biết, thông thái, trí huệ; 5. Vầng hào quang, sự phát tiết.
Quang Đức 光德; C: guāngdé; J: kōtoku; K: kwangdǒk, 1927-;|Cao tăng Hàn Quốc thuộc dòng Tào Khê (k: chogye). Sư học ở Đại học Dongguk, sau đó trở thành người đứng đầu tông Tào Khê. Sư dịch nhiều kinh luận Phật giáo sang tiếng Hàn Quốc (han'gul), trong đó có Vô môn quan (無門關).
Quang minh 光明; C: guāngmíng; J: kōmyō; S: āloka, prabhāsvara, amśu, tejas, prabhā.|Ánh sáng rực rỡ, hào quang. Biểu tượng của trí tụê của đức Phật hay của Bồ Tát. Là biểu tượng chỉ cho sự phá huỷ sự tối tăm của vô minh và sự hiển bày đạo lí chân thật. Là từ ngữ tán thán ánh sáng vô biên, vô ngại của Đức Phật A-di-đà, trong đó »Quang« đặc biệt là ánh sáng trí huệ và ánh sáng từ thân tướng của Ngài. »Minh« là biểu tượng cho cái Dụng từ trí huệ của Ngài toả ra.
Quang Minh Biến Chiếu 光明遍照; C: guāngmíngbiànzhào; J: kōmyō-henshō;|Tiếng Hán dịch từ Mahāvairocana Tathā-gata. Đại Nhật Như Lai (大日如來).
Quang Minh tự 光明寺; C: guāngmíng sì; J: kōmyō-ji;|1. Ngôi chùa của phong trào Tam giai giáo (三階教) toạ lạc ở Trường An; 2. Ngôi chùa nơi Thiện Đạo (善導) làm công việc giáo hoá nhiều nhất.
Quảng Nghiêm 廣嚴; 1121-1190|Thiền sư Việt nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 11. Sư nối pháp Thiền sư Trí Thiền. Môn đệ nổi danh của Sư là Thường Chiếu.|Sư họ Nguyễn, quê ở Ðan Phượng, mồ côi từ thuở bé. Ban đầu, Sư theo học Phật pháp với người cậu là Bảo Nhạc. Sau khi Bảo Nhạc qua đời, Sư Hành cước, viếng thăm nhiều pháp hội. Nghe Thiền sư Trí Thiền giảng pháp ở chùa Phúc Thánh, hạt Ðiển Lãnh, Sư liền đến tham vấn.|Một hôm, khi nghe Trí Thiền giảng Ngữ lục của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển, đến chỗ Ðạo Ngô Viên Trí và Tiệm Nguyên Trọng Hưng đối đáp về vấn đề sinh tử ở nhà đàn việt, Sư bỗng có tỉnh, liền hỏi: »Một câu Thoại đầu ấy, người xưa nói ở trong sinh tử, lại có lí hay không?« Trí Thiền đáp: »Ngươi nhận được lí này chăng?« Sư hỏi lại: »Thế nào là lí không sinh tử?« Trí Thiền bảo: »Chỉ ở trong sinh tử nhận lấy.« Sư thưa: »Ðạt vô sinh rồi.« Thiền bảo: »Vậy thì tự liễu.« Ngay câu này, Sư thấu suốt, hỏi thêm: »Làm sao gìn giữ?« Thiền đáp: »Ðã liễu ngộ lại đồng chưa liễu.« Sư quì xuống lạy.|Sư trước đến chùa Thánh Ân trụ trì, sau lại đến chùa Tịnh Quả giáo hoá. Một vị tăng hỏi: »Thế nào là Pháp thân?« Sư đáp: »Pháp thân vốn không tướng.« Hỏi: »Thế nào là Bát-nhã?« Sư đáp: »Bát-nhã không hình.« Hỏi: »Thế nào là cảnh Tịnh Quả?« Sư đáp: »Cây thông, cây thu bên ngôi mộ xưa.« Hỏi: »Thế nào là người trong cảnh?« Sư đáp: »Một mình ngồi bịt miệng bình.« Hỏi: »Chợt gặp tri âm làm sao tiếp?« Sư đáp: »Tuỳ duyên nhướng đôi mày.« Hỏi: »Thế ấy là cháu chắt Kiến Sơ, là con Âu Tông?« Sư đáp: »Người ngu nước Sở.« Tăng không đáp được.|Ngày 15 tháng 2 năm Canh Tuất, niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 5, Sư biết sắp tịch bèn nói kệ:|離寂方言寂滅去。生無生後說無生|男兒自有衝天志。休向如來行處行|Li tịch phương ngôn tịch diệt khứ|Sinh vô sinh hậu thuyết vô sinh|Nam nhi tự hữu xung thiên chí|Hưu hướng Như Lai hành xứ hành.|*Lìa tịch mới bàn câu tịch diệt|Ðược vô sinh sau nói vô sinh|Làm trai có chí xông trời thẳm|Chớ dẫm Như Lai vết đã qua.|Nói kệ xong, Sư chắp tay thị tịch, thọ 69 tuổi.
Quang Nghiêm tự 光嚴寺; C: guāngyán sì; J: kōgon-ji;|Ngôi chùa ở Tương Châu (湘州), nơi Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo tập trung vào việc thực hành 16 hạnh Vô tận tạng (無盡藏).
Quang tán kinh 光讃經; C: guāngzàn jīng; J: kōsan kyō;|Kinh, 10 quyển. Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmarakṣa) dịch.
Quang Thế Âm 光世音; C: guāngshìyīn; J: kōseion;|Một trong nhiều cách phiên dịch từ Avalokiteśvara (Quán Thế Âm 觀世音) sang tiếng Hán, được Trúc Pháp Hộ (竺法護; s: dharmapāla) sử dụng.
Quang Trạch 光宅; C: guāngzhái; J: kōtaku;|Tên khác của Pháp Vân (法雲), vị trú trì chùa Quang Trạch.
Quang Trạch tứ thừa 光宅四乘; C: guāngzhái sìshèng; J: kōtaku-shijō;|Đề cập đến sự lập ra giáo lí Nhất thừa (tứ thừa, cỗ xe thứ tư) do Quang Trạch dựa rên kiến giải của mình về ví dụ Nhà bắt lửa cháy trong kinh Pháp Hoa. Đây là đặc điểm quan trọng của tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm.
Quang Trí 光智; C: guāngzhì; J: kōchi;|Tiếng Hán dịch ý tên Prabhākaramitra, thường được phiên âm là Ba-la-ca-phả Mật-đa-la (波羅迦頗蜜多羅).
Quảng Trí 廣智; ?-1091 (?)|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 7. Sư nối pháp Thiền sư Thiền Lão. Hai vị đệ tử nổi danh của Sư là Mãn Giác và Ngộ Ấn.|Sư họ Nhan, người ở kinh đô. Năm đầu niên hiệu Chương Khánh Gia Khánh (1059), Sư xuất gia, đến tham vấn Thiền Lão. Chỉ qua một câu nói của Thiền Lão mà Sư ngộ được yếu chỉ và từ đây, Sư chú tâm vào thiền học.|Sau, Sư trụ chùa Quán Ðỉnh núi Không Lộ ở Từ Sơn, sống rất đạm bạc. Sư cùng với một vị tăng tên Minh Huệ kết bạn đồng tu và người thường nói rằng, đó là Hàn Sơn và Thập Ðắc tái sinh.|Khoảng niên hiệu Quảng Hựu (1085-91), Sư viên tịch.
Quế Sâm 桂琛|La-hán Quế Sâm
Quy mao thố giác 龜毛兔角; J: kimō-tokaku;|Lông rùa sừng thỏ
Quy Ngưỡng tông 潙仰宗; C: guī-yǎng-zōng; J: igyō-shū;|Một dòng thiền do Thiền sư Quy Sơn Linh Hựu và đệ tử là Ngưỡng Sơn Huệ Tịch sáng lập, được xếp vào Ngũ gia thất tông – Thiền chính phái của Trung Quốc. Dòng thiền này sau được tông Lâm Tế hấp thụ và thất truyền trong thế kỉ thứ 10/11.|Một nét đặc biệt của tông này là phương pháp giáo hoá, »đánh thức« môn đệ bằng những biểu tượng được vẽ trong 97 vòng tròn (viên tướng). Hệ thống giáo hoá này được Lục tổ Huệ Năng sử dụng, truyền cho Quốc sư Nam Dương Huệ Trung đến Ðam Nguyên Ứng Chân và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Ngày nay cách sử dụng viên tướng này đã thất truyền nhưng có lẽ đã gây ảnh hưởng lớn đến sự hình thành của Thập mục ngưu đồ (mười bức tranh chăn trâu) và Ðộng Sơn ngũ vị của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới. 97 viên tướng được sử dụng như mật ngữ, và các vị Thiền sư có kinh nghiệm Giác ngộ thâm sâu sử dụng nó để trau dồi kinh nghiệm với nhau. Vì biết được khả năng tiêu hoại khi truyền hệ thống này bừa bãi – nếu bị lạm dụng trở thành một trò chơi – nên các vị giữ kín bí mật này, chỉ truyền cho những môn đệ hạng thượng căn.|Thiền sư Ngưỡng Sơn trả lời như sau khi được hỏi vì sao Sư thấy người đến liền vẽ một vòng tròn trong đó viết chữ »Ngưu« (牛) (Ðịnh Huệ dịch):|»Cái ấy cũng là việc không đâu. Nếu chợt hội được thì cũng chẳng phải từ bên ngoài đến, nếu không hội thì quyết chắc là không biết. Ta hỏi lại ông: Bậc lão túc các nơi – ngay trên thân các ông – chỉ cái gì là Phật tính? Nói là phải hay nín là phải, hay chẳng nói chẳng nín là phải, hay lại đều là không phải? Nếu ông nhận nói là phải thì như là người sờ đuôi voi. Nếu ông nhận nín là phải thì như người mù sờ tai voi. Nếu ông nhận chẳng nói chẳng nín là phải thì như người mù sờ vòi voi. Nói vật vật đều phải thì như người mù sờ nhằm bốn chân voi. Nếu bảo đều chẳng phải tức là ném bỏ con voi ấy, rơi vào không kiến. Chỗ thấy của các người mù kia chỉ ở nơi danh mạo sai biệt trên con voi… Lại nói: ›Ðạo vốn không hình tướng, trí huệ tức là đạo. Người có kiến giải này gọi là chân Bát-nhã.‹ Người có mắt sáng thấy được toàn thể con voi thì thật tính cũng như vậy.«
Quy Sơn Linh Hựu 潙山靈祐; C: guīshān língyòu; J: isan reiyū; 771-853;|Thiền sư Trung Quốc trứ danh, môn đệ của Bách Trượng Hoài Hải và thầy của Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Cùng với Ngưỡng Sơn, Sư khai sáng tông Quy Ngưỡng. Sư là vị Thiền sư nổi danh nhất trong thời đó và môn đệ của Sư trên dưới không dưới 1500. Sư có trứ tác Quy Sơn cảnh sách văn, được phổ biến rộng rãi trong giới Thiền cho đến ngày nay.|Sư họ Triệu, quê ở Trường Khê, Phúc Châu. Sư xuất gia năm mười lăm tuổi và chăm học kinh luật Ðại thừa, Tiểu thừa. Ban đầu, Sư đến núi Thiên Thai, chú tâm nghiên cứu các bài luận của hai vị Ðại luận sư Ấn Ðộ Vô Trước và Thế Thân với giáo lí Duy thức. Tương truyền Sư cũng có gặp hai dị nhân trong giới Thiền tại đây là Hàn Sơn và Thập Ðắc. Không rõ là những bài luận nói trên có gây ấn tượng nào trong Sư không, nhưng chỉ ba năm sau đó (khoảng 796), Sư rời Thiên Thai và quyết định tham học với một vị Thiền sư. Sư đến Giang Tây yết kiến Thiền sư Bách Trượng. Bách Trượng thấy Sư liền cho nhập hội, nơi đây Sư đứng hàng đầu.|Một lần, Bách Trượng hỏi Sư: »Ngươi đem được lửa đến chăng?« Sư thưa: »Ðem được.« Bách Trượng hỏi tiếp: »Lửa đâu?« Sư cầm một nhánh cây làm vẻ thổi lửa. Bách Trượng gạt qua và bảo: »Như sâu đục vỏ cây. Nhìn thì như chữ nhưng chẳng có nghĩa gì!« Hôm khác, Sư vừa đứng hầu, Bách Trượng liền hỏi: »Ai?« Sư thưa: »Con, Linh Hựu!« Bách Trượng bảo: »Ngươi vạch trong lò xem có lửa chăng?« Sư vạch ra thưa: »Không có lửa.« Bách Trượng đứng dậy, đến vạch sâu trong lò được chút lửa, đưa lên chỉ Sư bảo: »Ngươi bảo không, cái này là cái gì!« Sư nghe vậy hoát nhiên đại ngộ. Bách Trượng bảo: »Ðây là con đường rẽ tạm thời. Kinh nói ›Muốn thấy Phật tính phải quán thời tiết nhân duyên, thời tiết đã đến như mê chợt ngộ, như quên rồi nhớ lại, mới biết tĩnh vật của mình không từ bên ngoài được.‹ Cho nên Tổ sư bảo ›Ngộ rồi đồng chưa ngộ, không tâm cũng không pháp.‹ Chỉ là không tâm hư vọng phàm thánh. Xưa nay tâm pháp nguyên tự đầy đủ. Nay ngươi đã vậy, tự khéo gìn giữ.« Sư ở lại hầu Bách Trượng khoảng hai mươi năm rồi vâng lời thầy đến núi Quy khai sơn. Nơi đây thú dữ nhiều, Sư bảo chúng: »Nếu ta có duyên nơi đây thì các ngươi đi chỗ khác, còn không duyên thì cứ ăn thịt ta đi.« Sư nói xong, thú dữ đi hết. Dần dần chúng hay tin Sư ở đây rủ nhau đến tham học và thành lập một ngôi chùa, vua đặt tên là Ðồng Khánh. Sư bắt đầu hoằng hoá và cùng với Hoàng Bá Hi Vận, môn phong của Bách Trượng cao vút từ đây.|Có vị tăng hỏi: »Người được Ðốn ngộ có tu chăng?« Sư trả lời: »Nếu người khi thật ngộ được gốc thì họ tự biết, tu cùng không tu là lời nói hai đầu. Như nay có người sơ tâm tuy từ duyên được một niệm đốn ngộ chân lí nơi mình, nhưng vẫn còn Tập khí nhiều kiếp từ vô thuỷ chưa có thể chóng sạch, nên dạy hắn trút sạch dòng thức tạo nghiệp hiện tại, tức là tu vậy. Không có nói một pháp riêng dạy hắn tu hành thú hướng. Từ nghe nhập được lí nghe và lí sâu mầu, tâm tự tròn sáng không ở chỗ mê lầm, hiện thời dù có trăm ngàn diệu nghĩa thăng trầm, hắn vẫn được ngồi yên mặc áo, tự biết tạo sinh kế. Nói tóm lại ›Chỗ lí chân thật không nhận một mảy bụi, trong cửa muôn hạnh chẳng bỏ một pháp.‹ Nếu được như vậy là một mình cầm đao thẳng vào, lòng phàm thánh sạch, hiện bày chân thường, lí sự không hai, tức Phật như như.«|Sư thượng đường bảo chúng: »Sau khi Lão tăng trăm tuổi đến dưới núi làm con trâu, hông bên trái viết năm chữ ›Quy Sơn Tăng Linh Hựu.‹ Khi ấy gọi là Quy Sơn Tăng hay gọi là con trâu? Gọi là con trâu hay gọi là Quy Sơn Tăng? Gọi thế nào mới đúng?«|Ðời Ðường niên hiệu Ðại Trung năm thứ bảy (853), ngày mùng 9 tháng giêng, Sư tắm gội xong ngồi kết già viên tịch, thọ 83 tuổi, 64 tuổi hạ. Vua ban hiệu là Ðại Viên Thiền sư, tháp hiệu Thanh Tịnh. Những lời dạy của Sư còn được ghi lại trong Ðàm Châu Quy Sơn Linh Hựu Thiền sư ngữ lục.
Quy Tông Trí Thường 歸宗智常; C: guīzōng zhìcháng; J: kishū chijō; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ nối pháp của Thiền sư Mã Tổ Ðạo Nhất và là thầy của Thiền sư Cao An Ðại Ngu, người đã làm cho cho Lâm Tế ngộ được pháp của Hoàng Bá.|Sử sách không ghi rõ Sư quê quán ở đâu, chỉ biết rằng Sư đại ngộ nơi Mã Tổ và cùng rời Tổ với các vị Nam Tuyền, Trí Kiên… Sau, Sư trụ tại chùa Quy Tông ở Lô Sơn.|Sư dạy chúng: »Các bậc cổ đức từ trước không phải chẳng hiểu biết, các Ngài là bậc cao thượng chẳng đồng hạng thường. Người thời nay không thể tự thành tự lập, để tháng ngày qua suông. Các ngươi chớ lầm dụng tâm, không ai thế được ngươi, cũng không có chỗ ngươi dụng tâm. Chớ đến người khác tìm, từ trước chỉ nương người khác mà hiểu, nói ra đều kẹt, ánh sáng không thấy suốt, chỉ vì trước mắt có vật.«|Ðại Ngu đến từ biệt Sư. Sư hỏi đi đâu, Ðại Ngu trả lời: »Ði các nơi học Ngũ vị thiền.« Sư bảo: »Các nơi có Ngũ vị thiền, ta trong ấy chỉ có Nhất vị thiền.« Ðại Ngu hỏi: »Thế nào là Nhất vị thiền« Sư cầm gậy đánh, Ðại Ngu hoát nhiên đại ngộ, thưa: »Ngưng, con hội rồi.« Sư quát: »Nói! Nói!« Ðại Ngu vừa suy nghĩ trả lời Sư liền đánh đuổi ra. Ðại Ngu sau thuật lại lời này với Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Hoàng Bá thán phục, nói với chúng: »Mã Ðại sư sinh ra tám mươi bốn vị thiện tri thức, hỏi đến thì cả thảy đều chậm lụt, chỉ có Quy Tông là khá hơn một chút.«|Sư vào vườn hái rau, sẵn tay vẽ một vòng tròn quanh một bụi rau và bảo chúng: »Không được động đến cái này!« Tất cả chúng đều không dám động. Sau đó, Sư trở lại bụi rau, thấy bụi rau còn nguyên, Sư bèn cầm gậy đuổi chúng, bảo: »Cả bọn mà chẳng có một người trí huệ.«|Một vị quan tên Lí Bột đến hỏi: »Kinh sách nói ›Hạt cải để trong núi Tu-di‹, Bột không nghi, lại nói ›Núi Tu-di để trong hạt cỏ‹, phải là nói dối chăng?« Sư hỏi lại: »Người ta đồn Sử quân đọc hết muôn quyển sách phải chăng?« Lí Bột đáp: »Ðúng vậy«. Sư hỏi tiếp: »Rờ từ đầu đến chân bằng cây dừa lớn, muôn quyển sách dể chỗ nào?« Lí Bột nghe rồi lặng thinh.|Sư có một vị đệ tử – vị này sau nổi danh với tên Ðại Thiền Phật Trí Thông – với một cơ duyên giác ngộ rất kì đặc. Một đêm, Ðại Thiền la lớn: »Tôi đại ngộ rồi!« Chúng nghe như vậy đều giật mình. Sáng hôm sau, Sư hỏi: »Ðêm qua ai đại ngộ hãy bước ra?« Ðại Thiền bước ra, nói: »Chính con.« Sư hỏi: »Ông thấy đạo lí gì mà nói đại ngộ?« Ðại Thiền thưa: »Sư cô vốn là phụ nữ.« Sư im lặng chấp nhận.|Không biết Sư tịch năm nào. Sau khi tịch, Sư được sắc phong là Chí Chân Thiền sư.
Quy y 歸依; T: kyabdro; Quy y trong Phật giáo Tây Tạng.|Trong mỗi tông phái của Phật giáo Tây Tạng, lễ quy y rất quan trọng, là điều kiện tiên quyết của mọi tu học về Pháp (s: dharma). Quy y của Phật giáo Tây Tạng có khác biệt so với Quy y Tam bảo trong Tiểu thừa hoặc Ðại thừa. Ba đối tượng quy y thông thường là: 1. Phật, 2. Pháp (dharma), 3. Tăng (saṅgha). Trong Kim cương thừa được lưu hành tại Tây Tạng thì ngoài Tam bảo (Phật, Pháp, Tăng), còn thêm một đối tượng nữa là Lạt-ma, vị đạo sư. Trong một số trường phái, người ta có thể có đến sáu đối tượng quy y, tức là ngoài Tam bảo còn có thêm: 4. Lạt ma, 5. Hộ Thần (t: yidam) và 6. Không hành nữ (s: ḍākinī).|Tầm quan trọng của Phật như là đạo sư và Tăng là giáo hội do Ngài xây dựng lên để truyền bá giáo pháp đã được xác lập rất sớm và xem như nhãn quan Phật giáo. Với sự thành hình của Ðại thừa, tính chất quan trọng của đức Phật lịch sử giảm đi và thay vào đó là »Phật quả« có tính chất bao trùm, vượt thời gian. Ðến Kim cương thừa, thì vị đạo sư lại trở nên quan trọng, đó là vị hoá thân của »Phật quả«.|Trong giáo pháp Tan-tra, người ta luôn luôn nhấn mạnh tính chất quan trọng của đạo sư, là người giúp hành giả trong các phép tu khó khăn. Kim cương thừa xem vai trò của đạo sư như là đối tượng quy y thứ tư và quan điểm cho rằng vị đó là hiện thân của Tam bảo bắt nguồn trực tiếp từ các phép tu của trường phái này. Thời gian Kim cương thừa truyền qua Tây Tạng cũng là thời điểm người ta bắt đầu thiết lập việc quy y đạo sư. Tiểu sử của Na-rô-pa (t: nāropa) và Mật-lặc Nhật-ba (t: milarepa) còn ghi lại rất rõ điều này. Ngay cả A-đề-sa cũng nhấn mạnh đến việc quy y Lạt-ma và vị vậy ông được tặng danh hiệu »Quy y học giả« (kyabdro paṇḍita). |Trong các tông phái Tây Tạng, khi hành giả chuẩn bị thiền quán phải để ý đến phần quy y và phát Bồ-đề tâm. Tương truyền rằng Na-rô-pa quy y như sau: »Tâm ta là Phật hoàn toàn, Khẩu ta là Pháp hoàn toàn, Thân ta là Tăng hoàn toàn.«
Quyền 權; C: quán; J: gon; |1. Quyền lực, ảnh hưởng; 2. Phương tiện. Giáo lí tạm thời; 3. Quả cân trong cân đứng; 4. Cân, đo; 5. Ngang bằng, làm cho bằng nhau.
Quyền thật 權實; C: quán shí; J: gonjitsu; |»Phương tiện và chân thật«.
Quyền thật nhị trí 權實二智; C: quánshí èrzhì; J: gonjitsu nichi; |Hai loại trí huệ chư Phật vận dụng. Thật trí (實智), hàm ý nhận thức trực tiếp thực tại như chúng đang là; quyền trí (權智), dùng chân lí tương đối và phương tiện để dẫn dắt mọi người đến chân lí.
Quyền trí 權智; C: quánzhì; J: gonchi; |Trí phương tiện căn cứ trên chân lí tương đối, dùng để dẫn dắt chúng sinh đến Thật trí, căn cứ trên chân lí tuyệt đối. Tương đương với nghĩa »phương tiện«.
Quyết 決; C: jué; J: ketsu;|Quyết định, ấn định, phán đoán, đồng ý chọn, giải quyết, sắp đặt, xác định.
Quyết định 決定; C: juédìng; J: ketsujō;|1. Nhất thiết, tất nhiên. Kiên quyết, chắc chắn (s: bhūta-niścaya; nirvicikitsa, avaśyam); 2. Phán xét, giải quyết, xác định. Sự phán xét, sự giải quyết, sự xác định; 3. Bản tính tiên quyết (về phía thiện hay ác); 4. Các pháp thật sự hiện hữu.
Quyết định tâm 決定心; C: juédìngxīn; J: ketsujōshin;|1. Sự quyết tâm; sự cam kết bền vững; tâm không bối rối; 2. Hết sức quyết tâm đạt đến giác ngộ; 3. Theo Du-già sư địa luận thì đây là điều kiện để ổn định tư tưởng xảy ra qua tiến trình nhận thức là theo sau »Tầm cầu tâm« (尋求心).
Quyết định tín 決定信; C: juédìng xìn; J: ketsujōshin;|Niềm tin bền vững, đức tin kiên cố.
Quyết liễu 決了; C: juéliăo; J: ketsuryō;|1. Quyết định dứt khoát; 2. Hiểu rõ tường tận.
Quyết Ngưng 決凝; C: juéníng; J: ketsugyō; K: kyŏrŭng, 964-1053;|Học giả tông Hoa Nghiêm trong thời kì Cao Li (k: koryŏ).
Quyết trạch 決擇; C: juézé; J: ketchaku;|»Quyết định dứt khoát«, »Quyết định và chọn lựa«. 1. Cắt đứt sạch các nghi ngờ và thông suốt nội dung Tứ diệu đế tìm thấy trong Thánh đạo (聖道, s: viniścaya). Đạt được kết quả Tứ thiện căn (四善根); 2. Chọn lấy điều ưu tú nhất; 3. Rút ra một luận lí, một luận đề; Nói chung là sự thông đạt thực tại và hoá giải vô minh thông qua sự vận dụng trí huệ. Xem Quyết trạch phần (決擇分) và Thuận quyết trạch phần (順決擇分); Tên một phẩm trong Du-già sư địa luận (s: yogācārabhūmi-śāstra).
Quyết trạch phần 決擇分; C: juézéfēn; J: kechakubun;|Nguyên nhân của việc lựa chọn. Trí huệ vô lậu xuất sinh trong giai vị Kiến đạo, vận hành trong giai vị Tu đạo (修道) và ở quả vị Vô học (無學果). Xem Thuận quyết trạch phần (順決擇分).
Ra-ma-na Ma-ha-ri-shi S: ramana mahāṛṣi [mahārishi]; 1879-1950, »Ma-ha-ri-shi« là một danh hiệu, dịch nghĩa là Ðại Thấu Thị (大透視), một vị đã nhìn thấu suốt vạn sự;|Một trong những Bậc giác ngộ Ấn Ðộ vĩ đại nhất của thế kỉ này. Năm lên 17 tuổi, Sư tự ngộ được bản tính thanh tịnh – không có sự hướng dẫn của một vị thầy nào – và từ đó luôn luôn sống với sự trực nhận rằng, bản thể và tuyệt đối là một không hai. Sau nhiều năm ẩn cư, tịnh khẩu tại núi A-ru-na-cha-la (arunācala) miền Nam ấn, Sư chấm dứt sự im lặng và trả lời những câu hỏi của những người mộ Ðạo từ bốn phương.|Sư không theo một hệ thống tôn giáo, triết lí nào, chỉ an nhiên trả lời theo kinh nghiệm Bất nhị (s: advaita) đã tự ngộ nhập được. Sư chẳng lưu lại bút tích gì; »Giáo lí« của Sư chỉ là những buổi vấn đáp với những người tầm đạo, được các môn đệ ghi lại và những bài dạy, những bài kệ ngắn gọn. Phương pháp giảng dạy của Sư rất đơn giản: Không đi vòng quanh, rườm rà mà chỉ thẳng vào tự tính thanh tịnh và hướng dẫn người tham vấn trên con đường đến nơi ấy bằng cách tự vấn rằng, »Ta là ai?«|Hỏi: »Thưa Ngài, con là ai? Làm sao con đạt giải thoát?«. M.: »Bằng cách tự nghiên cứu liên tục ›Ta là ai?‹ Ông sẽ tự nhận ra chính mình và đạt giải thoát.«|Hỏi: »Con là ai?« M.: »Cái Chân ngã hoặc Tự tính không phải là thân này, cũng chẳng phải năm giác quan thông thường hoặc cơ quan hoạt động. Thần thức hoặc chân khí (s: prāṇa) không phải là nó, cũng như trạng thái ngủ say không mộng, khi người ta không còn nhận thức được gì.«|Hỏi: »Nếu con không phải là tất cả những gì nêu trên, vậy con là gì?« M.: »Nếu ông đã loại bỏ được tất cả chúng nó và có thể tự bảo rằng ›Chúng không phải là ta‹ thì cái duy nhất còn sót lại là Chân ngã và đó là Thức (s: vijñāna).«|Hỏi: »Ðặc tính của Thức này là gì?« M.: »Nó là ›Sat-Cit-Ānanda‹ [nghĩa là Chân lí – Nhận thức tuyệt đối – A-nan-đà]; trong đó, khái niệm tự ngã biệt tích, không còn một dấu vết. Nó được gọi là ›Tịch tịnh‹ (s: mouna) hoặc ›Ðại ngã‹ (s: ātman) hay Tự tính. Nó là cái duy nhất có thật. Nếu bộ ba ›Thế giới-Ngã-Thượng đế‹ còn được xem là ba thành phần cá biệt thì đó vẫn chỉ là Ảo ảnh (s: māyā).«|Các lời dạy của Sư được những người mộ đạo trên thế giới hâm mộ, quý trọng bởi vì chúng vượt qua mọi giới hạn tôn giáo thông thường, gây nguồn cảm hứng vô tận cho người đọc.|Sư sinh tại Ti-ru-chu-li (tiruculi), Ta-mil Na-đu (tamil nadu), miền Nam Ấn Ðộ, được cha mẹ đặt tên là Ven-ka-ta-rā-man – gọi tắt là Ra-ma-na. Năm lên 17, Sư bỗng dưng trực cảm được kinh nghiệm »chết« (Tử) và ngay lúc đó, Sư tự nhận được: »Thân của ta chết, nhưng Thức không bị vướng mắc bởi tử thần. Như vậy là: ›Ngã‹ chính là Thức bất tử. – Tất cả những kinh nghiệm này không phải là kết quả của tư duy: Chúng đến với ta như một sự thật mãnh liệt, một sự thật mà ta đã tự trực nhận, hầu như không dùng đến tư duy. ›Ngã‹ là một sự thật, là sự thật duy nhất của trạng thái bấy giờ. Tất cả những hoạt động tự giác liên quan đến thân của ta đều được dẫn vào cái ›Ngã‹ này. Từ giờ phút đó, cái ›Ngã‹ hoặc ›Tự tính‹ này đòi hỏi với một sức thu hút lạ kì sự chú tâm tuyệt đối của ta. Cái tâm sợ chết của ta đã bị tiêu huỷ hoàn toàn. Từ lúc này trở đi, ta hoàn toàn chìm lắng trong ›Tự tính.‹«|Sau kinh nghiệm này Sư chẳng còn chú tâm đến những việc thế tục và sau đó rời nhà để đến núi A-ru-na-cha-la, một ngọn núi mà Sư đã nghe qua danh. Nơi đây, Sư ban đầu ẩn cư trong một góc tối tăm tại một ngôi đình dưới chân A-ru-na-cha-la, sau đó trong nhiều hang động trên núi. Trong thời gian hoà nhập mình vào tự tính, Sư quên lãng chính mình, để côn trùng tuỳ tiện huỷ hại thân thể. Khi bà mẹ đến khuyên Sư trở về, Sư cũng không mở miệng nói gì, làm ra vẻ như không thấy sự hiện diện của bà. Khi các người hâm mộ xung quanh khẩn thiết yêu cầu Sư trả lời bà mẹ tuyệt vọng, Sư chỉ viết vài chữ trên giấy: »Ðịnh mệnh tương ưng với Nghiệp quả đang chín trong đời này (s: prārab-dha-karma). Sự việc nào không nên xảy ra, sẽ không xảy ra, dù mẹ muốn thế nào đi nữa. Việc nào nên xảy ra, nó sẽ xảy ra, cho dù mẹ muốn ngăn cản nó xảy ra thế nào đi nữa. Ðó là một sự việc chắc chắn. Hành động hay nhất là sự im lặng.«|Sau một thời gian, Sư phá vỡ bức tường im lặng, bắt đầu trả lời những người đang trên đường tìm về tự tính. Học chúng sau đến rất đông, trong đó có những học giả, triết gia, Du-già sư nổi danh như Yo-ga-nan-đa (s: yogānanda), P. Brunton và W. Y. Ewans-Wentz. Học chúng sau thành lập một Già-lam (s: āśrama) tại Ti-ru-van-nā-ma-lai ở chân núi A-ru-na-cha-la, và đây, vào năm 1950, Sư nhập Ðại định (s: mahāsamādhi). Trước khi nhập diệt, Sư bảo các môn đệ rằng: »Người ta bảo rằng, ta sẽ chết. Nhưng ta chẳng đi. Ta nên đi đâu? Ta ở đây!«
Ri-mê T: rime [ris-med]; nguyên nghĩa là »Bất thiên vị«;|Danh từ dùng để chỉ một phong trào trong Phật giáo Tây Tạng, bắt nguồn từ miền Ðông Tây Tạng trong thế kỉ 19. Mục đích chính của phong trào này là phá vỡ những thành kiến, sự chê bai, tranh chấp lí luận giữa những các tông phái và chấp nhận sự độc lập, sắc thái riêng biệt của chúng. Phong trào này được một Lạt-ma dòng Tát-ca (t: sakya-pa) là Jam-yang Khyen-tse Wang-po (1820-1892) khai sáng. Hai môn đệ kế thừa quan trọng nhất của Sư là Chog-yur De-chen Ling-pa (1829-1870) và Jam-gon Kong-trul (1811-1899). Tư tưởng Ri-mê được biểu lộ rõ nhất trong các tác phẩm của Lạt-ma Jam-gon Kong-trul và vẫn còn sống động trong các tông Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và Ninh-mã (t: nyingmapa).
Rin-chen Sang-po T: rinchen sangpo [rin-chen bzaṅ-po]; 958-1055, dịch âm Hán Việt là Lâm-thân Tăng-pha;|Một trong những tăng sĩ quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng, đã bắt đầu truyền giáo từ miền Tây của nước này. Sư là người xây dựng khoảng 108 ngôi chùa, trong đó có chùa To-ling nổi tiếng. Các tác phẩm thuộc giáo pháp Tan-tra (Mật tông Ấn Ðộ) được Sư dịch ra và khác với các bản dịch của giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa). Người ta còn nhắc lại truyền thuyết cuộc gặp giữa Sư và A-đề-sa (s: atīśa), cuối cùng Sư chấp nhận A-đề-sa làm thầy.
Sa-bà thế giới 娑婆世界; S: sahalokadhātu; T: mi-jied ‘jig-rten-gyi khams; cũng được gọi là Sa-ha, Ta-bà thế giới, cũng được dịch nghĩa là Nhẫn độ (忍土), Kham nhẫn thế giới (堪忍世界);|Là cõi của con người, chịu nhiều khổ đau nên phải kham nhẫn tu học để đạt chính quả.
Sa-di 沙彌; C: shāmí; J: shami; S: śrāmaṇera; P: sā-maṇera;|Là tiểu tăng, tiểu sa-môn, chú tiểu, dịch nghĩa mới là Cần sách (勤策). Chỉ tăng hoặc ni mới gia nhập Tăng-già và thụ mười Giới (s: śīla). Một nữ sa-di được gọi là Sa-di-ni (s: śrāmaṇerikā; p: sāmaṇerikā) hoặc Nữ cần sách. Phần lớn các sa-di còn là trẻ con, nhưng ít nhất bảy tuổi mới được thu nhận. La-hầu-la, con trai đức Phật là sa-di nổi tiếng nhất, gia nhập Tăng-già từ lúc bảy tuổi.|Thông thường sa-di được Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni hướng dẫn tu học và đến một tuổi nhất định, sau một cuộc khảo hạch, thụ giới cụ túc sẽ trở thành tỉ-khâu hoặc tỉ-khâu-ni.
Sa-ka-ra S: sakara; »Liên Hoa tử«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 9.|Nhà vua In-đra-bu-ti (s: indrabhūti) đã lâu chưa có con. Ngày nọ hoàng hậu mơ thấy điềm lành, chín tháng sau bà sinh một hoàng tử, đặt tên là Sa-ka-ra (nghĩa là người sinh ra giữa hồ nước, trong một hoa sen, vì vậy cũng được gọi là Liên Hoa đồng tử; s: sarohura kumāra). Sau đó hoàng hậu sinh thêm một con trai nữa. Về sau khi vua băng hà, Sa-ka-ra không nối ngôi, nhường ngôi cho em và trở thành một Sa-môn, lên đường đi Ðăng-da Ka-ta-ka (śrī dhānyakaṭaka). Giữa đường, Sa-ka-ra gặp hoá thân của Bồ Tát Quán Thế Âm. Ngài dùng thần lực cho ông thấy Man-đa-la của Hộ Thần Hô Kim cương (s: hevajra). Sau khi Quán đỉnh cho ông, Quán Thế Âm biến mất.|Ông bắt đầu tu tập Nghi quỹ (s: sādhana) được giao phó. Trong thời gian đó có một người tên Ra-ma (s: rāma) đến xin hầu hạ ông và Sa-ka-ra hứa lúc đạt đạo sẽ giáo hoá cho người đó. Trong lúc đó thì nạn đói xảy ra, khắp nơi người ta chết rất nhiều. Thế nhưng Ra-ma không hề nói cho thầy biết, sợ thầy mất tập trung thiền định. Ra-ma hầu hạ đầy đủ và chỉ ăn đồ dư thừa của thầy. Ngày nọ Ra-ma đói quá ngã gục, Sa-ka-ra hỏi ra mới biết nạn đói đang hoành hành. Ông đem gạo cúng dường, thi triển thần thông gọi Long vương lên và ra lệnh trong vòng vài ngày phải có mưa, mưa lương thực, mưa gạo cơm, mưa vàng ngọc. Long vương nghe lời làm theo, dân chúng bớt khổ. Sau đó Sa-ka-ra giáo hoá cho Rā-ma và vị này cũng đạt thần thông đáng kể. Chứng đạo ca của Sa-ka-ra như sau:|Long vương Ba-sū-ka,|cho mưa cứu dân lành.|Chỉ trong cõi Chân như,|rồng chúa chịu nghe lời.|Rồng là vua tri kiến,|của Bí mật tan-tra,|sẵn lòng làm mưa trí,|cho chư vị tăng ni.
Sa-môn 沙門; C: shāmén; J: shamon; S: śramaṇa; P: samaṇa;|Phiên âm chữ śramaṇa từ tiếng Phạn và chữ samaṇa từ tiếng Pali. Hán dịch là Tức (息), Tức tâm (息心), Tịnh chí (淨志), Tĩnh chí (靜志), Phạp đạo (乏道), Bần đạo (貧道), Cần tức (動息), v.v… Là người tu đạo từ bỏ cuộc sống thế tục, nỗ lực tìm cầu giải thoát. Để gọi một Tăng sĩ hay Ni cô.|1. Đầu tiên ở Ấn Độ, chữ śramaṇa để chỉ cho những ai cạo bỏ râu tóc, từ bỏ cuộc sống và của cải thế gian, hướng tâm ý nỗ lực đình chỉ việc ác, siêng năng làm việc thiện. Nguyên chỉ cho những tu sĩ ngoài Phật giáo như Kì-na giáo, đặt niềm tin vào tín ngưỡng Vệ-đà (s: veda) và Áo nghĩa thư (s: upaniṣad). |2. Tăng sĩ hay Ni cô Phật giáo.
Sa-môn quả 沙門果; C: shāménguŏ; J: shamonka; |1. Kết quả của sự tu tập. Công đức khi xuất gia; 2. Thành tựu rốt ráo của công phu tu đạo – niết-bàn; 3. Tứ quả trong pháp tu của hàng Tiểu thừa.
Sa-mu-đra S: samudra; »Người mò ngọc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, đệ tử của A-chin-ta (s: aciṅtapa), có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9, 10.|Ông sống tại Sạc-va-ti-ra (sarvaṭira), làm nghề thợ lặn mò ngọc trai. Lần nọ, không mò được ngọc, ông buồn bã đến bãi thiêu xác, ngồi rầu rỉ. Lúc đó A-chin-ta đi qua, hỏi han ông. Ông bỗng tỏ lòng kính trọng, cầu khẩn xin được học pháp. A-chin-ta cho ông nhập môn, giảng về Bốn tâm vô lượng (Bốn phạm trú) và bốn tâm hỉ lạc:|Hãy biết cách thay thế,|tám bận tâm thế gian,|bằng tâm Từ tâm Bi,|bằng tâm Hỉ tâm Xả.|Rồi hãy quán tưởng rằng,|trong chứng thật hoàn toàn,|một luồng lạc thụ lớn,|chảy vào đỉnh đầu ngươi.|Bốn tâm hỉ lạc lớn,|nằm trong bốn trung tâm,|phát sinh Không và Lạc,|Không-Lạc không rời nhau.|Khi lạc thụ ra đời,|Khổ tự nhiên biến mất.|Người thợ lặn nghe lời, chuyên tâm thiền định. Sau ba năm, ông đạt quả Tất-địa (s: siddhi). Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Ngộ được lí vô sinh,|không thực hành thiền định,|ví kẻ ăn thịt người,|trên tay bồng trẻ nhỏ.|Mà không hành thiền định,|tách rời xa Tự tính,|ví như thớt voi mạnh,|bị lún sâu trong bùn.
Sa-ra-ha S: saraha; »Ðại Bà-la-môn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) nổi tiếng của 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 8, 9. Ông được nhiều Ðạo sư Phật giáo hướng dẫn cách tu tập Tan-tra.|Ông là người thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Ban ngày ông hành nghề Du-già sư theo truyền thống Ấn Ðộ, nhưng ban đêm ông âm thầm tu tập Mật giáo và thỉnh thoảng uống rượu. Các vị đồng giới Bà-la-môn xin vua trục xuất ông vì tật uống rượu nhưng ông thi triển thần thông đến nỗi vua phải bái phục. Sau một thời gian, ông lấy một cô gái trẻ tuổi làm vợ và cả hai rút vào rừng sâu tu tập.|Câu chuyện nổi tiếng nhất về Sa-ra-ha là ông bảo vợ nấu món cà-ri củ cải rồi sau đó ngồi thiền định suốt 12 năm. Ðến khi xả thiền, ông hỏi về món ăn đó. Bà vợ, trong thời gian qua đã đắc đạo, khuyên ông »Ðộc cư không phải là sống một mình. Cách sống đơn độc hay nhất là thoát khỏi thành kiến, thoát khỏi một tâm thức chật hẹp, cái suy nghĩ hạn chế. Nếu ông xuất định sau mười hai năm mà vẫn còn đòi ăn cà-ri củ cải thì vào núi tu tập còn ý nghĩa gì!« Ông nhân đây tỉnh ngộ và làm bài kệ sau:||H 48: Sa-ra-ha đang ngắm cái nhất thể trong đa dạng.|Hỡi bạn, đừng dại quên,|cái Tuyệt đối có sẵn|Ðừng tìm cầu gì khác,|ngoài đôi môi Ðạo sư|Hãy nhận hiểu lời ông,|về Tự tính sâu thẳm,|và tâm thì bất tử,|thân không hề già yếu.
Sa-va-ri-pa S: śavaripa; »Thợ săn«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là đệ tử của Sa-ra-ha và Long Thụ, sống khoảng cuối thế kỉ thứ 8, đầu thứ 9.|Là thợ săn, Sa-va-ri-pa chuyên giết hại thú vật. Bồ Tát Quán Thế Âm thương hại ông, hiện hình thành thợ săn. Sa-va-ri-pa gặp vị Bồ Tát hỏi: »Ông là ai?« »Một người thợ săn như ông«, Quán Thế Âm trả lời. Sa-va-ri-pa, rất hãnh diện với tài bắn cung của mình, hỏi: »Ông bắn một mũi trúng bao nhiêu con?« »Ba trăm con«, câu trả lời của Quán Thế Âm. Sa-va-ri-pa cười to nói: »Tôi cũng muốn xem ông bắn ra sao!«|Sáng hôm sau, hai người gặp một bầy nai và với một mũi tên, Quán Thế Âm hạ được cả bầy nai. Ngài bảo Sa-va-ri-pa đến khuân một con về nhưng vì phép mầu, con nai nặng ngàn cân, ông nhấc lên không nổi. Tính kiêu mạn bất chợt tan biến và ông quì xin chỉ dạy. Quán Thế Âm buộc ông một tháng không được ăn thịt và giết hại. Tháng sau Quán Thế Âm xuất hiện và vẽ Mạn-đa-la cho ông và vợ thấy chính mình trong cảnh địa ngục đau khổ. Ông sợ hãi, xin theo học Phật pháp. Sau mười hai năm quán lòng từ bi, ông đạt thánh quả và tình nguyện ở lại thế gian cho đến khi Phật Di-lặc ra đời. Chứng đạo kệ của ông như sau:||H 49: Sa-va-ri-pa (śavaripa) đang nhận thức sự Tuyệt đối|Trong rừng sâu vô minh,|con nai đang dẫy dụa,|tên của nó: Tha hoá.|Ta là người thợ săn,|dương cây cung tri kiến|của phương tiện khéo léo,|lắp vào đó mũi tên,|của Thật tại cuối cùng:|con nai bị hạ gục|Tư duy đã rãy chết!|Ta dọn bạn bữa tiệc,|linh đình phi nhị nguyên.|Ướp đầy đủ hương vị|của lạc thú thanh tịnh,|Bạn đạt cái tuyệt vời|của phép Ðại thủ ấn!|*Xem thêm câu chuyện rất giống như trên của Thiền sư Thạch Củng Huệ Tạng.
Sắc 色; S, P: rūpa;|Ngũ uẩn
Sắc giới 色界; S, P: rūpadhātu, rūpaloka;|Ba thế giới
Sắc tu Bách Trượng thanh quy 敕修百丈清規; C: chìxiū bózhàng qīngguī; J: rokushu hyakujō shōki;|Sách, 1 quyển, tên gọi tắt là Bách Trượng thanh quy (百丈清規).
Sạc-va Bắc-sa S: sarvabhakṣa; »Kẻ háo ăn«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ là đệ tử của Sa-ra-ha, sống trong khoảng cuối thế kỉ thứ 8, đầu thứ 9.|Ông là thần dân của vua Siṅgha-can-dra nước A-bi-ra (ābhira). Ông tham ăn, có cái bụng to như cái trống, cái gì cũng ăn được cả. Ngày nọ không kiếm ra gì để ăn, ông bị vào trong một hang động ngồi thở dốc. Ðạo sư Sa-ra-ha gặp ông hỏi han. Ông thú nhận nếu không ăn thì bụng như bị lửa đốt, cồn cào chịu không nổi. Sa-ra-ha nói nếu chút đói bụng mà không chịu được thì mai sau thành Ngạ quỷ sẽ như thế nào. Nghe xong, ông toát mồ hôi, cầu xin tu tập để thoát khổ đó. Sa-ra-ha cho ông nhập môn và dạy ông phép tu của »Kẻ lười biếng« (s: bhusuku) Tịch Thiên (s: śāntideva) như sau:|Hãy tưởng tượng ra rằng,|bụng: bầu trời trống rỗng,|lửa: hoả tai kiếp nạn;|mọi hiện tượng trên đời,|là thức ăn thức uống,|và ăn hết vũ trụ.|Ông tinh cần tu tập, ăn mặt trời mặt trăng, nuốt luôn núi Tu-di. Lúc đó loài người bị mất ánh sáng mặt trời mặt trăng, họ kêu gào sợ hãi. Các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) phải đến cầu cứu Sa-ra-ha. Sa-ra-ha dạy tiếp cho ông, hãy quán tưởng những gì nhai nuốt vào bụng là tính Không. Ông lại đạt tri kiến hiện tượng và tính Không là một, lúc đó mặt trời mặt trăng lại hiện, mọi người hò reo. Sau 15 năm, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Chứng đạo ca của ông như sau:|Vô minh, nhiều mùi vị,|Ðắc đạo, chỉ một thứ.|Ðối với kẻ phàm phu:|còn Niết-bàn, Sinh tử.|Khi đã chứng đắc rồi,|Một thanh tịnh duy nhất.
Sam-ba-la S: śambhala;|Tên của một xứ huyền bí, tương truyền ở Bắc Ấn. Xứ này được xem là gốc của giáo pháp Thời luân (s: kālacakra), đóng một vai trò quan trọng trong Phật giáo Tây Tạng. Tương truyền rằng, lúc nhân loại đứng trước hoạ nạn diệt vong thì các nhân vật của xứ này lại xuất hiện để trợ cứu nhân loại.|Vị trí xứ này là một nghi vấn, được xem nằm từ Trung á đến Bắc cực. Thật sự thì vị trí không hề quan trọng, mà người ta cho rằng xứ này có một »giá trị tinh thần« đặc biệt. Truyền thuyết Tây Tạng xem Sam-ba-la là trú xứ bí ẩn, chỉ xuất hiện trong thời đại hoạ. Tương truyền rằng Thời luân giáo sẽ được 25 vị chân truyền. Vị cuối cùng sẽ xuất hiện trong thời hoàng kim, lúc đó mọi thế lực đen tối sẽ được đối trị. Người ta cho rằng đó cũng là thời kì Gê-sar và thời kì Di-lặc hạ sinh. Vị Ban-thiền Lạt-ma thứ ba viết một tác phẩm nổi danh về con đường dẫn đến Sam-ba-la. Huyền thoại về xứ này cũng được phương Tây biết đến.
Sâm la 森羅; C: sēn luó; J: sinra; |Nhiều vật xếp vào nhau dày đặc hoặc liên tiếp chen nhau. Tiếp diễn không giới hạn.
Sâm la vạn tượng 森羅萬像; C: sēnluó wànxiàng; J: sinraban-shō; |Vô số hiện tượng đang hiện hữu.
San định kí 刊定記; C: kāndìng jì; J: kanjō ki;|Tên gọi tắt của tác phẩm Tục Hoa Nghiêm kinh lược sớ san định kí (續華嚴經略疏刊定記).
San-ti-pa S: śāntipa; »Nhà truyền giáo tự phụ«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 11, được xem là một trong những Ðạo sư của A-đề-sa. |Sư là nhà thông thái nổi danh của viện Phật học danh tiếng Siêu Giới (s: vikramaśīla) được nhà vua Tích Lan cho mời đến giảng dạy. Trên đường về lại Ấn Ðộ, Sư gặp một nông dân tên Kô-ta-li-pa (s: koṭālipa), khuyên người này nên biết »gieo trồng hạt giống của tâm thức.« Về sau, khi Sư bị bệnh gần như mù loà thì Kô-ta-li-pa đã đạt thánh quả, đến thăm thầy cũ. Sư tự nhận với đệ tử là mình ham giảng giải lí luận, xao lãng thiền định, và vì thế không đạt yếu chỉ. Kô-ta-li-pa bèn dạy lại cho thầy. Sau đó San-ti-pa đắc đạo. Cuộc đời của San-ti-pa là một bài học cho những ai quá tin vào khả năng luận lí, quá tin vào lí trí. Thành đạo ca của San-ti-pa như sau:|Như một đứa trẻ thơ,|nhờ bà mẹ nuôi nấng,|lớn thành người khỏe mạnh,|thì tâm thức non nớt,|nhờ Ðạo sư dạy dỗ,|mà vào được Ðại thừa.|Bệnh tật có thuốc men,|bệnh do »tôi«, »của tôi«,|được Ðạo sư khai thị,|chữa lành ngay tức thì.
Sar-nath S: sārnāth; viết tắt của chữ Sāraṅganātha, có nghĩa là »Chúa tể loài thú vật«;|Tên bây giờ của Tiên uyển (p: isipatana; s: ṛṣipatana), nơi Phật Thích-ca chuyển Pháp luân lần đầu. Ðây là một khu vườn tĩnh mịch, cách thành phố Be-na-res (benares) khoảng 8 km.
Sát 刹; C: chà; J: setsu;|1. Thế giới, đất nước, cõi (s: kṣetra); 2. Một cây cột dựng thẳng trước một Phật điện, cho biết đây là một tự viện, một ngôi chùa, và vì vậy, cũng có nghĩa là một ngôi chùa; 3. Một lối viết tắt của Sát-đế-lợi (刹帝利; s: kṣatriya), một giai cấp xã hội bao gồm vua chúa và quân binh; 4. Một ngôi chùa, một bảo tháp.
Sát-lợi 刹利; C: chàlì; J: setsuri;|Cách phiên âm của chữ Phạn kṣatriya (Sát-đế-lợi 刹帝利), một giai cấp xã hội bao gồm vua chúa và quân binh tại Ấn Độ thời cổ.
Sát-na 剎那; C: chànà; J: setsuna; S: kṣaṇa;|Một khoảng thời gian rất ngắn, một đơn vị thời gian của một niệm, một ý nghĩ.
Sát-na diệt 刹那滅; C: chànà miè; J: setsunametsu;|Tính chất khoảnh khắc. Một trong sáu tính chất của A-lại-da thức (Chủng tử lục nghĩa 種子六義).
Sát-na sát-na 刹那刹那; C: chànàchànà; J: setsunasetsu-na;|Mỗi khoảnh khắc, từng khoảnh khắc một (theo Du-già luận 瑜伽論).
Sáu nẻo luân hồi Lục đạo
Sáu thắng trí S: ṣaḍabhijñā; P: saḷabhiññā;|Lục thông
Sáu xứ S: ṣaḍāyatana; P: saḷāyatana;|Lục xứ
Sen S: padma; L: nelumbo nucifera; Hán Việt: Liên hoa (蓮花);|Sen có một vị trí quan trọng trong đạo Phật. Sen tuy mọc trong bùn (tượng trưng cho Luân hồi và sự Ô nhiễm), nhưng vẫn hoa vẫn thơm tho trong sạch (tượng trưng cho thể tính của con người), nhờ đạt Giác ngộ (s, p: bodhi) mà có. Hoa sen hay được vẽ trong tranh tượng làm toà sen của đức Phật (Phật toạ). Hoa sen cũng tượng trưng cho đức Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara). Trong Tịnh độ tông, hoa sen là biểu tượng của giáo pháp.
Si 癡 (痴); S, P: moha;|Si ở đây có nghĩa là đặt niềm tin vào một cái gì nghịch lí, không thể có (Lông rùa sừng thỏ). Trong đạo Phật, si được sử dụng tương tự như biểu đạt Vô minh, không nhận được chân tính hoặc Phật tính nằm trong các Pháp – nói tóm lại là không biết ý nghĩa của cuộc sống.|Theo quan niệm của đạo Phật thì con người bị sáu Thức – năm giác quan thông thường và thêm vào đó là ý thức (tri thức), thức biết phân biệt – làm mê hoặc, si mê. Một tâm trạng vướng mắc vào sáu thức nêu trên dẫn dắt con người đi vào cõi mê bởi vì chúng thúc đẩy, tạo điều kiện làm cho con người dễ tin rằng, thế giới hiện hữu là sự thật tuyệt đối, mặc dù nó chỉ là một khía cạnh, một khía cạnh rất hạn chế của sự thật.|Quan niệm rằng, thế giới nằm ngoài Tâm cũng là một quan niệm cuồng si, bởi vì thế giới chính là sự phản chiếu của tâm, là những biến chuyển của tâm thức (thức biến). Như vậy không có nghĩa là thế giới hiện hữu hoàn toàn không có. Nếu các vị Ðại sư trong Phật giáo bảo rằng, các pháp hiện hữu đều không có thật thì người ta nên hiểu rằng, chư vị nói như thế để phá tà kiến, niềm tin của một phàm phu vào một thế giới nằm ngoài tâm, thế giới khách thể, cho rằng nó chính là sự thật. Mục đích của đạo Phật là tiêu diệt si mê qua kinh nghiệm Giác ngộ và trong tất cả các trường phái thì Thiền tông nổi bật lên với quan niệm Kiến tính thành Phật, trực nhận chân lí.|Theo giáo lí tối thượng của Phật giáo như Thiền, Ðại thủ ấn, Ðại cứu kính, giác ngộ và si mê, thế giới hiện hữu và sự thật tuyệt đối, sắc và Không (s: śūnyatā), Luân hồi (s: saṃsāra) và Niết-bàn (s: nirvāṇa) là một, không hai. Ðể đạt đến sự nhận thức này, người ta cũng có thể dùng phương pháp biện chứng, suy luận phân tích – như nhiều trường phái Phật giáo khác. Nhưng Thiền tông lại cho rằng, cái thức phân biệt – vốn đã bị một màn si mê bao phủ, dẫn dắt con người đến bể khổ trầm luân – chỉ có thể vượt qua bằng kinh nghiệm giác ngộ trực tiếp, như »người uống nước biết mùi vị như thế nào«.
Si-da-li-pa S: śyalipa; »Du-già sư dã can«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào.|Ông là người làm thuê, ở gần một bãi đốt xác. Mỗi đêm ông sợ nghe tiếng chó hoang tru tréo. Nhân dịp gặp một Du-già sư, ông tiếp đãi nồng hậu và cầu xin cách đối trị nỗi sợ. Vị Du-già sư dạy ông cách dĩ độc trị độc, khuyên ông quán tưởng mọi âm thanh trên thế gian đều là tiếng chó hoang và sống ngay giữa bầy chó hoang trên bãi xác chết. Sau chín năm thiền định, ông lĩnh hội được sự đồng thể của âm thanh và tính Không. Ông đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa, luôn luôn mang trên vai một tấm lông chó. Chứng đạo ca của ông như sau:|Hoạ sĩ vẽ sắc hình,|Nhìn qua đã kinh hoàng.|Hãy nhìn kĩ lại đi,|gạt qua lòng sợ hãi,|chúng chỉ là hình vẽ,|vô thật, là phản chiếu,|ngoài ra không gì cả.
Sinh tử 生死|Luân hồi, Vòng sinh tử
Sơ 初; C: chū; J: sho;|Có các nghĩa sau: 1. Sự bắt đầu, ban đầu, sự khai mạc, lúc đầu, sự khởi đầu (s: adaya, adi); 2. Sự phát khởi niềm tin ban đầu; 3. Giai vị đầu tiên trong Thập trú (Phát tâm trú).
Sơ chuyển pháp luân 初轉法輪; C: chūzhuănfǎlún; J: shotenbō-rin;|Chuyển pháp luân lần đầu. Lần giảng pháp đầu tiên của Phật Thích-ca Mâu-ni.
Sơ địa 初地; C: chūdì; J: shoji;|Giai vị đầu tiên trong Thập địa.
Sơ duyên 初縁; C: chūyuàn; J: shoen;|Có hai nghĩa: 1. Duyên đầu tiên; 2. Duyên gần nhất (s: samanantara-pratyaya).
Sơ học 初學; C: chūxué; J: shogaku;|Mới bắt đầu tu học. Người mới học.
Sơ khởi 初起; C: chūqǐ; J: shoki;|Sự sinh khởi đầu tiên của các pháp; khởi đầu sự vận hành của các pháp; sự hoạt hoá, khởi đầu (theo Đối pháp luận 對法論).
Sơ nhị quả 初二果; C: chūèrguǒ; J: shonika;|Hai quả vị đầu trong 4 quả vị của Tiểu thừa: Tu-đà-hoàn (Dự lưu) và Tư-đà-hàm. Tứ hướng tứ quả (四向四果).
Sơ thiền 初禪; C: chūchán; J: shozen;|Sơ thiền định (初禪定).
Sơ thiền định 初禪定; C: chū chándìng; J: sho zenjō;|Trạng thái đầu tiên trong Tứ thiền định (四禪定).
Sơ tĩnh lự 初靜慮; C: chūjìnglǜ; J: shojōryo;|Sơ thiền. Sơ thiền định (初禪定).
Sơ Tri 初知; C: chūzhī; J: shochi;|»Biết trước tiên«. Tiếng Hán dịch tên của Ājñāta-kaundinya từ tiếng Phạn. A-nhã Kiêu-trần-như (阿若憍陳如).
Sơ tu quán Bồ Tát 初修觀菩薩; C: chūxiūguān púsà; J: sho-shukan bosatsu;|Bồ Tát vừa mới phát tâm (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Soạn tập bách duyên kinh 撰集百緣經; S: śatāvadāna;|Tập truyện kể vừa có khuynh hướng Tiểu thừa vừa Ðại thừa, chuyên nói về các vị Bồ Tát. Bộ truyện này xuất phát từ thế kỉ thứ 2, kể lại các câu chuyện tiền thân các thánh nhân và nhấn mạnh tính chất quan trọng của Nghiệp.
Sử 使; C: shǐ; J: shi.|1. Phiền não, nhiễm ô, ưu phiền, sai khiến; vì sự sai sứ »khiến« cho con người làm đủ mọi việc; 2. Phiền não tiềm ẩn (= tùy miên 隨眠); 3. Theo luận Thập địa Tì-bà-sa (十地毘婆娑論), Sử được nhìn nhận như những Căn bản phiền não (根本煩惱), phân biệt với Cấu, được xem như là Tùy phiền não (隨煩惱); 4. Là 98 sử (九十八使); 5. Nếu, giả sử.
Sự 事; C: shì; J: ji;|1. Một sự việc, một công việc. Hiện tượng hiển nhiên (s: vastu); cụ thể; 2. Hiện tượng cá biệt, cá biệt, sai biệt; 3. Công năng, chức năng, hoạt động, chuyển động (s: kriyā); 4. Vật, đối tượng, thể chất (s: dravya); 5. Cõi, giới, trạng thái, môi trường, bối cảnh; 6. Theo giáo lí Hoa Nghiêm, Sự là một trong Tứ pháp giới, là pháp giới của những hiện tượng cá biệt, được nhắc trong mối tương phản với Lí pháp giới, cõi vô phân biệt.
Sự chướng 事障; C: shìzhàng; J: jishou;|»Chướng ngại của thế giới hiện tượng«. Cùng với Lí chướng (理障) – theo kinh Viên Giác –, chúng trì hoãn quá trình đạt giác ngộ. Sự chướng bao gồm những tâm trạng mê muội của chúng sinh như yêu ghét, và tất cả những cảm giác tham ái cũng như đau khổ khác có liên quan đến chúng, nguyên nhân trói buộc chúng sinh vào vòng sinh tử. Vì thế nên Sự chướng này tương đương với Phiền não chướng (煩惱障) trong học thuyết của trường phái Duy thức. So với Lí chướng thì Sự chướng tương đối nhỏ nhặt, và vì vậy, có thể được khắc phục bằng những phương pháp tu tập của hàng Nhị thừa (二乘; theo Viên Giác kinh 圓覺經)
Sự cứu cánh 事究竟; C: shìjiùjìng; J: jikukyō;|Cái tối hậu, cái tuyệt đối trong thế giới hiện tượng. Một cách dịch ý chữ Phạn pāramitā (Ba-la-mật 波羅密; theo Chính pháp hoa kinh 正法華經)
Sự nghiệp 事業; C: shìyè; J: jigyō;|1. Việc làm, hành động, chức năng, hoạt động (s: karman, prakriyā); 2. Những gì nên được làm; 3. Những hoạt động, hành dộng có liên hệ đến cuộc sống của người ta.
Sự pháp 事法; C: shìfǎ; J: jihō;|Những hiện tượng riêng biệt.
Sự sư pháp ngũ thập tụng 事師法五十頌; C: shìshī fǎ wǔshí sòng; J: jishi hō gojū ju; S: gurupañcāśikā; T: bla ma lnga bcu pa;|Một tác phẩm được xem là của Bồ Tát Mã Minh (馬鳴菩薩; s: aśvaghoṣa), được Nhật Xứng (日稱) và một số người khác dịch sang Hán văn. Một luận văn hướng dẫn ngắn gọn tìm một bậc chân sư như thế nào, và khi đã có một mối liên hệ thầy trò rồi sử sự như thế nào mới đúng. Luận tụng này có mối liên hệ rõ ràng với hệ thống thực hành mật giáo Vô thượng du-già (無上瑜伽; s: anuttarayoga-tantra).
Sư Tử Bồ-đề 獅子菩提; S: siṃhabodhi;|Tổ thứ 24 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Su-zu-ki, Dai-set-su 鈴木大拙; J: suzuki, daisetsu [daisetz]; 1870-1966; dịch nghĩa Hán Việt là Linh Mộc Ðại Chuyết;|Một học giả lừng danh người Nhật, người đã góp công rất nhiều trong việc truyền bá Thiền tông sang Tây phương. Ông viết rất nhiền sách về thiền và nổi danh nhất có lẽ là bộ Thiền luận (Essays in Zen-Buddhism), gồm ba quyển. Ngoài ra, ông còn viết những tác phẩm quan trọng như Nghiên cứu kinh Lăng-già (Studies in the Laṅkāvatāra-Sūtra), Thiền và phân tâm học (Zen-Buddhism and Psychoanalysis).|Ông sinh trong một gia đình Hiệp sĩ (j: samurai), trong một thời kì Nhật bắt đầu tiếp xúc với nền văn hoá Tây phương. Mất cha sớm, ông sống cực khổ và chính cái khổ này đã thúc đẩy ông học hỏi nhiều để được dạy trong một trường phổ thông kiếm tiền nuôi mẹ.|Sau khi mẹ qua đời, ông đến Ðông Kinh (tōkyō), sau lại đến Liêm Thương (kamakura) tu học với một vị Thiền sư danh tiếng đương thời là Thích Tông Diễn (j: shaku sōen; cũng được gọi là Hồng Nhạc Tông Diễn; j: kōgaku sōen) tại Thiền viện Viên Giác (engaku-ji). Tông Diễn sớm nhận ra tài năng của ông và cho phép đi cùng đến tham dự Hội nghị tôn giáo thế giới (World’s Parliament of Religions) tại Chicago, Mĩ năm 1893. Tại hội nghị này, người Tây phương lần đầu tiên nghe được chút đỉnh về danh từ »Thiền«. Sau hội nghị này, ông ở lại Mĩ hơn mười năm để nghiên cứu, phiên dịch các tác phẩm triết học Ðông phương sang Anh ngữ, với sự giúp đỡ của Eduard Hegeler, một nhà triệu phú kiêm xuất bản, người gốc CHLB Ðức (Bremen). Trong thời gian này, ông bắt đầu học Phạn ngữ và hoàn tất tác phẩm quan trọng đầu tiên là Nghiên cứu về Ðại thừa Phật giáo (Studies in Mahāyāna-Buddhism). Hegeler cũng gửi ông sang Paris để sao lại những tác phẩm quý giá được lưu trữ tại đây. Trước khi về Nhật, ông còn sang Anh và nơi đây phiên dịch các tác phẩm của Swedenborg sang Nhật ngữ.|Năm 1908, ông trở về Nhật và 1910, lại trở lại châu Âu. Ông lập gia đình với Beatrice Lane (1911), một nữ thông thiên học (e: theosophy) xuất xứ từ New York, người đã tận lực giúp đỡ ông trong việc biên tập, phiên dịch cho đến giờ phút cuối của bà (1938). Sau, ông đảm nhận nhiều trách nhiệm như giảng dạy tại các đại học Nhật, biên soạn sách vở và đi đây đó thuyết trình Thiền học. Sự ra đời của bộ Thiền luận ba quyển của ông được ví như sự tái sinh, cải lão hoàn đồng của Thiền tông và Thiền lần đầu được trình bày, giảng giải, đưa đến châu Âu, Mĩ dưới dạng tuyệt vời nhất, thích hợp nhất. Năm 1957, ông cùng với hai nhà phân tâm học là Erich Fromm và Richard de Martino đã cho ra một quyển sách rất quan trọng là Thiền và phân tâm học và trong sách này, hai nhà phân tâm học đã xác định được sự liên hệ mật thiết giữa Thiền và Tâm lí học.|Su-zu-ki đã thực hiện được những gì mà Tông Diễn mong muốn khi ông đặt tên cho người học trò yêu quý của mình trước khi từ giã: Ðại Chuyết, nghĩa là »sự vụng về lớn.« Nhưng người ta cũng có thể hiểu »vụng về« ở đây như trong ngạn ngữ Nhật »Nghệ thuật cao siêu phớt nhìn thì trông như vụng về« (j: dai-kō wa dai-setsu no gotoshi). Ông chẳng phải là một Tỉ-khâu chính thức, chỉ là một Sa-di nhưng con đường đời đầy kinh nghiệm, học thức uyên bác đã giúp ông trở thành một nhà thuyết giảng độc nhất vô nhị của Thiền Ấn Ðộ, Trung Quốc, Nhật Bản cho thế giới hiện đại. Không ít người trong giới Thiền tại Nhật đã lắc đầu e ngại vì những lời giảng tỉ mỉ của ông mà người ta cho là quá liều lĩnh, táo bạo cho một tông phái đặc biệt đề cao đến việc »Bất lập văn tự«, »Bất khả thuyết.« Ngay chính ông cũng thú nhận rằng, việc làm này của mình là »một tội lỗi lớn« của cuộc đời. Dù sao đi nữa, Thiền học nhờ ông được lan tràn khắp năm châu, ngày càng được nhiều người chú trọng và người ta có thể cảm nhận được ảnh hưởng này của ông đến ngày nay.|Ông mất ngày 12 tháng 7 năm 1966 tại Ðông Kinh (tōkyō), sau một cơn bệnh nhẹ, thọ 96 tuổi.|Các tác phẩm quan trọng của Su-zu-ki (trích): 1. Essays in Zen Buddhism (Thiền luận), First-Third Series, London 1950/1953; 2. Studies in the Lanka-vatara Sutra (Nghiên cứu kinh Lăng-già), London 1930; 3. Introduction to Zen Buddhism (Thiền pháp nhập môn), Kyoto 1931; 4. The Zen Doctrine of No-Mind (Giáo lí vô niệm), London 1949; 5. Living by Zen (Thiền sinh hoạt), London 1950; 6. Zen-Buddhism and Psychoanalysis (Thiền và Phân tâm học); 7. The Essence of Buddhism (Cốt tuỷ của đạo Phật), London 1947; 8. Zen and Japanese Culture (Thiền và văn hoá Nhật), Kyoto 1958; 9. Studies in Zen (Thiền bách đề), London 1955.
Su-zu-ki, Shun-ryu J: suzuki, shunryū; 1905-1971;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng. Sư sang Mĩ năm 1958 và thành lập tại đây nhiều Thiền viện (San Francisco, Tassajara), những thiền viện đầu tiên tại Tây phương.
Sung mãn 充滿; C: chōngmăn; J: jūman;|Đầy đủ, chứa đầy, dồi dào (s: pūrna).
Sùng Phạm 崇範; 1004-1087|Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 11. Sư nối pháp Thiền sư Vô Ngại và truyền lại hai vị còn được nhắc đến là Ðạo Hạnh và Trì Bát.|Sư họ Mâu, dáng mạnh mẽ to lớn, hai lỗ tai dài chấm vai. Sau khi xuất gia, Sư đến Thiền sư Vô Ngại ở Hương Thành tu học và được truyền tâm ấn. Sau đó, Sư sang Thiên Trúc (Ấn Ðộ) 9 năm để tu học thêm. Trở về nước, Sư đến chùa Pháp Vân thuyết giảng Phật pháp, học chúng quy tụ rất đông.|Năm Ðinh Mão, niên hiệu Quảng Hựu thứ 3 đời Lí Nhân Tông, Sư viên tịch, thọ 84 tuổi.
Sùng Tín 崇信|Long Ðàm Sùng Tín
Sung túc 充足; C: chōngzú; J: jūsoku;|Đầy đủ, trọn vẹn, hoàn toàn.
Ta-bà thế giới 娑婆世界; S: sahalokadhātu;|Sa-bà thế giới
Tá trợ 佐助; C: zuǒzhù; J: sajo;|Người phụ tá; giúp đỡ, hỗ trợ, ủng hộ (p: sāhāyya; theo kinh Niết-bàn 涅槃經)
Tác 作; C: zuò; J: sa.|Có các nghĩa: 1. Tạo ra, sáng tạo, làm, kiến lập. Viết văn, soạn nhạc, sáng tạo các tác phẩm nghệ thuật. Thuật ngữ Sanskrit là īhate, karoti; 2. Sự hoạt động, sự tạo tác (s: karman, kriyā); 3. Sự việc được tạo tác, được làm ra, đặc biệt là từ nhân duyên (s: krtā-katva, kṛtā). Là thứ (đặc biệt là phiền não) được tạo ra do tâm phân biệt, khác với những gì xảy ra một cách ngẫu nhiên (nhậm vận) hoặc bẩm sinh (câu sinh); 4. Hành vi, công hạnh; 5. Nghề nghiệp, thiên hướng; 6. Người tạo tác; 7. Hành động chỉ nhắm đến bề ngoài; 8. Một trong Mười như thị đề cập trong kinh Pháp Hoa. Thập như thị (十如是).
Tác bệnh 作病; C: zuòbìng; J: sabyō.|Bệnh do tin rằng mình có thể dụng công trù liệu mà được giác ngộ. Một trong 4 bệnh (Tứ bệnh 四病, được hiểu là vọng kiến) được mô tả trong kinh Viên Giác.
Tác chứng 作證; C: zuòzhèng; J: sashō.|Kinh nghiệm chứng ngộ rốt ráo riêng của một người. Thành tựu công phu tu đạo. Sự ấn chứng trạng thái giác ngộ cho một người (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Tác đắc 作得; C: zuòdé; J: sakutoku.|Có được do dụng công, sáng tạo ra. Đối lại là »sinh đắc« (生得), nghĩa là có do bẩm sinh.
Tác dụng 作用; C: zuòyòng; J: sayū.|Có các nghĩa sau: 1. Chức năng, sự hoạt dụng (s: vyāpāra, kāritra, pravartate); 2. Căn nguyên chủ yếu của các pháp, sự khích lệ, lực thúc đẩy, nguyên nhân; 3. Sự sinh khởi và tịch diệt của thật thể; 4. Công phu tu tập thật tế.
Tắc-kiện-đà 塞建陀; C: sāijiàntuó; J: saikenda;|Phiên âm chữ skandha trong tiếng Phạn. Xem Uẩn (蘊).
Tắc-kiện-đà-la 塞建陀羅; C: sāijiàntuóluó; J: saikendara;|Có 2 nghĩa: 1. Skandhila. Một vị tăng Ấn Độ, tác giả của Nhập A-tì-đạt-ma luận (入阿毘達磨論, s: abhidharma-āvatāra-prakaraṇa); 2. Phiên âm chữ Uẩn (蘊; s: skandha) trong tiếng Phạn.
Tác phạm 作犯; C: zuòfàn; J: sabon.|Làm các việc ác, vi phạm giới luật.
Tác Phật 作佛; C: zuòfó; J: sabutsu.|»Làm Phật«, có nghĩa là trở thành một vị Phật, đạt được sự giác ngộ rốt ráo. Như biểu thị »Thành Phật« (成佛; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Tác tập pháp 作集法; C: zuòjífǎ; J: sashūhō.|Hội nghị các tăng sĩ Phật giáo để minh định chính pháp. Kết tập (結集).
Tác trì 作持; C: zuòchí; J: saji.|Làm các việc thiện; thực hành các thiện pháp, tương phản với hạnh »chỉ trì,« (止持), không làm các việc ác.
Tác tứ đế 作四諦; C: zuòsìdì; J: sashitai.|Thuật ngữ trong kinh Thắng Man (s: śrī-mālā-sūtra), nghĩa là »Tứ đế được tạo tác«, đối nghịch lại là Vô tác tứ đế.
Tác ý 作意; C: zuòyì; J: sakui. |1. Để ý đến, chú ý, nhận biết, chú tâm (s: manasi-karoti); 2. Tập trung tâm ý, ngăn ngừa tâm tán loạn, tập trung vào một đối tượng(s: manas-kāra); Một trong 10 Đại địa pháp (十大地法) trong luận A-tì-đạt-ma, tương đương với Tư (s: cetanā); 3. Một trong 5 loại biến hành (五遍行) trong Tâm sở pháp (心所) của Du-già hành tông (theo Du-già luận).
Tai 哉; C: zāi; J: sai; |Có các nghĩa sau: 1. Dùng trong câu hỏi – Chẳng phải vậy sao?; 2. Nghi vấn từ; 3. Từ diễn đạt sự ngạc nhiên, thán phục, hay thương cảm; 5. Bắt đầu.
Tai-lô-pa S: tilopa, tailopa;|Một trong những vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahā-siddha) và là người đầu tiên truyền phép Ðại thủ ấn (s: mahāmudrā). Sư là người thống nhất các phép tu Tan-tra của Ấn Ðộ và truyền cho đệ tử là Na-rô-pa (t: nāropa). Dưới tên Na-rô-pa (Na-rô lục pháp; t: nāro chodrug), giáo pháp này được truyền bá rộng rãi tại Tây Tạng và đóng vai trò quan trọng trong phái Ca-nhĩ-cư (t: kagyupa). Tên »Tai-lô-pa« có nghĩa là »người làm dầu mè« vì Sư từng ép dầu mè kiếm sống.|Tai-lô-pa là vị Ðạo sư (s: guru; xem A-xà-lê) đầu tiên được biết đến trong lịch sử Phật giáo: không phải là một Pháp sư (người tinh thông và thuyết giảng Tam tạng), không phải là Luận sư (người chuyên tranh luận và viết luận) mà chỉ là một người siêng năng tu tập, thực hành Phật pháp. Với Tai-lô-pa, trong lịch sử Phật giáo xuất hiện một hạng Ðạo sư mới.||H 50: Tai-lô-pa (tilopa)|Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn tại Śāliputra (Hoa Thị thành?). Mặc dù Long Thụ được xem là thầy của Sư nhưng Sư không theo tông phái nào, chỉ thí nghiệm nhiều phương pháp tu mật và trong lúc nhập định, Sư chứng kiến được các vị Không hành nữ (s: ḍākinī) và A-đề Phật, ngộ sự nhất thể của mình với họ. Hộ Thần (s: sādhita) của Sư là Cha-kra sam-va-ra (s: cakrasaṃvara). Về cuộc đời giáo hoá của Sư sau đó thì có nhiều tài liệu khác nhau. Tương truyền rằng, Sư trụ trì tại một tịnh viện tại Odantaputra và nơi đây Sư truyền pháp lại cho Na-rô-pa. Phật tử Tây Tạng rất tôn thờ Sư, mặc dù Sư không bao giờ bước chân đến đây. Ðại tạng của Tây Tạng còn giữ lại chín tác phẩm của Sư và dòng Ca-nhĩ-cư (kagyupa) xem Sư là Sơ tổ.|Trong hệ thống 84 vị Ma-ha Tất-đạt Ấn Ðộ, Tai-lô-pa là Ðạo sư của nhà vua xứ Viṣṇunagara. Ngày nọ, bỗng nhiên Sư cảm nhận cuộc đời vô thường, vô vị và ngay tối hôm đó lẳng lặng ra đi về miền Nam. Sư được môn đệ là Na-rô-pa tận lòng phục vụ. Sau mười năm tu tập, Sư đạt thánh quả Ðại thủ ấn tất-địa. Tranh tượng hay trình bày Sư tay không bắt cá. Kệ tụng của Sư như sau:|Chim đậu núi Tu-di,|hầu như làm bằng vàng.|Thánh nhân, kẻ đã biết,|tất cả đều khả dĩ,|bỏ thế gian vật chất,|bám đậu vào đất Phật.
Tâm 心; C: xīn; J: shin; S: citta, hṛdaya, vijñāna; |Thuật ngữ quan trọng của đạo Phật, có nhiều nghĩa:|1. Tâm được xem đồng nghĩa với Mạt-na (s: manas, thức suy nghĩ phân biệt) và Thức (s: vijñāna). Tâm chỉ toàn bộ sinh hoạt và hiện tượng của tâm trí.|2. Trong luận A-tì-đạt-ma câu-xá, tâm được xem như một thể riêng biệt, trên thể đó thế giới hiện tượng xuất hiện.|3. Trong Duy thức tông, tâm được xem là A-lại-da thức (s: ālayavijñāna; còn được gọi là Tạng thức), gốc của tất cả mọi hiện tượng tâm trí. Theo quan điểm này, thì toàn bộ vũ trụ này chính là »tâm thanh tịnh.« Nhiều quan điểm cho rằng tâm này chính là »vô thuỷ vô minh«, vô minh nguyên thuỷ của Phật tính và là thật tại tối thượng của mọi hiện tượng nhị nguyên.|Tổng quát lại, người ta có thể phân biệt sáu loại tâm: 1. Nhục đoàn tâm (肉團心), trái tim thịt; 2. Tinh yếu tâm (精要心), chỉ cái tinh hoa cốt tuỷ; 3. Kiên thật tâm (堅實心), chỉ cái tuyệt đối, cái Chân như của các Pháp – ba loại tâm trên được dịch từ danh từ Hṛdaya của Phạn ngữ (sanskrit); 4. Tập khởi tâm (集起心; citta), là thức thứ 8 – A-lại-da thức (ālayavijñāna); 5. Tư lượng tâm (思量心), là thức thứ 7, Mạt-na (manas); 6. Duyên lự tâm (緣慮心), là thức thứ sáu, Ý thức (s: manovijñāna).
Tam a-tăng-kì kiếp 三阿僧祇劫; C: sān āsēngqí jié; J: sana-sōgikō;|»Ba vô lượng kiếp« (A-tăng-kì). Năm mươi hai cấp bậc tu tập của một vị Bồ Tát được chia thành ba a-tăng kì kiếp. Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行) và Thập hồi hướng (十迴向) thuộc về đại kiếp thứ nhất. Từ địa vị thứ nhất đến thứ bảy của Bồ Tát thập địa kéo dài một đại kiếp, đại kiếp thứ hai, và địa thứ tám đến mười được thực hiện trong đại kiếp thứ ba.
Tam ái 三愛; C: sānài; J: san'ai;|Ba loại luyến ái: 1. Dục ái (欲愛), Sắc ái (色愛, cũng gọi là Hữu ái 有愛) và Vô sắc ái (無色愛 hoặc Vô hữu ái 無有愛); 2. Ba loại ái, đặc biệt trở nên mạnh mẽ khi giờ phút lâm chung đến gần: a. Tự thể ái (自體愛), lưu luyến thân thể đang có, b. Cảnh giới ái (境界愛), lưu luyến gia quyến, vật sở hữu, c. Đương sinh ái (當生愛), lưu luyến những cảnh tượng đã trải qua trong cuộc sống.
Tâm ấn 心印; J: shin-in;|Là dấu hiệu của tâm. Truyền tâm ấn có nghĩa là sự truyền yếu chỉ Phật pháp của thầy cho đệ tử. Ai được truyền tâm ấn là người đó được Ấn khả, được phép hoằng hoá nối pháp của thầy.
Tam bảo 三寶; C: sānbăo; J: sanbō; S: triratna; P: tiratana; »Ba ngôi báu«;|Ba cơ sở chính của Phật giáo: Phật, Pháp, Tăng, tức là bậc giác ngộ, giáo pháp của bậc giác ngộ và bạn đồng học. Người có niềm tin kiên cố nơi Tam bảo được gọi là bậc Dự lưu (vào dòng). Người Phật tử biểu lộ sự tin tưởng bằng cách quy y Tam bảo (Ba quy y). Trong mười phép quán Tuỳ niệm (p: anussa-ti), ba đối tượng đầu tiên là Tam bảo.|Ý nghĩa của Tam bảo được hiểu rộng hơn theo truyền thống Ðại thừa. Trong các buổi giảng dạy về Thiền, đặc biệt sau các chương trình Tiếp tâm (j: sesshin), quán Công án, các thiền sinh được hướng dẫn vào lối nhìn Tam bảo của Ðại thừa. Theo cách nhìn này thì người ta có thể phân ý nghĩa Tam bảo ra ba tầng cấp: a) Nhất thể tam bảo (j: ittai-sambō), b) Hiện tiền tam bảo (j: genzen-sambō) và c) Trụ trì tam bảo (j: juji-sambō).|Nhất thể tam bảo (一體三寶; cũng được gọi là Ðồng thể tam bảo; 同體三寶) bao gồm: 1. Ðại Nhật Phật, hiện thân của Pháp thân (s: dharmakāya), biểu hiện của sự bình đẳng vô vi, sự thông suốt tính Không (s: śūnyatā) và Phật tính của vạn vật; 2. Pháp (s: dharma), được hiểu là luân lí của toàn thể vũ trụ và theo đó thì tất cả những pháp hiện hữu đều theo nhân duyên mà sinh, đều phụ thuộc vào nhau; 3. Sự xuyên suốt giữa hai điểm 1. và 2. nêu trên và từ đó xuất phát ra một sự thật, một sự thật mà chỉ một bậc Giác ngộ mới có thể trực chứng được.|Hiện tiền tam bảo (現前三寶; cũng có lúc được gọi là Biệt thể tam bảo; 別體三寶) gồm có: 1. Ðức Phật lịch sử Thích-ca Mâu-ni (s: śākyamuni), người sáng lập Phật giáo qua sự giác ngộ của chính mình và là người đã thực hiện được Nhất thể tam bảo; 2. Pháp, ở đây được hiểu là giáo lí của đức Phật, được Ngài thuyết giảng và 3. Các vị đệ tử của Ngài.|Trụ trì tam bảo (住持三寶) bao gồm: 1. Những tranh tượng của đức Phật được truyền lại đến ngày nay; 2. Những lời dạy của chư vị Phật trong kinh sách và 3. Chư Phật tử hiện nay, những người đang tu học và thực hiện Chính pháp.
Tam bảo kỉ 三寶紀; C: sānbăojì; J: sanbōki;|Lịch đại tam bảo kỉ (歴代三寶紀).
Tâm bất khả đắc 心不可得; J: shin fuka toku; nghĩa là »không thể nào nắm bắt được tâm«;|Một cách trình bày của Thiền tông để chỉ những biến chuyển vô cùng của các Pháp trong Tâm; nghĩa là chúng luôn luôn biến đổi như một dòng nước chảy, không có thật theo ý nghĩa dài lâu và cũng vì vậy, người ta cũng không thể nào nắm giữ được »Tâm« hay hiểu một cách khác, »Tâm« vượt qua mọi định nghĩa thông thường, vượt qua mọi ngôn ngữ diễn bày (Bất khả tư nghị, Bất khả thuyết).
Tam bất thiện căn 三不善根; C: sān bùshàngēn; J: san fuzengon;|Ba cội nguồn bất thiện là tham (貪), sân (瞋) và si (癡). Chúng tương đương với Ba độc (tam độc 三毒; theo Du-già luận 瑜伽論)
Tám báu vật S: aṣṭamaṅgala; Hán Việt: Bát cát tường (八吉祥);|Tám vật tượng trưng cúng dường »Chúa tể thế gian« (ám chỉ Phật). Tám vật này hay được trưng bày trước tượng Phật trong các chùa Trung Quốc. Ðó là:|1. Dù trắng (s: sitāpatra): tượng trưng cao quý, trừ tà; 2. Hai con cá (s: matsyayugma): biểu tượng của chúa tể thế gian, sự giàu sang, thịnh vượng; 3. Tù-và (s: śaṅkha): sự toàn thắng; 4. Hoa Sen (s: padma): sự tinh khiết; 5. Bình Cam lộ (s: amṛta-kalaśa): chứa nước bất tử; 6. Ngọn cờ cuốn lại (s: dhvaja): sự chiến thắng; 7. Gút thắt vô tận (s: granthi): chỉ đời sống vô tận); 8. Pháp luân (s: dharmacakra).
Tam Bình Nghĩa Trung 三平義忠; C: sānpíng yìzháng; J: sampei gichū; tk. 8/9;|Thiền sư Trung Quốc dòng Thạch Ðầu Hi Thiên, môn đệ của Ðại Ðiên Bảo Thông.|Sư họ Dương, quê ở Phúc Châu. Ban đầu Sư đến tham vấn Thạch Củng Huệ Tạng. Thạch Củng dương cung bảo: »Xem tên đây!« Sư bèn vạch ngực thưa: »Ðây là mũi tên giết người, đâu là mũi tên cứu người?« Thạch Củng gảy dây cung ba cái, Sư liền làm lễ. Thạch Củng bảo: »Ba mươi năm một phen dương cung, một hai mũi tên chỉ bắn được nửa người thánh.«|Sư đến tham vấn Ðại Ðiên thuật lại việc trên, Ðại Ðiên bảo: »Ðã là mũi tên cứu người, vì sao nhằm trên dây cung mà biện?« Sư đáp không được. Ðại Ðiên bảo: »Ba mươi năm sau cần người nhắc câu này cũng khó được.« Sư hỏi: »Chẳng cần chỉ Ðông vẽ Tây, thỉnh thầy chỉ thẳng.« Ðại Ðiên bảo: »Cửa sông U Châu người đá ngồi xổm.« Sư bảo: »Vẫn là chỉ Ðông vẽ Tây« Ðại Ðiên bảo: »Nếu phượng hoàng con không đến bên này bàn.« Sư làm lễ, Ðại Ðiên bảo: »Nếu chẳng đặng câu sau thì lời trước khó tròn.«|Sư dạy chúng: »Các ngươi! Nếu chưa gặp trí thức thì chẳng nên, nếu từng gặp trí thức rồi phải nhân ngay ý độ ấy, đến trên chót núi, hóc đá, ăn cây, mặc lá, thế ấy mới có ít phần tương ưng. Nếu chạy cầu hiểu biết nghĩa cú, tức là trông quê hương muôn dặm xa vậy.«|Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.
Tam bộ kinh 三部經; C: sānbùjīng; J: sanbukyō;|Ba bộ kinh căn bản, thay đổi tuỳ theo truyền thống: I. Pháp Hoa tam bộ kinh (法華三部經); 2. Di-lặc tam bộ kinh (彌勒三部經); 3. Tịnh độ tam bộ kinh (淨土三部經); 4. Đại Nhật tam bộ kinh (大日三部經); 5. Trấn hộ quốc gia tam bộ kinh (鎮護國家三部經).
Tam Ca-diếp 三迦葉; C: sān jiāyè; J: sankashō;|Ba anh em họ Ca-diếp: 1. Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (優楼頻螺迦葉; s: uruvilvā-kāśya-pa); 2. Na-đề Ca-diếp (那提迦葉; s: kāśya-pa); 3. Già-da Ca-diếp (伽耶迦葉; s: gayā-kāśyapa). Họ nguyên là Pháp sư chuyên thờ thần lửa với hơn ngàn đệ tử. Khi được đức Phật chuyển hoá, họ gia nhập tăng-già với chúng đệ tử của họ. Ba anh em này sau là những người góp phần trong việc quản lí, tổ chức tăng-già sau này.
Tam căn 三根; C: sāngēn; J: sankon;|1. Chỉ ba căn cơ của con người: Thượng, trung và hạ; 2. Ba nguồn gốc bất thiện là Tham, sân và si.
Tam chi tác pháp 三支作法; C: sānzhī zuòfǎ; J: sanshi sahō;|Ba thành phần của Tam đoạn luận pháp (e: syllogism) trong tân phái của Nhân minh học Phật giáo. Ba thành phần này là: Tông (宗; s: pratijñā), là tông chỉ; Nhân (因; s: hetu), nguyên nhân; và Dụ (喩; s: udāharana), thí dụ cụ thể. Các cựu phái thường sử dụng luận pháp với năm thành phần (Ngũ chi tác pháp 五支作法), nhưng kể từ thời Trần-na, năm thành phần như vậy được xem là thừa và thay vào đó, Tam chi tác pháp được sử dụng.
Tam chủng duyên 三種縁; C: sānzhǒngyuàn; J: sanshuen;|Tam duyên.
Tam chủng duyên sinh 三種縁生; C: sānzhǒng yuànshēng; J: sanshu enshō;|Ba loại nhân duyên, nguyên do của một sự tái sinh: 1. Cùng sinh tử duyên sinh (窮生死縁生): nhân do đã đến giới hạn của sinh tử; 2. Ái phi ái đạo duyên sinh (愛非愛道縁生): nhân do không còn luyến ái và cũng không không luyến ái và 3. Thụ dụng duyên sinh (受用縁生): Đã đạt được một thân hưởng thụ (Thụ dụng thân; theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).
Tam chủng huân tập 三種熏習 (薰) 習; C: sānzhǒng xūnxí; J: sanshu kunshū;|Ba loại Huân tập (chữ Huân cũng được viết 熏 thay vì 薰): I. 1. Danh ngôn huân tập (名言薫習): Sự huân tập của danh ngôn; 2. Sắc thức huân tập (色識薫習), huân tập của sắc thức và 3. Phiền não huân tập (煩惱薫習), sự huân tập của những loại phiền não. II. 1. Huân tập của ngôn thuyết (言説); 2. Huân tập của Ngã kiến (我見) và 3. Huân tập có liên hệ đến sự tồn tại của chính mình (有分), tỉ như ở trong một trong Tam giới hoặc Lục thú (theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).
Tam chủng phiền não 三種煩惱; C: sānzhǒng fánnăo; J: sanshu bonnō;|Ba loại phiền não: 1. Những phiền não xảy ra trên Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道), và những phiền não không xuất sinh trên hai con đường trên (theo Nhị chướng nghĩa 二障義). 2. Lục căn (六根), Lục cảnh (六境) và Lục thức (六識).
Tam chủng tất-địa phá địa ngục chuyển nghiệp chướng xuất tam quả bí mật đà-la-ni pháp 三種悉地破地獄轉業障出三界祕密陀羅尼法; C: sānzhǒng xīdì pòdìyù zhuàn yèzhàng chū sānjiè mìmì tuóluónífǎ; J: sanshu shicchi hajigoku ten gosshō shutsu sangai himitsu daranihō;|»Bí mật đà-la-ni của ba loại thành tựu, tiêu diệt địa ngục, chuyển biến nghiệp chướng trong tam giới«. Một tác phẩm bao gồm một quyển, tác giả được xem là Thiện Vô Uý (善無畏; s: śubhākarasiṁha). Quyển này có những đoạn đề cập đến sự tương quan giữa Ngũ tự (五字) và Ngũ bộ (五部) của Mật giáo đạo Phật và Ngũ Hành thuyết (五行説) của Đạo giáo và chính những đoạn văn này cũng thường được trích dẫn làm một ví dụ – xuất phát từ phía Trung Hoa –, là biểu trưng của một sự tổng hợp tư tưởng Ấn Hoa.
Tam-da-tam-phật 三耶三佛; C: sānyésānfó; J: sanyasanbut-su;|Tam-miệu Tam-phật-đà.
Tam-da-tam-phật-đà 三耶三佛陀; C: sānyésānfótuó; J: sanya-sanbudda;|Tam-miệu Tam-phật-đà.
Tam đại 三大; C: sāndà; J: sandai;|Là ba sự huyền diệu to lớn đã có sẵn trong tâm bồ-đề của chúng sinh, được dạy trong luận Đại thừa khởi tín. Sự huyền diệu lớn đầu tiên là Thể đại (體大), có tương quan đến chất lượng căn bản của tâm thức là Chân như. Thứ hai là Tướng đại (相大), có liên hệ đến muôn vàn hiện tượng kì diệu xuất phát từ Như Lai tạng (如來藏; s: tathāgatagarbha), và thứ ba là Dụng đại (用大), liên hệ đến những chức năng có thể thấy được trong việc nỗ lực tu tập để trực chứng tâm bồ-đề. Đại thừa khởi tín luận viết như sau:|云何爲三一者體大謂一切法眞如平等不增減故二者相大謂如來藏具足無量性功徳故三者用大能生一切世間出世間善因果故|Vân hà vi tam? Nhất giả Thể đại vị nhất thiết pháp chân như bình đẳng bất tăng giảm cố. Nhị giả Tướng đại vị Như Lai tạng cụ túc vô lượng tính công đức cố. Tam giả Dụng đại năng sinh nhất thiết thế gian xuất thế gian thiện nhân quả cố.
Tam đạo 三道; C: sāndào; J: sandō;|I. Ba thánh đạo (ba con đường lấy giác ngộ làm cơ sở) trong Du-già hành tông: Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道) và Vô học đạo (無學道). II. Ba ác đạo, Tam ác đạo (三惡道). III. Hoặc (惑), Nghiệp (業), Khổ (苦).
Tam đế 三諦; C: sāndì; J: sandai;|»Ba chân lí« hoặc »Chân lí ba phần«. Một thuật ngữ của tông Thiên Thai để giải thích hiện thật qua ba khía cạnh: 1. Không đế (空諦), sự thật của Tính không, nghĩa là tất cả những hiện hữu đều trống không, không có một bản chất nào; 2. Giả đế (假諦), tất cả đều là giả hợp tạm thời. Tất cả những hiện hữu đều do nhân duyên hợp lại mà thành; 3. Trung đế (中諦), sự thật không thể được diễn bày qua phủ định hoặc xác định, mà nằm ở khoảng giữa.
Tam đế viên dung quán 三諦圓融觀; C: sāndì yuánróng guān; J: sandaienyūkan;|Sự quán sát nguyên tắc hiện thật, giúp hành giả nhận thức được tính viên dung thông suốt của Tam đế: Không, Giả và Trung.
Tam địa 三地; C: sāndì; J: sanchi;|Địa vị thứ ba trong Thập địa; được gọi là Phát quang địa (發光地; theo Nhị chướng nghĩa 二障義.)
Tâm Ðịa Giác Tâm 心地覺心; J: shinchi kakushin; 1207-1298;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Lâm Tế, đắc pháp nơi Thiền sư Vô Môn Huệ Khai. Sư là người mang tập Công án quan trọng Vô môn quan sang Nhật và phổ biến phương pháp quán công án tại đây.|Sư sinh trưởng tại Nagano, xuất gia năm 14 tuổi và thụ giới cụ túc năm 28 tuổi. Ban đầu Sư tu tập theo Chân ngôn tông trên núi Cao Dã (kōya) và cũng nơi đây, Sư tiếp xúc với Thiền tông lần đầu qua một vị đệ tử của sư Minh Am Vinh Tây (myōan eisai) là Thối Canh Hành Dũng (退耕行勇; j: taikō gyōyū). Sau đó, Sư tham học với nhiều vị Thiền sư đương thời, trong đó có cả Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (dōgen kigen). Năm 1249, Sư cất bước sang Trung Quốc du học, một cuộc hành trình kéo dài gần sáu năm (1249-1254).|Ðến Trung Quốc, Sư có nguyện vọng tham học nơi Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm nhưng vị Thiền sư danh tiếng này đã qua đời và vì thế, Sư cất bước chu du khắp nơi. Trong cuộc hành trình này, Sư cũng có dịp tiếp xúc với các Thiền sư thuộc Phổ Hoá tông và học cách thổi sáo Xích bát (尺八; j: shakuhachi) của họ – một cách nhiếp tâm khác thay vì tụng kinh Niệm Phật. Ðược một bạn đạo đồng hương khuyên, Sư đến Thiền sư Vô Môn Huệ Khai – vị Thiền sư danh tiếng nhất đương thời – cầu học yếu chỉ Thiền. Cuộc gặp gỡ này xảy ra một cách rất thân mật. Khi thấy vị khách hiếu học từ Nhật đến, sư Huệ Khai hỏi ngay: »Chẳng có cửa nào để vào đây, ngươi vào thế nào được?« Sư đáp: »Con đến từ nơi không cửa (vô môn).« Huệ Khai hỏi tiếp: »Ngươi tên gì?« Sư thưa: »Giác Tâm.« Sư Huệ Khai liền làm ngay bài kệ:|Tâm chính là Phật|Phật chính là Tâm|Quá khứ, hiện tại|Phật Tâm như nhau|Chỉ sau sáu tháng tu tập, Sư được Huệ Khai Ấn khả. Trước khi rời thầy, Sư được Huệ Khai chính tay trao cho ca-sa, một bức chân dung và một bản của Vô môn quan.|Sau khi trở về Nhật, Sư lưu lại một thời gian tại núi Cao Dã và không bao lâu, Sư sáng lập một thiền viện tại Wakayama với tên Tây Phương tự (saihō-ji) – sau được đổi tên là Hưng Quốc tự (kōkoku-ji) – nơi Sư trụ trì 40 năm sau đó. Sư được các vị Nhật hoàng mời đến Kinh Ðô (kyōto) nhiều lần thuyết pháp và được phong danh hiệu Pháp Ðăng Viên Minh Quốc sư (hottō emmyō kokushi).|Sư truyền dòng Thiền Lâm Tế hệ phái Dương Kì (yōgi-ha) tại Nhật và được xem là một trong những Ðại Thiền sư nơi đây. Sư sử dụng phương pháp quán công án để hướng dẫn các đệ tử trên đường Giác ngộ và công án thường được Sư sử dụng nhất là công án thứ nhất, »Vô« của Vô môn quan. Ngoài phương pháp quán công án, Sư cũng chú trọng đến việc thực hành các nghi lễ theo Chân ngôn tông. Ngoài các việc nói trên, Sư cũng được xem là người truyền tông Phổ Hoá sang Nhật, một tông phái tồn tại đến thời cận đại.|Sư và các môn đệ sau vài thế hệ thành lập một hệ phái trong tông Lâm Tế tại Nhật Bản, được gọi là Pháp Ðăng phái (hottō-ha). Thành tựu lớn của Sư được xem là việc đem tập Vô môn quan sang Nhật. Không bao lâu sau đó, tập công án quan trọng thứ hai của tông Lâm Tế là Bích nham lục (j: hekigan-roku) cũng được truyền sang đây và như vậy, hai tác phẩm căn bản của tông này đã có mặt, việc truyền bá Thiền đã đứng vững.
Tam độc 三毒; C: sāndú; J: sandoku;|Ba độc.
Tam đức 三徳; C: sāndé; J: santoku;|Ba khía canh công đức của một vị Phật: 1. Công đức của lòng bi; 2. Công đức của sự đoạn diệt phiền não và 3. Công đức của trí huệ.
Tam duyên 三縁; C: sānyuàn; J: san'en;|Ba loại nhân duyên (điều kiện). I. 1. Chung sinh (終生): Nhân duyên chấm dứt cuộc sống; 2. Đoạn hoặc (斷惑): Nhân duyên cắt đứt lậu hoặc, phiền não; 3. Thụ sinh (受生): Nhân duyên thụ sinh (thụ thai, tái sinh). II. Tà sư, tà giáo và tà kiến. III. Theo Thiện Đạo (善導) thì có ba nhân duyên thiện hảo được khởi dẫn trong lúc niệm Phật: 1. Thân duyên (親縁): Hành giả trở nên thân thiện hơn với Phật A-di-đà trong lúc xưng tán hồng danh của ngài, quán tưởng công đức của ngài cũng như tỏ vẻ cung kính tuỳ thuận; 2. Cận duyên (近縁): Hành giả nhờ lòng thành tha thiết yết kiến Phật mà được ngài cảm ứng; 3. Tăng thượng duyên (増上縁): Vì lòng thành xưng tán danh hiệu Phật nên hành giả tiêu diệt được nghiệp chướng, đạt được một cấp bậc tái sinh tốt hơn.
Tam Giác sơn 三角山; C: sānjueshān; J: sankakusan; K: samgaksan.|Một ngọn núi nằm ở quận Cao Dương (高陽郡; k: koyanggun), Hàn Quốc, nổi danh vì những chùa chiền ở đây.
Tam giai giáo 三階教; C: sānjiē-jiào; J: sankaikyō;|»Giáo lí dành cho ba giai cấp«. Một phong trào Phật giáo được khởi dẫn bởi Tín Hành (信行, 540-594). Tam giai tương ưng với căn cơ khác nhau của chúng sinh, bao gồm: 1. Căn cơ tu hành theo Nhất thừa, dành cho những người căn cơ tuyệt đỉnh; 2. Căn cơ thực hiện Tam thừa, dành cho những người tuy không thực hiện được Nhất thừa, nhưng vẫn có khả năng phán đoán chân chính, phân biệt đúng sai, và 3. Không có căn cơ, khả năng gì, hoặc căn cơ thấp kém nhất, phá giới, ôm ấp tà kiến. Giáo lí dành cho hai giai cấp đầu được gọi là Biệt pháp (別法), giáo lí phân tích, phân biệt được chân nguỵ và giáo lí dành cho giai cấp cuối cùng được gọi là Phổ pháp (普法), lấy nguyên tắc »tất cả đều là Pháp thân« làm cơ sở, đặc biệt dành cho những chúng sinh căn cơ thấp kém, mù quáng từ lúc sinh ra (sinh manh 生盲), không có khả năng phân biệt thiện ác, chân nguỵ.|Phái này chia giáo pháp đức Phật ra ba giai đoạn: 1. Giai đoạn Chính pháp, là lúc mọi người đều tuân thủ giáo pháp Phật, kéo dài khoảng 500 năm kể từ Phật nhập diệt; 2. Giai đoạn Tượng pháp, là lúc pháp bị lẫn lộn đúng sai, kéo dài khoảng 1000 năm; 3. Giai đoạn Mạt pháp, là lúc giáo pháp không còn ai tin và bị huỷ diệt, giai đoạn này kéo dài 10.000 năm. Thời mạt pháp được xem là bắt đầu từ năm 550 sau Công nguyên và hiện nay còn kéo dài.|Tín Hành và các môn đệ cho rằng, chỉ môn phái của mình mới giữ đúng giáo pháp. Phái Tam giai chủ trương giữ nghiêm khắc Giới luật (s: śīla), ép xác, khổ hạnh, chỉ ăn mỗi ngày một bữa. Giáo phái này công kích các phái khác, gọi các nhà cầm quyền là »chệch hướng« nên bị cấm năm 600, và khoảng năm 845 mới thật sự biến mất.|Theo Tín Hành thì Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa được giảng trong giai đoạn thứ nhất. Trong giai đoạn thứ hai thì Ba thừa (Thanh văn, Ðộc giác, Bồ Tát thừa) được truyền bá. Theo tông này, cả hai giai đoạn này đều có giới hạn. Giai đoạn thứ ba dành cho thời kì mạt pháp. Giáo lí phải thật toàn triệt và Tam giai giáo là đại diện.|Thời kì mạt pháp có đặc tính là con người chê bai giới luật, ngã theo tà đạo, không phân biệt tốt xấu, đúng sai. Theo phái này thì con người như thế nhất thiết phải tái sinh ở địa ngục, và một đời sống thiền định, phạm hạnh trong tu viện cũng không cứu được con người trong thời mạt pháp. Tông này chủ trương tu sống khổ hạnh, rời tu viện và sống với sự nghèo khổ của quần chúng. Quan điểm của phái này là mọi hiện tượng đều do Phật tính biến hiện ra, tất cả chúng sinh là »Phật sẽ thành«. Nhằm biểu hiện quan điểm này, đệ tử phái này hay quì lạy những người chẳng quen biết ngoài đường ngoài chợ, thậm chí quì lạy cả chó mèo và vì vậy hay bị cười đùa. Ðệ tử của Tam giai giáo tu phép bố thí và vì thế, hay nhận được của bố thí. Nhờ vậy với thời gian, phái này có nhiều của cải, có nhiều phương tiện làm việc thiện xã hội. Họ tổ chức những hoạt động từ thiện, ban phát quần áo, thức ăn cho người nghèo khổ hay bỏ tiền sửa chữa chùa chiền, tổ chức nghi lễ.
Tam giai Phật pháp 三階佛法; C: sānjiē fófǎ; J: sankai buppō;|Tam giai Phật pháp là một trong những tác phẩm quan trọng nhất của Tam giai giáo trong thời kì Tuỳ-Đường; người ta đã tìm thấy lại nhiều bản ở cả hai nước, Nhật Bản và Trung Hoa.
Tám giải thoát S: aṣṭavimokṣa;|Phép thiền định giúp hành giả vượt tám cấp thiền và giải thoát các vướng mắc về sắc và vô sắc. Tám giải thoát là: 1. Ở trong sắc giới, quán nội sắc và ngoại sắc, nhằm bỏ tâm ham thích sắc thể (nội hữu sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát 内有色想觀外色解脱); 2. Không quán nội sắc, quán ngoại sắc, nhận ngoại sắc là ô nhiễm (nội vô sắc tưởng quán ngoại sắc giải thoát 内無色想觀外色解脱); 3. Quán tưởng về thanh tịnh nhưng không bám giữ (tịnh thân tác chứng cụ túc tác giải thoát 淨身作證具足作解脱); 4. Vượt qua sắc thể, nghĩ »hư không là vô biên« (Không vô biên xứ giải thoát 空無邊處解脱); 5. Ðạt »thức là vô biên« (thức vô biên xứ giải thoát 識無邊處解脱); 6. Ðạt tâm »không có vật gì« (vô sở hữu xứ giải thoát 無所有處解脱); 7. Ðạt Phi tưởng phi phi tưởng xứ (phi tưởng Phi phi tưởng xứ giải thoát 非想非非想處解脱); 8. Ðạt cấp Diệt thụ tưởng xứ (diệt tận định giải thoát 滅盡定解脱). Cấp 1 của Tám giải thoát liên hệ với cấp 1, 2 của Tám thắng xứ, cấp 2 liên hệ với cấp 3, 4. Cấp 4-7 của Tám giải thoát đồng nghĩa với Bốn xứ.
Tam giải thoát môn 三解脫門; C: sān jiětuō mén; J: sange-datsumon;|Ba cửa giải thoát.
Tam giáo 三教; C: sānjiào; J: sankyō;|Có hai cách phân loại thường gặp: I. Ba truyền thống Đạo học lớn tại Đông á: 1. Phật giáo (佛教), 2. Nho giáo (儒教) và 3. Đạo giáo (道教); II. Theo Thiền sư Khuê Phong Tông Mật trong bài chú giải Viên Giác kinh (圓覺經) thì cách phân chia Tam giáo trong Phật giáo như sau: 1. Đốn giáo (頓教) được trình bày trong kinh Hoa nghiêm (華嚴經), 2. Tiệm giáo (漸教) trong thời kì Phật giảng dạy ở Lộc Uyển cho đến khi nhập niết-bàn tại Sa-la thụ viên, và 3. Bất định giáo (不定教), dạy về tính viên mãn vô khiếm, vĩnh hằng của Phật tính.
Tam giới 三戒; C: sānjiè; J: sankai;|Ba loại giới luật. Giới luật dành cho cư sĩ, cho tăng sĩ và giới luật dành chung cho cả hai nhóm này.
Tam giới 三界; C: sānjiè; J: sangai; S: triloka;|Ba cõi hiện hữu trong Vòng sinh tử: 1. Dục giới (欲界), nơi chúng sinh chỉ đắm say vào những khoái lạc thân thể; 2. Sắc giới (色界), nơi chúng sinh đã vượt khỏi những khoái lạc thân thể nêu trên, nhưng vẫn còn cảm nhận thân sắc vi tế. Đây là cõi của Tứ thiền thiên (四禪天); 3. Vô sắc giới (無色界), là cõi tối cao của Luân hồi, chúng sinh đã thoát khỏi sự tồn tại vật chất, hoàn toàn không có sắc tướng. Đây là cõi của Tứ vô sắc định (四無色定).|Theo A-tì-đạt-ma Câu-xá luận của Thế Thân, Tam giới nêu trên còn được phân thành nhiều cõi khác nhau. Dục giới bao gồm 20 cõi. Gồm có: Tứ đại châu (四大洲), Bát nhiệt địa ngục (八熱地獄), và sáu cõi trời của Dục giới – Lục dục thiên (六欲天). Ngoài Lục dục thiên ra còn có 17 cõi trời của Sắc giới – Sắc giới thập thất thiên (色界十七天). Bên trên Sắc giới là Vô sắc giới, nơi vật chất, sắc tướng không còn tồn tại. Ba thế giới
Tam giới tạng 三界藏; C: sānjiècáng; J: sankaizō;|Ba cõi hiện hữu được xem như là xuất xứ của tất cả những phiền não, nghiệp chướng (Nhất thiết chúng sinh phiền não bất xuất tam tạng giới 一切衆生煩惱不出三界藏, theo Nhân vương kinh 仁王經).
Tam hạnh 三行; C: sānxíng; J: sangyō;|1. Ba hạnh tạo nghiệp của thân, khẩu và ý; 2. Ba hạnh: thiện, ác và không thiện không ác; 3. Ba hạnh theo kinh Kim Cương: Hành động theo tình thế, hành động theo tâm thức và hành động tuỳ theo Chân như.
Tam hiền 三賢; C: sānxián; J: sangen;|1. Trong A-tì-đạt-ma của Tiểu thừa, Tam hiền đây là Ngũ đình tâm quán (五停心觀), Biệt tướng niệm trú (別相念住), và Tổng tướng niệm trú (總相念住). 2. Trong Pháp tướng tông, Tam hiền gồm ba nhóm Thập trú, Thập hạnh và Thập hồi hướng.
Tam hoặc 三惑; C: sānhuò; J: sanwaku;|Ba sự mê hoặc, ba phiền não. Có hai cách phân loại: 1. Ba loại phiền não căn bản là Tham dục (貪欲), Sân khuể (瞋恚), và Ngu si (愚癡). Chúng tương đương với Ba độc (Tam độc 三毒); 2. Trong Thiên Thai tông, ba loại hoặc chính là là Kiến tư hoặc (見思惑) – Phiền não xuất phát từ những kiến giải, những mối tư duy sai –, Trần sa hoặc (塵沙惑) – phiền não cản trở trí huệ và nhiều như số cát sông Hằng –, và Vô minh hoặc (無明惑), những phiền não gây chướng ngại cho việc thấu hiểu sự vật. Loại hoặc đầu được phá huỷ bởi hành giả Tiểu cũng như Đại thừa. Hai loại hoặc sau chỉ được tiệt đoạn bởi những vị Bồ Tát.
Tam học 三學; C: sānxué; J: sangaku;|Chỉ ba việc thực hành Phật pháp: Giới (戒; s: śīla), định (定; s: dhyāna) và Huệ (慧; s: prajñā). Ba môn học.
Tam huệ 三慧 (惠); C: sānhuì; J: san'e;|Ba loại trí huệ, Văn tư tu.
Tam hữu 三有; C: sānyǒu; J: san'u;|1. Ba cách tồn tại: Cách tồn tại trong Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới; 2. Đồng nghĩa với Tam giới (三界), Ba thế giới.
Tam khổ 三苦; C: sānkǔ; J: sanku;|Ba loại khổ: 1. Khổ khổ (苦苦): Khổ não khi phải chạm trán những sự việc không hay; 2. Hành khổ (行苦): Khổ não vì sự biến chuyển; 3. Hoại khổ (壞苦): Khổ não vì sự hoại diệt.
Tam khoa 三科; C: sān kē; J: sanka;|Cách phân chia tất cả các pháp thành ba loại: Ngũ uẩn (五蘊), Thập nhị xứ (十二處) và Thập bát giới (十八界).
Tam không 三空; C: sānkōng; J: sankū;|1. Ba loại tính Không được mô tả trong Kim cương tam-muội kinh (金剛三昧經): Tướng không (相空), Không không (空空) và Sở không (所空); 2. Theo Kỉ Hoà trong tác phẩm Ngũ gia giải thoát nghị (五家解説誼; k: o ka hae sǒrǔi) thì Tam không bao gồm Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Không không (空空); 3. Ngã không (我空), Pháp không (法空) và Ngã pháp không (我法空), tính không của cả hai, Ngã và Pháp; 4. Không (空), Vô tướng (無相) và Vô nguyện (無願); 5. Trong khi thực hiện hạnh bố thí thì Tam không gồm Tính không của người bố thi, của người nhận và Tính không của vật được bố thí; 6. Vô tính không (無性空), Dị tính không (異性空) và Tự tính không (自性空).
Tam kiến 三見; C: sānjiàn; J: sanken;|Ba kiến ở đây có nghĩa là ba kiến giải sai lầm sau hai tà kiến đầu là Thân kiến (身見) và Biên kiến (邊見), tất cả đều hệ thuộc vào hệ thống Thập hoặc (十惑). Chúng là: Tà kiến (邪見), Kiến thủ kiến (見取見) và Giới cấm thủ kiến (戒禁取見).
Tam kiếp 三劫; C: sānjié; J: sankō;|Ba kiếp, ba giai đoạn rất dài: 1. Là lối viết tắt của Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫); 2. Trong Chân Ngôn tông, thuật ngữ này chỉ những vướng mắc, trói buộc mù quáng; 3. Ba thời kiếp: Dĩ vãng, hiện tại và tương lai.
Tam kinh 三經; C: sānjīng; J: sangyō;|Ba bộ kinh được xem là căn bản của mỗi truyền thống Phật giáo. Tam bộ kinh (三部經).
Tâm kinh 心經|Ma-ha bát-nhã ba-la-mật-đa tâm kinh
Tam lậu 三漏; C: sānlòu; J: sanro; S: traya-āsravāh.|Ba loại ô nhiễm, rỉ chảy: I. 1. Dục lậu (欲漏), sự ô nhiễm của tham dục; 2. Hữu lậu (有漏), ô nhiễm của sự tồn tại và 3. Vô minh lậu (無明漏), ô nhiễm của vô minh (theo Du-già luận 瑜伽論). II. Sự nhiễm ô của ba giới: Dục giới, Sắc giới và Vô sắc giới.
Tam li dục 三離欲; C: sānlíyù; J: sanriyoku;|Ba dạng li dục. Theo Du-già sư địa luận thì Tam li dục bao gồm: 1. Vị li dục (未離欲), chưa rời bỏ dục vọng; 2. Bội li dục (倍離欲), thoát khỏi khát vọng gấp đôi bình thường và 3. Dĩ li dục (已離欲), đã thoát khỏi dục vọng hoàn toàn.
Tam loại cảnh 三類境; C: sān lèijìng; J: san ruikyō;|»Ba loại cảnh giới«. I. Theo thuyết Duy thức (唯識), các cảnh giới tâm thức được phân loại tuỳ theo bản chất của chúng. Bao gồm: 1. Tính cảnh (性境): Cảnh giới xuất phát từ những chủng tử trong A-lại-da thức; 2. Độc ảnh cảnh (獨影境): là những cảnh giới xuất phát một cách tạm thời từ một quan điểm chủ quan; và 3. Đái chất cảnh (帶質境): Cảnh giới hiển hiện tuỳ thuộc vào cả hai trường hợp vừa nêu trên.
Tam luận 三論; C: sānlùn; J: sanron;|Ba bộ luận. Chỉ ba bộ luận quan trọng, được xem là cơ sở của một tông phái Phật giáo Trung Quốc có cùng tên: Tam luận tông (三論宗). Ba bộ luận này là 1. Trung quán luận (中觀論), 2. Thập nhị môn luận (十二門論) với tác giả là Long Thụ (龍樹) và 3. Bách luận (百論) của Thánh Thiên (聖天). Cả ba bộ luận này được Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) dịch sang Hán văn. Tông Tam luận góp phần quan trọng trong lĩnh vực luận lí Tính không. Trung quán luận dạy Tám phủ định (Bát bất 八不): Bất sinh bất diệt, bất thường bất đoạn, bất nhất bất nhị, bất lai bất xuất (不生不滅,不常不斷,不一不異,不來不出). Tám phủ định này được dùng để đả phá tất cả những khái niệm, tất cả những quan điểm về Hữu, Vô, và như vậy thì ý nghĩa của »Trung đạo« nằm ở chỗ: Tất cả các pháp đều được xem là tồn tại, nhưng lại không mang một bản chất, một tự ngã nào. Thập nhị môn luận giảng giải Tính không của tất cả các pháp trong mười hai chương, và Bách luận giảng giải Tính không để đả phá luận cứ của những triết gia ngoại đạo.|Cưu-ma-la-thập truyền ba bộ luận này đến ba đại đệ tử của mình là Đạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇) và Tăng Lãng (僧朗). Tăng Lãng là người nhấn mạnh sự khác biệt của tông Tam luận và tông Thành Thật và vì vậy, có thể được xem là người sáng lập tông môn Tam luận đích thật. Trong thế kỉ thứ 6, những đại biểu quan trọng nhất là Pháp Lãng (法朗), Cát Tạng (吉藏) và lúc này cũng là thời hoàng kim của giáo lí Tam luận. Trong thế kỉ thứ 7, giáo lí Tam luận được truyền sang Hàn Quốc bởi Huệ Quán (慧觀), một đệ tử của Cát Tạng. Sau khi tông Pháp Tướng xuất hiện, tông Tam luận ngày càng rơi vào quên lãng.
Tam luận huyền nghĩa 三論玄義; C: sānlùn xuányì; J: sanron gen-gi;|»Ý nghĩa sâu sắc của Tam luận«, một tác phẩm của Cát Tạng (吉藏).
Tam luận tông 三論宗; C: sānlùn-zōng; J: sanron-shū; K: samnon chong. |Tông phái Ðại thừa của Phật giáo Trung Quốc. Danh xưng này xuất phát từ ba bộ luận căn bản của tông này: Trung quán luận tụng (中觀論頌; s: madhyamaka-kārikā), Thập nhị môn luận (十二門論; s: dvā-daṣadvāra-śāstra hoặc dvādaśanikāya-śās-tra) của Long Thụ (龍樹; s: nāgārjuna) và Bách tuận (百論; s: śata-śāstra) của Thánh Thiên (聖天; s: āryadeva). Các bộ luận này được Cưu-ma-la-thập dịch và chú giải trong thế kỉ thứ 5. Cưu-ma-la-thập (鳩摩羅什; s: kumārajīva) truyền cho đệ tử là Ðạo Sinh (道生), Tăng Triệu (僧肇), Tăng Duệ (僧叡) và Ðạo Dung (道融). Các vị này vạch rõ sự khác nhau giữa tông phái mình với Thành thật tông và có thể xem là những người sáng lập Tam luận tông.|Trong thế kỉ thứ 6, Tam luận tông rất thịnh hành và những Cao tăng thời này là Pháp Lãng (法朗) và đệ tử là Cát Tạng (吉藏). Trong thế kỉ thứ 7, Tam luận tông được Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), đệ tử của Cát Tạng truyền qua Nhật. Tam luận tông dần dần mất ảnh hưởng sau khi Pháp tướng tông ra đời.|Tam luận tông bắt nguồn từ Trung quán tông của Ấn Ðộ nhưng cũng có những nét đặc thù của Trung Quốc: Tam luận tông cho rằng đức Phật đã chỉ dạy hai phép tu: Thanh văn thừa và Bồ Tát thừa, và Tam luận tông thuộc về Bồ Tát thừa. Tông này cho rằng có ba thời giáo: kinh Hoa nghiêm là thời giáo thứ nhất. Kinh này chứa những lời khai thị cho Bồ Tát nhưng các đệ tử Phật thời đó chưa đủ sức lĩnh hội. Vì vậy thời giáo thứ 2, kéo dài giữa thời kinh Hoa nghiêm và kinh Diệu pháp liên hoa, trong đó mọi giáo pháp của Phật bao gồm cả Tiểu thừa lẫn Ðại thừa, có giá trị cho Thanh văn thừa, Ðộc giác thừa và Bồ Tát thừa. Thời kì thứ 3 là thời kì mà mọi đệ tử đã sẵn sàng để nghe kinh Diệu pháp liên hoa, đó là thời Phật thừa, chỉ một pháp duy nhất.|Tam luận tông Nhật Bản (j: sanron-shū) được đưa từ Trung Quốc qua năm 625 do Cao tăng Huệ Quán (慧灌; ekwan), người Triều Tiên truyền lại. Huệ Quán có hai đệ tử chính và Tam luận tông Nhật Bản cũng vì vậy mà có hai bộ phái (Thành thật tông). Tam luận tông không có mấy ảnh hưởng tại Nhật, mặc dù nhiều trường phái khác cũng tham khảo giáo pháp của tông này để hiểu thêm kinh điển Ðại thừa.|Tam luận tông tại Nhật có ảnh hưởng lớn lên hoàng thân Thánh Ðức (shotoku, 574-622), người đã thống nhất nước Nhật. Trong thiền viện của vị hoàng thân này thời đó có ba vị luận sư Triều Tiên của Tam luận tông giảng dạy. Trong »hiến pháp« của Nhật Bản mà Thánh Ðức soạn thảo, người ta thấy có vài yếu tố của Tam luận tông.
Tam lượng 三量; C: sānliáng; J: sanryō;|Ba cách suy lượng theo cựu phái của Nhân minh học: 1. Hiện lượng (現量; s: prayakṣa), thấy rõ trực tiếp bằng cặp mắt; 2. Tỉ lượng (比量; s: anumāna), biết bằng suy ngẫm; 3. Thánh giáo lượng (聖教量), biết được qua giáo lí của những bậc thánh hiền.
Tam-ma-bát-đề 三摩鉢提; C: sānmóbōtí; J: sanmapattei;|Một cách dịch âm của chữ Phạn samāpatti. Tam-ma-bát-để (三摩鉢底).
Tam-ma-bát-để 三摩鉢底; C: sānmóbōdī; J: sanmapattei;|Cách dịch âm của chứ Phạn samāpatti. Một thuật ngữ thiền định. Một trạng thái định. Một tâm thức cân bằng, đạt được qua sự tập trung chuyên nhất, hội tụ những năng lực trong tâm. Được dịch ý là Đẳng chí (等至).
Tam-ma-đề 三摩提; C: sānmótí; J: sanmaji;|Một cách phiên âm của chữ Phạn và Pa-li samādhi, cũng được phiên âm là Tam-muội (三昧) và Tam-ma-địa (三摩地). Dịch ý là Định.
Tam-miệu tam-bồ-đề 三藐三菩提; C: sānmiǎo sānpútí; J: sammyaku sambodai;|Cách dịch âm từ chữ Phạn saṃyak-saṃbodhi, có nghĩa là »giác ngộ một cách chân chính«, chỉ sự giác ngộ viên mãn của một vị Phật; được Hán dịch ý là Đẳng chính giác (等正覺) và Chính đẳng giác (正等覺). Thuật ngữ này thường được thấy trong biểu thị A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề (阿耨多羅三藐三菩提; s: anuttarā-saṃyak-saṃbodhi).
Tam-miệu-tam-một-đà 三藐三沒馱; C: sānmiǎosānmòtuó; J: san-myakusanbodda;|Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).
Tam-miệu-tam-phật 三藐三佛; C: sānmiǎosānfó; J: sanmyaku-sanbutsu;|Tam-miệu Tam-phật-đà (三藐三佛陀).
Tam-miệu-tam-phật-đà 三藐三佛陀; C: sānmiǎosānfótuó; J: san-myaku sambutta; S: samyak-saṃbuddha; P: sammā-sambuddha;|»Một vị Phật giác ngộ viên mãn«. Một trong Mười danh hiệu của một vị Phật. Cũng được dịch âm là Tam-miệu Tam-một-đà (三藐三沒馱), Tam-da Tam-phật (三耶三佛), Tam-da Tam-phật-đà (三耶三佛陀), và dịch nghĩa là Chính Biến Tri (正遍知), Chính Đẳng Giác (正等覺), Chính Đẳng Giác giả (正等覺者).
Tam minh 三明; C: sānmíng; J: sammyō; S: tisrovidyā;|I. Ba »Nhận thức«, »Hiểu biết«: 1. Nhận thức được nhân duyên, những nghiệp còn lại của những cuộc sống trước đây (để rồi qua đó đoạn diệt Thường kiến); 2. Nhận thức được những gì xảy ra trong tương lai (để rồi qua đó diệt trừ Đoạn kiến); 3. Một sự hiểu biết vô cấu (giúp diệt trừ những kiến hoặc trong thâm tâm). II. Ba trong sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通): 1. Thiên nhãn thông (天眼通; s: divyācakṣurjñānasākṣat-kriyāvidyā), có thể thấy được chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi; 2. Túc mệnh thông (宿命通; s: pūrvanivāsānusmṛtijñāna-sākṣatkriyāvidyā) hoặc Túc trú thông (宿住通), biết được những gì xảy ra trong những cuộc sống của chính mình trước đây, trong những kiếp trước đây cũng như cuộc sống của chúng sinh trong sáu nẻo luân hồi (Lục đạo 六道, Lục thú 六趣); 3. Lậu tận thông (漏盡通; s: āśravakṣayajñānasākṣatkriyāvi-dyā), biết được là mình đã đoạn diệt tất cả những ô nhiễm, lậu hoặc, sẽ không phải tái sinh trong Tam giới.
Tam-muội 三昧; C: sānmèi; J: sammai, zammai; S, P: samādhi; J: zan-mai; dịch âm, dịch nghĩa là Ðịnh;|Thuật ngữ dịch âm từ chữ Phạn samādhi, có nghĩa là »Gom lại«, »phối hợp tâm«, »Tĩnh lự một cách chuyên chú«, »Hấp thụ toàn hảo«. Một cấp bậc tập trung thiền định cao. Ðịnh.
Tam-muội chính thụ 三昧正取; C: sānmèi zhèngqǔ; J: sanmai-shōju;|1. Hoàn toàn tin tưởng không nghi ngờ giáo lí của một Thánh nhân đã đạt một cấp bậc thiền định thâm sâu; 2. Định, cấp bậc tập trung cao.
Tam-muội-da 三昧耶; C: sānmèiyé; J: sanmaiya;|Một cách phiên âm chữ Phạn »samaya«: 1. Thời gian, đặc biệt là một khoảng thời gian đặc thù; 2. Một cuộc hội họp, gặp gỡ; 3. Giáo lí cơ bản của một trường phái.
Tam-muội-da hình 三昧耶形; C: sānmèiyéxíng; J: sanmaiya-gyō;|Một hình ảnh với giá trị biểu tượng. Trong đạo Phật thì đây chính là những biểu tượng tỏ bày lời nguyện ước của chư Phật, chư Bồ Tát như cung, tên, gậy, bình hoặc những thủ Ấn.
Tam nghi 三疑; C: sān yí; J: sangi;|Ba mối nghi ngờ cản trở việc tu hành nghiêm túc bất động: Nghi ngờ chính mình, nghi ngờ bậc thầy, nghi ngờ Phật pháp.
Tam phân biệt 三分別; C: sānfēnbié; J: sanfunbetsu;|Sự phân biệt với ba thành phần; xảy ra giữa giác quan, đối tượng, và nhận thức hệ thuộc phát sinh qua sự tiếp xúc (theo Biện trung biên luận 辯中邊論).
Tam pháp 三法; C: sānfǎ; J: sanhō;|Ba loại pháp: I. 1. Giáo (教), nghĩa là giảng dạy; 2. Hành (行) với ý nghĩa thực hành và 3. Chứng (證) với ý nghĩa chứng ngộ, trực chứng; II. Chỉ ba bộ phần trong tam tạng là Kinh (經), Luật (律) và Luận (論); III. Chỉ ba loại pháp: 1. Chân pháp (真法), giáo lí chan thật; 2. Giả pháp (假法), pháp giả tạo và 3. Mạt pháp (末法), pháp trong lúc suy tàn.
Tâm pháp 心法; S: cittadharma; |Tâm sở
Tam pháp ấn 三法印; C: sānfǎyìn; J: sanbōin;|Ba dấu ấn của pháp, ba đặc tính của nguyên tắc. Chỉ ba khía cạnh đặc thù của Phật pháp, hoàn toàn khác biệt những giáo lí ngoại đạo: 1. Chư hành vô thường (諸行無常), tất cả đều vô thường; 2. Chư pháp vô ngã (諸法無我), tất cả đều không có một cơ sở tự tồn và 3. Niết-bàn tịch tĩnh (涅槃寂靜), tức là niết-bàn là sự an tĩnh tuyệt đối.
Tắm Phật Hán Việt: Dục Phật (浴佛)|Một buổi lễ phổ biến tại Trung Quốc, được tổ chức vào ngày Phật đản sinh, mùng 8 tháng 4 âm lịch. Trong buổi lễ này, một pho tượng nhỏ của đức Phật Thích-ca – được trình bày dưới dạng liên hoa toạ (Phật toạ), tay phải chỉ trời, tay trái chỉ xuống đất – được đem ra tắm và cúng lạy. Toàn thể Tăng-già đều tham dự buổi lễ tắm Phật này.|Truyền thống tắm Phật vốn xuất xứ từ Ấn Ðộ, bắt nguồn từ sự tích rằng, sau khi sinh ra tại Lam-tì-ni (lumbinī), đức Phật được chín con rồng đến phun nước tắm rửa.
Tam phiền não 三煩惱; C: sānfánnăo; J: sanbonnō;|Trong luận Du-già sư địa (瑜伽師地論; s: yogācārabhūmi-śāstra), Vô minh (無明), Ái (愛) và Thủ (取) là ba nhánh nghiệp quan trọng trong Thập nhị chi (十二支).
Tam quả 三果; C: sānguǒ; J: sanka;|1. Là quả vị thứ ba của bốn thánh quả (Tứ quả 四果) được dạy trong Tiểu thừa: quả vị Bất Hoàn (不還), hoặc ba quả vị đầu của Tứ quả; 2. Ba loại hậu quả hoặc ba loại (cách) tái sinh; 3. Trong Thiên Thai tông, đây là quả vị của Tạng (藏, với ý nghĩa Đại tạng), Thông (通) và Biệt (別).
Tam quan 三關|Ba ải
Tam quán 三觀; C: sānguān; J: sangan;|I. Ba cách quán sát. Ba cách thiền quán được dạy đầu tiên trong Anh lạc bản nghiệp kinh, sau được chiếu rọi tường tận bởi Trí Khải (智顗). Chúng là: 1. Không quán (空觀), phủ nhận những cảm thụ, nhận thức hiện thật một cách sai lạc; 2. Nhân duyên quán (因緣觀), giúp diệt trừ kiến giải chấp không; 3. Trung quán (中觀), dung nhiếp cả hai lối quán trên nhưng không chấp trước, vướng mắc vào chúng. II. Ba phương pháp thiền định được dạy trong kinh Viên Giác: 1. Xa-ma-tha (奢摩他; s: śamatha), một dạng thiền định mà trong đó, tâm thức của hành giả được lắng đọng qua sự tập trung vào một đối tượng; 2. Tam-ma Bát-để (三摩鉢提; s: samāpatti), quán sát một chân lí Phật pháp, ví như nguyên lí Duyên khởi, và 3. Thiền-na (禪那; s: dhyāna), không dựa vào hai cách Thiền quán trên. Ba phương pháp thiền này gần giống như ba phương pháp nêu bên trên.
Tam quốc di sự 三國遺事; C: sānguó wèishì; J: sankoku yuiji;|Một tác phẩm bao gồm năm quyển của Cao tăng Hàn quốc Nhất Nhiên (一然; k: iryǒn, 1206-1289), với những mẩu chuyện nói về sự truyền bá và phát triển đạo Phật tại Hàn quốc, đặc biệt chú trọng đến thời kì Tam quốc và Tân La. Tác phẩm này là nền tảng của việc nghiên cứu lịch sử Phật giáo Hàn quốc, đã được dịch sang Anh ngữ năm 1972.
Tam quy y 三歸依; S: triśaraṇa; P: tisaraṇa;|Ba quy y
Tam sinh 三生; C: sānshēng; J: sanshou;|Ba đời sống, ba kiếp sống. I. Kiếp sống trước, hiện tại và tương lai. II. Ba cấp bậc chính trong thời gian thực hiện Phật quả: 1. Phát nguyện, quyết định trở thành một Phật-đà; 2. Tu tập và tích luỹ công đức; 3. Chứng ngộ Phật quả, thành Phật. III. Ba cấp bậc (cuộc sống) được dạy trong tông Thiên Thai, cơ bản cũng như ba cấp bậc trước đây: 1. Chủng (種, cũng gọi là Phát tâm 發心); 2. Thục (熟, chín muồi, có thể gọi là Tu hành 修行) và 3. Giải thoát (解脱). VI. Ba cuộc sống theo Hoa Nghiêm tông: 1. Kiến văn sinh (見聞生), thấy và nghe Phật thuyết pháp trong kiếp sống trước đây; 2. Giải hành sinh (解行生), nghĩa là tu tập đạt giải thoát đời nay và 3. Chứng nhập sinh (證入生), tức là chứng ngộ và nhập đạo trong cuộc đời tương lai.
Tâm sở 心所; S, P: cetasika; hoặc Tâm sở hữu pháp (s: caitta-dharma);|Là những yếu tố phụ thuộc vào tâm, gắn liền với một nhận thức (s: vijñāna) – nhận thức đây cũng được gọi là Tâm vương (s: citta-rāja), là hoạt động tâm thức chủ yếu – đang sinh khởi và khởi lên đồng thời với nhận thức đó. Việc phân tích và hệ thống hoá các tâm sở là một kì công của các Ðại luận sư Ấn Ðộ. Chúng mô tả tất cả những khía cạnh tâm trạng mà ai cũng có thể tự khám phá, tìm được nơi chính mình – có thể gọi là bản đồ tâm lí của con người.|Trong khi Kinh tạng tóm thâu mọi hiện tượng của sự sống dưới Ngũ uẩn sắc, thụ, tưởng, hành, thức thì A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ đề cập 3 khía cạnh triết lí, phân tích tâm lí khi bàn đến những gì hiện Hữu (s: bhava): Tâm (citta), Tâm sở và Sắc (rūpa). Tâm sở bao gồm Thụ (vedanā), Tưởng (saṃjñā) và 50 Hành (saṃskāra), tổng cộng là 52 tâm sở. Trong số này, 25 có tính chất cao cả (thiện và trung tính về phương diện nghiệp), 14 là Bất thiện (akuśala) còn 13 bất định, nghĩa là có thể thiện, bất thiện hay trung tính tuỳ thuộc vào tâm (thức) mà chúng tương ưng.|Nhất thiết hữu bộ (sarvāstivāda) chia các tâm sở thành sáu loại theo luận A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharmakośa) của Thế Thân (vasubandhu) và A-tì-đạt-ma phát trí luận (abhidharmajñānaprasthāna-śāstra) của Già-đa-diễn-ni tử (kātyāyanīputra), tổng cộng là 46 tâm sở:|I. 10 Ðại địa pháp (大地法; s: mahābhūmikā-dharma); chỉ mười tác dụng tâm lí tương ưng và đồng sinh khởi với tất cả Tâm vương: 1. Thụ (受; vedanā), thụ, lĩnh nạp. Có ba loại thụ, đó là: khổ thụ, lạc thụ, phi khổ phi lạc thụ; 2. Tưởng (想; saṃjñā), tưởng, tưởng tượng, đối cảnh mà chấp tướng sai biệt; 3. Tư (思; cetanā), ý định, ý muốn, tâm tạo tác; 4. Xúc (觸; sparśa): xúc, sự xúc đối do căn, cảnh và thức sinh ra; 5. Dục (欲; chanda), mong cầu vì đối ngoại cảnh; 6. Huệ (慧; prajñā, mati), trí huệ phân tích, đối với các pháp có sự phân biệt, chọn lựa; 7. Niệm (念; smṛti), tâm niệm, ghi nhớ không quên; 8. Tác ý (作意; mānaskāra), tỉnh táo cảnh giác hay khiến cho tâm cảnh giác; 9. Thắng giải (勝解; adhimokṣa), sự hiểu biết thù thắng, đối cảnh sinh ra tác dụng ấn khả, thẩm định; 10. Tam-ma-địa (三摩地) hoặc Ðịnh (定; sa-mādhi), chính định, đẳng trì, tức là định tâm chuyên chú vào một cảnh, một đối tượng.|II. 10 Ðại thiện địa pháp (大善地法; kuśalama-hābhūmikādharma): 1. Tín (信; śraddhā), lòng tin tưởng chắc chắn; 2. Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進; vīrya), siêng năng tu tập; 3. Xả (捨; upekṣā); 4. Tàm (慚; hrī), cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh; 5. Quý (愧; apatrāpya, apatrapā), biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 6. Vô tham (無貪; alobha); 7. Vô sân (無瞋; adveśa); 8. Bất hại (不害; ahiṃsā); 9. Khinh an (輕安; praśrabdhi); 10. Bất phóng dật (不放逸; apramāda).|III. 6 Ðại phiền não địa pháp (大煩惱地法; kle-śamahābhūmikā-dharma) là các pháp gây phiền não, gây khổ, bao gồm sáu loại: 1. Si (癡) hoặc Vô minh (無明; moha, avidyā); 2. Phóng dật (放逸; pramāda); 3. Giải đãi (懈怠; kausīdya), tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác; 4. Bất tín (不信; āśraddya); 5. Hôn trầm (昏沉; styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén; 6. Trạo cử (掉舉; auddhatya), hồi hộp không yên.|IV. 2 Ðại bất thiện địa pháp (大不善地; akuśa-lamahābhūmikā-dharma): 1. Vô tàm (無慚; ā-hrīkya), không tôn kính, không biết tự hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 2. Vô quý (無愧; anapatrāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội.|V. 10 Tiểu phiền não địa pháp (小煩惱地法; parīttabhūmikā-upakleśa): 1. Phẫn (忿; krodha); 2. Phú (覆; mrakṣa), thái độ đạo đức giả, che dấu cái xấu của mình; 3. Xan (慳; mātsarya), xan tham, ích kỉ; 4. Tật (嫉; īrṣyā), ganh ghét; 5. Não (惱; prādaśa), cứng đầu, ngoan cố, làm bực bội; 6. Hại (害; vihiṃsā), tâm trạng muốn hành động ác hại; 7. Hận (恨; upanāha), lòng hận thù; 8. Xiểm (諂; mā-yā), nói xạo, loè người; 9. Cuống (誑; śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc; 10. Kiêu (憍; mada), tự phụ.|VI. 8 Bất định địa pháp (不定地法; anityatābhū-mikādharma), gọi là »bất định« vì chúng có thể thuộc về dạng thiện hoặc bất thiện, tuỳ theo căn cơ của Tâm vương. Ví dụ như Tầm, là tâm sở suy nghĩ phân tích. Nó là tâm sở tốt nếu Tâm vương có gốc thiện – ví dụ như suy nghĩ, chú tâm về giáo pháp của đức Phật, diệt khổ – hoặc xấu, nếu Tâm vương là một pháp bất thiện, như suy nghĩ phân tích cách lừa gạt người… Bất định địa pháp bao gồm tám loại: 1. Hối (悔; kaukṛtya), ăn năn, hối hận; 2. Miên (眠; middha), giấc ngủ; 3. Tầm (尋; vitarka), suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; 4. Tứ (伺; vicāra), suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế; 5. Tham (貪; rāga), tham mê, đắm mê; 6. Sân (瞋; pratigha), tức giận; 7. Mạn (慢; māna), kiêu mạn; 8. Nghi (疑; vicikitsā).|Trong Duy thức tông, người ta phân biệt 51 loại tâm sở. Ðại sư Vô Trước (asaṅga) phân chia 51 tâm sở này thành sáu loại trong Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharmasamu-ccaya):|I. 5 Biến hành tâm sở (遍行; sarvatraga), năm loại tâm pháp lúc nào cũng hiện hành xuất phát cùng với một tâm vương, gồm có: 1. Xúc (sparśa); 2. Tác ý (manaskāra); 3. Thụ (vedanā); 4. Tưởng (saṃjñā); 5. Tư (cetanā), tương ưng với tất cả tâm và tâm sở; |II. 5 Biệt cảnh tâm sở (別境; viniyata) năm loại tâm pháp xác định ngoại cảnh: 1. Dục (chanda); 2. Thắng giải (adhimokṣa); 3. Niệm (smṛti); |4. Ðịnh (samādhi); 5. Huệ (prajñā), chỉ duyên (nương) theo các cảnh khác nhau mà sinh khởi.|III. 11 Thiện tâm sở (善; kuśala): 1. Tín (śraddhā); 2. Tàm (hrī); 3. Quý (apatrāpya); 4. Vô tham (a-lobha); 5. Vô sân (adveṣa); 6. Vô si (amoha); 7. Tinh tiến (vīrya); 8. Khinh an (praśrabdhi); 9. Bất phóng dật (apramāda); 10. Xả (upekśā); 11. Bất hại (avihiṃsā).|IV. 6 Căn bản phiền não tâm sở (根本煩惱; mū-lakleśa): 1. Tham (rāga); 2. Hận (pratigha); 3. Mạn (māna); 4. Vô minh (avidyā); 5. Nghi (vicikit-sā); 6. Kiến (dṛṣṭi) cũng được gọi là Ác kiến.|Ðiểm thứ sáu là Kiến cũng thường được chia ra làm năm loại: 1. Thân kiến (身見; satkāyadṛṣṭi): một kiến giải cho rằng thân thể được tạo bằng ngũ uẩn là một cái »ta« (我), là »cái của ta« (我所); 2. Biên kiến (邊見; tagrāhadṛṣṭi): một kiến giải liên hệ đến phiền não, cho rằng cái »ta« được tạo bằng ngũ uẩn là một cái gì đó thường còn, vĩnh viễn [thường kiến] hoặc ngược lại, là một cái gì đó bị đoạn diệt, không có gì tiếp nối giữa hai cuộc sống con người [đoạn kiến]; 3. Kiến thủ kiến (見取見; dṛṣṭiparā-marśa): kiến giải cho rằng một kiến giải bất thiện hoặc ngũ uẩn, cơ sở xuất phát của kiến giải bất thiện này là những điều tuyệt hảo. Kiến giải bất thiện trong trường hợp này là Thân kiến, Biên kiến; 4. Giới cấm thủ kiến (戒禁取見; śīlavrata-pa-rāmarśa): là một kiến giải cho rằng, những quy tắc xử sự sai hoặc những lời hướng dẫn tu tập sai – như tự xem mình như con thú và bắt chước thái độ của nó –, hoặc ngũ uẩn, cơ sở của những việc sai trái trên là điều hay nhất; 5. Tà kiến (邪見; mith-yādṛṣṭi): kiến phủ nhận cái gì thật sự tồn tại, thêu dệt thêm vào những gì thật sự không có.|V. 20 Tuỳ phiền não tâm sở (隨煩惱; upakleśa): |1. Phẫn (krodha); 2. Hận (upanāha), uất ức, tâm thù oán; 3. Phú (mrakṣa), che dấu tội lỗi, đạo đức giả; 4. Não (pradāśa), làm bực bội phiền nhiễu; 5. Tật (īrṣyā), ganh ghét vì thấy người ta hơn mình; 6. Xan (mātsarya), xan tham, ích kỉ; 7. Xiểm (māyā), giả dối, nói mình có những đức tính tốt mà thật ra thì không có; 8. Cuống (śāṭhya), gian lận, dối gạt, lừa lọc; 9. Kiêu (mada), tự phụ; 10. Ác (vihiṃsā); 11. Vô tàm (āhrīkya), không tôn kính, không biết hổ thẹn về việc tội lỗi đã làm; 12. Vô quý (anapa-trāpya, anapatrapā), tâm không biết sợ với tội quả, không biết hổ thẹn đối với người khác khi phạm tội; 13. Hôn trầm (styāna), tâm chìm đắm, lừ đừ, thiếu linh động, nhạy bén; 14. Trạo cử (auddhatya), hồi hộp không yên; 15. Bất tín (āśraddhyā); 16. Giải đãi (kausīdya), tâm trạng không tinh tiến, biếng nhác; 17. Phóng dật (pramāda); 18. Thất niệm (失念; muṣitasmṛtitā), chóng quên, không chú tâm; 19. Tán loạn (散亂; vikṣepa); 20. Bất chính tri (不正知; asaṃ-prajanya), hiểu biết sai.|VI. 4 Bất định tâm sở (aniyata), bất định bởi vì các tâm sở này thay đổi giá trị tuỳ theo các tâm vương. Chúng bao gồm: 1. Hối (kaukṛtya), hối hận; 2. Miên (middha), giấc ngủ; 3. Tầm (vitarka), suy nghĩ, tìm hiểu dạng thô; 4. Tứ (vicāra), suy nghĩ, tìm hiểu dạng tinh tế.|Cách phân chia như trên của Duy thức tông được xem là bước tiến triển cuối cùng trong việc phân tích, phân loại các tâm sở và cũng là bản phân loại tiêu chuẩn cho tất cả những trường phái Ðại thừa tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng.
Tam sự 三事; C: sānshì; J: sanji;|Có nhiều cách phân loại: 1. Giới, định và huệ; 2. Tham, sân, si; 3. Uống, ăn và quần áo (ẩm, thực, y phục 飲食衣服); 4. Kinh, luật, luận.
Tam tam-muội 三三昧; C: sān sānmèi; J: sansanmai;|Ba loại tam-muội (Định): 1. Không tam-muội (空三昧); 2. Vô tướng tam-muội (無相三昧); 3. Vô tác tam-muội (無作三昧; theo Kim cương tam-muội kinh 金剛三昧經)
Tam tạng 三藏; S: tripiṭaka; P: tipiṭaka;|I. Là ba phần cốt tuỷ của kinh sách đạo Phật, gồm: Kinh tạng (經藏; s: sūtra-piṭaka; p: sutta-piṭaka), Luật tạng (律藏; s, p: vinaya-piṭaka), Luận tạng (論藏; s: abhi-dharma-piṭaka; p: abhidhamma-piṭaka).|Kinh tạng gồm các bài giảng của chính đức Phật hoặc các đại đệ tử, chia làm năm bộ: Trường bộ kinh (p: dīgha-nikāya), Trung bộ kinh (p: majjhima-nikāya), Tương ưng bộ kinh (p: saṃyutta-nikāya), Tăng-nhất bộ kinh (p: aṅguttara-nikāya) và Tiểu bộ kinh (p: khuddaka-nikāya).|Luật tạng chứa đựng lịch sử phát triển của Tăng-già (s, p: saṅgha) cũng như các giới luật của người xuất gia, được xem là tạng sách cổ nhất, ra đời chỉ vài mươi năm sau khi Phật nhập Niết-bàn.|Luận tạng – cũng được gọi là A-tì-đạt-ma – chứa đựng các quan niệm đạo Phật về triết học và tâm lí học. Luận tạng được hình thành tương đối trễ, có lẽ là sau khi các trường phái đạo Phật tách nhau mà vì vậy, nó không còn giữ tính chất thống nhất, mặc dù sự khác biệt giữa các trường phái không đáng kể.|Tam tạng còn được truyền lại trọn vẹn nhất chính là Tam tạng Pā-li, có lẽ xuất phát từ một bản của Trưởng lão bộ (s: sthavira) ở Trung Ấn. Theo truyền thuyết, Kinh tạng và Luật tạng bằng tiếng Pā-li được viết lại trong lần kết tập thứ nhất (năm 480 trước Công nguyên), trong đó Ưu-bà-li nói về Luật và A-nan-đà trình bày giáo pháp. Những lời thuật lại của hai vị đại đệ tử này của Phật (Mười đại đệ tử) đã trở thành cơ sở của hai tạng đó. Theo một số tài liệu thì Luận tạng cũng hình thành ngay sau đó. Ngoài văn hệ Pā-li, ngày nay người ta cũng còn các tạng kinh, luật bằng Phạn ngữ (sanskrit), được Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) lưu truyền, nhất là ở những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ.|Kinh sách của các tông phái khác như Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) và Pháp Tạng bộ (s: dhar-maguptaka) ngày nay chỉ còn trong bản chữ Hán. Các kinh sách quan trọng của Phật giáo Trung Quốc và Nhật Bản phần lớn đều xuất phát từ Pháp Tạng bộ. Các bộ này không xếp thành hệ thống nghiêm khắc như những tạng Pā-li và qua thời gian cũng có thay đổi. Danh mục cũ nhất về các Kinh tạng vào năm 518 (sau Công nguyên) ghi lại 2113 tác phẩm. Toàn bộ kinh sách đó được in lại lần đầu trong năm 972 (Ðại chính tân tu đại tạng kinh, Cam-châu-nhĩ/Ðan-châu-nhĩ).|II. Một danh hiệu dành cho những Cao tăng, những vị Đại sư được xem là tinh thông Tam tạng, như vậy là thông suốt hết tất cả những thánh điển nhà Phật. |III. Một cách gọi kinh điển, giáo lí của hàng Nhị thừa. |VI. Chỉ ba loại hành giả: Hành giả Thanh Văn (聲聞), hành giả Duyên Giác (緣覺) và hành giả Bồ Tát (菩薩).
Tam tế 三際; C: sānjì; J: sanzai;|»Ba thời kì«. 1. Trước, giữa, và sau hoặc là dĩ vãng, hiện tại và vị lai; 2. Ba thế giới, thời gian vô hạn lượng.
Tam tế 三細; C: sānxì; J: sansai;|»Ba tinh tế« hoặc »Ba tướng tinh tế«. Là cách phân chia Vô minh thành ba thành phần tinh tế, được tìm thấy trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論): 1. Vô minh nghiệp tướng (無明業相), tướng vi tế của nghiệp, được thúc đẩy bởi vô minh; 2. Năng kiến tướng (能見相), là tướng vi tế của kẻ nhìn, tâm thức chủ quan; 3. Cảnh giới tướng (境界相), tướng vi tế của thế giới khách quan. Tuỳ người cảm nhận (năng kiến), cảnh giới trình hiện một cách sai lạc. Chức năng của những khía cạnh nêu trên rất vi tế, đối nghịch với Lục thô (六麁), sáu tướng thô trọng (theo Khởi tín luận 起信論).
Tam tế lục thô 三細六麁; C: sānxì liùcū; J: sanzairokuso;|»Ba tướng vi tế và sáu tướng thô thiển« được giảng thuyết trong luận Đại thừa khởi tín (大乘起信論).
Tam tế tướng 三細相; C: sānxìxiāng; J: sansaisō;|Tam tế (三細).
Tam thân 三身; C: sānshēn; J: sanshin; S: trikāya; |Ba thân
Tám thắng xứ Thắng xứ: S, P: abhibhāvāyatana;|Tám phép thiền định để vượt dục giới bằng cách làm chủ các thụ tưởng. Các phép thiền định này được trình bày rất sớm trong các kinh sách đạo Phật. Tám thắng xứ là: 1. Quán nội sắc, quán ngoại sắc có hạn lượng. 2. Quán nội sắc, quán ngoại sắc vô hạn lượng. Hai giai đọạn này giúp hành giả từ bỏ lòng ham muốn các sắc và tương ưng cấp 1 của Tám giải thoát (s: aṣṭavimokṣa). 3. Quán vô sắc ở nội tâm, quán ngoại sắc có hạn lượng. 4. Quán vô sắc ở nội tâm, quán ngoại sắc vô hạn lượng. Hai giai đoạn này giúp hành giả kiên cố chính định và tương ưng với cấp 2 của Tám giải thoát. Trong giai đoạn 5 đến 8, hành giả quán vô sắc ở nội tâm, thấy ngoại sắc màu xanh, vàng, đỏ, nhằm ngăn chận lòng ham muốn sắc thể đẹp xấu. Các giai đoạn 5-8 tương với cấp thứ ba của Tám giải thoát và cấp 5-8 của phép quán biến xứ (p: kasiṇa).|»Quán nội sắc« có nghĩa là lựa một chỗ lớn (vô hạn) hay chỗ bé (có hạn) trên thân và tập trung quán sát nó, sau nhiều lần thấy nó chỉ là phản ánh của tâm. Trong giai đoạn 3. và 4., hành giả lựa một ngoại sắc (thí dụ một cánh hoa). Lựa ngoại sắc thì nên lấy một ngoại sắc nhỏ dành cho người có tâm bất định, ngoại sắc lớn dành cho người có tâm si mê, ngoại sắc đẹp dành cho người hay từ chối, ngoại sắc xấu dành cho người còn tham dục.
Tám thánh đạo S: ārya-aṣṭāṅgika-mārga; P: ariya-aṭṭhāṅgika-magga;|Bát chính đạo
Tam Thánh Huệ Nhiên 三聖慧然; C: sānshèng huìràn; J: sanshō enen; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ thượng thủ nối pháp của Thiền sư Lâm Tế Nghĩa Huyền. Sư cũng là người biên soạn những pháp ngữ của Lâm Tế trong Lâm Tế ngữ lục.|Sau khi được Lâm Tế ấn khả, Sư chu du khắp nơi, tiếng tăm lừng lẫy. Sư thăm viếng nhiều tùng lâm và đến đâu cũng được tiếp đãi trọng hậu. Công án 49 trong Bích nham lục thuật lại cuộc gặp gỡ của Sư với Thiền sư Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư hỏi: »Cá vàng thoát lưới lấy gì làm thức ăn?« Tuyết Phong đáp: »Ðợi ông ra khỏi lưới rồi đến đây sẽ nói.« Sư bảo: »Là thiện tri thức của 1500 người mà thoại đầu cũng không biết.« Tuyết Phong bèn nói: »Lão tăng trụ trì nhiều việc.«|Ðến gặp Thiền sư Hương Nghiêm Trí Nhàn. Hương Nghiêm hỏi: »Từ đâu đến?« Sư đáp: »Từ Lâm Tế đến.« Hương Nghiêm hỏi: »Ðem được kiếm của Lâm Tế đến chăng?« Sư chẳng nói, lấy toạ cụ đánh Hương Nghiêm rồi đi. Hương Nghiêm im lặng mỉm cười.|Ðến viếng Thiền sư Ðức Sơn Tuyên Giám. Vừa thấy Sư trải toạ cụ ra, Ðức Sơn liền bảo: »Chớ có trải cái khăn phủi bụi, nơi đây không có canh cặn cơm thừa.« Sư đáp: »Dù có cũng không có chỗ đổ.« Ðức Sơn liền đánh, Sư chụp gậy và đẩy thẳng đến giường thiền. Ðức Sơn cười to. Sư nói: »Trời xanh!« rồi xuống nhà tham thiền.|Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch rất mến tài hùng biện của Sư. Lúc mới gặp, Ngưỡng Sơn hỏi: »Ông tên gì?« Sư thưa: »Huệ Tịch.« Ngưỡng Sơn ngạc nhiên bảo: »Huệ Tịch là tên của ta.« Sư liền nói: »Huệ Nhiên.« Ngưỡng Sơn cười lớn.|Một ông quan đến thăm, Ngưỡng Sơn hỏi: »Quan ở vị nào?« Quan thưa: »Dẹp quan.« Ngưỡng Sơn dựng phất tử hỏi: »Lại dẹp được cái này chăng?« Ông quan không đáp được và trong chúng cũng không ai trả lời vừa lòng Ngưỡng Sơn. Lúc đó Sư đang nằm tại Niết-bàn đường (nơi nuôi dưỡng bệnh nhân), Ngưỡng Sơn sai thị giả đến trình. Sư đáp: »Hoà thượng có việc.« Ngưỡng Sơn lại sai thị giả hỏi: »Chưa biết có việc gì?« Sư lại đáp: »Tái phạm chẳng tha.« Nghe vậy Ngưỡng Sơn thầm nhận và có ý định truyền Phất tử của Bách Trượng lại cho Sư (Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải trao cho Hoàng Bá Hi Vận thiền bản bồ đoàn, trao cho Quy Sơn Linh Hựu phất tử, Quy Sơn lại truyền cho Ngưỡng Sơn) nhưng Sư từ chối không nhận vì đã có thầy. Ngưỡng Sơn nhân đây mới biết Sư là môn đệ của Lâm Tế.|Sau, Sư trụ trì tại Viện Tam Thánh, học chúng đến rất đông. Không biết Sư tịch nơi nào, năm nào.
Tam thập nhị tướng 三十二相; C: sānshíèr xiāng; J: sanjūni sō; S: dvātriṃśan mahā-puruṣa-lakṣaṇāni.|Ba mươi hai tướng đặc thù của một hóa thân Phật. Có nhiều kinh luận khác nhau miêu tả, trình bày ba mươi hai tướng này khác nhau, nhưng một trong những cách trình bày thường gặp nhất được tìm thấy trong Du-già sư địa luận (瑜伽師地論; s: yogācārabhū-mi-śāstra) bao gồm: |1. Lòng bàn chân phẳng (túc hạ an bình lập tướng 足下安平立相; s: supratiṣṭhita-pāda); 2. Bánh xe pháp dưới lòng bàn chân (túc hạ nhị luân tướng 足下二輪相; s: cakrāṅkita-hasta-pāda-tala); 3. Ngón tay thon dài (trường chỉ tướng 長指相; s: dīr-ghāṅguli); 4. Bàn chân thon (túc cân phu trường tướng 足跟趺長相; s: āyata-pāda-pārṣṇi); 5. Ngón tay ngón chân cong lại (thủ túc chỉ man võng tướng 手足指縵網相; s: jālāvanaddha-hasta-pāda); 6. Tay chân mềm mại (thủ túc nhu nhuyễn tướng 手足柔軟相; s: mṛdu-taruṇa-hasta-pāda-tala); 7. Sống (mu) chân cong lên (túc phu cao mãn tướng 足趺高滿相; s: ucchaṅkha-pāda); 8. Cặp chân dài thon như chân sơn dương (y-ni-diên-đoán tướng 伊泥延踹相; s: aiṇeya-jaṅgha); 9. Đứng thẳng tay dài quá đầu gối (正立手摩膝相; s: sthi-tānavanata-pralamba-bāhutā); 10. Nam căn ẩn kín (âm tàng tướng 陰藏相; s: kośopagata-vasti-guhya); 11. Dang tay ra rộng dài bằng thân mình (thân quảng trường đẳng tướng 身廣長等相; s: nyagrodha-parimaṇḍala); 12. Lông đứng thẳng (mao thượng hướng tướng 毛上向相; s: ūr-dhvaṃga-roma); 13. Mỗi lỗ chân lông có một cọng lông (nhất nhất khổng nhất mao sinh tướng 一一孔一毛生相; s: ekaika-roma-pradakṣiṇāvarta); 14. Thân vàng rực (kim sắc tướng 金色相; s: suvarṇa-varṇa); 15. Thân phát sáng (đại quang tướng 大光相); 16. Da mềm mại (tế bạc bì tướng 細薄皮相; s: sūkṣma-suvarṇa-cchavi); 17. Tay, vai và đầu tròn tương xứng (thất xứ long mãn tướng 七處隆滿相; s: sapta-utsada); 18. Hai nách đầy đặn (lưỡng dịch hạ long mãn tướng 兩腋下隆滿相; s: citāntarāṃsa); 19. Thân người như sư tử (thượng thân như sư tử tướng 上身如獅子相; s: siṃha-pūrvārdha-kāya); 20. Thân thẳng đứng (đại trực thân tướng 大直身相; s: ṛjugātratā); 21. Hai vai đầy đặn mạnh mẽ (kiên viên hảo tướng 肩圓好相; susaṃvṛta-skandha); 22. Bốn mươi cái răng (tứ thập xỉ tướng 四十齒相; s: catvāriṃśad-danta); 23. Răng đều (xỉ tề tướng 齒齊相; s: sama-danta); 24. Răng trắng (nha bạch tướng 牙白相; s: suśukla-danta); 25. Hàm sư tử (sư tử giáp tướng 獅子頰相; s: siṃha-hanu); 26. Nước miếng có chất thơm (vị trung đắc thượng vị tướng 味中得上味相; s: rasa-rasāgratā); 27. Lưỡi to dài (đại thiệt tướng 大舌相; s: prabhūta-tanu-jihva); 28. Tiếng nói tao nhã (phạm thanh tướng 梵聲相; s: brahma-svara); 29. Mắt xanh trong (chân thanh nhãn tướng 眞青眼相; s: abhinīla-netra); 30. Mắt giống mắt bò (ngưu nhãn tiệp tướng 牛眼睫相; s: go-pakṣmā); 31. Lông trắng giữa cặp chân mày (bạch mao tướng 白毛相; s: ūrṇā-keśa); 32. Một khối u trên đỉnh đầu (đỉnh kế tướng 頂髻相; s: uṣṇīṣa-śiraskatā).
Tam thập tam thiên 三十三天; C: sānshísān tiān; J: sanjūsan ten; S: trāyastriṃśa.|Ba mươi ba vị Thiên sống trên đỉnh của núi Tu-di, trong tầng trời thứ hai của sáu tầng trời cõi dục (Lục dục thiên 六欲天). Đế-thích thiên ngự tại trung tâm với tám vị Thiên khác ở mỗi hướng trong bốn hướng xung quanh.
Tam thập thất đạo phẩm 三十七道品; C: sānshíqī dàopǐn; J: sanjū-nanadōhin;|Ba mươi bảy thành phần hỗ trợ con đường giác ngộ, là những cách tu tập giúp hành giả đạt bồ-đề. Chúng bao gồm: Tứ niệm xứ (四念處), Tứ chính cần (四正勤), Tứ thần túc (四神足), Ngũ căn (五根), Ngũ lực (五力), Thất giác chi (七覺支) và Bát thánh đạo (八聖道).
Tam thất nhật 三七日; C: sānqī rì; J: sanshichinichi;|1. Một chu kì bao gồm 21 ngày; 2. Ngày thứ hai mươi mốt.
Tam thế 三世; C: sānshì; J: sansei;|Ba thế giới; ba thời; ba thời dĩ vãng, hiện tại và vị lai (s: try-adhvan, try-adhvahak, loka-traya). Cũng gọi là Tam tế (三祭).
Tam thế Phật 三世佛|Ba thời Phật
Tam thiện căn 三善根; C: sān shàngēn; J: san zenkon;|Có hai cách phân chia: 1. Ba thiện căn của Vô tham (無貪), vô sân (無瞋), và vô si (無癡). Chúng được gọi như vậy bởi gì được xem là những tâm trạng căn bản của thiện lành. Theo Du-già hành tông thì tất cả những nhân tố thiện lành đều xuất phát từ ba thiện căn này. 2. Thí (施), Từ (慈) và Huệ (慧). Chúng được xem là đối nghịch với Tam độc (三毒).
Tam thiên đại thiên thế giới 三千大千世界; C: sānqiān dàqiān shìjiè; J: sanzen daisen sekai; S: trisāhasra-mahāsāha-sra-loka-dhātu.|Hàng tỉ thế giới, tạo thành một cõi Phật. Là thế giới bao gồm đục giới và tầng thứ nhất của cung trời thuộc Sắc giới. Một ngàn nhân một ngàn nhân một ngàn là một tỉ thê giới, thường được viết ngắn là Tam thiên thế giới (三千世界). Đây là một cách mô tả tính chất rộng mở mênh mông, xuyên suốt của toàn thể vũ trụ theo vũ trụ quan của người Ấn thời xưa.
Tam thỉnh 三請; C: sānqǐng; J: sanshō;|Ba lời thỉnh cầu. Hỏi ba lần. Trong những bài kinh, đức Phật thường được thỉnh cầu ba lần trước khi ngài thuyết pháp.
Tam thời 三時; C: sānshí; J: sanji;|Ba thời; cách hệ thống hoá, phân chia giáo pháp của Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời đoạn, ba chu kì: Chính pháp (正法); Tượng pháp (像法) và Mạt pháp (末法). Chính tượng mạt (正像末).
Tam thời giáo phán 三時教判; C: sānshí jiāopàn; J: sanji kyōhan;|Cách phân loại giáo lí thành ba thời. Chỉ cách phân loại giáo lí của đức Phật Thích-ca Mâu-ni thành ba thời. Pháp tướng tông (法相宗) chủ trương ba thời giáo: Phật thuyết các pháp đều hiện hữu, đều trống không và Phật thuyết trung đạo. 1. Giáo lí của thời kì đầu (hữu) chủ trương tồn tại trên cơ sở nhân duyên, nhưng những thành phần (pháp) của sự tồn tại này thật sự tồn tại. Giáo lí này được giảng dạy trong những bộ kinh A-hàm và những bộ kinh Tiểu thừa khác; 2. Giáo lí thời kì thứ hai, chủ trương nguồn gốc của tất cả vạn vật đều là trống không. Thời kì này cũng được gọi là »thời kì phủ định«, là thời điểm bắt đầu của giáo lí Đại thừa, chuyển đổi dần từ giáo lí Tiểu thừa. Kinh điển hệ Bát-nhã Ba-la-mật-đa là những ví dụ tiêu biểu cho giáo lí thời kì này; 3. Giáo lí thời kì thứ ba được gọi là »Chân không«: Trung đạo được giải thích một cách xác định trong những bộ kinh như Hoa nghiêm và Giải thâm mật. Thời kì này cũng được gọi là »Chân Đại thừa«.
Tam thụ 三受; C: sānshòu; J: sanju;|Ba cảm thụ, cảm xúc: An vui, đau khổ, và chẳng vui chẳng khổ.
Tam thừa 三乘; C: sānshèng; J: sanjō; S: triyāna;|Ba thừa
Tam thừa thánh nhân 三乘聖人; C: sānshèngshèngrén; J: sanjō shōnin;|Chỉ ba hàng Thánh nhân của ba cỗ xe: Thanh Văn (聲聞; s: śrāvaka), Duyên Giác (縁覺; s: pratyekabuddha) và Bồ Tát (菩薩; s: bodhisattva).
Tam thừa thập nhị bộ phần giáo 三乘十二部分教|Ba thừa mười hai phần giáo
Tam tính 三性; hoặc Tam tướng; S: trilakṣaṇa; P: ti-lakkhaṇa;|Ba tính
Tam trí 三智; C: sānzhì; J: sanchi;|Ba loại trí huệ. Có nhiều cách phân loại trong nhiều kinh luận khác nhau nên mối liên hệ trong mỗi trường hợp phải được chú ý:|I. 1. Pháp trí (法智), trí huệ hiểu biết chư pháp; 2. Tỉ trí (比智), trí hiểu biết, phân biệt vạn vật sai biệt và 3. Đẳng trí (等智), trí thế tục (theo A-tì-đàm Tì-bà-sa luận 阿毘曇毘婆沙論).|II. 1. Nhất thiết trí (一切智), trí huệ hiểu biết tất cả; 2. Đạo chủng trí (道種智), trí biết được những con đường tu tập khác nhau; 3. Nhất thiết trí trí (一切智智), trí thông đạt tất cả những loại trí huệ khác. Ba loại trí này tương quan đến ba Thánh quả Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát (theo Tứ giáo nghi chú 四教儀註).|III. 1. Văn huệ (trí); 2. Tư huệ và Tu huệ (theo Du-già luận 瑜伽論, Tam huệ).|VI. Ba loại trí được dạy trong Đại trí độ luận (大智度論): 1. Nhất thiết trí (一切智) của hàng Nhị thừa (Thanh Văn), là trí hiểu biết tất cả những khía cạnh khác biệt của chư pháp; 2. Đạo chủng trí (道種智) của hàng Bồ Tát, là trí hiểu biết khía cạnh toàn vẹn của chư pháp và 3. Nhất thiết chủng trí (一切種智) của chư Phật, trí huệ toàn hảo biết được tất cả khía cạnh của các pháp.
Tam trú (trụ) 三住; C: sānzhù; J: sanjū; S: trayo vihārāḥ; P: tayo vihārā.|Ba chỗ trú của tâm: Thiên trú, Phạm trú và Huệ trú. Nói một cách khác: Ba chỗ an trú thiện hảo của tâm (theo Du-già luận 瑜伽論).
Tam tụ 三聚; C: sānjù; J: sanju;|Ba loại hội tụ, ba nhóm: 1. Chính tính định tụ (正性定聚): Nhóm sẽ theo con đường chân chính; 2. Tà tính định tụ (邪性定聚): Nhóm sẽ theo con đường tà và 3. Bất định tụ (不定聚): Nhóm sẽ theo con đường bất định.
Tam vật 三物; J: sanmotsu;|Chỉ ba vật mà một vị Lão sư nhận được từ Bản sư của mình sau một thời gian hoằng hoá đạt kết quả tốt đẹp. Ai chính thức được công nhận là Chính sư (j: shōshi) và đã hướng dẫn những người khác trên thiền đạo với kết quả tốt đẹp, người ấy sẽ được trao tam vật trong một buổi lễ. Thời xưa, tiêu chuẩn để được trao tam vật được đặt rất cao, rất nghiêm ngặt.|Trong buổi lễ này, pháp danh của vị được trao tam vật được ghi bằng ba cách khác nhau trên ba tấm giấy (vì vậy mà có tên là tam vật, kích thước khoảng 30x100 cm) và trên ba tấm giấy này, hệ thống truyền thừa từ Phật Thích-ca đến người được truyền trao tam vật được ghi lại.
Tam vô lậu căn 三無漏根; C: sān wúlòugēn; J: san murō-kon;|Ba căn cơ không bị ô nhiễm: 1. Hiểu được nguyên tắc của Tứ đế (四諦) mà trước đó chưa hề biết; 2. Nghiên cứu thực hiện Tứ đế để tiêu diệt phiền não; 3. Biết là mình đã chứng ngộ được tứ đế (theo Câu-xá luận 倶舎論).
Tam vô số đại kiếp 三無數大劫; C: sānwúshǔdàjié; J: sanmushudaikō;|Ba kiếp lớn vô số kể, Tam a-tăng-kì kiếp (三阿僧祇劫).
Tam vô tính 三無性; C: sān wúxìng; J: sanmushō;|Ba loại vô tính. Đối nghịch với Tam tính (Biến kế sở chấp tính, Y tha khởi tính và Viên thành thật tính), Ba loại vô tính này được kiến lập trên cơ sở các pháp đều không có một cơ sở tự tồn. 1. Tướng vô tính (相無性): Các tướng, các trình hiện, những gì thấy được đều không thật, ví như một sợi dây thừng trông giống như một con rắn; 2. Sinh vô tính (生無性): Sinh thành, tồn tại không có một cơ sở tự tồn nào. Sinh thành trình hiện tuỳ nhân duyên, và sự tồn tại của nó chỉ tạm thời; 3. Thắng nghĩa vô tính (勝義無性): Sự thật tối thượng cũng vô tính.
Tam vô tính luận 三無性論; C: sānwúxìng lùn; J: sanmushō ron;|Luận nói về thuyết Tam vô tính, được Chân Đế dịch sang Hán văn, gồm hai quyển. Tác phẩm này đặc biệt chú trọng đến thuyết Tam vô tính trong hệ thống Du-già hành. Tác giả được xem là Vô Trước (無著) hoặc Thế Thân (世親).
Tam xa 三車; C: sānchē; J: sansha;|»Ba cỗ xe«. Một ẩn dụ trong kinh Pháp Hoa, câu chuyện »căn nhà cháy«, cụ thể như sau: Một vài đứa trẻ đang chơi trong nhà, mà không ngờ nó căn nhà đang cháy. Bố của chúng dụ chúng ra khỏi nhà bằng cách nói bên ngoài có ba chiếc xe, một chiếc xe kéo bởi con dê, một chiếc thứ hai được kéo bởi con hưu và chiếc thứ ba được kéo bởi con bò. Và khi những đứa trẻ ra khỏi nhà, chúng chỉ thấy tất cả chỉ là một chiếc xe bò trắng. Ba cỗ xe này là ví dụ cho Tam thừa: Thanh Văn, Duyên Giác và Bồ Tát thừa. Câu chuyện này được đề ra để giảng giải rằng, mặc dù có Đại thừa Tiểu thừa trong giáo lí nhà Phật, nhưng chung quy thì tất cả những phương tiện đều dẫn đến giác ngộ như nhau. Căn nhà cháy tượng trưng cho biển sinh tử luân hồi, bị vây phủ bởi phiền não vô minh. Những đứa trẻ là hành giả của Tam thừa. Cỗ xe kéo bởi con dê tượng trưng cho Thanh văn thừa, xe với con hưu là Duyên Giác thừa và xe bò tượng trưng cho Bồ Tát thừa. Và khi bọn trẻ ra khỏi nhà thì những cỗ xe bò trắng giống nhau đã được chuẩn bị để trao cho chúng. Đây là những ẩn dụ chỉ lòng đại từ đại bi của đức Phật khi ngài gạt bỏ những phương tiện tam thời, dẫn dắt chúng sinh trở về một Phật thừa duy nhất. Các đại biểu Phật giáo Trung Quốc được chia thành hai nhóm: nhóm thứ nhất với quan điểm xe bò trước khi nhóm trẻ thơ ra khỏi nhà và xe bò trắng to (như vậy là xe thứ tư) là một (và như vậy thì chỉ có ba cỗ xe). Thuộc vào nhóm này là tông Pháp tướng và tông Tam luận. Nhóm thứ hai, với tông Hoa Nghiêm và Thiên Thai là đại biểu, quan niệm rằng, cỗ xe trắng lớn sau này khác cỗ xe bò trước đây. Như vậy thì »Tam thừa gia« quan niệm Bồ Tát thừa và Phật thừa như nhau, trong khi »Tứ thừa gia« lại quan niệm chúng khác nhau.
Tam y 三衣; S: tricīvara; y phục ba phần, cũng được gọi là »Nạp y« (衲衣; s: kanthā) bộ áo vá chắp;|Y phục của một Tỉ-khâu hoặc Tỉ-khâu-ni. Phần trong (dưới) được gọi là An-đà-hội (安陀會; s: antaravāsaka) là một mảnh vải vá (năm mảnh vải vá lại) cuộn lại dùng làm đồ lót dưới. Phần ngoài là Uất-đa-la-tăng (鬱多羅僧; s: uttarāsaṅga) cũng là một tấm vải vá dùng để khoác ngoài để đi khất thực. Phần thứ ba là Tăng-già-lê (僧伽梨; s: saṅgāti), một tấm vải khoác ngoài, chỉ được dùng trong những ngày lễ và được vá từ 9-25 mảnh vải nhỏ. Màu của nạp y thường là màu vàng nhưng cũng thay đổi tuỳ theo tông phái, theo truyền thống. Tăng, ni tại Trung Quốc thường mang màu xanh, nâu. Tại Tây Tạng người ta chuộng màu đỏ, tại Nhật màu đen. Tất cả những y phục này đều phải được may từ nhiều mảnh vải để nhấn mạnh truyền thống sống cơ hàn, vô sản của một tỉ-khâu.
Tần-bà-sa-la 擒婆娑羅; S, P: bimbisāra;|Vua xứ Ma-kiệt-đà (magadha) trong thời Phật Thích-ca Mâu-ni. Năm 30 tuổi – nhân nghe một bài giảng của Ðức Phật – ông trở thành tín đồ phụng sự đạo pháp. Ông là người tặng đức Phật Trúc Lâm (p: veḷuvana), nơi Ðức Phật và Tăng-già thường dừng chân. Tần-bà-sa-la sau bị con trai là A-xà-thế (p: ajātasattu) giết chết.
Tan-tê-pa S: taṅtepa; »Người mê cờ bạc«;|Một trong 84 vị Tất-đạt (siddha) Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|Ông ở xứ Câu-thướng-di (s: kauśāmbī), thuộc giai cấp thấp kém, ham đánh bạc. Khi thua hết gia sản, không còn ai cho mượn tiền đánh bạc, ông buồn rầu rút lui sống trên bãi đốt xác. Một vị Du-già sư đi ngang, khuyên ông tu tập, ông trả lời có phép nào tu tập mà vẫn đánh bạc được thì ông mới chịu tu. Vị này liền dạy ông phép quán tưởng, »xem thế giới trống rỗng như túi tiền của mình, nếu có thể phá tan gia sản bằng con súc sắc, thì cũng thể phá tan khái niệm bằng tri kiến. Sự mất mát chính là niềm vui!« |Như ngươi mất hết tiền,|lúc đánh trò súc sắc,|hãy đánh mất tư duy,|về cả ba cõi giới,|hãy chơi trò súc sắc,|của tâm thức vô niệm.|Như bị con nợ đánh,|hãy đánh hạ tư duy,|vào không gian trống rỗng.|Ngồi trên bãi đốt xác,|mà tự hoà tan mình|trong Ðại lạc mênh mông.||H 51: Tan-tê-pa (taṅtepa) đang trình bày tính Không (s: śūnyatā).|Tan-tê-pa nghe lời tu phép quán niệm và đạt tri kiến. Sau khi đạt Tất-địa, ông biến mất vào thế giới của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Chứng đạo ca của ông có những dòng sau:|Mọi tư duy, tưởng tượng|đã biến mất tan vào,|trong thức vô biên xứ.|Mọi kinh nghiệm hiện tượng,|tan biến trong tính Không.|Trong 84 vị Tất-đạt, Tan-tê-pa (kẻ đánh bạc) làm ta nhớ đến Khát-ga-pa (khaḍgapa), người ăn trộm và Tha-ga-na-pa (thaganapa), người mang tật nói dối.
Tấn Thuỷ 晉水; C: jìn shuĭ; J: shinsui; |Tên gọi khác của Tịnh Nguyên (淨源), Tăng sĩ tông Hoa Nghiêm trong thời kì Phật giáo phục hưng đời Tống.
Tan-ti-pa S: tantipa; »Người thợ dệt«;|Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Ông là một thợ dệt, có nhiều con. Ðến lúc được 89 tuổi, ông bị con cái lại ruồng bỏ, cho vào ở một túp lều trong vườn. Ngày nọ, một vị Ma-ha Tất-đạt là Ja-lan-đa-ra (s: jālandhara) đến nhà ông khất thực, được con cái của ông bố thí thức ăn và mời ở lại nghỉ qua đêm. Ông gặp vị Du-già sư này và than: »Cuộc đời thật bạc bẽo, nuôi con cho lớn khôn rồi chúng nó hổ thẹn với người ngoài vì có ông cha già nua, đem dấu trong vườn để không ai phải nhìn.« Ja-lan-đa-ra khuyên ông: »Tất cả những gì chúng ta làm là một trò chơi, một trò chơi có ngày phải chấm dứt; ai bước vào cõi này đều cũng phải chịu đau khổ; tất cả, và thật là tất cả đều là Ảo ảnh, không có tự tính. Niết-bàn mới là tịch tịnh, là hạnh phúc«, rồi hỏi: »Ông có muốn tu tập chuẩn bị đón cái chết không?« Người thợ dệt nhận lời ngay và Ja-lan-đa-ra truyền cho ông bí mật của Hô Kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và phép thiền quán. Sau mười hai năm tu tập, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahā-mudrāsiddhi). Về sau con cái tình cờ thấy ông được thiên nhân hầu hạ mới biết cha mình đắc đạo. Nhờ phép thần, ông trẻ lại và sống thêm 16 năm nữa. Trong thời gian này, ông giáo hoá rất nhiều người và sau đó được lên cõi của các vị Không hành nữ (s: ḍākinī). Thánh đạo ca của Tan-ti-pa như sau:|Căng ngang rồi căng dọc,|là cách dệt thế gian.|Còn ta, với Ðạo sư,|dệt tấm vải chứng thật,|bằng sợi chỉ Năm trí.|Lược là lời Khai thị,|Khung là chính tri kiến,|toàn hảo về tính Không|Dệt chiếc áo Pháp thân,|từ không gian vô tận,|và tri kiến thuần tịnh.
Tan-tra S: tantra; cũng được gọi theo âm Hán Việt là Ðát-đặc-la (怛特羅), nguyên nghĩa »tấm lưới dệt«, »mối liên hệ«, »sự nối tiếp«, »liên tục thống nhất thể«, đôi lúc được dịch là Nghi quỹ;|Một danh từ trừu tượng, khó dịch nên phần lớn các ngôn ngữ trên thế giới (Anh, Pháp, Ðức) đều không có từ tương ưng. Trong Phật giáo Tây Tạng, Tan-tra chỉ tất cả các kinh sách về nhiều ngành khác nhau (Tan-tra y học, Tan-tra thiên văn…), nhưng trong nghĩa hẹp Tan-tra chỉ tất cả các sách vở nói về phép tu thiền định của Kim cương thừa và cũng được dùng để chỉ những phép tu thiền định này. Phép tu luyện Tan-tra có tính chất kinh nghiệm cá nhân, và thường dựa trên ba khái niệm: Nhân, Ðạo, Quả. Nhân chính là hành giả, Ðạo là con đường, phương pháp tu luyện, nhằm thanh lọc con người và Quả là tình trạng mà hành giả chứng ngộ. Ba giai đoạn này được Tan-tra chỉ bày trong vô số phương tiện khác nhau. Người ta cho rằng khi Phật Thích-ca thể hiện Phật quả qua dạng Pháp thân (s: dharmakāya) thì Ngài đã hành trì Tan-tra. Vì vậy cũng có người xem đức Phật là người sáng lập Tan-tra.|Truyền thống Tây Tạng chia Tan-tra làm bốn loại để tương ưng với căn cơ của từng người:|1. Tác tan-tra (s: kriyā-tantra): Tan-tra hành động (tác), nghi lễ. Người tu tập Tan-tra này có kết đàn trường, cúng dường, đọc chú, bắt ấn nhưng chưa quán tưởng, tu tập thiền định;|2. Hành tan-tra (s: caryā-tantra): Tan-tra tu luyện qua hành động hằng ngày, dành cho những người tu tập nhưng không cần hiểu rõ lí tột cùng;|3. Du-già tan-tra (s: yoga-tantra): Tan-tra luyện tâm (thiền định);|4. Vô thượng du-già tan-tra (s: anuttarayoga-tantra): phương pháp tu luyện tột cùng, thành Phật trong kiếp này, với thân này.|Sự khác nhau giữa bốn cấp này xuất phát từ căn cơ của hành giả và tính hiệu quả của các phép tu. Các tác phẩm quan trọng của Vô thượng du-già tan-tra là Bí mật tập hội tan-tra (s: guhyasamāja-tantra), Hô kim cương tan-tra (s: hevajra-tantra) và Thời luân tan-tra (s: kālacakra-tantra). |Trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) lại chia Vô thượng du-già tan-tra làm ba loại: Ma-ha du-già (s: mahāyoga), A-nậu du-già (s: anuyoga) và A-tì du-già (s: atiyoga, xem Ðại cứu kính). Những phép Tan-tra này xem tâm thanh tịnh là gốc của mọi phép tu. Ngoài ra, Tan-tra xem việc vượt qua tính nhị nguyên để đạt nhất thể là một nguyên lí quan trọng. Tính nhị nguyên có khi được Tan-tra diễn tả bằng nguyên lí nam tính (s: upāya; khía cạnh Phương tiện) và nữ (s: prajñā; Trí huệ), vì vậy tại phương Tây không ít người hiểu lầm, cho rằng tu tập Tan-tra là thuần tuý liên hệ với tính dục nam nữ.
Tăng 增; C: zēng; J: zō;|Có các nghĩa sau: 1. Nhanh hơn, thêm, mở rộng, nâng cao, tăng thêm (s: vṛddhi, abhyudaya, pravardhita, vivardhana); 2. Cao cả, đề cao. Xuất sắc, cao cấp, khá hơn, ưu tú; 3. Trên, hơn, vượt xa hơn. Thượng hạng, quá mức, thặng dư; 4. Gắn bó, phụ chương, nhận làm chi nhánh; phụ thuộc, bổ trợ; 5. Không bị ngăn trở (tăng thượng 增上); 6. Tám địa ngục càng lúc càng trở nên đau khổ.
Tăng 僧; C: sēng; J: sō;|Có các nghĩa sau: 1. Đầu tiên là gọi tắt phiên âm từ Tăng-già (僧伽; s: saṃgha), nghĩa là đoàn thể của Tăng ni; 2. Thuộc về Tăng, hoặc là của Tăng; 3. Về sau, trong cách dùng của người Đông Á, trở thành từ đề cập đến cá nhân Tăng và Ni, nhưng trước đó, từ nầy đã đề cập đến đoàn thể gồm 3 đến 4 vị Tăng ni trở lên.
Tằng 曾; C: céng; J: sō; |1. Đã, rồi, quá khứ. Có, đã có. Biểu thị cho quá khứ; 2. Trải qua; 3. Rồi, thì; 4. Hơn nữa, thêm vào; 5. Tên dòng họ.
Tăng chính 僧正; C: sēngzhèng; J: sōjō;|Trách nhiệm lớn nhất trong hàng giáo phẩm Phật giáo, tương đương với Tổng giám mục trong giáo hội Thiên chúa giáo La-mã.
Tăng chúng 僧衆; C: sēngzhòng; J: sōshū;|Tăng ni thuộc đoàn thể tăng lữ Phật giáo; đoàn thể của những người xuất gia tu đạo (s,p: saṃgha).
Tăng cương 僧綱; C: sēnggāng; J: sōgō;|Tăng thống (còn gọi là Tăng quan 僧官) – một chức việc hành chính mà thành viên trong hàng Tăng lữ Phật giáo được bổ nhiệm, nguồn gốc phát xuất từ Trung Hoa, và cũng được thành lập dưới nhiều dạng khác nhau ở Hàn Quốc và Nhật Bản. Ba chức danh thông dụng nhất, xếp từ giai vị trên xuống dưới là Tăng chính (僧正), Tăng đô (僧都), Luật sư (律師).
Tăng cường 增強; C: zēngqiáng; J: sōkyō;|Làm mạnh hơn, gia tăng sức lực.
Tăng đô 僧都; C: sēngdū; J: sōto, sōzu;|Chức danh thứ hai trong 3 chức danh tiêu biểu của vị Tăng coi sóc việc hành chính của tăng đoàn trong hệ thống tổ chức tăng lữ vùng Đông Á. Tăng cương (僧綱).
Tăng-già 僧伽; C: sēng qié; J: sōgya; S, P: saṅgha;|1. Chỉ hội đoàn của các vị Tỉ-khâu (s: bhik-ṣu), Tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī) cũng như các Sa-di (s: śrāmaṇera). Trong nhiều trường hợp, các Cư sĩ cũng được liệt vào Tăng-già.|Tăng-già là một trong Tam bảo (s: triratna), là một đối tượng trong Ba quy y của Phật tử. Ðời sống của Tăng-già được quy định trong các giới luật được ghi trong Luật tạng.|2. Chỉ phái Số luận (s: saṃkhya); |3. Con sư tử (s: siṃha).
Tăng-già-lợi y 僧伽利依; C: sēngqié lìyī; J: sōgyarie; S: saṃghha-ārāma.|Nơi tăng chúng tụ tập để tu tập Phật pháp: Chùa hay Tu viện. Thường viết là Tăng-già-lam (僧伽藍) hoặc Già-lam (伽藍).
Tăng-già Nan-đề 僧伽難提; S: saṃghanandi;|Tổ thứ 17 Thiền tông Ấn Ðộ.
Tăng-già tự 僧伽寺; C: sēngqiésì; J: sōgyaji;|Một ngôi chùa toạ lạc trên núi Tam Giác (三角山), sinh hoạt trong thời đại Cao Li (高麗; k: koryǒ) và Triều Tiên (朝鮮; k: chosǒn).
Tăng-già Xá-đa 僧伽舍多; S: saṃghayathata;|Tổ thứ 18 Thiền tông Ấn Ðộ
Tăng Hải 僧海; C: sēnghăi; J: sōkai; 599-654;|Môn đệ của Tín Hành (信行), người sáng lập Tam giai giáo (三階教), trú tại Hoá Độ tự (化度寺) thuộc Trường An.
Tăng Hưu 僧休; C: sēngxiū; J: sōkyū;|Cao Tăng thời Bắc Nguỵ, là thành viên Địa luận tông (地論宗) trường phái phía Bắc. Sư là đệ tử của Đạo Sủng (道寵).
Tăng Hựu 僧祐; C: sēngyòu; J: sōyū; 445-518.|Một trong những vị sớm nhất lập mục lục Tam tạng kinh điển Trung Hoa lưu hành thời đó. Tác phẩm lớn có tên là Xuất tam tạng tập kí (出三藏集記). Tăng Hựu hoàn tất mục lục ngay trước khi tịch diệt, biên soạn một danh mục đồ sộ dựa trên danh mục cũ (hiện nay đã thất lạc) mà sư có được trong suốt quá trình nghiên cứu thời ấy.
Tăng ích 增益; C: zēngyì; J: zōyaku;|1. Gia tăng, mở rộng, nâng cao; 2. Nhận thức sai lầm và thừa nhận vật gì không thật sự hiện hữu. Tự mình dính líu vào một dạng hiện hữu khách quan. Quan niệm cường điệu về sự hiện hữu, đối nghịch với Tổn diệt (損滅); 3. Mang đến vận may, làm cho hưng thịnh, thịnh vượng, sung túc.
Tăng ích chấp 增益執; C: zēngyìzhí; J: zōekishū; |Chấp vào quan niệm có (hữu 有), hoặc thường (常), là một cực đoan – theo Nguyên Hiểu (元曉, k: wŏnhyo), môn đệ của tông Pháp tướng – rất thường xảy ra.
Tăng-kì 僧祇; C: sēngqí; J: sōgi;|A-tăng-kì (阿僧祇).
Tăng Lãng 僧朗; C: sēnglăng; J: sōrō; K: sǔngnang;|Một trong những vị Cao tăng sớm nhất tại Hàn Quốc (Cao Cú Li 高句麗; k: koguryǒ, tk. 6-6) đến Trung Hoa, trải qua một thời gian rất lớn để tham học Tam luận (三論) và Hoa Nghiêm (華嚴) trước khi trở về quê nhà.
Tăng lữ 僧侶; C: sēnglǚ; J: sōryo;|Thành viên trong Tăng đoàn. Giới tăng lữ (s: saṃgha); còn gọi Tăng chúng (僧衆).
Tăng nhất A-hàm kinh 增一阿含經; C: zēngyī āhán jīng; J: zōichi agonkyō; S: ekottara-āgama-sūtra; |Một trong 4 bộ kinh trong tạng A-hàm; gồm 51 quyển, do Cồ-đàm Tăng-già-đề (瞿曇僧伽提, s: gautama-saṃghadeva) dịch năm 397. Toàn kinh có 52 phẩm, gồm tất cả 451 kinh. Chi tiết các chủ đề được đánh số từ 1 đến 11 và các kinh được tập hợp theo nội dung.
Tăng-nhất bộ kinh 增一部經; S: ekottarāgama; P: aṅguttara-nikāya;|Bộ kinh thứ tư của Kinh tạng. Bộ này gồm 11 tập, thường ngắn hơn các kinh khác và được sắp xếp thứ tự theo pháp số mà chủ đề của mỗi bài kinh được chia ra. Về mặt cấu trúc này thì Tăng-nhất bộ kinh khá giống A-tì-đạt-ma (s: abhidharma).
Tăng phẩm 增品; C: zēngpǐn; J: sōhon;|Hạng, loại vật gì được tinh chế tốt hơn, hay hơn… loại trước.
Tăng quan 僧官; C: sēngguān; J: sōkan;|Vị coi sóc về mặt hành chính của toàn thể tăng đoàn. Tăng cương (僧綱).
Tăng-tắc Ca-la 僧塞迦羅; C: sēngsē jiāluó; J: sōsokukara;|Phiên âm của từ »samskāra« trong tiếng Phạn, thường được diễn đạt qua tiếng Hán là Hành (行). Một trong Ngũ uẩn (五蘊; s: skandha). Sự thúc đẩy.
Tăng thạnh 增盛; C: zēngshèng; J: sōjō; S : udrika; P: vuddhi |Gia tăng, mở rộng, phát triển, đạt được bằng quyền lực, mãnh liệt.
Tạng thức 藏識; S: ālaya-vijñāna;|A-lại-da thức
Tăng thượng 增上; C: zēngshàng; J: zōjō; S: ādhipatya |Có các nghĩa sau: 1. Làm tăng thêm, gia tăng, phát triển; 2. Cao cấp, ưu thế, vượt trội, tột bực; 3. Chủ yếu, không ngăn ngại.
Tăng thượng duyên 增上縁; C: zēngshàng yuán; J: zōjōen; S: adhipati-pratyaya.|Là 1 trong 4 duyên theo giáo lí của tông Duy thức. Có nghĩa là »nhân duyên liên quan đến sự thiếu vắng hay có mặt của điều kiện cho phép«. Là tất cả mọi nhân duyên góp thêm vào nhân duyên chính để tạo thành sự hiện hữu (hữu lực 有力), cùng những điều kiện dù không góp phần trực tiếp vào nguyên nhân, cũng đều thuộc về tính chất của vô lực (無力). Do vậy, đối với mọi trường hợp, khi một vật sinh khởi, có vô số yếu tố tác động và chi phối. Những yếu tố nầy được gọi là »nguyên nhân vượt qua các điều kiện ảnh hưởng trực tiếp« hoặc Tăng thượng duyên.
Tăng thượng mạn 增上慢; C: zēngshàngmàn; J: sōjōman;|1. Quá tự cao; cực kì kiêu ngạo, quá ngạo mạn (s: adhimāna); 2. Tuyên bố dối trá rằng mìmh đã chứng được chân lí tối hậu và có thần thông; 3. Tự cho rằng mình có đức hạnh lớn trong khi thực không có. Đây là loại thứ 5 trong Thất mạn (七慢).
Tăng thượng quả 增上果; C: zēngshàng guŏ; J: zōjōka; S: adhipati-phala| Nguyên nhân phụ thuộc đi cùng với nguyên nhân chính được gọi là »tăng thượng duyên«, và kết quả của việc nầy được gọi là Tăng thượng quả.
Tăng tiến 增進; C: zēngjìn; J: zōshin; |Mở rộng và phát triển; phát triển và thăng tiến; gia tốc.
Tăng Triệu 僧肇; C: sēngzhào; J: sōjō; 374 hoặc 378-414;|Cao tăng của Tam luận tông, một dạng Trung quán tông truyền từ Ấn Ðộ qua Trung Quốc. Có thể nói rằng, Sư là luận sư xuất sắc nhất của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ năm và cũng là người đầu tiên trong Phật giáo Trung Quốc nắm vững và trình bày hoàn hảo giáo lí tính Không của Long Thụ. Tác phẩm nổi tiếng nhất là Triệu luận (肇論) và Bảo tạng luận (寶藏論). Sư cũng soạn bài tựa cho kinh Duy-ma-cật, bài tựa cho kinh Trường A-hàm, bài tựa cho Bách luận.|Sư là người Kinh Triệu, xuất thân từ một gia đình nghèo. Sư có nghề viết mướn nên có điều kiện đọc rất nhiều sách và rất chú tâm đến các lời dạy của hai vị Lão Tử, Trang Tử. Sau khi nghiên cứu kĩ quyển Ðạo đức kinh của Lão Tử, Sư tự than: »Hay thì hay lắm nhưng còn trụ nơi hư vô, chưa đến chỗ tột cùng.« Sau khi đọc được kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra) – bản dịch của Cưu-ma-la-thập (s: kumārajīva) – Sư hoan hỉ nói: »Nay mới biết được chỗ về!« Sư nhân đây phát tâm xuất gia, trở thành tăng sĩ và đến với Cưu-ma-la-thập tại Cô Tàng, xin được theo học ý chỉ. Sau khi Cưu-ma-la-thập dời về Trường An, Sư cũng theo thầy về đó để phụ giúp trong việc dịch thuật. Nơi Cưu-ma-la-thập, Sư ngộ được giáo lí Trung đạo, giáo lí tính Không của Long Thụ. |Sư nổi tiếng với tính cách của một tư tưởng gia và văn sĩ là nhờ bốn quyển sách, gọi chung lại là Triệu luận (肇論), bao gồm: Bát-nhã vô tri luận (般若無知論), Bất chân không luận (不真空論), Vật bất thiên luận (物不遷論) và Niết-bàn vô danh luận (涅槃無名論). Trong đó, Sư nêu tính thống nhất của tương đối và tuyệt đối, của hiện tượng và bản thể, chúng vừa không rời nhau, vừa đối nghịch nhau. Tác phẩm của Sư hết sức uyên bác và có trình độ văn chương cao, là những tổng hợp thật sự của tư tưởng Trung Quốc và Ấn Ðộ. Sau khi đọc luận Bát-nhã vô tri, Cưu-ma-la-thập bảo Sư: »Kiến giải ta không hơn ông, vậy nên kính trọng nhau vậy.« Khi bài luận này đến tay Huệ Viễn – Khai tổ của Tịnh độ tông – Huệ Viễn chỉ biết thốt lên: »Chưa từng có!«|Trong luận Vật bất thiên, Tăng Triệu quan niệm rằng, tính »bất biến« của sự vật được biểu lộ bằng: cái đã qua không hề »bất động« và đồng nhất với cái đang là, đồng thời, cái đã qua cũng chẳng vận động để trở thành cái đang là. Theo Sư, vừa không có động cũng chẳng có bất động. Sư viết như sau (bản dịch của Thích Duy Lực): |»… Thật đáng thương xót! Ðã biết vật xưa chẳng đến mà lại nói vật nay có đi; vật xưa đã chẳng đến mà vật nay làm sao đi được? Tại sao? Tìm vật xưa nơi xưa, xưa chưa từng không; tìm vật xưa nơi nay, nay chưa từng có. Nay chưa từng có thì rõ ràng không đến; xưa chưa từng không, nên biết vật chẳng đi…«|Sư nhấn mạnh rằng, Thánh nhân lúc nào cũng sống trong thật tại, hiện tại, sống theo nhịp sống của thời gian nên chính vì vậy, họ thoát khỏi vòng ảnh hưởng, trói buộc của thời gian, ở ngay trong thiên hình vạn trạng mà không bị chúng lay động, ở ngay trong động mà không thấy nó động. Việc gì có giá trị cho hiện tại thì nó chỉ có giá trị cho hiện tại, việc gì có giá trị cho ngày hôm qua thì nó chỉ có giá trị cho ngày hôm qua. Người ta không nên so sánh phân biệt những gì đã xảy ra với những việc đang xảy ra hoặc sẽ xảy ra. Trong trường hợp này, người châu Âu thường sử dụng một câu rất hay là »Ðó chỉ là tuyết của ngày hôm qua« (bởi vì hôm nay tuyết đã tan và trở về với mây khói). Ðể nhấn mạnh điều này, Sư dẫn một ví dụ của một nhân vật xưa tên Phạn Chí. Phạn Chí tuổi trẻ xuất gia, đến lúc đầu bạc trở về thì các người láng giềng trầm trồ: »Người xưa còn sống sao?« Phạn Chí đáp: »Tôi giống người xưa mà chẳng phải người xưa ấy.« Hàng xóm nghe không hội cho rằng ông nói sai.|Về tính Không (s: śūnyatā), Sư cho rằng sự vật vừa tồn tại vừa không tồn tại: tất cả đều phụ thuộc lẫn nhau, một khi nguyên nhân của sự vật mất đi thì sự vật cũng hết tồn tại. Ðối với Sư, trình hiện tồn tại tương tự như một hình ảnh ảo thuật, hình ảnh đó không thật, nhưng có trình hiện tồn tại – trên bình diện ảo thuật – cho nên cũng không thể nói nó không tồn tại.|Trong luận Bát-nhã vô tri – luận quan trọng nhất trong bốn bộ luận – Sư cho rằng Bát-nhã là loại trí mà trong đó, cái tuyệt đối chính là đối tượng nhận thức. Nhưng, cái tuyệt đối lại trống rỗng và phi tính chất nên cái tuyệt đối không thể trở thành đối tượng nhận thức. Thế nhưng cái tuyệt đối đó lại là bản thể của mọi sự vật. Vì vậy, một Thánh nhân vừa an trụ trong Không tính và Vô vi, nhưng vừa lại nằm trong lĩnh vực của hành động (Bất hành nhi hành). Nguyên văn:|»Lại sự chiếu dụng của Bát nhã không cần tác ý cho nên chân tâm của bậc thánh nếu trống rỗng trong sạch được chừng nào thì sự chiếu dụng đầy đủ chừng ấy, do đó suốt ngày tri (biết) mà chưa từng tri vậy. Thật lí chứng bên trong, ánh sáng tiềm ẩn mà quyền trí luôn luôn hiện ra sự ứng cơ hoá độ bên ngoài. Vì vô tri nên tâm được trống rỗng, tự nhiên đạt đến chiếu soi nhiệm mầu, lấp bít tâm trí thông minh mà sự độc giác lại âm thầm cùng khắp nơi, thành ra chẳng có chỗ bất tri là nghĩa đây vậy.«|Triệu luận đã có ảnh hưởng rất nhiều trong nền Phật giáo Trung Quốc, ngay cả Thiền tông, một môn phái không chú trọng nhiều đến văn tự. Tương truyền rằng, khi đọc luận Niết-bàn vô danh – đến chỗ »Bậc chí nhân trống rỗng vô hình mà vạn vật đều do tâm tạo. Ngộ được vạn vật đều quy về tự kỉ, ấy chỉ có bậc Thánh mới chứng được«, Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên bỗng nhiên có ngộ nhập, cao hứng tự vỗ bàn nói to: »Thánh nhân chẳng có cái ta (Ngã) bởi vì tất cả chính là ta. Còn gì để mà phân biệt ta và người!« Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích cũng đã nghiên cứu kĩ bộ luận này trước khi đến và ngộ chân lí nơi La-hán Quế Sâm. |Với Tăng Triệu, Ðại thừa hệ phái Trung quán đã đứng vững và đã mang một sắc thái riêng biệt của Trung Quốc – nhưng hoàn toàn không kém đẳng cấp cũ tại Ấn Ðộ với những Ðại luận sư như Long Thụ, Thánh Thiên.
Tăng trưởng 增長; C: zēngzhăng; J: zōjō;|Có các nghĩa sau: 1. Gia tăng, mở rộng, nới rộng ra (s: vṛddhi); 2. Tăng cường, củng cố, phát triển; 3. Làm phấn chấn; 4. Trở nên khá hơn hay chiềm ưu thế hơn; 5. Nhân duyên để hoàn tất nghiệp báo; 6. Đưa ra, dẫn đến, làm nổi bật; 7. Sự đề cao ảnh hưởng và thế lực, do vậy, cao mạn.
Tăng trưởng thiên 增長天; C: zēngchángtiān; J: zōjōten; S: virūḍhaka|Một trong Tứ thiền thiên. Cai quản loài quỷ Cưu-bàn-trà (s: kumbhāṇḍa) và trấn giữ phương Nam.
Tăng Ung 僧邕; C: sēngyōng; J: sōyū; 543-631;|Đệ tử của Tín Hành, người sáng lập Tam giai giáo, trú trì chùa Hoá Độ (化度寺), Trường An.
Tăng Xán 僧璨; C: sēngcàn; J: sōsan; ?-606;|Tổ thứ ba của Thiền tông Trung Quốc, nối pháp của Nhị tổ là Huệ Khả và là thầy của Tứ tổ Ðạo Tín. Sau khi được ấn khả, Sư lang thang đây đó, sống ẩn dật không ai biết. Ngoài Thiền sư Ðạo Tín, Sư có truyền pháp cho Tì-ni-đa Lưu-chi, người sau này đem Thiền tông sang Việt Nam. Sư cũng là tác giả của Tín tâm minh, một tác phẩm trứ danh, rất phổ biến trong giới thiền.
Tào Ðộng tông 曹洞宗; C: cáo-dòng-zōng; J: sōtō-shū;|Tông phái Thiền quan trọng tại Trung Quốc được hai vị Thiền sư sáng lập là Ðộng Sơn Lương Giới và đệ tử là Tào Sơn Bản Tịch. Người ta ghép hai chữ đầu của tên hai vị này và gọi là Tào Ðộng. |Mặc dù mục đích tu tập trong hai trường phái Lâm Tế và Tào Ðộng như nhau nhưng phương pháp tu tập cụ thể thì có khác biệt. Tào Ðộng tông chú trọng đến phương pháp Mặc chiếu thiền (j: mokushō-zen), tức là Chỉ quản đả toạ (j: shikan-taza), Lâm Tế tông chủ trương phương pháp Khán thoại thiền (kanna-zen), là quán Công án.|Trong thế kỉ 13, Thiền sư Nhật là Ðạo Nguyên Hi Huyền (j: dōgen kigen) đưa tông này qua Nhật và Tào Ðộng trở thành môn phái Thiền quan trọng, ngày nay vẫn còn. Trong tông Tào Ðộng tại Nhật, phương pháp Ðộc tham (dokusan) – một trong những thành phần tối trọng của Thiền tông – đã thất truyền từ thời Minh Trị (meiji).|Thiền Tào Ðộng được Thiền sư Thông Giác Thuỷ Nguyệt (1636-1704) truyền sang Việt Nam giữa thế kỉ thứ 17. Sư rời Ðại Việt năm 1664, cùng với hai đệ tử sang Trung Quốc, đến Hồ Châu học đạo với Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và ở đó ba năm sau mới về. Thông Giác truyền giáo cho Chân Dung Tông Diễn và phái này hoạt động ở Ðàng ngoài (miền Bắc), rất thịnh hành cuối thế kỉ 17 và đầu 18. Ðàng trong (miền Trung), thiền Tào Ðộng do một Thiền sư Trung Quốc là Thạch Liêm (1633-1704), hiệu Ðại Sán Hán Ông truyền dạy. Năm 1695, theo lời mời của chúa Nguyễn Phúc Chu, Sư đến Thuận Hoá. Sư là người tổ chức giới đàn Thiền Lâm với hàng ngàn người tham dự.
Tào Khê 曹溪; C: caó xī; J: sōkei; |Dòng suối nằm về phía Đông Nam Thiều Châu, tỉnh Quảng Đông, trở thành tên gọi của Lục tổ Huệ Năng.
Tào Khê Chân Giác Quốc sư ngữ lục 曹溪眞覺國師語録; C: caóqī zhēnjué guóshī yŭlù; J: sōkei shinkaku kokushi goroku; k: chogye chin'gak kuksa ŏrok;|Ghi chép những bài thuyết pháp và bài viết ngắn của Huệ Kham (慧諶).
Tào Khê tông 曹溪宗; C: caóxī zōng; J: sōkei-shū; k: chogye chong.|Tông phái thiền quan trọng nhất trong Phật giáo Hàn Quốc. Được thành lập vào thời kì Koryŏ, nó đã được qua sự thử thách, dưới sự ảnh hưởng chủ yếu của Tri Nột (k: chinul), để hoà nhập hai dòng thiền (sŏn) và giáo (kyo). Tông nầy đã trải qua nhiều thay đổi theo nhiều thế kỉ, Tào Khê tông vẫn còn lưu truyền ở Hàn Quốc đến ngày nay như là một tông phái nổi bật nhất, với vô số tu viện và trung tâm thiền học sinh động khắp Hàn Quốc.
Tào Sơn Bản Tịch 曹山本寂; C: cáoshān běnjì; J: sōzan honjaku; 840-901;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Ðộng Sơn Lương Giới và cùng với thầy, Sư thành lập tông Tào Ðộng. Tông Tào Ðộng là một trong hai tông phái Thiền mà ngày nay còn đầy sức sống tại Nhật Bản. Tắc thứ 10 của Vô môn quan có nhắc đến Sư. Ngoài ra sử sách còn lưu truyền các giai thoại của Sư trong Phủ Châu Tào Sơn Bản Tịch Thiền sư ngữ lục.|Sư họ Huỳnh, ban đầu chuyên học Nho giáo, Năm 19 tuổi, Sư lên núi Linh Thạch xuất gia và thụ giới cụ túc. Sư thường đến Ðộng Sơn nghe Thiền sư Lương Giới giảng pháp. Một ngày kia, trong một cuộc Vấn đáp, Ðộng Sơn nhận ra căn cơ của Sư và nhận làm đệ tử. Sư tham thiền với Ðộng Sơn và ngộ yếu chỉ nơi đây.|Sau đó, Sư từ biệt Ðộng Sơn ra đi. Cảnh Ðức truyền đăng lục thuật lại câu chuyện sau: »Ðộng Sơn hỏi: ›Ngươi đi đến chỗ nào?‹ Sư đáp: ›Ði đến chỗ không biến dị.‹ Ðộng sơn lại hỏi: ›Chỗ không biến dị lại có đến sao?‹ Sư đáp: ›Cái đến cũng chẳng biến dị.‹«|Sau khi rời Ðộng Sơn, Sư vân du hoằng hoá. Cuối cùng Sư được mời về Cát Thuỷ và vì ngưỡng mộ Lục Tổ tại Tào Khê, Sư đổi tên núi là Tào Sơn. Về sau Sư cũng trụ trì tại núi Hà Ngọc, học trò cả hai chỗ rất đông. Tắc thứ 10 trong Vô môn quan nhắc lại pháp thoại của Sư với đệ tử là Thanh Thoát: »Tăng thưa: ›Thanh Thoát nghèo nàn đơn chiếc, xin Sư phụ cứu giúp.‹ Sư gọi: ›Thầy Thoát!‹ Tăng ứng đáp: ›Dạ.‹ Sư đáp: ›Ðã uống ba chén rượu Thanh Nguyên và dám nói môi không hề ướt!‹«|Sư là người được Thiền sư Lương Giới truyền dạy Ðộng sơn ngũ vị và cũng là người khai thác và phát triển công thức này triệt để. Mặc dù môn đệ dưới trướng rất đông và tông phong Ðộng Sơn rất thịnh hành – Sư được xem là Nhị tổ – dòng thiền của Sư tàn lụi chỉ sau vài thế hệ. Tào Ðộng chính mạch sau này được Thiền sư Vân Cư Ðạo Ưng và môn đệ thủ trì.|Ðời Ðường niên hiệu Thiên Phục (901), một đêm mùa hạ, Sư hỏi Tri sự: »Hôm nay là ngày tháng mấy?« Tri sự thưa: »Ngày rằm tháng sáu.« Sư bảo: »Tào Sơn bình sinh hành cước chỉ biết 90 ngày là một hạ, sáng mai giờ thìn ta hành cước.« Hôm sau, đúng giờ thìn, Sư thắp hương ngồi yên viên tịch, thọ 62 tuổi, 37 tuổi hạ. Vua sắc phong là Nguyên Chứng Thiền sư, tháp hiệu Phúc Viên.
Táp 匝; C: zā; J: sō; |Đi quanh, xoay quanh, đi vòng quanh, đi chung quanh.
Tập bộ kinh 集部經; P: sutta-nipāta;|Một phần của Tiểu bộ kinh, chứa những bài kinh dưới dạng thi kệ.
Tập khí 習氣; S: vāsanā;|Nguyên nghĩa Phạn ngữ (sanskrit) là »Ấn tượng, tưởng tượng, sự thúc dục.« Tập khí chỉ thói quen, những bản năng, bản tính tiềm tàng có thể hiện lên bất cứ lúc nào.
Tát-ca phái 薩迦派; T: sakyapa [sa-skya-pa];|Một trường phái của Phật giáo Tây Tạng, mang tên ngôi chùa Tát-ca – Tát-ca nghĩa là »Ðất xám«. Theo lời khải thị của A-đề-sa, chùa Tát-ca được xây dựng năm 1073 và các cao tăng chùa này tập trung truyền pháp Kim cương thừa với tên Tây Tạng là Lam-dre.|Trường phái này tập trung công sức tu tập và tổ chức lại các kinh sách của giáo pháp Tan-tra, nhưng cũng có nhiều đóng góp cho Nhân minh học Phật giáo và có ảnh hưởng lên nền chính trị Tây Tạng giữa thế kỉ 13 và 14.|Phái này được trở thành độc lập là nhờ công của năm vị Lạt-ma sống từ 1092 đến 1280. Ðó là: Sa-chen Kun-ga Nying-po (1092-1158), hai người con trai là So-nam Tse-mo (1142-1182) và Drak-pa Gyalt-sen (1147-1216), người cháu Sa-kya Paṇ-ḍi-ta (1182-1251) và Chog-yal Phag-pa (1235-1280). Tất cả năm vị này đều được xem là hoá thân của Văn-thù (s: mañjuśrī) và thuộc gia đình Khon. Trong năm vị thì Sa-kya Paṇ-ḍi-ta là có ảnh hưởng lớn nhất, giáo pháp của ông bao trùm nhiều ngành khoa học khác nhau. Khả năng về Phạn ngữ (sans-krit) vang đến Ấn Ðộ và Mông Cổ và sau đó ông được mời đi Mông Cổ thuyết pháp và trường phái Tát-ca lan rộng tại Trung Tây Tạng năm 1249. Trong các thế kỉ sau, phái Tát-ca đóng một vai trò quan trọng trong đời sống tôn giáo Tây Tạng và gây cả ảnh hưởng đến Tông-khách-ba và tông của Sư là Cách-lỗ (t: gelugpa).|Mười tám bộ kinh, luận quan trọng được giảng dạy trong trường phái này (s: aṣṭadaśa-mahākīrtigran-tha):|1. Ba-la-đề mộc-xoa kinh (s: prātimokṣa-sūtra); 2. Tì-nại-da kinh (vinaya-sūtra); 3. Hiện quán trang nghiêm luận (abhisamayālaṅkāra-śāstra), được xem là của Di-lặc; 4. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận tụng (mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā), Di-lặc; 5. Ðại thừa tối thượng tan-tra luận (mahāyānottara-tantra-śāstra), Di-lặc; 6. Biện trung biên luận tụng (madhyānta-vibhāga-kārikā), Di-lặc; 7. Pháp pháp tính phân biệt luận (dharma-dharmatā-vibhāga), Di-lặc; 8. Nhập bồ-đề hành luận (bodhicār-yāvatāra), Tịch Thiên (śāntideva); 9. Căn bản trung quán luận tụng (mūlamadhyamaka-śāstra), Long Thụ (nāgārjuna) tạo; 10. Tứ bách luận (catuḥśataka), Thánh Thiên (āryadeva) tạo; 11. Nhập trung luận (mādhyamāvatāra), Nguyệt Xứng (candrakīrti) tạo; 12. Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharma-samuccaya), Vô Trước (asaṅga) tạo; 13. A-tì-đạt-ma câu-xá luận (abhidharmakośa), Thế Thân (vasubandhu) tạo; 14. Tập lượng luận (pra-māṇasamuccaya), Trần-na (dignāga) tạo; 15. Lượng thích luận (pramāṇavarttika-kārikā), Pháp Xứng (dharmakīrti) tạo; 16. Lượng quyết định luận (pramāṇaviniścaya), Pháp Xứng tạo; 17. Pramāṇa-yuktinīti; 18. Trisaṃvarapravedha.
Tất-đàn-đa 悉檀多; S: siddhānta; có thể dịch nghĩa là Học thuyết (學說);|Danh từ được dùng tại Tây Tạng chỉ các giáo thuyết, giáo lí được chứng minh và lưu tồn của các bộ phái Phật giáo tại Ấn Ðộ. Trong thời gian Phật pháp được truyền sang Tây Tạng lần đầu người ta đã đem qua những tác phẩm này nhưng khi phái Cách-lỗ (t: gelugpa) thịnh hành thì các loại sách này được hệ thống hoá chặt chẽ.|Tất-đàn-đa được phân ra hai loại, Tất-đàn-đa ngoại đạo và Tất-đàn-đa của nội bộ. Các bộ phái khác nhau của Phật giáo được nghiên cứu tại đây là Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika), Kinh lượng bộ (s: sautrāntika), Duy thức (s: vijñānavāda) và Trung quán (s: mādhyamika). Các tác giả nổi tiếng nhất của Tất-đàn-đa là Jam-yang Sha-pa (1648-1721) và Kon-chok Jig-me Wan-gpo (1728-1781). Mục đích của các tác phẩm Tất-đàn-đa là làm cho giáo lí Phật pháp được luận giảng trong các bộ phái dễ hiểu hơn, ít mâu thuẫn và như vậy dễ tiếp thu. Hai đề tài được tranh luận nhiều nhất là tính Không và đặc điểm của các pháp Hữu vi (s: saṃskṛta).
Tất-đạt 悉達; S: siddha; cũng được gọi là Thành tựu giả; |Chỉ người tu tập Tan-tra đã đạt Tất-địa (s: siddhi). Ai đạt một trong những Tất-địa được gọi là Tất-đạt, đạt nhiều Tất-địa thì được gọi là Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).
Tất-đạt-đa Cồ-đàm 悉達多瞿曇; S: siddhārtha gautama; P: sid-dhattha gotama; Tất-đạt-đa có nghĩa là Nhất thiết nghĩa thành (一切義成), Thành tựu chúng sinh (成就眾生; dịch từ dạng dài của tên Phạn ngữ là Sarvārthasiddha);|Tên của đức Phật lịch sử, từng sống trên trái đất, người sáng lập Phật giáo. Ngài sinh khoảng năm 566 (hay 563) trước Công nguyên trong một gia đình quý tộc thuộc dòng Thích-ca (s: śākya) tại Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu) thuộc Nepal ngày nay. Cha Ngài là vua Tịnh Phạn (s, p: suddhodana), mẹ là Ma-da (s, p: māyādevi) sinh Tất-đạt-đa trong vườn Lam-tì-ni (lumbinī). Sau khi mẹ mất, 7 ngày sau khi sinh, Tất-đạt-đa sống với người dì Ma-ha Bà-xà-bà-đề (mahāpra-jāpatī). Năm 16 tuổi, Tất-đạt-đa cưới Gia-du-đà-la (yaśodharā). Năm 29 tuổi, sau khi sinh La-hầu-la (rāhula), Tất-đạt-đa thoát li, sống không nhà, cùng tu khổ hạnh với nhiều nhóm tăng sĩ khác nhau. Không đạt giải thoát với cách tu khổ hạnh, Tất-đạt-đa từ bỏ phép tu này, chú tâm thiền định và đạt Giác ngộ hoàn toàn năm 35 tuổi. Biết rằng không dễ truyền đạt những gì mình giác ngộ, mới đầu Ngài không định truyền bá giáo pháp. Cuối cùng, được sự thỉnh cầu nhiều nơi, Ngài mới quyết định chuyển Pháp luân. Ngài được mang danh hiệu Thích-ca Mâu-ni – »Trí giả của dòng dõi Thích-ca«. Sống đến năm 80 tuổi, đức Thích-ca từ trần. Qua 45 năm giảng dạy, sợ rằng đệ tử chấp lời mình nói là chân lí, chứ không phải chỉ là phương tiện giác ngộ, Ngài tuyên bố chưa từng nói lời nào. Lời dạy cuối cùng của Ngài là »Tất cả các pháp đều vô thường, hãy tinh tiến tu học«.|Có nhiều truyền thuyết về Tất-đạt-đa: Mẹ Ngài nằm mơ thấy một vị Bồ Tát với dạng một con voi trắng nhập vào người mình. Ngài sinh ra từ hông bên mặt của mẹ, sau đó đi bảy bước, một tay chỉ lên trời, tay kia chỉ xuống đất, nói: »Trên trời dưới đất chỉ có ta là người đáng tôn kính [Thiên thượng thiên hạ duy ngã độc tôn], đây là lần sinh cuối cùng, ta sẽ chấm dứt Khổ của sinh, lão bệnh tử.« Dưới mỗi bước chân đi của Ngài là một đoá sen. Ngày nay, trong tranh tượng, ta còn thấy tích này.|Ngay lúc sinh ra, Tất-đạt-đa đã có đầy đủ hảo tướng (Ba mươi hai tướng tốt). Các nhà tiên tri cho rằng, Ngài sẽ trở thành hoặc một đại đế hay một bậc giác ngộ. Vua cha Tịnh Phạn muốn con mình nối dõi nên tìm mọi cách dạy dỗ cho con, nhất là không để Tất-đạt-đa tiếp cận với cảnh khổ, xa một cuộc sống tu hành.|Tuy thế, sau bốn lần ra bốn cửa thành và thấy cảnh người già, người bệnh, người chết và một vị tu sĩ, Tất-đạt-đa từ biệt hoàng cung, sống cảnh không nhà. Tương truyền rằng bốn cảnh ngộ vừa kể là những cảnh tượng do các vị thiên nhân tạo ra nhằm nhắc nhở Tất-đạt-đa lên đường tu học Phật quả. Ngài thấy rằng ba cảnh đầu tượng trưng cho cái Khổ trong thế gian và hình ảnh tu sĩ chính là cuộc đời của mình. Ngài quyết tâm tìm cách diệt khổ và tìm mọi đạo sư với các giáo pháp khác nhau. Theo truyền thống Ấn Ðộ bấy giờ chỉ có con đường khổ hạnh mới đưa đến đạt đạo. Các vị đạo sư khổ hạnh danh tiếng thời đó là A-la-ra Già-đa-na (s: ārāda kālāma; p: āḷāra kālāma) và Ưu-đà-già La-ma tử (s: rudraka rāmaputra; p: uddaka rāmaputta). Nhưng Tất-đạt-đa cũng không tìm thấy nơi các vị đó lời giải cho thắc mắc của mình. Ngài quyết tâm tự mình tìm đường giải thoát và có Năm tỉ-khâu cùng đi với Ngài. Sau nhiều năm tu khổ hạnh gần kề cái chết, Ngài nhận ra đó không phải là phép tu dẫn đến giác ngộ, bắt đầu ăn uống bình thường, năm Tỉ-khâu kia thất vọng bỏ đi.|Sau đó Tất-đạt-đa đến Giác Thành, ngồi dưới gốc một cây Bồ-đề và nguyện sẽ nhập định không rời chỗ ngồi cho đến lúc tìm ra nguyên nhân và cơ chế của Khổ. Sau 49 ngày thiền định – mặc dù bị Ma vương quấy nhiễu – Ngài đạt Giác ngộ hoàn toàn ở tuổi 35. Từ thời điểm đó, Ngài biết mình là Phật, là một bậc Giác ngộ, và biết rằng mình sẽ không còn tái sinh. Kinh nghiệm giác ngộ của Phật được ghi lại như sau trong kinh sách theo chính lời của Ngài:|»… Sau khi hoàn lại sinh lực (sau khi tu khổ hạnh vô ích), ta chú tâm giải thoát khỏi những tư tưởng tham ái, bất thiện và đạt được sơ thiền, sau đó nhị thiền, tam thiền và tứ thiền (Tứ thiền), nhưng những cảm giác hỉ lạc này không để lại dấu vết gì trong tâm ta.|Khi tâm (citta) ta được an tịnh, thanh lọc, không bị dục vọng cấu uế, nhạy bén, chắc chắn, bất động, ta hướng nó về những kí ức và nhận thức về các kiếp trước. Ta nhớ lại nhiều tiền kiếp, một, hai, ba, bốn, năm, …, trăm ngàn kiếp trước, nhớ những chu kì của thế giới. ›Nơi đó ta đã sống, tên của ta đã như thế, gia đình của ta là như thế, nghề nghiệp của ta, giai cấp xã hội của ta… Ta đã chết như vầy…‹. Sự hiểu biết (p: vijjā) đầu tiên này ta đã đạt được trong canh đầu (từ 21 đến 24 giờ đêm)…|Sau đó ta chú tâm đến sự sinh thành và hoại diệt của chúng sinh. Với con mắt của chư thiên, trong sáng, siêu việt vượt qua mọi giới hạn nhân thế, ta thấy chúng sinh hình thành và tiêu hoại, …chúng sinh tái sinh theo nghiệp lực. Ta nhận ra rằng ›Chúng sinh tạo nghiệp bất thiện qua ba ải thân khẩu ý đều chìm đắm sau khi chết, tái sinh trong đoạ xứ, địa ngục. Các chúng sinh nào tạo thiện nghiệp bằng thân khẩu ý được tái sinh trong thiện đạo, sau khi chết được lên cõi thiên‹… Sự hiểu biết thứ hai này ta dã đạt được trong canh hai (từ 24 giờ đêm đến 3 giờ sáng).|Sau đó ta chú tâm nhận thức về sự tiêu diệt các Ô nhiễm (漏; lậu; p: āsava) và nhìn nhận như thật: ›Ðây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là phương pháp tiêu diệt khổ, đây là con đường tiêu diệt khổ‹, và khi ta nhận thức được điều này, tâm ta thoát khỏi dục vọng, ham muốn tồn tại, vô minh. Ta tự hiểu chân lí ›Tái sinh ta đã đoạn, cuộc sống tu tập của ta đã hoàn tất, ta đã hoàn thành những gì phải làm. Cuộc sống (khổ đau) này ta đã vượt qua‹… Sự hiểu biết thứ ba này ta đã đạt được trong canh ba (3 đến 6 giờ sáng)…« (Trung bộ kinh 36, tóm tắt).|Bậc giác ngộ lúc đó biết rằng kinh nghiệm giác ngộ của mình không thể dùng ngôn từ hay bất cứ một cách nào khác để truyền đạt nên Ngài tiếp tục yên lặng ngồi thiền định dưới gốc cây Bồ-đề. Sau đó Ngài gặp lại năm vị tỉ-khâu, các vị đó nhận ra rằng Ngài đã hoàn toàn thay đổi. Qua hào quang toả ra từ thân Ngài, các vị đó biết rằng Ngài đã đạt đạo, đã tìm ra con đường thoát khổ, con đường mà các vị đó không thể tìm ra bằng phép tu khổ hạnh. Các vị đó xin Ngài giảng pháp và vì lòng thương chúng sinh, Ngài chấm dứt sự im lặng.|Ðức Phật bắt đầu giảng pháp bằng cách trình bày con đường dẫn đến kinh nghiệm giác ngộ và giải thoát. Trên cơ sở kinh nghiệm giác ngộ của mình, Ngài giảng Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên và quy luật Nhân quả (Nghiệp). Tại Lộc uyển này, Ngài bắt đầu những bài giảng đầu tiên, bắt đầu »chuyển pháp luân«. Năm vị tỉ-khâu đó trở thành năm đệ tử đầu tiên của Ngài và là hạt nhân đầu tiên của Tăng-già. Sau đó Ngài thuyết pháp từ năm này qua năm khác. Ngài hay lưu trú tại Vương xá (s: rājagṛha) và Vệ-xá-li (s: vaiśālī), sống bằng khất thực, đi từ nơi này qua nơi khác. Ðệ tử của Ngài càng lúc càng đông, trong đó có vua Tần-bà-sa-la (bimbisāra) của xứ Ma-kiệt-đà. Vị vua này đã tặng cho Tăng đoàn một tu viện gần Vương xá. Các đệ tử quan trọng của Ngài là A-nan-đà, Xá-lị-phất và Mục-kiền-liên. Cũng trong thời gian này, đoàn Tỉ-khâu-ni (s: bhikṣuṇī) được thành lập.|Ðức Phật cũng có kẻ thù muốn ám hại. Ðề-bà Ðạt-đa, người em họ, thống lĩnh Tăng-già muốn giết Phật nhưng không thành. Tuy thế Ðề-bà đạt-đa thành công trong việc chia rẻ Tăng-già ở Vệ-xá-li. Ngược lại với đức Phật, Ðề-bà Ðạt-đa chủ trương một cuộc sống khổ hạnh.|Theo kinh Ðại bát-niết-bàn (p: mahāparinibbāna-sutta) đức Phật nhập diệt tại Câu-thi-na (s: kuṣi-nagara) năm 486 (hay 483 trước Công nguyên) vì một thức ăn độc. Ngài nằm nghiêng bên mặt, hướng về phía Tây và nhập Niết-bàn. Theo truyền thuyết Pā-li thì Phật diệt độ ngày rằm tháng tư, văn bản Phạn ngữ (sanskrit) cho rằng ngày rằm tháng 11. Trong buổi hoả thiêu xác Phật có nhiều hiện tượng lạ xẩy ra. Xá-lị của Ngài được chia làm 8 phần và được thờ trong các tháp khác nhau.|Mặc dù cuộc đời đức Phật có nhiều huyền thoại bao phủ nhưng các nhà khảo cổ học và nhân chủng học – vốn hay có nhiều nghi ngờ và thành kiến – cũng đều nhất trí công nhận là một nhân vật lịch sử và là giáo chủ của đạo Phật.
Tất-địa 悉地; S: siddhi; nghĩa là »khả năng toàn diện,« »thành đạt,« cũng có thể hiểu là Thần thông;|Chỉ khả năng kiểm soát năng lực của cơ thể và năng lực chinh phục được thiên nhiên. Tất-địa là quả vị của các vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha). Kim cương thừa nêu tám loại Tất-địa bình thường, thuộc vào thế tục: 1. Kiếm bất bại; 2. Mắt nhìn thấu trời; 3. Ði nhanh; 4. Tàng hình; 5. Thuốc chống lão; 6. Bay bổng; 7. Tạo linh dược; 8. Chinh phục ma quỷ.|Tám Tất-địa này vẫn còn nằm trong thế tục, chỉ có Giác ngộ mới được gọi là Tất-địa xuất thế, cũng được gọi là Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi) trong truyền thống Ðại thủ ấn.
Tây Ðường Trí Tạng 西堂智藏; C: xītáng zhìcáng; J: seidō chizō; 734/735-814;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Mã Tổ. Sư với Nam Tuyền, Bách Trượng là bạn đạo và là môn đệ xuất sắc của Mã Tổ. Sau khi Mã Tổ tịch, Sư được thỉnh ở lại giáo hoá. Sau Sư đến Tây Ðường trụ trì.|Sư xuất thân từ Kiền Hoá (虔化). Sư xuất gia vào thời niên thiếu, chẳng bao lâu sau hành cước đến Kiến Dương (建陽), làm môn đệ của Mã Tổ Đạo Nhất, cùng được ấn chứng với Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海). Sau đó sư dạy thiền tại Tây Đường tự (西堂寺) ở Kiền Châu. Sư nổi tiếng đã dạy nhiều môn đệ từ nhiều nước khác nhau, bao gồm những cao tăng sau nầy như Đạo Nghĩa (道義, k: toŭi), Hồng Trắc (洪陟, k: hongch'ŏk) và Huệ Triệt (慧徹, k: hyech'ŏl) vào triều đại Tân La, Hàn Quốc. Sư viên tịch năm 814 lúc 80 tuổi. |Có một Cư sĩ (Trương Chuyết Tú Tài) đến hỏi: »Có thiên đường địa ngục không?« Sư đáp: »Có.« Cư sĩ hỏi: »Có Phật, Pháp, Tam bảo không?« Sư đáp: »Có.« và cứ như vậy câu hỏi nào Sư đều trả lời »Có.« Cư sĩ thưa: »Hoà thượng nói thế có lầm chăng?« Sư hỏi lại: »Ông gặp vị Tôn túc nào rồi mới đến đây?« Cư sĩ trả lời là đã đến thăm Hoà thượng Cảnh Sơn và Cảnh Sơn nói tất cả đều không. Sư hỏi: »Ông có vợ không?« Cư sĩ đáp: »Có.« Sư hỏi tiếp: »Hoà thượng Cảnh Sơn có vợ không?« Cư sĩ trả lời: »Không.« Sư bảo: »Hoà thượng Cảnh Sơn nói không là phải.« Cư sĩ lễ tạ.
Tây lai ý 西來意|Dạng viết ngắn của câu hỏi »Thế nào là ý nghĩa của việc Bồ-đề Ðạt-ma từ bên Tây (Ấn Ðộ) sang« (如何是祖師西來意; »Như hà thị Tổ sư tây lai ý?«). Câu hỏi rất cô đọng này tương đương với những câu như Ðệ nhất nghĩa, Yếu chỉ Phật pháp, Ðại ý Phật pháp, Nghĩa tột cùng, Chí đạo… và được rất nhiều thiền sinh nêu lên trong những cuộc Vấn đáp. Những câu trả lời của các Thiền sư cho câu hỏi này cũng rất »khác biệt« rất thú vị.|Triệu Châu trả lời: »Cây tùng trước ngõ« (庭前柏樹子; »Ðình tiền bách thụ tử«; Vô môn quan 37).|Hương Lâm trả lời: »Ngồi lâu sinh nhọc« (坐久成勞; »Toạ cửu thành lao«; Bích nham lục 17).
Tế 濟; C: jì; J: sai, sei;|1. Qua sông, cứu tế; 2. Chỗ cạn, nơi có thể vượt qua được; 3. Làm, giúp đỡ, cứu giúp; 4. Làm xong, hoàn thành; 5. Gia tăng.
Tế độ 濟度; C: jì dù; J: saido;|»Cứu giúp và độ thoát«. Dẫn dắt chúng sinh mê muội đến nơi tự do giải thoát. Đưa chúng sinh vượt biển khổ đến bờ giải thoát »bên kia«. Sự cứu độ.
Ter-ma T: terma [gter-ma]; dịch nghĩa là »báu vật«;|Trong Phật giáo Tây Tạng, Ter-ma là kinh sách của thế kỉ thứ 8, trong thời gian mới đầu lúc truyền bá Phật pháp, phải được dấu kín để được khám phá ra lúc cơ duyên chín muồi. Người khám phá ra kinh sách đó được gọi là Ter-ton, và có trách nhiệm truyền bá và giải thích. Ðặc biệt trong giáo phái Ninh-mã (t: nyingmapa) người ta rất tin tưởng các Ter-ma. Việc cất giữ kinh sách trong một chỗ bí mật thật ra là truyền thống Ấn Ðộ. Người ta còn kể lại rằng, Long Thụ đã nhận được kinh điển từ Long vương (s: nāga) trao cho và có trách nhiệm truyền bá giáo pháp ấy.|Tông phái có nhiều Ter-ma nhất của Tây Tạng là Ninh-mã (nyingmapa), mà phần quan trọng nhất do Liên Hoa Sinh (padmasambhava) và nữ đệ tử là Ye-she Tsog-yel (t: yeshe tsogyel) truyền lại. Các bí lục này không chỉ gồm giáo pháp từ Ấn Ðộ mà của cả xứ Ô-trượng-na (t: orgyen). Tương truyền Liên Hoa Sinh đã dấu các tác phẩm này trong 108 chỗ bí mật tại Tây Tạng, trong các hang hốc hay tranh tượng. Một trong những bí lục quan trọng đó là hồi kí cuộc đời của Liên Hoa Sinh cũng như bộ Tử thư (t: bardo thodol). Ngoài ra các tài liệu về thiên văn và y học cũng được xem là Ter-ma.|Khoảng giữa thế kỉ 10 và 14, nhiều vị nhận được khải thị tìm thấy Ter-ma, thường thường là khải thị trong giấc mộng hoặc linh ảnh. Các vị đó có trách nhiệm tìm kiếm, xếp đặt lại và luận giải thêm về các Ter-ma đó. Trong trường phái Ninh-mã, người ta rất trọng thị các vị Ter-ton (người tìm ra các Ter-ma), nhất năm vị »vua tìm thấy báu vật« mà một trong năm vị đó là Org-yan Pe-ma Ling-pa (1445-1521), được xem là hậu thân của Long-chen-pa. Có khi một Ter-ma vừa tìm ra được lại phải dấu kín lại vì chưa đến lúc công bố. Các Ter-ma đó được gọi là »của báu phải dấu hai lần.«
Tha 他; C: tā; J: ta;|Có các nghĩa sau: 1. Kia, cái khác (s: para); 2. (Một) người khác (s: para-puruṣa); 3. Trong ngôn ngữ Thiền, đó là nhân vật đang được đề cập đến trong cuộc nói chuyện, nhân vậy thứ 3 (ông ấy, cô ấy); 4. Tiếng dùng để chuyển âm tha trong tiếng Phạn (sanskrit).
Tha-ga-na-pa S: thaganapa; »Người bệnh nói dối«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem là sống trong thế kỉ 11.|Tha-ga-na-pa là người mang bệnh nói dối, vì vậy mà mọi người đều tránh xa. Lần nọ, ông gặp một Du-già sư, vị này nghe biết ông nói dối liền khuyên: »Nếu ngươi nói dối thường xuyên và nghiệp báo đến lúc chín muồi, ngươi sẽ tái sinh trong Ðịa ngục. Nói dối nhiều lần sẽ thấy quen và hậu quả là lưỡi bị chẻ làm đôi, hơi thở hôi hám…«. Nghe như vậy ông sợ quá và cũng thú nhận muốn học hỏi nhưng sự dối trá đã trở thành thói quen. Vị Du-già sư dạy ông phép quán tưởng rằng mọi sự trên đời đều là hư dối:|Vì ngươi không hề biết,|hiện tượng là dối trá,|nên ngươi mới dối trá.|Nếu ngươi biết rõ rằng,|vật biết và người biết,|đều cùng giả dối cả,|và sáu căn sáu trần,|đều cũng đang lừa dối,|ngươi tìm đâu sự thật?|Tưởng mê vọng là chân,|nên còn dính sinh tử.|Trẻ không thấy tuồng giả,|tưởng cái giả là thật,|các ngươi quay không nghỉ,|trong bánh xe sinh tử,|chẳng khác bánh xe nước,|đi lên rồi đi xuống.|Hãy quán mọi hiện tượng,|là ảo ảnh, giả tạo.|Mọi sắc thể: giả tướng,|mọi âm thanh: tiếng vọng,|và cuối cùng hãy xem|lòng tin của chính ngươi,|rằng chúng là giả tạo,|lòng tin đó cũng giả!|Sau bảy năm thiền định, vị Du-già sư lại xuất hiện và khuyên ông quán tưởng tự tính mọi sự đều là tính Không (s: śūnyatā). Sau đó Tha-ga-na-pa đạt thánh quả, chứng ngộ được Không. Bài ca ngộ đạo sau của ông bày tỏ phép vận dụng đặc biệt của Kim cương thừa, dĩ độc trị độc:|Muốn nước chảy khỏi tai,|hãy xòt nước vào tai.|Muốn thấy rõ thật tại,|quán hiện tượng đều giả.
Tha hoá tự tại thiên 他化自在天; C: tāhuà zìzài tiān; J: takejizai ten;|Cõi trời nơi mà chư thiên ở đó có thể hưởng được sự khoái lạc nhờ vào việc tạo khoái lạc từ các cõi trời khác, đó cũng là nơi Thiên ma Ba-tuần cư ngụ (s: para-nirmita-vaśa-vartino-devāḥ). Đó là cõi thứ 6 của Lục dục thiên (六欲天).
Tha lực 他力; C: tālì; J: tariki; là lực từ bên ngoài, lực của người khác;|Tha lực ở đây được hiểu là sức cứu độ của Phật A-di-đà, mà theo quan điểm của Tịnh độ tông là vị sẽ tiếp dẫn những ai cầu xin Ngài. Tha lực được dùng đối ngược lại từ Tự lực (自力). Thiền tông là một môn phái dựa trên tự lực.
Tha ngộ 他悟; C: tāwù; J: tago;|Được người khác đánh thức; giác ngộ qua sự giúp đỡ của người khác.
Thả như 且如; C: qiěrú; J: shonyo;|Giống như, như là.
Tha sự 他事; C: tāshì; J: taji;|Có các nghĩa: 1. Việc khác, chuyện của người khác; 2. Hoạt động của các yếu tố khác.
Tha tác 他作; C: tāzuò; J: tasa;|Sự tạo tác nhờ vào những yếu tố khác.
Tha tâm thông 他心通; C: tāxīntōng; J: tashintsū; S: para-citta-jñāna.|Khả năng siêu nhiên đọc được ý nghĩ của người khác. Một tróng sáu loại thần thông (Lục thần thông 六神通).
Tha thụ dụng thân 他受用身; C: tā shòuyòng shēn; J: taju-yūshin;|Có các nghĩa sau: 1. Thân hiện tại của đức Phật, xuất hiện vì lợi ích của chúng sinh. Một trong bốn thân của một vị Phật-đà. Là phần bổ sung của Tự thụ dụng thân (自受用身); 2. Thân hiện diện của một vị Phật, khiến chúng sinh nhận thức và an lạc nơi Phật pháp; 3. Thân Phật hiển hiện để thuyết pháp cho những vị Bồ Tát từ địa (Thập địa) thứ nhất trở lên. Cũng được gọi là Ứng thân (應身).
Thả ước 且約; C: qiěyuē; J: shaaku;|Theo quan điểm nầy, từ phương diện nầy.
Thạch Củng Huệ Tạng 石鞏慧藏; C: shígòng huìcáng; J: shakkyō ezō; tk. 8/9; |Thiền sư Trung Quốc, truyền nhân của Mã Tổ.|Trước khi xuất gia, Sư làm nghề thợ săn. Một hôm nhân đuổi bầy nai qua am Mã Tổ, gặp Tổ đứng trước, Sư hỏi: »Hoà thượng có thấy bầy nai chạy qua đây không.« Tổ không đáp hỏi: »Ông là người gì?« Sư đáp: »Thợ săn.« Tổ hỏi: »Ông bắn giỏi không?« Sư đáp: »Bắn giỏi.« Tổ hỏi bắn một lần được mấy con, Sư giật mình nói mỗi mũi chỉ bắn được một con. Nghe Mã Tổ nói mỗi mũi bắn được một bầy, Sư nói: »Sinh mệnh của chúng, đâu nên bắn một bầy?« Tổ hỏi: »Ông đã biết như thế sao không tự bắn?« Sư thưa: »Nếu dạy tôi bắn tức không chỗ hạ thủ.« Mã Tổ nói: »Chú này phiền não vô minh nhiều kiếp, ngày nay đã đoạn.« Ngay lúc đó, Sư ném cung bẻ tên, tự cạo đầu quy y (xem thêm câu chuyện của Sa-va-ri-pa).|Sư cùng Thiền sư Tây Ðường Trí Tạng đi dạo, Sư hỏi: »Sư đệ biết bắt hư không chăng?« Tạng đáp: »Biết.« Tạng liền lấy tay chụp hư không. Sư thấy thế bảo: »Làm như thế sao bắt được hư không!« Tạng hỏi: »Sư huynh làm sao bắt được?« Sư liền nhéo mũi Trí Tạng một cái mạnh. Tạng đau quá la: »Giết chết lỗ mũi người ta! Buông ngay!« Sư bảo: »Phải như thế mới bắt được hư không.« Trí Tạng về phòng và đến khuya rõ chuyện.|Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.
Thạch Ðầu Hi Thiên 石頭希遷; C: shítóu xīqiān; J: sekitō kisen; 700-790; |Thiền sư Trung Quốc, đắc đạo nơi Thanh Nguyên Hành Tư. Môn đệ của Sư có ba vị danh tiếng là Dược Sơn Duy Nghiễm, Ðan Hà Thiên Nhiên và Thiên hoàng Ðạo Ngộ.|Sư ở Hồ Nam và Mã Tổ ở Giang Tây là hai vị thầy danh tiếng nhất đương thời. Sử sách ghi lại rằng »Mã Ðại sư hoằng hoá tại Giang Tây, Thạch Ðầu Hoà thượng tại Hồ Nam và Thiện tri thức đều đến hai nơi này. Ai không yết kiến hai vị này là uổng công tu hành«.|Sư họ Trần, quê ở Cao Yếu, Ðoan Châu. Sư mộ đạo từ nhỏ, nhân nghe Lục tổ Huệ Năng giáo hoá tại Tào Khê Sư liền đến. Ðến chưa bao lâu thì Tổ báo tin sắp tịch, khuyên Sư đến Thanh Nguyên Hành Tư tham vấn. Sư đến Thiền sư Hành Tư và nhân đây ngộ đạo. Sau, Sư đến Hoành Nhạc tại Nam Tự cất am tranh ở. Cạnh chùa có đồi đá cao nên thời nhân kính trọng gọi Sư là Hoà thượng Thạch Ðầu.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là giải thoát?« Sư đáp: »Ai trói ngươi?« Tăng hỏi: »Thế nào là →Tịnh độ?« Sư đáp: »Cái gì làm nhơ ngươi?« Tăng hỏi: »Thế nào là →Niết-bàn?« Sư đáp: »Ai đem sinh tử cho ngươi?«|Ðời Ðường niên hiệu Trinh Nguyên năm thứ sáu, ngày rằm tháng chạp Sư viên tịch, thọ 91 tuổi, được 63 tuổi hạ. Vua sắc phong là Vô Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.
Thạch Liêm 石溓; 1633-1704|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông →Tào Ðộng đời thứ 29. Sư là người đầu tiên truyền tông Tào Ðộng sang miền Trung Việt Nam.|Sư quê ở Giang Tây, học vấn uyên bác, rành thiên văn địa lí, thư, thi pháp và cả hội hoạ. Sư sớm xuất gia tu hành và là môn đệ của Thiền sư Giác Lãng thuộc tông Tào Ðộng.|Ðược lời mời của Thiền sư →Nguyên Thiều, Sư sang Việt Nam ngày 15 tháng giêng năm Ất Hợi, niên hiệu Khang Hi thứ 34 (1695). Ngày 28 tháng giêng, Sư đến Thuận Hoá và mồng 1 tháng 2, Sư gặp chúa Nguyễn Phúc Chu.|Chúa Nguyễn thỉnh Sư ở chùa Thiên Mụ để dạy đệ tử và thường đến thưa hỏi đạo lí. Ngoài ra, các Thiện tri thức tham vấn Sư rất nhiều, hoặc trực tiếp thưa hỏi, hoặc gián tiếp qua thư từ. Sư cũng không ngần ngại trả lời những bức thư này với tất cả tấm lòng và nhiều bức thư trả lời của Sư vẫn được lưu truyền đến ngày nay.|Nhưng đáng tiếc là Sư hoằng hoá hai năm ở Việt Nam và sau đó trở về Trung Quốc và viên tịch tại đây. Tông Tào Ðộng do Sư truyền sang không rõ người Việt Nam thừa kế trong phái xuất gia, còn trong giới Cư sĩ thì có chúa Nguyễn Phúc Chu, hiệu Hưng Long và Thiều Dương Hầu, anh thứ ba của chúa. Ðệ tử nối pháp người Trung Quốc thì có ba vị được nhắc đến là Hưng Liên Quả Hoằng (sang Việt Nam trước thầy), Hưng Triệt và Hoàng Thần.
Thạch Sương Khánh Chư 石霜慶諸; C: shíshuāng qìngzhū; J: sekisō kei-sho; 807-888/889;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðạo Ngô Viên Trí.|Sư con nhà họ Trần, quê ở Tân Cang, Lô Lăng. Ban đầu Sư theo học Luật nhưng cho đây không phải là pháp môn đốn ngộ, bèn đến Quy Sơn Linh Hựu và làm chức giữ kho (tri khố). Một hôm Sư sàng gạo, Quy Sơn đến bảo: »Vật của thí chủ chớ để rơi rớt.« Sư thưa: »Chẳng dám rơi rớt.« Quy Sơn lượm từ dưới đất một hạt gạo lên hỏi: »Chẳng rơi rớt, đây là cái gì?« Sư không đáp được, Quy Sơn lại nói: »Chớ xem thường một hạt này, trăm ngàn hạt đều từ một hạt này sinh.« Sư thưa: »Trăm ngàn hạt từ một hạt này sinh, chẳng biết hạt này từ đâu sinh?« Quy Sơn cười ha hả rồi trở về phương trượng. Buổi chiều, Quy Sơn thượng đường bảo: »Ðại chúng! Trong gạo có sâu, các ngươi hãy khéo xem!«|Sau, Sư đến Ðạo Ngô. Sư hỏi: »Thế nào chạm mắt là Bồ-đề?« Ðạo Ngô gọi: »Sa-di!« Sư ứng: »Dạ!« Ðạo Ngô bảo: »Thêm nước trong tịnh bình«. Im lặng giây lâu Ðạo Ngô lại hỏi Sư: »Vừa rồi hỏi cái gì?« Sư toan thuật lại, Ðạo Ngô liền đứng dậy đi. Sư nhân đây có tỉnh.|Một hôm, Ðạo Ngô nói với chúng: »Ta trong tâm có một vật để lâu thành bệnh, có người nào hay vì ta dẹp?« Sư thưa: »Tâm vật đều không, trừ đó càng thêm bệnh.« Ðạo Ngô nói: »Lành thay! Lành thay!«|Sau đó khoảng hai năm, Sư rời Ðạo Ngô, đến Lưu Dương ở ẩn, sáng đi tối về không ai hay. Sau, Ðộng Sơn Lương Giới nhân lời nói của một thiền khách biết được Sư tại đây và từ đây chúng quanh lại thỉnh Sư trụ trì núi Thạch Sương. Sư trụ ở Thạch Sương 20 năm, dạy môn đệ rất kỉ luật, học chúng thường ngồi chẳng nằm vì vậy người ta thường gọi là »Chúng cây khô« (石霜枯木眾; Thạch Sương khô mộc chúng). Vua Ðường Hiến Tông quý trọng đạo hạnh của Sư, ban cho tử y (ca-sa tía), nhưng Sư từ chối không nhận.|Niên hiệu Quang Khải năm thứ tư (889), ngày 20 tháng 2 năm Mậu Thân, Sư có chút bệnh rồi tịch, thọ 82 tuổi, 59 tuổi hạ. Vua sắc phong là Phổ Hội Ðại sư, tháp hiệu Kiến Tướng.
Thạch Sương Sở Viên 石霜楚圓; C: shíshuāng chǔyuán; J: sekisō soen; 986-1039, còn được gọi là Từ Minh (慈明);|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, nối pháp của Thiền sư Phần Dương Thiện Chiêu. Sư có nhiều đệ tử đắc pháp nhưng có hai vị trội hơn hết, sáng lập ra hai hệ phái trong tông Lâm Tế là Hoàng Long Huệ Nam và Dương Kì Phương Hội.|Sư họ Lí quê ở Toàn Châu, xuất gia năm 22 tuổi. Mẹ Sư khuyến khích Sư đi du phương. Nghe danh Phần Dương là thiện tri thức bậc nhất, Sư tìm đến bất chấp mọi khó khăn. Phần Dương thấy Sư liền thầm nhận cho nhập hội.|Sư ở hai năm mà chưa được riêng dạy, mỗi lần vào thưa hỏi chỉ bị mắng chửi, nghe Phần Dương chê bai những vị Tôn túc khác, hoặc dùng những lời thô kệch. Một hôm Sư trách: »Từ ngày đến bây giờ đã hai năm mà chẳng được dạy bảo, chỉ làm tăng trưởng niệm thế tục trần lao, năm tháng qua nhanh việc mình chẳng sáng, mất cái lợi của kẻ xuất gia.« Phần Dương nhìn thẳng vào mặt Sư mắng: »Ðây là ác tri thức dám chê trách ta« và cầm gậy đánh. Sư toan la cầu cứu, Phần Dương liền bụm miệng Sư. Sư bỗng nhiên đại ngộ, nói: »Mới biết đạo Lâm Tế vượt ngoài thường tình.« Sư ở lại hầu hạ thầy bảy năm.|Sau, Sư trụ ở Thạch Sương. Nhân ngài giải hạ, Sư dạy chúng:|Ngày xưa làm trẻ con, hôm nay tuổi đã già, chưa rõ ba tám chín, khó đạp đường ngôn ngữ khéo léo. Tay quét Hoàng hà khô, chân đạp Tu-di ngã, phù sinh thân mộng huyễn, mệnh người đêm khó giữ. Thiên đường địa ngục đều do tâm tạo ra, núi Nam tùng ngọn Bắc, ngọn Bắc cỏ núi Nam. Một giọt thấm vô biên, gốc mầm mạnh khô kháo, tham học vào năm hồ, chỉ hỏi hư không thảo. Chết cởi áo trời hạ, sinh đắp mền trăng đông, rõ ràng người vô sự, đầy đất sinh phiền não.|Sư nói xong hét một tiếng rồi xuống toà.|Sư hoằng hoá tại Thạch Sương, môn phong Lâm Tế rất thịnh hành. Một hôm, sau khi thăm người bạn đạo Lí Công xong, Sư cùng thị giả trở về. Giữa đường, Sư bảo thị giả: »Ta vừa bị bệnh phong.« Nhìn thấy Sư bị bệnh phong giật méo qua một bên, thị giả dậm chân nói: »Tại làm sao lúc bình thường quở Phật mắng Tổ, hôm nay lại như vậy?« Sư bảo: »Ðừng lo, ta sẽ vì ngươi sửa lại ngay«. Nói xong, Sư lấy tay sửa miệng lại ngay như cũ và nói: »Từ nay về sau chẳng nhọc đến ngươi.«|Năm 1041, Sư đến Hưng Hoá. Ngày mùng năm tháng giêng, Sư tắm gội xong từ biệt chúng rồi ngồi kết già an nhiên thị tịch, thọ 54 tuổi, 32 tuổi hạ.
Thái Dương Cảnh Huyền 太陽警玄; C: tàiyáng jǐngxuán; J: taiyō keigen; 943-1027;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, đắc pháp nơi Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Môn đệ chính truyền của Sư là Thánh Nham Viên Giám, Hưng Dương Thanh Phẩu và đặc biệt là Phù Sơn Pháp Viễn, một vị Thiền sư thuộc tông Lâm Tế. Phù Sơn – vốn là đệ tử kế thừa Diệp Huyện Quy Tỉnh – được Sư truyền trao y bát, sau lại truyền cho Thiền sư Ðầu Tử Nghĩa Thanh. Trong hệ thống truyền thừa của tông Tào Ðộng tại Trung Quốc và Nhật Bản, Ðầu Tử được xem là người kế thừa trực tiếp của Sư.|Không biết Sư quê quán ở đâu, chỉ biết lúc du phương, Sư đến tham học với Thiền sư Lương Sơn Duyên Quán. Gặp Lương Sơn, Sư hỏi: »Thế nào là đạo trường vô tướng?« Lương Sơn chỉ tượng Quán Thế Âm bảo: »Cái này là do Ngô Xử Sĩ vẽ.« Sư đang suy nghĩ để nói tiếp, Lương Sơn lại nói nhanh: »Cái này có tướng, cái kia không tướng.« Sư nhân đây tỉnh ngộ, liền lễ bái. Lương Sơn hỏi: »Sao không nói lấy một câu?« Sư thưa: »Nói thì chẳng từ, sợ sa vào dấy mực.« Lương Sơn cười bảo: »Lời này vẫn còn ghi trên bia.« Sư trình kệ: |我昔初機學道迷,萬水天山覓見知|明今辨古終難會,直說無心轉更疑|蒙師點出秦時鏡,照見父母未生時|如今覺了何所得,夜放烏雞帶雪飛.|Ngã tích sơ cơ học đạo mê|Vạn thuỷ thiên sơn mích kiến tri|Minh kim biện cổ chung nan hội|Trực tiếp vô tâm chuyển cánh nghi|Mông sư điểm xuất Tần thời cảnh|Chiếu kiến phụ mẫu vị sinh thì|Như kim giác liễu hà sở đắc|Dạ phóng ô kê đới tuyết phi.|*Con xưa học đạo cứ sai lầm|Muôn núi ngàn sông kiếm thấy nghe|Luận cổ bàn kim càng khó hội|Nói thẳng vô tâm lại sinh nghi|Nhờ thầy chỉ rõ thời Tần kính|Soi thấy cha mẹ lúc chưa sinh|Hiện nay giác ngộ đâu còn đắc|Ðêm thả gà đen trong tuyết bay.|Lương Sơn nghe kệ khen: »Có thể làm hưng thịnh tông Tào Ðộng.«|Sau khi rời Lương Sơn, Sư đến núi Thái Dương trụ trì, khai đường hoằng hoá. Sư có tinh thần rất kì lạ, từ nhỏ đến lớn chỉ ăn ngày một bữa và trụ trì tại Thái Dương 50 năm mà chưa bao giờ bước qua khỏi ranh giới.|Có một vị tăng hỏi: »Tùng lâm bát ngát, trống pháp ầm ầm, nhằm trên tông thừa nói bày thế nào?« Sư đáp: »Y không có tin tức, đâu cho phù hợp.« Tăng lại hỏi: »Hôm nay tông thừa đã nhờ thầy chỉ dạy, chưa biết pháp tự ai, nối pháp người nào?« Sư đáp: »Lương Sơn chỉ thẳng thời Tần kính, Trước ngọn Trường Khánh một ngôi ngời.« Tăng hỏi: »Thế nào là cảnh Thái Dương?« Sư đáp: »Hạc côi vượn lão kêu vang dội, tùng gầy trúc lạnh toả khói xanh.« Lại hỏi: »Thế nào là người trong cảnh?« Sư hỏi lại: »Cái gì? Cái gì?« Tăng hỏi: »Thế nào là gia phong Thái Dương?« Sư đáp: »Bình đầy nghiêng chẳng đổ, khắp nơi chẳng người đói.«|Ðời nhà Tống, niên hiệu Thiên Thánh năm thứ năm, ngày 16 tháng 7, Sư từ biệt chúng. Ba hôm sau, Sư viết kệ gửi Thị Lang Vương Thự:|Ngô niên bát thập ngũ|Tu nhân chí ư thử|Vấn ngã quy hà xứ|Ðỉnh tướng chung nan đổ|*Ta tuổi tám mươi lăm|Tu nhân đến thế ấy|Hỏi ta đi về đâu|Tướng đỉnh trọn khó thấy.|Sư viết xong liền tịch.|Thái Nguyên Tông Chân|太源宗真; J: taigen sáshin, ?-1370;|Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).|Sư kế thừa Nga Sơn trụ trì Tổng Trì tự (sōji-ji) và cũng như thầy mình, Sư lấy thuyết Ðộng Sơn ngũ vị làm lí thuyết căn bản của tông phong. Dòng thiền của Sư được truyền bá rất rộng với hơn trăm lần khai sơn lập tự tại Trung và Ðông Nhật Bản. Về cuối đời, Sư trụ tại Vĩnh Quang tự (yōkō-ji) và sáng lập Phật-đà tự (budda-ji) tại tỉnh Kaga.
Thái nhiên 泰然; C: tàirán; J: taizen;|Thanh thản, điềm tỉnh; ung dung, không lay động.
Thâm 深; C: shēn; J: shin;|Sâu sắc, uyên thâm, không dò được- đặc biệt đề cập đền giáo pháp.
Thâm mật 深密; C: shēnmì; J: shinmitsu;|Giáo pháp sâu sắc, thâm diệu.
Thâm mật giải thoát kinh 深密解脱經; C: shēnmì jiĕtuō jīng; J: shin-mitsu gedatsukyō; S: saṃdhinirmocana-sūtra|Tên bản dịch của Bồ-đề Lưu-chi dịch từ Saṃdhinirmocana-sūtra; gồm 5 quyển. Xem Giải thâm mật kinh (解深密經).
Thâm mật kinh 深密 (蜜) 經; C: shēnmì jīng; J: shinmikkyō;|Giải thâm mật kinh (解深密經; s: saṃ-dhinirmocana-sūtra).
Tham thiền 參禪; J: sanzen; nghĩa là »đến với Thiền«, »đi đến Thiền«, hoặc Toạ thiền;|Ðến tham vấn một vị Lão sư để nhận sự chỉ dạy. Trong tông Lâm tế tại Nhật Bản thì Tham thiền đồng nghĩa với Ðộc tham (j: dokusan), theo Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thì Tham thiền chính là sự tu tập thiền đúng đắn (Tổng tham).
Thâm-trập kinh 深蟄經; C: shēnzhé jīng; J: shinchūkyō;|Một cách gọi khác của Thâm mật kinh (深蜜經), tên gọi tắt của kinh Giải thâm mật (解深密經; s: saṃdhinirmocana-sūtra).
Thẩm Tường 審祥; C: shěnxiáng; J: shinshō; tk. 8;|Cao tăng Trung Quốc thuộc tông Hoa nghiêm, đã đem giáo lí của tông này truyền sang Nhật và được ở đây xem là Sơ tổ (Hoa nghiêm tông).
Thâm viễn 深遠; C: shēnyuăn; J: shin'on, jinnon;|1. Thâm diệu; thâm diệu và có ảnh hưởng sâu rộng; 2. Trí tuệ sâu mầu.
Thán 歎; C: tàn; J: tan;|1. Thán phục, tán thành, khen ngợi; 2. Thở dài, than van.
Thần chú 神咒; S: dhāraṇī;|Ðà-la-ni, Man-tra
Thần đạo 神道; J: shintō;|Tôn giáo truyền thống của Nhật Bản bắt đầu từ Công nguyên. Trong thế kỉ thứ 5, 6, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Nho giáo và Phật giáo Trung Quốc. Từ Phật giáo, Thần đạo thu nhận thêm một số tư tưởng triết học và giới luật. Năm 1868, Thần đạo trở thành quốc giáo, nhà vua được xem là có thiên mệnh. Năm 1945, Thần đạo mất tính chất quốc giáo và kể từ năm 1946, nhà vua không còn tự cho mình có tính thần quyền.|Thần đạo thời nguyên thuỷ tin tưởng đa thần: mỗi con sông, ngọn núi, mỗi hiện tượng thiên nhiên đều do một vị thần (kami) trấn giữ. Các vị thần quan trọng nhất là cha trời mẹ đất, là hai vị đã tạo nên hải đảo Nhật Bản và các vị thần khác. Thần Amaterasu Omikami được xem là vị đại thần quan trọng nhất do cha trời mẹ đất sinh ra, vị này thống lĩnh mặt trời, cho con cháu xuống đất thống lĩnh từng hòn đảo của Nhật và dựng nên vương quốc vĩnh viễn tại đó. Ðó là huyền thoại xây dựng nước Nhật và hoàng gia, trở thành quan niệm của Thần đạo. Ðến năm 1868, Thần đạo vẫn đóng một vai trò phụ thuộc bên cạnh Phật giáo. Hơn thế nữa, Thần đạo chịu ảnh hưởng của Thiên Thai tông (j: tendai), Chân ngôn tông (j: shingon) và các vị thần Thần đạo được xem là hoá thân của chư Phật và Bồ Tát. Từ thế kỉ 16 đến giữa thế kỉ 19, dưới thời Ðức Xuyên (tokugawa), Thần đạo bắt đầu kết hợp với Khổng giáo, một lí do là vì Khổng giáo tôn sùng quyền lực của triều đình. Cũng trong thời gian đó, Thần đạo bị chia thành nhiều bộ phái khác nhau, dựa trên niềm tin mỗi nơi mỗi khác. Người ta tìm thấy 13 khuynh hướng khác nhau với nhiều khía cạnh khác nhau về phong tục, trong đó có cả nhóm chuyên thờ thần núi và thực hành phép chữa bệnh đồng cốt.
Thần Hội 神會|Hà Trạch Thần Hội.
Thân Loan 親鸞; J: shinran; 1173-1262;|Cao tăng người Nhật, sáng lập Tịnh độ chân tông (j: jōdo-shin-shū) của Phật giáo Nhật Bản. |Ông là học trò của Pháp Nhiên (法燃; j: hōnen, Tịnh độ tông) nhưng có quan điểm khác thầy. Giáo pháp của tông này không còn giống Phật pháp nguyên thuỷ là bao nhiêu. Ba ngôi báu (Tam bảo; s: triratna) được đơn giản hoá thành lời thệ nguyện của đức Phật A-di-đà (s: amitābha, amitāyus) – nói chính xác hơn là lời nguyện thứ 18 trong 48 lời nguyện của Ngài. Ngôi báu thứ ba của Tam bảo là Tăng-già bị bác bỏ, các đệ tử của ông hoàn toàn là những Cư sĩ, chính ông lập gia đình. Theo Thân Loan thì sự tu tập thuần tuý theo Tự lực vô bổ. Ông quan niệm rằng, mọi người đều cần sự giúp đỡ từ bên ngoài (Tha lực) của đức A-di-đà và giải thoát chỉ có thể đạt được với sự giúp đỡ của Ngài. Ông quy tất cả các phương pháp tu hành về một: là Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A-di-đà và cho rằng, đó chính là sự báo ân đối với vị Phật này và ngay cả cách niệm Phật này cũng trở thành dư thừa nếu niềm tin của người niệm danh nơi Ngài đủ mạnh, vững chắc.|Thân Loan quan niệm rằng, người tu hành Phật đạo có thể sống tại gia. Ông bị Tăng-già tại Kinh Ðô (kyōto) trục xuất và bị đày đi đến một tỉnh miền Bắc bởi vì sống chung với một phụ nữ. Theo yêu cầu của thầy, ông cưới vợ để chứng minh rằng, Giới luật dành cho tăng chúng không phải là điều kiện chính yếu để đạt giải thoát. Việc này gây sự bất hoà và chia rẽ trong giới đệ tử của Pháp Nhiên vì đa số tăng sĩ muốn giữ giới độc thân.|Sau đó Thân Loan sống bên lề xã hội, cùng với những kẻ mà theo ông là không biết phân biệt thiện ác. Thân Loan cho rằng Phật A-di-đà là vị sẵn sàng hơn cả cứu độ những người »kém cỏi« vì những người này không có gì khác hơn là lòng tin nơi A-di-đà. Còn những người »giỏi giang« hơn thì hay bị rơi vào ý nghĩ – theo ông là mê lầm – là nhờ thiện nghiệp hay Công đức tự tạo mà có thể đạt giải thoát. Ông chỉ biết đến thệ nguyện thứ 18 của Phật A-di-đà và vì vậy có nhiều khác biệt với Tịnh độ tông và Pháp Nhiên.
Thần Nghi 神儀; ?-1216|Thiền sư Việt Nam thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông thứ 13, nối pháp Thiền sư Thường Chiếu.|Sư họ Quách, quê ở Ngoại Trại, xuất thân từ một gia đình mộ đạo. Sau khi xuất gia, Sư đến học với Thiền sư Thường Chiếu.|Lúc Thường Chiếu sắp tịch, Sư hỏi: »Mọi người đến thời tiết này, vì sao đều theo thế tục mà chết?« Thường Chiếu bảo: »Ngươi nhớ được mấy người không theo thế tục?« Sư thưa: »Một mình Tổ (Bồ-đề) Ðạt-ma.« Thường Chiếu hỏi: »Có những đặc biệt gì?« Sư thưa: »Một mình đạp trên sóng mà trở về Tây.« Thường Chiếu hỏi: »Núi Hùng Nhĩ là nhà ai?« Sư thưa: »Chỉ là nơi chôn chiếc gậy trong hòm mà thôi.« Thường Chiếu bảo: »Lừa người lấy lợi, đứng đầu là Thần Nghi.« Sư hỏi: »Ðâu thể nói Tống Vân truyền dối, việc vua Trang Ðế quật mồ thì sao?« Thường Chiếu bảo: »Một con chó lớn sủa láo.« Sư hỏi: »Hoà thượng cũng tuỳ tục chăng?« Thường Chiếu bảo: »Tuỳ tục.« Sư hỏi: »Vì sao như thế?« Thường Chiếu đáp: »Ấy là cùng người đồng đều.« Sư nhân đây bỗng nhiên tỉnh ngộ, lễ bái thưa: »Con đã hiểu lầm rồi.« Thường Chiếu liền hét.|Sau đó Thường Chiếu lấy bản đồ truyền thừa của Thiền sư Thông Biện ra vì Sư giảng nghĩa.|Sau khi Thường Chiếu tịch, Sư về trụ trì chùa Thắng Quang ở làng Thị Trung, Kim Bài. Ðồ chúng theo học rất đông.|Ngày 18 tháng 2 năm Bính Tí, niên hiệu Kiến Gia thứ 6 đời Lí Huệ Tông, Sư gọi đệ tử là Ẩn Không đến lấy bản đồ của Thường Chiếu trao cho và dặn: »Phương này hiện nay tuy loạn, ngươi khéo giữ bản dồ này, cẩn thận đừng để binh lửa làm hại, ắt là tổ phong của ta không mất vậy«. Nói xong, Sư tịch.
Thần Quang 神光|Huệ Khả
Thần thông 神通; S: ṛddhi; P: iddhi; cũng được gọi là Như ý thông, Thần túc thông;|Thần thông siêu nhiên, một trong Lục thông (sáu thắng trí). Người ta hiểu thần thông với các khả năng như sau: năng lực biến ra nhiều người, lấy dạng hình người khác, tàng hình, xuyên qua đất đá, đi trên nước, rờ mặt trời mặt trăng, đến những tầng trời cao nhất, cứu độ người đang hiểm nguy… Những khả năng này được xem là kết quả phụ của các phép tu thiền định. Tuy nhiên tăng, ni không được dùng các khả năng này để biểu diễn hay lạm dụng. Phạm những quy định này có thể bị loại ra khỏi Tăng-già.
Thần Tú 神秀; C: shénxiù; J: jinshū; ~ 605-706, cũng được gọi là Ngọc Tuyền Thần Tú;|Thiền sư Trung Quốc, một trong những môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ Hoằng Nhẫn. Theo truyền thuyết, Sư thua cuộc trong việc chọn người nối pháp của Hoằng Nhẫn và Huệ Năng được truyền y bát. Sư vẫn tự xem mình là người nối pháp của Hoằng Nhẫn và sáng lập Bắc tông thiền, một dòng thiền vẫn còn mang đậm sắc thái Ấn Ðộ với bộ kinh Nhập Lăng-già làm căn bản.|Sư thuở nhỏ đã thông minh hơn người. Ban đầu, Sư học Nho giáo nhưng không hài lòng, sau đó (năm 46 tuổi) đến núi Hoàng Mai nhập hội của Hoằng Nhẫn. Nơi đây, Sư là môn đệ xuất sắc của Ngũ tổ (Sử sách có ghi lại tên của 11 người đệ tử của Hoằng Nhẫn đã giáo hoá danh tiếng). Sau khi Hoằng Nhẫn viên tịch, Sư rời Hoàng Mai và đi du phương gần 20 năm. Sau, khi Vũ Hậu là Tắc Thiên mời đến kinh đô, Sư chần chừ rồi nhận lời. Nơi đây, Sư giáo hoá rất nhiều người, danh tiếng lừng lẫy.|Năm Thần Long thứ hai (706), Sư viên tịch. Vua sắc phong là Ðại Thông Thiền sư. Ðến giữa thế kỉ 8, vương triều công nhận Sư là người thừa kế Ngũ tổ, nhưng dòng Thiền của Sư tàn lụi sau vài đời, có lẽ vì liên hệ chính trị nhiều với vương triều.
Thản Văn 坦文; C: tănwén; J: tanbun; K: tanmun, 900-975;|Học giả chính của Hoa Nghiêm tông trong thời Cao Li (k: koryŏ).
Thắng 勝; C: shèng; J: shō; |Có các nghĩa sau: 1. Xuất sắc, đặc biệt, nổi bật, cao cấp, trội hơn, cao cả (s: viśista, viśa-da, parama, agra); 2. Trội hơn, vượt hơn; 3. Khắc phục, chế ngự. Đủ khả năng đáp ứng được, giữ vững được, chống đỡ được; 4. Điểm xuất sắc, điều xuất sắc; 5. Tính ưu việt, trạng thái chiếm ưu thế (s: prādhānya); 6. Chinh phục; 7. Người thông minh thính nhạy khác thường; đức Như Lai.
Thắng giải 勝解; C: shèngjiĕ; J: shōge; S: adhimukti, adhi-mokṣa; T: mospa;|Theo giáo lí của Du-già hành phái (瑜伽行派; s: yogācāra), tâm hành nhận biết rõ các pháp. Một trong 5 Biệt cảnh của Tâm sở hữu pháp (theo Thành duy thức luận 成唯識論).
Thắng giải hạnh địa 勝解行地; C: shèngjiĕxíngdì; J: shōgegyōji; S: adhimukti-caryā-bhūmi.|Thuật ngữ nói đến toàn bộ các giai vị Thập tín (十信), Thập trú (十住), Thập hạnh (十行), và Thập hồi hướng (十廻向; theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Thắng giải hạnh vị 勝解行位; C: shèngjiĕxíngwèi; J: shōgegyōi; |Thắng giải hạnh địa (勝解行地).
Thăng giáng 昇降; C: shēngxiáng; J: shōkō; |Lên và xuống.
Thăng-ka T: thaṅ-ka;|Tranh vẽ trong Phật giáo Tây Tạng. Các Thăng-ka thường là vải lụa được cuốn tròn. Tranh này phần lớn lấy nội dung là giáo pháp, hay cuộc đời đức Phật. Vẽ tranh này, người ta phải chú ý đến ba nguyên tắc: sức truyền lên người xem, sự hài hoà và chi tiết bức tranh. Người ta cho rằng việc đặt vẽ Thăng-ka cũng như bản thân vẽ Thăng-ka mang lại rất nhiều phúc đức.|Thăng-ka được vẽ bằng màu lấy trong thiên nhiên và là đối tượng hay phương tiện để thiền định và tạo linh ảnh, như tranh vẽ Vòng sinh tử (s: bhavacakra), cuộc đời và tiền thân đức Phật (Bản sinh kinh). Ngoài ra, Thăng-ka cũng trình bày lại hình ảnh các vị giáo chủ các tông phái để các đệ tử chú tâm lúc quy y. Tuy nhiên, nội dung quan trọng nhất của Thăng-ka chính là phương tiện để thiết tưởng (e: visualize) linh ảnh lúc hành trì các giáo pháp Tan-tra, Nghi quỹ (s: sādhana). Ðến thế kỉ 16 tại Tây Tạng vẫn tiếp tục hình thành các trường phái vẽ Thăng-ka khác nhau, trong đó khuynh hướng vẽ của phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) là nổi tiếng nhất.
Thắng luận 勝論; C: shènglùn; J: shōron; S: vaiśeṣika-śāstra.|Tên một bộ luận và tông phái triết học Ấn Độ mang tên bộ luận ấy. Thắng Luận tông (勝論宗).
Thắng luận sư 勝論師; C: shènglùnshī; J: shōronshi; |Các luận sư hay triết gia của Thắng luận tông.
Thắng luận tông 勝論宗; C: shènglùn zōng; J: shōron shū; S: vaiśeṣika-śāstra;|Một tông phái triết học Ấn Độ mang tên bộ luận Vaiśeṣika, phiên âm là Vệ-thế-sư (衛世師), người sáng lập được xem là Ca-na-đà (迦那陀; s: kaṇāda). Là tông phái xưa nhất trong »Sáu tông phái ngoại đạo« của triết học Ấn Độ (lục ngoại đạo 六外道). Vaiśeṣika theo tiếng Phạn có nghĩa là »sai biệt« (差別) và »thù thắng« (殊勝; s: viśeṣa). Tông nầy chia trạng thái đa dạng của bản chất thành 6 phạm trù (lục cú nghĩa 六句義; s: padārtha), hơi có khuynh hướng khoa học. Thắng luận tông giữ quan niệm là thông qua sự thực hành trọn vẹn các bổn phận đặc thù mà con người có thể hiểu được 6 phạm trù (lục cú nghĩa), và sự hiểu biết nầy có thể đưa đến phúc lạc. Ca-na-đà trình bày hệ thống quan điểm của ông trong luận Vaiśeṣika-sūtra, gồm 10 chương.
Thắng Man kinh 勝鬘經; C: shèngmán jīng; J: shōmangyō; S: śrīmālādevī-sūtra; là tên gọi ngắn của Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng kinh (śrīmālādevī-siṃhanāda-sū-tra);|Kinh Ðại thừa, được hai vị Cao tăng Ấn Ðộ dịch sang Hán văn. Bản thứ nhất của Cầu-na Bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: guṇabhadra), được dịch đời Lưu Tống (tk. 5, ~ 435-443) dưới tên trên. Bản thứ hai được Bồ-đề Lưu-chi (bodhruci) dịch (~ 508-535) dưới tên Thắng Man phu nhân hội, bởi vì kinh này cũng là một phần của bộ kinh Ðại bảo tích, hội 48. Một bản dịch cũ của kinh nầy có tên Phu nhân kinh (夫人經). Kinh này tương đối ngắn, bao gồm 15 phẩm. Phẩm thứ nhất nói về đức tính chân thật của Như Lai và sự việc công chúa Thắng Man được Phật thụ kí. Phẩm 2 – 4 nói về việc phát triển Bồ-đề tâm. Nội dung của phẩm thứ 5 – 15 có thể gọi chung là »nhập Như Lai tạng« nói về việc xác quyết Nhất thừa (s: ekayāna), về Như Lai tạng (s: tathagātagarbha), Pháp thân (s: dharmakāya), bản tính thanh tịnh. Vì bản chất nội dung, kinh thường được bàn luận và so sánh với các kinh luận như Bảo tính luận, Lăng-già (楞伽經; s: lankāvatāra-sūtra), Đại thừa khởi tín luận (大乘起信論)… Kinh này đã được Wayman dịch sang Anh ngữ năm 1974.|Công chúa Thắng Man, nhân vật chính trong kinh này có quan điểm rằng, Phật chỉ vì Ðại thừa thuyết pháp và pháp này bao gồm tất cả ba cỗ xe (Ba thừa). Thắng Man nêu ba hạng người có thể đi trên đường Ðại thừa, đó là 1. Hạng người thực hiện được Trí huệ vô thượng một mình; 2. Hạng người nhờ nghe pháp mà đạt trí huệ; 3. Hạng người có Tín tâm (s: śraddhā), tin tưởng nơi Phật pháp, mặc dù không đạt được trí huệ tột cùng.|Thắng Man sư tử hống nhất thừa đại phương tiện phương quảng kinh|勝鬘獅子吼一乘大方便方廣經; C: shèngmán shīzǐ hŏu yīshèng dàfāngbiàn fāng-guăng jīng; J: shōman shishikō ichijō daihōben hōkō kyō; S: śrīmālādevī-siṃhanāda-sūtra;|Tên gọi đầy đủ của kinh Thắng Man.
Thắng nghĩa 勝義; C: shèngyì; J: shōgi; |Có các nghĩa sau: 1. Nghĩa cao tột; nghĩa vi diệu nhất. Thực tại tối thượng. Nghĩa chân thật (s: pāramārthika, paramārtha); 2. Cõi giới vi diệu. Chân như; 3. Lí sâu mầu từ kinh nghiệm chứng ngộ, khác hẳn cảnh giới của người chưa chứng ngộ.
Thắng nghĩa căn 勝義根; C: shèngyì gēn; J: shōgikon; |Căn (根; s: indriya).
Thắng nghĩa đế 勝義諦; C: shèngyì dì; J: shōgitai; S: paramār-tha-satya.|Nguyên lí tột cùng, thực tại tối thượng. Thực tại được nhận biết trên căn bản liễu tri về tính không. Còn gọi là Chân đế (眞諦) và Đệ nhất nghĩa đế (第一義諦). Là một trong hai phương diện của thật tại, phương diện kia là Thế tục đế (世俗諦).
Thắng nghĩa giai không tông 勝義皆空宗; C: shèngyì jiēkōngzōng; J: shōgikaikūshū; |Giáo lí tối thượng, cho rằng các pháp đều trống không.
Thắng nghĩa vô tính 勝義無性; C: shèngyì wúxìng; J: shōgimushō; |Một trong Tam vô tính (三無性) của Pháp tướng tông. Tính chất vô tự tính của thật tại tối thượng.
Thắng pháp 勝法; C: shèngfă; J: shōhō; |Có các nghĩa sau: 1. Giáo pháp siêu việt; 2. Giai vị giác ngộ thù thắng (s: śreyas, dharma-netrī); 3. Việc chưa từng xảy ra, chuyện trước đây chưa từng có (vị tằng hữu 未曾有; s: adbhuta).
Thắng pháp tập yếu luận 勝法集要論; S: abhidharma; P: abhidham-ma;|Tên dịch nghĩa của A-tì-đạt-ma, Luận tạng.
Thắng thân châu 勝身洲; C: shèngshēnzhōu; J: shōshinshū; |Đông thắng thân châu (東勝身洲).
Thắng tiến 勝進; C: shèngjìn; J: shōshin; |Có các nghĩa sau: 1. Tiến đến tầng bậc kế đến; hành giả đạt mức độ công phu gần đến giai vị kế đến; 2. Xuất sắc, cao cả, ngoại hạng, hoàn hảo, thù thắng (s: vaiśesika); 3. Tiến lên chiều hướng xuất sắc, tiến bộ vĩ đại.
Thắng tiến đạo 勝進道; C: shèngjìndào; J: shōshindō; |Có các nghĩa sau: 1. Đạo tu tập để tiến đến giai vị kế tiếp; 2. Đạo thăng tiến siêu tuyệt. Một trong 9 pháp Du-già (Cửu Du-già 九瑜伽, theo Du-già luận 瑜伽論).
Thắng tiến phần 勝進分; C: shèngjìnfēn; J: shōshinbun; |Một phần trong các giai vị tu đạo (Thập địa 十地 hay Ngũ vị 五位), nơi ấy hành giả đã đạt được giai vị đó rồi và bây giờ tiến lên giai vị kế tiếp. Ngược với Tự phần (自分), là hành giả mới đạt được một giai vị riêng biệt (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Thang-ton Gyel-po T: thangtong gyelpo [thaṅ-ston rgyal-po]; »Vua của miền hoang dã«;|Tên của một vị Lạt-ma Tây Tạng, sống ở thế kỉ 15. Tương truyền Sư sống đến 125 tuổi. Một trong những tác phẩm nổi tiếng của Sư nói về phép Thiền quán về đức Quán Thế Âm (Nghi quỹ). Ngày nay, bộ luận đó vẫn còn được tu học trong phái Cát-mã Ca-nhĩ-cư (t: karma-kagyu) và được nhiều Ðạo sư đời sau luận giải thêm. Sư là người xây những chiếc cầu sắt tại Tây Tạng và tông phái của Sư được gọi là »Thiết kiều tông.« Trong tông Ninh-mã (t: nyingmapa), Sư được xem là người chuyên đi tìm các kinh sách được dấu kín (Ter-ma).
Thắng tông 勝宗; C: shèngzōng; J: shōshū; |Thắng luận tông (勝論宗).
Thắng tông thập cú nghĩa luận 勝宗十句義論; C: shèngzōng shíjùyì lùn; J: shōshū jūkōgi ron; S: vaiśeṣika-daśapadārtha śāstra;|Luận, được Huệ Nguyệt (慧月; s: mati-candra) soạn, 1 quyển. Huyền Trang dịch tại chùa Hoằng Phúc năm 647. Một bộ kinh của Thắng luận tông Ấn Độ. Cú nghĩa (s: padārtha) là nội dung cơ bản cấu thành Thực tại trong hệ thống triết học Thắng tông. Thắng tông thường đề ra 9, đúng hơn là 6 cú nghĩa.
Thắng tràng tí ấn đà-la-ni kinh 勝幢臂印陀羅尼經; C: shèng chuáng bì yìn tuóluóníjīng; J: shōtō hiin darani kyō; |Kinh, 1 quyển. Huyền Trang dịch năm 654.
Thắng tướng 勝相; C: shèngxiāng; J: shōsō; |Tướng tiêu biểu, tướng nổi bật, tướng thù thắng (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Thành 城; C: chéng; J: jō;|Có 2 nghĩa: 1. Thành phố, thành trì, thành luỹ; 2. Ở Ấn Độ, là khu rừng nơi các vị tu khổ hạnh thực hành khất thực.
Thanh Biện 清辯; ?-686|Thiền sư Việt Nam thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ tư, nối pháp Thiền sư Huệ Nghiêm.|Sư họ Ðỗ, quê ở Cổ Giao, xuất gia năm 12 tuổi với Thiền sư Pháp Ðăng. Khi Pháp Ðăng thị tịch, Sư chuyên trì tụng kinh Kim cương và lấy đó làm sự nghiệp. Một hôm, một vị thiền khách ghé chùa, hỏi Sư: »Kinh này là mẹ của Phật tam thế (quá khứ, hiện tại, vị lai), thầy hiểu ›mẹ Phật‹ thế nào?« Sư đáp: »Tôi từ trước trì tụng kinh này nhưng cũng chư hiểu ý ấy.« Khách hỏi: »Trì tụng đã bao lâu?« Sư thưa: »Tám năm.« Khách bảo: »Tám năm chỉ trì tụng một kinh mà chưa hiểu ý nghĩa thì dù trì tụng cả trăm năm cũng chẳng có công dụng gì.«|Nghe lời khuyên của thiền khách, Sư đến tham vấn Thiền sư Huệ Nghiêm tại chùa Sùng Nghiệp. Thấy Sư, Huệ Nghiêm hỏi: »Ngươi đến có việc chi?« Sư thưa: »Ðệ tử trong tâm chưa yên ổn.« Huệ Nghiêm hỏi: »Chưa ổn cái gì?« Sư thuật lại cuộc đàm thoại với thiền khách. Huệ Nghiêm bảo: »Ngươi quên hết rồi! Sao ngươi không nhớ câu kinh ›Các Phật tam thế cùng lối pháp Vô thượng chính đẳng chính giác đều xuất xứ ở kinh Kim cương‹, thế chẳng là ›Mẹ của Phật‹ hay sao?« Sư thưa: »Quả thật đệ tử còn mê muội.« Huệ Nghiêm lại hỏi: »Thế kinh ấy ai thuyết.« Sư hỏi: »Chẳng phải là lời thuyết pháp của Như Lai hay sao?« Huệ Nghiêm nói: »Trong kinh nói ›Nếu nói Như Lai có thuyết pháp gì thì phỉ báng Như Lai.‹ Câu ấy người ta không giải được. Cái nghĩa ta vừa nói, ngươi cứ thử nghĩ xem, nếu nói kinh ấy không phải là lời thuyết pháp của Phật thì thế là phỉ báng kinh; nếu lại nói đúng là những lời thuyết pháp của Phật lại là phỉ báng Phật. Sao ngươi lại cứ muốn ta trả lời ngay?« Sư suy nghĩ, muốn hỏi thêm, Huệ Nghiêm bèn cầm Phất tử đánh vào miệng. Sư ngay đây tỉnh ngộ, bèn sụp lạy.|Sau, Sư đến trụ trì chùa Kiến Dương giáo hoá tông đồ. Năm Bính Tuất, niên hiệu Ðường Thuỳ Cung thứ hai (686), Sư quy tịch.
Thanh Biện 清辯; S: bhāvaviveka, bhavya; C: qīngbiàn; J: shōben;|Một Luận sư quan trọng của tông Trung quán (s: mādhyamika), sống khoảng giữa 490 và 570. Sư sinh tại Nam Ấn Ðộ, theo học giáo lí của Long Thụ (nāgārjuna) tại Ma-kiệt-đà (magadha). Sau đó Sư trở về quê hương và trở thành một luận sư danh tiếng. Trong các tác phẩm được dịch ra chữ Hán và chữ Tây Tạng (phần lớn của nguyên bản Phạn ngữ đã thất truyền), Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra) là đối tượng bị Sư chỉ trích. Là người sáng lập hệ phái Trung quán-Y tự khởi (中觀依自起; mādhya-mika-svātantrika, cũng được gọi là Độc lập luận chứng phái 獨立論證派), một trong hai trường phái của Trung quán, Sư cũng đả kích Phật Hộ (s: buddhapālita), người sáng lập hệ phái Trung quán-Cụ duyên (中觀具緣; prāsaṅgika-mādhyamika) bằng một phương pháp suy luận biện chứng trên cơ sở nhân minh học (s: hetuvidyā), Nhận thức học (s: pramāṇavāda). Vào thế kỉ thứ 8, trường phái của Sư được Tịch Hộ (s: śānta-rakṣita) biến thành phái Trung quán-Duy thức (mādhyamika-yogācāra).|Các trứ tác của Sư (trích): 1. Ðại thừa chưởng trân luận (mahāyānatālaratnaśāstra), Huyền Trang dịch; 2. Bát-nhã đăng luận thích (prajñāpradīpa, cũng có tên prajñāpradīpa-mūlamadhyamaka-vṛtti), Ba-la-phả Mật-đa dịch; 3. Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 4. Trung quán tâm quang minh biện luận (madhyamaka-hṛdaya-vṛttitarkajvālā), chú giải Trung quán tâm luận tụng (madhyamakahṛdayakārikā), Tạng ngữ; 5. Trung quán nhân duyên luận (madhyamikapratītya-samutpāda-śāstra), Tạng ngữ; 6. Nhập trung quán đăng luận (madhyamakāvatārapradīpa), Tạng ngữ; 7. Nhiếp trung quán nghĩa luận (madhyamārtha-saṃgraha), còn bản Tạng ngữ và Phạn ngữ; 8. Dị bộ tông tinh thích (nikāyabheda-vibhaṅgavyākhyāna), chỉ còn lưu lại trong Tạng ngữ, nói về các tông phái phật giáo sau khi Phật diệt độ đến thời Thanh Biện, rất giống Dị bộ tông luân luận (samayabhedavyū-hacakraśāstra) của Thế Hữu (vasumitra).
Thánh đạo 聖道; S: ārya-mārga; P: ariya-magga;|Ðạo xuất thế, con đường xuất thế bao gồm bốn cấp bậc. Mỗi cấp lại được phân biệt là: Thánh nhân (s: ārya-pudgala) đi trên đạo và Thánh quả (s: phala) của đạo đó. Bốn cấp của đạo xuất thế là: 1. Dự lưu (s: śrotāpana), người mới nhập dòng; 2. Nhất lai (s: sakṛḍāgāmin), người tái sinh trở lại thế gian này một lần nữa; 3. Bất hoàn (s: anāgāmin), người không bao giờ trở lại thế gian này nữa; và 4. A-la-hán (s: arhat).
Thánh điện 聖殿; S: caitya; P: cetiya;|Nơi các vị Tỉ-khâu ngày xưa hội họp và ngồi thiền. Về sau, Thánh điện này không còn được chú trọng và hoà nhập lại thành Chính điện, nơi thờ tượng của đức Phật.
Thành duy thức luận 成唯識論; S: vijñāptimātratāsiddhi; |Huyền Trang
Thanh Học 清學; C: qīngxué; J: shōgaku; K: ch'ŏnghak, 1570-1654.|Thiền sư Triều Tiên. Tác giả của Vịnh nguyệt đường đại sư văn tập (詠月堂大師文集; k: yŏngwŏldang taesa munjip).
Thanh Lương 清涼; C: qīngliáng; J: shōryō;|Thiền sư Trung Hoa, thường gọi Quốc sư Thanh Lương. Xem Pháp Nhãn Văn Ích.
Thanh Nguyên Hành Tư 青原行思; C: qīngyuán xíngsī; J: seigen gyōshi; 660-740;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ hàng đầu của Lục tổ Huệ Năng. Từ dòng thiền của Sư xuất phát ra ba tông trong Ngũ gia thất tông mặc dù Sư chỉ có một đệ tử đắc pháp là Thạch Ðầu Hi Thiên.|Sư họ Lưu, quê ở Kiết Châu, An Thành, xuất gia từ nhỏ. Nhân nghe Lục tổ dạy chúng ở Tào Khê, Sư đến tham học. Sư được Lục tổ ấn khả và trở về trụ trì chùa Tịnh Cư trên núi Thanh Nguyên ở Kiết Châu.|Thiền sư Hà Trạch Thần Hội đến, Sư hỏi: »Ở đâu đến?« Thần Hội đáp: »Từ Tào Khê đến.« Sư hỏi: »Ý chỉ Tào Khê thế nào?« Thần Hội chỉnh thân rồi thôi. Sư bảo: »Vẫn còn đeo ngói gạch.« Thần Hội hỏi: »Ở đây Hoà thượng có vàng ròng chăng?« Sư đáp: »Giả sử có cho, ông để chỗ nào?«|Sau khi truyền pháp cho Hi Thiên xong, ngày 13 tháng 12 năm Canh Thìn, đời Ðường niên hiệu Khai Nguyên năm thứ 28, Sư từ biệt chúng lên pháp đường viên tịch. Vua Ðường Hiến Tông ban hiệu là Hoằng Tế Thiền sư, tháp hiệu Quy Sơn.
Thánh nhân 聖人; S: ārya-pudgala; P: ariya-puggala;|Danh từ chỉ người đang đi trên Thánh đạo nhưng cũng thường được dùng cho những người có đạo hạnh xuất chúng.
Thành Phật 成佛; J: jōbutsu;|Một cách trình bày sự chứng ngộ tự tính, Phật tính. Theo Thiền tông thì người ta không thể thành Phật được bởi vì người ta là Phật, nghĩa là chân tính của họ đồng với Phật tính, là Phật tính. Tuy nhiên, phàm phu không tự biết được sự việc tối trọng này và có cảm tưởng như là mình trở thành Phật khi nếm được kinh nghiệm Kiến tính lần đầu. Ðồng nghĩa với »Thành Phật« là »Thành Ðạo«, »Ðạt Ðạo.«
Thanh quy 清規; J: shingi; nghĩa là »Quy luật rõ ràng«;|Danh từ chỉ những quy luật cho tăng, ni và Cư sĩ trong cũng như ngoài những Thiền viện. Trong những tác phẩm nói về quy luật, người ta thường gắn hai chữ Thanh quy phía sau, ví dụ như Bách Trượng thanh quy của Thiền sư Bách Trượng Hoài Hải, Vĩnh Bình thanh quy của chùa Vĩnh Bình tại Nhật Bản.
Thành sở tác trí 成所作智; S: kṛtyānuṣṭhāna-jñāna;|Năm trí
Thành thật tông 成實宗; C: chéngshí-zōng; J: jōjitsu-shū;|Tông phái Phật giáo Trung Quốc, xuất phát từ giáo pháp của Kinh lượng bộ (s: sautrān-tika) Ấn Ðộ. Cơ bản của tông phái này là bộ Thành thật luận (s: satyasiddhiśāstra) của Ha-lê Bạt-ma (s: harivarman) trong thế kỉ thứ 4, được Cưu-ma-la-thập (kumārajīva) dịch ra chữ Hán trong thế kỉ thứ 5.|Ðại diện cho tông phái này là Tăng Ðạo (僧導) và Tăng Khải (僧楷), cả hai đều là đệ tử của Cưu-ma-la-thập, là hai vị đã truyền bá Thành thật tông khắp Trung Quốc và vì vậy, tông này trở thành một tông phái mạnh của Trung Quốc ở đầu thế kỉ thứ 6. Tông phái này khác với Tam luận tông vì các vị Tam luận tông cho rằng luận sư của Thành thật tông đã hiểu sai ý nghĩa của biểu đạt tính Không. Các vị Luận sư quan trọng của Tam luận tông như Pháp Lãng và Cát Tạng đã công kích Thành thật tông mạnh mẽ nên ảnh hưởng của phái này giảm dần.|Tông này được xem là Tiểu thừa vì họ chỉ chuyên tâm nghiên cứu những lời giảng của đức Phật. Quan điểm chính của tông phái này là phủ nhận mọi sự hiện hữu. Tâm thức hay vật chất đều không hiện hữu thật sự. Theo tông phái này, có hai loại chân lí: một loại chân lí »thế gian«, chân lí có tính chất quy ước và chân lí kia là chân lí tuyệt đối. Dựa trên chân lí thế gian, tông này chấp nhận sự hiện hữu của các pháp (s: dharma), các pháp này hiện hành tuỳ thuộc lẫn nhau, vô thường và sẽ bị hoại diệt. Trên phương diện tuyệt đối thì mọi pháp đều trống Không (s: śūnyatā). Như thế, Thành thật tông cũng cho rằng cả ngã lẫn pháp đều không (人法皆空; Nhân pháp giai không) nên cũng có khi tông này được xem là Ðại thừa. Tuy thế, khác với các trường phái Ðại thừa khác – vốn cho rằng có một cái Không làm nền tảng, biến hoá ra mọi hiện tượng (真空妙有; Chân không diệu hữu) – Thành thật tông nhìn nhận tính Không một cách tiêu cực hơn, đó chỉ là sự trống rỗng đằng sau các hiện tượng, thấy rõ được qua sự phân tích, phủ nhận, và vì thế tông này cũng có tên Nhất thiết không tông (一切空宗; sarvaśūnyavāda). Quan điểm về tính Không này còn vướng mắc trong trạng thái phủ định, phủ nhận thế gian, khác hẳn quan điểm tính Không của Tam luận tông Trung Quốc.|Thành thật tông Nhật Bản (jōjitsu-shū) được Cao tăng Triều Tiên là Huệ Quán (慧灌; ek-wan), người đã từng học tại Trung Quốc truyền qua Nhật năm 625. Kể từ đó Thành thật tông được nhiều người nghiên cứu, nhưng không trở thành tông phái hẳn hoi, chỉ được xem là một phần của Tam luận tông.
Thánh Thiên 聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là »Ðơn nhãn«; |Một Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 8, đệ tử của Ma-ha Tất-đạt Long Thụ (s: nāgārju-na). Trong thế kỉ thứ hai cũng có vị Long Thụ của Trung quán tông và vị này cũng có đệ tử tên Thánh Thiên.|Thánh Thiên là một Tỉ-khâu tu học tại Na-lan-đà. Một hôm Sư nghe có vị Tất-đạt nổi danh tên Long Thụ sống tại Nam Ấn Ðộ liền bỏ đi tìm, được Quán đỉnh vào Bí mật tập hội (s: guhyasamāja-tantra), và ở lại luyện Nghi quỹ (s: sādhana) chung với thầy. Sư đi khất thực luôn luôn được nhiều thức ăn ngon lạ hơn thầy. Long Thụ lấy làm lạ cho Sư ở nhà, tự mình đi. Khi về nhà thì Long Thụ thấy một thần nữ đã dâng cúng bánh trái cho Thánh Thiên và phê bình là mình chưa hết ô nhiễm hẳn như đệ tử. Long Thụ khâm phục môn đệ mình và đặt tên Thánh Thiên. Bài kệ chứng đạo của Thánh Thiên như sau:|Chư Phật cả ba đời,|duy nhất một Tự tính.|Chứng được tự tính này,|là chứng được tâm thức.|Ðể mọi sự diễn ra,|hoà vào với thật tại,|không hề có cơ cấu.|Chính trạng thái buông thỏng,|là đời sống Du-già.|Sau khi Long Thụ chế tạo được nước trường sinh, ông lè lưỡi liếm và đưa cho Sư làm theo. Sư liền cầm bát nước đổ hết vào một gốc cây, cây này bất chợt đâm tược. Long Thụ quát lớn: »Nếu ngươi phí phạm nước bất tử của ta thì phải hoàn lại!« Sư liền cầm một cái thùng, tiểu tiện vào rồi cầm một nhánh cây quậy đưa Long Thụ. »Nhiều quá« Long Thụ nói. Sư liền đổ nửa thùng vào gốc cây, cây này liền ra lá. Long Thụ nghiêm trang bảo: »Nay ngươi đã chứng Ðạo, đừng lưu lại lâu trong Luân hồi (saṃ-sāra)«. Nghe câu này, thân Sư bay vọt lên cao. Ngay lúc này, một người đàn bà đến gần xin Sư một con mắt. Không một chút chần chừ, Sư móc con mắt phải ra trao cho bà này và từ đây mang tên là »Ðơn nhãn« hay »Ðơn nhãn Ðề-bà«. Sau khi thuyết pháp từ trên không trung, Sư đứng ngược đầu xuống đất, chân đối trời rồi biến mất.
Thánh Thiên 聖天; S: āryadeva; cũng được gọi là Ðề-bà, Ka-na Ðề-bà, Ðơn nhãn Ðề-bà (s: kāṇadeva); |Học trò của Long Thụ (nāgārjuna) và Ðại luận sư của Trung quán tông (s: mādhyami-ka), tác giả của nhiều bộ luận. Người ta cho rằng Thánh Thiên sinh trong thế kỉ thứ 3 tại Tích Lan và là Tổ thứ 15 của Thiền Ấn Ðộ dưới tên »Ðề-bà một mắt« (kāṇadeva). Tương truyền Sư bị ngoại đạo chống đạo Phật giết. Ngày nay, tác phẩm của Sư chỉ còn được giữ lại trong các bản dịch tiếng Hán và Tây Tạng, phần lớn là các luận đề về giáo pháp của Long Thụ. Truyền thống Tan-tra xem Sư là một trong 84 vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha).|Sư sinh ra trong một gia đình quý tộc tại Tích Lan. Thay vì nhận chức làm quan thì Sư lại gia nhập Tăng-già dưới sự hướng dẫn của Hermadeva. Sau khi học xong các thuyết luận, Sư đi hành hương, viếng thăm những thánh tích của Phật giáo tại Ấn Ðộ. Nhân dịp này, Sư gặp Long Thụ và theo hầu học nhiều năm và khi Long Thụ rời Na-lan-đà đi Trung Ấn, Sư cũng theo thầy. Dần dần, Sư được truyền trao trách nhiệm giảng pháp và được xem là người kế vị Long Thụ. Không rõ là Sư lưu lại Trung Ấn bao nhiêu lâu nhưng trong thời gian này, Sư có thành lập nhiều tu viện. Nghe tin một luận sư lừng danh thuộc dòng Bà-la-môn tung hoành tại viện Na-lan-đà và không một Tỉ-khâu nào đủ tài năng đối đầu tranh luận, Sư liền đến Na-lan-đà một lần nữa và chiến thắng vị Bà-la-môn trong ba vòng tranh luận. Sau nhiều năm trụ tại Na-lan-đà, Sư trở về miền Nam và mất tại Raṅganātha, Kiến-chí (kāñcī).|Tác phẩm Tứ bách luận (catuḥśataka) của Sư gồm 400 câu kệ, với suy luận biện chứng phủ định, giải thích giáo pháp Vô ngã và tính Không. Tập Bách luận (śataśāstra) được xem là bản thu gọn lại của Tứ bách luận, cũng gây ảnh hưởng lớn trong Phật giáo. Trong tập Bách luận Thánh Thiên đã đưa nhiều luận giải đối trị các quan điểm bài bác Phật giáo. Bách luận là một tác phẩm căn bản của Tam luận tông tại Trung Quốc.
Thanh tịnh 清淨; C: qīngjìng; J: shōjō; S: pariśuddha|1. Trong sáng, tinh khiết, không bị ô uế. Không có tội lỗi (s: samśuddhi, śauca, viśodhita, viśuddha). Không động niệm; 2. Được làm trong sạch, làm an định; 3. Làm cho thanh khiết, làm cho sạch sẽ; sự lắng trong; 4. Một người thanh tịnh (s: tathāgata). Đối nghịch với nhiễm (染), ô (汚).
Thanh tịnh chân chư 清淨眞如; C: qīngjìng zhēnrú; J: shōjō shinnyo;|Chân như thanh tịnh, đề cập đến chân đế của sự diệt khổ. Là một trong 7 loại chân như (七種眞如).
Thanh tịnh đạo 清淨道; P: visuddhi-magga; nghĩa là con »Ðường dẫn đến thanh tịnh«;|Tên của một bộ luận cơ bản của Thượng toạ bộ (p: theravāda), được Phật Âm (p: bud-dhaghosa) soạn trong khoảng thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên. Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí của Ðại Tự (p: mahāvihāra), một trong những trường phái Pā-li.|Bộ luận này gồm có 3 phần với 23 chương: chương 1-2 nói về Giới (p: sīla), chương 3-13 nói về Ðịnh (s, p: samādhi) và chương 14-23 nói về Trí huệ (p: pañña). Phần nói về Ðịnh trình bày rõ các phương pháp và đối tượng quán niệm của Thượng toạ bộ, khả năng phát triển và thánh quả của các phép thiền định. Trong phần Huệ, Thanh tịnh đạo trình bày giáo lí cơ bản của đạo Phật như Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên, Bát chính đạo…|Thanh tịnh đạo là một bộ luận tuyệt hảo, gần như là một bộ Bách khoa toàn thư của Phật giáo và được rất nhiều Phật tử chú trọng đến, không phân biệt Tiểu hay Ðại thừa. Nhà Phật học danh tiếng của châu Âu, Ed-ward Con-ze có lần nói rằng, nếu ông chỉ được mang theo một quyển sách ra một hòn đảo hoang vắng thì đó là quyển Thanh tịnh đạo.
Thanh tịnh huệ 清淨慧; C: qīng jìng huì; J: shōjōe;|Tên của 1 trong 12 vị Bồ Tát xuất hiện như là 1 đương cơ trong phẩm thứ 6 trong kinh Viên Giác.
Thanh tịnh phẩm 清淨品; C: qīngjìngpĭn; J: shōjōhon;|Phẩm chất thanh tịnh, khác biệt với phẩm chất ô nhiễm.
Thanh tịnh pháp giới 清淨法界; C: qīngjìng făjiè; J: shōjōhōkai;|Pháp giới thanh tịnh. Pháp giới trong trí huệ giác ngộ của chư Phật. Pháp giới bản thể thanh tịnh. Nền tảng của mọi công đức. Chân như.
Thanh tịnh pháp thân Tì-lô-giá-na tâm địa pháp môn thành tựu nhất thiết đà-la-ni tam chủng tất địa 清淨法身毘盧遮那心地法門成就一切陀羅尼三種悉地; C: qīngjìng făshēn pílúzhēnă xīndì fămén chéngjiù yīqiè tuóluó ní sānzhŏng xīdì; J: shōjō hosshin birushana shinji hōmon jōju issai darani sanshu shicchi;|1 quyển; Dịch giả khuyết danh (có ý kiến cho là ít nhất kinh được biên soạn hay phiên dịch từng phần do một tăng sĩ Ấn Độ).
Thanh Tịnh Quán Thế Âm Phổ Hiền đà-la-ni kinh 清淨觀世音普賢陀羅尼經; C: qīngjìng guānshìyīn pŭxián tuóluóní jīng; J: shōjō kanzeion fugen darani kyō;|Xem Quán tự tại Bồ Tát thuyết Phổ Hiền đà-la-ni kinh (觀自在菩薩説普賢陀羅尼經)
Thanh văn 聲聞; S: śrāvaka; nghĩa là »người nghe«;|Lúc đầu, Thanh văn có nghĩa là học trò của đức Phật. Dần dần, trong Ðại thừa, người ta cũng dùng từ Thanh văn để chỉ tất cả những ai nhờ nghe pháp và nhờ cố gắng cá nhân mà đạt đến giác ngộ, chứng tri kiến Tứ diệu đế và tính Không của thế giới hiện tượng. Mục đích cao nhất của Thanh văn là đạt Vô dư Niết-bàn (s: nirupadhiśeṣa-nirvāṇa), lúc đó Thanh văn trở thành A-la-hán.
Thanh văn thừa 聲聞乘; S: śrāvakayāna;|Dùng chỉ »cỗ xe« đầu tiên của ba cỗ xe (Ba thừa; s: triyāna) có thể đưa đến Niết-bàn. Thanh văn thừa đưa đến thánh quả A-la-hán và được xem là Tiểu thừa.
Thanh Viễn Phật Nhãn 清遠佛眼; ?-1120|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Lâm Tế hệ phái Dương Kì. Sư là bạn đồng học với hai vị »Phật« khác là Viên Ngộ Khắc Cần Phật Quả và Huệ Cần Phật Giám dưới trướng của Thiền sư Ngũ Tổ Pháp Diễn.|Sư họ Lí, quê ở Lâm Ngang, phong cách nghiêm chỉnh, ít nói. Năm lên 14, Sư xuất gia học luật. Nhân lúc đọc kinh Pháp hoa đến câu »Pháp ấy không phải chỗ suy nghĩ phân biệt hay hiểu«, Sư hỏi giảng sư. Giảng sư không giải được, Sư thất vọng tự than: »Nghĩa học danh tướng không phải nguyên nhân liễu việc lớn sinh tử.« Sư bèn sửa soạn hành lí đến phương Nam tham vấn các thiền gia.|Ðến Pháp Diễn tại chùa Thái Bình, Thô Châu, Sư nhập hội. Nhân một hôm làm công tác, Sư có chút ngộ nhập bèn đến Pháp Diễn trình bày. Nói lời gì Pháp Diễn cũng bảo »Ta chẳng bằng ông, ông tự hội được thì tốt«, hoặc »Ta chẳng hội, ông hội được thì tốt.« Sư càng nghi ngờ liền đến Thủ toạ hỏi. Thủ toạ nắm lỗ tai Sư đi quanh lò mấy vòng, vừa đi vừa nói: »Ông tự hội được thì tốt.« Sư thưa: »Có lòng mong khai phát có phải đùa với nhau sao?« Thủ toạ bảo: »Ông về sau ngộ rồi mới rõ được việc khúc chiết ngày nay.« Nghe tin Pháp Diễn đến Hải Hội, Sư bèn từ giã ra đi.|Nhân gặp được Thiền sư Linh Nguyên, Linh Nguyên khuyên Sư trở về học với Pháp Diễn. Sư nghe lời trở về, được Pháp Diễn cử làm Ðiển toạ. Gặp lúc đêm lạnh, Sư vạch trong lò thấy một đóm lửa bằng hạt đậu bỗng nhiên mừng rỡ nói: »Vạch sâu thấy đóm lửa nhỏ xíu, việc bình sinh chỉ như đây.« Sư đứng dậy đến bàn mở bộ Cảnh Ðức truyền đăng lục, đọc đến nhân duyên của sư Phá Táo Ðọa bỗng nhiên triệt ngộ, liền làm kệ:|刀刀林鳥啼。披衣終夜坐|撥火悟平生。窮神歸破墮|事皎人自迷。曲淡誰能和|念之永不忘。門開少人過|Ðao đao lâm điểu đề|Phi y chung dạ toạ|Bát hoả ngộ bình sinh|Cùng thần quy Phá Ðọa|Sự hiểu nhân tự mê|Khúc đạm thuỳ năng hoà|Niệm chi vĩnh bất vong|Môn khai thiểu nhân quá|*Líu lo chim rừng hót|Khoác áo ngồi đêm thâu|Vạch lửa, bình sinh tỏ|Quẫn trí về Phá Ðọa|Việc rõ người tự mê|Nhạc khúc ai hoà được|Nghĩ đó khăng khăng nhớ|Cửa mở, ít người qua.|Sư trước trụ trì chùa Vạn Thọ, sau chùa Long Môn. Danh tiếng của sư vang khắp nơi.|Sư dạy chúng: »Nói ngàn nói muôn không bằng chính mặt thấy, dù chẳng nói cũng tự phân minh. Dụ đao báu vương tử, dụ đám mù sờ voi, trong thiền học việc cách sông đưa tay ngoắt, việc trông châu đình thấy nhau, việc xa bặt chỗ không người, việc chỗ núi sâu bờ cao, đây đều chính mặt thấy đó, chẳng ở nói suông vậy.«|Sắp tịch, Sư ngồi Kết già bảo đồ chúng: »Những bậc lão túc các nơi sắp tịch để kệ từ biệt thế gian, thế gian có thể từ biệt sao? Sắp đi an ổn!« Nói xong Sư vui vẻ chắp tay viên tịch.
Thảo Ðường 草堂; tk. 11|Thiền sư Trung Quốc thuộc Vân Môn tông người đã đem dòng thiền này đến Việt Nam. Sư là môn đệ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển, không biết vì lí do gì sang ở Chiêm Thành và bị vua Lí Thánh Tông bắt làm tù binh năm 1069 trong cuộc chiến tranh với Chiêm Thành. Khám phá ra Thảo Ðường là một Cao tăng, bị bắt trong lúc đi truyền giáo pháp, Lí Thánh Tông phong làm Quốc sư. Ðến 50 tuổi, Sư có chút bệnh, ngồi kết già viên tịch.|Thảo Ðường lập ra một dòng Thiền, đó là dòng thiền thứ ba của Việt Nam, bên cạnh Tì-ni-đa Lưu-chi và Vô Ngôn Thông. Thiền sư Tuyết Ðậu có đặc điểm là dung hợp Phật giáo và Nho giáo và cũng như thầy mình, Thảo Ðường và các môn đệ sau này thiên về văn chương và trí thức. Dòng Thảo Ðường truyền được sáu thế hệ, trong đó thế hệ thứ hai phải kể Lí Thánh Tông, một nhà vua kiệt xuất. Trong phái này có cả hai Thiền sư Minh Không và Giác Hải, vốn thuộc dòng Vô Ngôn Thông nhưng lại theo học với phái Thảo Ðường, đồng thời lại có khuynh hướng Mật tông kì bí. Hai nhà vua Lí Anh Tông và Lí Cao Tông cũng được xem là thuộc phái Thảo Ðường.
Tháp 塔; C: tǎ; J: tō; S: stūpa; P: thūpa; dịch nguyên âm là Tháp-bà, dịch nghĩa là Cao hiển xứ, Miếu, Linh miếu, cũng được gọi là Bảo tháp; |Kiến trúc Phật giáo, một trong những đặc trưng của chùa chiền thánh tích đạo Phật.|Từ xưa, tháp trước hết là nơi chứa đựng Xá-lị (s: śarīra) các vị Phật hoặc các bậc Thánh. Tháp cũng được xây dựng tại các thánh tích quan trọng, kỉ niệm cuộc đời của đức Thích-ca Mâu-ni (Lam-tì-ni, Giác Thành, Câu-thi-na, Vương xá). Dưới thời vua A-dục, thế kỉ thứ 3, nhiều tháp được xây để thờ các vị thánh, ngày nay vẫn còn.||H 52: Ba dạng tháp khác nhau (từ trái sang phải): nghệ thuật Ấn Ðộ, nghệ thuật Càn-đa-la và Tây Tạng.|Tháp không nhất thiết là những nơi chứa đựng Xá-lị, đó cũng là nơi chứa đựng kinh điển, tranh tượng. Một trong những tháp lớn nhất còn tới ngày nay là Bô-rô-bu-đua (e: borobudur) tại Nam Dương (indonesia). Tháp cũng là một trong những đối tượng thiền quán, thường thường có nhiều ý nghĩa tượng trưng. Các bậc thang lên tháp đôi lúc biểu hiện cho các khái niệm Ðại thừa, như bốn bậc là từ, bi, hỉ, xả hay mười bậc là Thập địa. Tại Kiến-chí (sāñcī), Ấn Ðộ, người ta tìm thấy những tháp xưa nhất. Ðó là những kiến trúc hình bán cầu xây trên nền hình tròn. Trên bán cầu thường có những kiến trúc bằng đá. Trong tháp thường có những hộp đựng xá-lị, các hộp đó cũng có hình tháp, làm bằng vật liệu quý, đặt ngay tại giữa bán cầu hoặc trên đỉnh. Từ các tháp tại Kiến-chí, người ta xây các kiến trúc tương tự, kể từ đầu Công nguyên. Ngay cả kiến trúc các chùa tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam cũng có nguồn gốc từ các tháp này.|Một loại kiến trúc tháp khác, xuất phát từ Càn-đà-la (Tây bắc Ấn Ðộ), trong đó nền hình tròn bằng phẳng nói trên được thay thế bằng một nền hình ống, chia thành nhiều đoạn. Phần bán cầu cũng được kéo dài ra, nhưng so với nền hình ống thì nhỏ hơn trước. Phần nằm trên bán cầu cũng được kéo dài, chia nhiều tầng, biến thành hình nón. Khoảng giữa những năm 150 và 400 sau Công nguyên, phần gốc hình ống lại biến thành vuông và trở thành phổ biến tại vùng Nam Á.|Tại Tây Tạng, kiến trúc tháp có mối liên hệ trực tiếp với giáo pháp Ðại thừa. Bốn bậc thấp nhất của tháp tượng trưng cho bốn tâm từ, bi, hỉ, xả. Trên đó là mười bậc tượng trưng cho mười bậc tu học của Bồ Tát (Thập địa). Trung tâm của tháp gồm có một kiến trúc hay một linh ảnh, tượng trưng cho Bồ-đề tâm (s: bodhicitta). Trên đó là 13 tầng tháp, tượng trưng cho các phương tiện truyền pháp khác nhau, trên đó là một hoa sen năm cánh, tượng trưng cho Ngũ Phật và cao nhất là hình mặt trời tượng trưng cho Chân như.
Thấp 濕; C: shī; J: shitsu;|1. Sự ẩm ướt, hơi ẩm; bị ẩm ướt; sự ẩm ướt, không khí ẩm thấp; 2. Vật có tính lỏng, hay thay đổi; điểm đặc thù của nước; 3. Tính bầy nhầy, kết dính; 4. Tính lỏng, độ chảy loãng (s: drava, dravatva).
Thập Ðắc 拾得|Xem dưới Hàn Sơn
Thập đại đệ tử 十大弟子|Mười đại đệ tử
Thập đại luận sư 十大論師|Mười đại luận sư
Thập địa 十地; S: daśabhūmi;|Mười quả vị tu chứng của các vị Bồ Tát. Có nhiều hệ thống khác nhau nhưng theo Bồ Tát địa (菩薩地; s: bodhisattva-bhūmi) và Thập địa kinh (十地經; s: daśabhūmika-sūtra) thì Thập địa gồm:|1. Hoan hỉ địa (歡喜地; pramuditā-bhūmi): Ðắc quả này Bồ Tát rất hoan hỉ trên đường Giác ngộ (bodhi). Bồ Tát đã phát Bồ-đề tâm và thệ nguyện cứu độ tất cả các chúng sinh thoát khỏi Luân hồi (saṃsāra), không còn nghĩ tới mình, Bố thí (dāna) không cầu phúc và chứng được tính Vô ngã (anātman) của tất cả các Pháp (dharma).|2. Li cấu địa (離垢地; vimalā-bhūmi): Bồ Tát giữ Giới (śīla) và thực hiện thiền định (dhyāna, samādhi).|3. Phát quang địa (發光地; prabhākārī-bhūmi): Bồ Tát chứng được quy luật Vô thường (anitya), tu trì tâm Nhẫn nhục (kṣānti) khi gặp chướng ngại trong việc cứu độ tất cả chúng sinh. Ðể đạt đến cấp này, Bồ Tát phải diệt trừ Ba độc là tham, sân, si, thực hiện được bốn cấp định an chỉ (dhyāna) của Bốn xứ và chứng đạt năm thành phần trong Lục thông (abhijñā).|4. Diệm huệ địa (燄慧地; arciṣmatī-bhūmi): Bồ Tát đốt hết tất cả những quan niệm sai lầm, tu tập trí huệ, Bát-nhã (prajñā) và 37 Bồ-đề phần (bodhipākṣika-dharma).|5. Cực nan thắng địa (極難勝地; sudurja-yā-bhūmi): Bồ Tát nhập định, đạt trí huệ, nhờ đó liễu ngộ Tứ diệu đế và Chân như, tiêu diệt nghi ngờ và biết phân biệt. Bồ Tát tiếp tục hành trì 37 giác chi.|6. Hiện tiền địa (現前地; abhimukhī-bhū-mi): Bồ Tát liễu ngộ mọi pháp là vô ngã, ngộ lí Mười hai nhân duyên và chuyển hoá trí phân biệt thành trí bát-nhã, nhận thức tính Không. Trong xứ này, Bồ Tát đã đạt đến trí huệ Bồ-đề (bodhi) và có thể nhập Niết-bàn thường trụ (pratiṣṭhita-nirvāṇa). Vì lòng từ bi đối với chúng sinh, Bồ Tát lưu lại trong thế gian, nhưng không bị sinh tử ràng buộc, đó là Niết-bàn vô trụ (apratiṣṭhita-nirvāṇa).|7. Viễn hành địa (遠行地; dūraṅgamā-bhū-mi): đạt tới cảnh giới này, Bồ Tát đầy đủ khả năng, có mọi phương tiện (upāya) để giáo hoá chúng sinh. Ðây là giai đoạn mà Bồ Tát tuỳ ý xuất hiện trong một dạng bất kì.|8. Bất động địa (不動地; acalā-bhūmi): trong giai đoạn này, không còn bất kì cảnh ngộ gì làm Bồ Tát dao động. Bồ Tát đã biết lúc nào mình đạt Phật quả.|9. Thiện huệ địa (善慧地; sādhumatī-bhū-mi): Trí huệ Bồ Tát viên mãn, đạt Mười lực (daśabala), Lục thông (ṣaḍabhijñā), Bốn tự tín, Tám giải thoát. Biết rõ cơ sở mọi giáo pháp và giảng dạy giáo pháp.|10. Pháp vân địa (法雲地; dharmameghā-bhūmi): Bồ Tát đạt Nhất thiết trí (sarvajña-tā), đại hạnh. Pháp thân của Bồ tát đã đạt tới mức viên mãn. Ngài ngự trên toà sen với vô số Bồ Tát chung quanh trong cung trời Ðâu-suất. Phật quả của Ngài đã được chư Phật ấn chứng. Những Bồ Tát đạt cấp này là Di-lặc (maitreya), Quán Thế Âm (avaloki-teśvara) và Văn-thù (mañjuśrī).
Thập địa kinh 十地經; S: daśabhūmika, daśabhūmīśvara;|Một phần độc lập của Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) do Bồ Tát Kim Cương Tạng (s: vajra-garbha) trình bày với Ðức Phật về các giai đoạn tu chứng. Một bài luận quan trọng của Thế Thân (s: vasubandhu) về Thập địa được Bồ-đề Lưu-chi (bodhiruci) dịch ra chữ Hán, đã trở thành kinh sách cơ bản của Ðịa luận tông, một tông phái cổ của Phật giáo Trung Quốc.
Thập giới 十戒|Giới
Thập hiệu 十號|Mười danh hiệu
Thập lực 十力; S: daśabala; P: dasabala;|Mười lực
Tháp miếu 塔廟; C: tǎmiào; J: tōbyō; |Chùa và miếu, Tháp.
Thập mục ngưu đồ 十牧牛圖; J: jūgyū-no-zu;|Mười bức tranh chăn trâu nổi tiếng trong Thiền tông, tương ưng với quá trình hành đạo của một người phát nguyện đạt Giác ngộ. Mười bức tranh này có thể xem là biểu hiện cô đọng nhất, trình bày tinh hoa của Phật giáo Ðại thừa.|Các bức tranh chăn trâu được sáng tạo trong thời nhà Tống (960-1279) và ngay từ đầu đã được xem như những bức hoạ tiêu biểu, trình bày tinh hoa, cốt tuỷ của Thiền Trung Quốc. Có nhiều bộ tranh – có thuyết nói là bốn, thuyết khác nói là 5, 6 chăn trâu khác nhau – nhưng có lẽ nổi danh nhất và cũng bao hàm ý nghĩa nhiều nhất là bộ với mười bức tranh của Thiền sư Khuếch Am Sư Viễn (廓庵師遠; c: kuòān shīyuǎn; j: kakuan shion; ~ 1150), được lưu lại trong bản sao của hoạ sĩ người Nhật tên Châu Văn (周文; shūbun; ?-1460). Một bộ khác với sáu bức tranh cũng thường được nhắc đến. Ban đầu, Thiền sư Thanh Cư (清居; c: qīngjū; j: seikyo) chỉ vẽ có năm bức nhưng sau, Thiền sư Tự Ðắc (自得; c: zìdé; j: jitoku; tk. 12) vẽ thêm bức tranh thứ sáu. Trong bộ này, con trâu dần dần trắng ra và cuối cùng thì trắng hoàn toàn, một biểu tượng cho chân tâm thanh tịnh, vô cấu.|Mười bức tranh sau được xem là của Thiền sư Khuếch Am, được trích từ tác phẩm Thiền nhục, Thiền cốt (Zen flesch, Zen bones) của Paul Reps. Những bức tranh này cũng được chú thích rất rõ, rất hay trong Thiền luận của Dai-setz Tei-ta-ro Su-zu-ki, bản dịch của Trúc Thiên và Tuệ Sĩ. Bài tụng của Thiền sư Khuếch Am được Thích Thanh Từ dịch.||H 53: Tìm trâu (tầm ngưu 尋牛, 1)|Nao nao vạch cỏ kiếm tìm trâu|Núi thẳm đường xa nước lại sâu|Kiệt sức mệt nhoài tìm chẳng thấy|Chỉ nghe réo rắt giọng ve sầu.||H 54: Thấy dấu (kiến tích 見跡, 2)|Ven rừng bến nước dấu liên hồi|Vạch cỏ ruồng cây thấy được thôi|Ví phải non sâu lại sâu thẳm|Ngất trời lỗ mũi hiện ra rồi.||H 55: Thấy trâu (kiến ngưu 見牛, 3)|Hoàng anh cất tiếng hót trên cành|Nắng ấm gió hoà bờ liễu xanh|Chỉ thế không nơi xoay trở lại|Ðầu sừng rành rõ vẽ khôn thành||H 56: Bắt trâu (đắc ngưu 得牛, 4)|Dùng hết thần công bắt được y|Tâm hùng sức mạnh khó khăn ghì|Có khi vừa hướng cao nguyên tiến|Lại xuống khói mây mãi nằm ì||H 57: Chăn trâu (mục ngưu 牧牛, 5)|Nắm chặt dây roi chẳng lìa thân|Ngại y chạy sổng vào bụi trần|Chăm chăm chăn dữ thuần hoà dã|Dây mũi buông rồi vẫn theo gần||H 58: Cỡi trâu về nhà (kị ngưu quy gia 騎牛歸家, 6)|Cỡi trâu thong thả trở về nhà|Tiếng sáo vi vu tiễn vãn hà|Một nhịp một ca vô hạn ý|Tri âm nào phải động môi à||H 59: Quên trâu còn người (vong ngưu tồn nhân 忘牛存人, 7)|Cỡi trâu về thẳng đến gia san|Trâu đã không rồi người cũng nhàn|Mặt nhật ba sào vẫn say mộng|Dây roi dẹp bỏ bên cạnh sàng||H 60: Người, trâu đều quên (nhân ngưu câu vong 人牛俱忘, 8)|Roi gậy, người trâu thảy đều không|Trời xanh thăm thẳm tin chẳng thông|Lò hồng rừng rực nào dung tuyết|Ðến đó mới hay hiệp Tổ Tông||H 61: Trở về nguồn cội (phản bản hoàn nguyên 返本還源, 9)|Phản bản hoàn nguyên đã phí công|Ðâu bằng thẳng đó tợ mù câm|Trong am chẳng thấy ngoài vật khác|Nước tự mênh mông hoa tự hồng||H 62: Thõng tay vào chợ (nhập triền thuỳ thủ 入廛垂手, 10)|Chân trần bày ngực thẳng vào thành|Tô đất trét bùn nụ cười thanh|Bí quyết thần tiên đâu cần đến|Cây khô cũng khiến nở hoa lành|… Lúc còn trụ tại Quy Sơn, sư Trường Khánh Ðại An dạy chúng: »… Sở dĩ, Ðại An này ở tại Quy Sơn ba mươi năm, ăn cơm Quy Sơn, đại tiện Quy Sơn mà không học thiền Quy Sơn, chỉ coi chừng con trâu. Nếu nó lạc đường hay vào trong cỏ liền lôi nó lại. Nếu nó ăn lúa mạ của người liền dánh đập điều phục nó… Bây giờ nó đã trở thành con trâu trắng đứng trước mặt, trọn ngày hiện sờ sờ đuổi cũng chẳng đi…«.|Mã Tổ hỏi sư Thạch Củng Huệ Tạng: »Làm việc gì?« Sư thưa: »Chăn trâu.« Tổ hỏi: »Làm sao chăn?« Sư đáp: »Một khi vào cỏ thì nắm mũi kéo lại.« Tổ nghe bảo: »Con thật là khéo chăn trâu.«
Thập nhị nhân duyên 十二因緣|Mười hai nhân duyên
Thấp sinh 濕生; C: shīshēng; J: shitsushō;|(Các loài) sinh nơi ẩm thấp; như muỗi và các côn trùng khác. Một trong Tứ sinh (四生).
Thập thiện 十善; S: daśakuśalakarmāṇi|Là mười việc thiện được thực hiện qua thân (3), khẩu (4) và ý (3). Thập thiện bao gồm: |1. Bất sát sinh (不殺生; s: pāṇāṭipātā paṭi-virati); 2. Bất thâu đạo (不偷盜; adat-tādānādvirati), tức là không trộm cắp; 3. Bất tà dâm (不邪婬; kāmamithyācārādvira-ti); 4. Bất vọng ngữ (不妄語; mṛṣāvā-dātvirati), nghĩa là không nói xằng, nói bậy; 5. Bất lưỡng thiệt (不兩舌; paisunyātvira-ti), không nói hai lời; 6. Bất ác khẩu (不惡口; pāruṣyātprativirati), không nói xấu người; 7. Bất ỷ ngữ (不綺語; saṃbinnapra-lāpātprativirati), không dùng lời thêu dệt không đâu; 8. Bất tham dục (不貪欲; abhi-dhyāyāḥprativirati); 9. Bất thận khuể (不慎恚; vyāpādātprativirati), không giận dữ; 10. Bất tà kiến (不邪見; mithyādṛṣṭi-prativi-rati), không ôm ấp những ý niệm, kiến giải sai lầm.
Thất ác 七惡; C: qī è; J: shichiaku;|Bảy hành vi xấu ác: ba thuộc về thân và bốn thuộc về khẩu.
Thất bách kết tập 七百結集; C: qībăi jiéjí; J: shichihyaku keketsujū;|Lần kết tập thứ hai của Phật giáo (với sự tham dự của bảy trăm vị A-la-hán) tại Tì-xá-li (s: vaiśālī). Đệ nhị kết tập (第二結集).
Thất bách tập pháp 七百集法; C: qībăi jífǎ; J: shichihyaku shūhō;|Lần kết tập thứ hai của Phật giáo (với sự tham dự của bảy trăm vị A-la-hán) tại Tì-xá-li (s: vaiśālī). Đệ nhị kết tập (第二結集).
Thất bảo 七寶; C: qībăo; J: shichihō;|Bảy loại châu báu. Nhiều kinh luận Phật học đề cập đến bảy loại châu báu khác nhau. Thông dụng nhất là: 1. Vàng (金), bạc (銀), lưu li (琉璃), pha lê (頗胝迦), xa cừ (硨磲), xích châu (赤珠), mã não (碼瑙); 2. San hô, hổ phách, như ý châu (s: cintāmaṇi), kiṃśuka, śakrābhilagna, ngọc lục bảo, kim cương; 3. Vàng, bạc, lưu li, san hô, hổ phách, xa cừ, mã não….
Thất câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh 七倶胝佛母所説准提陀羅尼經; C: qī jùzhī fómǔ suǒshuō zhǔntí tuóluóníjīng; J: shichi kutei butsumo josetsu jundei darani kyō;|Kinh. Có nhiều bản dịch: 1. Thất Câu chi Phật mẫu tâm Đại Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母心大准提陀羅尼經). Viết tắt là Đại Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (大准提陀羅尼經), 1 quyển, Địa-bà Ha-la (地婆訶羅; s: divākara) dịch; 2. Thất Câu chi Phật mẫu Chuẩn-đề đại minh đà-la-ni kinh (七倶胝佛母准提大明陀羅尼經), 2 quyển, Kim Cương Trí (金剛智; s: vajrabodhi) dịch; 3. Thất Câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (七倶胝佛母所説准提陀羅尼經), viết tắt là Chuẩn-đề đà-la-ni kinh (准提陀羅尼經), 1 quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy cấu trúc trong sáng hơn bản dịch trước. Luận giải bằng tiếng Hán của Hoằng Tán (弘贊) gồm có: Thất Câu chi Phật mẫu sở thuyết Chuẩn-đề đà-la-ni kinh hội thích (七倶胝佛母所説準提陀羅尼經會釋) và Trì tụng Chuẩn-đề chân ngôn pháp yếu (持誦準提眞言法要).
Thất chúng 七衆; C: qīzhòng; J: shichishu;|Bảy chúng đệ tử Phật. Gồm: 1. Tỉ-khâu, 2. Tỉ-khâu-ni, 3. Ưu-bà-tắc (cư sĩ nam), 4. Ưu-bà-di (cư sĩ nữ), 5. Sa-di (沙彌): Tăng trẻ chưa đủ tuổi thụ giới Tỉ-khâu, 6. Sa-di ni (沙彌尼): Ni chưa đủ tuổi thụ giới Tỉ-khâu-ni. Trong ni giới, đặc biệt có số người trong dạng chuyển tiếp, là sa-di-ni đã lớn tuổi, chuẩn bị thụ giới Tỉ-khâu-ni, được gọi là Thức-xoa-ma-na (式叉摩那; s: śikṣamāṇā, p: sikkhamānā). Hai nhóm đầu tiên thực hành toàn bộ giới luật đức Phật đã chế. Hai nhóm cư sĩ chỉ giữ năm giới (五戒). Thức-xoa-ma-na ngoài giới sa-di còn phải thực hành thêm Sáu học pháp (六法); Sa-di và sa-di-ni giữ Mười giới (十戒).
Thất chủng chân như 七種眞如; C: qīzhǒng zhēnrú; J: shichishu shinnyo;|Bảy loại chân như được đề cập trong bài luận về mười tám loại tính Không (Thập bát Không luận 十八空論). Đó là: Sinh chân như (生眞如), Tướng chân như (相眞如), Thức chân như (識眞如), Y chỉ chân như (依止眞如), Tà hạnh chân như (邪行眞如), Thanh tịnh chân như (清淨眞如) và Chính hạnh chân như (正行眞如).
Thất địa 七地; C: qīdì; J: shichiji;|Địa thứ bảy trong Thập địa (十地). Còn gọi là Viễn hành địa (遠行地). Gồm một phần của Tu đạo vị (修道位) trong Du-già hành tông.
Thất điều 七條; C: qītiáo; J: shichijō; S: uttara-āsanga;|Một trong ba y (三衣) mà Tỉ-khâu và Tỉ-khâu-ni được phép sử dụng. Đó là y phục may bằng những mảnh vải chắp lại với nhau và có bảy điều (đường may dọc).
Thất diệu nhương tai quyết 七曜攘災決; C: qīyào răngzāi jué; J: shichiyō jōsai ketsu;|Một quyển, Kim-câu-tra (金倶吒; s: koṅta) dịch.
Thất giác chi 七覺支; C: qījuézhī; J: shichikakushi; S: sapta-bodhy-angāni.|Bảy giác chi.
Thất mạn 七慢; C: qīmàn; J: shichiman;|Bảy loại kiêu mạn: 1. Mạn (慢; s: māna): Đối với người kém mình mà cho mình hơn; chưa được bằng người mà cho là bằng; 2. Quá mạn (過慢; s: ati-māna): Đối với người bằng mình mà cho là hơn, đối với người hơn mình mà cho mình bằng; 3. Mạn quá mạn (慢過慢; s: mānāti-māna): Đối với người hơn mình mà cho rằng mình hơn họ; 4. Ngã mạn (我慢; s: asmi-māna, ātma-māna): Tự hào có một hợp thể là ngã và ta là sở hữu cái ngã đó; 5. Tăng thượng mạn (增上慢; s: adhi-māna): Chưa chứng đạo mà kiêu hãnh cho rằng mình đã chứng đắc rồi; 6. Ti mạn (卑慢; s: avamāna, ūna-māna): Đối với người tài giỏi, kiêu hãnh cho rằng mình kém họ ít thôi; 7. Tà mạn (邪慢; s: mithyā-māna): Mình không có đức hạnh, trí huệ mà kiêu hãnh cho rằng mình có đủ các điều ấy (theo A-tì-đạt-ma câu-xá thích luận 阿毘達磨倶舎釋論).
Thất Phật 七佛; C: qīfó; J: shichibutsu; S: sapta-tathā-gata.|Bảy đức Phật thời quá khứ, gồm đức Phật Thích-ca Mâu-ni (釋迦牟尼) và sáu vị Phật tiền bối: 1. Tì-bà-thi Phật (毘婆尸佛; s: vi-paśyin; p: vipassin), 2. Thi-khí Phật (尸棄佛; s: śikhin; p: sikkhin), 3. Tì-xá-phù Phật (毘舎浮佛; s: viśvabhū; p: vessabhū), 4. Câu-lưu-tôn Phật (拘留孫佛; s: krakuc-chanda; p: kondañña), 5. Câu-na-hàm Mâu-ni Phật (拘那含牟尼佛; s: kanakamuni; p: konāgamana) và 6. Ca-diếp Phật (迦葉佛; s: kāśyapa; p: kassapa).
Thất Phật danh hiệu công đức kinh 七佛名號功德經; C: qīfó mínghào gōngdé jīng; J: shichibutsu myōgō kudoku kyō;|Tên gọi tắt của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).
Thất Phật danh kinh 七佛名經; C: qīfó ming jīng; J: shichibutsu myō kyō;|Tên gọi tắt của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).
Thất Phật kinh 七佛經; C: qīfó jīng; J: shichibutsu kyō;|Kinh, một quyển, Pháp Thiên (法天) dịch, nằm trong bộ A-hàm. Là một trong năm bản dịch của kinh nầy, ghi chép hành trạng của bảy vị Phật thời quá khứ. Tên gọi đầy đủ là Phật thuyết thất Phật kinh (佛説七佛經).
Thật Phong Lương Tú 實峰良秀; J: jippō ryōshū; 1318-1405; |Thiền sư Nhật Bản thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365). Sư là một Thiền sư rất tài năng uyên bác. Tương truyền rằng, khi nhìn thấy Thập mục ngưu đồ, Sư quyết tâm tu học thiền. Sư lưu lại nơi Nga Sơn hơn mười năm giữ chức thị giả. Sư có công khai sáng Vĩnh Trường tự (eishō-ji) tại Bitchū. Môn đệ của Sư hoằng hoá khắp cả nước Nhật.
Thất sinh 七生; C: qīshēng; J: shichishō;|1. Bảy đời, tái sinh vào trong thế gian bảy đời; 2. Là số lần mà một vị Dự lưu (預流) sẽ phải tái sinh trong cõi luân hồi.
Thất tài 七財; S: saptadhanāṇi; cũng được gọi là Thất thánh tài;|Bảy của báu của một tu sĩ đạo Phật, bao gồm: |1. Tín tài (信財; śraddhādhana): lòng tin vững chắc là của quý; 2. Giới tài (戒財; śīladhana): lấy giới luật thanh tịnh làm của báu; 3. Tàm tài (慚財; hrīdhana): cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh là tài của; 4. Quý tài (愧財; apatrāpya-, apatrapādhana): biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 5. Văn tài (聞財; śrutadhana): lấy việc nghe nhiều lời thuyết pháp, sự hiểu rộng làm tài của; 6. Xả tài (捨財) hoặc Thí tài (施財; tyāgadhana): xem bố thí là tài của riêng; 7. Huệ tài (慧財; prajñādhana): Trí huệ là tài của.
Thất tâm giới 七心界; C: qī xīn jiè; J: shichishinkai;|Gồm nhãn, nhĩ, tỉ, thiệt, thân, ý thức, cộng thêm ý căn (thức thứ bảy). Bảy loại nầy được rút ra từ mười tám giới (Thập bát giới).
Thất thức 七識; C: qīshì; J: shichishiki;|1. Bảy thức, ngoại trừ A-lại-da thức (阿頼耶識). Chuyển thức (轉識); 2. Đệ thất thức (第七識): Thức thứ bảy, Mạt-na thức (s: manas), nơi có khuynh hướng chấp giữ bản ngã.
Thất trân 七珍; C: qīzhēn; J: shichichin, shicchin;|Bảy thứ châu báu, bảy thứ ngọc quý, có nghĩa như Thất bảo (七寶).
Thâu đạo 偸盜; C: tōudào; J: tōtō;|Lấy những vật thuộc về người khác; lấy trộm (p: adinnādāna), dồng nghĩa với Bất dữ thủ (不與取). Trong Phật pháp, tội nầy được xếp là một trong Thập ác (十惡), và là giới cấm căn bản trong Ngũ giới (五戒).
Thế 世; C: shì; J: se;|1. Thế giới, vũ trụ, vạn vật; 2. Một thế hệ, một thời đại, 1 kỉ nguyên; 3. Kế thừa, cha truyền con nối; 4. Sống trong thế gian, thuộc về cõi trần, thế tục; 5. Trong Phật pháp, đó là 3 thời: quá khứ, hiện tại, vị lai.
Thế 勢; C: shì; J: sei; |Có các nghĩa sau: 1. Sức mạnh, năng lực, sức lực, sinh lực; 2. Nghị lực, nhiệt tình, sinh khí (s: vega); 3. Thế lực, sức mạnh, quyền lực, uy thế; 4. Lực thúc đẩy, sức đẩy tới; 5. Tiến trình của các pháp, chiều hướng hay khuynh hướng chung; 6. Phương diện, trường hợp, điều kiện.
Thế đế 世諦; C: shìdì; J: setai;|Chân lí, sự thật thế gian hoặc Chân lí tương đối. Thật tại được nhìn từ quan điểm của tâm phân biệt.
Thế đệ nhất pháp 世第一法; C: shìdìyīfǎ; J: sedaiippō;|Pháp cao nhất trong thế gian. Theo các trường phái A-tì-đạt-ma thì đây đó là dạng thứ tư của Tứ thiện căn (四善根). Giai vị sau cùng trong hàng Hữu lậu (有漏), khi đến cuối giai đoạn Gia hạnh vị (加行位), sau khi hành giả đạt giai vị Kiến đạo (theo Câu-xá luận). Theo Du-già hành tông, giai vị nầy gọi là Sơ địa (初地), sau đó, hành giả nhập vào Kiến đạo (theo Du-già luận).
Thế gian 世間; C: shìjiān; J: seken;|1. Thế giới phàm trần. Thuật ngữ thế (世) có nghĩa dời đổi; trong khi chữ gian (間) có nghĩa là hạn cuộc. Có nghĩa là thế giới hiện tượng, thế giới của sự biến hoại (s: loka-dhā-tu, sarva-loka, sarga); 2. Khí thế gian (器世間): thế giới tự nhiên; 3. Trong thế gian; 4. Con người trong trần gian, chúng sinh; 5. Tập quán, phong tục của thế giới phàm trần.
Thế Gian Giải 世間解; C: shìjiānjiě; J: sekenge; S: lokavid; P: loka-vidū;|Người biết thế giới phàm trần. Người hiểu biết toàn triệt về bản chất và sự vận hành của thế giới hiện tượng. Một trong Mười danh hiệu của Đức Phật.
Thế gian tĩnh lự 世間靜慮; C: shìjiān jìnglǜ; J: sekenjōryo;|Thiền định thế gian, một dạng Thiền định ở cấp thấp, trong cõi hữu lậu, giúp cho hành giả giải trừ những phiền não thô trọng (麁重), nhưng không thể chuyển hoá được những chủng tử phiền não nhiễm ô. Phản nghĩa với Vô lậu tĩnh lự (無漏靜慮, theo Du-già luận).
Thế Hữu 世友; C: shìyǒu; J: shou; S: vasumitra; dịch âm là Bà-tu Mật-đa;|Cao tăng Ấn Ðộ sống khoảng đầu thế kỉ thứ hai, người xứ Càn-dà-la (s: gandhāra). Là thượng thủ kiệt xuất của trường phái Hữu bộ (有部; s: sarvāstivāda). Vào lần Kết tập thứ tư, do Vua Ca-nị sắc-ca triệu tập. Sư phục vụ như là vị hướng dẫn 500 vị A-la-hán, những vị hỗ trợ sư biên soạn A-tì-đạt-ma đại tì-bà-sa luận (阿毘達磨大毘婆沙論; s: abhidharma-mahāvibhāṣā-śāstra). Sư được xem là tác giả của A-tì-đạt-ma giới thân túc luận (阿毘達磨界身足論).|Tương truyền Sư cũng là tác giả của hai bộ luận là Dị bộ tông luân luận (s: samayabhe-davyūhacakra-śāstra) và Tôn Bà-tu-mật Bồ Tát sở tập luận (ārya-vasumitra-bodhi-sattva-saṃcita-śāstra). Dưới tên Bà-tu Mật-đa, Sư là Tổ thứ 7 của Thiền tông. Giáo lí của Sư nằm giữa Tiểu thừa và Ðại thừa.
Thế lai 世來; C: shìlái; J: serai;|Từ quá khứ đến nay, xưa nay.
Thế lực 勢力; C: shìlì; J: seiriki; |1. Sinh khí, sinh lực, tính hăng hái, tinh sôi nổi (s: vega; theo Câu xá luận 倶舎論); 2. Năng lực lớn lao, sức mạnh to lớn (s: vibhutva); 3. Sức mạnh, năng lực (s: thāma-bala, utsāha); 4. Uy lực lớn (s: virya).
Thế pháp 世法; C: shìfǎ; J: sehō;|Các pháp thế tục, các sự việc của cõi trần. Các pháp sinh khởi và hoại diệt theo nhân duyên.
Thế Thân 世親; C: shìqīn; J: seshin; S: vasubandhu; ~ 316-396; cũng được dịch là Thiên Thân (天親), gọi theo Hán âm là Bà-tu Bàn-đầu;|Một Luận sư xuất sắc của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) và Duy thức tông (s: vijñānavāda), được xem là Tổ thứ 21 của Thiền tông Ấn Ðộ. Người ta cho rằng Sư sinh tại Peshāwar (địa danh ngày nay), sống tại Kashmir và chết tại A-du-đà (ayodhyā). Sư vừa là em vừa là đệ tử của Vô Trước (asaṅga), người sáng lập phái Duy thức. Vô Trước là người đã khuyến dụ Thế Thân theo Ðại thừa.|Có nhiều giả thuyết về con người Thế Thân, trong đó Erich Frauwallner – một nhà Phật học người Ðức – cho rằng có hai người tên Thế Thân, một là luận sư của Nhất thiết hữu bộ, là người soạn A-tì-đạt-ma câu-xá luận nổi danh của phái này. Người kia là em của Vô Trước, đã soạn bộ Duy thức nhị thập luận. Bộ này là sự tổng kết quan điểm của Duy thức tông, được dịch ra chữ Hán và Tây Tạng. Sư cũng là tác giả của Duy thức tam thập tụng, luận giải quan điểm của Duy thức tông, cũng như tác giả của nhiều bài luận về các tác phẩm của Vô Trước và về giáo lí Ðại thừa như Thập địa, kinh Kim cương, Diệu pháp liên hoa, Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha).|Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn, một năm sau khi người anh là Vô Trước thụ giới cụ túc. Lúc đầu, Sư học giáo lí Tiểu thừa tại Phú-lâu-sa Phú-la (s: puruṣapura), sau đó tại Kashmir. Sau bốn năm ngụ tại Kashmir (342-346), Sư trở về Phú-lâu-sa Phú-la và soạn bộ luận A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharmakośa). Sau đó, Sư đi du phương và danh tiếng của Sư là một nhà biện luận xuất chúng vang dội. Khi gặp Vô Trước tại Phú-lâu-sa Phú-la và được người anh giảng giải giáo lí Ðại thừa, Sư bỗng nhiên tỉnh ngộ, bắt đầu say mê nghiên cứu Ðại thừa và viết luận về kinh điển hệ này, nhất là Bát-nhã ba-la-mật-đa kinh. Sư biên soạn nhiều bài luận, trong đó Sư hệ thống hoá tư tưởng »Duy thức« được lập nên bởi Vô Trước.||H 63: Thế Thân trong tư thế dương cung, bắn một mũi tên vô hình để phá những thuyết giải của địch thủ.|Khoảng năm 383, vua Candragupta II. Vikramā-ditya (Siêu Nhật) mời Sư làm đạo sư cho vương tử Govindagupta Bālāditya (Tân Nhật) trong cung điện tại A-du-đà (ayodhyā). Sư nhận lời và nhân thời cơ này khuyến khích vương triều làm những việc thiện như xây dựng bệnh viện, trường học và nhà ở công cộng. Sau đó một thời gian, Sư cũng hoằng hoá tại viện Na-lan-đà. Ðệ tử xuất sắc nhất của Sư là nhà Nhân minh học lừng danh Trần-na (diṅnāga). Sau khi Govindagupta lên ngôi, ông lại mời Sư đến triều đình giảng dạy và định cư tại đây. Sư nhận lời mời nhưng vẫn thường hay du phương và tuỳ cơ giáo hoá. Những bài luận cuối cùng của Sư được soạn tại Sa-ka-la (śākala) và Kiều-thướng-di (kauśambī). Năm 396, Sư tịch tại A-du-đà (một thuyết khác là tại Nepāl).|Các tác phẩm còn lưu lại dưới tên Sư (trích): 1. A-tì-đạt-ma câu-xá luận (s: abhidharmakośaśāstra), bao gồm A-tì-đạt-ma câu-xá luận tụng (abhidharmako-śa-śāstra-kārikā) và A-tì-đạt-ma câu-xá luận thích (abhidharmakośa-bhāṣya); 2. Duy thức nhị thập luận (tụng) (viṃśatikāvijñāptimātratāsiddhi-kārikā), còn bản Tạng và Hán ngữ. Có ba bản Hán văn, Huyền Trang dịch 1 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch riêng 1 quyển dưới tên Ðại thừa duy thức luận, Bát-nhã Lưu-chi (prajñāruci) dịch 1 quyển dưới tên Duy thức luận; 3. Duy thức nhị thập luận thích (viṃśatikā-vṛtti), còn bản Tạng và Phạn; 4. Duy thức tam thập tụng (triṃśikā-vijñāptimātratāsiddhi-kāri-kā), còn bản Tạng và Hán ngữ, Huyền Trang dịch, 1 quyển; 5. Tam tính luận (trisvabhāva-nirdeśa), còn bản Phạn và Tạng ngữ; 6. Biện trung biên luận thích (madhyānta-vibhāga-bhāṣya), còn bản Tạng và Hán ngữ, Huyền Trang dịch; 7. Kim cương bát-nhã ba-la-mật kinh luận (vajracchedikā-prajñāpāramitā-sūtra-śāstra), chỉ còn bản Hán ngữ; 8. Thập địa kinh luận (ārya-daśabhūmi-vyākhyāna), còn bản Tạng và Hán ngữ, bản Hán ngữ được Bồ-đề Lưu-chi (bo-dhiruci) dịch; 9. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận thích (mahāyāna-sūtralaṅkāra-vyākhyā), còn bản Tạng và Hán ngữ; 10. Nhiếp đại thừa luận thích (mahāyānasaṃgraha-bhāṣya), còn bản Tạng và Hán ngữ. Có ba bản Hán văn, Huyền Trang dịch gồm 10 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch gồm 15 quyển, Ðạt-ma Cấp-đa (dharmagupta) dịch riêng 10 quyển dưới tên Nhiếp Ðại thừa thích luận; 11. Ngũ uẩn luận (pañcaskandha-prakaraṇa), chỉ còn bản Tạng và Hán ngữ; 12. Phật tính luận (buddhagotra-śāstra), Chân Ðế dịch, 4 quyển; 13. Ðại thừa bách pháp minh môn luận (mahāyāna-śatadharmavidyā-dvāra-śāstra), 1 quyển, Huyền Trang dịch; 14. Diệu pháp liên hoa kinh ưu-ba-đề-xá (saddharmapuṇḍa-rīka-sūtropadeśa), 2 quyển, Bồ-đề Lưu-chi cùng Ðàm Lâm dịch; 15. Chuyển pháp luân kinh ưu-ba-đề-xá (dharmacakra-pravartana-sūtropadeśa), 1 quyển, Tì-mục Trí Tiên dịch; 16. Vô lượng thọ kinh ưu-ba-đề-xá (amitāyussūtropadeśa), 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chi dịch; 17. Lục môn giáo thụ tập định luận (Phạn?), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 18. Niết-bàn kinh bản hữu kim vô kệ luận (Phạn?), 1 quyển, Chân Ðế dịch; 19. Niết-bàn luận (Phạn?), 1 quyển, Ðạt-ma Bồ-đề (dharmabodhi) dịch; 20. Như thật luận; 21. Thắng tư duy phạm thiên sở vấn kinh luận; 22. Thành nghiệp luận (karmasiddhi-prakara-ṇa), còn bản Hán và Tạng ngữ; 23. śīlaparikathā, một bài luận ngắn về giới, cho rằng giữ giới luật hiệu nghiệm hơn bố thí (dāna), chỉ còn bản Tạng ngữ; 24. Duyên khởi kinh thích (pratītyasamutpāda-sūtrabhāṣya), một phần Phạn ngữ đã được tìm lại, giáo sư Giuseppe Tucci xuất bản.
Thế thế 世世; C: shìshì; J: seze;|Đời nầy kế tiếp đời khác. Thế hệ nầy nối tiếp thế hệ khác. Thời nầy tiếp theo thời khác.
Thế tốc 勢速; C: shìsù; J: seisoku; |Sự nhanh chóng, tức thời. Một trong 24 Tâm bất tương ưng hành pháp trong giáo lí Duy thức. Một phần tử tạm thời được lập ra rất nhanh chóng trong năng lực của pháp hữu vi sinh khởi và hoại diệt không dừng nghỉ.
Thế Tôn 世尊; C: shìzūn; J: seson;|Chuyển ngữ của chữ Bhagavat từ tiếng Phạn và Pa-li và lokanātha từ Phạn ngữ, có nghĩa là »Đấng dược thế gian tôn trọng«. Một trong Mười danh hiệu cua Đức Phật (thập hiệu 十號).
Thế trí 世智; C: shìzhì; J: sechi;|Tri thức thế gian, tri thức thuộc về cõi phàm trần. Là tri thức nhiễm ô của hàng phàm phu. Còn gọi là Thế tục trí (世俗智).
Thế tục 世俗; C: shìsú; J: sezoku;|1. Thế gian, trần tục, thế tục, không giải thoát; phản nghĩa với thiêng liêng, siêu phàm, giải thoát, xuất thế gian. Cũng gọi là Thế gian (世間); 2. Chỉ Thế tục đế (世俗諦), để phân biệt với Chân đế.
Thế tục đế 世俗諦; C: shìsúdì; J: seizokutai;|Chân lí tương đối, chân lí của thế gian. Là thật tại được nhìn từ phía chúng sinh chưa giác ngộ. Con gọi là Thế đế, Tục đế (s: loka-saṃvṛti-satya, saṃvṛti-satya; t: kun rdsob bden pa). Phản nghĩa với Thắng nghĩa đế (勝義諦), Chân đế (眞諦). Nhị đế (二諦).
Thế tục khổ 世俗苦; C: shìsúkǔ; J: sesokko;|Cái khổ trong thế gian, khổ của hàng phàm phu.
Thế tục trí 世俗智; C: shìsúzhì; J: sezokuchi;|Trí thế gian. Tri thức của người chưa giác ngộ, tương đương với »nhiễm ô trí« hoặc Hữu lậu trí (有漏智). Một trong 10 loại trí (Thập trí 十智).
Thị 是; C: shì; J: ze; |1. Phải, đúng; 2. Đây, nầy (此); 3. Là; chính là (hệ từ); 4. Đúng là. Thích đáng, thích hợp hoàn toàn; 4. Chính là đây; 5. Hoàn hảo.
Thị cố 是故; C: shìgù; J: shiko, zeko, konoyueni; |1. Cho nên, như vậy; 2. Vì lí do nầy, vì việc nầy.
Thị giả 侍者|Là người hầu cận của một vị thầy, của một vị Thiền sư, một Cao tăng. Thị giả nổi danh nhất có lẽ là Tôn giả A-nan-đà, người hầu cận đức Phật Thích-ca khi Ngài còn tại thế.
Thị phi 是非; C: shìfēi; J: zehi;|Được và không. Đúng và sai; xác định và phủ định.
Thị tòng 侍從; C: shìcóng; J: shijū.|Theo hầu; chăm sóc; phục vụ (theo Pháp Hoa kinh 法華經).
Thích-ca 釋迦; S: śākya; P: sakka; |Dòng dõi quý tộc, gốc của vị Phật lịch sử Tất-đạt-đa. Dòng Thích-ca là dòng cai trị một trong 16 vương quốc của Ấn Ðộ thời bấy giờ, ngày nay thuộc miền Nam Nepāl. Kinh đô thời đó là Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu), là nơi đức Phật sinh ra và trưởng thành. Vua cha của Phật là Tịnh Phạn (s, p: sud-dhodana), trị vì tiểu vương Thích-ca.|Thời bấy giờ, tiểu vương dòng Thích-ca có một hội đồng trưởng lão tham gia quốc sự, nhưng tiểu vương này bị phụ thuộc vào nước Kiêu-tát-la (s: kośala). Ngay trong thời đức Phật còn tại thế, tiểu vương Thích-ca bị một quốc vương của Kiêu-tát-la đem quân xâm chiếm và tiêu diệt gần hết. Sau khi Phật thành đạo và trở lại Ca-tì-la-vệ giảng dạy, nhiều vị trong dòng dõi Thích-ca xin gia nhập Tăng-già. Tại đó, người thợ cạo Ưu-bà-li (upāli) xin gia nhập, trở thành tăng sĩ trước và vì vậy được xem cao quý hơn các vị lĩnh đạo trong hoàng gia gia nhập sau.
Thích-ca Mâu-ni 釋迦牟尼; S: śākyamuni; P: sakkamuni; dịch nghĩa là »Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca« (Mâu-ni);|Một tên khác của Tất-đạt-đa Cồ-đàm (s: siddhārtha gautama) là người sáng lập Phật giáo. Tất-đạt-đa mang tên này sau khi Ngài từ bỏ các vị thầy và tự mình tìm đường giải thoát. Danh hiệu »Thích-ca Mâu-ni« thường được dùng để chỉ vị Phật lịch sử đã từng sống trên trái đất này, nhằm phân biệt với các vị Phật khác.||H 64: Thích-ca Mâu-ni, Trí giả trầm lặng của dòng Thích-ca
Thiên 天; S, P: deva; nguyên nghĩa »người sáng rọi«; |Chỉ chư Thiên, chỉ chúng sinh sống trong thiện đạo (Lục đạo), trong một tình trạng hạnh phúc, tuy nhiên vẫn nằm trong Luân hồi (saṃsāra). Nhờ những nghiệp tốt đã tạo, chư thiên có thọ mệnh rất dài và rất sung sướng. Nhưng chính hạnh phúc này là chướng ngại trên đường giải thoát vì họ không hiểu được khổ đế trong Tứ diệu đế.|Theo Phật giáo, có 28 cõi thiên, gồm có 6 thuộc Dục giới (s, p: kāmaloka, kāmadhātu), 18 thuộc Sắc giới (s, p: rūpaloka, rūpadhātu) và 4 thuộc Vô sắc giới (s, p: arūpaloka, arūpadhātu, xem Ba thế giới; s: triloka).|Trong Dục giới có: 1. Tứ thiên vương (四天王; s: caturmahārājika-deva), sống gần núi Tu-di; 2. Tam thập tam thiên (三十三; s: trāyastriṃśa-deva), chư thiên sống trên đỉnh Tu-di; 3. Dạ-ma thiên (夜摩; s: yāma-, suyāma-deva), sống hạnh phúc trường cửu; 4. Ðâu-suất thiên (兜率天; s: tuṣita-deva), cõi của thiên nhân »có niềm vui thầm lặng«, chỗ Phật Di-lặc đang giáo hoá; 5. Hoá lạc thiên (化樂天; s: nirmāṇarati-deva), loài thiên nhân thấy niềm vui nơi sự biến hoá; 6. Tha hoá tự tại thiên (他化自在天; paranirmita-vaśavarti-deva), các chư thiên của dục giới còn tham ái xác thịt.|Sinh trong sắc giới là các vị đạt Tứ thiền, đã diệt tận tham ái xác thịt, nhưng vẫn còn sắc thân. Các vị Phạm thiên (brahma) sống trong cấp thấp của sắc giới. Các vị đạt Bốn xứ sẽ sinh trong vô sắc giới, các vị này đã giải thoát khỏi sắc uẩn nhưng vẫn còn có bốn uẩn thụ, tưởng, hành thức (Ngũ uẩn).
Thiên 偏; C: piān; J: hen;|Có các nghĩa sau: 1. Nghiêng về một phía. Khuynh hướng, thiên vị, thành kiến. Quả quyết, trong ý không tốt; 2. Đôi lúc do những nét viết giống nhau, từ nầy cũng được dùng khác hẳn với nghĩa chính xác của nó là Biến (遍, 徧), có nghĩa là toàn thể, hoàn toàn, rộng khắp; 3. Biến đổi, đảo lộn, thay đổi.
Thiền 禪; hoặc Thiền-na (禪那); S: dhyāna; P: jhāna; C: chánnà, chán; J: zenna, zen; Anh ngữ: medita-tion; cũng được dịch nghĩa là Tĩnh lự (靜慮);|Một danh từ được nhiều tôn giáo sử dụng để chỉ những phương pháp tu tập khác nhau, nhưng với một mục đích duy nhất là: đạt kinh nghiệm »Tỉnh giác«, »Giải thoát«, »Giác ngộ.« Trong những trường phái tu tập mật giáo – »mật« (e: esoteric) ở đây có nghĩa là tu tập để tự đạt kinh nghiệm tỉnh giác, không để ý đến những cái rườm rà bên ngoài của tôn giáo, có thể gọi là »bí truyền« – các vị tiền nhân đã nghiên cứu và phát triển những con đường khác nhau thích hợp với cá tính, căn cơ của từng người để đạt đến kinh nghiệm quý báu nói trên. Nếu người ta hiểu »Tôn giáo« là câu trả lời, giải đáp cho những cái »không hoàn hảo«, »không trọn vẹn«, cái »bệnh« của con người thì Thiền chính là liều thuốc trị những bệnh đó.|Dấu hiệu chung của tất cả các dạng tu tập Thiền là sự hướng dẫn con người đạt một tâm trạng tập trung, lắng đọng, như là một hồ nước mà người ta chỉ có thể nhìn thấu đến đáy nếu mặt nước không bị xao động. Tâm trạng bình yên, lắng đọng này có thể đạt được qua nhiều cách khác nhau như luyện tập uốn nắn thân thể theo Ha-tha Du-già (s: haṭhayoga), sự tập trung vào một tấm tranh, một Thăng-ka hoặc âm thanh như Man-tra, một Công án…|Ý chí cương quyết tu tập Thiền sẽ dẫn hành giả đến một tâm trạng Bất nhị, nơi mà những ý nghĩ nhị nguyên như »ta đây vật đó« được chuyển hoá; hành giả đạt sự thống nhất với »Thượng đế«, với cái »Tuyệt đối«, những khái niệm về không gian và thời gian đều được chuyển biến thành cái »hiện tại trường hằng«, hành giả chứng ngộ được sự đồng nhất của thế giới hiện hữu và bản tính. Nếu kinh nghiệm này được trau dồi thâm sâu và hành giả áp dụng nó vào những hành động của cuộc sống hằng ngày thì đó chính là trạng thái mà tất cả những tôn giáo đều gọi chung là »Giải thoát«.|Tiến sĩ khoa tâm lí học kiêm Thiền sư người Anh David Fontana viết tóm tắt rất hay về Thiền và Phi thiền: »Thiền không có nghĩa là: ngủ gục; để tâm chìm lặng vào cõi hôn mê; trốn tránh, xa lìa thế gian; vị kỉ, chỉ nghĩ tới mình; làm một việc gì không tự nhiên; để rơi mình vào vọng tưởng; quên mình ở đâu. Thiền là: giữ tâm tỉnh táo, linh động; chú tâm, tập trung; nhìn thế giới hiện hữu rõ ràng như nó là; trau dồi tấm lòng nhân đạo; biết mình là ai, ở đâu.«|Theo đạo Phật, hành giả nhờ Ðịnh (s: samā-dhi) mà đạt đến một trạng thái sâu lắng của tâm thức, trong đó toàn bộ tâm thức chỉ chú ý đến một đối tượng thiền định thuộc về tâm hay vật. Tâm thức sẽ trải qua nhiều chặng, trong đó lòng tham dục dần dần suy giảm. Một khi hành giả trừ Năm chướng ngại (s: nīvaraṇa) thì đạt được bốn cõi thiền (Tứ thiền định) của sắc giới (s: rūpadhātu; xem Ba thế giới), đạt được Lục thông (s: abhijñā) và tri kiến vô thượng. Tri kiến này giúp hành giả thấy rõ các đời sống trước của mình, thấy diễn biến của sinh diệt và dẫn đến giải thoát mọi Ô nhiễm (s: āśrava). Hành giả đạt bốn cõi thiền cũng có thể chủ động tái sinh trong các cõi Thiên (deva) liên hệ.|Trong giai đoạn một của thiền định, hành giả từ bỏ lòng tham dục và các pháp bất thiện, nhờ chuyên tâm suy tưởng mà đạt đến. Trong cấp này, hành giả có một cảm giác hỉ lạc. Trong giai đoạn hai, tâm suy tưởng được thay thế bằng một nội tâm yên lặng và tâm thức trở nên sắc sảo bén nhọn, xuất phát từ sự chú tâm quán sát. Hành giả tiếp tục ở trong trạng thái hỉ lạc. Qua giai đoạn ba, tâm hỉ lạc giảm, tâm xả bỏ hiện đến, hành giả tỉnh giác, cảm nhận sự nhẹ nhàng khoan khoái. Trong giai đoạn bốn, hành giả an trú trong sự xả bỏ và tỉnh giác.|Tại Trung Quốc, Thiền có một ý nghĩa rộng hơn rất nhiều. Nó bao gồm tất cả phép tu như quán niệm hơi thở (p: ānāpānasati), Bốn niệm xứ (p: sa-tipaṭṭhāna)… với mục đích nhiếp tâm và làm tâm tỉnh giác. Từ phép Thiền do Bồ-đề Ðạt-ma truyền, Thiền Trung Quốc đã phát triển rất mạnh (Thiền tông).|Trong một ý nghĩa bao quát, Thiền cũng không phải là những phương pháp đã nêu trên. Thiền là một trạng thái tâm thức không thể định nghĩa, không thể mô tả và phải do mỗi người tự nếm trải. Trong nghĩa này thì Thiền không nhất thiết phải liên hệ với một tôn giáo nào cả – kể cả Phật giáo. Trạng thái tâm thức vừa nói đã được các vị thánh nhân xưa nay của mọi nơi trên thế giới, mọi thời đại và văn hoá khác nhau trực nhận và mô tả bằng nhiều cách. Ðó là kinh nghiệm giác ngộ về thể sâu kín nhất của thật tại, nó vừa là thể của Niết-bàn và vừa của Luân hồi, sinh tử. Vì vậy, Toạ thiền không phải là một phương pháp đưa con người đi từ vô minh đến giác ngộ, mà là giúp con người khám phá bản thể thật sự của mình đang mỗi lúc hiện diện.
Thiện 善; C: shàn; J: zen; S: kuśala; P: kusala; |Có các nghĩa sau: 1. Đức hạnh, đạo đức tốt, tính tốt, điều thiện, đức tính tốt (s: kusala, kuśala, kalyāna; t: dge ba); 2. Tài giỏi, thông thạo, từng trải, khéo léo; 3. Làm cho hoàn thiện.|[Phật học] 1. Có thể chấp nhận, chính đáng, đúng, chính xác, hài lòng; 2. Việc lành, việc làm tốt lành và quả báo của nó (thiện nghiệp 善業; s: śubham karma, śubha); 3. Như một trạng từ, có nghĩa là hay, giỏi, khéo léo, hoàn thiện; 4. Theo giáo lí của tông Duy thức, »thiện« lập thành 1 trong 5 nhóm thuộc phạm trù »Tâm sở pháp«, gồm 11 »thiện« pháp trong nhóm ấy. Đó là: 1. Tín (信; śraddhā), lòng tin tưởng chắc chắn; 2. Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進; vīrya), siêng năng tu tập; 3. Xả (捨; upekṣā); 4. Tàm (慚; hrī), cung kính tuỳ thuận người có đức hạnh; 5. Quý (愧; apatrāpya, apatrapā), biết sợ quả báo của tội lỗi, biết xấu hổ; 6. Vô tham (無貪; alobha); 7. Vô sân (無瞋; adveśa); 8. Bất hại (不害; ahiṃsā); 9. Khinh an (輕安; praśrabdhi); 10. Bất phóng dật (不放逸; a-pramāda).
Thiền bản 禪版; J: zemban;|Một tấm gỗ được các thiền sinh thời xưa sử dụng. Trong thời gian tu tập, Toạ thiền lâu dài, thiền sinh thường để thiền bản vào hai bàn tay và chống cằm lên để khỏi ngục đầu xuống ngủ.|Thiền bản cũng đóng một vai trò giáo hoá trong các Công án. Bích nham lục ghi lại trong công án 20 với tên »Thuý Vi thiền bản«:|Thiền sư Long Nha đến Thuý Vi Vô Học, hỏi: »Thế nào là Tây lai ý?« Thuý Vi bảo: »Ðưa thiền bản đây!« Long Nha đưa thiền bản, Thuý Vi cầm thiền bản đập Long Nha. Long Nha la lớn: »Ðánh thì cứ đánh, không có ý của Tổ sư sang.«
Thiền bệnh 禪病; J: zenbyō, zembyō;|Có hai nghĩa chính: 1. Chỉ những cảnh giới kinh dị, Ma cảnh xuất hiện trong lúc hành giả Toạ thiền; 2. Sự bám chặt vào kinh nghiệm Kiến tính cũng như tâm thức chấp Không, để tâm trạng rơi vào hư vô. Một dạng nặng của thiền bệnh chính là sự phô trương quá đáng kinh nghiệm đạt được trên con đường tu tập và cho đó là một cái gì »đặc biệt.« Người mang những dấu hiệu của sự ngộ nhập (Ngộ tích) cũng được gọi là »mắc thiền bệnh.«
Thiện căn 善根; C: shàngēn; J: zengon; |Căn lành, đức hạnh lành. Nghiệp nhân lành mang đến kết quả lành. Căn lành, như rễ cây được dùng làm ví dụ cho thiện nghiệp. Theo giáo lí của A-tì-đạt-ma Câu-xá, nền tảng cho người tu thể nhập địa vị Kiến đạo là phát khởi trí tuệ vô lậu (s: kuśala-mūla; p: kusala-mūla). Thông thường được xem là phát khởi ba món: vô tham, vô sân và vô si. Tam thiện căn (三善根).
Thiên chấp 偏執; C: piānzhí; J: henshu;|Khuynh hướng, sự thiên về, thành kiến. Không chịu thay đổi quan niệm của mình.
Thiện Châu 善珠; C: shànzhū; J: zenjū, 727-797. |Tăng sĩ tông Pháp tướng Nhật bản, đệ tử của Huyền Phảng (玄昉; j: genbō), là học giả Du-già hành tông cũng như Nhân minh học (因明). Sau khi sư sáng lập chùa Akishino, sư trứ tác nhiều tác phẩm về cả Pháp tướng lẫn Nhân minh. Sư phần nào tin rằng mình là tái sinh của Khuy Cơ.
Thiên chính 偏正; C: piānzhèng; J: henshō;|Thành kiến và công bằng. Sai và đúng.
Thiện dạ kinh 善夜經; C: shànyè jīng; J: zenya kyō; S: bhadrakalātrī; T: mtshan mo bzang po.|Nghĩa Tịnh dịch, 1 quyển.
Thiên đản hữu kiên 偏袒右肩; C: piāntăn yòujiān; J: hendan'u-ken;|Vạch y bày vai bên phải (hướng về phía đức Phật). Nghi thức Ấn Độ biểu hiện lòng tôn kính bậc Đạo sư.
Thiện Đạo 善導; C: shàndăo; J: zendō; 613-681. |Vị thứ 3 trong 5 vị tổ Tịnh độ tông và là vị thứ 5 trong 7 vị tổ của Tịnh độ chân tông. Ngài xuất gia khi còn nhỏ tuổi và tu tập thiền quán tưởng A-di-đà và Tịnh độ. Khi nghe tiếng Đạo Xước (道綽), Thiện Đạo đến gặp và nhận giáo lí Tịnh độ từ vị này. Suốt đời Thiện Đạo hiến mình tu tập và hoằng truyền giáo lí nầy. Tương truyền sư đã chép kinh A-di-đà hơn 100.000 lần và vẽ hơn 300 bức tranh về Tịnh độ. Ngoài việc tụng kinh và niệm Phật thường xuyên, sư còn tiền hành các thời khoá thiền quán tưởng đức Phật A-di-đà và Cực lạc quốc của Ngài. Thiện Đạo còn trứ tác 5 tác phẩm trong 9 cuốn, gồm những luận giải khác nhau về kinh Quán vô lượng thọ. Ngài thường được gọi là Quang Minh tự Hoà thượng (光明寺和尚), Chung Nam Đại sư (終南大師)…
Thiên Ðồng Như Tịnh 天童如淨; C: tiāntóng rújìng; J: tendō nyojō; 1163-1228; |Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Tào Ðộng, nối pháp Thiền sư Trúc Am Trí Giám. Pháp tự nổi danh của Sư là Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền, vị Tổ thứ nhất tông Tào Ðộng Nhật Bản.
Thiền đường 禪堂; J: zendō;|Là nơi các vị tăng Toạ thiền trong một Thiền viện. Cũng được dùng chỉ một Thiền viện.
Thiện hiện hạnh 善現行; C: shànxiàn xíng; J: zengen gyō; |Theo kinh Hoa Nghiêm, là giai vị thứ 6 trong Thập hạnh của hàng Bồ Tát.
Thiện hiện thiên 善現天; C: shànxiàn tiān; J: zengen ten; |Cõi trời Thiện hiện (s: sudṛśāḥ), cõi trời thứ 6 trong 8 cõi trời trong Tứ thiền thiên (四禪天) của Sắc giới. Cũng được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới.
Thiên hoá 遷化; J: senge; có thể dịch là »bước vào cõi biến hoá«;|Một danh từ chỉ cái chết của một người (Tử), đặc biệt là cái chết của một Cao tăng. Qua danh từ »Thiên hoá« này người ta có thể thấy rằng, Phật giáo không có quan niệm rằng, cái chết (Tử) không phải là sự chấm dứt, mà chỉ là một sự biến chuyển của chư Pháp, sắc tướng; Phật tính của mỗi người đều trường tồn, vượt thời gian và không gian.
Thiên Hoàng Ðạo Ngộ 天皇道悟; C: tiānhuáng dàowù; J: tennō dōgo; 738/748-807; |Thiền sư Trung Quốc thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, đắc pháp nơi Thiền sư Thạch Ðầu Hi Thiên. Nối pháp của Sư là Long Ðàm Sùng Tín.|Sư họ Trương, quê ở Ðông Dương Vụ Châu, xuất gia với Ðại đức Minh Châu. Sư còn nhỏ mà đã nổi danh dũng mãnh phi phàm, mưa gió mà vẫn dám thiền nơi gò mã. Lúc đầu, Sư có tham vấn Quốc sư Nam Dương Huệ Trung và Mã Tổ, nhân đây có chút sở đắc.|Sau Sư đến yết kiến Thạch Ðầu, hỏi: »Lìa định, huệ, Hoà thượng lấy gì dạy người?« Thạch Ðầu đáp: »Ta trong ấy không tôi tớ, lìa cái gì?« Sư hỏi: »Làm sao rõ được?« Thạch Ðầu hỏi lại: »Ông bắt được hư không chăng?« Sư đáp: »Thế ấy ắt chẳng từ ngày nay đi.« Thạch Ðầu bảo: »Chưa biết ông bao giờ từ bên kia đến?« Sư thưa: »Ðạo Ngộ chẳng phải từ bên kia đến.« Thạch Ðầu: »Ta đã biết chỗ ông đến.« Sư hỏi: »Sao thầy lại lấy tang vật vu khống người?« Thạch Ðầu đáp: »Thân ông hiện tại.« Sư hỏi lại: »Tuy nhiên như thế, rốt ráo vì người sau thế nào?« Thạch Ðầu hỏi vặn lại: »Ông hãy nói, ai là người sau?« Sư nhân câu hỏi này triệt ngộ, mọi thắc mắc nghi ngờ đều tan biến.|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là nói huyền diệu?« Sư bảo: »Chớ bảo ta hiểu nhiều Phật pháp.« Tăng thưa: »Nỡ để học nhân nghi mãi sao?« Sư hỏi lại: »Sao chẳng hỏi Lão tăng?« Tăng đáp: »Tức nay hỏi rồi.« Sư quát: »Ði! Chẳng phải chỗ ông nương tựa.«
Thiện Hội 善會|1. Thiền sư Trung Quốc, Giáp Sơn Thiện Hội|2. ?-900; Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ hai. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Cảm Thành và sau truyền lại cho đệ tử là Vân Phong.|Sư quê ở Dữ Lãnh, xuất gia từ nhỏ và có hiệu là Tổ Phong. Lớn lên, Sư vân du đây đó tham học, sau lại đến chùa Kiến Sơ thụ giáo nơi Thiền sư Cảm Thành. Ở đây, Sư hầu hạ thầy hết lòng suốt mười năm.|Một hôm, Sư vào thất hỏi: »Trong kinh có nói: Ðức Thích-ca Như Lai đã từng tu hành trải vô số kiếp mới được thành Phật. Nay Thầy dạy rằng: Tâm tức là Phật, con chưa hiểu lẽ đó, cúi xin thầy một phen khai ngộ cho.« Cảm Thành hỏi: »Trong kinh người nào thuyết pháp?« Sư thưa: »Ðâu không phải là Phật thuyết ư?« Cảm Thành bảo: »Nếu là Phật thuyết, tại sao kinh Văn-thù lại nói: ›Ta trụ ở đời 49 năm, chưa từng nói một chữ dạy người.‹ Cổ đức nói: ›Người tìm nơi văn, chấp nơi chứng càng thêm trệ; khổ hạnh cầu Phật là mê, lìa tâm cầu Phật là ngoại đạo; chấp tâm cầu Phật là ma.‹« Sư hỏi: »Như thế, tâm ấy cái gì chẳng phải Phật, cái gì là Phật?« Cảm Thành bảo: »Xưa có người đến hỏi Mã Tổ: ›Tâm tức là Phật, tâm nào là Phật?‹ Tổ bảo: ›Ông nghi cái nào không phải là Phật chỉ xem?‹ Người kia không đáp được, Tổ dạy: ›Ðạt thì khắp tất cả cảnh đều là Phật, chẳng ngộ thì trái xa.‹ Chỉ câu nói nay, ngươi lại hội chăng?« Ngay đây, Sư thưa: »Nay con hội rồi.« Cảm Thành hỏi: »Ngươi hội thế nào?« Sư thưa: »Khắp mọi chỗ không đâu chẳng phải tâm Phật.« và quì xuống lễ bái. Cảm Thành bảo: »Thế là ngươi hiểu đúng rồi!« Nhân đây, Cảm Thành ban hiệu cho Sư là Thiện Hội.|Sau, Sư trụ trì hoằng hoá tại chùa Ðịnh Thiền ở làng Siêu Loại và tịch tại đây năm thứ 3 niên hiệu Quang Hoá đời Ðường.
Thiện huệ địa 善慧地; C: shànhuìdì; J: zeneji; S: sādhu-matī; T: legs paḥi blo gros.|Giai vị thứ 9 trong Thập địa của hàng Bồ Tát. Trong giai vị nầy, trí tuệ của Bồ Tát trở nên viên mãn khi chứng đạt được Tứ vô ngại giải (四無礙解), do vậy nên có khả năng giảng pháp khắp mọi nơi, bằng mọi ngôn ngữ mà không ngăn ngại.
Thiện kiến thiên 善見天; C: shànjiàn tiān; J: zenken ten; S: sudarśanāḥ.|»Tầng trời của cái nhìn thiện«. Tầng trời thứ 7 trong 8 cõi trời thuộc Tứ thiền thiên của Sắc giới. Cũng được xếp vào 1 trong 17 cõi trời thiền ở Sắc giới.
Thiền lâm 禪林; J: zenrin;|Một tên khác của Thiền viện, cũng được dùng chỉ giới thiền.
Thiền Lão 禪老; tk. 10-11|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông đời thứ 6. Sư kế thừa Thiền sư Ða Bảo và truyền pháp cho đệ tử là Quảng Trí. Vua Lí Thái Tông cũng được xem là môn đệ đắc pháp của Sư.|Không biết tên họ và nơi sinh của Sư ở đâu, chỉ biết Sư đến chùa Kiến Sơ yết kiến Thiền sư Ða Bảo và được truyền tâm ấn. Sau đó, Sư đến Từ Sơn trụ trì chùa Trùng Minh trên núi Thiên Phúc, huyện Tiên Du. Tông phong của thiền Vô Ngôn Thông nhờ đạo hạnh của Sư cao vút, học chúng quy tụ lại rất đông.|Vua Lí Thái Tông thường viếng chùa và vấn đạo. Ban đầu, vua hỏi: »Hoà thượng trụ núi này đã bao lâu?« Sư đáp: |但知今日月。誰識舊春秋|»Ðãn tri kim nhật nguyệt|Thuỳ thức cựu xuân thu«|*»Chỉ biết ngày tháng này|Ai rành xuân thu trước«.|Vua hỏi: »Hằng ngày Hoà thượng làm gì?« Sư đáp: |翠竹黃花非外境。白雲明月露全真|»Thuý trúc hoàng hoa phi ngoại cảnh|Bạch vân minh nguyệt lộ toàn chân«.|*»Trúc biếc hoa vàng đâu cảnh khác|Trăng trong mây bạc hiện toàn chân«.|Vua lại hỏi: »Có ý chỉ gì?« Sư đáp: »Lời nhiều sau vô ích.« Vua nhân đây lĩnh hội ý chỉ.|Sau khi về cung, vua sai sứ giả đến chùa rước Sư vào triều làm cố vấn. Khi đến nơi, Sư đã viên tịch. Vua mến tiếc sai trung sứ đến cúng và tặng lễ, sau đó thu cốt xây tháp cúng dường.
Thiên Long tự 天龍寺; J: tenryū-ji;|Một trong những Thiền viện lớn của Kinh Ðô (kyōto), Nhật Bản. Thiền viện này được kiến lập với sự hỗ trợ của vị Tướng quân (j: shōgun) Túc Lợi Tôn Thị (ashikaga takauji) và sự chỉ đạo của Thiền sư Mộng Song Sơ Thạch (musō soseki), được xếp vào Ngũ sơn của Kinh Ðô. Thiền viện này nổi danh với một vườn cảnh tuyệt đẹp do chính tay Quốc sư Mộng Song xếp đặt.
Thiện nam tử 善男子; C: shàn nánzí; J: zennanshi; |Có các nghĩa sau: 1. Người con trai có căn lành, hoặc con trai của gia đình có thiện căn, một trong những danh xưng đức Phật thường gọi đệ tử, tương tự như »người cao quý«. Người có niềm tin chân chính (s: kula-putra); 2. Được dùng để gọi chúng sinh hữu tình hơn là gọi tăng sĩ Phật giáo; 3. Ông, anh.
Thiện nghiệp 善業; C: shànyè; J: zengyō;|Việc làm tốt, hành động tốt lành, nghiệp lành. Hành xử theo cách để đêm lại kết quả tốt đẹp trong tương lai. Thực hành năm giới hay Mười việc thiện (s: sucarita, śubhaṃ-karma; t: dge baḥi las).
Thiền Nham 禪巖; 1093-1163|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 13. Sư nối pháp Thiền sư Ðạo Pháp.|Sư tên Khương Thông, dáng vẻ quắc thước, tiếng nói trong thanh, gia thế vốn làm tăng quan.|Khi triều đình mở khoa thi về Kinh điển Ðại thừa, Sư dự thi và đỗ thủ khoa. Sư tìm đến chùa Ðắc Thành tham vấn Thiền sư Ðạo Pháp và chỉ qua một câu nói, Sư lĩnh hội ngay yếu chỉ. Sư nhân đây mới xuất gia.|Ban đầu, Sư trụ trì chùa Thiên Phúc trong núi Tiên Du, đói thì ăn lá cây, khát thì uống nước suối và cứ như thế sáu năm liên tục. Sau đó, Sư trở về quê trùng tu chùa Trí Quả làng Cổ Châu, Long Biên. Vì Sư cầu mưa linh nghiệm nên vua Lí Thần Tông rất tôn trọng.|Năm Chính Long Bảo Ứng thứ nhất, khoảng giữa xuân, Sư đốt hương từ biệt mọi người ngồi an nhiên thị tịch, tho 71 tuổi.
Thiện nhân 善人; C: shànrén; J: zenjin;|Người tốt. Khi tái sinh làm thân người, được kể là sinh vào 1 trong »sáu (hoặc 5) đường«. Thường có nghĩa ngụ ý biểu hiện thiện nghiệp, và như thế, có liên quan đến sự tái sinh trong ba đường thấp kém, biểu hiện cho nghiệp bất thiện.
Thiền Ông 禪翁; 902-979, cũng được gọi là Thiền Ông Ðạo giả|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 11. Sư xuất gia và đắc pháp nơi Thiền sư La Quý An. Hai đệ tử danh tiếng của Sư là Vạn Hạnh và Ðịnh Huệ.|Sư trụ trì chùa Song Lâm ở làng Phù Ninh, phủ Thiên Ðức và tịch năm Kỉ Mão, niên hiệu Thái Bình thứ 10, thọ 78 tuổi.
Thiện pháp hạnh 善法行; C: shànfăxíng; J: zenhōgyō;|Giai vị thứ 9 trong Thập hạnh (十行) của Bồ Tát đạo.
Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh 善法方便陀羅尼經; C: shànfă fāngbiàn tuóluóníjīng; J: zembō hōben daranikyō; S: sumukha-dhāraṇī; T: sgo bzang po shes bya ba'i gzungs.|Hiện đang lưu hành 5 bản dịch tiếng Hán:|1. Thiện pháp phương tiện đà-la-ni kinh (善法方便陀羅尼經), 1 quyển, dịch giả Vô danh.|2a. Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni kinh (金剛祕密善門陀羅尼經), 1 quyển, dịch giả Vô danh.|2b. Kim Cương bí mật thiện môn đà-la-ni chú kinh (金剛祕密善門陀羅尼呪經); 1 quyển, dịch giả Vô danh.|3. Hộ mệnh pháp môn thần chú kinh (護命法門神呪經), 1 quyển, Bồ-đề Lưu-chí (菩提流志) dịch.|4. Diên thọ diệu môn đà-la-ni kinh (延壽妙門陀羅尼經), 1 quyển, Pháp Hiền (法賢) dịch.
Thiên sứ 天使; S: devadūta; nghĩa là »Sứ giả của chư thiên«; |Danh từ này được dùng để chỉ Sinh, Lão, Bệnh, Tử. Các Thiên sứ này có nhiệm vụ giúp đỡ, nhắc nhở loài người nhận thức được tính chất Vô thường và Khổ đau của cuộc sống, tìm con đường giải thoát.
Thiền sư 禪師; C: chánshī; J: zenji; |Danh hiệu dành cho những vị đã Giác ngộ và hoằng hoá trong Thiền tông. Thường thường các bậc tôn túc được ban danh hiệu này sau khi viên tịch nhưng cũng có nhiều người được mang danh hiệu trong lúc còn giáo hoá.
Thiên Thai Ðức Thiều 天台得韶; C: tiāntāi déshōo; J: tendai tokushō; 881-972; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Pháp Nhãn Văn Ích. Người nối pháp của Sư là Vĩnh Minh Diên Thọ và Ðạo Nguyên, người đã soạn bộ sử kí danh tiếng nhất của Thiền tông là Cảnh Ðức truyền đăng lục.|Sư họ Trần quê ở Long Tuyền, Xử Châu. Năm Sư 15 tuổi, một vị tăng lạ đến vỗ vai Sư nói: »Ông nên xuất gia, trần tục không phải là chỗ của ông.« Sư xuất gia năm 17 tuổi, năm 18 tuổi đến chùa Khai Nguyên ở Tín Châu thụ giới.|Sau, Sư cất bước du phương, lúc đầu đến tham vấn Thiền sư Ðầu Tử Ðại Ðồng có chút tỉnh. Sau Sư đến Thiền sư Long Nha Cư Độn, hỏi: »Bậc tôn hùng hùng vĩ sao gần chẳng được?« Long Nha đáp: »Như lửa với lửa.« Sư lại hỏi: »Bỗng gặp nước đến thì sao?« Long Nha bảo: »Ði! Ông chẳng hội lời ta nói.« Sư hỏi tiếp: »Trời chẳng che, đất chẳng chở là lí gì?« Long Nha đáp: »Ðạo giả nên như thế.« Cứ hỏi như thế nhiều lần mà Sư vẫn không thông, Long Nha bèn nói: »Ðạo giả, ông về sau tự hội lấy.«|Sau khi rời Long Nha, Sư còn tham vấn rất nhiều vị Thiền sư khác nhưng vẫn chưa triệt ngộ, cuối cùng dừng chân tại hội của Pháp Nhãn. Sư vì mệt chán nên chẳng buồn thưa hỏi. Một hôm nghe vị tăng hỏi Pháp Nhãn: »Thế nào là một giọt nước nguồn Tào?« Pháp Nhãn trả lời: »Là một giọt nước nguồn Tào.« Tăng mờ mịt thối lui nhưng Sư nhân đây đại ngộ. Sư đem chỗ sở đắc trình Pháp Nhãn. Pháp Nhãn khen nói: »Ông sau làm thầy của vua, làm Tổ đạo sáng ngời, ta chẳng bằng.«|Sư đến núi Thiên Thai thăm những di tích của Ðại sư Trí Khải, có cảm giác là chỗ ở cũ. Vì họ của Sư (Trần) cũng như Trí Khải nên thời nhân nói Sư là hậu thân của Trí Khải Ðại sư.|Sư thượng đường dạy chúng: »Phật pháp hiện hành, tất cả đầy đủ. Người xưa nói ›viên đồng thái hư, vô khiếm vô dư.‹ Nếu như thế thì cái gì thiếu, cái gì dư, cái gì phải, cái gì quấy? Ai là người hội, ai là người chẳng hội? Do đó nói, đi Ðông cũng cũng là Thượng toạ, đi Tây cũng là thượng toạ, đi Nam cũng là Thượng toạ, đi Bắc cũng là Thượng toạ. Thượng toạ lại sao được thành Ðông, Tây, Nam, Bắc? Nếu hội được tự nhiên con đường thấy nghe hiểu biết bặt dứt, tất cả các pháp hiện tiền. Vì sao như thế? Vì Pháp thân không tướng, chạm mắt đều bày, Bát-nhã vô tri, đối duyên liền chiếu, một lúc hội triệt để là tốt. Chư thượng toạ! Kẻ xuất gia làm gì? Cái lí bản hữu này chưa phải là phần bên ngoài. ›Thức tâm đạt bản nguyên nên gọi là Sa-môn.‹ Nếu biết rõ ràng, không còn một mảy tơ làm chướng ngại. Thượng toạ đứng lâu, trân trọng.«|Niên hiệu Khai Bảo thứ tư, ngày 28 tháng sáu, Sư có chút bệnh, họp chúng từ giã rồi ngồi kết già viên tịch, thọ 82 tuổi, 65 tuổi hạ.
Thiên Thai tông 天台宗; C: tiāntāi-zōng; J: tendai-shū;|Một tông phái Phật giáo Trung Quốc do Trí Khải (538-597) sáng lập. Giáo pháp của tông phái này dựa trên kinh Diệu pháp liên hoa.|Thiên Thai tông xem Long Thụ (s: nāgār-juna) là Sơ tổ vì ba quan điểm chính (Ba chân lí) của tông phái này dựa trên giáo lí của Long Thụ – đó là: tất cả mọi hiện tượng dựa lên nhau mà có và thật chất của chúng là tính Không (s: śūnyatā). Mọi hiện tượng là biểu hiện của một thể tuyệt đối, đó là Chân như (s: tathatā). Tông phái này gọi ba chân lí đó là không (空), giả (假) và trung (中):|1. Chân lí thứ nhất cho rằng mọi Pháp (s: dharma) không có thật thể và vì vậy trống rỗng;|2. Chân lí thứ hai cho rằng, tuy thế, các pháp vẫn có một dạng tồn tại tạm thời với thời gian và giác quan con người có thể nắm bắt được;|3. Chân lí thứ ba tổng hợp hai chân lí đầu, cho rằng thể của sự vật lại không nằm ngoài tướng, không thể bỏ hiện tượng để tìm bản chất, thể và tướng là một.|Quan điểm này nhấn mạnh tính toàn thể và xuyên suốt của sự vật. Cái toàn thể và cái riêng lẻ là một. Toàn bộ các pháp có khác nhau nhưng chúng đan lồng vào nhau, cái này chứa đựng cái kia. Không, giả và trung chỉ là một và từ một mà ra.|Các Ðại sư của tông phái này hay nói »toàn thể vũ trụ nằm trên đầu một hạt cải« hay »một ý niệm là ba ngàn thế giới.« Tổ thứ hai của tông này là Huệ Văn, Tổ thứ ba là Huệ Tư và Tổ thứ tư là Trí Khải. Dưới sự lĩnh đạo của Ðại sư Trí Khải, giáo lí của tông Thiên Thai đã đạt đến tuyệt đỉnh.|Phép tu của Thiên Thai tông dựa trên phép thiền Chỉ-Quán, và chứa đựng các yếu tố mật tông như Man-tra (thần chú) và Man-đa-la (s: maṇḍala). Tông này sau được Truyền Giáo Ðại sư Tối Trừng (767-822), đệ tử của Tổ thứ 10 Thiên thai tông, truyền qua Nhật trong thế kỉ thứ 9. Tại đây, Thiên Thai tông đóng một vai trò quan trọng.|Thiên Thai tông được xem như một tông phái rộng rãi vì nó tổng hợp, chứa đựng nhiều quan điểm của các phái khác. Sự tổng hợp này phản ánh trong quan điểm »năm thời, tám giáo« (五時八教; Ngũ thời bát giáo), trong quan niệm mọi loài đều có Phật tính và vì vậy Thiên Thai tông có đầy đủ phương tiện đưa đến giác ngộ. Các bộ luận quan trọng của Thiên Thai tông là: Ma-ha Chỉ-Quán (s: mahā-śamatha-vipāśyanā), Lục diệu pháp môn và những bài luận của Trí Khải về kinh Diệu pháp liên hoa.|Phép Chỉ-Quán có hai mặt: Chỉ là chú tâm và qua đó thấy rằng mọi pháp đều không. Nhờ đó không còn ảo giác xuất hiện. Quán giúp hành giả thấy rằng, tuy mọi pháp đều không, nhưng chúng có một dạng tồn tại tạm thời, một sự xuất hiện giả tướng và lại có một chức năng nhất định. Trí Khải phân chia kinh sách thành »năm thời và tám giáo« với mục đích hệ thống hoá Phật giáo theo trình tự thời gian và theo nội dung giáo pháp. Sự phân chia đó cũng giúp giải thích các vấn đề siêu hình. Hơn các tông phái khác, Thiên Thai tông là phái tìm cách thống nhất mọi giáo pháp trong hệ thống của mình bằng cách dành cho mọi kinh sách một chỗ đứng và xem Tiểu thừa cũng như Ðại thừa đều là những lời dạy của chính đức Phật.|Sự phân chia làm năm thời dựa trên trình tự thời gian như sau: 1. Thời giáo Hoa nghiêm, 2. Thời giáo A-hàm, 3. Thời giáo Phương đẳng, 4. Thời giáo Bát-nhã ba-la-mật-đa và 5. Thời giáo Diệu pháp liên hoa và Ðại bát-niết-bàn.|Thời giáo thứ nhất chỉ kéo dài 3 tuần, theo Trí Khải, dựa trên Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh (s: buddhāvataṃsaka-sūtra) là giai đoạn giáo hoá của Phật ngay sau khi Ngài đắc đạo. Kinh Hoa nghiêm chỉ rõ, toàn thể vũ trụ chỉ là phát biểu của cái Tuyệt đối. Thời đó các vị đệ tử của Phật chưa lĩnh hội được điều này. Vì thế mà Phật bắt đầu giảng các kinh A-hàm (s: āgama), thời giáo thứ hai. Trong giai đoạn này, Phật chưa nói hết tất cả, chỉ thuyết những điều mà đệ tử có thể hiểu nổi. Ngài thuyết Tứ diệu đế, Bát chính đạo và thuyết Mười hai nhân duyên. Thời giáo này kéo dài 12 năm. Trong thời giáo thứ ba, Phật bắt đầu giảng giai đoạn sơ khởi của Ðại thừa. Ngài nhắc đến tính ưu việt của một vị Bồ Tát nếu so sánh với một vị A-la-hán và nhấn mạnh đến sự đồng nhất giữa Phật và chúng sinh, giữa Tương đối và Tuyệt đối. Thời giáo thứ tư, kéo dài 22 năm, chứa đựng giáo pháp của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, tức là nói đến tính Không của vạn sự và cái ảo tưởng giả tạo của mọi hiện tượng nhị nguyên. Thời giáo cuối cùng, thời giáo thứ năm, bao gồm 8 năm cuối đời đức Phật. Trong thời giáo này, Phật thuyết về thể tính duy nhất của mọi hiện tượng tưởng chừng rất khác biệt. Ba thừa là Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát thừa chỉ có giá trị tạm thời và nằm chung trong một thừa duy nhất, đó là Nhất thừa (s: ekayāna) hay Phật thừa (s: buddhayāna). Trong thời giáo cuối cùng này, thời giáo của kinh Diệu pháp liên hoa và Ðại bát-niết-bàn, Phật đã nói rõ và trọn vẹn nhất giáo lí của mình. Ðó là năm thời giáo theo thứ tự thời gian.|Thiên Thai tông cũng chia giáo pháp đức Phật ra làm tám hệ thống, trong đó bốn hệ thống dựa trên phương pháp và bốn dựa trên tính chất. Bốn hệ thống có tính phương pháp luận là: 1. Phương pháp đốn ngộ, dành cho hạng đệ tử xuất sắc nhất có khả năng tiếp cận sự thật nhanh chóng. Ðó là phương pháp của kinh Hoa nghiêm; 2. Phương pháp tiệm ngộ, đi từ giản đơn đến phức tạp, là phương pháp của các kinh A-hàm, Phương đẳng, Bát-nhã ba-la-mật-đa. Còn kinh Diệu pháp liên hoa lại không thuộc »đốn« hay »tiệm« mà chứa đựng sự thật cuối cùng; 3. Phương pháp mật giáo, là cách Phật dạy cho một người nhất định và chỉ người đó được lĩnh hội. Phương pháp này có thể được Phật áp dụng trong chốn đông người, nhưng nhờ thần thông của Phật chỉ có người đó được hiểu; 4. Phương pháp bất định, là phương pháp Phật dùng dạy cho nhiều người, nhưng mỗi người nghe hiểu khác nhau. Hai phương pháp 3 và 4 được Phật áp dụng khi người nghe có trình độ không đồng đều.|Bốn hệ thống có tính chất luận là: 1. Giáo pháp Tiểu thừa, dành cho Thanh văn và Ðộc giác Phật, 2. Giáo pháp tổng quát, bao gồm Tiểu thừa và Ðại thừa, dành cho Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát cấp thấp. 3. Giáo pháp đặc biệt dành cho Bồ Tát và 4. Giáo pháp viên mãn, tức là giáo pháp trung quán phá bỏ mọi chấp trước. Kinh Hoa nghiêm đại diện cho giáo pháp 3 và 4. Kinh A-hàm là kinh của Tiểu thừa. Các kinh Phương đẳng chứa đựng cả 4 giáo pháp. Kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa chứa giáo pháp 2, 3, 4. Cuối cùng thì chỉ có kinh Diệu pháp liên hoa chứa giáo pháp viên mãn.
Thiện thệ 善逝; C: shàn shì; J: zenzei; S: sugata.|Một trong 10 danh hiệu của chư Phật. Người hoàn tất việc của mình một cách thiện hảo (tự giác), người đã làm xong tất cả mọi việc (giác tha, giác hạnh viên mãn).
Thiện thông 善通; C: shàntōng; J: zentsū; |Thông đạt, tương giao mật thiết với nhau không ngăn ngại.
Thiện thú 善趣; C: shànqù; J: zenshu; |Cõi giới lành. Tái sinh vào cảnh giới trong lành có được từ kết quả tích tập các thiện nghiệp trong đời trước (s: sugati-gati). Tái sinh làm người, hay chư thiên trong sáu đường (lục đạo 六道). Ngược lại là tái sinh trong các đường dữ (ác đạo 惡道). Một số truyền thống xem tái sinh làm a-tu-la là một trong các đường lành.
Thiện thủ 善取; C: shànqŭ; J: zenshu;| Khéo thông hiểu nghĩa lí.
Thiện tính 善性; C: shànxìng; J: zenshō;|Phẩm chất đạo đức tốt. Một trong ba tính của mọi hành nghiệp, hai tính kia là Bất thiện tính (不善性) và Vô kí tính (無記性).
Thiện tịnh 善淨; C: shànjìng; J: zenjō;|Thanh tịnh (s: viśuddha).
Thiền tông 禪宗; C: chán-zōng; J: zen-shū;|Một tông phái của Phật giáo Ðại thừa tại Trung Quốc. Thiền tông sinh ra trong khoảng thế kỉ thứ 6, thứ 7, khi Bồ-đề Ðạt-ma đưa phép Thiền của đạo Phật vào Trung Quốc, hấp thụ một phần nào của đạo Lão. Tại đây, Thiền tông trở thành một tông phái lớn, với mục đích là hành giả trực nhận được bản thể của sự vật và đạt giác ngộ, như Thích-ca Mâu-ni đã đạt được dưới gốc cây Bồ-đề. Thiền tông là môn phái quan tâm đến kinh nghiệm chứng ngộ, đả phá mạnh nhất mọi nghi thức tôn giáo và mọi lí luận về giáo pháp. Thiền tông chỉ khuyên hành giả Toạ thiền (j: zazen), là con đường ngắn nhất, đồng thời cũng là con đường khó nhất. Những nét đặc trưng của Thiền tông có thể tóm tắt được như sau:|教外別傳。不立文字。直指人心。見性成佛|Giáo ngoại biệt truyền, bất lập văn tự, trực chỉ nhân tâm, Kiến tính thành Phật|1. Truyền giáo pháp ngoài kinh điển; 2. Không lập văn tự; 3. Chỉ thẳng tâm người; 4. Thấy tính thành Phật.||H 65: Ðức Phật cầm hoa (拈花; Niêm hoa), Ca-diếp mỉm cười (微笑; vi tiếu). Phật Thích-ca khai sáng một tông mới nằm ngoài giáo pháp, chỉ tâm truyền tâm. Vì vậy mà Thiền tông cũng có tên là Phật tâm tông (佛心宗) hay gọi tắt là Tâm tông.|Bốn tính chất rất rõ ràng dễ nhập tâm này được xem là do Bồ-đề Ðạt-ma nêu lên, nhưng cũng có người cho rằng chúng xuất phát từ Thiền sư đời sau là Nam Tuyền Phổ Nguyện (南泉普願; 749-835), một môn đệ của Mã Tổ. Truyền thuyết cho rằng quan điểm »Truyền pháp ngoài kinh điển« đã do đức Thích-ca áp dụng trên núi Linh Thứu (s: gṛdhrakūṭa). Trong pháp hội đó, Ngài im lặng đưa lên một cành hoa và chỉ có Ma-ha Ca-diếp (s: mahākāśyapa), một Ðại đệ tử, mỉm cười lĩnh hội ý chỉ của cách »Dĩ tâm truyền tâm« (以心傳心; xem Niêm hoa vi tiếu). Ðức Thích-ca ấn chứng cho Ca-diếp là Sơ tổ của Thiền tông Ấn Ðộ. Từ đó, Thiền tông coi trọng tính chất Ðốn ngộ (頓悟; giác ngộ ngay tức khắc) trên con đường tu học.|Thiền tông Ấn Ðộ truyền đến đời thứ 28 là Bồ-đề Ðạt-ma. Ngày nay, người ta không còn tư liệu gì cụ thể về lịch sử các vị Tổ Thiền tông Ấn Ðộ, và thật sự thì điều đó không quan trọng trong giới Thiền. Ðiều hệ trọng nhất của Thiền tông là »tại đây« và »bây giờ.« Ðầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề Ðạt-ma sang Trung Quốc và được xem là Sơ tổ của Thiền tông tại đây. Trong suốt thời gian từ đó đến Lục tổ Huệ Năng (慧能; 638-713), Phật giáo và Lão giáo đã có nhiều trộn lẫn với nhau, nhất là trong phái Thiền đốn ngộ của Huệ Năng, phát triển miền Nam Trung Quốc. Một phái Thiền khác ở phía Bắc, do Thần Tú (神秀) chủ trương, chấp nhận »tiệm ngộ« (漸悟) – tức là ngộ theo cấp bậc – không kéo dài được lâu. Phái Thiền của Huệ Năng phát triển như một ngọn đuốc chói sáng, nhất là trong đời Ðường, đầu đời Tống và sản sinh vô số những vị Thiền sư danh tiếng như Mã Tổ Ðạo Nhất (馬祖道一), Bách Trượng Hoài Hải (百丈懷海), Triệu Châu Tòng Thẩm (趙州從諗), Lâm Tế Nghĩa Huyền (臨濟義玄) … và truyền ra các nước khác như Nhật Bản, Hàn Quốc, Việt Nam (Phật giáo). Thiền phương Nam dần dần chia thành Ngũ gia thất tông (五家七宗; năm nhà, bảy tông), đó là những tông phái thường chỉ khác nhau về cách giáo hoá, không khác về nội dung đích thật của Thiền. Ngũ gia thất tông gồm Tào Ðộng (曹洞), Vân Môn (雲門), Pháp Nhãn (法眼), Quy Ngưỡng (潙仰), Lâm Tế và hai bộ phái của Lâm Tế là Dương Kì (楊岐) và Hoàng Long (黃龍; xem các biểu đồ cuối sách).|Trong các tông này thì có hai tông Lâm Tế và Tào Ðộng du nhập qua Nhật trong thế kỉ 12, đầu thế kỉ 13, đến nay vẫn sinh động và còn ảnh hưởng lớn cho Thiền thời nay. Khoảng đến đời nhà Tống thì Thiền tông Trung Quốc bắt đầu suy tàn và trộn lẫn với Tịnh độ tông trong thời nhà Minh (thế kỉ thứ 15). Trong thời gian đó, Thiền tông đúng nghĩa với tính chất »dĩ tâm truyền tâm« được xem như là chấm dứt. Lúc đó tại Nhật, Thiền tông lại sống dậy mạnh mẽ. Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền (道元希玄), người đã đưa tông Tào Ðộng qua Nhật, cũng như Thiền sư Minh Am Vinh Tây (明菴榮西), Tâm Ðịa Giác Tâm (心地覺心), Nam Phố Thiệu Minh (南浦紹明) và nhiều vị khác thuộc phái Lâm Tế đã có công thiết lập dòng Thiền Nhật Bản. Giữa thế kỉ 17, Thiền sư Trung Quốc là Ẩn Nguyên Long Kì (隱元隆琦) sang Nhật thành lập dòng Hoàng Bá, ngày nay không còn ảnh hưởng. Vị Thiền sư Nhật xuất chúng nhất phải kể là Bạch Ẩn Huệ Hạc (白隱慧鶴), thuộc dòng Lâm Tế, là người đã phục hưng Thiền Nhật Bản trong thế kỉ 18.|Thiền tông Trung Quốc được sáng lập trong thời kì Phật pháp đang là đối tượng tranh cãi của các tông phái. Ðể đối lại khuynh hướng »triết lí hoá«, phân tích chi li Phật giáo của các tông khác, các vị Thiền sư bèn đặt tên cho tông mình là »Thiền« để nhấn mạnh tầm quan trọng của phương pháp Toạ thiền để trực ngộ yếu chỉ.|Thiền bắt nguồn từ Ấn Ðộ nhưng đã trở thành một tông phái độc lập khi được truyền sang Trung Quốc, đặc biệt là sau thời của Lục tổ Huệ Năng. Nơi đây, Thiền tông đã hấp thụ cốt tuỷ của nền văn hoá, triết lí Trung Quốc. Nhà Ấn Ðộ học và Phật học danh tiếng của Ðức H. W. Schumann viết như sau trong tác phẩm Ðại thừa Phật giáo (Mahāyāna-Buddhismus): »Thiền tông có một người cha Ấn Ðộ nhưng đã chẳng trở nên trọn vẹn nếu không có người mẹ Trung Quốc. Cái ›dễ thương‹, cái hấp dẫn của Thiền tông chính là những thành phần văn hoá nghệ thuật, những đặc điểm sắc thái riêng của Trung Quốc, không phải của Ấn Ðộ. Những gì Phật giáo mang đến Trung Quốc – với tư tưởng giải thoát tuyệt đối, trình bày một cách nghiêm nghị khắc khe với một ngón tay trỏ chỉ thẳng – những điều đó được các vị Thiền sư thừa nhận, hấp thụ với một nụ cười thầm lặng đầy thi vị. Thành tựu lớn lao của các Ðại luận sư Ấn Ðộ là nhét ›con ngỗng triết lí‹ vào lọ, thì – chính nơi đây, tại Trung Quốc – con ngỗng này được thả về với thiên nhiên mà không hề mang thương tích.«|Thiền như các vị Thiền sư nhấn mạnh, là trở về với tự nhiên, không hẳn là sự phản đối truyền thống như những học giả sau này thường xác định. Thiền tông phản bác, vứt bỏ những nghi thức rườm rà, những bài luận khó hiểu, bất tận nhưng không phủ nhận nội dung, tinh hoa của chúng. Thiền tông chính là sự tổng hợp độc đáo của hai giáo lí, hai học thuyết nền tảng của Ðại thừa Ấn Ðộ, đó là Trung quán (中觀; s: madhyamaka) và Duy thức (唯識; s: vijñānavāda). Người ta có thể hiểu phần nào những hành động, lời nói, phương pháp hoằng hoá »mâu thuẫn«, »nghịch lí« của các vị Thiền sư nếu nắm được giáo lí của Trung quán và Duy thức. Trong các tập công án của Thiền tông, người ta có thể nhận ra hai loại: 1. Những công án xoay quanh thuyết Thật tướng (實相) của Trung quán tông (s: mādhyamika), tức là tất cả đều là Không (s: śūn-yatā) và 2. Những công án với khái niệm »Vạn pháp duy tâm« (萬法唯心; s: cittamātra) của Duy thức tông.|Công án danh tiếng nhất với thuyết tính Không là Con chó của Triệu Châu (Vô môn quan 1): Tăng hỏi Triệu Châu: »Con chó có Phật tính không?« Triệu Châu trả lời: »Không!« (無).|Một công án không kém danh tiếng theo thuyết Duy thức (Vô môn quan 29): Hai ông tăng cãi nhau về phướn (một loại cờ). Một ông nói: »Phướn động.« Ông khác nói: »Gió động«, và cứ thế tranh cãi. Lục tổ Huệ Năng liền nói: »Chẳng phải gió, chẳng phải phướn, tâm các ông động.« Nghe câu này, hai vị giật mình run sợ.|Tuy không bao giờ trở lại thời vàng son của thế kỉ thứ 7, thứ 8, Thiền tông vẫn luôn luôn gây được một sức thu hút mãnh liệt nơi tín đồ Phật giáo và đóng một vai trò quan trọng trong nghệ thuật Ðông Á. Khoảng vài mươi năm nay, Thiền tông bắt đầu có ảnh hưởng tại phương Tây và Mĩ.
Thiển trí 淺智; C: qiăn zhì; J: senchi; S: alpa-buddhi.|Dạng trí thức nông cạn, để đối chiếu với trí huệ sâu mầu của Đức Phật.
Thiện tri thức 善知識; C: shàn zhīshì; J: zenchishiki; S: kalyā-ṇamitra; P: kalyānamitta; hoặc Thiện hữu (善友), Ðạo hữu (道友);|Danh từ chỉ một người bạn đạo. Trong thời Phật giáo nguyên thuỷ, danh từ này được dùng để chỉ một vị tăng đầy đủ những đạo hạnh như nắm vững lí thuyết Phật pháp và tinh thông thiền định, có thể giúp đỡ những vị khác trên con đường tu học.|Ðức Phật Thích-ca Mâu-ni rất quý trọng tình bạn trên con đường giải thoát. Ngài dạy như sau: »Cả một cuộc đời tầm đạo đều lấy tình bạn làm căn bản… Một Tỉ-khâu, một Thiện tri thức, một người bạn đồng hành – từ một vị này người ta có thể mong đợi rằng, ông ta sẽ tinh cần tu học Bát chính đạo để đạt giải thoát cho chính mình và những người bạn đồng hành.«|Dần dần, danh từ này cũng thường được sử dụng để chỉ những người tìm đạo, trong giới Cư sĩ và cả trong Tăng già. Trong những bài thuyết pháp, các vị Thiền sư thường dùng các biểu thị Thiện tri thức, Ðạo lưu… để chỉ những người hâm mộ Phật pháp đang chú tâm lắng nghe.|Người ta thường phân Thiện tri thức thành ba hạng: 1. Giáo thụ thiện tri thức (教授善知識), là những người có khả năng hướng dẫn, dạy dỗ trên con đường tu hành, là bậc thầy; 2. Ðồng hạnh thiện tri thức (同行善知識), là những người đồng chí, đồng hạnh, tức là người bạn tốt, trung thành; 3. Ngoại hộ thiện tri thức (外護善知識), là những người giúp cho những tiện nghi, tạo điều kiện tốt cho người tu hành.
Thiện trụ bí mật kinh 善住祕密經; C: shànzhù mìmì jīng; J: zenjū himitsu kyō;|Tên gọi tắt của Đại bảo quảng bác lâu các thiện trụ bí mật đà-la-ni kinh (大寶廣博樓閣善住祕密陀羅尼經).
Thiện tu 善修; C: shànxiū; J: zenshu;|Tu hành chân chính.
Thiền uyển tập anh 禪苑集英|Tên của một quyển sách rất quan trọng của Thiền tông Việt Nam, nói về các »Anh tú vườn thiền«, các vị Thiền sư Việt Nam từ cuối thế kỉ thứ sáu đến đầu thế kỉ thứ 13. Ðây là tài liệu lịch sử Phật giáo cổ nhất hiện còn tại Việt Nam. Người ta không biết rõ tác giả của Thiền uyển tập anh là ai, nhưng có thể xác định được rằng, nó là một tác phẩm được hình thành qua nhiều giai đoạn và Thiền sư Thông Biện (?-1134) chính là người khởi thảo.|Theo dịch giả của Thiền uyển tập anh là Ngô Ðức Thọ và những manh mối được tìm thấy trong chính quyển sách này, người ta có thể xác định được Quốc sư Thông Biện chính là người khởi thảo bản đầu của quyển sách này, bởi vì Sư đã trình bày, chứng tỏ kiến thức quảng bác của mình trong một buổi đàm luận với Linh Nhân Hoàng thái hậu vào năm 1096. Ðoạn trả lời của Thông Biện được ghi lại trong Thiền uyển tập anh không dài lắm nhưng nó chính là một pho sử vô cùng quý báu về Phật giáo của Việt Nam được thâu gọn trong tầm kiến thức của vị Thiền sư lỗi lạc này và bản thảo của Thiền uyển tập anh – có thể mang tên Chiếu đối lục. Sau đó, Thông Biện giao phó công việc biên sửa Chiếu đối lục cho một đệ tử người gốc Trung Quốc là Biện Tài. Nơi truyện của Thiền sư Thần Nghi, người ta có thể biết được rằng, Thiền sư Thường Chiếu – thầy của Thần Nghi – sử dụng Chiếu đối lục để giảng nghĩa hệ thống truyền thừa của Thiền tông tại Việt Nam cho đệ tử trước khi viên tịch. Chiếu đối lục của Thông Biện đến tay Thường Chiếu như thế nào thì không rõ lắm nhưng sau đó, Thường Chiếu có soạn một quyển sách mang tên Nam tông tự pháp đồ – nay đã thất truyền nhưng được ghi lại trong các tác phẩm khác – có lẽ với nội dung tương tự như Thiền uyển tập anh và biểu đồ truyền thừa. Thiền sư Thần Nghi đã nhận hai bộ sách quý này từ chính vị thầy và truyền lại cho đệ tử mình là Thiền sư Ẩn Không. Với những tài liệu còn lại và sự đối chiếu mạch lạc, người ta có thể xác định được rằng, Thiền uyển tập anh được hoàn tất dưới tay Thiền sư Ẩn Không đầu đời Trần.
Thiền viện 禪院; J: zen'en;|Là nơi tu tập của những người theo Thiền tông. Thiền sư Bách Trượng là người đầu tiên sáng lập Thiền viện và những quy củ tổ chức ở đây.
Thiện Vô Uý 善無畏; C: shàn wúwèi; J: zemmui; S: śubhā-karasiṃha, 637-735. |Học giả Ấn Độ truyền bá Mật tông Phật giáo sang Trung Hoa. Được xem là một trong 8 vị tổ của giáo lí Phó thụ bát tổ (傅授八祖) của Chân ngôn tông. Sinh trong một hoàng tộc thuộc vùng Orissa, kế thừa ngôi vào năm 13 tuổi, nhưng sư từ bỏ khi các người anh khởi binh bạo loạn tranh quyền kế vị. Sư xuất gia làm Tăng tại Trúc lâm tinh xá (竹林精舎, s: veṇuvanavihāra) trong chùa Na-lan-đà (那爛陀寺). Theo chỉ đạy của thầy là Đạt-ma Cúc-đa (達磨掬多, s: dharma-gupta), sư dấn thân vào cuộc hành trình sang Trung Hoa qua đường Thổ Phồn (吐蕃, e: turfan), đến nơi vào năm 716. Sư được vua Huyền Tông (玄宗) tiếp kiến năm 717, và bắt đầu dịch kinh tại chùa Tây Minh (西明寺). Khi vua trùng tu lại chùa năm 724, sư dời đến chùa Đại Phúc Tiên (大福先寺) ở Lạc Dương, cộng tác với Nhất Hạnh (一行) dịch Đại Nhật kinh (大日經, s: vairoca-nābhisambodhi). Dù đã nổi tiếng với việc dịch kinh ấy, sư còn dịch những nhiều kinh văn Mật tông quan trọng khác như kinh Tô-tất-địa (蘇悉地經; s: susiddhi). Sư còn tổ chức những nghi lễ cho triều đình và giảng thuyết; một trong những pháp ngữ nầy là Vô Uý tam tạng thiền yếu (無畏三藏禪要). Một số kinh văn khác được soạn ở Trung Hoa dưới sự hướng dẫn của sư. Đồ hình »Ngũ bộ tâm quán« (五部心観) có kể đến hành trạng của Thiện Vô Uý. Cho đến cuối đời, sư thỉnh nguyện được trở về Ấn Độ, nhưng bị từ chối, và sư viên tịch ở Lạc Dương. Sau khi an táng sư trên đồi quanh Long môn vào năm 740, tín đồ Phật tử vẫn tiếp tục thờ phụng nhục thân của sư.
Thiên vương 天王; S: devarāja; C: tiānwáng; J: tennō;|Ðược xem như là người canh giữ thế giới, thường được thờ trong các chùa. Truyền thuyết cho rằng các Thiên vương sống trên núi Tu-di (s: meru), canh giữ thế giới và Phật pháp. Các vị đó chiến đấu chống cái ác và bảo vệ những nơi Phật pháp được truyền bá. Thân thể các vị đó được áo giáp che chở, đầu mang giáp sắt.|Có bốn vị Thiên vương (Tứ Thiên vương; s: catur-mahārāja) ở bốn hướng: |1. Bắc Thiên vương với tên là Ða văn thiên (多聞天; s: vaiśravaṇa) có thân màu lục, tay trái cầm cờ chiến thắng, tay phải mang tượng chùa hoặc một bảo tháp (mà trong đó – theo truyền thuyết – Long Thụ đã tìm được những bộ kinh dưới Long cung), hoặc một con chuột mầu bạc phun ngọc. Vị Bắc Thiên vương là vị quan trọng nhất trong bốn vị Thiên vương;|2. Nam Thiên vương là Tăng trưởng thiên (增長天; virūḍhaka) có thân màu xanh, cầm gươm chém Vô minh. Vị này chuyên giữ gìn những chủng tử tốt đẹp trong con người; |3. Ðông Thiên vương là Trì quốc thiên (持國天; dhṛtarāṣṭra) có thân trắng, tay cầm đàn, tiếng đàn sẽ làm tâm thức con người trở nên thanh tịnh;|4. Tây Thiên vương tên Quảng mục thiên (廣目天; virūpākṣa) có thân màu đỏ, tay phải cầm rắn (s: nāga) nhưng không cho nó chiếm giữ Như ý châu (ngọc như ý). Ngọc như ý chỉ chuyên dành cho những bậc giác ngộ và rắn chỉ là người canh giữ viên ngọc đó.|Truyền thuyết Trung Quốc đã nhắc các vị này từ thế kỉ thứ 4, nhưng đến đời Ðường (thế kỉ thứ 7) người ta mới thật sự thờ cúng các vị Thiên vương. Mỗi vị này có 91 con trai và 8 tướng quân, giúp canh giữ mười phương thế giới. Tương truyền rằng, năm 742, Ðại sư Bất Không Kim Cương (s: amoghavajra, Mật tông) niệm chú Ðà-la-ni gọi các vị Thiên tướng xuống giúp chống ngoại xâm. Vị Bắc Thiên vương và Tây Thiên vương hiện xuống đẩy lùi giặc, nhà vua nhớ ơn cho xây tượng các vị trong chùa chiền.
Thiện xảo 善巧; C: shàn qiăo; J: zengyō; S: upāya-(kauśalya).|»(Phương tiện) thiện xảo«. Hướng dẫn chúng sinh tuỳ theo căn tính của họ một cách khéo léo (phương tiện 方便).
Thiên Y Nghĩa Hoài 天衣義懷; C: tiānyī yìhuái; tk. 11;|Thiền sư Trung Quốc thuộc tông Vân Môn. Sư là môn đệ đắc pháp của sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển và là thầy của hai vị Viên Chiếu Tông Bản và Viên Thông Pháp Tú.|Sư họ Trần, quê ở Lạc Thanh, Vĩnh Gia. Mẹ Sư nằm mộng thấy ngôi sao rơi vào nhà liền có thai Sư. Thuở bé, Sư theo cha đi đánh cá. Cha bắt được con cá nào thì Sư lén thả hết và an nhiên chịu đòn khi bị cha đánh. Lớn lên, Sư đến chùa Cảnh Ðức xuất gia.|Một hôm, đang lúc đi trong chợ có một vị tăng lạ vỗ vai Sư nói: »Vân Môn, Lâm Tế.« Sư nghe vậy liền đi đến yết kiến nhiều vị Thiền sư bấy giờ nhưng không khế hợp.|Sau, Sư đến Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển (lúc này còn đang hoằng hoá tại Thuý Phong, chưa dời sang Tuyết Ðậu). Tuyết Ðậu hỏi Sư: »Ngươi tên gì?« Sư thưa: »Nghĩa Hoài.« Tuyết Ðậu hỏi: »Sao chẳng đặt là Hoài Nghĩa?« Sư thưa: »Bây giờ sẽ được.« Tuyết Ðậu hỏi: »Ai vì ngươi đặt tên?« Sư thưa: »Thụ giới đến bây giờ đã mười lăm năm.« Tuyết Ðậu hỏi: »Ngươi hành cước đã rách bao nhiêu đôi giày?« Sư thưa: »Hoà thượng chớ có lừa người tốt.« Tuyết Ðậu bảo: »Ta không xét tội lỗi, ngươi cũng không xét tội lỗi, ấy là sao?« Sư không đáp được, Tuyết Ðậu bảo: »Kẻ rỗng nói suông đi đi!«|Sư vào thất, Tuyết Ðậu trông thấy bảo: »Thế ấy chẳng được, chẳng thế ấy cũng chẳng được, thế ấy chẳng thế ấy cũng chẳng được.« Sư suy nghĩ, Tuyết Ðậu đánh đuổi ra. Cứ như thế Sư bị ăn gậy bốn lần. Một hôm, Sư đang gánh nước bỗng nhiên đòn gánh gẫy đánh rơi cặp thùng. Sư nhân đây đại ngộ, liền làm bài kệ:|一二三四五六七。萬仞峰頭獨足立|驪龍頷下奪明珠。一言勘破維摩詰|Nhất nhị tam tứ ngũ lục thất|Vạn nhẫn phong đầu độc túc lập|Li Long hạm hạ đoạt minh châu|Nhất ngôn khám phá Duy-ma-cật.|*Một hai ba bốn năm sáu bảy|Chót núi muôn nhẫn một chân đứng|Dưới hàm Li long đoạt minh châu|Một lời phá được Duy-ma-cật.|Tuyết Ðậu nghe kệ vỗ bàn khen hay.|Sư thượng đường: »Nạp tăng nói ngang nói dọc mà chưa biết có con mắt trên trán.« Một vị tăng bước ra hỏi: »Thế nào là con mắt trên trán?« Sư đáp: »Áo rách bày xương gầy, nhà lủng thấy trăng sao.«|Sư trụ trì tất cả bảy đạo trường, giáo hoá rất nhiều người và tông phong của Vân Môn rất thịnh. Lúc sắp tịch, Sư sai gọi đệ tử là Trí Tài về gấp. Vừa thấy Trí Tài về, Sư bảo: »Ðến giờ đi đây« và nói kệ:|紅日照扶桑,寒雲封華嶽|三更過鐵圍,拶折驪龍角|Hồng nhật chiếu phù tang|Hàng vân phong hoa nhạc|Tam canh quá thiết vi|Tạt chiết Li long giác.|*Ðất Nhật trời hồng soi|Ðảnh đỉnh hoa mây lạnh quấn|Canh ba vượt thiết vi|Sừng Li long bẻ gẫy.|Trí Tài hỏi: »Tháp trứng đã thành, thế nào là việc cứu kính?« Sư nắm tay chỉ đó và đến bên giường, xô gối rồi viên tịch.
Thiệp 渉; C: shè; J: shō;|Có sự liên quan với. Có sự quen thuộc với; thân tình với.
Thiếu Lâm tự 少林寺; C: shàolín-sì; J: shōrin-ji;|Một ngôi chùa nổi danh nằm trên ngọn Thiếu Thất thuộc dãy Tung sơn. Chùa này do vua Hiếu Văn Ðế nhà Hậu Nguỵ xây dựng cho một vị sư là Phật-đà Thiền sư người Thiên Trúc (Ấn Ðộ). Ðầu thế kỉ thứ 6, Bồ-đề Lưu-chi có dừng chân tại đây và phiên dịch rất nhiều kinh sách. Sau, Bồ-đề Ðạt-ma cũng đến đây vì Ngài thấy thời hoằng hoá chưa đến. Tương truyền rằng, Bồ-đề Ðạt-ma lưu lại đây chín năm và trong thời gian này chỉ xoay mặt vào tường Toạ thiền.|Bây giờ khi nhắc đến Thiếu Lâm tự, người ta chỉ thường nghĩ đến những môn võ công của chùa này. Theo truyền thuyết thì võ công, một dạng của khí công được các vị Cao tăng tại đây sáng tạo và phát triển. Câu chuyện sau đây thường được nhắc lại khi nói đến võ công chùa Thiếu Lâm: »Một hôm, chùa bị giặc Hoàng Cân tấn công, tăng chúng sợ quá muốn tan. Chợt có một vị tăng cao tuổi làm đầu bếp múa gậy chạy ra bảo chúng ›Các vị chớ lo, Lão tăng chỉ một gậy là đuổi chúng chạy hết‹. Nghe như vậy ai cũng phì cười vì cho là nói khoát. Vị tăng đó liền múa gậy xông vào đám giặc, tên nào bị ăn gậy đều kinh khiếp chạy loạn. Cuối cùng giặc tan, vị tăng này truyền lại cho chúng võ nghệ rồi sau đó ẩn mất. Người sau cho rằng đó là hiện thân của Khẩn-na-la Phật.«
Thố giác 兎角; C: tùjiǎo; J: tokaku;|Sừng thỏ, vật chỉ có trong trí tưởng tượng.
Thoại đầu 話頭; C: huàtóu; J: wato;|Chỉ cái trọng yếu, trung tâm, »chữ đầu« của một Công án. Một công án có thể có một hoặc nhiều thoại đầu và một thoại đầu có thể chỉ là một chữ duy nhất (xem Nhất tự quan).
Thời 時; C: shí; J: ji;|1. Thời gian. Một thời gian hay giờ phút nào đó. Một mùa. Một dịp; 2. Mọi lúc, luôn luôn. Lúc nầy đến lúc khác; [Phật học] 3. Là một trong 24 pháp bất tương ưng hành theo giáo lí Duy thức; 4. Thời gian ương tục. »Thời gian« được thiết định căn cứ vào sự phân biệt quá khứ, hiện tại, tương lai (s: adhvan); 5. Hoàn cảnh, tình thế (s: avasthā); 6. Thỉnh thoảng, đôi khi; 7. Bây giờ, trong thế giới hiện tại.
Thời giáo 時教; C: shí jiāo; J: jikyō; |Sự phân loại giáo lí căn cứ vào từng thời kì.
Thời luân tan-tra S: kālacakra-tantra; nghĩa là »Bánh xe thời gian«;|Tên của một Tan-tra Phật giáo, xuất phát từ thế kỉ thứ 10, tương truyền do nhà vua thần bí Sam-ba-la (s: śambhala) biên soạn. Trong bộ Mật kinh này, cách tính thời gian và thiên văn học đóng một vai trò quan trọng. Khi được đưa vào Tây Tạng năm 1027, Thời luân được sử dụng và trở thành gốc của lịch Tây Tạng. Ngoài việc này, Thời luân cũng trở thành một đối tượng quán sát của Mật tông, trong đó yếu tố Bản sơ Phật (A-đề-phật; s: ādi-buddha; Phổ Hiền) được thêm vào hệ thống Ngũ Phật, trở thành một Man-đa-la (s: maṇḍala) với tên là »Mười phần uy lực« của Mật tông.|Theo truyền thống Tây Tạng thì Thời luân được bảy nhà vua xứ Sam-ba-la và 25 vị truyền nhân chính tông lần lượt truyền lại. Ðến vị truyền nhân thứ 12 thì giáo pháp này đến Ấn Ðộ và sau đó qua Tây Tạng. Một trong những dòng truyền quan trọng là dòng qua Bố-đốn (t: buton, 1290-1364) đến Tông-khách-ba và ngày nay mật giáo Thời luân được tông Cách-lỗ (t: gelugpa) tu tập. Thời luân này gồm có ba phần: ngoại giáo, nội giáo và tha giáo. Ngoại giáo lấy thế giới vật chất làm đối tượng, giáo pháp này mô tả sự hình thành của vũ trụ và nói về thiên văn, địa lí. Trọng tâm của giáo lí này đặt vào tính lịch và thời gian, và vì vậy nó tập trung vào toán học. Ngược lại, phần nội giáo lấy thế giới tâm lí làm đối tượng, tập trung giảng giải về các kênh năng lượng (s: nāḍī; Trung khu). Phần tha giáo đề cập đến các linh ảnh nhận thức được trong các Nghi quỹ (s: sādhana). Cả ba phần này đều được xem là ba dạng của A-đề-phật (xem Phổ Hiền). Giáo pháp Thời luân chỉ một loạt sáu phương pháp Thiền định. Sáu phép này tuy cũng được Na-rô-pa (t: nāropa) luận giải, nhưng không giống với sáu phép Na-rô lục pháp (t: nāro cho-drug) của sư, chỉ có chung phép tu luyện để phát triển Nội nhiệt.
Thời lượng 時量; C: shíliáng; J: jiryō; |Khoảng thời gian; thời gian tịch tụ – hay trôi qua. Viết tắt của Thời lượng vô gián (時量無間).
Thời lượng vô gián 時量無間 (閒); C: shíliángwújian; J: jiryō mu-gen; |Thời gian trôi qua, không ngắt quãng hoặc gián đoạn.
Thời tông 時宗;; C: shízōng; J: jishū|Một nhánh của Tịnh độ tông Nhật Bản, xuất hiện thông qua sự giáo hoá của Nhất Biến (一遍, j: ippen) vào khoảng năm 1278, với ngôi chùa Du Hành tự (遊行寺, j: yugyōji) làm trụ sở. »Thời« nghĩa là niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà vào mọi lúc. Trước khi sư viên tịch, phái nầy có được hơn 200 tín đồ nam nữ, và Nhất Biến đã đặt ra giới luật hành trì là an bần và thường xuyên đi bộ. Thời tông thực hành một điệu nhảy đặc biệt (j: odori nembutsu) để ca ngợi sự cứu độ tức thời khi niệm danh hiệu Đức Phật A-di-đà. Vốn mang tính ngẫu hứng tự nhiên và xuất thần, vũ điệu ấy trở thành nghi lễ được các môn đệ thực hiện trước chánh điện và bàn thờ, cùng các nơi công cộng khác như trên bãi biển hoặc trong chợ. Sau khi bị trục xuất ra khỏi thủ đô Liêm Thương (kamakura) trong thời Mạc phủ, vảo năm 1282, Nhất Biến truyền bá Thời tông qua Kinh Đô. Ở đây sư thành công lớn, thường được những ngôi chùa và đền thờ quý tộc thỉnh đến. Năm 1288, Nhất Biến đưa nhóm của mình trở về quê hương Iyo rồi trở lại bên kia Inland Sea, nơi sư viên tịch vào năm 1289. Thời tông còn lưu truyền đến ngày nay với khoảng 500 ngôi chùa chi nhánh. Về kinh điển, tông nầy phần lớn căn cứ vào kinh A-di-đà, nhưng cũng công nhận kinh Pháp Hoa và kinh Hoa Nghiêm.
Thời xứ quỹ 時處軌; c: shíchùguĭ; J: jishoki;|Kim cương đỉnh kinh nhất tự đỉnh luân vương Du-già nhất thiết thời xứ niệm tụng Phật nghi quỹ (金剛頂經一字頂輪王瑜伽一切時處念誦成佛儀軌).
Thông Biện 通辯; ?-1134|Thiền sư Việt Nam đời thứ 8 dòng Vô Ngôn Thông, đắc pháp nơi Thiền sư Viên Chiếu. Môn đệ lừng danh của Sư là Ðạo Huệ.|Sư họ Ngô, quê ở Ðan Phượng (Hà Ðông). Sư học với Thiền sư Viên Chiếu, thầm nhận được ý chỉ, về sau đến trụ tại Quốc Tự trong kinh đô Thăng Long, lấy hiệu là Trí Không.|Ngày rằm tháng hai năm 1096, Hoàng Thái hậu Phù Thánh Cảm Linh Nhân đến chùa thiết lễ trai tăng và hỏi ý nghĩa Phật pháp, hỏi về các dòng thiền. Sư trả lời uyên thâm, thông suốt. Thái hậu hoan hỉ ban hiệu là Thông Biện Ðại sư và bái phong làm Quốc sư. Nội dung trả lời của Sư rất được các nhà nghiên cứu lịch sử Phật giáo sau này quan tâm, xem là thông tin quan trọng của thế kỉ thứ 12 về việc truyền thừa của đạo Phật tại Việt Nam. Sư được xem là một trong những tác giả của Thiền uyển tập anh, một quyển sách rất quan trọng của Thiền tông Việt Nam.|Nhờ sự giáo hoá của Sư, về sau Thái hậu cũng là người ngộ đạo. Lúc tuổi cao, Sư về trụ trì chùa Phổ Minh, thường dạy người kinh Pháp hoa, nên có có hiệu là Ngô Pháp Hoa. Ngày rằm tháng hai năm Giáp Dần (1134), đời Lí Thần Tông, Sư lâm bệnh rồi tịch.
Thong dong lục 從容錄; C: cóngróng-lù; J: shōyō-roku;|Tên của một tập Công án, được hai vị Thiền sư Hoằng Trí Chính Giác và Vạn Tùng Hành Tú (萬松行秀; c: wànsōng xíngxiù, 1166-1246) biên soạn trong thế kỉ 12.|Tập công án này được biên soạn vài thập niên sau Bích nham lục của Thiền sư Viên Ngộ Khắc Cần. Thiền sư Hành Tú sử dụng 100 tắc công án và kệ tụng của sư Chính Giác dưới tên Tụng cổ bách tắc làm căn bản và thêm vào Trước ngữ, Bình xướng và vì vậy, mỗi tắc bao gồm 5 phần. Sư sử dụng tập này để dạy tăng chúng tại am Thung Dung (cũng đọc Thong Dong) và vì vậy tập công án này được truyền lại dưới tên này. Năm tắc được trích từ trong kinh sách, phần còn lại là những pháp thoại của các vị Thiền sư đời Ðường, thuộc về Ngũ gia thất tông. Tập này được xuất bản đầu tiên năm 1224, gần một thế kỉ sau Bích nham lục. Hơn hai phần ba của Thong dong lục trùng hợp với Bích nham lục và Vô môn quan và có lẽ vì vậy mà tập này ít được nhắc đến.
Thông Giác Thuỷ Nguyệt 通覺水月; 1637-1704|Thiền sư Việt Nam, thuộc tông Tào Ðộng truyền sang miền Bắc, pháp hệ thứ 36. Sư nối pháp Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo và truyền lại cho đệ tử là Chân Dung Tông Diễn.|Sư họ Ðặng, quê ở Thanh Triều, huyện Ngự Thiên, phủ Tiên Hưng. Sư trước học Nho giáo nhưng không hài lòng. Năm 20 tuổi, Sư xuất gia cầu đạo, vân du khắp nơi nhưng không tìm được nơi khế hợp. Sau, Sư quyết chí sang Trung Quốc tu học.|Chuyến du học này gặp đầy trở ngại, một trong hai đệ tử đi theo lâm bệnh, mất giữa đường và khi đến núi Phụng Hoàng, Sư phải ở ngoài chờ ba tháng mới vào được cổng chùa yết kiến Thiền sư Nhất Cú Tri Giáo.|Nhất Cú gặp Sư hỏi: »Trước khi cha mẹ sinh, trong ấy thế nào là Bản lai diện mục của ngươi?« Sư thưa: »Mặt trời sáng giữa hư không.« Nhất Cú bảo: »Ba mươi gậy, một gậy không tha«, và cho phép Sư nhập chúng.|Sáu năm trôi qua, một hôm, Nhất Cú gọi Sư vào Phương trượng hỏi: »Ðã Kiến tính chưa?« Sư lễ bái và trình kệ:|Viên minh thường tại thái hư trung|Cương bị mê vân vọng khởi long|Nhất đắc phong xuy vân tứ tán|Hằng sa thế giới chiếu quang thông.|*Sáng tròn thường ở giữa hư không|Bởi bị mây mê vọng khởi lồng|Một phen gió thổi mây tứ tán|Thế giới hà sa sáng chiếu thông.|Nhất Cú đưa tay điểm vào đầu Sư, ban hiệu là Thông Giác Ðạo Nam Thiền sư và nói kệ sau để truyền tông Tào Ðộng tại Việt Nam:|Tịnh trí thông tông, từ tính hải khoan|Giác đạo sinh quang, chính tâm mật hạnh|Nhân đức vi lương, huệ đăng phổ chiếu|Hoằng pháp vĩnh trường.|Nhất Cú căn dặn: »Ngươi về nên tinh tiến làm Phật sự, giảng thuyết đề cao chính pháp, không nên chần chờ để tâm theo vọng trần, trái lời Phật, Tổ dặn dò. Ngươi thành tâm đi muôn dặm đến đây nay ta cho một bài kệ để gắng tiến:|Quế nham suy phức tục truyền đăng|Thu nhập trường không quế bích đằng|Trì nhĩ viên lai khai bảo kính|Từ dư quy khứ thị kim thằng|Thuỵ thâm Phượng lĩnh thiên trùng tuyết|Cáp thụ An Nam nhất cá tăng|Dạ bán cẩm hà sơn hậu khởi|Hạo tòng thiên tế thức tăng hằng.|*Rừng quế gương xưa đền nối sáng|Thu về đâu đấy ngát mùi hương|Vì người xa đến treo gương báu|Từ biệt ta về chỉ đạo Thiền|Ai vào núi Phụng nghìn trùng tuyết|Dường có An Nam một vị tăng|Nửa đêm áo gấm ra sau núi|Như ở chân trời thấy mặt trăng«.|Từ biệt thầy, Sư cùng với đệ tử trở về Việt Nam. Về đến Việt Nam, Sư đi khắp các thắng cảnh như Yên Tử, Quỳnh Lâm và sau, Sư dừng chân tại Ðông Sơn ở huyện Ðông Triều, trụ tại chùa Hạ Long. Dân chúng xa gần nghe danh Sư đều đến xin quy y, tăng chúng đua nhau đến tham học.|Sắp tịch, Sư gọi Tông Diễn đến nói kệ:|Thuỷ xuất đoan do tẩy thế trần|Trần thanh thuỷ phục nhập nguyên chân|Dữ quân nhất bát cam lộ thuỷ|Bái tác ân ba độ vạn dân.|*Nước cốt tuôn ra rửa bụi trần|Sạch rồi nước lại trở về chân|Cho ngươi bát nước cam lộ quý|Ân tưới chan hoà độ vạn dân.|Sau, Sư nói kệ truyền pháp:|山織錦水畫圖。玉泉涌出白酡酥|岸上黃花鶯弄語。波中碧水鰈群呼|月白堂堂魚父醉。日紅耿耿繭婆晡|Sơn chức cẩm thuỷ hoạ đồ|Ngọc tuyền dũng xuất bạch đà tô|Ngạn thượng hoàng hoa oanh lộng ngữ|Ba trung bích thuỷ điệp quần hô|Nguyệt bạch đường đường ngư phủ tuý|Nhật hồng cảnh cảnh kiển bà bô.|*Núi dệt gấm, nước vẽ hình|Suối ngọc chảy, tuôn rượi đà tô|Bờ cúc nở hoa hoàng oanh hót|Nước trong sóng biếc cá điệp nhào|Trăng sáng rỡ ràng ông chài ngủ|Trời soi rừng rực kén nằm nhơ.|Nói kệ xong, Sư bảo: »Nay ta lên chơi trên núi Nhẫm Dương. Nếu bảy ngày không trở về, các ngươi tìm thấy chỗ nào có mùi thơm là ta ở đấy.« Chúng bùi ngùi mà không dám theo. Sau đúng bảy ngày, chúng cùng nhau đi tìm thì nghe gió thổi mùi hương ngào ngạt, thấy Sư ngồi kết già trên một tảng đá trong hang. Bấy giờ là ngày 6 tháng 3 năm Giáp Thìn, niên hiệu Chính Hoà thứ 20 đời vua Lê Hi Tông.
Thông Huyễn Tịch Linh 通幻寂靈; J: tsūgen jakurei; 1322-1391; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (gasan jōseki, 1275-1365).|Trong năm vị đại đệ tử này thì Sư là thượng thủ. Lúc còn nhỏ Sư đã đọc Kinh và năm lên 17, Sư xuất gia cầu đạo. Ban đầu, Sư đến học với Thiền sư Minh Phong Tố Triết (1277-1350) tại chùa Ðại Thừa (daijō-ji). Nơi đây, Sư tu tập không kể ngày đêm và vì vậy được tăng chúng cũng như dân dã xung quanh tôn kính. Sau hơn mười năm tu tập với Minh Phong, Sư chuyển sang Tổng Trì tự (sōji-ji) tu học với Thiền sư Nga Sơn và ngay tại đây, Sư triệt ngộ và được Nga Sơn Ấn khả.|Song song với bạn đồng học Thái Nguyên Tông Chân (taigen sáshin, ?-1370), Sư rất thành công trong việc truyền bá dòng thiền Tào Ðộng. Sư khai sáng và trụ trì nhiều thiền viện lớn và nhiều thiền sinh đến tham học dưới sự hướng dẫn của Sư – khắc khe nhưng nhiệt tình. Trong số các vị đệ tử thì Liễu Am Huệ Minh (了菴慧明; j: ryōan emyō) trội hơn hết. Liễu Am lần lượt trụ trì Tổng Trì tự, Vĩnh Trác tự (yōtaku-ji) và sau khai sáng Tối Thừa tự (saijō-ji) tại Sagami.
Thông Thiền 通禪; ?-1228|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông pháp hệ thứ 13. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Thường Chiếu và truyền lại cho đệ tử là Tức Lự.|Sư họ Ðặng, quê ở làng Ốc, An La. Sư cùng Thiền sư Thần Nghi thờ Thường Chiếu làm thầy.|Một hôm, Sư vào thất hỏi: »Làm thế nào để biết rõ Phật pháp?« Thường Chiếu đáp: »Phật pháp không thể biết rõ, đây đâu có pháp để biết. Chư Phật như thế, tu tất cả pháp mà không thể được.« Sư nhân đây lĩnh ngộ ý chỉ.|Sau, Sư về cố hương trụ trì chùa Lưỡng Pháp, học chúng đến rất đông. Niên hiệu Kiến Trung thứ 4 đời Trần Thái Tông, Sư viên tịch.
Thủ 取; S, P: upādāna;|Là sự chấp giữ, lưu luyến vướng mắc làm loài Hữu tình cứ lẩn quẩn trong Vòng sinh tử. Ngũ uẩn chính là đối tượng của Thủ, cho nên người ta gọi Thủ là Uẩn thủ. Theo Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), Ái (s: tṛṣṇā) là lòng ái dục sinh Thủ (ở đây là sự ham muốn được có thân, tìm cha mẹ) và Thủ lại sinh Hữu (bhava), tức là có đời sống mới.|Theo luận A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharma-kośa) thì có bốn loại Thủ: Dục thủ (欲取), Kiến thủ (見取; giữ những quan niệm sai lầm), Giới cấm thủ (戒禁取; ràng buộc nơi luật lệ, quy định) và Ngã luận thủ (我論取; chấp nơi một cái ta).
Thứ 次; C: cì; J: shi;|1. Tiếp theo, theo sau; người thứ hai; 2. Thứ bậc, theo thứ bậc; 3. Kém hơn, thấp hơn, thứ yếu; 4. Một lượt, một loạt, một quãng; 5. Một nơi, chỗ ngập ngừng. Đến, đạt đến; 6. Vị trí của mặt trời và mặt trăng.
Thụ 受; C: shòu; J: ju; S: vedanā.|Thuật ngữ Phật học tiếng Hán phiên dịch chữ vedanā từ tiếng Phạn, nghĩa là cảm giác; 1. Thụ uẩn, thành phần thứ hai trong Ngũ uẩn (五蘊); 2. Chi phần thứ 7 trong 12 nhân duyên; 3. Đón nhận, trải qua, kết quả của nghiệp thiện và ác. Nhận chịu nghiệp quả (s: paribhoga; t: so sor myoṅ ba); 4. Kiềm chế, hạn chế, câu thúc, ràng buộc; 5. Nhận chịu sự tương tục của Ngũ uẩn.
Thụ bồ-đề tâm giới nghĩa 受菩提心戒義; C: shòupútíxīnjièyì; J: jubo-daishinkaigi; S: bodhicitta-śīlādānakalpa;|1 quyển. Bất Không (不空) dịch, có lẽ do Nhất Hạnh (一行) sưu tập. Nội dung chính là sự thụ giới theo nghi thức của Kim Cương thừa (s: vajrayāna).
Thư đạo 書道; J: shodō; cũng gọi là Thư pháp;|Nghệ thuật viết chữ; một trong những tu tập đạo của giới hâm mộ thiền Nhật Bản. Thư đạo được xem là nghệ thuật cốt tuỷ của tất cả các nghệ thuật bởi vì nơi đây, tâm trạng của nghệ sĩ được thể hiện một cách rõ ràng, hoàn thiện. Trong Thư đạo, người ta không chủ ý đến việc »viết đẹp« mà muốn gói gém vào tác phẩm một tâm trạng, một biểu tượng cô đọng của nghệ thuật, của cuộc sống. Những đặc điểm của Thư đạo nêu trên người ta có thể tìm thấy ở những Mặc tích, »dấu mực«, những tác phẩm được xem là tiêu biểu nhất của nghệ thuật này.
Thứ đệ 次第; C: cìdì; J: shidai; S: krama. |Một trong 24 pháp tâm bất tương ưng hành theo giáo lí Duy thức. Khả năng thiết lập tạm thời của các pháp hữu vi trong tiến trình sinh diệt của chúng, theo trật tự trước sau liên quan đến nhân quả, có nghĩa: đặc tính của các pháp là sinh khởi và hoại diệt không đồng thời.
Thứ đệ duyên 次第縁; C: cìdìyuàn; J: shidaien; |Nhân duyên tiếp nối trước sau (s: anantara-pratyaya). Một trong Tứ duyên theo giáo lí Du-già hành tông, trong đó các hiện tượng có một trật tự trước sau nghiêm mật. Đây là thuật ngữ được Chân Đế dùng trong khi Huyền Trang dịch là Đẳng vô gián duyên (等無間縁)
Thụ dụng 受用; C: shòuyòng; J: juyū; |Có các nghĩa sau: 1. Nhận biết các cảnh trần qua các căn (giác quan). Trải qua (s: pratyu-pabhoga, upabhoga); 2. Tiếp nhận và sử dụng. Cách dùng; 3. Thưởng thức điều mình đang có; 4. Viết tắt của Thụ dụng thân (受用身), một trong các thân của Phật.
Thụ dụng thân 受用身; C: shòuyòng shēn; J: juyūshin; S: saṃ-bhogakāya; |Là kết quả của sự giác ngộ, hưởng niềm vui của chính pháp và giúp cho người khác cùng được hưởng. Là một trong các thân của chư Phật, đồng nghĩa với Báo thân (報身). Từ nầy thường có nghĩa là thân tiếp nhận và hưởng niềm vui của chính pháp cho chính mình. Còn thân giúp người khác có được niềm vui thì gọi là Tha thụ dụng thân (他受用身). Một trong Ba thân
Thụ giới 受戒; J: jukai;|Chỉ ngày lễ mà một người gia nhập Tăng-già, tự nguyện giữ Giới luật dành cho họ. Có nhiều loại giới, giới luật cho Cư sĩ, cho Tỉ-khâu (Cụ túc giới; p: upasampadā) v.v.
Thụ kí 受 (授) 記; C: shòujì; J: juki; S: vyākaraṇa.|Một người nhận lời báo trước của đức Phật rằng mình sẽ thành tựu huệ giác viên mãn trong tương lai (s: vyākaraṇa). Là 1 trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo. Thập nhị bộ kinh (十二部經).
Thủ-lăng-nghiêm tam-muội kinh 首楞嚴三昧經; S: śūraṅgama-samādhi-nirdeśa-sūtra; cũng được gọi ngắn là Thủ-lăng-nghiêm hoặc Lăng-nghiêm kinh;|Một bộ kinh Ðại thừa chỉ còn được lưu lại qua bản chữ Hán, nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) đã thất truyền. Kinh này ảnh hưởng quan trọng lên Phật giáo Ðại thừa tại Trung Quốc. Kinh nhấn mạnh tầm quan trọng của Ðịnh (samādhi) để đạt giác ngộ. Kinh giải thích nhiều phương pháp quán tính Không (s: śūnyatā), nhờ đó mà tu sĩ cũng như cư sĩ đạt được tâm giác ngộ của Bồ Tát. Kinh này rất được phổ biến trong Thiền tông.
Thụ quyết 受決; C: shòujué; J: juketsu; S: vyākaraṇa;|Cựu dịch từ chữ vyākaraṇa tiếng Phạn, có nghĩa sự nói trước tương lai sẽ thành Phật, do đức Phật truyền cho cho đệ tử. Về sau trong tiếng Hán thường dịch là Thụ kí (授記 hoặc 受記). cũng là một trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo. Thập nhị bộ kinh (十二部經).
Thụ sinh 受生; C: shòushēng; J: jushō; |Có các nghĩa sau: 1. Được sinh ra, tiếp nhận mệnh sống, trải qua cuộc sống (s: upapatti); 2. Được sinh ra trong đau khổ; 3. Bản sinh (s: jātaka), chuyện cuộc đời của Đức Phật, là 1 trong 12 thể loại của kinh điển Phật giáo.
Thủ Sơn Tỉnh Niệm 首山省念; C: shǒushān xǐngniàn; J: shuzan shōnen; 925-993;|Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, đệ tử xuất sắc nhất của Phong Huyệt Diên Chiểu. Sư là người gìn giữ tông Lâm Tế trước cơ nguy tàn lụi. Thiền sư Phong Huyệt đã tỏ nỗi lo rằng chính pháp của Lâm Tế sẽ thiên hoá cùng với mình vì không tìm được người nối dõi. Nhưng sau đó Sư đến hội Phong Huyệt và được ấn chứng. Trong thời loạn (hậu Ðường sang đời Tống), Sư ẩn cư không để lộ tung tích. Sau khi bình yên lại, Sư mới bắt đầu tụ chúng và giáo hoá. Sư có 16 truyền nhân, trong đó Phần Dương Thiện Chiêu xuất sắc nhất, người đã đưa Thiền tông lên hàng đầu trong các môn phái đạo Phật đời Tống.|Sư họ Ðịch, quê ở Lai Châu, xuất gia tại chùa Nam Thiền. Vừa thụ giới cụ túc xong, Sư diêu du khắp nơi và thường tụng kinh Pháp hoa nên Sư cũng có biệt danh là Niệm Pháp Hoa.|Sau, Sư đến pháp hội của Thiền sư Phong Huyệt và được cử làm Tri khách. Một hôm, Sư đứng hầu, Phong Huyệt than với Sư: »Bất hạnh! Ðạo Lâm Tế ta sắp chìm lặng vậy.« Sư nghe vậy thưa: »Xem trong đại chúng đâu không có người kế thừa Hoà thượng?« Phong Huyệt bảo: »Người thông minh thì nhiều, kẻ kiến tính rất ít.« Sư thưa: »Như con, Hoà thượng xem thế nào?« Phong Huyệt bảo: »Ta tuy trông mong ở ngươi đã lâu nhưng vẫn e ngại đắm mến kinh này không thể buông rời.« Sư thưa: »Việc này có thể làm được, mong nghe yếu chỉ ấy.« Phong Huyệt thượng đường, nhắc lại việc đức Phật dùng cặp mắt như sen xanh nhìn đại chúng, bèn hỏi: »Chính khi ấy hãy bảo nói cái gì? Nếu bảo chẳng nói mà nói, lại là chôn vùi thánh trước. Hãy bảo nói cái gì?« Sư liền phủi áo đi ra. Phong Huyệt ném gậy trở về phương trượng. Thị giả chạy theo Phong Huyệt hỏi: »Niệm Pháp Hoa sao chẳng đáp lời Hoà thượng?« Phong Huyệt bảo: »Niệm Pháp Hoa đã hội.«|Sư đến Thủ Sơn trụ trì. Ngày khai đường có vị tăng hỏi: »Thầy xướng gia khúc tông phong ai, Nối pháp người nào?« Sư đáp: »Thiếu Thất trước núi xem bàn tay.« Tăng hỏi: »Lại thỉnh hồng âm hoà một tiếng?« Sư đáp: »Như nay cũng cần toàn thể biết.«|Sư dạy chúng: »Phật pháp không nhiều, chỉ vì nơi các ông tự tin chẳng đến. Nếu các ông tự tin thì ngàn vị Thánh ra đời cũng không làm gì được các ông. Vì sao như thế? Vì trước mặt các ông không có chỗ mở miệng. Chỉ vì các ông không có tự tin, chạy ra ngoài tìm cầu. Sở dĩ đến được trong ấy bèn là Phật Thích-ca, sẽ cho các ông ba mươi gậy. Tuy nhiên như thế, kẻ sơ cơ hậu học vào bằng đạo lí nào? Hãy hỏi các ông được cùng ấy hay chưa?« Sư im lặng giây lâu nói tiếp: »Nếu được cùng ấy mới là vô sự.«|Một giai thoại của Sư được nhắc lại trong Vô môn quan, Công án 43. Sư giô gậy trúc lên nói: »Này các ông, nếu gọi là gậy trúc thì xúc phạm, không gọi là gậy trúc thì trái nghịch, vậy gọi là gì?«|Ðời Tống, niên hiệu Thuần Hoá năm thứ ba (992), giờ Ngọ ngày mùng 4 tháng chạp, Sư nói kệ:|Kim niên lục thập thất|Lão bệnh tuỳ duyên thả khiển nhật|Kim niên kí thước lai niên sự|Lai niên kí trước kim triêu nhật.|*Năm nay sáu mươi bảy|Già bệnh tuỳ duyên hãy đuổi theo|Năm nay ghi lại việc năm tới|Năm tới ghi chắc việc ngày nay.|Ðến năm sau đúng ngày giờ nói trước, Sư từ biệt chúng và nói kệ:|Chư tử mạn ba ba|Quá khước cơ Hằng hà|Quan Âm chỉ Di-lặc|Văn-thù bất nại hà?|*Các con dối lăng xăng|Lỗi nhiều cát sông Hằng|Quan Âm chỉ Di-lặc|Văn-thù biết làm sao?|Sau khi im lặng giây lát, Sư lại nói kệ:|Bạch ngân thế giới kim sắc thân|Tình dữ phi tình cộng nhất chân|Minh ám tận thời câu bất chiếu|Nhật luân ngọ hậu kiến toàn thân.|*Thế giới bạch ngân thân sắc vàng|Tình với phi tình một tính chân|Tối sáng hết rồi đều chẳng chiếu|Vầng ô vừa xế thấy toàn thân.|Mặt trời vừa xế, Sư ngồi yên thị tịch, thọ 68 tuổi.
Thụ thập thiện giới kinh 受十善戒經; C: shòu shíshànjiè jīng; J: ju jū-zenkai kyō; |Kinh, 1 quyển. Dịch giả khuyết danh.
Thụ thức 受識; C: shòushì; J: jushiki; |Thức trải qua các kinh nghiệm, thường được gọi là Chuyển thức (轉識). Bảy thức khác bên cạnh Duyên thức (縁識), đồng nghĩa với Tạng thức (藏識; theo Nhiếp đại thừa luận 攝大乘論).
Thụ trì 受持; C: shòuchí; J: juji; |Có các nghĩa sau: 1. Tiếp nhận và ghi nhớ lời dạy; nhận và giữ lấy; ghi nhận và tán trợ (s: dhārayati, dhāraṇa); 2. Tiếp nhận và mặc y phục tuỳ theo từng nghi lễ riêng biệt.
Thụ trì thất Phật danh hiệu kinh 受持七佛名號經; C: shòuchí qīfó mínghào jīng; J: juji shichibutsu myōgō kyō; |Tên gọi khác của Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh (受持七佛名號所生功德經).
Thụ trì thất Phật danh hiệu sở sinh công đức kinh 受持七佛名號所生功德經; C: shòuchí qī-fó mínghào suŏshēng gōngdé jīng; J: juji shi-chibutsu myōgō shoshō kudoku kyō; |Còn gọi là Thụ trì thất Phật danh hiệu kinh (受持七佛名號經), Thất Phật danh hiệu công đức kinh (七佛名號功德經), Thất Phật danh kinh (七佛名經). 1 quyển. Với nội dung đức Phật nói về danh hiệu và công đức của bảy vị Phật cho Xá-lợi-phất. Huyền Trang dịch năm 651.
Thụ uẩn 受蘊; C: shòuyùn; J: ju-un; S: vedanā-skandha.|Một trong Ngũ uẩn (五蘊). Là một chức năng của tâm, tiếp nhận cảm giác từ ngoại cảnh. Theo giáo lí phân tích tâm sở hữu pháp của Duy thức tông, thụ uẩn bao gồm những yếu tố của chức năng cảm thụ qua giác quan.
Thừa 乘; C: shèng; J: jō; S: yāna; cũng đọc »Thặng«;|1. Lợi dụng; trèo lên, đi lên, lên (ngôi); đi (bằng phương tiện giao thông); 2. Phép nhân; 3. Cỗ xe bốn ngựa kéo; 4. Đồng hồ đo tốc độ xe; 5. Xe; 6. Giáo lí nhà Phật.|Trong Phật giáo, danh từ này đã có từ thời Tiểu thừa, quan niệm giáo pháp là »xe« đưa người tới Giác ngộ. Các cỗ xe khác nhau vì mỗi chặng đường đi có những quan niệm khác nhau, chủ tâm của hành giả và phương tiện đến mục đích cũng khác nhau. Theo Phật giáo Tây tạng thì sự lựa chọn cỗ xe nào là tuỳ căn cơ của hành giả và tuỳ trình độ của đạo sư. Người ta phân biệt ba thừa: Tiểu thừa, Ðại thừa và Kim cương thừa. Theo Kim cương thừa, thì cả ba thừa đều có thể được thực hành đồng thời, quan diểm này được gọi là Nhất thừa (s: ekayāna).|Trong giai đoạn đầu của sự phát triển Phật giáo tại Tây Tạng, người ta phân chia các Thừa theo nhiều cách, trong đó quan điểm »chín thừa« được trường phái Ninh-mã (t: nyingmapa) đại diện và được nhóm Ri-mê chấp nhận trong thế kỉ thứ 19. Theo quan điểm này thì Hiển giáo gồm có 3 thừa như sau: 1. Thanh văn thừa, 2. Ðộc giác thừa, 3. Bồ Tát thừa. Ðó là cách chia theo Tiểu thừa và Ðại thừa. Còn trong Mật giáo lại chia làm hai: Ngoại Tan-tra và Nội tan-tra. Ngoại tan-tra là ba loại Tan-tra được mọi trường phái Mật tông chấp nhận, đó là: 4. Tác tan-tra, 5. Hành tan-tra và 6. Du-già tan-tra. Theo phái Ninh-mã lại có thêm ba phép Nội tan-tra nữa, là ba phép Tan-tra cao nhất, đó là: 7. Ma-ha du-già (mahā-yoga), 8. A-nậu du-già (s: anu-yoga) và 9. A-tì du-già (atiyoga đồng nghĩa với dzogchen, Ðại cứu kính). Theo quan điểm của phái Ninh-mã thì ba thừa đầu tiên (Thanh văn, Ðộc giác, Bồ Tát) do đức Thích-ca truyền lại, đó là Ứng thân (s: nirmāṇakāya, xem Ba thân) của Pháp giới. Ba Ngoại tan-tra là do Báo thân chân truyền (xem Kim cương Tát-đoá). Ba Nội tan-tra là do Phổ Hiền (s: saman-tabhadra) chân truyền và Phổ Hiền là hiện thân của Pháp thân. Vì thế, theo quan điểm của Ninh-mã thì Bồ Tát không phải qua Thập địa mà phải qua 16 cấp bậc tu học, vì thật sự không phải ba thừa mà chín thừa.
Thừa giới 乘戒; C: shèngjiè; J: jōkai;|Thừa nghĩa là giáo pháp giúp người giác ngộ, giới là những điều luật giúp người phòng tránh các việc ác. Hai từ nầy được dùng chung với nhau để chỉ bốn loại giới thứ thông dụng, gọi là Giới thừa tứ cú (戒乘四句).
Thức 識; S: vijñāna; P: viññāṇa; J: shiki;|1. Một thuật ngữ quan trọng trong Phật pháp chỉ sự »nhận biết.« Có sáu thức thông thường gồm năm thức của năm giác quan và ý thức. Ðó là hoạt động tâm lí sau khi giác quan (căn) tiếp xúc với đối tượng (trần), thức được sinh ra. Thức là một yếu tố của Ngũ uẩn và là yếu tố thứ 3 trong Mười hai nhân duyên.|Thức là »giác quan« tâm lí, ở đây được xem là ngang hàng với năm giác quan kia nhằm tránh quan niệm cho rằng thức chính là cái chứa đựng cái »Ta«, một cái gì độc lập thường hằng. Thức chỉ là một yếu tố tạo nên cái mà ta tưởng là một con người mà thật chất con người đó chỉ là sự cảm nhận giả hợp (xem thêm Tâm sở). Ðặc biệt là trong Duy thức tông, người ta phân biệt tám loại thức khác nhau (Pháp tướng tông).|2. Theo Ấn Ðộ giáo thì »vijñāna« là trạng thái cao nhất của kinh nghiệm giác ngộ, trong đó, Bậc giác ngộ không trực nhận Chân lí (s: brahman) ở một trạng thái định (s: samādhi) riêng biệt nào đó mà trực nhận nó ngay ở trong thế giới hiện hữu. Ðối với ông ta thì thế giới chính là hiện thân của cái Chân lí đó. Hệ thống Vê-đan-ta (s: vedānta) gọi trạng thái này là »Nhìn Chân lí với cặp mắt mở to« và người đạt trạng thái này được gọi là một »Vijñānin.«
Thương 傷; C: shāng; J: shō;|Có hai nghĩa: 1. Vết thương, bị thương; 2. Đau khổ thể xác và tinh thần – đặc biệt là đau khổ về tinh thần hay sự xúc cảm.
Thường Chiếu 常照; ?-1203|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái thiền Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 12. Sư kế thừa Thiền sư Quảng Nghiêm và truyền pháp lại cho Thông Thiền và Thần Nghi.|Sư họ Phạm, quê ở làng Phù Ninh. Ðời vua Lí Cao Tông, Sư có giữ một chức quan nhưng sau đó từ chức, xuất gia tu học với Thiền sư Quảng Nghiêm ở chùa Tịnh Quả. Trong hội Quảng Nghiêm, Sư là người đứng đầu chúng và ở lại hầu thầy nhiều năm.|Rời Quảng Nghiêm, Sư đến phường Ông Mạc trụ trì một ngôi chùa cổ nhưng sau lại dời về chùa Lục Tổ ở làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Học chúng quy tụ về ngày càng đông. Danh tiếng Sư vang khắp tùng lâm.|Ngày 24 tháng 9 niên hiệu Thiên Gia Bảo Hựu thứ hai, Sư có chút bệnh gọi chúng lại nói kệ phó chúc:|道本無顏色。新鮮日日誇|大天沙界外。何處不爲家|Ðạo bản vô nhan sắc|Tân tiên nhật nhật khoa|Ðại thiên sa giới ngoại|Hà xứ bất vi gia.|*Ðạo vốn không màu sắc|Ngày ngày lại mới tươi|Ngoài đại thiên sa giới|Chỗ nào chẳng là nhà.|Nói xong, Sư ngồi Kết già thị tịch.
Thượng địa 上地; C: shàngdì; J: jōchi, jōji; S: upari-bhūmi.|Cảnh giới cao trong công phu tu tập, cảnh giới cao của tâm thức Hạ địa (下地; theo Du-già luận 瑜伽論)
Thượng giới 上界; C: shàngjiè; J: jōkai;|1. Sắc giới, Vô sắc giới, không kể Dục giới (theo Du-già luận 瑜伽論); 2. Viết tắt của Thiên thượng giới (天上界), cõi trời phía trên; 3. Cảnh giới của chư thiên ở các cõi trời như Nhân-đà-la (s: śakra) hay Đế-thích (s: indra).
Thượng hạ bát đế 上下八諦; C: shàngxiàbādì; J: jōgehachitai;|Tám chân lí (bát đế 八諦) trên và dưới. Bốn chân lí trên thuộc về Sắc giới (色界) và Vô sắc giới (無色界); bốn chân lí dưới thuộc về Dục giới (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Thượng hành 上行; C: shàngxíng; J: jōgyō;|1. Đi về hướng trên. Đi ngược dòng về phía trên, có khuynh hướng ngược dòng để lên phía trên; 2. Công hạnh của một chúng sinh căn cơ bậc thượng. Công hạnh cao tột; 3. Tên của một vị Bồ Tát trong kinh Pháp Hoa.
Thương-na Hoà-tu 商那和修; S: śānavāsin;|Tổ thứ 3 của Thiền tông Ấn Ðộ
Thượng phẩm 上品; C: shàngpǐn; J: jōbon;|Tầng lớp trên, thứ bậc trên. Thường dùng để nói đến căn cơ của hành giả. Đối nghịch với Trung phẩm (中品) và Hạ phẩm (下品).
Thượng phiền não 上煩惱; C: shàngfánnăo; J: jōbonnō;|1. Trạng thái cường thịnh của căn bản phiền não; 2. Phiền não hiện hành (theo Khởi tín luận 起信論, Thắng-man kinh 勝鬘經).
Thượng sinh 上生; C: shàngshēng; J: jōshō;|Tái sinh ở trong cõi tốt lành hơn. Chẳng hạn tái sinh vào Sắc giới thay vì Dục giới.
Thượng sinh kinh 上生經; C: shàngshēng jīng; J: jōshō kyō;|Viết tắt của Di-lặc thượng sinh kinh (彌勒上生經).
Thượng tâm 上心; C: shàngxīn; J: jōshin;|1. Trong Bồ Tát trì địa kinh (菩薩地持經), đây là trạng thái tinh thần của thiền định trong cõi trời Vô sắc (無色界天); 2. Thượng tâm phiền não (上心煩惱).
Thượng tâm hoặc 上心惑; C: shàngxīnhuò; J: jōshinwaku;|Thượng tâm phiền não.
Thượng tâm phiền não 上心煩惱; C: shàngxīn fánnăo; J: jōshin bon-nō;|Cũng viết Thượng tâm hoặc: 1. Theo trong Tam vô tính luận, phiền não tái sinh khởi sau khi trực quán được diệu đế; 2. Thượng phiền não.
Thượng thủ 上首; C: shàngshǒu; J: jōshu;|1. Cao quý nhất, quan trọng nhất; 2. Giai vị cao nhất, hoặc người đang trên giai vị đó. Người đứng đầu, lĩnh đạo, thủ lĩnh.
Thượng thượng phẩm 上上品; C: shàngshàngpǐn; J: jōjōhon;|Thứ nhất (thượng 上) trong hàng cao cấp nhất (thượng phẩm 上品). Bậc cao nhất trong chín hạng thường được đề cập trong kinh văn Phật giáo để phân loại các giới bằng phẩm lượng. Thuật ngữ nầy thường được dùng để nói đển căn cơ của chúng sinh (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論).
Thượng toạ 上座; C: shàngzuò; J: jōza; S: sthavira; P: the-ra;|I. Chỉ một người cao tuổi đã đạt bốn tiêu chuẩn sau: 1. Ðức hạnh cao; 2. Nắm vững tất cả giáo lí căn bản của Phật pháp; 3. Nắm vững các phép Thiền định; 4. Người đã diệt Ô nhiễm (s: āśrava), Phiền não (s: kleśa) và đạt Giải thoát (s: vimokṣa).|Danh hiệu Thượng toạ được dùng sau này không hẳn là theo tất cả các tiêu chuẩn trên, thường chỉ để dùng cho các Tỉ-khâu có danh tiếng, cao tuổi hạ (Hoà thượng).|II. Trong Thiền tông, là danh hiệu kính cẩn để gọi thầy của mình; |III. Chỉ cho Thượng toạ bộ.
Thượng toạ bộ 上座部; C: shàngzuòbù; J: jōzabu; S: sthavira-vāda; P: theravāda;|Trường phái thuộc Trưởng lão bộ (s: sthavi-ravāda), xuất phát từ Phân biệt bộ (s: vibhajyavādin), do Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (p: moggaliputta tissa) thành lập (Kết tập). Phái này được Ma-hi-đà đưa về Tích Lan năm 250 trước Công nguyên và được các sư tại Ðại Tự (mahāvihāra) tu tập. Về giới luật cũng có nhiều bất đồng trong nội bộ phái Thượng toạ bộ. Ngày nay Thượng toạ bộ được lưu hành tại các nước Tích Lan, Miến Ðiện, Thái Lan, Campuchia và Lào.|Thượng toạ bộ là trường phái Tiểu thừa duy nhất còn lưu lại đến ngày nay, tự xem là dạng Phật giáo nguyên thuỷ nhất. Thượng toạ bộ cho rằng các kinh điển viết bằng văn hệ Pā-li của mình là ngữ thuyết của chính đức Phật (Tam tạng). Giáo pháp của Thượng toạ bộ chủ yếu gồm Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Mười hai nhân duyên và thuyết Vô ngã. Thượng toạ bộ nhấn mạnh khả năng từng người tự giải thoát bằng cách kiên trì giữ giới luật và sống một cuộc đời phạm hạnh. Hình ảnh cao quý của Thượng toạ bộ là A-la-hán. Giáo pháp của Thượng toạ bộ có khuynh hướng phân tích, trong đó A-tì-đạt-ma (s: abhidharma) đóng một vai trò quan trọng. Ngoài ra bộ Thanh tịnh đạo (p: visuddhi-magga) và Di-lan-đà vấn đạo kinh (p: milinda-pañha) cũng rất được phổ biến. Luận sư xuất sắc của Thượng toạ bộ là Phật Âm (p: buddhagosa), Hộ Pháp (p: dhammapāla), A-na-luật (anuruddha) và Phật-đà Ðạt-đa (buddhadatta).
Thương-yết-la-chủ 商羯羅主; C: shāngjiéluózhŭ; J: shōkarashu; S: śaṃkarasvāmin|Nhà luận lí học Ấn Độ vào cuối thế kỉ thứ 6. Sư là đệ tử của Trần-na (s: dignāga) và là tác giả của Nhân minh nhập chính lí luận (因明入正理論, s: nyāyapraveśa-śāstra), một trong những tác phẩm chủ yếu về luận lí học ở Đông á.
Thuỳ 垂; C: chuí; J: sui;|Có các nghĩa sau: 1. Treo lơ lững, rủ xuống, cúi xuống, hạ xuống, lòng thòng; 2. Chùng xuống, nhỏ từng giọt, chảy từng giọt; 3. Để lại, di tặng, ban cho; 4. Đến sát gần; kết thúc; 5. Chiếu cố; có thiện chí.
Thuỷ 水; C: shuĭ; J: sui;|Nước, sông, biển hay đại dương. Một trong Tứ đại (四大).
Thuỷ nga 水鵝; C: shuĭé; J: suiga; |Ngỗng chúa (s: haṃsa), có khả năng rút sữa từ trong nước ra để uống.
Thuỵ Nham Sư Ngạn 瑞巖師彥; C: ruìyán shīyàn; J: zuigan shigen; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát.|Sư họ Hứa, quê ở Mân Việt, xuất gia từ nhỏ. Sư đến tham vấn Nham Ðầu, hỏi: »Thế nào là lí bản thường?« Nham Ðầu đáp: »Ðộng.« Sư thưa: »Khi động thế nào?« Nham Ðầu đáp: »Chẳng phải lí bản thường.« Sư trầm ngâm dây lâu. Nham Ðầu bảo: »Chấp nhận tức chưa khỏi căn trần, chẳng chấp nhận tức hằng chìm sinh tử.« Nghe câu này, Sư lĩnh hội.|Sư đến Ðan Khưu, suốt ngày ngồi trên bàn đá làm như kẻ ngu, hàng ngày tự gọi: »Ông chủ!« Rồi tự đáp: »Dạ.« Lại nói: »Tỉnh táo nhé!« Tự đáp: »Dạ.« Lại nói: »Mai kia mốt nọ đừng để người gạt!« Rồi tự đáp: »Dạ, dạ« (Vô môn quan, công án 12).|Một hôm, có bà lão đến lễ Sư. Sư bảo: »Bà về mau cứu mấy ngàn sinh mệnh.« Bà lão về đến nhà, thấy con dâu xách một giỏ ốc từ ngoài đồng mang về. Bà liền đem xuống hồ thả hết.|Không biết Sư tịch ở đâu, lúc nào.
Thuỷ thần 水神; C: shuĭshén; J: suijin; S: varuṇa. |Thuỷ thiên (水天).
Thuỷ thiên 水天; C: shuĭtiān; J: suiten;|Là Varuṇa trong thần thoại Ấn Độ. Là 1 vị thần lão luyện trong tín ngưỡng Vệ-đà, nhân cách hoá của Thượng đế, là đấng sáng tạo và giữ gìn vũ trụ. Sau trở thành chuá tể cuả các thần mặt trời, rồi thành thần của sông biển. Còn được dịch là Thuỷ thân (水神) và Thuỷ vương (水王). Phiên âm là Hoà luân (和輪) và Bà-lâu-na (婆樓那).
Thuỷ tinh 水晶(精); C: shuĭjīng; J: suishō; S: sphaṭika. |Pha lê, là một trong bảy thứ châu báu (Thất bảo 七寶).
Thuý Vi Vô Học 翠微無學; C: cuìwēi wúxué; J: suibi mugaku; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðan Hà Thiên Nhiên. Sử sách không ghi lại nhiều về Sư, chỉ kể lại là Sư hoằng hoá giống như thầy mình là Ðan Hà, chẳng để ý gì đến tục lệ, chẳng coi trọng hiểu biết sách vở, chỉ tuỳ cơ dạy chúng nên tự xưng mình là Vô Học. Sư có năm người nối pháp và một trong những người đó là Thiền sư Ðầu Tử Ðại Ðồng.
Thuỷ vương 水王; C: shuĭwáng; J: suiō; S: varuṇa. |Thuỷ thiên (水天).
Thuyên ngư 筌魚; J: sengyo; là cái nơm cá; |Một biểu thị thường được sử dụng trong Thiền tông, vốn xuất phát từ Trang Tử, một hiền triết của Ðạo giáo. Trang Tử viết như sau trong Trang Tử nam hoa chân kinh (Nguyễn Duy Cần dịch):|筌者所以在魚。得魚而忘筌。蹄者所以在兔。得兔而忘蹄。言者所以在意。得意而忘言。吾安得夫忘言之人而與之言哉|Thuyên giả sở dĩ tại ngư, đắc ngư nhi vong thuyên. Ðề giả sở dĩ tại thố, đắc thố nhi vong đề. Ngôn giả sở dĩ tại ý, đắc ý nhi vong ngôn. Ngô an đắc phù vong ngôn chi nhân nhi dữ chi ngôn tai.|*Có nơm là vì cá, đặng cá hãy quên nơm. Có dò là vì thỏ, đặng thỏ hãy quên dò. Có lời là vì ý, đặng ý hãy quên lời. Ta sao tìm đặng người biết quên lời hầu cùng ta bàn luận!|Như vậy có nghĩa là: hành giả không nên bám chặt vào văn tự và phương pháp bởi vì mục đích không nằm trong đó. Chúng chỉ là những phương tiện nhất thời nhằm hướng dẫn hành giả vượt qua nó để đạt đến đích. Vì thế nên mọi người đều phải quên đi những phương tiện này để có thể trực chứng được đạo, để đạo có cơ hội tự hiển hiện. Chính đức Phật cũng khuyên các đệ tử không nên bám vào ngón tay chỉ trăng mà cho nó là sự thật. Cái nơm của Trang Tử và ngón tay chỉ trăng của đức Phật được nêu ra là cũng vì những lí do trên. Thuyết »Bất lập văn tự« của Thiền tông được lập ra chính là dựa trên cơ sở này.
Thuyền Tử Ðức Thành 船字德誠; C: chuánzǐ déchéng; J: sensu tokujō; tk. 8-9;|Thiền sư Trung Quốc, đạt yếu chỉ nơi Dược Sơn Duy Nghiễm. Sư chỉ có một người đệ tử ngộ đạo là Giáp Sơn Thiện Hội.|Sư là người tiết tháo độ lượng, làm bạn cùng với Ðạo Ngô Viên Trí và Vân Nham Ðàm Thạnh. Sau khi từ giã thầy và hai bạn, Sư đến bến Hoa Ðình ở sông Ngô Tú Châu sắm thuyền đưa người qua sông. Người ở đó không biết tung tích Sư nên gọi là Hoà thượng Thuyền Tử. Thiền sư Thiện Hội nhân được Ðạo Ngô mách đến yết kiến Sư. Vừa thấy đến Sư liền hỏi: »Ðại đức trụ trì nơi nào?« Thiện Hội đáp: »Chùa tức chẳng trụ, trụ tức chẳng giống.« Sư hỏi: »Chẳng giống, giống cái gì?« Thiện Hội đáp: »Chẳng pháp trước mắt.« Sư hỏi: »Ở đâu học được nó?« Thiện Hội trả lời: »Chẳng phải chỗ tai mắt đến.« Sư cười bảo: »Một câu dù lĩnh hội, muôn kiếp cọc cột lừa. Thả ngàn thước tơ ý đầm sâu, lìa lưỡi câu ba tấc, nói mau! Nói mau!« Thiện Hội vừa mở miệng bị Sư đánh một chèo té xuống nước. Vừa mới leo lên thuyền Sư lại thúc: »Nói mau! Nói mau!« Thiện Hội vừa mở miệng lại bị Sư đánh. Thiện Hội hoát nhiên đại ngộ.|Sư căn dặn Thiện Hội: »Ngươi ra đi phải tìm chỗ ẩn thân mất dấu vết, chỗ mất dấu vết chớ ẩn thân. Ta ba mươi năm ở Dược Sơn chỉ sáng tỏ việc này. Nay ngươi đã được nó, sau chớ ở chỗ xóm làng thành thị, nên vào trong núi sâu bên cạnh đồng để tìm lấy trọn một cái, nửa cái còn lại không thể đoạn đứt.«|Ngay sau khi Ấn khả cho Thiện Hội, Sư tự lật úp thuyền viên tịch.
Tì 毘; C: pí; J: bi;|1. Giúp đỡ, trợ giúp; 2. Liệng bỏ; 3. Dùng để kí âm »vi« (वि) trong tiếng Phạn.
Tì-bà-sa 毘婆沙; C: pípóshā; J: bibasha;|Phiên âm chữ vibhāṣā trong tiếng Phạn, có nghĩa là sự chọn lựa, hoặc cái nầy hay cái kia. Một lối diễn dịch rộng hơn và giải thích khác hơn.
Tì-bà-sa bộ 毘婆娑部; S: vaibhāṣika; nguyên ngĩa là »bộ phái của những người theo Tì-bà-sa luận«;|Một nhánh được thành lập sau của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Như danh hiệu nêu rõ, bộ phái này dựa trên hai tác phẩm A-tì-đạt-ma đại tì-bà-sa luận (s: abhi-dharma-mahāvibhāṣā) và Tì-bà-sa luận (vibhāṣā), có nhiều cống hiến cho A-tì-đạt-ma (abhidharma) của Nhất thiết hữu bộ.
Tì-bà-sa luận 毘婆沙論; C: pípóshā lùn; J: bibasharon; S: vibhāṣā-śāstra |Là một chuyên luận triết học của Ca-đa-diễn-ni tử (s: kātyāyanīputra). Những người theo Đại Tì-bà-sa luận (s: vaibhāṣika) vốn là đệ tử của phái Hữu bộ. A-tì-đạt-ma Đại Tì-bà-sa luận (阿毘達磨大毘婆沙論).
Tì-bà-xá-na 毘婆舍那; C: pípóshènà; J: bibashana;|Phiên âm từ chữ vipaśyanā trong tiếng Phạn và chữ vipassanā trong tiếng Pāli. Hán dịch là Quán. Là pháp thiền quán sát hay phân tích, thường được hiểu là bước kế tiếp trong pháp thiền Chỉ (s: śamatha) của Phật giáo.
Tì-bát-xá-na 毘鉢舎那; C: píbōshènà; J: bibasshana; |Còn gọi là Tì-bà-xá-na (毘婆舎那). Phiên âm chữ vipaśyanā trong tiếng Phạn, là pháp thiền quán chiếu hay phân tích theo giáo lí Phật pháp, đi cùng với pháp thiền Chỉ (止, s: śamatha).
Tì-câu-chi 毘倶胝; C: píjùzhī; J: biguchi; S: bhrukuṭi.|Một trong 37 vị Bồ Tát trong Thai tạng giới (胎藏界, s: garbha-dhātu)
Tì-da 毘耶; C: píyé; J: biya; S: vaiśāli|Quê hương của Duy-ma-cật (s: vimalakīrti).
Tì-da-khư-lê-na 毘耶佉梨那; C: píyéqūlínà; J: biyakyo-rina;|Phiên âm chữ vyākaraṇa trong tiếng Phạn, có nghĩa là sự báo trước tương lai sẽ thành Phật do Đức Phật bảo cho đệ tử, thường dịch là Thụ kí (授 [受] 記). Là một trong 12 thể loại truyền thống của kinh văn Phật giáo.
Tì-da quật 毘耶窟; C: píyé kū; J: biyakutsu; |»Trượng thất tại thành Tì-da«, chỉ cho căn phòng của Duy-ma-cật, trong văn học thiền thường dịch là phương trượng, »một trượng vuông« (tương đương 9 mét vuông). Đây là thuật ngữ chỉ cho sự kính trọng đối với nơi ở của vị trú trì, hay đối với chính vị trú trì một thiền viện.
Tì-đàm 毘曇; C: pítán; J: bidon;|1. Viết tắt từ Phiên âm chữ abhidharma, Phiên âm đầy đủ là A-tì-đàm (阿毘曇) và A-tì-đạt-ma (阿毘達磨), dịch nghĩa là Luận (論); 2. Thuật ngữ đề cập đến A-tì-đạt-ma Câu-xá luận (倶舍論, s: abhidharmakośa-bhāṣya); 3. Đề cập đến học thuật hoặc học giả Tiểu thừa.
Tì-đàm tông 毘曇宗; C: pítánzōng; J: bidonshū; |Tông theo học thuyết A-tì-đạt-ma. Một trong 13 tông phái Phật giáo Trung Hoa. Không thật sự là một tông phái Phật giáo đặc biệt thành lập ở Á Đông, nhưng đề cập đến những người chuyên tập trung nghiên cứu kinh luận của Nhất thiết hữu bộ, ví như Tạp A-tì-đàm tâm luận (雜阿毘曇心論).
Tỉ Duệ sơn 比叡山; J: hieizan;|Một ngọn núi gần Kinh Ðô (kyōto), nơi Ðại sư Tối Trừng (j: saichō) xây dựng Nhất Thừa Chỉ Quán viện (sau được đổi tên là chùa Diên Lịch) của tông Thiên Thai Nhật Bản vào thế kỉ thứ 9. Chùa này trở thành một trung tâm quan trọng của Phật giáo Nhật Bản trong thời trung cổ và đã từng đón nhiều Cao tăng của các trường phái khác như Chân ngôn tông (j: shingon) và Thiền tông (j: zen-shū).
Tỉ-khâu 比丘; S: bhikṣu; P: bhikkhu;|Danh từ chỉ một nam giới xuất gia, sống cuộc đời không nhà. Theo quan điểm nguyên thuỷ, chỉ có những người sống viễn li mới có thể đạt được Niết-bàn. Hoạt động chính của những vị này là thiền định và giảng dạy giáo pháp, không được thụ hưởng cuộc đời và chịu sống lang thang không nhà. Giới luật của tỉ-khâu là đời sống nghèo khổ, không vợ con và thực hành từ bi, được đề ra trong Luật tạng.|Cuộc sống cơ hàn của tỉ-khâu được thể hiện trong chiếc Tam y của các vị đó, gồm có ba phần (s: tri-cīvara) và do vải vụn kết lại. Vật dụng hàng ngày chỉ gồm bát khất thực, dao cạo, kim chỉ, đồ lọc nước và gậy kinh hành. Tỉ-khâu không được nhận tiền bạc hay các vật dụng khác. Thức ăn là do cúng dường, thuốc men chủ yếu là nước tiểu thú vật.|Ðầu tiên, tỉ-khâu thường sống một cuộc đời lang thang. Trong mùa mưa, các vị đó thường buộc phải an trú trong một tinh xá (精舍; s, p: vihāra). Lí do là vì nếu đi lại trong mùa mưa, các vị có thể gây tai hại cho động vật và cây cối. Vì vậy, các vị chỉ được rời tu viện vì lí do đặc biệt trong mùa này. Mùa An cư này được chấm dứt bằng buổi lễ Tự tứ (自恣; p: pravāraṇā), trong đó các vị cùng sống chung trong thời gian qua kiểm điểm lại lỗi lầm hay thiếu sót với nhau. Qua năm tháng, tỉ-khâu ít đi vân du, các vị sống nhiều trong các tu viện, tuy nhiên, tục đi hành hương chiêm bái vẫn còn được giữ đến ngày nay. Ngày nay, các tỉ-khâu phần lớn vẫn còn giữ tập tục như hồi đức Phật còn tại thế, nhưng mặt khác, họ phải thích nghi với đời sống xã hội và điều kiện địa lí. Ví dụ như các tỉ-khâu Trung Quốc thường hay làm công việc đồng áng, đó là điều mà tỉ-khâu ngày xưa không được làm vì sợ giết hại sinh mệnh côn trùng. Trong một vài trường phái của Tây Tạng và Nhật Bản, tỉ-khâu có thể lập gia đình, có vợ con. Các quy định về khất thực cũng thay đổi nhiều qua thời gian.
Tỉ-khâu-ni 比丘尼; S: bhikṣuṇī; P: bhikkhunī;|Nữ giới xuất gia. Theo truyền thuyết, tỉ-khâu-ni đoàn được kế mẫu của Ðức Phật sáng lập với sự ủng hộ của A-nan-đà (s: ā-nanda). Vì điều này mà A-nan-đà bị công kích nặng nề trong lần Kết tập thứ nhất. Chính đức Phật cũng lo ngại sự có mặt của nữ giới sẽ làm Tăng-già khó tu hành và dự đoán là giáo pháp vì lí do đó, thay vì tồn tại 1000 năm, chỉ còn 500 năm.|Quy định về đời sống của tỉ-khâu-ni khắc nghiệt hơn nhiều so với nam giới. Trong khi tu học, tỉ-khâu-ni luôn luôn phải tuân thủ quyết định của các vị đồng tu nam giới. Không bao giờ một tỉ-khâu ni được xem là ngang hàng với tỉ khâu, một vị ni lớn tuổi cũng phải tỏ vẻ cung kính đối với một vị tăng nhỏ tuổi hơn mình. Quy định bị trục xuất ni giới hết sức ngặt nghèo, ni giới không bao giờ đóng một vai trò gì trong Tăng-già.
Tì-lam-bà 毘藍婆; C: pílánpó; J: biranba; S: vilambā|Một trong 10 loại la-sát nữ hộ trì Phật pháp trong kinh Pháp Hoa. Xem Thập la-sát nữ.
Tì-lê-da 毘梨耶; C: pílíyé; J: biriya;|Phiên âm chữ vīrya từ tiếng Phạn, có nghĩa là nỗ lực, cố gắng, tinh tiến. Tiếng Hán thường dùng là Cần (勤) hoặc Tinh tiến (精進). Là một trong sáu ba-la-mật (六波羅蜜).
Tì-lô-giá-na 毘盧遮那; C: pílúzhēnà; J: biroshana; S: vairocana;|Đại Nhật Như Lai (大日如來).
Tì-lô-xá-na Phật 毘盧舎那佛; C: pílúshènà fó; J: biroshana-butsu; S: vairocana buddha. |Còn viết Tì-lô-giá-na. Vairocana có nghĩa là »chiếu khắp«, tiếng Ấn Độ chỉ cho mặt trời. Đức Phật nầy có trí huệ thấm nhuần khắp mọi nơi, là biểu tượng chính của Hoa Nghiêm tông.
Tì-lưu-li 毘琉璃; C: píliúlí; J: biruri; S: vaiḍūrya.|Đá quý màu xanh. Lam ngọc. Một trong bảy loại châu báu. Còn viết là Lưu li (琉璃).
Tì-ma-chất-đa-la 毘摩質多羅; C: pímózhíduōluó; J: bimashit-tara; S: vimalacitra.|Tên một vị vua A-tu-la.
Tì-na-da 毘那耶; C: pínàyé; J: binaya;|Phiên âm chữ vinaya trong tiếng Sanksrit và Pāli, Hán dịch là Luật. Phần kinh văn ghi rõ giới luật, như là chỉ dẫn cho mọi sinh hoạt hằng ngày của tăng sĩ Phật giáo. Còn phiên âm là Tì-nại-da (毘奈耶).
Tì-nại-da 毘奈耶; C: pínàiyé; J: binaya; |Phiên âm chữ vinaya từ tiếng Phạn và Pali, Hán dịch nghĩa là Luật. Phần kinh văn ghi rõ giới luật, như là chỉ dẫn cho mọi sinh hoạt hằng ngày của tăng sĩ Phật giáo.
Tì-nại-da kinh 毘奈耶經; C: pínàiyē jīng; J: binaya kyō; |1 quyển. Chữ »Giới luật« (Tì-nại-da 毘奈耶, s: vinaya) trong đề kinh chỉ cho sự kiềm chế 6 giác quan của người tu tập thiền định.
Tì-ni 毘尼; C: píní; J: bini;|Hệ thống giới luật (s: vinaya) mà các tăng sĩ Phật giáo phải tuân thủ. Xem Giới luật.
Tì-ni-đa Lưu-chi 毘尼多流支; S: vinītaruci; ?-594; dịch nghĩa là Diệt Hỉ (滅喜); |Thiền sư Ấn Ðộ sang Trung Quốc tham học, môn đệ đắc pháp của Tam tổ Tăng Xán và là người khai sáng thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi tại Việt Nam.|Sư là người Nam Thiên Trúc (Ấn Ðộ), thuộc dòng dõi Bà-la-môn. Sư thuở nhỏ đã có ý chí khác thường, đi khắp mọi nơi cầu học Phật pháp. Năm 574, Sư sang Trung Quốc và nhân đây có cơ hội yết kiến Tam tổ Tăng Xán tại núi Tư Không. Thấy cử chỉ uy nghiêm của Tổ, Sư bỗng đem lòng kính mộ, đứng trước vòng tay cung kính. Tổ vẫn ngồi im nhắm mắt không nói. Sư đứng im suy nghĩ giây lát bỗng nhiên tự ngộ, liền quì xuống lạy ba lạy. Tổ thấy vậy cũng chỉ gật đầu ba lần. Sư muốn đi theo hầu Tổ nhưng Tổ lại khuyên đến phương Nam giáo hoá.|Sư sang Việt Nam khoảng cuối thế kỉ thứ sáu (~580), cư trú tại chùa Pháp Vân (chùa Dâu) tỉnh Hà Bắc. Nơi đây Sư dịch bộ kinh Ðại thừa phương quảng tổng trì, sau khi đã dịch xong bộ Tượng đầu tinh xá tại Trung Quốc.|Trước khi tịch, Sư gọi đệ tử là Pháp Hiền đến và phó chúc: »Tâm ấn của chư Phật không có lừa dối, tròn như thái hư, không thiếu không dư, không đi không lại, không được không mất, chẳng một chẳng khác, chẳng thường chẳng đoạn, vốn không có chỗ sinh, cũng không có chỗ diệt, cũng chẳng xa lìa và cũng chẳng phải chẳng xa lìa. Vì đối với vọng duyên mà giả lập tên ấy thôi… Tổ Tăng Xán khi Ấn khả chứng minh tâm này cho ta bảo ta mau về phương Nam giáo hoá. Ðã trải qua nhiều nơi nay đến đây gặp ngươi quả là phù hợp với lời huyền kí. Vậy ngươi khéo giữ gìn, giờ đi của ta đã đến.«|Nói xong, Sư chắp tay thị tịch. Pháp Hiền làm lễ hoả táng, thâu Xá-lị và xây Tháp thờ cúng, nhằm niên hiệu Khai Hoàng đời nhà Tuỳ, năm 594.|Người ta cho rằng Sư là tổ Thiền tông Việt Nam. Nhưng cũng có khuynh hướng cho rằng Khang Tăng Hội mới là người khởi xướng dòng thiền tại Giao Chỉ. Dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi lấy kinh Tượng đầu tinh xá làm nền tảng, chú trọng tư tưởng Bát-nhã và tu tập thiền quán. Phái thiền này để lại ảnh hưởng rất lớn lên các vua đời Lí như Lí Thái Tông.|Hệ thống truyền thừa của thiền phái này không được lưu lại đầy đủ, sử sách ghi chép lại không rõ, khi tỏ khi mờ, truyền được 19 thế hệ với Sư là Sơ tổ và chấm dứt với Y Sơn (mất năm 1213).
Tì-ni tạng 毘尼藏; C: pínízàng; J: binizō; S: vināya-piṭaka.|Tạng luật trong kinh tạng Phật giáo, nội dung gồm giới luật. Xem Giới luật.
Tì-phật-lược 毘佛略; C: pífólüè; J: hibutsuryaku; |Phiên âm chữ vaipulya trong tiếng Phạn, là một trong 12 thể loại truyền thống của kinh điển Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經). Đây là những bản kinh mà đề tài trải rộng cho mọi căn cơ. Hán dịch ý là Phương quảng (方廣).
Tì-sa-môn 毘沙門; C: píshāmén; J: bishamon; S: vaiśravaṇa|Xem Đa văn thiên (多聞天).
Tì thế 毘世; C: píshì; J: bisei; |Phiên âm chữ Vaiśeṣika trong tiếng Phạn. Xem Thắng luận.
Tì-xá 毘舍; C: píshè; J: bisha;|Phiên âm chữ vaiśya trong tiếng Phạn, là giai cấp thứ 3 trong 4 giai cấp của xã hội Ấn Độ – là giai cấp thương gia.
Tì-xá-li 毘舍離; C: píshèlí; J: bishari; S: vaiśālī|Tên của thành Tì-xá-li và nước Tì-xá-li ở vùng Trung Ấn trong thời Đức Phật Thích-ca Mâu-ni tại thế.
Tì-xá-li quốc 毘舍離國; C: píshèlíguó; J: bisharikoku; |Quốc gia Tì-xá-li (s: vaiśālī) thuộc vùng Trung Ấn, chủng tộc Licchavī cư ngụ ở đó. Là 1 trong 16 quốc gia chính trong thời Đức Phật. Thủ đô còn gọi là thành Tì-xá-li, là nơi có nhiều Phật pháp lưu hành, ngày nay gọi là vùng Besarb, cách Patna 27 dặm về phía Bắc.
Tì-xá-li thành 毘舍離城; C: píshèlíchéng; J: bisharijō;|Thành Tì-xá-li (s: vaiśālī), nơi tổ chức kì kết tập kinh điển lần thứ 2, được tổ chức 100 năm sau khi Đức Phật nhập niết-bàn.
Tì-xá-li thành kết tập 毘舍離城結集; C: píshèlíchéng jiéjí; J: bisharijō ketsujū;|Kì kết tập kinh điển Phật giáo lần thứ 2, được tổ chức tại thành Tì-xá-li. Xem Đệ nhị kết tập (第二結集).
Tích 析; C: xī; J: shaku;|2. Tách ra, làm rời ra, chia ra; phân chia. Nghiền nhỏ, tán thành bột, ép thành miếng; 2. Phân tích, tách bạch ra, hiểu ra.
Tịch diệt 寂滅; J: jakumetsu;|Một cách dịch nghĩa khác của danh từ Niết-bàn (s: nirvāṇa; p: nibbāna); »Tịch diệt« mô tả một tâm trạng tịch tĩnh tuyệt đối, vượt khỏi sinh tử, thành hoại, không gian và thời gian, vượt qua tất cả mọi sự lệ thuộc, mô tả trạng thái tâm thức của một Bậc Giác ngộ, một vị Phật. Trạng thái này không thể được trình bày bởi vì nó nằm ngoài tư duy (Bất khả tư nghị) và ngôn ngữ (Bất khả thuyết). Những lời xác định tâm trạng này chính là sự cố gắng nhọc nhằn vô ích, ví như nhét vào khuôn khổ cái »Vô biên.« Những lời duy nhất có thể sử dụng được là những câu phủ định (Tứ cú bách phi) như »Không phải cái này, không phải cái kia« (s: neti, neti!) hoặc »Vượt qua« tất cả những khái niệm, suy tư.|Theo giáo lí tuyệt đỉnh của đạo Phật – như Kim cương thừa (s: vajrayāna) và Thiền tông – thì Tịch diệt hoàn toàn không khác biệt với Luân hồi (saṃsāra). Cái »Vô biên«, »Vô vi«, »Vô tướng« chính là cái »Hữu biên«, Hữu vi«, là thế giới hiện hữu. Nếu Niết-bàn đã vượt qua mọi khái niệm thì sự đồng nhất của Niết-bàn và Luân hồi cũng không thoát khỏi sự »Bất khả tư nghị«, »bất khả thuyết« và chỉ có thể trực nhận được khi đã giác ngộ. Vô thượng chính đẳng chính giác (a-nuttara samyaksaṃbodhi) có nghĩa là, một vị Phật sống ngay trong thế giới hiện hữu với một tâm trạng tịch tịnh, không phải chỉ nhập Niết-bàn, bước qua một cách tồn tại khác sau khi thoát khỏi thân do Tứ đại hợp thành.
Tịch Hộ 寂護; S: śāntarakṣita; 750-802; |Cao tăng Ấn Ðộ thuộc Trung quán tông, người truyền bá Phật pháp sang Tây Tạng thời kì đầu. Quan niệm của Sư là Trung quán nhưng có tính chất dung hoà với Duy thức và vì vậy, Sư và đệ tử giỏi là Liên Hoa Giới (s: kamalaśīla) được xem là đại biểu của hệ phái Trung quán-Duy thức (madhyamaka-yogācāra). Một trong những trứ tác quan trọng của Sư mang tên Chân lí tập yếu (s: tat-tvasaṃgraha).|Sư không phải là Cao tăng đầu tiên sang Tây Tạng hoằng hoá, nhưng là người đầu tiên để lại dấu vết đến bây giờ. Sư quê tại Bengal (Ðông Bắc Ấn) và có giữ một chức giảng sư tại viện Na-lan-đà (nālandā). Nhận được lời mời của vua Tây Tạng là Tri-song Ðet-sen (Hán Việt: Ngật-lật-sang Ðề-tán; t: trhisong detsen [khrisroṅ ldebtsan]), Sư liền thu xếp hành lí đến Tây Tạng. Cuộc hành trình của Sư đến Tây Tạng đầy vất vả chướng ngại và điều quan trọng nhất là rất nhiều thiên tai xảy ra trong thời điểm này. Những dấu hiệu này được quần chúng xem là dấu hiệu chống đối Phật pháp của các thần linh tại miền núi cao và nghe lời vua Tri-song Ðet-sen, Sư trở về Ấn Ðộ và khuyên vua nên thỉnh cầu Liên Hoa Sinh đến giáo hoá. Chỉ một thời gian ngắn sau đó, Liên Hoa Sinh đặt chân đến Tây Tạng với tư cách của một người chinh phục tà ma, gây ấn tượng lớn và thuyết phục được niềm tin của người xứ này.|Sau khi được Liên Hoa Sinh dọn đường, Sư đến Tây Tạng một lần nữa và cùng với Liên Hoa Sinh thành lập ngôi chùa Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng, đó là chùa Tang-duyên (t: samye [nsam-yas]), nằm phía Ðông nam thủ đô Lha-sa. Sư là người đầu tiên thực hành nghi lễ Thụ giới cho người Tây Tạng. Sư hoằng hoá 13 năm tại chùa Tang-duyên và trong thời gian này, rất nhiều kinh sách được phiên dịch từ Phạn ngữ (sanskrit) sang tiếng Tây Tạng. Theo các nhà Ấn Ðộ học thì Sư mất năm 802 vì bị móng ngựa (hoặc lừa) đạp.
Tích không 析空; C: xīkōng; J: shakukū; |»Tính không qua phân tích«, phản nghĩa với Thể không (體空). Khám phá sự không tồn tại trên cơ sở tự tính của các hiện tượng thông qua tiến trình phân tích.
Tích không quán 析空觀; C: xīkōngguān; J: shakukūkan; |Phép thiền quán phân tích ra bản tính của mọi hiện tượng là trống không. Nghĩa là khi hợp thể các phần tử của một vật được phân tịch trọn vẹn, thì vật ấy không còn thầy tồn tại trong bất kì một yếu tố riêng biệt nào nữa cả; do đó vật ấy được gọi là chỉ tồn tại trên danh nghĩa, và trong thực tế là không hiện hữu. Cũng vậy, khi sự hiện hữu của một con người được phân tích theo lối nầy, thì cái ngã cụ thể hoặc vĩnh hằng (s: ātman) sẽ không được tìm thấy trong hợp thể các phần tử. Do vậy Phật giáo cho rằng ngã (ātman) là không thật sự hiện hữu. Đây là quan niệm về Không phổ biến trong giáo lí Tiểu thừa.
Tịch Thất Nguyên Quang 寂室元光; J: jakuhitsu genkō; 1290-1367; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, sau Thiền sư Lan Khê Ðạo Long hai đời.|Sư xuất gia năm 12 tuổi, thụ giới cụ túc năm 15 tuổi và sau đó tham học với Thiền sư Ước Ông Ðức Kiệm (yakuō tokken, 1244-1320), một môn đệ đắc pháp của Thiền sư Lan Khê Ðạo Long. Một hôm, Sư thỉnh Ước Ông nói lời cuối (mạt ngữ; j: matsugo). Ước Ông không nói gì, chỉ dùng tay tát Sư một cái. Sư nhân đây đại ngộ, vào năm 18 tuổi.|Nghe lời khuyên của thầy, Sư yết kiến nhiều vị Thiền sư khác và đặc biệt là Sư thường tham học với các vị Thiền sư Trung Quốc giáo hoá tại Nhật, trong đó có Nhất Sơn Nhất Ninh. Nơi Nhất Sơn, Sư lưu lại hai năm để học cách làm thơ (thi pháp học) và chính vì vậy, các bài thơ, kệ tụng của Sư được đánh giá rất cao, nếu không nói là nổi danh nhất của thời đại này.|Sau, Sư đến Trung Quốc học hỏi nơi Thiền sư Trung Phong Minh Bản và nhiều vị khác. Cuộc du học này kéo dài sáu năm và sau khi trở về Nhật, Sư tiếp tục cuộc đời du tăng của mình, 25 năm liền không trụ trì chùa nào. Năm 1361, Sư nhận lời thỉnh cầu, khai sơn trụ trì chùa Vĩnh Nguyên (eigen-ji). Nhiều ngôi chùa lớn tại Kinh Ðô (kyōto) và Liêm Thương (kamakura) thỉnh Sư về trụ trì nhưng Sư đều từ chối.|Lối sống đơn giản, cơ hàn không phụ thuộc, bác bỏ coi thường những nghi lễ long trọng, những ngôi chùa to lớn, từ chối những chức vụ cao quý, đó chính là những đức tính làm cho Sư nổi bật lên trong những vị Thiền sư thời bấy giờ. Mặc dù tên của Sư không nổi tiếng bằng những vị khác đồng thời, nhưng những phong cách cao quý trên nêu rõ tinh thần Thiền thuần tuý của Sư.|Sư tịch năm 1367.
Tịch Thiên 寂天; S: śāntideva;|Cao tăng thuộc phái Trung quán. Truyền thuyết cho rằng Sư là một vương tử miền Nam Ấn Ðộ, sống trong thế kỉ thứ 7, 8, và hoạt động tại viện Na-lan-đà. Sư là tác giả của hai tác phẩm quan trọng là (Ðại thừa) Tập Bồ Tát học luận (s: śikṣāsamuccaya) và Nhập bồ-đề hành luận (bodhicaryāvatāra). Một tác phẩm thứ ba cũng thường được nhắc đến là Tập kinh luận (s: sūtrasamuccaya) đã thất truyền (theo Thánh Nghiêm thì được dịch ra Hán ngữ dưới tên Ðại thừa thật yếu nghĩa luận). Nhập bồ-đề hành luận rất thông dụng trong Phật giáo Tây Tạng, là kinh điển giáo khoa.|Nhập bồ-đề hành luận trình bày các bước tu học vị Bồ Tát, từ lúc phát Bồ-đề tâm (bodhicitta) cho đến lúc đạt trí Bát-nhã (prajñā), dựa trên Lục độ (pāramitā). Nhập bồ-đề hành luận là tác phẩm nhằm hướng dẫn cho Cư sĩ hay người mới nhập môn. Tịch Thiên giảng giải trong tác phẩm này hai phương pháp nhằm giúp vị Bồ Tát tương lai nhận biết tại sao mình lại cứu độ cho người và xuất phát từ đó các hành động cần thiết. Một mặt hành giả phải tu học phép quán chiếu cái nhất thể giữa mình và người (parātmasamatā), mặt khác phải học phép hoán đổi mình và người (parātmaparivar-tana, xem thêm Bất hại) giữa, tức là đặt mình vào địa vị của chúng sinh để thấu rõ tâm trạng của Hữu tình (s: sattva).
Tịch Thiên 寂天; S: śāntideva; »Kẻ lười biếng«;|Tịch Thiên theo truyền thống 84 vị Tất-đạt của Ấn Ðộ và cũng là người viết Nhập bồ-đề hành luận.|Tịch Thiên là một vương tử được thụ giới Tỉ-khâu tại Ðại học Phật giáo Na-lan-đà. Trong lúc các bạn đồng học tập trung học tập thì Sư chỉ thích ngủ nghỉ, vì thế bạn bè khinh khi, đặt tên là »lười biếng« (s: bhusuku), có nghĩa người chỉ biết thực hiện ba việc: ăn, ngủ và bài tiết. Thời đó tại Na-lan-đà, các học viên thường phải đọc thuộc lòng Kinh điển trước đại chúng, lần đó đến lượt Tịch Thiên. Vị giáo thụ xem chừng Sư không thuộc bài, khuyên Sư nên ra khỏi Tăng-già, nhưng Sư không chịu. Tới ngày phải tụng đọc, Sư thành tâm cầu khẩn Bồ Tát Văn-thù giúp đỡ, quả nhiên Văn-thù hiện ra hứa giúp. Lúc Sư lên giảng đường tụng đọc, mọi người tề tựu đông đủ, kể cả nhà vua Thiên Hộ (s: devapāla), ai cũng nghĩ Sư sẽ bị một vố ê chề. Thế nhưng Sư đọc một bài kinh hoàn toàn mới, gồm có 10 chương, đó là tập Nhập bồ-đề hành luận (s: bodhicāryāvatāra) vô song, còn truyền đến ngày nay. Ðến chương thứ chín thì người Sư lơ lửng trên không, mọi người đều ngạc nhiên kinh hoàng. Sau đó không ai gọi Sư là »lười biếng« nữa mà đặt tên là »Pháp sư« Tịch Thiên, mời Sư làm Viện trưởng của Na-lan-đà.|Sau đó Sư rời Na-lan-đà ra đi không lời từ giã, lấy một thanh gỗ biến thành gươm và đi làm kiếm sĩ cho nhà vua xứ Ðô-ri-ki (s: dhokiri). Sau, Sư vào rừng ẩn cư và làm thợ săn. Bị nhiều người chê trách là đã tu mà còn giết hại sinh vật, Sư dùng thần thông làm chúng sống lại cả và bảo:|Con nai trên bàn ăn,|chưa hề sống, hề chết,|chẳng bao giờ vắng bóng.|Ðã không gì là Ngã,|sao lại có thợ săn|hay thịt của thú rừng?|Ôi, người đời đáng thương,|mà các ngươi lại gọi,|ta là người »lười biếng«!|Sư sống trên trăm năm và đưa nhiều người trở về chính pháp. Phật giáo Tây Tạng rất coi trọng Tịch Thiên, bộ Nhập bồ-đề hành luận là sách giáo khoa tại đó. Chứng đạo ca của Sư có những lời sau:|Trước ngày thật chứng ngộ,|ta biết nhiều hương vị,|trong khắp cõi luân hồi,|ta xa lánh đức Phật.|Tới lúc thật chứng rồi,|Sinh tử và Niết-bàn |hợp nhất thành Ðại lạc,|ta trở thành viên ngọc|sáng trong biển vô tận.
Tịch tịnh 寂淨; J: jakujō;|Chỉ sự an lành, tịch tịnh trong tâm, sự thoát khỏi sự trói buộc của Vô minh với những Phiền não (j: bonnō), chướng ngại hệ thuộc. Danh từ này miêu tả trạng thái Tịch diệt (j: jakumetsu).
Tích trượng 錫杖; S: khakkhara; J: shakujō; dịch âm là Khiết-khí-la;|Chỉ cây gậy thiếc có tra những vòng bằng thiếc hoặc đồng được các Tỉ khâu sử dụng đi khất thực. Tiếng kêu của những vòng thiếc báo hiệu cho thí chủ có người đến xin ăn và cũng được dùng để đuổi những con thú hung dữ (Quải tích).
Tiềm 潛; C: qián; J: sen;|Ẩn náu, bí mật, nằm khuất dưới nước; giấu diếm, giữ kín, bưng bít. Ẩn núp, tiềm tàng, che đậy, như những phiền não vi tế.
Tiệm giáo 漸教; C: jiàn jiāo; J: zengyō;|1. Giáo lí giảng dạy pháp tiến tu từ bậc thấp tiến dần lên bậc cao; khác hẳn với Đốn giáo; 2. Một trong 4 phương pháp giảng dạy giáo lí của Đức Phật, theo tông Thiên Thai, đó là sự chỉ dạy cho căn cơ từ thấp đến cao; 3. Theo giáo lí Hoa Nghiêm, thời kì đầu và cuối của giáo lí Đại thừa gọi là Tiệm giáo, vì nó đáp ứng phương pháp tu tập tiệm tiến dưa đến giác ngộ. Ngũ giáo (五教).
Tiệm ngộ 漸悟; J: zengo;|Giác ngộ từ từ, theo từng cấp bậc. Thuyết này được Bắc tông thiền đề cao và cũng được ghi lại trong kinh Nhập Lăng-già.
Tiệm Nguyên Trọng Hưng 漸源仲興; C: jiànyuán zhòngxīng; J: zengen chūkō; tk. 9; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc dòng Thanh Nguyên Hành Tư, môn đệ của Ðạo Ngô Viên Trí.|Sư được xem là người nối pháp Ðạo Ngô mặc dù chưa triệt ngộ khi rời thầy. Sự việc này được ghi lại trong Công án 55 của Bích nham lục: |Một hôm Sư cùng Ðạo Ngô đến một đám tang phúng điếu. Sư vỗ quan tài nói: »Sinh ư? Tử ư?« Ðạo Ngô nói: »Sinh cũng chẳng nói, Tử cũng chẳng nói!« Sư hỏi: »Vì sao chẳng nói?« Ðạo Ngô bảo: »Chẳng nói chẳng nói!« Trên đường về Sư thưa: »Hôm nay Hoà thượng phải vì con nói, nếu không nói, con đánh Hoà thượng.« Ðạo Ngô nói: »Ðánh thì mặc cho ông đánh, nói tức chẳng nói.« Sư liền đánh. Khi đến viện, Ðạo Ngô khuyên Sư lánh đi kẻo có ngại trong chúng. Sư từ giã thầy đi. Một hôm nghe một người tụng phẩm Phổ môn trong kinh Pháp hoa đến chỗ »Nên dùng thân tỉ-khâu được độ tức hiện thân tỉ-khâu«, Sư bỗng nhiên Ðại ngộ, đốt hương lễ bái nói: »Rõ thật lời của Tiên sư để lại, trọn chẳng hư dối, tự ta chẳng hội lại oán trách Tiên sư.«|Sau, Sư đến Thạch Sương Khánh Chư nhờ thay mặt sư phụ chứng minh và làm lễ sám hối.
Tiềm phục 潛伏; C: qiánfú; J: senpuku;|Sự giấu diếm, sự che đậy, sự ủ bệnh. Bí mật, tiềm tàng. Ẩn nấp. Mặc dù hành giả tiến hành công phu tu tập và được xem là người thanh tịnh, nhưng phiền não vi tế vẫn còn tiềm tàng trong tạng thức.
Tiệm thứ 漸次; C: jiàncì; J: zenji;|Tiến lên dần; giai vị tu tập tiến lên từ từ (s: upanisad, kramaśas).
Tiệm tu 漸修; C: jiànxiū; J: senshū;|Pháp tu tiệm tiến; chỉ cho sự chuyển hoá dần tập khí phiền não thông qua thực hành Tam vô lậu học: Giới (戒, s: śīla), định (定, s: samādhi), huệ (慧, s: prajñā). Có rất nhiều giáo lí được xem là tiệm tu thật sự đã từng dẫn đến giác ngộ. Chẳng hạn có người tin rằng tiệm tu là con đường thích hợp để tiép cận sự giải thoát tối hậu. Phần nhiều các Thiền sư bác bỏ cách tiếp cận nầy, cho đó là cơ sở của nhị nguyên, nên cho đó là sai lầm. Những Thiền sư như Tông Mật (宗密) và Tri Nột (知訥, k: chinul) thừa nhận tiến trình tiệm tu, nhưng giải thích rằng đó chỉ là công phu phải thực hành sau khi đã đạt kinh nghiệm đốn ngộ (頓悟). Những các nhà tư tưởng khác như Tính Triệt (性徹, k: sŏng-ch'ŏl) phủ nhận bất kì dạng tiệm tu nào. Xem Tiệm giáo (漸教) và Đốn ngộ (頓悟) ở dưới.
Tiên 仙; C: xiān; J: sen;|Có các nghĩa: 1. Người tu trong núi; người sống ẩn dật, ẩn sĩ; 2. Hiền nhân đạo Lão, sống nơi rừng núi xa xôi, xa lánh thế tục; 3. Là những ẩn sĩ tu trong rừng, xả li thế tục tại Ấn Độ; 4. Bậc Đạo sư (s: ṛṣi), những tác giả của kinh Vệ-đà cổ xưa (s: veda).
Tiền 前; C: qián; J: zen;|1. Phía trước, phần trước mặt, phần đầu, mặt tiền; 2. Trước đó, trước hết, trước đây, trước nay, cho đến bây giờ (s: pūrva); 3. Một khoảng thời gian trước đây, cách đây lâu. Nguyên thuỷ là, trước đó.
Tiện 便; C: biàn; J: ben;|Có các nghĩa sau: 1. Sự cảm ứng với cảnh giới Phật viên mãn; 2. Rất thích hợp, lí tưởng, ổn đáng, thuận lợi; 3. Giáo lí phương tiện; 4. Nương vào, sự trông cậy vào; 5. Ngay lập tức, tức thì, nhanh chóng, thanh thản, thoải mái.
Tiền cảnh 前境; C: qiánjìng; J: zenkyō;|Một vật hiển hiện (s: avabhāsa); Một đối tượng trình hiện trước tâm thức, một vật mà tâm thức nhận ra được.
Tiên đạt 先達; C: xiāndá; J: sendatsu;|Có các nghĩa sau: 1. Bậc tu đạo lâu năm; 2. Sự hướng dẫn việc tu hành khổ hạnh trên núi; 3. Hạng người Tu nghiệm đạo (修驗道; j: shugendō).
Tiên giá 仙駕; C: xiānjià; J: senga;|Phong thái của một vị tiên nhân ẩn sĩ.
Tiền hậu tế đoạn 前後際斷; C: qiánhòu jì duàn; J: zengo-saidan;|Sự phủ nhận của quá khứ và vị lai. Chẳng có gì hết ngoài hiện tại vĩnh hằng. Một quan điểm của Trung quán tông, có sự tương quan trực tiếp với hiện thật Bất sinh bất diệt.
Tiên lai 先來; C: xiānlái; J: senrai;|Từ trước, từ lúc bắt đầu, từ quá khứ (theo Du-già luận 瑜伽論).
Tiên Nhai Nghĩa Phạm 仙崖義梵; J: sengai gibon; 1751-1837; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế (j: rinzai-shū), hệ phái Diệu Tâm tự (myōshin-ji). Sư nối pháp Thiền sư Nguyệt Thuyền Thiền Huệ (月船禪慧; gessen zenne, 1702-1781).|Sư xuất gia năm 11 tuổi và Hành cước năm lên 19. Sau khi yết kiến Nguyệt Thuyền, Sư lưu lại tu học nơi đây và được Nguyệt Thuyền Ấn khả. Sau đó Sư lại cất bước du phương, nhận lời trụ trì chùa Thánh Phúc (shōfuku-ji), Thiền viện đầu tiên tại Nhật – được Thiền sư Minh Am Vinh Tây khai sáng năm 1195 –, và trở thành vị trụ trì thứ 123 của thiền viện này.|Sư nổi danh vì phương pháp giáo hoá nghiêm khắc nhưng vô cùng hiệu nghiệm, những đặc tính được phản ánh lại trong những tác phẩm nghệ thuật thiền như Mặc tích và những bức tranh mực tàu của Sư – hiện rất được ưa chuộng trong giới hâm mộ Thiền trên khắp hoàn cầu.
Tiên nữ 仙女; C: xiānnǚ; J: sennyo;|Nữ đạo sĩ; nữ ẩn sĩ xả li thế tục.
Tiền phi 前非; C: qiánfēi; J: zenpi;|Những lỗi lầm trước đây.
Tiền sinh 前生; C: qiánshēng; J: zenshō;|1. Thế giới trước đó, cuộc sống trước đây, cuộc sống trước đây của một người nào đó (s: pūrva-jāta); 2. Sinh trởi trước đây (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Tiên thế 先世; C: xiānshì; J: senze;|Đời sống trong kiếp trước của một người; sinh mệnh trong kiếp trước (s: pauruva-jan-mika, theo Du-già luận 瑜伽論).
Tiên uyển 仙苑; S: ṛṣipatana; P: isipatana; cũng được gọi là Tiên nhân uyển, Thấu Thị uyển;|Một khu rừng cạnh thành phố Benares. Trong khu này, tại Lộc uyển, đức Phật đã chuyển Pháp luân, thuyết bài pháp đầu tiên cho năm vị bạn cùng học trước khi đạt đạo (Năm tỉ-khâu).||H 66: Hàn Sơn & Thập Ðắc, Tiên Nhai Nghĩa Phạm minh hoạ, được lưu lại tại viện bảo tàng Idemitsu, Tōkyō, Nhật Bản.
Tiếp tâm 接心; J: sesshin; nghĩa là »thâu nhiếp tâm«; |Danh từ chỉ một khoảng thời gian tu tập thiền định cao độ thường được tổ chức trong các Thiền viện tại Nhật.|Trong những ngày thường thì ngoài vài giờ Toạ thiền, các vị tăng còn phải làm việc, thi hành bản phận của mỗi người. Nhưng đặc biệt trong giai đoạn Tiếp tâm – được xem là đỉnh cao của quá trình tu học – các vị tăng ni chỉ chú tâm đến một việc duy nhất là toạ thiền. Những chu kì toạ thiền dai dẳng chỉ được gián đoạn bằng vài giờ ngủ trong đêm, lúc tụng kinh và một thời gian nghỉ ngắn sau hai bữa ăn trưa và tối. Ngay trong những khoảng thời gian gián đoạn để nghỉ này thì sự chú tâm tuyệt đối vào chủ đề (Thoại đầu) mà vị Lão sư đã giao phó cho mỗi thiền sinh cũng không được xao lãng. Các buổi Ðộc tham (j: dokusan) trong ngày cũng có nhiệm vụ giúp đỡ các thiền sinh bảo trì sự tập trung tuyệt đối vào Công án đang được quán.
Tiêu 標; C: biāo; J: hyō;|1. Giải thích (s: uddiśati); 2. Bày tỏ, biểu thị, biểu lộ, chỉ ra; 3. Dấu hiệu, sự chỉ dẫn.
Tiểu bộ kinh 小部經; P: khuddaka-nikāya;|Bộ kinh thứ năm của Kinh tạng (p: sutta-piṭaka), gồm có 15 phần:|1. Tiểu tụng (小頌; khuddaka-pātha): bao gồm quy định về thực hành nghi Lễ; 2. Pháp cú (法句; dhammapada): gồm 426 câu kệ trong 26 chương về các nguyên lí căn bản đạo Phật, được lưu truyền rộng trong các nước theo Thượng toạ bộ; 3. Tự thuyết (自說; udāna): gồm 80 bài giảng của đức Phật; 4. Như thị ngữ (如是語; »Tôi nghe như vầy«; p: itivuttaka) gồm các kinh dựa trên hỏi đáp với đức Phật; 5. Tập bộ kinh (集部經; sutta-nipāta): một trong những kinh điển cổ nhất, đặc biệt có giá trị văn chương cao; 6. Thiên cung sự (天宮事; vimāṇa-vatthu): kể lại 83 truyền thuyết nêu rõ, có một đời sống phạm hạnh sẽ được sinh vào cõi của chư Thiên (deva); 7. Ngạ quỷ sự (餓鬼事; peṭa-vatthu): nói về sự tái sinh làm Ngạ quỷ sau một cuộc đời nhiều ác nghiệp; 8. Trưởng lão tăng kệ (長老僧偈; thera-gāthā): ghi lại 107 bài kệ của các vị Thượng toạ (thera); 9. Trưởng lão ni kệ (長老尼偈; therī-gāthā): gồm 73 bài kệ của các vị ni trưởng lão (therī); 10. Bản sinh kinh (本生經; jātaka); 11. Nghĩa thích (義釋; niddesa): luận giải về Tập bộ kinh (sutta-nipāta), phần thứ 5; 12. Vô ngại giải đạo (無礙解道; paṭisam-bhidā-magga): luận thuyết về vô ngại, theo phương pháp của A-tì-đạt-ma (abhidham-ma); 13. Thí dụ (譬喻; apadāna): kể lại tiền kiếp các vị sư danh tiếng; 14. Phật chủng tính (佛種性; buddhavaṃsa): truyện thơ kể đời sống 24 đức Phật có trước Phật Thích-ca; 15. Sở hạnh tạng (所行藏; cariya-piṭaka): kể tiền kiếp đức Phật, trong đó nêu rõ trong các đời sống cũ, Ngài đã đạt mười Ba-la-mật-đa (pāramitā).
Tiêu cử 標擧; C: biāo jǔ; J: hyōkyo;|Tán dương. Ca ngợi đức hạnh cao lớn. Ca ngợi.
Tiêu kí 標記; C: biāojì; J: hyōki; |Tiêu chuẩn, đặc trưng. Điểm chỉ dẫn cho tàu thuyền; điểm đánh dấu để phân biệt.
Tiêu kiệt 消竭; C: xiāojié; J: shōketsu;|Trừ sạch, loại ra hết, trừ diệt sạch.
Tiêu phục độc hại kinh 消伏毒害經; C: xiāofú dúhài jīng; J: shōfuku dokugai kyō;|Tên gọi khác của bản dịch Lục tự thần chú vương kinh (六字神呪王經).
Tiêu sí 標幟; C: biāozhì; J: hyōji; |1. Dấu vết, kí hiệu. Theo Phật giáo Mật tông, thì từ này chỉ việc dùng ấn chú và các phương tiện để bày tỏ công đức giác ngộ của chư Phật.
Tiêu thích 消釋; C: xiāoshì; J: shōshaku;|Giảng giải và phân tích rõ.
Tiêu thú 標趣; C: biāoqù; J: hyōshu; |Tuyên bố, bày tỏ, biện hộ.
Tiểu thừa 小乘; S: hīnayāna; nghĩa là »cỗ xe nhỏ«;|Nguyên là danh từ của một số đại biểu phái Ðại thừa (s: mahāyāna) thường dùng chỉ những người theo »Phật giáo nguyên thuỷ«. Biểu thị này được dùng để lăng mạ, chỉ trích. Ngày nay ý nghĩa chê bai của danh từ này đã mất đi và nó chỉ còn có tính chất mô tả. Nhiều nhà nghiên cứu Phật giáo có ý định thay thế danh từ này nhưng không đạt kết quả vì danh từ này đã khắc sâu trong tư tưởng của nhiều Phật tử. Các đại biểu của Tiểu thừa tự xem mình theo phái Thượng toạ bộ (p: theravāda), mặc dù Thượng toạ bộ chỉ là một trong những trường phái Tiểu thừa, và là trường phái duy nhất của Tiểu thừa còn tồn tại đến ngày nay. Tiểu thừa cũng được gọi là Nam tông Phật pháp vì được thịnh hành tại các nước Nam Á như Tích Lan (śrī laṅkā), Thái lan, Miến Ðiện (myanmar), Cam-pu-chia, Lào.|Theo truyền thuyết, Tiểu thừa gồm có 18 bộ phái khác nhau, xuất phát từ Tăng-già nguyên thuỷ. Trong lần kết tập thứ ba, Tăng-già phân ra thành hai phái: Trưởng lão bộ (長老部; s: sthavira) và Ðại chúng bộ (大眾部; s: mahāsāṅghika). Giữa năm 280 và 240 trước Công nguyên, Ðại chúng bộ lại bị chia thành sáu phái: Nhất thuyết bộ (一說部; s: ekavyāvahārika), Khôi sơn trụ bộ (灰山住部; s: gokulika). Từ Nhất thuyết bộ lại sinh ra Thuyết xuất thế bộ (說出世部; s: lokottaravāda). Từ Khôi sơn trụ bộ lại tách ra 3 bộ phái là Ða văn bộ (多聞部; s: bahuśrutīya), Thuyết giả bộ (說假部; s: prajñaptivāda) và Chế-đa sơn bộ (制多山部; s: caitika). Từ Trưởng lão bộ (s: sthavira) của thời gian đó, khoảng năm 240 trước Công nguyên, phái Ðộc Tử bộ (犢子部; s: vātsīputrīya) ra đời, gồm có bốn bộ phái nhỏ là Pháp thượng bộ (法上部; s: dharmottarīya), Hiền trụ bộ (賢胄部; s: bhadra-yānīya), Chính lượng bộ (正量部; s: saṃmitīya) và Mật lâm sơn bộ (密林山部; s: sannagarika, sandagiriya). Từ Trưởng lão bộ (sthavira) lại xuất phát thêm hai phái: 1. Nhất thiết hữu bộ (一切有部; s: sarvāstivāda), từ đây lại nẩy sinh Kinh lượng bộ (經量部; s: sautrāntika) khoảng năm 150 trước Công nguyên và 2. Phân biệt bộ (分別部; s: vibhajyavāda). Phân biệt bộ tự xem mình là hạt nhân chính thống của Trưởng lão bộ (s: sthavira). Từ Phân biệt bộ (s: vibhajyavāda) này sinh ra các bộ khác như Thượng toạ bộ (上座部; p: thera-vāda), Hoá địa bộ (化地部; s: mahīśāsaka) và Ẩm Quang bộ (飲光部; cũng gọi Ca-diếp bộ; 迦葉部; s: kāśyapīya). Từ Hoá địa bộ (s: mahīśāsa-ka) lại sinh ra Pháp Tạng bộ (法藏部; s: dhar-maguptaka).|Tiểu thừa được phát triển nhất giữa thời gian Ðức Phật nhập Niết-bàn và Công nguyên. Ðại biểu phái này cho rằng mình theo sát những lời dạy nguyên thuỷ của Ðức Phật, do chính Ðức Phật nói ra. Giới luật của Tiểu thừa hoàn toàn dựa vào Luật tạng. Trong A-tì-đạt-ma, Tiểu thừa dựa trên Kinh tạng để phân tích và hệ thống hoá giáo lí của Phật.|Tiểu thừa tập trung tuyệt đối vào con đường đi đến giải thoát. Các lí luận triết học không đóng vai trò quan trọng – chúng thậm chí được xem là trở ngại trên đường giải thoát. Tiểu thừa phân tích rõ trạng thái của đời sống con người, bản chất sự vật, cơ cấu của chấp ngã và chỉ ra phương pháp giải thoát khỏi sự Khổ (s: duḥkha). Tất cả các trường phái Tiểu thừa đều có một quan điểm chung về sự vật đang hiện hữu: khổ có thật, phải giải thoát khỏi cái Khổ. Giải thoát khỏi Luân hồi (s, p: saṃsāra), thoát khỏi sự tái sinh và đạt Niết-bàn (s: nirvāṇa) là mục đích cao nhất của Tiểu thừa. Muốn đạt được mục đích này, hành giả phải dựa vào sức mình, xa lánh thế gian. Vì vậy Tiểu thừa quan niệm phải sống viễn li, sống cuộc đời của một kẻ tu hành. Ðối với Tiểu thừa, cuộc sống tại gia không thể nào đưa đến sự giải thoát. Hình ảnh tiêu biểu của Tiểu thừa là A-la-hán (s: arhat), là người dựa vào tự lực để giải thoát.|Tiểu thừa tránh không đưa lí thuyết gì về Niết-bàn, mục đích cuối cùng, là kinh nghiệm của sự giác ngộ, trong đó, hành giả chứng được vô ngã và từ bỏ tham ái. Ðối với Tiểu thừa, Phật là một nhân vật lịch sử, được xem là một con người và thầy dạy, không phải là Hoá thân của một thật thể nào. Giáo pháp cơ bản của Tiểu thừa gồm có Tứ diệu đế, Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), thuyết Vô ngã (s: anātman) và luật nhân quả, Nghiệp (s: karma). Phép tu hành của Tiểu thừa dựa trên Bát chính đạo. Theo quan điểm của Ðại thừa, sở dĩ phái này được gọi là »tiểu thừa« vì – ngược lại với chủ trương của Ðại thừa là nhằm đưa tất cả loài Hữu tình đến giác ngộ – phái tiểu thừa chỉ quan tâm đến sự giác ngộ của cá nhân mình. Chủ trương này được xem là giáo pháp sơ cấp của đức Phật vì sau đó Ngài giảng giáo pháp toàn vẹn hơn, đó là giáo pháp Ðại thừa (xem thêm biểu đồ của các bộ phái Phật giáo Ấn Ðộ cuối sách).
Tín 信; S: śraddhā; P: saddhā; C: xìn; J: shin;|1. Lòng tin tưởng nơi đức Phật và Phật pháp. Tín là cơ sở của hai yếu tố đầu tiên – Chính kiến và Chính tư duy – trong Bát chính đạo và một yếu tố của Năm lực. Trong Ðại thừa, tín còn đóng một vai trò quan trọng hơn, vì tín là hạnh nguyện quan trọng mà ai cũng có và sẽ đưa mỗi người đến Phật quả. Tuy nhiên tín không phải là niềm tin mù quáng, mà chính là lòng tin tưởng chắc chắn sau khi đã tìm hiểu và áp dụng giáo pháp của Phật. Tin tưởng mù quáng nơi lời nói của Phật hay đạo sư là đi ngược với quan điểm đạo Phật, như chính Phật đã từng khuyến cáo.|Tuy nhiên trong Tịnh độ tông, lòng tin nơi Phật A-di-đà có tính chất tuyệt đối. Vì vậy tông phái này cũng có khi được gọi là »Tín đạo«. Tín là một trong những cơ sở khi nhập vào Thánh đạo: một bậc Dự lưu (s: śrota-āpanna) có thể là một bậc Tuỳ tín hành (s: śraddānusarin) hay Tuỳ pháp hành (s: dharmānusarin) và khi giải thoát cũng có thể phân biệt là người nương vào Tín mà được giải thoát (śraddhāvimukta) hay nương vào Quán chứng được giải thoát (s: dṛṣṭiprāpta).|2. Một tên gọi của Tâm; |3. Một trong 10 thiện tâm sở đề cập trong luận Câu-xá; một trong 11 thiện tâm sở đề cập trong Pháp tướng tông. Khi gặp cảnh giới thanh tịnh, nhờ đó mà làm thanh tịnh các tâm sở khác. Tin nhận pháp giới như chúng đang là. Theo Pháp tướng tông, Tín là »thật pháp« có cái dụng suốt khắp Tam giới.
Tín giải 信解; C: xìnjiě; J: shinge; |Có các nghĩa sau: 1. Tin và hiểu giáo lí. Có cả niềm tin và thông hiểu Phật pháp. Niềm tin chân chính. Niềm tin trọn vẹn (s: adhimukti, theo kinh Pháp Hoa); 2. Tin vào chính mình và người khác; 3. Niềm hân hoan, phát sinh do tâm mình tin nhất định sẽ được giác ngộ.
Tín Hành 信行; C: xìnxíng; J: shingyō, 540-594;|Người sáng lập Tam giai giáo (三階教).
Tín Học 信學; ?-1190|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 10. Sư kế thừa Thiền sư Ðạo Huệ, đệ tử của Quốc sư Thông Biện.|Sư họ Tô, quê ở làng Chu Minh, phủ Thiên Ðức. Sư xuất thân từ một gia đình chuyên nghề khắc bản kinh, thuở nhỏ đã có tính thâm trầm, không thích giao du.|Năm 32 tuổi, Sư đến Thiền sư Ðạo Huệ ở núi Tiên Du thụ giáo. Sau ba năm tu học, Sư ngộ được yếu chỉ thiền và cất bước du phương. Ðến chùa Quán Ðỉnh ở núi Không Lộ, huyện Thạch Thất, Sơn Tây, Sư dừng lại trụ trì. Sư chuyên tu theo kinh Viên giác và ngộ được huyền nghĩa. Học chúng đến tham vấn rất đông.|Ngày 9 tháng giêng, niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 5 đời vua Lí Cao Tông, Sư có bệnh gọi chúng lại truyền kệ:|山林虎豹。橫文班駁。若欲甄別。子啐母啄|Sơn lâm hổ báo, hoành văn ban bác|Nhược dục chân biệt, tử thối mẫu trác.|*Núi rừng cọp beo, vằn vện lẫn lộn|Nếu muốn phân rành, con kêu, mẹ mổ.|Nói kệ xong, Sư viên tịch.
Tín lạc 信樂; C: xìnlè; J: shingyō;|Có các nghĩa sau: 1. Có niềm tin và lòng thiết tha; 2. Có niềm tin rạch ròi, tin một cách không mơ hồ, không nghi ngờ; 3. Niềm tin hân hoan; 4. Tin và hiểu (信解).
Tín phụng 信奉; C: xìnfèng; J: shinbō; |Đức tin, niềm tin, sự tin tưởng.
Tín tâm minh 信心銘; C: xìnxīmíng; J: shinjinmei;|Một bài kệ tụng danh tiếng của Tam tổ Tăng Xán bao gồm 584 chữ. Ðây là một tác phẩm căn bản của Thiền tông. Ðặc biệt là hai câu đầu:|至道無難,唯嫌揀擇|»Chí đạo vô nan, duy hiềm giản trạch.«|*»Ðạo tột cùng không khó|Chỉ đừng phân biệt chọn lựa«.|được rất nhiều Thiền sư sau này nhắc lại và giảng giải.
Tín thụ 信受; C: xìnshòu; J: shinju; |Ghi nhận (lời dạy) với niềm tin tưởng. Có được niềm tin và hành trì theo.
Tín thụ phụng hành 信受奉行; C: xìnshòu fèngxíng; J: shin-jubukyō;|Ghi nhận lời dạy của đức Phật với niềm tin và sự thông hiểu, rồi chân chính thực hành những lời dạy nầy. Câu nầy thường xuất hiện vào cuối những bản kinh hoặc luận (s: śāstra).
Tín túc 信宿; C: xìnsù; J: shinshuku;|Nghỉ lại qua hai đêm.
Tín tương ưng địa 信相應地; C: xìn xiāngyīng dì; J: shin sō-ōji;|Thuật ngữ trong Đại thừa khởi tín luận dành cho Thập trú (十住), khi hành giả đạt đến giai vị Bất thối chuyển.
Tịnh 淨; C: jìng; J: jō; S: śuddhi, śuddha, viśuddhi, pariśuddha|1. Trong sạch, sạch sẽ, thanh khiết; 2. Không nhiễm ô hoặc phiền não; 3. Không còn sinh khởi vọng tưởng; 4. Cõi Tịnh độ; 5. Pháp tu tập đưa đến vãng sinh Tịnh độ; 6. Dịch nghĩa chữ brahman từ tiếng Phạn và Pāli.
Tịnh chí 淨志; C: jìngzhì; J: jōshi;|Hán dịch chữ samaṇa trong tiếng Pāli và chữ śramaṇa trong tiếng Phạn. Sa-môn (沙門).
Tịnh chư nghiệp chướng 淨諸業障; C: jìng zhū yè zhàng; J: jōshogō-shō;|Tên của một trong 12 vị Bồ Tát xuất hiện như 1 đương cơ trong phẩm thứ 9 kinh Viên Giác.
Tịnh cư 淨居; C: jìngjū; J: jōgo;|Nơi ở thanh tịnh, cảnh giới thanh tịnh của tâm.
Tịnh Danh kinh 淨名經; C: jìngmíng jīng; J: jōmyōkyō;|Hán dịch nhan đề kinh Duy-ma-cật sở thuyết kinh (s: vimalakīrti-nirdeśa-sūtra).
Tịnh diệu 淨妙; C: jìngmiào; J: jōmyō;|Trong sạch, thanh tịnh (s: accha).
Tịnh độ 淨土; S: buddhakṣetra; C: jìngtǔ; J: jōdo; nguyên nghĩa Phạn ngữ là Phật độ, cõi Phật, cõi thanh tịnh;|Trong Ðại thừa, người ta hiểu mỗi cõi Tịnh độ thuộc về một vị Phật và vì có vô số chư Phật nên có vô số Tịnh độ. Ðược nhắc nhở nhiều nhất là cõi Cực lạc (s: sukhāvatī) của Phật A-di-đà (s: amitābha) ở phương Tây. Tịnh độ phía Ðông là cõi Phật Dược Sư (s: bhaiṣajyaguru-buddha), có khi cõi đó được gọi là Ðiều hỉ quốc (s: abhirati) của Phật Bất Ðộng (s: akṣobhya). Phía Nam là cõi của Phật Bảo Sinh (s: ratnasambhava), phía Bắc là cõi của Phật Cổ Âm (s: dundubhisvara). Ðức Phật tương lai Di-lặc (s: maitreya), là vị đang giáo hoá ở cõi Ðâu-suất (s: tuṣita), sẽ tạo một Tịnh độ mới.|Tịnh độ được xem là »hoá thân« của thế giới, là cõi xứ của người tu hành muốn được tái sinh. Muốn đạt được cõi này, hành giả không phải chỉ trau dồi thiện Nghiệp mà còn phải nguyện cầu các đức Phật của các cõi đó cứu độ được tái sinh. Trong nhân gian, người ta thường hiểu Tịnh độ là một nơi có vị trí địa lí nhất định, nhưng thật ra Tịnh độ là một dạng của tâm thức giác ngộ, không bị ô nhiễm và các phương hướng Ðông, Tây, Nam, Bắc chỉ có tính chất hình tượng. Tịnh độ không phải là mục đích cuối cùng trên con đường tu tập – chỉ là nơi được xem là cõi cuối cùng mà hành giả phải tái sinh để rồi đạt Niết-bàn (Tịnh độ tông).
Tịnh độ chân tông 淨土真宗; J: jōdo-shin-shū;|Một nhánh của Tịnh độ tông tại Nhật do Thân Loan (1173-1262) sáng lập. Tông này đặt cơ sở trên Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh (s: sukhāvatīvyūha), là kinh với 48 đại nguyện của Phật A-di-đà. Giáo pháp của tông này là chuyên trì tụng danh hiệu A-di-đà, với hi vọng sẽ được tái sinh trong Cực lạc Tịnh độ, nhờ sức cứu độ của Phật. Vì vậy, yếu tố quan trọng nhất trong tông phái này là niềm tin kiên cố nơi Phật A-di-đà.|Chân tông là một giáo phái gồm Cư sĩ tại gia. Một đặc trưng quan trọng của tông này là các vị đứng đầu được quyền trao quyền cho con. Ngày nay, Chân tông là tông phái mạnh nhất ở Nhật với hai bộ phái nhỏ: tani và Honganji, đều đặt chính tự tại Kinh Ðô (kyōto). Hai bộ phái này được tách ra trong thế kỉ thứ 17 nhưng thật ra chỉ khác nhau trong cách tụng niệm thờ cúng. Cả hai đều thành lập các viện đại học lớn.
Tịnh độ môn 淨土門; C: jìngtǔmén; J: jōtomon;|Giáo lí Tịnh độ, khuyên tìm cầu sự cứu độ thông qua nguyện lực của Đức Phật A-di-đà.
Tịnh độ tam bộ kinh 淨土三部經; C: jìngtŭ sānbùjīng; J: jōdo sanbukyō;|Ba bộ kinh căn bản của Tịnh độ tông: Vô lượng thọ kinh (無量壽經), Quán Vô lượng thọ kinh (觀無量壽經) và A-di-đà kinh (阿彌陀經).
Tịnh độ tông 淨土宗; C: jìngtǔ-zōng; J: jōdo-shū; có khi được gọi là Liên tông;|Trường phái được lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Nhật Bản và Việt Nam do Cao tăng Trung Quốc Huệ Viễn (c: huìyuǎn; 334-416) sáng lập và được Pháp Nhiên (j: hōnen) phát triển tại Nhật. Mục đích của Tịnh độ tông là tu học nhằm được tái sinh tại Tây phương Cực lạc (s: sukhāvatī) Tịnh độ của Phật A-di-đà. Ðặc tính của tông này là lòng tin nhiệt thành nơi Phật A-di-đà và sức mạnh cứu độ của Ngài, là vị đã thệ nguyện cứu độ mọi chúng sinh quán tưởng đến Ngài. Vì thế chủ trương tông phái này có khi được gọi là »tín tâm«, thậm chí có người cho là »dễ dãi« vì chỉ trông cậy nơi một lực từ bên ngoài (tha lực) là Phật A-di-đà.|Phép tu của Tịnh độ tông chủ yếu là niệm danh hiệu Phật A-di-đà và quán tưởng Cực lạc. Phép tu này cũng được nhiều tông phái khác thừa nhận và hành trì. Các kinh quan trọng của Tịnh Ðộ tông là Lạc hữu trang nghiêm hay Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha), A-di-đà kinh (s: amitābha-sūtra) và Quán vô lượng thọ (s: amitāyurdhyāna-sūtra). Ngày nay Tịnh độ tông là tông phái Phật giáo phổ biến nhất tại Trung Quốc, Nhật và Việt Nam.|Năm 402, Huệ Viễn thành lập Bạch Liên xã, trong đó tăng sĩ và cư sĩ tụ tập trước tượng A-di-đà và nguyện thác sinh về cõi Cực lạc phương Tây. Như thế, Huệ Viễn được xem là sơ tổ của Tịnh độ tông. Sau đó Ðàm Loan (曇鸞; 476-542) là người phát triển tích cực tông Tịnh độ. Sư cho rằng trong thời mạt pháp thì tự lực không còn đủ sức để giải thoát, Sư từ chối con đường »gian khổ« của những tông phái khác và chấp nhận giải pháp »dễ dãi« là dựa vào một tha lực là đức A-di-đà. Theo Sư, chỉ cần nhất tâm quán niệm danh hiệu A-di-đà là đủ để sinh về cõi của Ngài. Sư viết nhiều luận giải về Quán vô lượng thọ kinh. Trong thời này tông Tịnh độ được truyền bá rộng rãi – vì so với các môn phái khác, tông này xem ra »dễ« hơn.|Mục đích của phép niệm danh hiệu A-di-đà là tìm cách chế ngự tâm. Thường thường hành giả tự đặt cho mình một chỉ tiêu niệm bao nhiêu lần. Phép quán niệm này được xem là có thể giúp hành giả »thấy« được A-di-đà và hai vị Bồ Tát tả hữu là Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara) và Ðại Thế Chí (s: mahāsthāmaprāpta) và biết trước được giờ chết của mình. Phép niệm này có thể thực hiện bằng cách đọc to hay đọc thầm, không nhất thiết phải có tranh tượng A-di-đà. Ðó là cách tu thông thường nhất. Ngoài ra hành giả có thể thực hiện phép thứ 16 trong Vô lượng thọ kinh, bằng cách tạo linh ảnh của A-di-đà và thế giới Cực lạc, xem như hiển hiện trước mắt. Phép tu cao nhất của tông này là tự xem thể tính của mình chính là A-di-đà. Tất cả mọi hành giả của Tịnh độ tông đều mong muốn được thấy A-di-đà trong một linh ảnh, đó là bằng chứng chắc chắn nhất sẽ được tái sinh trong cõi Cực lạc. Niệm danh hiệu và tạo linh ảnh là điều kiện »bên ngoài«, lòng tin kiên cố nơi A-di-đà là điều kiện »bên trong« của phép tu này, với hai điều kiện đó thì hành giả mới được tái sinh nơi cõi Cực lạc.|Tịnh độ tông Nhật Bản vốn có nguồn gốc từ Tịnh độ tông Trung Quốc, được Viên Nhân (圓仁; j: ennin, 793-864) truyền sang Nhật song song với giáo lí của Thiên Thai và Mật tông mà sư đã hấp thụ trong thời gian du học tại Trung Quốc. Sư là người truyền bá phương pháp Niệm Phật, niệm danh hiệu của Phật A-di-đà. Những vị nổi danh của tông này trong thời gian đầu là Không Dã Thượng Nhân (空也上人; j: kūya shōnin, 903-972), cũng được gọi là Thị Thánh (市聖), »Thánh ở chợ« và Nguyên Tín (源信; j: genshin, 942-1017). Trong thời này, niệm Phật là một thành phần trong việc tu hành của tất cả các tông phái tại Nhật, đặc biệt là Thiên Thai và Chân ngôn tông.|Trong thế kỉ 12, Pháp Nhiên (法燃; j: hōnen; 1133-1212) chính thức thành lập tông Tịnh độ. Sư muốn mở một con đường tu tập mới, »dễ đi« trong thời mạt pháp cho những người sống đau khổ. Sư rất thành công trong việc thuyết phục quần chúng và rất nhiều người quy tụ lại, thành lập một trường phái rất mạnh. Vì sư tự tôn giáo lí mình – cho rằng đó là giáo lí tột cùng – nên không thoát khỏi sự tranh chấp dèm pha. Sư bị đày ra một vùng hoang vắng năm 74 tuổi.|Giáo lí cơ sở của Pháp Nhiên dựa trên các bộ kinh Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm (s: sukhāvatī-vyūha), A-di-đà kinh (s: amitābha-sūtra) và Quán vô lượng thọ (s: amitāyurdhyāna-sūtra). Cách tu hành của tông này chỉ là việc tụng câu »Nam-mô A-di-đà Phật« (j: namu amida butsu). Việc niệm danh Phật rất quan trọng để phát triển lòng tin nơi Phật A-di-đà, nếu không thì hành giả không thể nào thác sinh vào cõi của Ngài, mục đích chính của việc tu hành của tông này. Ngược với Tịnh độ chân tông, hành giả của tông này sống một cuộc đời tăng sĩ.|Không Dã Thượng Nhân là người đầu tiên tín ngưỡng đức A-di-đà và truyền bá công khai việc niệm Phật giữa chợ và vì vậy mang biệt hiệu là Thị Thánh. Sư nhảy múa ở ngoài đường và ca tụng danh hiệu A-di-đà theo nhịp gõ của bình bát trên tay.|Lương Nhẫn (良忍; ryōnin), một Cao tăng thuộc Thiên Thai tông đã nổi danh trong việc tín ngưỡng và tán tụng đức A-di-đà trong những bài hát. Sư chịu ảnh hưởng mạnh của hai tông Thiên Thai và Hoa Nghiêm và trên cơ sở này, Sư phát triển một cách »Dung thông niệm Phật« (融通念佛): Nếu một người nào đó niệm Phật thì công đức này sẽ đến với tất cả những người khác và ngược lại, ai cũng có phần của mình trong việc tụng niệm danh Phật. Cách diễn giảng giáo lí của sư như trên thuyết phục được nhiều người trong vương triều và sau khi tịch, giáo lí này được các vị đệ tử kế thừa.|Nguyên Tín (源信; genshin), một Cao tăng trên núi Tỉ Duệ (比叡) – trung tâm của các trường phái tín ngưỡng A-di-đà – tin chắc rằng, có một con đường đưa tất cả chúng sinh đến giải thoát. Sư trình bày phương pháp tu tập của mình trong Vãng sinh yếu tập (往生要集), một quyển sách nói về niềm tin nơi đức A-di-đà. Trong sách này, Sư trình bày trong mười phẩm những hình phạt khủng khiếp dưới Ðịa ngục và ích lợi của cách tu hành niệm Phật. Sư tự tin là mình đã tìm biết được hai tính chất đặc thù của con người là: tâm trạng sợ hãi kinh khiếp địa ngục và lòng khao khát được tái sinh vào cõi Cực lạc. Quyển sách này là một trong những tác phẩm có ảnh hưởng lớn nhất trong truyền thống tín ngưỡng Phật A-di-đà tại Nhật. Sư không những viết sách phổ biến giáo lí của mình mà còn sử dụng hội hoạ, nghệ thuật tạc tượng để truyền bá tông phong của mình đến những người ít học. Nhưng đến đây, việc tôn thờ A-di-đà Phật vẫn chưa là một trường phái độc lập, mà chỉ là một thành phần tu học của những tông phái tại đây.|Với Pháp Nhiên, Tịnh độ tông chính thức được hình thành. Sư quan niệm rằng, đa số con người không thể đi con đường khó, hoàn toàn tin vào tự lực trong thời mạt pháp và cơ hội duy nhất của họ là tin vào sự hỗ trợ của Phật A-di-đà, tin vào tha lực.
Tịnh đức 淨德; C: jìngdé; J: jōtoku;|Đức hạnh thanh tịnh. Một trong Tứ đức (四德)
Tịnh giới 淨戒; C: jìng jiè; J: jōkai;|1. Giới luật thanh tịnh. Giới luật mà chư tăng ni phải tu tập; 2. Sự thanh tịnh trong giới luật. Trì giữ giới luật; 3. Một cách dịch nghĩa chữ Tỉ-khâu (比丘; s: bhikṣu).
Tịnh hành 淨行; C: jìngxíng; J: jōgyō;|1. Hạnh (tư cách đạo đức) thanh tịnh, đặc biệt trong ý nghĩa không dính líu đến việc dâm dục (s: brahma-cārya); 2. Người an trú trong các công hạnh thanh tịnh; 3. Tên của vị Bồ Tát thứ 3 trong 4 vị Bồ Tát xuất hiện trong phẩm Tòng địa dũng xuất trong kinh Pháp Hoa.
Tịnh Không 淨空; 1091-1170|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 10. Sư kế thừa Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư người gốc Trung Quốc, họ Ngô, quê ở Phúc Châu (Phúc Kiến). Ban đầu, Sư đến viện Sùng Phúc xuất gia và Thụ giới cụ túc.|Năm lên 30, Sư Hành cước đến phương Nam, đến chùa Khai Quốc phủ Thiên Ðức dừng lại trụ trì. Ở đây, Sư chuyên tu theo hạnh Ðầu-đà, ngồi hoài không nằm, mỗi khi nhập Ðịnh nhiều ngày mới xuất. Mọi người xung quanh rất kính trọng, đem lễ vật cúng dường chất cao như núi.|Một hôm, một vị thiền khách đến chùa hỏi thăm sự tu hành. Vị này biết Sư chưa ngộ yếu chỉ bèn chỉ đến Thiền sư Ðạo Huệ tham học. Sư bèn giao chùa đi thẳng đến Ðạo Huệ.|Ðến nơi, Sư hỏi Ðạo Huệ: »Nơi này có tông chỉ Thiền tông chăng?« Ðạo Huệ đáp: »Nơi đây tông chỉ chẳng phải không, nhưng Xà-lê làm sao đảm nhận?« Sư suy nghĩ trả lời, Ðạo Huệ nạt: »Ngay trước mặt đã lầm qua rồi!« Sư liền lĩnh hội ý chỉ, ở lại hầu thầy ba năm.|Sau, Sư về chùa cũ trụ trì hoằng hoá. Năm thứ 8 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng đời vua Lí Anh Tông, Sư từ giã chúng và căn dặn: »Các ngươi khéo tự giữ gìn như lúc ta còn, chớ nhiễm thế gian sinh ra quyến luyến.« Ðến giữa đêm, Sư ngồi Kết già thị tịch.
Tĩnh Lực 靜力; 1112-1175|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, thế hệ thứ 10. Sư nối pháp Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư tên tục là Ngô Trạm, quê ở Cát Lăng, Vũ Bình. Sư bẩm chất thông minh, lại thông cả ba môn: Văn nghệ, học thuật và thể dục. Sư đến Thiền sư Ðạo Huệ thụ giáo và sau đó được ấn chứng.|Nghe lời khuyên của thầy, Sư đến Vũ Ninh cất trên núi một am cỏ ở làng Cương Việt. Tương truyền tiếng nói của Sư trong vắt và thời nhân bảo rằng, trong miệng Sư có con chim Hoàng oanh.|Niên hiệu Thiên Cảm Chí Bảo thứ hai, một hôm Sư cáo bệnh gọi đồ chúng lại dạy: »Các ngươi! Tất cả các người học đạo lấy tâm siêng năng cúng dường Phật, không gì khác hơn chỉ cầu dứt được các nghiệp ác. Tâm miệng niệm tụng, tin hiểu nghe nhận, ở chỗ vắng vẻ yên lặng, gần Thiện tri thức. Nói ra lời hoà nhã, nói phải thời, trong tâm không khiếp nhược. Liễu đạt nghĩa lí, xa lìa ngu mê, an trụ chỗ bất động. Quán tất cả các pháp Vô thường, Vô ngã, vô tác Vô vi. Nơi nơi lìa phân biệt, ấy là người học đạo. Nay phần hoá duyên của ta đã xong.« Sư nói kệ:|先雖言吉後言凶。自是太祖諱不從|爲遇見龍爲佛子。忽遭鼠出寂無窮|Tiên tuy ngôn kiết hậu ngôn hung|Tự thị Thái Tổ huý bất tòng|Vi ngộ kiến long vi Phật tử|Hốt tao thử xuất tịch vô cùng.|*Trước tuy nói kiết, sau gọi hung|Từ đời Thái Tổ kiêng chẳng tòng|Vì thấy rồng lên làm Phật tử|Chợt trông chuột hiện lặng vô cùng.|Nói xong, Sư ngồi ngay thẳng thị tịch, thọ 64 tuổi.
Tịnh nghiệp chướng kinh 淨業障經; C: jìng yèzhàng jīng; J: jō gōshō kyō;|1 quyển. Dịch giả khuyết danh, nhưng kinh có lẽ được dịch vào đời Tây Tần (西秦) khoảng từ năm 350-430. Kinh kể chuyện 2 vị tăng tên Vô Cấu Quang (無垢光) và Dũng Thí (勇施) bị phạm tội trọng, nhưng chuyển hoá được ác nghiệp nhờ nhận ra được bản tính vô sinh của các pháp. Tên gọi đầy đủ là Phật thuyết tịnh nghiệp chướng kinh (佛説淨業障經).
Tịnh nhãn 淨眼; C: jìngyăn; J: jōgen;|1. Con mắt thanh tịnh, hay con mắt thanh tịnh của Đức Phật nhìn thấu suốt mọi hiện tượng; 2. Tên một người con của một vị Bồ Tát vương xuất hiện trong kinh Pháp Hoa.
Tịnh Phạn vương 淨飯王; S: suddhodhana; C: jìngfàn wáng; J: jōbanō;|Thân phụ của Phật Thích-ca Mâu-ni. Ông là vua trị vì vương quốc Ca-tì-la-vệ Ấn Độ. Tên ông còn được phiên âm là Thủ-đồ-đà-na (首圖駄那).
Tịnh Phạn vương tử 淨飯王子; C: jìngfàn wángzí; J: jōbanōshi;|Con của vua Tịnh Phạn, tức đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Tịnh sắc 淨色; C: jìng sè; J: jōshiki;|Sắc pháp thanh tịnh. Thể chất thuần thanh tịnh. Năm giác quan: mắt, tai, mũi, lưỡi và thân.
Tịnh tâm địa 淨心地; C: jìng xīndì; J: jōshinji;|Thuật ngữ dùng trong luận Đại thừa khởi tín, chỉ cho giai vị đầu tiên của hàng Thập địa Bồ Tát.
Tịnh tâm giới quán pháp 淨心戒觀法; C: jìngxīn jièguān fă; J: jōshin kaikan hō;|Tác phẩm của Đạo Tuyên (道宣).
Tịnh tạng 淨藏; C: jìngzàng; J: jōzō;|Kho tàng thanh tịnh. Cùng với Tịnh Nhãn (淨眼), là 2 người con của Diệu Trang Nghiêm Vương (妙莊嚴王), được nhắc đến tronh kinh Pháp Hoa.
Tịnh thân 淨身; C: jìngshēn; J: jōshin;|1. Làm cho thân được thanh tịnh; 2. Làm cho con người được thanh tịnh.
Tịnh Thiền 淨禪; 1121-1193|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 17, nối pháp Thiền sư Ðạo Lâm.|Sư tên Phí Hoàn, quê ở làng Cổ Giao, quận Long Biên. Ban đầu, Sư cùng bạn là Tịnh Không thờ Thiền sư Ðạo Lâm ở chùa Long Vân làm thầy. Sư ngày ngày tu tập chuyên cần nên thâm nhập huyền chỉ, được Ðạo Lâm ấn chứng. Khi Ðạo Lâm qua đời, Sư chu du đây đó học hỏi thêm ở các Thiện tri thức. Khi thấy đã đủ duyên, đạo hạnh thuần thục, Sư trở về quê nhà trùng tu chùa Long Hoa và trụ trì nơi đây.|Sư tịch năm Quý Sửu, ngày 12 tháng 8 niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ thứ 8, thọ 73 tuổi.
Tinh tiến 精進; S: vīrya; P: viriya;|Chỉ năng lực, ý chí làm những điều thiện, tránh những điều bất thiện. Tinh tiến là yếu tố thứ 6 trong Bát chính đạo và chính là Bốn tinh tiến, ngoài ra Tinh tiến là một trong Năm lực, một hạnh Ba-la-mật-đa, một trong Bảy giác chi, một trong năm Căn (indri-ya).
Tịnh vô kí 淨無記; C: jìng wújì; J: jō muki;|Đồng nghĩa với Vô phú vô kí (無覆無記).
Tịnh Vực tự 淨域寺; C: jìngyù sì; J: jōiki ji;|Ngôi chùa ở Tràng An, bản doanh của Tam giai giáo (三階教), có liên quan đến Pháp Tạng (法藏; 637-714).
Tố 泝; C: sù; J: so; |1. Bơi ngược dòng, trở về nguồn; 2. Quay về nguồn cội, trở về dĩ vãng; 3. Chạm trán, đối diện.
Tô Ðông Pha 蘇東坡; C: sūdōngpō; 1037-1101, cũng được gọi là Ðông Pha Cư sĩ;|Văn hào nổi danh kiêm Cư sĩ ngộ đạo người Trung Quốc. Ông kế thừa Thiền sư Ðông Lâm Thường Tổng (東林常總; cũng được gọi là Ðông Lâm Chiếu Giác), một môn đệ đắc pháp của Thiền sư Hoàng Long Huệ Nam.|Ông tên Tô Thức, tự là Tử Chiêm, hiệu Ðông Pha. Cha ông là Tô Tuân, người em trai là Tô Triệt (tự là Tử Do). Ðiểm đặc sắc nhất trong gia đình họ Tô là cả ba cha con đều được xếp vào »Bát đại gia« của văn học Trung quốc từ suốt đời Ðường đến đời Tống. Ông đã sớm tỏ tài năng của mình, lên 11 tuổi đã đọc nhiều sách vở. Năm 22 tuổi, cùng với em là Tô Triệt, ông đi thi và đỗ tiến sĩ.|Cuộc đời sau đó của ông rất thăng trầm, lúc thì đạt những địa vị cao cả, lúc thì bị đày ra những nơi hẻo lánh khổ cực. Nhưng không lúc nào ông rời chủ trương của cuộc đời mình là đem triết lí của đạo Phật, Lão Tử, Trang Tử vào thơ văn, áp dụng tinh thần từ bi vào việc trị dân, đào kinh đắp đập chống thiên tai… Lúc rảnh rỗi thì ngao du sơn thuỷ tham vấn các vị Thiền sư để học Ðạo. Nhân một lần dừng chân tại Ðông Lâm, ông được Thiền sư Thường Tổng thuyết về »vô tình thuyết pháp« và nhân đây có ngộ nhập. Sáng hôm sau ông trình kệ:|溪聲便是廣長舌。山色豈非清淨身|夜來八萬四千偈。他日如何舉似人|Khê thanh tiện thị quảng trường thiệt|Sơn sắc khởi phi thanh tịnh thân|Dạ lai bát vạn tứ thiên kệ|Tha nhật như hà cử tự nhân|*Suối reo quả thật lưỡi rộng dài|Màu non đây hẳn thân thanh tịnh|Ðêm nghe tám vạn bốn ngàn kệ|Sáng dậy làm sao nói với người.|(cô T. N. dịch, theo Thích Phước Hảo, Thích Thông Phương).|Thú vị nhất có lẽ là những giai thoại thiền giữa ông và những vị Cao tăng đương thời. Qua đó, người ta có thể hình dung được tinh thần của ông và cái »Ðại cơ đại dụng« của các vị Thiền sư.|Một hôm, ông đến viếng Thiền sư Hạo ở Ngọc Tuyền. Ngọc Tuyền thấy ông liền hỏi: »Tôn quan tên gì?« Ông thưa: »Tên Cân, nghĩa là »cân« các vị trưởng lão trong thiên hạ.« Ngọc Tuyền liền quát một tiếng to, rồi sau đó bảo: »Hãy nói tiếng hét này nặng bao nhiêu!« Ông không đáp được, từ đó thầm khâm phục.|Ông cũng kết bạn rất thân với Thiền sư Phật Ấn Liễu Nguyên. Một hôm, ông đi thuyền ghé thăm Phật Ấn ngay lúc vị này đi vắng. Ðợi mãi không được, ông bèn viết vài dòng lưu lại và những chữ cuối cùng là »Tô Ðông Pha, người Phật tử vĩ đại, dù có tám ngọn gió (Bát phong) thổi cũng chẳng động.« Phật Ấn về đọc thấy thế liền viết thêm những dòng sau »Nhảm nhí! Những gì ông viết ở đây chẳng hơn gì phát rắm.« Khi nghe được lời lăng mạ này Tô Ðông Pha nổi giận lôi đình, cấp tốc đi thuyền qua sông. Thấy Phật Ấn, ông quát to: »Thầy có quyền gì mà thoá mạ tôi như vậy? Tôi há không phải là một Phật tử mộ đạo, chỉ để tâm đến đạo không thôi hay sao? Quen biết tôi lâu như vậy không lẽ thầy lại mù quáng đến thế hay sao?« Phật Ấn chỉ lặng lẽ nhìn ông một vài giây, sau đó mỉm cười nói chậm rãi: »Tô Ðông Pha, Phật tử vĩ đại kêu rằng tám ngọn gió cũng khó mà động được ông một tấc, thế mà giờ đây chỉ một phát rắm cũng thổi ông qua đến tận bên này sông!«|Danh vọng của ông cao mà tính tình lại rất là bình dân, có lúc tự cày ruộng, cất nhà như một nông phu. Ông viết lên vách nhà đế tự răn mình: »Hay ngồi xe thì chân sẽ tàn tật, ở nhà rộng dễ bị cảm, hiếu sắc thì sức mau kiệt, ăn đồ cao lương thì dễ đau bao tử.« Vì tâm hồn khoáng đạt người đời đều quý mến ông hơn tất cả các văn hào khác đời Tống.
Tổ sư 祖師; J: soshi;|Thường được hiểu là những vị Tổ trong Thiền tông. Tổ sư là những Ðại sư đã thấu hiểu Phật pháp, đã được truyền tâm ấn qua cách »Dĩ tâm truyền tâm« và truyền lại cho những Pháp tự. Biểu tượng của việc »Truyền tâm ấn« là pháp y và Bát, gọi ngắn là »y bát«. Theo truyền thuyết, 28 vị Tổ sư Ấn Ðộ kế thừa nhau sau đức Phật Thích-ca để truyền bá Thiền tông và Bồ-đề Ðạt-ma – vị Tổ thứ 28 tại đây – được xem là Tổ thứ nhất của Thiền Trung Quốc.|Vị Tổ thứ 6 tại Trung Quốc là Huệ Năng không chính thức truyền y bát lại cho ai và vì vậy, biểu tượng này và với nó là danh hiệu Tổ sư thất truyền. Nhưng Huệ Năng lại có năm vị đệ tử đắc pháp xuất sắc – được thời nhân gọi là Ngũ đại tông tượng –, là những vị đã khai sáng và phát triển nhiều nhánh thiền quan trọng.|Năm vị Ðại Thiền sư được tôn là Ngũ đại tông tượng của Lục tổ: 1. Thanh Nguyên Hành Tư; 2. Nam Nhạc Hoài Nhượng; 3. Nam Dương Huệ Trung; 4. Vĩnh Gia Huyền Giác và 5. Hà Trạch Thần Hội.|Trong những nhánh thiền này (Ngũ gia thất tông), những vị Thiền sư xuất sắc được các tăng ni cũng như giới Cư sĩ tôn sùng và gọi là Tổ sư.
Toạ 坐; C: zuò; J: za; |Có các nghĩa sau: 1. Ngồi; 2. Chỗ ngồi; 3. Giữ gìn, bảo quản, giữ vững.
Toạ bồ đoàn 坐蒲團; J: zabuton; cũng được gọi tắt là Bồ đoàn; |Một dụng cụ để Toạ thiền, thường được dồn bằng bông gòn và bọc bằng một lớp vải xanh dương đậm. Toạ bồ đoàn có hình vuông, với kích thước mà một người ngồi thiền trong tư thế Kết già phu toạ vừa đủ ngồi và để hai đùi gối lên.
Toạ cao quảng đại sàng 坐高廣大牀; C: zuògāoguăngdàchuáng; J: zakōkōdaishō; |Việc sử dụng giường cao rộng; các tăng sĩ Phật giáo không được dùng theo điều luật trong Thập giới.
Toạ cụ 坐具; J: zagu; là »Dụng cụ để ngồi (thiền)«;|Ban đầu toạ cụ chỉ là một tấm vải để ngồi và là một trong sáu vật (lục vật) mà một thiền tăng được mang theo tuỳ thân. Nếu thiền sinh đi Hành cước thì toạ cụ thường được xếp gọn và cất giữ dưới y phục. Trong Thiền tông thì toạ cụ trở thành một tấm khăn mà ngày nay cũng còn được sử dụng trong những buổi lễ, ví dụ như khi thiền sinh trải toạ cụ để quì lạy, lễ bái. Toạ cụ cũng được nhắc đến trong một vài Công án.
Toạ đoạn 坐斷; J: zadan; cũng được gọi là Toạ diệt (坐滅; j: zasetsu); |Nghĩa »Ngổi thiền để đoạn diệt« và cái được đoạn diệt ở đây chính là những vọng tưởng, ý nghĩ Si mê, Vô minh.|Khi các vọng tưởng trong một phàm phu tâm thức đã được cắt đứt thì người ta sẽ trực ngộ được Phật tính, ngộ được tính Không (s: śūnyatā; j: kū) của hiện hữu. Nếu người ta còn vướng mắc, bám vào khía cạnh sắc tướng của sự vật và cho nó là sự thật tuyệt đối thì không bao giờ trực chứng được cái chân tính nằm sau mọi hiện tượng. Trong lúc toạ thiền thì tất cả những vọng tưởng che đậy Chân như dần dần được đoạn diệt một cách có hệ thống – đến khi cách nhìn theo lối nhị nguyên »Ta đây vật đó« bất thình lình bị phá vỡ và hành giả chết một cái chết lớn (大死; đại tử) trên Toạ bồ đoàn. Cái chết lớn này chính là điều kiện căn bản của sự sống mới hoàn toàn tự do tự tại, không còn bị ảnh hưởng của sinh tử luân hồi.
Toạ hạ 坐夏; J: zage; nghĩa là »Toạ thiền mùa hè«;|Một tên khác của mùa An cư (j: ango).
Toạ thiền 坐禪; C: zuòchán; J: zazen; nghĩa là ngồi thiền;|Phương pháp tu tập trực tiếp đưa đến Giác ngộ. Mới đầu toạ thiền đòi hỏi thiền giả tập trung tâm trí lên một đối tượng (ví dụ một Man-đa-la hay linh ảnh một vị Bồ Tát), hay quán sát về một khái niệm trừu tượng (ví dụ như quán tính Vô thường hay lòng Từ bi). Sau đó toạ thiền đòi hỏi thiền giả phải thoát ra sự vướng mắc của tư tưởng, ảnh tượng, khái niệm vì mục đích của toạ thiền là tiến đến một tình trạng vô niệm, tỉnh giác, không dung chứa một nội dung nào. Sau một giai đoạn kiên trì trong vô niệm, hành giả sẽ bỗng nhiên trực ngộ thể tính của mình, đó là tính Không, cái »thể« của vạn vật. |Trong một chừng mực nhất định, toạ thiền đối lập với cách thiền quán Công án vì công án là một đề tài nghịch lí, bắt thiền giả phải liên tục quán tưởng để đến một lúc nào đó bỗng chợt phát ngộ nhập. Trong các phái Thiền Trung Quốc và Nhật Bản, có phái nghiêng về công án (Khán thoại thiền), có phái nghiêng về toạ thiền (Mặc chiếu thiền).|Như từ »thiền« cũng có nghĩa »trầm lắng«, toạ thiền là »ngồi trong sự trầm lắng.« Toạ thiền quan trọng đến mức có người cho rằng không có toạ thiền thì không có thiền. Thiền sư Nam Nhạc Hoài Nhượng có lần nói đại ý »không thể thành Phật bằng việc ngồi.« Công án này có nhiều người hiểu sai, cho rằng Nam Nhạc chê bai việc »ngồi«, vì con người vốn đã là Phật. Ðã đành, Phật giáo Ðại thừa cũng như Thiền tông đều cho rằng chúng sinh đã là Phật, nhưng Thiền cũng nhấn mạnh rằng, điều khác nhau là tin hiểu điều đó một cách lí thuyết hay đã trực ngộ điều đó. Kinh nghiệm trực ngộ đó chính là giác ngộ, mà hành trì toạ thiền là một phương pháp ưu việt.|Như Tổ Thiền Trung Quốc Bồ-đề Ðạt-ma đã ngồi chín năm quay mặt vào vách tại chùa Thiếu Lâm, phép toạ thiền là phép tu chủ yếu của Thiền và được mọi Thiền sư hành trì. Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền cho rằng toạ thiền là »đường dẫn đến cửa giải thoát.« Trong tác phẩm Bạch Ẩn Thiền sư toạ thiền hoà tán, Thiền sư Bạch Ẩn viết:|»Ôi toạ thiền, như Ðại thừa chỉ dạy, không có lời tán dương nào nói hết. Tu sáu Ba-la-mật hay tu hạnh bố thí, giữ giới hay hành trì, kể sao cho hết.|Tất cả đều xuất phát từ toạ thiền. Chỉ một lần toạ thiền, công đức sẽ rửa sạch tất cả nghiệp chướng chồng chất từ vô thuỷ.«|Lục tổ Huệ Năng giảng về Toạ thiền trong Pháp bảo đàn kinh: »Thiện tri thức, tại sao gọi là Toạ thiền? Trong Pháp môn này vô chướng, vô ngại, bên ngoài đối với tất cả cảnh giới thiện ác tâm niệm chẳng khởi gọi là Toạ, bên trong thấy tự tính chẳng động gọi là Thiền. Thiện tri thức, sao gọi là Thiền định? Bên ngoài lìa tướng là Thiền, bên trong chẳng loạn là Ðịnh. Ngoài nếu chấp tướng trong tâm liền loạn, ngoài nếu lìa tướng thì tâm chẳng loạn. Bản tính tự tịnh, tự định, chỉ vì thấy cảnh chấp mà thành loạn. Nếu người thấy mọi cảnh mà tâm chẳng loạn, đó là Chân định vậy.«
Toàn 旋; C: xuán; J: sen;|1. Đi quanh, quay trở lại, quay tròn, quay xung quanh, di chuyển quanh một quỹ đạo; 2. Xoáy nước; 3. Sự trở về, trở lại; 4. Chẳng bao lâu, ngay sau đó.
Toàn hoả luân 旋火輪; C: xuánhuŏ lún; J: senkarin;|Khi cầm một sợi dây hay cây gậy bằng lửa quay quanh, trông giống như có một vòng lửa. Được dùng trong kinh Viên Giác để ẩn dụ cho tính vọng tưởng của chúng sinh.
Tộc 族; C: zú; J: zoku;|Một thị tộc, bộ lạc, dòng họ (s: anvaya). Một tầng lớp; tập trung lại cùng nhau. Tiêu diệt toàn thể gia đình vì một người phạm tội.
Tối chính giác 最正覺; C: zuìzhèngjué; J: saishōgaku; S: agra-bodhi. |Chân chính giác ngộ tuyệt đối. Giác ngộ chân chính nhất.
Tối hậu thân 最後身; C: zuìhòushēn; J: saigoshin; |Thân sau cùng sinh ở thế giới Sa-bà, nghĩa là thân của một A-la-hán, bậc đã dập tắt mọi phiền não và không tái sinh nữa (s: antima-deha, antima-sarīra). |Trong cùng một ý nghĩa, tuỳ thuộc ngữ cảnh khác, thuật ngữ nầy có thể được dùng uyển chuyển hơn, đề cập đến thân sau cùng của một Đức Phật hay một bậc giác ngộ như Bích-chi Phật hay Bồ Tát.
Tối Nột 最吶; C: zuìnà; J: saitotsu; K: ch'oenul, 1717-1790|Thiền sư Triều Tiên, tác giả của Chư kinh hội yếu (諸經會要, k: chegyŏng hoeyo).
Tối thắng 最勝; C: zuìshèng; J: saishō; |Xuất sắc nhất, vĩ đại nhất, tốt nhất, cao cấp nhất (s: parama, paramatā, agra, pravara; t: gtso bo). Nổi bật nhất; có uy thế nhất.
Tối Thắng Tử 最勝子; C: zuìshèngzǐ; J: saishōshi; S: jina-putra, sau thế kỉ thứ 6-?.|Còn được phiên âm là Chân-na-phất-đán-la (慎那弗呾羅) và Chấn-đa-phất-đa-la (辰那弗多羅), viết tắt là Thắng tử (勝子). Là một tăng sĩ thuộc Du-già hành tông Ấn Độ, là môn đệ của Hộ Pháp (s: dharmapāla), và là tác giả của Du-già sư địa luận thích (瑜伽師地論釋, s: yogācārabhūmi-śāstra-kārikā). Sư còn viết luận giải về Duy thức tam thập tụng của Thế Thân (唯識三十頌, s: triṃsikā).
Tối thượng bí mật na nã thiên kinh 最上祕密那拏天經; C: zuìshàng mìmì nănátiān jīng; J: saijō himitsu nadaten gyō; S: śravanasyaputranaḍagupilāya-kalparāja; |3 quyển, viết tắt là Na-nã thiên kinh (那拏天經), Pháp Hiền (法賢) dịch.|Tối thượng đại thừa kim cương đại giáo bảo vương kinh|最上大乘金剛大教寶王經; C: zuìshàng dàshèng jīngāng dàjiào băowáng jīng; J: saijō daijō kongō daikyō hōō kyō; s: vajragarbha-ratnarāja-tantra.|2 quyển, Pháp Thiên (法天) dịch.
Tối Trừng 最澄; J: saichō; C: zuìchéng; 767-822; cũng được gọi là Truyền Giáo Ðại sư;|Người thành lập tông Thiên Thai Nhật Bản. Sư lưu tâm đến Phật pháp từ lúc mới 12 tuổi, sư trở thành đệ tử của Hành Biểu (行表, j: gyōhyō) trú trì chùa Quốc Phân (國分寺, j: kokubunji) ở Cận Giang (近江, j: ōmi) vào lúc 14 tuổi, và sau khi thụ giới cụ túc vào năm 19 tuổi tại chùa Đông Đại (東大寺, j: tōdaiji), sư đến núi Tỉ Duệ (比叡山, j: hiei) để tu tập thiền quán và nghiên cứu về Hoa Nghiêm tông. Nhưng sư say mê nhất giáo lí của tông Thiên Thai, điều mà sư trở nên quen thuộc qua đọc các tác phẩm của ngài Trí Khải. Sư nổi tiếng là một học giả uyên bác đến mức sư được Hoàng đế Kammu ban tặng cho một cơ hội sang Trung Hoa nghiên cứu Phật pháp với mục đích tạo dựng nên một sắc thái Phật giáo tương ứng với bản sắc Nhật Bản. Sư đáp thuyền đi năm 804 cùng với người bạn đồng hành là Không Hải (空海, j: kūkai). Tại Trung Hoa, sư trở thành môn đệ của Ngưu đầu thiền với Thiền sư Tiêu Nhiên (翛禪). Sư nghiên cứu tông Thiên Thai với ngài Đạo Thuý (道邃), nghiên cứu Chân ngôn tông (眞言) với ngài Thuận Hiểu (順曉), trong đó không có giáo lí nào còn tồn tại như một tông phái độc lập ở Nại Lương. Sư trở về Nhật Bản vào năm sau, và vào năm 806, sư chính thức thành lập Thiên Thai tông Nhật Bản. Nhưng mặc dù chịu ảnh hưởng giáo lí tông Thiên Thai nhiều nhất, nhưng qua mối quan hệ với ngài Không Hải, sư vẫn có quan tâm sâu sắc đến Chân Ngôn tông. Thế nên hệ thống giáo lí riêng của sư có khuynh hướng là một giáo lí hoà hợp. Sư dành thời gian còn lại của đời mình để truyền bá kiến thức Phật học của mình cho Phật tử quanh vùng núi Tỉ Duệ, nhưng gặp phải sự chống đối thường xuyên với những tông phái đã được thành lập từ trước, đặc biệt là về những cải cách mà sư đang nỗ lực thực hiện, như việc sư tìm kiếm sự hợp lí hoá một vài nghi thức truyền thụ giới pháp Đại thừa. Sư trứ tác rất nhiều, một trong những tác phẩm quan trọng là Thủ hộ quốc giới chương (守護國界章, j: shugo kokkaishō), Pháp Hoa tú cú (法華秀句, j: hokkeshūku) và Hiển giới luận (顯戒論, j: kenkai ron).|Chủ trương của Thiên Thai tông tại Nhật không khác gì với Thiên Thai Trung Quốc. Ðó là quan điểm đặt cơ sở trên kinh Diệu pháp liên hoa, trên lời thuyết pháp thật sự của đức Phật. Sư cho rằng các tông phái khác hay dựa trên các luận giải, chứ không phải trên kinh điển chính thức của đức Phật nên Thiên Thai tông ưu việt hơn. Sư cũng có quan điểm khác với các tông phái khác và nhấn mạnh đến tính thống nhất và bao trùm của Thiên Thai tông. Tính bao trùm thể hiện trong luận điểm, mọi chúng sinh đều có khả năng giác ngộ và thành Phật. Tính này cũng thể hiện trong Phật tính, là tính chất chung nhất của mọi chúng sinh. Ðối với Sư, muốn đạt Phật quả, hành giả phải sống một đời sống trong sạch và tu tập Chỉ-Quán.|Sư quan tâm giữ gìn mối quan hệ với hoàng gia đương thời. Núi Tỉ Duệ được xem là »Trung tâm bảo vệ quốc gia« của Nhật và xem Ðại thừa Phật giáo là người bảo vệ đất nước Nhật. Sư chia tăng sĩ học trong thiền viện mình ra làm nhiều hạng: những người xuất sắc nhất được xem là »bảo vật của quốc gia« và phải ở trong chùa, phụng sự đất nước. Những người kém hơn thì cho vào các công sở, dạy học hoặc làm nhà nông, nói chung là phục vụ xã hội.
Tối tự tại 最自在; C: zuìzìzài; J: saijizai; |Tự do tột cùng; hoàn toàn tự tại.
Tối vô tỉ kinh 最無比經; C: zuì wúbĭ jīng; J: sai muhi kyō; |Huyền Trang dịch năm 649 tại Từ Ân tự, gồm 1 quyển. Nội dung kinh Đức Phật giảng giải công đức của tam quy, ngũ giới, và cụ túc giới cho A-nan-đà. Tên đầy đủ là Phật thuyết tối vô tỉ kinh (佛説最無比經).
Tông-khách-ba 宗喀巴; T: tsong-kha-pa; 1357-1419;|Lạt-ma Tây Tạng, nhà cải cách lừng danh của Phật giáo tại đây. Sư sáng lập tông phái Cách-lỗ (t: gelugpa), với một trong những giáo pháp quan trọng nhất của Phật giáo Tây Tạng. Sư sinh ra trong lúc các Tạng kinh tại Tây Tạng đã soạn xong nhưng Sư chủ trương soát xét lại toàn bộ kinh điển và tổng kết thành quả của mình trong hai tác phẩm chính: Bồ-đề đạo thứ đệ (t: lamrim chenmo) và Chân ngôn đạo thứ đệ (t: ngagrim chen-mo). Sư là người xây dựng nhiều tháp quan trọng tại Tây Tạng như Drepung, Sera và Ganden.|Sư sinh tại Amdo, Ðông Bắc Tây Tạng và lúc còn nhỏ, Sư đã đi vào con đường tu học. Năm ba tuổi, Sư thụ giới Cư sĩ với Cát-mã-ba (t: karmapa) thứ 4, La-bồi Ða-kiệt (t: rolpe dorje; 1340-1383). Sư học với nhiều vị đạo sư khác nhau và nghe nhiều khai thị của hai tông phái Tát-ca (t: sakyapa) và Cam-đan (t: kadampa). Khả năng luận giảng xuất sắc của Tông-khách-ba biểu lộ trong 18 tác phẩm và các tác phẩm này đã trở thành kinh sách giáo khoa cho các thế hệ sau. Sư cho rằng, một tỉ-khâu cần phải nghiên cứu năm ngành học (Ngũ minh) và muốn thế, vị này cần biết lắng nghe các lời khai thị, biết tự mình suy xét phân biệt và biết thực hiện chúng thông qua thiền định. Trong năm ngành đó thì về triết học, Sư khuyên học Trung quán và ngành Nhân minh (s: hetuvidyā), về thiền định nên nghiên giáo pháp của kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa và A-tì-đạt-ma (s: abhidharma), về một đời sống chân chính nên dựa vào Luật tạng (s, p: vina-ya).||H 67: Tông-khách-ba. Trong hình này, Sư được diễn tả như một hiện thân của Văn-thù, với những dụng cụ thuộc tính như hoả kiếm (s: khaḍga) và quyển kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā-sūtra). Tay Sư đang bắt Ấn chuyển pháp luân. Phía trên đầu là ba bảo ngọc, tượng trưng cho Tam bảo. Mũ nhọn trên đầu Sư là biểu hiện của một học giả (s: paṇḍita).|Ngoài các thành tích trên, Sư còn hoàn tất bốn công trình lớn được kể là: tu chỉnh một bức tượng quan trọng của Di-lặc, kiên trì giữ Luật tạng, thành lập lễ nguyên đán Mon-lam và xây nhiều tháp.
Tòng lâm 叢林; C: cónglín; J: sourin; |Nghĩa gốc của thuật ngữ nầy là »rừng cây«, »lùm cây«, »khu rừng nhỏ«. Trong Phật pháp, nó có nghĩa là nơi Tăng chúng tu tập, như tu viện hay chùa.
Tông Mật 宗密|Khuê Phong Tông Mật
Tông Phong Diệu Siêu 宗峰妙超; J: shūhō myōchō; 1282-1338; cũng được gọi là Ðại Ðăng Quốc sư (j: daitō kokushi); |Thiền sư Nhật Bản lỗi lạc thuộc tông Lâm Tế. Sư nối pháp Nam Phố Thiệu Minh (j: nampo jōmyō) và là thầy của Quan Sơn Huệ Huyền (j: kanzan egen). Sư là người thành lập và trụ trì đầu tiên của Ðại Ðức tự (j: daitoku-ji) ở Kinh Ðô (kyōto), một trong những ngôi chùa quan trọng nhất của Nhật Bản.|Sư sinh trưởng tại Harima, cách thành phố Osaka không xa. Lúc còn nhỏ Sư đã có những dấu hiệu lạ thường, lên mười đã không thích chơi với trẻ con cùng lứa. Sư bắt đầu nghiên cứu tu tập Phật pháp rất sớm và chu du viếng thăm nhiều thiền viện. Năm 22 tuổi, Sư đến tham học với Thiền sư Cao Phong Hiển Nhật (kōhō kennichi) tại Vạn Thọ tự (manju-ji) ở Liêm Thương (kamakura) và nơi đây có ngộ nhập. Sau, Sư đến học nơi Thiền sư Nam Phố Thiệu Minh và được vị này Ấn khả. Nam Phố khuyên Sư tu tập thêm hai mươi năm nữa trước khi nhập thế hoằng hoá thế gian.|Sau khi Nam Phố tịch (1308), Sư trở về Kinh Ðô sống ẩn dật hai mươi năm. Trong thời gian này, Sư sống cùng với những kẻ ăn xin và ngủ dưới cầu. Tin truyền về một kẻ ăn xin lạ thường đồn đến tai Thiên hoàng Hoa Viên (hanazono) và ông đích thân đến cầu để tìm cho ra lai lịch của vị khất sĩ phi thường này. Ông mang theo một giỏ dưa và nói trước các khất sĩ: »Ta sẽ tặng quả dưa cho người nào đến đây mà không sử dụng đôi chân.« Mọi người đều suy nghĩ chần chừ, Sư liền bước ra nói: »Ðưa quả dưa cho ta mà không được dùng đôi tay!« Ngay sau sự việc này, Nhật hoàng thỉnh Sư về cung điện tham vấn.|Sau đó, Sư dựng một cái am trên đồi gần Kinh Ðô, học chúng đua nhau đến rất đông, đến nỗi Thiền viện Ðại Ðức được xây dựng để đáp ứng nhu cầu của học khách. Sư được Cựu Thiên hoàng Hoa Viên phong là Hưng Thiền Ðại Ðăng Quốc sư (興禪大燈國師; kōzen daitō kokushi). Tông phong của Sư nổi tiếng là uy nghiêm dũng mãnh. Nổi danh nhất là bản Di giới (遺誡; j: yuikai) của Sư – được viết hai năm trước lúc Sư quy tịch. Bản Di giới này nêu rõ phong cách của dòng thiền Ứng-Ðăng-Quan và truyền thống của Thiền tông từ Trung Quốc đến Nhật Bản nói chung. Bản này – thỉnh thoảng được biến đổi đôi chút – vẫn còn được treo trước mỗi Thiền viện của tông Lâm Tế tại Nhật. Nội dung bản này như sau:|»Dù các thiền viện được hưng thịnh thế nào sau khi lão tăng qua đời đi nữa, dù tượng hình Phật và các bộ kinh được tạo bằng vàng ròng đi nữa, dù thiền sinh tham học đông đảo, tụng kinh, phát nguyện, toạ thiền suốt đêm, ăn chỉ một bữa, chuyên cần giữ giới đi nữa, – nếu họ không chú tâm tìm cho bằng được diệu pháp nằm ngoài kinh điển của chư Phật, Tổ thì họ không thể nào đoạn diệt lưới nghiệp, tông chỉ sẽ bị hoại, họ sẽ theo nhà ma. Dù khoảng thời gian từ khi lão tăng qua đời có dài thế nào đi nữa thì cũng không được gọi họ là con cháu của lão tăng.|Nhưng – nếu có người nào tại đây, ở nhà lá, ăn rau cỏ từ nồi nghiêng bếp hỏng để sống qua ngày, nếu người này tự tìm hiểu nguồn gốc của chính mình thì ngày ngày sẽ thấy được lão tăng và sẽ là người báo ân chân thật.«|Sư lâm bệnh nặng năm 55 tuổi và phó chúc công việc cai quản thiền viện cho môn đệ là Triệt Ông Nghĩa Hanh (tettō gikō). Sư căn dặn không được xây tháp cho Sư sau khi Sư tịch. Câu chuyện rất cảm động sau được truyền lại, tả lúc Sư quy tịch. Như phần lớn các vị Thiền sư, Sư muốn ngồi Kết già viên tịch mặc dù chân của Sư bị thương và trước đó Sư cũng không thể nào ngồi kết già toạ thiền. Biết thời điểm đã đến, Sư dùng hết sức mình kéo chân trái đặt trên chân phải. Xương chân của Sư gẫy, máu tuông đầy ca-sa. Sư an nhiên ngồi thẳng và viết những dòng kệ sau:|Phật, Tổ ta đã đoạn|Tóc bay đã hết rối|Bánh xe tự tại chuyển|Chân không bèn nghiến răng.|Với sự xuất hiện của Sư, Thiền Nhật Bản đã vượt qua giai đoạn du nhập, các Thiền sư Nhật đã đạt được phong độ của các tiền bối tại Trung Quốc đời Ðường, đời Tống.
Tòng Thẩm 從諗|Triệu Châu Tòng Thẩm
Tổng tham 總參; J: sōsan;|Một dạng của Tham thiền (j: san-zen), là một buổi họp mặt với đầy đủ những nghi lễ, trong đó một thiền sinh đã Kiến tính trình bày kinh nghiệm của mình và sẵn sàng bước vào một cuộc Pháp chiến (j: hossen) với những người muốn thử tài, trắc nghiệm mức độ kiến tính của mình. Buổi Tổng tham này thỉnh thoảng được tổ chức với sự hiện diện của những vị Thiền sư cùng một dòng trước khi một thiền sinh chính thức được công nhận là đã đạt đạo, được Ấn khả.|Danh từ Tổng tham cũng được sử dụng để chỉ một buổi thuyết trình, giải đáp những câu hỏi của thiền sinh về việc tu hành mà không mang tính cách của một buổi Ðề xướng (j: teishō).
Tổng Trì tự 總持寺; J: sōji-ji;|Một trong hai Thiền viện chính của tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū) tại Nhật Bản. Thiền viện này được một vị Cao tăng tên Hành Cơ (j: gyōgi) sáng lập, với tính cách là một ngôi chùa của tông Pháp tướng (j: hossū-shū). Ngôi chùa này ban đầu nằm tại tỉnh Ishikawa. Từ khi Thiền sư Oánh Sơn Thiệu Cẩn trụ trì ở đây, chùa này trở thành một thiền viện. Năm 1898, Tổng Trì tự được dời về tỉnh Yokohama sau một cơn hoả hoạn. Thiền viện chính thứ hai của tông Tào Ðộng là Vĩnh Bình tự (j: eihei-ji), được Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền sáng lập.
Trà đạo 茶道; J: chadō;|Một trong những đạo tu tập tại Nhật với những nghệ thuật, lễ nghi rất đặc sắc. Nhưng nghệ thuật chính của Trà đạo chính là cái làm quên đi những nghi lễ có tính nhị nguyên, không có trà và kĩ thuật uống trà mà chỉ có trà, một tâm thức bất phân. Tâm thức vô phân biệt này chính là mục đích của tất cả các »đạo« như Hoa đạo, Kiếm đạo, Cung đạo.|Sau đây là một bài dạy của Thiền sư Triệu Châu Tòng Thẩm có liên quan đến trà. Sư thường hỏi các vị tăng mới đến tham vấn »Uống trà chưa?« Trả lời »Từng đến« hay »Chưa từng đến,« Sư cũng bảo »Uống trà đi!« Viện chủ thấy như vậy nuôi lòng thắc mắc, bèn hỏi Sư vì sao trong hai trường hợp Sư đều bảo »Uống trà đi.« Sư liền quát to: »Viện chủ!« Viện chủ ứng thanh: »Dạ!« Sư bảo: »Uống trà đi!« Viện chủ nhân đây có chút tỉnh ngộ.
Trắc 測; C: cè; J: soku;|Biết bằng sự tính toán. Đo lường, đánh giá, thăm dò.
Trắc đạc 測度; C: cèdù; J: sokudo;|Sự phỏng đoán, ước đoán, suy luận, ước chừng, giả định, suy xét, thăm dò.
Trắc lượng 測量; C: cèliáng; J: sokuryō;|Thăm dò, đo lường, đánh giá.
Trạch Am Tông Bành 澤庵宗彭; J: takuan sōhō; 1573-1645;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, dòng Nam Phố Thiệu Minh (j: nampo jō-myō). Sư không những là một vị Thiền sư lỗi lạc, tinh thông kinh điển mà còn là một nghệ sĩ trứ danh, một thi hào với những tác phẩm còn được nhắc đến ngày nay.|Sư sinh ra trong một gia đình mộ đạo, sớm xuất gia tu học với nhiều vị Thiền sư nổi danh lúc bấy giờ như Hi Tiên Tây Ðường (希先西堂; kisen seidō), Ðổng Phủ Tông Trọng (董甫宗仲; tōho sōchū). Sau, Sư đến học với Thiền sư Nhất Ðống Thiệu Ðích (一凍紹滴; ittō shōteki; 1539-1612) và ngộ đạo nơi đây.|Song song với việc tu tập Thiền, Sư cũng chú tâm đến việc nghiên cứu các môn học thuộc ngoại điển như Nho giáo, Thư đạo (shōdō), thi pháp… Ðặc biệt là những bài dạy cho những vị kiếm sĩ theo Kiếm đạo (kendō) đương thời của Sư thường được nhắc nhở đến, nổi danh nhất là tác phẩm Bất động trí thần diệu lục (不動智神妙錄). Trong những bài khuyên này, Sư phân tích tư tưởng, tâm trạng của một kiếm sĩ theo quan niệm của Thiền tông.
Trạch diệt 擇滅; S: pratisaṃkhyā-nirodha;|Nghĩa là diệt độ bằng trí huệ phân tích, phân biệt đúng sai (trạch); Chấm dứt Ô nhiễm (s: kleśa), đồng nghĩa với Niết-bàn. Trạch diệt là một trong những Pháp Vô vi (s: asaṃskṛta) của Nhất thiết hữu bộ (s: sar-vāstivāda) và Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra). Một loại diệt thứ hai được nhắc đến, đối nghĩa với Trạch diệt là Phi trạch diệt (s: apratisaṃkhyā-nirodha).
Trầm 沈; C: shěn; J: jin;|1. Chìm, bị ngập dưới nước, biến mất, bị mất, bị tiêu huỷ, bị suy yếu, tàn tạ; 2. Trở nên yên tĩnh, lặng lẽ; 3. Nặng nề.
Trạm 湛; C: zhàn; J: tan;|1. Rót đầy, đầy (ngang miệng); 2. Sự yên tĩnh, lắng dịu; 3. Ấm áp, thân mật; 4. Sâu.
Trạm nhiên 湛然; C: zhànrán; J: tanzen;|1. Như thể là đổ đầy nước ngang miệng; 2. Yên tĩnh, lặng lẽ; 3. Sâu; 4. Trạm Nhiên (711-782), Tổ thứ 6 của tông Thiên Thai Trung Hoa.
Trần 塵; C: chén; J: jin;|Có các nghĩa sau: 1. Đối tượng của các giác quan. Đồng nghĩa với Cảnh (境, s: artha, visaya, gocara); 2. Vật chất. Thế gian nầy; 3. Bất tịnh, ô nhiễm (s: rajas, pāmsu); 4. Sự nhiễm ô, phiền não (upakleśa); 5. Dơ bẩn, vết dơ, bẩn thỉu, sự rỉ thoát, sự thiếu sót; 6. Vật rất nhỏ, thời phần, vi trần.
Trần cấu 塵垢; C: chéngòu; J: jin'ku; |Các đối tượng của giác quan không lành mạnh; Tuỳ phiền não (s: upakleśa).
Trần giới 塵芥; C: chénjiè; J: jinke; |Bụi, bẩn, bả rác; vật vô giá trị.
Trần hoàn 塵寰; C: chénhuán; J: jinkan; |Cõi nhiễm ô, thế giới khách quan. Đồng nghĩa với Trần cảnh (塵境).
Trần lao 塵勞; C: chénláo; J: jinrō; |1. Phiền não làm hao tổn tâm trí. »Nhiễm ô«. Sự nhiễm ô tâm thức khiến liên tục luân hồi sinh tử; 2. Bị nhiễm ô bởi phiền não.
Trần-na 陳那; S: (mahā-) dignāga, (mahā-) diṅnāga; ~ 480-540; dịch nghĩa là (Ðại) Vực Long; |Một Luận sư nổi tiếng của Duy thức tông (s: vijñānavāda, yogācāra), cũng là người cải cách và phát triển Nhân minh học (s: hetuvidyā), một môn lí luận học độc đáo cho tông này và Ấn Ðộ nói chung. Phần lớn tác phẩm của Sư nhấn mạnh đến tính lí luận và chỉ còn trong bản dịch tiếng Hán và Tây Tạng. Tác phẩm quan trọng nhất của Sư là Tập lượng luận (s: pramāṇasamuccaya). Ngoài ra Sư cũng soạn một bài luận quan trọng về A-tì-đạt-ma câu-xá luận.|Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn tại Kiến-chí (kāñcī). Lúc đầu Sư thụ giới và tham học với Na-già Ðạt-đa (nāgadatta), một tỉ-khâu theo Ðộc Tử bộ. Giáo lí của bộ này không làm Sư hài lòng nên chẳng bao lâu, Sư đến học với Thế Thân giáo lí Tiểu thừa và Duy thức. Sau khi học xong, Sư đến một khu rừng tại Oḍiviśa và dừng bước tại đây. Một cuộc tranh luận giáo lí của các tôn giáo được tổ chức tại viện Na-lan-đà và Sư được mời đến để đại diện cho Phật giáo. Tại đây, Sư chứng minh được tài hùng biện và luận lí sắc bén của mình, thắng các vị Bà-la-môn nhiều lần. Trong thời gian sau, Sư dành nhiều thời gian để viết ra những quy luật của nhân minh học và hệ thống hoá những quy luật này nhằm đả phá các tư tưởng ngoại đạo trong các cuộc tranh luận. Sư viết rất nhiều luận giải, và danh tiếng của Sư là một Luận sư uyên thâm lan truyền khắp nơi nhưng tương truyền rằng, Sư không giữ một chức vụ giảng dạy nào. Sư thừa nhận có hai »hòn đá thử vàng« của nhân minh học: chứng minh trực tiếp và nhận thức từ suy luận (Lượng; s: pramāṇa: e: valid cognition). Sư phân tích cặn kẽ tính chất của nhận thức suy luận cũng như mối liên hệ của chúng. Nhân minh học này của Sư được Pháp Xứng (s: dharmakīrti) thừa kế và phát triển.|Sư chỉ lưu lại Na-lan-đà một thời gian. Phần lớn, Sư trú tại một am nhỏ ở Oḍiviśa. Chỉ một lần Sư đến miền Nam Ấn Ðộ và lần đó để thực hiện ba việc: tranh luận, truyền bá Phật pháp và phục hưng những ngôi chùa đang trên đường suy tàn. Sư sống rất cơ hàn, không đòi hỏi gì và mất tại am ở Oḍiviśa.|Các tác phẩm của Sư còn được lưu lại (trích): 1. Phật mẫu bát-nhã ba-la-mật-đa viên tập yếu nghĩa luận (buddhamatṛkā-prajñāpāramitāmahārthasaṅ-gītiśāstra, có người xem là tác phẩm của Tam Bảo Tôn, s: triratnadāsa), Thí Hộ dịch; 2. Vô tướng tư trần luận (ālambanaparīkṣā), 1 quyển, Chân Ðế (paramārtha) dịch; 3. Chưởng trung luận (tālāntaraka-śāstra hoặc hastavālaprakaraṇa), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 4. Thủ nhân giả thuyết luận (prajñaptihetu-saṃgraha), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 5. Quán tổng tướng luận tụng (sarvalakṣaṇa-dhyāna-śāstra-kārikā), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 6. Quán sở duyên duyên luận (ā-lambanaparīkṣā, ālambanaparīkṣā-vṛtti), chú giải Vô tướng tư trần luận; 7. A-tì-đạt-ma câu-xá luận chú yếu nghĩa đăng (abhidharmakośa-marmapra-dīpa[-nāma]), còn bản Tạng ngữ; 8. Nhập du-già luận (yogāvatāra), còn bản Tạng ngữ; 9. Nhân minh chính lí môn luận bản (nyāyamukha, nyāyadvāra, nyāyadvāratarka-śāstra), 1 quyển, Huyền Trang dịch; 10. Nhân minh chính lí môn luận (nyāyadvā-ratarka-śāstra), 1 quyển, Nghĩa Tịnh dịch; 11. Tập lượng luận (pramāṇasamuccaya [-nāma-praka-raṇa]), tác phẩm Nhân minh quan trọng nhất của Sư; 12. Tập lượng luận thích (pramāṇasamuccaya-vṛtti), chú giải Tập lượng luận, chỉ có bản Tạng ngữ.
Trần Nhân Tông 陳仁宗; 1258-1308; cũng được gọi là Trúc Lâm Ðầu Ðà (竹林頭陀), Ðiều Ngự Giác Hoàng (調御覺皇);|Thiền sư Việt Nam uyên thâm, đạt đạo và cũng là một nhà vua xuất sắc, từng đánh bại quân Nguyên. Sư khai sáng phái thiền Trúc Lâm Yên Tử, được tôn là Ðệ nhất tổ của phái này.|Ông là vua thứ ba nhà Trần, tên huý là Khâm, con trưởng của vua Trần Thánh Tông.|Năm 16 tuổi, ông được lập Hoàng Thái tử. Cố nhường lại chức này cho em nhưng không được, ông trốn triều đình vào núi Yên Tử tu học. Ðến chùa Tháp ở núi Ðông Cứu thì trời vừa sáng, ông bèn vào trong nghỉ. Thấy dung mạo của ông khác thường, vị trụ trì chùa này ân cần làm cơm thiết đãi. Hay tin, vua cha liền sai quan thỉnh ông trở về cung điện.|Năm lên 21, ông lên ngôi Hoàng Ðế. Mặc dù ở địa vị cùng tột nhưng ông vẫn giữ mình thanh tịnh, thường ăn chay. Vì bẩm chất thông minh nên ông sớm tinh thông nội (kinh luận) lẫn ngoại điển. Lúc rỗi, ông thường hay mời các bậc hiền triết đến luận đạo, tôn Huệ Trung Thượng sĩ làm thầy và cũng ngộ huyền chỉ của thầy mình.|Năm 1293, ông truyền ngôi lại cho con là vua Anh Tông và chỉ sáu năm sau đó, vào năm 1299, ông chính thức xuất gia và sau được xem là người thừa kế chính thức của phái Yên Tử, thế hệ thứ sáu.|Sư trở thành Tổ thứ nhất của phái Trúc Lâm, là một dòng Thiền mạnh mẽ thời bấy giờ, có tính nhập thế. Tổ thứ hai của dòng Trúc lâm là Thiền sư Pháp Loa, là truyền nhân chính của Sư.|Nhân một buổi pháp hội tại chùa Sùng Nghiêm tại núi Chí Linh, Sư thượng đường bảo: »Thích-ca Văn Phật vì một đại sự mà xuất hiện trong đời, 49 năm mấp máy đôi môi mà chưa nói lời nào. Ta nay vì các ông lên toà, sẽ nói cái gì đây?« Rồi Sư sang ngồi bên giường thiền, đánh một tiếng chuông và ngâm kệ:|Thân như hô hấp tĩ trung khí|Thế tự phong hành lãnh ngoại vân|Ðỗ Quyên đề đoạn nguyệt như trú|Bất thị tầm thường không quá xuân|*Thân như hơi thở ra vào mũi|Ðời giống mây trôi đỉnh núi xa|Chim Quyên kêu rã bao ngày tháng|Ðâu được ngày xuân để luống qua!|Một vị tăng hỏi: »Thế nào là Phật?« Sư đáp: »Chấp nhận như xưa là không đúng.« Tăng hỏi: »Thế nào là pháp?« Sư đáp: »Chấp nhận như xưa là không đúng.« Tăng hỏi: »Thế nào là tăng?« Sư đáp: »Chấp nhận như xưa là không đúng.« Tăng hỏi: »Rốt cuộc như thế nào?« Sư đáp:|»Bát tự đả khai phân phó liễu|Cánh vô dư sự khả trình quân.«|»Tất cả mở toang trao hết sạch|Ðâu còn việc chi nói cùng người.«|Một vị khác bước ra hỏi: »Thế nào là Ba mươi hai tướng tốt, tám mươi vẻ đẹp?« Sư dùng bài kệ trong kinh Kim cương đáp:|»Bằng dùng sắc gọi ta|Âm điệu nhận ra ta|Người ấy hành tà đạo|Ắt chẳng thấy được ta«|Hỏi: »Thế nào là Phật?« Sư đáp: »Tấm cám dưới cối.« Hỏi: »Thế nào là ý của Tổ sư từ Tây sang?« Sư đáp: »Bánh vẽ.« Hỏi: »Thế nào là Ðại ý Phật pháp?« Sư đáp: »Cùng hầm, đất không khác.« Hỏi: »Xưa có vị tăng hỏi Triệu Châu ›Con chó có Phật tính không.‹ Triệu Châu nói ›Không‹, là thế nào?« Sư đáp: »Nước biển hoà muối mặn, màu lá rặt sơn xanh.« Hỏi: »› Câu hữu câu vô như dây leo‹, là thế nào?« Sư đáp bằng kệ Hữu cú vô cú (Băng Thanh dịch):|有句無句。藤枯樹倒。幾個衲僧。撞頭磕腦|有句無句。體露金風。殑伽沙數。犯刃傷鋒|有句無句。立宗立旨。打瓦鑽龜。登山涉水|有句無句。非有非無。刻舟求劍。索驥按圖|有句無句。互不回互。笠雪鞋花。守株待兔|有句無句。自古自今。執指忘月。平地陸沉|有句無句。如是如是。八字打開。全無巴鼻|有句無句。顧左顧右。阿刺刺地。鬧聒聒地|有句無句。忉忉怛怛。截斷葛藤。彼此快活|Hữu cú vô cú, đằng khô thụ đảo|Kỉ cá nạp tăng, chàng đầu hạp não|Hữu cú vô cú, thể lộ kim phong|Căng già sa số, phạm nhẫn thương phong|Hữu cú vô cú, lập tông lập chỉ|Ðả ngỏa toản quy, đăng sơn thiệp thuỷ|Hữu cú vô cú, phi hữu phi vô|Khắc chu cầu kiếm,* sách kí án đồ|Hữu cú vô cú, hỗ bất hồi hỗ|Lạp tuyết hài hoa, thủ chu đãi thố|Hữu cú vô cú, tự cổ tự kim|Chấp chỉ vong nguyệt, bình địa lục trầm|Hữu cú vô cú, như thị như thị|Bát tự đả khai, toàn vô ba tĩ|Hữu cú vô cú, cố tả cố hữu|A thích thích địa, náo quát quát địa|Hữu cú vô cú, đao đao đát đát|Tiệt đoạn cát đằng, bỉ thử khoái hoạt.|*Câu hữu câu vô, dây khô cây đổ|Mấy gã thầy tu, dập đầu trán vỡ|Câu hữu câu vô, gió vàng thể lộ|Vô số cát sông, kiếm đâm dao bổ|Câu hữu câu vô, lập chỉ lập tông|Dùi rùa đập ngói, trèo núi lội sông|Câu hữu câu vô, chẳng vô chẳng hữu|Khắc thuyền tìm gươm,* so tranh tìm ngựa|Câu hữu câu vô, tác động lại qua|Nón tuyết hài hoa, ôm cây đợi thỏ|Câu hữu câu vô, dù xưa dù nay|Quên trăng nắm ngón, chết đuối bên bờ|Câu hữu câu vô, là thế là thế|Tám chữ mở ra, không còn khó nghĩ|Câu hữu câu vô, ngó phải ngó trái|Thuyết lí ồn ào, liến láu tranh cãi|Câu hữu câu vô, rầu rầu rĩ rĩ|Cắt đứt sắn bìm, đó đây vui vẻ.|*Khắc chu cầu kiếm (刻舟求劍): Sách Lã Thị Xuân Thu (呂氏春秋) nhắc đến một người nước Sở qua đò. Anh ta giữa sông đánh mất cây kiếm, bèn đánh dấu vào mạn thuyền. Khi thuyền đến bờ, anh ta nhảy xuống, theo dấu đã khắc ở mạn thuyền mà tìm kiếm. Chữ »Kiếm khách« trong bài kệ ngộ giải của sư Linh Vân Chí Cần có lẽ cũng chỉ vị kiếm khách qua sông này.|Ngày mồng một tháng 11 năm 1308, lúc nửa đêm, Sư hỏi thị giả Bảo Sát: »Bây giờ là giờ gì?« Bảo Sát thưa: »Giờ Tí.« Sư giô tay mở cửa sổ ngắm trời nói: »Ðây là lúc ta đi.« Bảo Sát hỏi: »Tôn đức đi đâu?« Sư đáp:|一切法不生。一切法不滅|若能如是解。諸佛常現前|何去來之了也|»Nhất thiết pháp bất sinh|Nhất thiết pháp bất diệt|Nhược năng như thị giải|Chư phật thường hiện tiền|Hà khứ lai chi liễu dã«|*»Tất cả pháp không sinh|Tất cả pháp không diệt|Nếu hiểu được như thế|Chư Phật thường hiện tiền|Có chi là đi lại!«|Bảo Sát lại hỏi: »Nếu như không sinh không diệt thì sao?« Sư đưa tay bụm miệng Bảo Sát nói: »Chớ nói mê!« rồi nằm theo thế sư tử an nhiên thị tịch. Vua Trần Anh Tông tôn hiệu Ðại Thánh Trần Triều Trúc Lâm Ðầu-đà Tịnh Huệ Giác Hoàng Ðiều Ngự Tổ Phật, chia Xá-lị thành hai phần, một phần cất thờ tại bảo tháp ở khu đất Ðức Lăng ở Hưng Long, một phần cất vào Huệ Quang Kim tháp tại chùa Vân Yên (nay là Hoa Yên) trên núi Yên Tử.|Trần Nhân Tông đã để lại các tác phẩm quan trọng như Thiền lâm thiết chuỷ ngữ lục, Trúc lâm hậu lục, Thạch thất mị ngữ, Ðại hương hải ấn thi tập, Tăng-già toái sự. Sư chẳng những là một vị Thiền sư uyên bác mà còn là một thi sĩ tuyệt vời với những bài thơ mang đậm thiền vị, gợi cho người đọc một cảm giác xuất trần. Sau đây là hai bài thơ của Sư nói về xuân, có thể hiểu là mùa »Xuân trong cửa Thiền«:|Xuân cảnh 春景|楊柳花深鳥語遲。畫堂簷影暮雲飛|客來不問人間事。共倚欄杆看翠微|Dương liễu hoa thâm điểu ngữ trì|Hoạ đường thiềm ảnh mộ vân phi|Khách lai bất vấn nhân gian sự|Cộng ỷ lan can khán thuý vi.|*Chim nhẩn nha kêu, liễu trổ dày,|Thềm hoa chiều rợp bóng mây bay.|Khách vào chẳng hỏi chuyện nhân thế,|Cùng tựa lan can nhìn núi mây.|(Huệ Chi dịch)|Xuân vãn 春晚|年少何曾了色空。一春心在百花中|如今勘破東皇面。禪板蒲團看墜紅|Niên thiếu hà tằng liễu sắc không|Nhất xuân tâm tại bách hoa trung|Như kim khám phá Ðông hoàng diện|Thiền bản, bồ đoàn khán truỵ hồng.|*Tuổi trẻ chưa tường lẽ sắc không,|Xuân sang, hoa nở, rộn tơ lòng.|Chúa xuân nay đã thành quen mặt,|Nệm cỏ ngồi yên, ngó rụng hồng.|(Ngô Tất Tố dịch)
Trần sa 塵沙; C: chén shā; J: jinja; |»Bụi và cát«, nghĩa là »nhiều như cát bụi«. Theo giáo lí tông Thiên Thai, thuật ngữ nầy nói đền sự thử thách mà Bồ Tát phải đương đầu với vô số tri thức cũng như sự vận dụng rất chi tiết trong hạnh nguyện cứu độ chúng sinh.
Trần sa hoặc 塵沙惑; C: chénshā huò; J: jinjawaku; |Thiếu khả năng nhận thức chính xác chân tính của vô số hiện tượng trong thế gian. Từ này được Trí Khải sử dụng.
Trần Thái Tông 陳太宗; 1218-1277|Vua nhà Trần Việt Nam lỗi lạc kiêm Thiền sư.|Ông tên Trần Cảnh, con thứ của Trần Thừa. Nhờ có công dẹp loạn nên họ Trần được triều đình nhà Lí rất coi trọng. Năm lên tám, Trần Cảnh được Lí Chiêu Hoàng nhận làm chồng và truyền ngôi cho, tự hiệu là Thái Tông.|Năm lên 20 tuổi, Trần Thái Tông bị Trần Thủ Ðộ buộc phải giáng Lí Chiêu Hoàng – lúc ấy 19 tuổi – xuống làm Công chúa và tôn Chiêu Thánh – vợ của anh ruột Thái Tông là Trần Liễu – lên làm Hoàng hậu. Do nhiều nỗi khổ tâm nên ông trốn vào núi Yên Tử, quyết tâm xuất gia tu hành. Thấy ông đến, vị trụ trì trên núi này ung dung chào hỏi: »Lão tăng ở chốn sơn dã đã lâu, xương cứng mặt gầy, ăn rau nhai hạt dẻ, uống nước suối, vui cảnh núi rừng đã quen, lòng nhẹ như đám mây nổi, cho nên mới theo gió mà đến đây. Nay bệ hạ bỏ địa vị nhân chủ mà nghĩ đến cảnh quê mùa rừng núi, ắt hẳn là muốn tìm cầu gì mới đến đây phải không?« Ông liền đáp: »Trẫm còn thơ ấu, đã sớm mất mẹ cha, bơ vơ đứng trên sĩ dân không nơi nào nương tựa. Lại nghĩ rằng sự nghiệp đế vương đời trước hưng phế bất thường cho nên mới vào đây, chỉ muốn cầu thành Phật chứ chẳng muốn tìm cầu gì khác.« Nghe vậy, vị Thiền sư liền khuyên: »Trong núi vốn không có Phật, Phật ở tại tâm ta. Nếu tâm lắng lặng trí huệ xuất hiện, đó chính là Phật. Nếu bệ hạ giác ngộ được tâm ấy thì tức khắc thành Phật ngay tại chỗ, không cần đi tìm cực khổ ở bên ngoài.«|Ông nghe lời khuyên theo Trần Thủ Ðộ về vương cung và từ đây quyết chí tu tập Phật đạo trong những lúc nhàn rỗi, trách nhiệm vì dân đã vơi phần nào. Ông rất chăm học, như ông đã tự viết trong bài tựa của kinh Kim cương tam-muội: »Trẫm lo việc cai trị dân, mỗi lúc gian nan thường quên cả sớm tối. Việc tuy có hàng vạn, giờ rảnh không có là bao. Siêng việc quý giờ, học càng tăng tiến. Chữ nghĩa còn ngại chưa rành, đêm đến canh khuya vẫn còn chăm học. Ðã đọc sách Nho, lại ngẫm kinh Phật…« Nhân lúc đọc kinh Kim cương đến câu »Ưng vô sở trụ nhi sinh kì tâm« (應無所住而生其心), ông hoát nhiên tự ngộ.|Năm 1258, ông truyền ngôi lại cho con. Ðến lúc Trần Thánh Tông đủ sức đảm đang việc nước, ông lui về lập am Thái Vi ở rừng núi Vĩ Lâm tại cố đô Hoa Lư để an dân và tu hành. |Ông là một nhà vua lỗi lạc, uyên thâm Thiền học, viết cuốn Thiền tông chỉ nam lúc còn rất trẻ, khoảng ngoài ba mươi. Có thể kể thêm tác phẩm của Thái Tông là Chú giải kinh Kim cương tam-muội, Khóa hư lục… và nhiều bài thơ đậm mùi vị thiền.|Bóng trúc quét thềm bụi chẳng động|Vầng trăng qua biển nước không xao…|Thắp đuốc huệ trên đường mê tăm tối|Dong thuyền từ nơi bể khổ trầm luân|và:|Hoa vàng rực rỡ, |không đâu không là tâm Bát-nhã|Trúc biếc xanh xanh,|hết thảy đều là lí chân như.|(Thiền học đời Trần)|Nghe danh ông, một vị tăng người Tống tên Ðức Thành đến hỏi: »Thế Tôn chưa rời Ðâu-suất đã giáng vương cung, chưa ra khỏi thai mẹ đã độ hết chúng sinh là thế nào?« Ông đáp: »Ngàn sông có nước ngàn sông nguyệt, muôn dặm không mây muôn dặm trời.« Một tăng khác hỏi: »Ðược phần trên của học nhân có tu chứng chăng?« Ông đáp: »Nước chảy xuống non nào có ý, mây ra khỏi núi vốn không tâm.«|Năm 1277, niên hiệu Bảo Phù, ông quy tịch, thọ 60 tuổi.|Các tác phẩm của ông: 1. Thiền tông chỉ nam; 2. Kim cương tam-muội kinh chú giải; 3. Lục thời sám hối khoa nghi; 4. Bình đẳng lẽ sám văn; 5. Khóa hư lục; 6. Thi tập.
Trần thế 塵世; C: chénshì; J: jinse;|1. Thế gian ô trược; thế gới trần tục; 2. Thế giới khách quan.
Trần Tôn Túc 陳尊宿|Mục Châu Trần Tôn Túc
Trần trung cách ngoại 塵中格外; C: chénzhōng géwài; J: jinchū kakugai; |Thế gian và xuất thế gian.
Trang Tử 莊子; C: zhuāngzǐ, ~369-286, cũng được gọi là Trang Châu (莊周);|Một hiền triết Trung Quốc, tác giả của Trang Tử nam hoa chân kinh (莊子南花真經; c: zhuāngzǐ nánhuā zhēnjīng). Cùng với Lão Tử, ông được xem là người sáng lập Ðạo giáo.|Trang Tử sinh trưởng tại tỉnh Hồ Nam bây giờ của Trung Quốc. Về cuộc đời của ông thì hầu như không có tài liệu gì được lưu lại cụ thể. Ông có lập gia đình, giữ một quan chức nhỏ. Vì từ chối phục hầu một Chư hầu nên ông sống trong hoàn cảnh cơ hàn. Trong Nam hoa chân kinh, ông chỉ trích mạnh mẽ các nghi lễ, quan niệm của nhà Nho.|Một giai thoại được ghi lại trong Sử kí của Tư Mã Thiên nêu rõ tính tình lạ lùng, tự do tự tại của Trang Tử (bản dịch của Nguyễn Duy Cần): |»Uy vương nước Sở nghe nói Trang Châu là người hiền trong thiên hạ, sai sứ đem hậu lễ đón, muốn mời ra làm tướng. Trang Châu cười, bảo với sứ giả: Cái lợi của nghìn vàng quả trọng thật, cái địa vị khanh tướng quả cũng quý thật. Nhưng riêng ông chả thấy con bị tế hay sao? Ðược người ta săn sóc, được mặc đồ trang sức văn vẻ để đưa vào Thái miếu. Lúc ấy, dù nó muốn được làm con lợn côi há còn được nữa hay không? Ông hãy đi đi, chớ có đến làm nhục ta. Thà ta dong chơi ở chốn bùn lầy nhơ bẩn còn thấy sung sướng hơn là để cho kẻ làm chủ một nước kia trói buộc ta.«|Các đề tài được Trang Tử nêu lên trong Nam hoa chân kinh trùng hợp với quan niệm của Lão Tử trong Ðạo đức kinh, nhất là tư tưởng về Ðạo. Tác phong »vô vi«, tức là làm không có tác ý (Bất hành nhi hành) rất được Trang Tử chú trọng. Ngoài vô vi ra, ông cũng rất đề cao tính chất tương đối của vạn vật hiện hữu, sự đồng nhất của sinh tử và sự quan trọng của phép tu tập thiền định (tĩnh toạ) để đạt sự thống nhất với Ðạo. Theo ông, thế giới chỉ là sự luân chuyển, biến chuyển vô cùng của vạn vật và ông cũng là một trong những người đầu tiên chỉ rõ tính chất huyễn, Ảo ảnh của thế giới hiện hữu.|Một bài luận rất ngắn, rất đơn giản trong thiên Tề Vật Luận (齊物論) đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho những thế hệ sau và nó cũng là một ví dụ tiêu biểu cho lối hành văn vô song của Trang Tử. Nguyên văn (bản dịch của N. D. Cần): |昔者莊周夢爲蝴蝶,栩栩然蝴蝶也自喻適志與不知周。我然覺,則蘧蘧然周也。不知周之夢爲蝴蝶與?蝴蝶之夢爲周與?周與蝴蝶則必有分矣!此之謂物化|»Xưa, Trang Châu chiêm bao, thấy mình là bướm, vui phận làm bướm: tự nhiên thích chí không còn biết Châu. Chợt tỉnh giấc, thấy mình là Châu. Không biết Châu lúc chiêm bao là bướm, hay bướm lúc chiêm bao là Châu? Châu cùng bướm ắt có phận định. Ấy chính gọi là Vật hoá«|Trang Tử từ chối sự phân minh rõ ràng giữa »phải« và »quấy« theo người đời vì ông cho rằng, trong thế giới hiện hữu tương đối này người ta không thể tìm được một thước đo tuyệt đối cụ thể để phân biệt chúng. »Sinh« và »Tử« cũng như thế; chúng chỉ là những bước luân chuyển không cùng, không phải là »Thuỷ«, là »Chung.« Tư tưởng này của ông được trình bày rất rõ qua thái độ bình thản ngay khi vợ ông chết. Nguyên văn (bản dịch của N. D. Cần): |»Vợ Trang Tử chết, Huệ Tử đến điếu. Thấy Trang Tử ngồi, duỗi xoác hai chân, vừa vỗ bồn vừa ca. Huệ Tử nói: Cùng người ở tới già, có con lớn mà người chết lại không khóc, cũng đã là quá lắm rồi, lại còn vỗ bồn ca, không phải thái quá sao? Trang Tử nói: Không! Lúc nàng mới chết, tôi sao chẳng động lòng. Nhưng nghĩ lại hồi trước, nàng vốn là không sinh. Chẳng những là không sinh, mà đó vốn là không hình. Chẳng những không hình, mà đó vốn là không khí. Ðó, chẳng qua là tạp nhất ở trong hư không biến ra mà có khí, khí biến ra mà có hình, hình biến ra mà có sinh, rồi lại biến ra nữa mà có tử. Sinh, hình, khí, tử có khác nào xuân, hạ, thu, đông, bốn mùa hành vận. Vả lại, người ta nay đã yên nơi nhà lớn, mà tôi còn cứ than khóc, chẳng là tự tôi không thông Mệnh ư? Nên tôi không khóc.«|Trang Tử nam hoa chân kinh đã gây ảnh hưởng rất nhiều cho nền văn hoá, tư tưởng Trung Quốc. Nhiều vị Thiền sư đã nghiên cứu bộ sách này và đã nếm »đạo vị« nơi nó trước khi xuất gia tu học thành đạo.
Trệ ngại 滯礙; C: zhìài; J: taige;|Sự trở ngại, trở lực.
Trí 智; C: zhì; J: chi; |Là trí hiểu biết; các Luận sư Phật giáo phân biệt rất nhiều loại trí nhưng nhìn chung, người ta phân ra các loại sau:|1. Trí tuệ, tác dụng của khả năng hiểu biết(s: dhī, buddhi, abhijñā, mati; t: shes pa). Sự hiểu biết; 2. Người hiểu biết; 3. Trí tuệ (s: jñāna); 4. Trí giác ngộ, trí trực giác, sự nhận biết qua trực giác; 5. Trí vô phân biệt theo Du-già hành tông. Nhận thức bằng trực giác rõ biết các pháp không có thật thể; 6. Cái thâm nhập và hiện năng như cả hai, trí căn bản và trí phân biệt.|Trong Ðại thừa, hiểu được tất cả các kinh điển được gọi là có »trí«, đó là cấp thứ 10 trong Thập địa (s: bhūmi). Tuy vậy, hai danh từ trí (jñāna) và trí huệ (prajñā) thường được sử dụng với ý nghĩa như nhau, tức là trí huệ siêu việt, đưa đến bờ giác (xem Năm trí, Ba trí, Phật gia).
Trị 治; C: zhì; J: chi; |1. Lĩnh đạo, cai trị, quản lí, điều khiển, chỉ đạo, điều hành, điều phối; 2. Chế ngự, hàng phục, trừng trị; 3. Xử phạt một tăng sĩ khi họ phạm giới (p: kāretabba); 4. Điều phục phiền não qua công phu tu tập (s: vipakṣa, pratipakṣa). Trong cách dùng chuyên môn này, thuật ngữ này khác với Đoạn (斷), có nghĩa là trừ diệt hoàn toàn. Trị (治) có nghĩa là là điều phục, là khả năng chuyển hoá phiền não, dù là nó không hoàn toàn được trừ diệt.
Trị (trực) 値; C: zhí; J: chi;|Có hai nghĩa: 1. Được gặp và tôn kính Đức Phật; 2. Giá trị.
Trí ba-la-mật 智波羅蜜; C: zhìbōluómì; J: chiharamitsu;|Sự hoàn chỉnh của toàn trí toàn thức—có khả năng nhận rõ các hiện tượng trong pháp giới chân thật như thể tính của chúng (s: jñāna-pāramitā). Là một trong 10 ba-la-mật.
Trí ba-la-mật-đa 智波羅蜜多; C: zhìbōluómìduō; J: chihara-mitsuta;|Trí ba-la-mật (智波羅蜜).
Trí Bảo 智寶; ?-1190|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10. Sư nối pháp Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư họ Nguyễn, quê ở Ô Diên, Vĩnh Khương, là cậu ruột của Tô Hiến Thành, vị đại công thần đời vua Lí Anh Tông. Sư ban đầu xuất gia tu khổ hạnh, sau lại chuyên tạo phúc bằng cách sửa đường, cất chùa, xây tháp.|Một hôm, Sư gặp một vị tăng, vị này hỏi: »Sinh từ đâu lại, tử đi về đâu!« Sư suy nghĩ, vị này bảo: »Trong lúc ông suy nghĩ, mây trắng bay ngàn dặm.« Sư cũng không đáp được, tăng quát: »Chùa tốt mà không có Phật« và bỏ đi. Sư tự than: »Ta tuy có tâm xuất gia, nhưng chưa hiểu được yếu chỉ của người xuất gia. Ví như kẻ đào giếng, dù đào đến chín, mười thước mà không có nước vẫn phải bỏ đi, huống là tu thân mà chẳng ngộ đạo thì có chí gì?« Nghe Thiền sư Ðạo Huệ giáo hoá tại Tiên Du, Sư liền đến yết kiến. |Gặp Ðạo Huệ, Sư hỏi: »Sinh từ đâu lại, tử đi về đâu?« Ðạo Huệ bảo: »Sinh không từ đâu lại, tử chẳng đi về đâu?« Sư hỏi: »Thế ấy chẳng rơi vào chỗ không sao?« Ðạo Huệ bảo: »Chân tính diệu viên, thể tự không tịch, vận dụng tự tại, chẳng đồng với sinh tử.« Nhân câu này, Sư ngộ yếu chỉ, nói: »Chẳng nhân gió cuốn mây trôi hết, đâu thấy trời trong muôn dặm thu.« Ðạo Huệ hỏi: »Ngươi thấy cái gì?« Sư thưa: »Biết nhau khắp thiên hạ, tri âm có mấy người?« rồi từ tạ thầy trở về núi.|Từ đây, Sư nói năng ngang dọc tự do tự tại, tuỳ duyên giáo hoá học nhân.|Ngày 14 tháng 4, niên hiệu Thiên Tư Gia Thuỵ năm thứ 5 đời vua Lí Anh Tông, Sư có chút bệnh rồi viên tịch.
Trì Bát 持缽; 1049-1117|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 12. Sư kế thừa Thiền sư Sùng Phạm.|Sư họ Vạn, quê ở Luy Lâu. Sư thuở nhỏ đã hâm mộ Phật pháp và khi lên 20, Sư đến chùa Pháp Vân xin xuất gia với Thiền sư Sùng Phạm. Nơi đây, Sư ngộ đạo và được Sùng Phạm ban hiệu là Trì Bát.|Sau khi Sùng Phạm tịch, Sư dạo khắp tùng lâm, tham vấn các vị Cao tăng. Tướng quốc Lí Thường Kiệt là thí chủ của Sư. Những tài vật được cung cấp, Sư đều đề hết vào việc trùng tu các ngôi chùa như Pháp Vân, Thiền Cư, Thê Tâm, Quảng An.|Ngày 18 tháng 2 niên hiệu Hội Tường Ðại Khánh thứ 8 đời vua Lí Nhân Tông, Sư gọi chúng lại nói kệ:|有死必有生。有生必有死|死爲世所悲。生爲世所喜|悲喜兩無窮。忽然成彼此|於諸生死不關懷。唵囌嚕囌嚕悉哩|Hữu tử tất hữu sinh, hữu sinh tất hữu tử|Tử vi thế sở bi, sinh vi thế sở hỉ|Bi hỉ lưỡng vô cùng, hốt nhiên thành bỉ thử|Ư chư sinh tử bất quan hoài|Án tố rô tố rô tất rị.|*Có tử ắt có sinh|Có sinh ắt có tử|Tử làm người đời buồn|Sinh làm người đời vui|Buồn, vui đều vô cùng|Chợt vậy thành kia đây|Ðối sinh tử chẳng để lòng|Án tố rô tố rô tất rị.|Nói kệ xong, Sư ngồi ngay thẳng viên tịch, thọ 69 tuổi.
Trí bi 智悲; C: zhìbēi; J: chihi;|Trí tuệ và từ bi của chư Phật (s: jñāna-karuṇā).
Trí Châu 智周; C: zhìzhōu; J: chishū, 668-723 |Tăng sĩ thuộc Pháp tướng tông Trung Hoa. Sư được xem là tổ thứ 3 hoặc là thứ 4 của tông nầy tuỳ theo việc xem Huyền Trang là sơ tổ. Sư trứ tác Thành Duy thức luận diễn bí (成唯識論演秘). Tập Diễn bí (演秘) của sư, cùng với Thành Duy thức luận xu yếu (成唯識論樞要) của Khuy Cơ, Thành Duy thức luận thuật kí (成唯識論述記) và Thành Duy thức luận liễu nghĩa đăng (成唯識論了義燈) được xem là tài liệu học tập căn bản của môn đệ Duy thức tông.
Trí chướng 智障; C: zhìzhàng; |Còn gọi là Sở tri chướng (所知障) hoặc là Trí ngại (智礙, s: jñeya-āvaraṇa). Là một trong 2 thứ chướng ngại, món kia là phiền não chướng. Trí chướng được xem là rất sâu, ảnh hưởng đến công phu tu tập ở các quả vị cao, trong khi phiền não chướng ảnh hưởng đến công phu tu tập ở các giai vị thấp.
Trí cự đà-la-ni kinh 智炬陀羅尼經; C: zhìjù tuóluóníjīng; J: chiko daranikyō; S: jñānolkā-dhāraṇī; t: ye shes ta la la shes bya ba'i gzungs 'gro ba thams cad yongs su sbyong ba|1. Trí cự đà-la-ni kinh, 1 quyển; Đề-vân Bát-nhã (提雲般若, s: devaprajñā) và những người khác dịch.|2. Trí quang diệt nhất thiết nghiệp chướng đà-la-ni kinh (智光滅一切業障陀羅尼經, s: jñānolkādhāraṇī-sarvadurgatipariśo-dhanī), 1 quyển; Thí Hộ dịch. Nguyên bản tiếng Tân Cương (khotanese): Monumenta Serindica.
Trị đạo 治道; C: zhìdào; J: jidō; |Con đường chiến thắng phiền não.
Trí đáo bỉ ngạn 智到彼岸; C: zhìdàobĭàn; J: chitōhigan; |Sự hoàn chỉnh của toàn trí toàn thức. Trí ba-la-mật (智波羅蜜).
Trí Đạt 智達; C: zhìdá; J: chidatsu;|Cao tăng Nhật Bản thuộc Pháp tướng tông. Không rõ danh tính, nơi sinh và ngày tháng viên tịch. Sư đến Trung Hoa cùng với Trí Thông, theo ngài Huyền Trang nghiên cứu Duy thức. Sau khi trở về Nhật Bản, sư trú tại chùa Gangoji và truyền bá giáo lí Pháp tướng tông.
Trí đế hiện quán 智諦現觀; C: zhìdì xiànguān; J: chitai genkan;|Hiện quán trí đế hiện quán (現觀智諦現觀).
Trị địa trú 治地住; C: zhìdìzhù; J: jijichū; |Giai vị thứ 2 của Thập trú trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ Tát. Trị địa trú là giai vị thường tu tập Tính không để thanh tịnh và trưởng dưỡng tâm.
Trí độ 智度; S: prajñāpāramitā; dịch âm theo Hán Việt là Bát-nhã ba-la-mật-đa;|Trí huệ độ người sang bờ bên kia (Giác ngộ), có thể hiểu là Trí huệ siêu việt.
Trí độ luận 智度論; C: zhìdùlùn; J: chidoron; S: mahāpra-jñāpāramitā-śāstra|Đại trí độ luận (大智度論).
Trị đoạn 治斷; C: zhìduàn; J: jidan; |Chế ngự, trừ tiệt, cắt đứt, hàng phục (tập khí xấu, phiền não v.v…).
Trí dụng 智用; C: zhìyòng; J: chiyō;|Tác dụng của trí huệ.
Trí duyên diệt 智縁滅; C: zhìyuànmiè; J: chienmetsu;|Chứng đắc Niết-bàn (tịch diệt) do nhận biết rõ ràng pháp duyên sinh. Đồng nghĩa với Trạch diệt (擇滅).
Trí giả 智者; C: zhìzhĕ; J: chisha;|Một bậc thông thái, một tăng sĩ đức hạnh, một học giả (s: paṇḍita).
Trí hạnh 智行; C: zhìxíng; J: chigyō; |Trí huệ và công hạnh tu tập kết hợp. Trong Lục độ Ba-la-mật, thuật ngữ nầy nói đến Trí huệ ba-la-mật và những ba-la-mật khác như Bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn và thiền định.
Tri hành hợp nhất 知行合一|Nghĩa là »hiểu biết và thực hành phải đi đôi với nhau«; »Tri« có nghĩa là hiểu biết, là nghiên cứu kinh điển, những lời dạy của đức Phật, của chư vị Tổ sư, là sự cố gắng hiểu trọn vẹn ý nghĩa trong kinh sách bằng tri thức. »Hành« có hai nghĩa chính: 1. Hành động chính chắn, tránh làm điều ác, gia tăng việc thiện như lời Phật dạy và 2. Tu tập Thiền Ðịnh để trực chứng Chân lí đức Phật đã dạy. Qua kết quả từ Thiền định, cái biết vay mượn từ kinh sách, cái cảm giác »Tôi nghĩ là tôi biết« được thay thế bằng kinh nghiệm ở chính bản thân, bằng một kinh nghiệm xác định »Tôi biết!«, ví như người uống nước biết vị của nước ra sao.|Tri và hành nêu trên vốn xuất phát từ một niềm tin (Tín) vững chắc, tin rằng Phật là một người đã Giác ngộ hoàn toàn và những lời nói của Ngài là những gì người đời nên tin. Lòng tin này lại bắt nguồn từ việc quan sát kĩ lưỡng, đúng đắn những hiện tượng bên ngoài »như chúng là« và so sánh nó với những lời Phật dạy. Nói như thế không có nghĩa là tín, tri và hành là ba cấp bậc theo thứ tự thời gian mà hơn nữa, chúng lúc nào cũng phải đi song song với nhau, bổ sung cho nhau. Chỉ khi nào tri và hành hợp nhất thì kết quả đạt được mới viên mãn.
Trí huệ 智慧; C: zhìhuì; J: chie; S: prajñā; P: paññā|Phương diện quan trọng về dụng của tâm giác ngộ nhận thức rõ chân tính của các pháp, từ đó có sự vận hành cắt đứt mọi phiền não và mọi hành vi tai hại. Là một trong Lục ba-la-mật (六波羅蜜). Trí Bát-nhã, Trí
Trí huệ đệ nhất 智慧第一; C: zhìhuì dìyī; J: chie daiichi;|Người có trí huệ sâu rộng nhất – danh hiệu dành cho Xá-lợi-phất, một trong 10 để tử lớn của Đức Phật Thích-ca Mâu-ni.
Trí huệ lực 智慧力; C: zhìhuìlì; J: chieryoku;|Năng lực trí huệ (của chư Phật).
Tri khách 知客; J: shika;|Là người lo tiếp khách; một chức vị quan trọng trong một Thiền viện, còn được gọi là Ðiển khách hoặc Ðiển tân.|Tại Nhật, Tri khách thường là vị Trưởng lão quản lí thiền viện. Tri khách ở đây thường là một vị đã tiến xa trên Phật đạo, có khả năng thay thế vị Lão sư (j: rōshi) để dạy chúng. Tri khách chính là người trắc nghiệm những thiền sinh mới đến xem họ có đủ khả năng, tư cách để học với vị trụ trì hay không.
Trí Khải 智顗; C: zhìkǎi; J: chishō; 538-597, còn được gọi là Trí Giả;|Cao tăng Trung Quốc, Tổ thứ tư của Thiên Thai tông, nhưng được xem là người thật sự sáng lập tông phái này. Sư là người đầu tiên trong lịch sử Phật giáo Trung Quốc tạo một hệ thống phân loại trọn vẹn để giải thích các sự ra đời của các trường phái Phật giáo với chủ trương khác nhau, đôi khi mâu thuẫn. Sư cũng là người đề xướng phép tu Chỉ-quán, một môn tu tập thiền định còn truyền bá rộng rãi ngày nay. Tác phẩm chính của Sư là Ma-ha chỉ-quán (s: mahā-śamatha-vipaś-yanā), Chỉ-quán nhập môn, Lục diệu pháp môn.|Từ nhỏ Sư đã có biệt tài: chỉ cần nghe qua một lần, Sư đã thuộc làu toàn thể một bộ kinh. Tương truyền Sư thể nghiệm tính vô thường của vạn sự khi thấy một thư viện đầy kinh sách quý báu bị quân lính phá huỷ. Sau thể nghiệm này, Sư gia nhập Tăng-già và trở thành đệ tử của Tổ thứ ba là Huệ Tư (515-577). Dưới sự chỉ dạy của Huệ Tư, Sư học các tác phẩm trong Luật tạng (s, p: vinaya-piṭaka), tham cứu Diệu pháp liên hoa kinh cũng như các phương pháp tu Thiền (s: dhyāna) khác nhau. Năm 567, Sư đi Nam Kinh và bắt đầu giáo hoá. Năm 576, Sư lui về núi Thiên Thai và từ đó phát sinh danh hiệu Thiên Thai tông. Triều đình quý trọng Sư, cho phép thuế má vùng đó chỉ dành để nuôi sống thiền viện. Sư viên tịch tại núi Thiên Thai (Thiên Thai Ðức Thiều).
Tri khố 知庫|người trông lo, quản lí tiền bạc, tài sản của một Thiền viện.
Tri liêu 知寮|người trông lo liêu phòng, chỗ ở của tăng chúng trong một Thiền viện.
Trí luận 智論; C: zhìlùn; J: chiron;|Viết tắt của Đại trí độ luận (大智度論)
Trí Môn Quang Tộ 智門光祚; C: zhìmén guāngzuò; J: chimon kō-so; ?-1031;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn. Sư nối pháp Hương Lâm Trừng Viễn. Trong 30 người đệ tử nối pháp của Sư thì Tuyết Ðậu Trọng Hiển là danh tiếng nhất.|Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên làm kệ tán tụng những lời dạy của các vị tiền nhân và trong lĩnh vực này thì Sư có một vị đệ tử xuất sắc là Tuyết Ðậu nối dõi, người trứ tác Bích nham lục sau này.
Trí ngại 智礙 (碍); C: zhìài; J: chige; S: jñeya-āvaraṇa. |Sự chướng ngại của trí tuệ (trí chướng). Là điều vi tế nhất trong hai chướng ngại cho việc nhận ra Phật tính, thứ chướng ngại ít vi tế hơn là Phiền não chướng. Chữ »chướng« trong ngữ cảnh nầy thướng được viết là 障, Nhị chướng (二障).
Trí Ngân 智訔; C: zhìyín; J: chigin; K: chiŭn|Thiền sư Hàn Quốc trong thời kì Chosŏn. Không rõ chính xác ngày năn sinh. Sư là tác giả của Tịch diệt thị chúng luận (寂滅示衆論, k: chŏngmyŏl sijung non).
Trí Nghiêm 智嚴; C: zhìyán; J: chigon; K: chiŏm, 1464-1534|Thiền sư Hàn Quốc vào thời kì Chosŏn.
Trí Nghiễm 智儼; C: zhìyăn; J: chigen, 602-668. |Vân Hoa Trí Nghiễm.
Trí nhãn 智眼; C: zhìyăn; J: chigen; S: buddha-caksus |Con mắt trí tuệ của chư Phật, khác với nhục nhãn của chúng sinh chưa giác ngộ.
Trí phần 智分; C: zhìfēn; J: chibun; |Trí tuệ, tri thức, hiểu biết.
Trí Phụng 智鳳; C: zhìfèng; J: chihō; |Người thứ 3 truyền bá Pháp tướng tông vào Nhật Bản. Sư đến Trung Hoa 51 năm sau Doshiyo, cùng với 2 vị tăng khác. Khi Huyền Trang và Khuy Cơ dã viên tịch, sư tham học với Trí Châu. Sau khi trở về Nhật Bản, sư truyền bá giáo lí Duy thức.
Trí Quang 智光; C: zhìguāng; J: chikō; S: jñānaprabhā;|1. Ánh sáng trí tuệ; 2. Một luận sư của Trung quán tông (s: mādhyamika), cùng thời với Nguyệt Xứng (s: candrakīrti), Phật Hộ (s: buddhapālita), Thanh Biện (s: bhāvaviveka), chủ trương theo lập trường của Thanh Biện, đả phá Nguyệt Xứng.
Trí quang diệt nhất thiết nghiệp chướng đà-la-ni kinh 智光滅一切業障陀羅尼經; C: zhìguāng miè yīqiē yèzhàng tuóluóní jīng; J: chikō metsu issai gyōshō tarani kyō;|1 quyển. Tên gọi khác của bản dịch Trí cự đà-la-ni kinh (智炬陀羅尼經).
Tri-song Ðet-sen T: trhisong detsen [khri-sroṅ lde-btsan]; 742-798;|Một ông vua rất có công trong việc truyền bá Phật pháp sang Tây Tạng. Dưới sự cầm quyền của ông, Phật giáo được truyền bá sang Tây Tạng một cách có hệ thống. Ông được xem là hoá thân của Bồ Tát Văn-thù Sư-lị.|Ông sinh năm 742, lên ngôi năm 12 tuổi (754). Niềm tin nơi Phật pháp của ông vốn bắt nguồn từ bà mẹ sùng đạo – nguyên là một vị công chúa Trung Quốc với tên Kim Thành. Với sự giúp đỡ của bà mẹ, ông đã dẹp được phe chống Phật pháp được nhiều vị quan trong triều đình ủng hộ, mà cực đoan nhất là Ma-zhang (t: ma-žan). Sau đó, ông mời vị Ðại sư Ấn Ðộ là Tịch Hộ (s: śāntarakṣita) sang Tây Tạng hoằng pháp.|Ôn dịch, thiên tai là những dấu hiệu tiếp đón Tịch Hộ tại Tây Tạng. Nghe lời khuyên trước khi về nước của Tịch Hộ, Tri-song Ðet-sen mời Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava) sang trị những tai ương đang hoành hành. Vốn xuất thân từ Mật giáo, Liên Hoa Sinh tinh thông pháp thuật, cầu mưa, trừ tà… Chỉ một thời gian ngắn sau đó, các thiên tai đã được chinh phục, Tịch Hộ lại sang Tây Tạng tiếp tục sự nghiệp hoằng pháp và dịch kinh sách.|Dưới sự hộ trì của Tri-song Ðet-sen, Phật pháp được truyền bá rộng rãi tại Tây tạng. Năm 787, với sự giúp đỡ của Liên Hoa Sinh và Tịch Hộ, ông cho xây dựng ngôi chùa Tang-duyên (t: sam-ye [bsam-yas]), cách thủ đô Lha-sa khoảng 60 km hướng Ðông nam. Vị trụ trì đầu tiên ở chùa này là Tịch Hộ và dưới sự quản lí của sư, chùa này trở thành trung tâm Phật giáo đầu tiên tại Tây Tạng, nhiều kinh sách được dịch sang Tạng ngữ.|Cũng trong thời gian này, nhiều vị Ðại sư Phật giáo người Trung Quốc đang giáo hoá tại Tây Tạng. Tri-song Ðet-sen ra lệnh triệu tập các vị Ðại sư của hai trường phái Phật giáo – Ấn Ðộ và Trung Quốc – để tổ chức một buổi tranh luận công khai về giáo lí. Trưởng đoàn người Ấn là Liên Hoa Giới (s: kamalaśīla), một môn đệ của Tịch Hộ. Trong phái đoàn Trung Quốc thì Hoà Thượng Ðại Thừa dẫn đầu. Phái đoàn Ấn Ðộ toàn thắng trong cuộc tranh luận này và các vị Ðại sư Trung Quốc phải trở về nước.|Mặc dù rất có công với Hiển giáo, tận tình giúp đỡ Tịch Hộ và môn đệ nhưng Tri-song Ðet-sen vẫn chú tâm đến Mật giáo và những phép bùa chú của Liên Hoa Sinh hơn. Truyền thống của tông Ninh-mã xếp ông vào 25 vị đệ tử chân truyền cuả Liên Hoa Sinh và chính ông cũng tổ chức một buổi lễ long trọng để tiễn biệt Liên Hoa Sinh.|Ông mất vào năm 798 qua một mũi tên của một thích khách.
Tri sự 知事; S: karmadāna; cũng được gọi là Duyệt chúng, gọi theo âm là Kiết-ma Ðà-na, Yết-ma Ðà-na, Duy na;|Chỉ chức vị trông coi sinh hoạt của chúng trong Tăng-già, trong một Thiền viện.
Tri tạng 知藏|Người trông lo, quản lí kinh sách của Thiền viện.
Trí Tạng 智藏; C: zhìzàng; J: chizō; |Có ít nhất 3 nhân vật được đề cập đến:|1. Là một trong 3 pháp sư lỗi lạc vào đời Lương (梁). Sư xuất gia vào năm 16 tuổi tại chùa Hưng Hoàng (興皇寺) năm 470, sau khi được học với Hoằng Tông (弘宗) cùng với Tăng Viễn (僧遠) và Tăng Hựu (僧祐) tại chùa Định Lâm (定林寺), sư nổi tiếng thành tựu sở học uyên thâm, sau đó du hành đến nhiều nơi trong nước Trung Hoa để giảng dạy Phật pháp, cùng lúc duy trì chế độ tu tập rất nghiêm túc cho chính mình. Lương Vũ Đế phát tâm quy y với sư và trải qua thời gian dài giảng pháp tại Bành Thành tự (彭城寺). Sau đó, sư ẩn cư tại Khai Thiện tự (開善寺) và viên tịch năm 522, lúc 65 tuổi. Mặc dù được biết Sư viết rất nhiều chuyên luận và luận giải về kinh luật Phật pháp, nhưng không còn tác phẩm nào lưu hành đến ngày nay.|2. Tây Đường Trí Tạng, Thiền sư Trung Hoa đời Đường.|3. Tăng sĩ thế kỉ thứ 7, đời nhà Ngô, thuộc Tam luận tông. Sư bắt đầu học Phật vào lúc niên thiếu với sự hướng dẫn của Huệ Quán (慧灌) tại Nguyên Hưng tự (元興寺). Sau đó sư nhập Đường để học với Cát Tạng (吉蔵), sư trở nên nổi danh là chuyên gia của triết học Tam luận. Sau sư nghiên cứu và giảng dạy tại Pháp Long tự. Không rõ ngày sinh và viên tịch của sư. Môn đệ của sư gồm có Đạo Từ (道慈), Trí Quang (智光) và Lễ Quang (禮光).
Trí Thăng 智昇; C: zhìshēng; J: chishō;|Tăng sĩ học giả đời Đường, người đã sưu tập một trong những mục lục quan trọng nhất của kinh luận chữ Hán, nhan đề Khai Nguyên Thích giáo lục (開元釋教録), hoàn thành năm 730.
Trí thể 智體; C: zhìtĭ; J: chitai;|Bản chất của trí huệ. Thể tính của trí huệ.
Trí Thiền 智禪; ~ tk. 11/12|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 16, nối pháp Thiền sư Giới Không.|Sư tên Lê Thước, xuất thân từ một gia đình quan tước. Thuở nhỏ, Sư theo nghiệp nhà Nho, thi đậu tiến sĩ và được sung chức Cung Hậu Thư gia.|Năm lên 27, Sư theo ông anh đến Thiền sư Giới Không nghe giảng kinh Kim cương. Nhân nghe giảng đến bài kệ cuối của kinh »Tất cả pháp hữu vi, như mộng huyễn bọt bóng, như sương cũng như điện, phải quán sát như thế«, Sư bỗng giật mình cảm ngộ, cho rằng ngoài đạo Phật không có giáo lí nào dẫn dắt qua biển sinh tử và xin cạo đầu xuất gia với Thiền sư Giới Không.|Sau khi được Ấn khả, Sư đến núi Từ Sơn chuyên tu khổ hạnh. Ðạo hạnh của Sư cảm hoá được cả thú dữ và giặc cướp. Vua Lí Cao Tông và Anh Tông nhiều lần thỉnh Sư về triều nhưng Sư một mực từ chối. Hai vị quan Tô Hiến Thành và Ngô Hoà Nghĩa đều xin làm đệ tử của Sư nhưng suốt 10 năm chưa được biết mặt thầy. Khi được gặp mặt nhau, thầy trò đều hoan hỉ và vừa hỏi thăm xong, Sư dặn dò:|既懷出素養胸中。聞說微言意悅從|貪欲黜除天里外。希夷之里日包容|淡然自守。惟德是務|善言卷卷一句|心無彼我。既絕昏霾|日夜陟降。無形可住|如影如響。無跡可趣|Kí hoài xuất tố dưỡng hung trung|Văn thuyết vi ngôn ý duyệt tòng|Tham dục truất trừ thiên lí ngoại|Hi di chi lí nhật bao dung.|Ðạm nhiên tự thủ, duy đức thị vụ.|Thiện ngôn quyền quyền nhất cú|Tâm vô bỉ ngã, kí tuyệt hôn mai|Nhật dạ trắc giáng, vô hình khả trụ|Như ảnh như hưởng, vô tích khả thú.|*Ðã mang giống Phật dưỡng trong lòng|Nghe nói lời mầu ý thích mong|Vất ngoài ngàn dặm niềm tham muốn|Lí nhiệm càng ngày càng bao dung.|Ðạm bạc tự giữ, chỉ đức là vụ|Lời thành tha thiết một câu:|Lòng không bỉ ngã, đã dứt bụi mù|Ngày đêm lên xuống, không hình khá trụ|Như bóng như vang, không vết khá đến.|Nói xong, Sư chắp tay ngồi ngay thẳng vui vẻ thị tịch. Các quan và đệ tử xúc động kêu khóc vang núi.
Trí Thông 智通; C: zhìtōng; J: chitsū; |Tăng sĩ Pháp tướng tông Nhật Bản. Năm 657, theo sắc lệnh của Hoàng đế, sư cùng với Trí Đạt, đáp thuyền Hàn Quốc sang Trung Hoa. Sư tham học với Huyền Trang, nghiên cứu Pháp tướng tông. Khi trở về Nhật Bản, sư truyền bá dòng pháp thứ 2 của Pháp tướng tông Nhật Bản. Sau đó, sư sáng lập chùa Quan Âm (j: kannonji) ở Izumi (Osaka).
Trí Tích 智積; C: zhìjī; J: chishaku; |1. Tích chứa trí huệ; 2. Tên một người con của Đức Phật Đại Thông Trí Thắng; 3. Tăng sĩ thời Đông Tấn.
Trí tướng 智相; C: zhìxiāng; J: chisō;|Thể chất trong sáng của Phật tính. Theo luận Đại thừa khởi tín thì đây là một trong Lục thô. Là tác dụng của trí dẫn đến nhận thức rõ sự thanh tịnh và nhiễm ô, khiến sinh khởi sự thích và ghét.
Tri viên 知園|người trông lo vườn tược trong một Thiền viện.
Trí Xứng 智稱; C: zhìchēng; J: chishō; K: chich'ing, 1113-1192; |Tăng sĩ kiêm học giả lớn của Hoa Nghiêm tông thuộc triều đại Cao Li (k: koryŏ).
Triệt Ông Nghĩa Ðình 徹翁義亭; J: tettō gikō; 1295-1369;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế hệ phái Ðại Ðức tự (j: daitokuji-ha), môn đệ của Thiền sư Tông Phong Diệu Siêu (j: shūhō myōchō).|Sư quê ở Izumo, ban đầu tu tập tại Kiến Nhân tự (kennin-ji). Sau, vì không hài lòng với phong cách của Ngũ Sơn (gozan) tại đây, Sư đến tham học với Thiền sư Tông Phong và được Ấn khả. Sư giáo hoá rất thành công tại chùa Ðại Ðức (daitoku-ji). Nối pháp của Sư và là người kế thừa trụ trì Ðại Ðức tự là Thiền sư Ngôn Ngoại Tông Trung (言外宗忠; gongai sōchū, 1315-1390) và một thế hệ sau đó là Thiền sư Hoa Tẩu Tông Ðàm (花叟宗曇; kesō sōdon, 1352-1428).
Triệt Thông Nghĩa Giới 徹通義介; J: tettsū gikai; 1219-1309;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng (j: sōtō-shū). Sư là vị trụ trì thứ ba của Vĩnh Bình tự (eihei-ji). Dòng thiền kế thừa Sư là dòng chính của tông Tào Ðộng và được truyền cho đến ngày hôm nay tại Nhật.|Sư sinh tại tỉnh Echizen, xuất gia năm 1231 với Giác Thiền Hoài Giám (覺禪懷鑑; kakuzen ekan, ?-1251) một vị Thiền sư thuộc tông Nhật Bản Ðạt-ma (j: nihon darumashū). Một năm sau, Sư đến núi Tỉ Duệ và chú tâm vào việc nghiên cứu giáo lí của Thiên Thai, Mật và Tịnh độ tông. Cùng với một số vị thuộc tông Nhật Bản Ðạt-ma, Sư đến tham vấn Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền và lưu lại đây tu học. Ðạo Nguyên sớm nhận ra tài năng của Sư và trao cho những chức năng quan trọng như Ðiển toạ (j: tenzo), Tri sự. Trước khi tịch, Ðạo Nguyên phó chúc việc quản lí, chăm lo chùa Vĩnh Bình cho Sư và chính sự việc này đã gây ra sự chia rẽ trong tông Tào Ðộng sau thế hệ hứ hai.|Sau khi Ðạo Nguyên viên tịch, Sư tu học dưới sự hướng dẫn của Thiền sư Cô Vân Hoài Trang (koun ejō). Theo lời khuyên của Cô Vân, Sư chu du viếng thăm rất nhiều thiền viện tại Nhật để trau dồi kinh nghiệm về kiến trúc để sau này mở rộng thiền viện Vĩnh Bình. Năm 1259, Sư đến Trung Quốc, thu thập rất nhiều tài liệu về kiến trúc của những thiền viện tại đây – đặc biệt là những thiền viện thuộc tông Lâm Tế.|Sau khi trở về Nhật, Sư bắt đầu việc trùng tu Vĩnh Bình tự và đưa vào đây những quy luật mới, những phong cách kiến trúc mới và cũng chính vì những sự việc này mà có những sự tranh chấp tại Vĩnh Bình tự. Nhiều vị tăng cho rằng, những điểm được cải cách này đối nghịch tư tưởng của Ðạo Nguyên và các tư liệu về Sư cũng làm sáng tỏ sự việc này. Xuất thân từ Nhật Bản Ðạt-ma tông, Sư rất chú trọng đến việc thực hành nghi lễ mang tính chất Mật giáo, một phong cách mà người ta không hề tìm thấy nơi Ðạo Nguyên. Thêm nữa, thay vì sống và tu tập hoàn toàn hướng nội, sống cơ hàn xa lìa đô thị như Ðạo Nguyên thì Sư lại chú trọng đến phong cách bề ngoài, cách trưng bày xa hoa, những ngôi chùa to lớn, việc thực hành những nghi lễ long trọng. Vì những lí do trên mà Sư rời Vĩnh Bình tự.|Sau, Sư đến trụ trì Ðại Thừa tự (daijō-ji), vốn là một ngôi chùa thuộc Chân ngôn tông nhưng được Sư sửa đổi thành một thiền viện. Nơi đây, Sư dốc lòng truyền bá Thiền tông theo quan niệm riêng của mình, thích hợp với thời gian. Cách tu tập tại đây bao gồm thiền theo Thiền tông nhưng cũng không ít nghi lễ của Chân ngôn tông được đưa vào đây. Mầm mống của sự truyền bá rộng rãi của tông Tào Ðộng tại Nhật sau này được đặt ngay tại ngôi chùa này. |Sư tịch năm 1309, thọ 91 tuổi.
Triệu Châu Tòng Thẩm 趙州從諗; C: zhàozhōu cóngshěn; J: jōshū jū-shin; 778-897;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ thượng thủ của Nam Tuyền Phổ Nguyện. Thiền sư Nhật Bản Ðạo Nguyên Hi Huyền – nổi tiếng là khó tính trong việc đánh giá mức giác ngộ của các Thiền sư – cũng công nhận Triệu Châu là »Ðức Phật thân mến.« Sư có 13 truyền nhân nhưng không mấy ai được gần bằng Sư và dòng này thất truyền chỉ sau vài thế hệ.|Cuộc đời Triệu Châu cho thấy điều mà các Thiền sư hay nhấn mạnh rằng, Kiến tính chỉ là bước đầu của việc tu học Thiền. Triệu Châu đã kiến tính từ năm 18 tuổi nhưng sau đó còn học Thiền 40 năm với Nam Tuyền. Sau khi Nam Tuyền qua đời, Sư vân du đọ sức với các Thiền sư khác trong những Pháp chiến. Tương truyền rằng Sư đã tìm gặp khoảng 80 Thiền sư, phần lớn là những môn đệ đắc pháp của Mã Tổ (thầy của Nam Tuyền) để vấn đạo. Ðến năm 80 tuổi Sư mới chịu dừng chân tại viện Quan Âm, Triệu Châu. Nơi đây Sư tuỳ cơ dạy học trò và thọ đến 120 tuổi.|Sư họ Hác, quê ở làng Hác, thuộc Tào Châu. Sư theo thầy xuất gia khi còn nhỏ. Chưa thụ giới cụ túc, Sư đã đến tham vấn Thiền sư Nam Tuyền. Gặp lúc Nam Tuyền đang nằm nghỉ trong phương trượng, Nam Tuyền hỏi Sư: »Vừa rời chỗ nào đến?« Sư đáp: »Thuỵ Tượng.« Nam Tuyền hỏi: »Có thấy Thuỵ Tượng chăng?« Sư đáp: »Chẳng thấy Thuỵ Tượng, chỉ thấy Như Lai nằm.« Nam Tuyền liền ngồi dậy hỏi: »Ngươi là Sa-di có chủ hay không chủ?« Sư đáp: »Sa-di có chủ.« Nam Tuyền hỏi: »Ai là chủ?« Sư khoanh tay đến trước mặt Nam Tuyền thưa: »Giữa mùa đông rất lạnh, kính chúc Hoà thượng tôn thể an lành.« Nam Tuyền thấy lạ, gật đầu thầm nhận.|Một hôm Sư hỏi Nam Tuyền: »Thế nào là đạo?« Nam Tuyền đáp: »Tâm bình thường là đạo« Sư hỏi: »Lại có thể nhằm tiến đến chăng?« Nam Tuyền đáp: »Nghĩ nhằm tiến đến tức trái.« Sư lại hỏi: »Chẳng nghĩ suy đâu biết là đạo?« Nam Tuyền đáp: »Ðạo chẳng thuộc về hiểu biết hay không hiểu biết. Biết là vọng giác, không biết là vô kí. Nếu thật đắc đạo thì chẳng còn nghi ngờ, ví như hư không thênh thang rộng rãi, đâu thể cưỡng nói phải quấy.« Sư nhân đây ngộ đạo, và sau đó đi thụ giới tại Tung Nhạc. Thụ giới xong, Sư lại đến Nam Tuyền và lưu lại đây 40 năm|Sau khi Nam Tuyền viên tịch, Sư mang bát gậy dạo khắp các tùng lâm và thường tự bảo: »Trẻ con bảy tuổi hơn ta thì ta hỏi nó, ông già trăm tuổi chẳng bằng ta thì ta dạy va.«|Sư đến thăm Thiền sư Hoàng Bá Hi Vận. Hoàng Bá thấy Sư liền đóng cửa phương trượng. Sư cầm lửa đi vào pháp đường la: »Cứu lửa! Cứu lửa!« Hoàng Bá mở cửa nắm đứng Sư hỏi: »Nói! Nói!« Sư bảo: »Giặc qua rồi mới dương cung.«|Ðến Ðạo Ngô Viên Trí, Ðạo Ngô thấy Sư liền nói: »Mũi tên Nam Tuyền đến.« Sư bảo: »Xem tên!« Ðạo Ngô nói: »Trật rồi!« Sư nói: »Trúng!«|Sư thượng đường dạy chúng: »Phật vàng không độ được lò đúc, Phật gỗ không độ được lửa, Phật đất không độ được nước, Phật thật ngồi ở trong. Bồ-đề, Niết-bàn, Chân như, Phật tính trọn là y phục đắp vào thân, cũng gọi là phiền não, thật tế lí địa để ở chỗ nào? Một tâm không sinh, muôn pháp không lỗi. Ngươi cứ nghiên cứu lí này, ngồi quán xét hai ba mươi năm, nếu chẳng hội thì chặt đầu Lão tăng đi! Nhọc nhằn nắm bắt mộng huyễn không hoa, tâm nếu chẳng khác thì muôn pháp nhất như. Ðã chẳng từ ngoài được thì câu chấp làm gì? Giống y như con dê gặp vật gì cũng liếm cũng nhai. Lão tăng thấy Hoà thượng Dược Sơn có người hỏi Ngài liền bảo ›Ngậm miệng chó.‹ Lão tăng cũng dạy ›Ngậm miệng chó.‹ Chấp Ngã thì nhơ, không chấp ngã thì sạch, giống như con chó săn tìm kiếm vật để ăn. Phật pháp chỗ nào? Ngàn người muôn người thảy là kẻ tìm Phật, mà ở trong đó tìm một đạo nhân không có. Nếu cùng vua Không làm đệ tử, chớ bảo tâm bệnh khó trị. Khi chưa có thế giới, trước đã có tính này, khi thế giới hoại, tính này chẳng hoại. Một phen được thấy Lão tăng, sau lại chẳng phải người khác, chỉ là chủ nhân này. Cái đó lại hướng ngoài tìm cái gì? Khi ấy chớ xoa đầu moi óc, xoa đầu moi óc liền mất vậy.« |Một vị tăng nghe vậy bước ra hỏi: »Theo lời thầy dạy ›Khi thế giới hoại, tính này chẳng hoại‹, thế nào là tính này?« Sư trả lời: »Tứ đại, Ngũ uẩn.« Tăng lại hỏi: »Các thứ ấy vẫn là hoại, thế nào là tính này?« Sư đáp: »Tứ đại, ngũ uẩn.«|Triệu Châu có một cách dạy học trò rất độc đáo. Thường Sư nói rất nhỏ, rất nhẹ nhàng, trả lời ngắn gọn và đơn giản các câu hỏi của thiền sinh. Tuy thế các câu trả lời đó lại có sức mạnh phi thường, cắt đứt vô minh và chấp trước của người hỏi như một lưỡi kiếm bén. Nhiều Công án Thiền nổi tiếng xuất phát từ những giai thoại của Sư với các đệ tử, như công án thứ nhất trong tập Vô môn quan: |Một vị tăng hỏi Sư: »Con chó có Phật tính chăng?« Sư đáp: »Không!« (無; vô)|Kể từ lúc công án trở thành một phương pháp dạy Thiền thì công án »Triệu Châu cẩu tử« nói trên đã giúp vô số thiền sinh kiến tính và vẫn được sử dụng đến ngày nay. Các Thiền sư sau này rất quý trọng những lời nói của Sư. Biểu hiện rõ của việc này là Sư được nhắc lại rất nhiều lần trong trong hai tập công án quan trọng nhất của Thiền tông là Bích nham lục (2, 9, 30, 41, 45, 52, 57, 58, 59, 60, 84, 96) và Vô môn quan (1, 7, 11, 14, 19, 31, 37).|Sư sống rất kham khổ, đơn giản. Tương truyền Sư có một cái giường gãy một chân được ràng ròt lại. Có người muốn thay giường mới nhưng Sư không cho phép. Hai vị vua nước Yên và Triệu đồng ra mắt Sư, Sư vẫn ngồi yên tiếp, không đứng dậy. Vua Yên hỏi: »Nhân vương đáng tôn trọng hay Pháp vương đáng tôn trọng hơn?« Sư đáp: »Nếu ở trong Nhân vương thì Nhân vương trọng, nếu ở trong Pháp vương thì Pháp vương trọng.« Hai vị nghe xong vui vẻ kính phục.|Niên hiệu Càng Ninh năm thứ tư đời Ðường, Sư nằm nghiêng bên mặt an nhiên viên tịch, thọ 120 tuổi. Vua ban hiệu là Chân Tế Ðại Sư.
Triệu luận 肇論; C: zhàolùn;|Tăng Triệu
Trợ 助; C: zhù; J: jo;|Sự giúp đỡ. Giúp đỡ, trợ giúp, tiền trợ cấp, giúp cho may mắn.
Trợ bạn 助伴; C: zhùbàn; J: joban;|1. Sự giúp đỡ, sự hỗ trợ (theo Câu-xá luận 倶舎論); 2. Vật gắn bó nhau, phụ thuộc nhau, tương ưng nhau (s: saṃyukta, theo Du-già luận 瑜伽論).
Trợ phát 助發; C: zhùfā; J: johotsu;|Có hai nghĩa: 1. Giảng giải giáo pháp, giúp đỡ và khuyến khích cho mọi người tu tập; 2. Nói chung là hỗ trợ và khích lệ.
Trọc (trược) 濁; C: zhuó; J: joku;|1. Đục, hỗn độn, dơ bẩn, không rõ ràng. Đồ dơ bẩn, ô nhiễm, rác bẩn, sự vẩn đục (ô 汚; s: kaṣāya). Bị bẩn, làm nhơ nhuốc, bẩn thỉu; 2. Đần độn, hư hỏng.
Trói buộc S, P: saṃyojana; Hán Việt: Kết sử (結使);|Một khái niệm quan trọng của đạo Phật, chỉ chướng ngại trên đường giải thoát. Trong Tiểu thừa, người ta chia làm mười thứ trói buộc, làm con người cứ bị buộc chặt trong Luân hồi:|1. Thân kiến (身見; s: satkāya-dṛṣṭi; p: sak-kāyadiṭṭhi), nghĩ rằng có một cái tôi được lập trên cơ sở thân thể; 2. Nghi (疑; s: vici-kitsā; p: vicikiccā); 3. Chấp đắm vào giới luật (戒禁取; giới cấm thủ; s: śīlavrata-parāmarśa; p: sīlabbata-parāmāsa); 4. Dục tham (欲貪; s, p: kāma-rāga);|5. Sân hận (慎恚; thận khuể; s, p: vyāpāda); 6. Sắc tham (色貪; s, p: rūpa-rāga); 7. Vô sắc tham (無色貪; s, p: arūpa-rāga); 8. Kiêu mạn (慢; s, p: māna); 9. Hồi hộp không yên (掉舉; trạo cử; s: auddhatya; p: uddha-cca); 10. Vô minh (無明; s: avidyā; p: avijjā).|Thoát được ba trói buộc đầu tiên, hành giả trở thành Dự lưu (s: śrotāpanna). Thoát được trói buộc thứ 4, 5 là bậc Nhất lai (s: sa-kṛḍāgāmin). Thoát được hoàn toàn năm trói buộc đầu tiên, hành giả đạt quả Bất hoàn (s: anāgāma). Hành giả thoát được mười trói buộc thì trở thành A-la-hán (s: arhat).
Trụ 住; C: zhù; J: jū; S: layana; sthiti.|Trú.
Trú (trụ) 住; C: zhù; J: jū; S: layana; sthiti.|Có các nghĩa sau: 1. Ở lại, lưu lại (s: vihara-ti); tồn tại lâu dài (s: upasthita, tisthati); định cư; 2. Ở, trú ngụ, cư trú; 3. Hiện hữu, tồn tại, sống (s: pravrtti); 4. Sống một cách an nhiên; 5. Trụ vào một đối tượng nào đó, dính mắc vào, trụ vào; 6. Sự chấp trước, ảo tưởng; 7. Sự tiếp tục; 8. Ở trong bào thai (s: sthiti); 9. Giai đoạn, thời kì tồn tại (của vũ trụ); 10. Một trong 3 (hoặc 4) hình thái tồn tại của vũ trụ (tứ tướng 四相); 11. Thập trú (十住), 10 trong 52 giai vị tu đạo của hàng Bồ Tát; 12. Một trong 24 loại Tâm bất tương ưng hành pháp; 13. Thường trú, tồn tại vĩnh viễn, hiện hữu đời đời; 14. Trong thuật ngữ Thiền, nó thường được kết hợp với một động từ để nhấn mạnh nghĩa của động từ ấy.
Trú địa 住地; C: zhùdì; J: jūji;|Có các nghĩa sau: 1. Yếu tính căn bản của sự sinh khởi các pháp (theo kinh Thắng Man 勝鬘經): »言地者本為末依名之為住本能生末目之為地。Ngôn địa giả bản vi mạt y, danh chi vi trú, bản năng sinh mạt, mục chi vi địa.« Dịch: »Địa là do gốc nương nơi ngọn mà có; gọi là trú, vì gốc có thể sinh ngọn; nên gọi là địa vậy; 2. Nơi phiền não được xác định, vây bọc; 3. Trú địa phiền não (住地煩惱), nghĩa là phiền não ở trạng thái bất động (e: static), đối nghĩa với Khởi phiền não (起煩惱), loại phiền não khởi động (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Trú phiền não 住煩惱; C: zhù fánnăo; J: jūbonnō;|Bốn loại Trú phiền não được đề cập trong kinh Thắng Man (s: śrīmālā-sūtra): 1. Kiến nhất xứ trú trì (見一處住持); 2. Dục ái trú trì (欲愛住持); 3. Sắc ái trú trì (色愛住持), 4. Hữu ái trú trì (有愛住持). Những phiền não nầy là nền tảng của vô số Khởi phiền não (起煩惱).
Trú trì 住持; C: zhùchí; J: jūji; S: tisthati.|Có các nghĩa: 1. Duy trì, nắm giữ. Đặc biệt trong nghĩa »hộ trì Phật pháp«; 2. Nơi cư trú, sự lưu trú. Lập trường, quan điểm, cơ sở, Phật tính (s: adhisthāna); 3. Đồng nghĩa với Gia trì (加持); 4. Thường an nhiên, thanh thản; 5. Vị tăng đứng đầu tu viện, hộ trì và truyền bá Phật pháp; 6. Trong câu »Như hà trú trì« (如何住持) thì nó có nghĩa là »Điều kiện (phương pháp)… như thế nào?«; 7. Lệ thuộc vào, cơ sở, quy chế. Được định nghĩa là sự hệ thuộc vào đức Phật, người truyền năng lực của mình đến mọi chúng sinh cũng như hỗ trợ chúng.
Trúc bề 竹篦; J: shippei, chikuhei;|Một que trúc dài khoảng 50 cm, hình khom cánh cung, sơn son. Các vị Thiền sư thời xưa thường sử dụng trúc bề để khuyến khích, tiếp dẫn đệ tử. Trong nhiều Công án được lưu lại, trúc bề đóng một vai trò như cây Phất tử.
Trúc Lâm Ðầu Ðà 竹林頭陀|Trần Nhân Tông.
Trúc Lâm Yên Tử 竹林安子|Một dòng thiền Việt Nam đời nhà Trần, do Trần Nhân Tông sáng lập. Trúc Lâm cũng là hiệu của Trần Nhân Tông, đồng thời cũng là hiệu của Thiền sư Ðạo Viên, tiền bối của Trần Nhân Tông, Tổ thứ hai của dòng thiền Yên Tử. Thiền phái Trúc Lâm có ba Thiền sư kiệt xuất là Nhân Tông (Trúc Lâm), Pháp Loa và Huyền Quang. Thiền phái này được xem là tiếp nối của dòng Yên Tử, dòng Yên Tử lại là sự hợp nhất của ba dòng thiền Việt Nam của thế kỉ thứ 12 – đó là dòng Thảo Ðường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa Lưu-chi.|Thiền phái Trúc Lâm được một vị vua nhà Trần sáng lập, được xem là dạng Phật giáo chính thức của Ðại Việt thời đó nên có liên quan mật thiết đến triều đại nhà Trần, phải chịu một hoàn cảnh mai một sau khi triều đại này suy tàn. Vì vậy, sau ba vị Tổ nói trên, hệ thống truyền thừa của phái này không còn rõ ràng, nhưng có lẽ không bị gián đoạn bởi vì đến thời kì Trịnh-Nguyễn phân tranh (1600-1700), người ta lại thấy xuất hiện những vị Thiền sư của Trúc Lâm Yên Tử như Viên Cảnh Lục Hồ, Viên Khoan Ðại Thâm và nổi bật nhất là Thiền sư Minh Châu Hương Hải (theo Nguyễn Hiền Ðức).|Sau một thời gian ẩn dật, dòng thiền này sản sinh ra một vị Thiền sư xuất sắc là Hương Hải, người đã phục hưng tông phong Trúc Lâm. Trong thế kỉ thứ 17-18, thiền phái này được hoà nhập vào tông Lâm Tế và vị Thiền sư xuất sắc cuối cùng là Chân Nguyên Huệ Ðăng.|Sau đây là hệ thống truyền thừa sau ba vị Tổ sư Trần Nhân Tông (1.), Pháp Loa (2.), Huyền Quang (3.) trong Ðại nam thiền uyển truyền đăng lục (大南禪苑傳燈錄), được Thiền sư Phúc Ðiền (福田) đính bản: 4. An Tâm (安心); 5. Phù Vân Tĩnh Lự (浮雲靜慮); 6. Vô Trước (無著); 7. Quốc Nhất (國一); 8. Viên Minh (圓明); 9. Ðạo Huệ (道惠); 10. Viên Ngộ (圓遇); 11. Tổng Trì (總持); 12. Khuê Sâm (珪琛); 13. Sơn Ðăng (山燈); 14. Hương Sơn (香山); 15. Trí Dung (智容); 16. Huệ Quang (慧光); 17. Chân Trụ (真住); 18. Vô Phiền (無煩).
Trừng 澄; C: chéng; J: chō;|Trong sạch. Trở nên lắng trong. Gạn lọc. Lắng trong.
Trung ấm 中陰; C: zhōngyīn; J: chūin; T: bar-do; S: anta-rābhava; |1. Trạng thái trung gian sau khi chết và trước khi thụ nhận một hữu thể khác; 2. Bốn mươi chín ngày đầu tiên sau khi chết (theo Nhiếp Đại thừa luận 攝大乘論). Trung hữu
Trung biên luận 中邊論; C: zhōngbiān lùn; J: chūbenron;|Trung biên phân biệt luận (中邊分別論).
Trung biên phân biệt luận 中邊分別論; C: zhōngbiān fēnbié lùn; J: chū-ben funbetsu ron;|Cũng được gọi tắt là Trung biên luận (中邊論), và còn được gọi là Biện trung biên luận (辯中邊論). Là luận văn tinh yếu của Du-già hành tông. Theo truyền thống, trứ tác này được xem của ngài Di-lặc với lời luận giải của Thế Thân, nhưng theo các học giả thì luận giải nầy có vẻ là tác phẩm biên soạn chung của Vô Trước và Thế Thân hơn. Đặc điểm chính của luận văn nầy là phân tích của Du-già hành tông về sự phân biệt sai lầm (Hư vọng phân biệt 虚妄分別) khi chối từ ý niệm về Không tính, với mục đích giải trừ sự chấp trước vào hai cực đoan Hữu và Vô. Có 2 bản dịch Hán văn về luận giải nầy: 1. Bản dịch của Huyền Trang, gồm 3 tập; 2. Bản dịch của Chân Đế (眞諦) gồm 2 tập.
Trung bộ kinh 中部經; S: madhyamāgama; P: majjhima-ni-kāya; |Là tuyển tập thứ hai trong Kinh tạng (p: sut-ta-piṭaka; Bộ kinh). Kinh này được viết bằng văn hệ Pā-li, bao gồm 152 kinh không dài lắm (trung). Trung A-hàm Hán ngữ bao gồm 222 bài kinh (được dịch từ một bản Phạn, nay đã thất truyền). Hai bộ có 97 kinh giống nhau. Theo truyền thuyết thì Trung bộ kinh được Xá-lị-phất (s: śāriputra) trình bày lại trong hội nghị Kết tập lần thứ nhất.
Trung đạo 中道; C: zhōngdào; J: chūdō; S: madhyamā-pratipadā; P: majjhimā-paṭipadā;|Ðược dùng chỉ chung các phương pháp giảng dạy của Phật Thích-ca, là người tránh những cực đoan trong cách tu học – như buông thả theo dục lạc và sống khổ hạnh tuyệt đối. Trung đạo cũng dùng để chỉ giáo pháp Trung quán của Long Thụ, là môn phái không chấp nhận một đối cực nào của mọi phân cực. Ðặc biệt, giáo pháp này không chọn lựa có-không và đi con đường trung dung, »trung đạo«.|Trong Tiểu thừa, Bát chính đạo được xem là Trung đạo vì thực hành Bát chính đạo, hành giả vừa xa lánh đời sống dục lạc và đời sống khổ hạnh, thoát khỏi Khổ. Thái độ này được đức Phật mô tả như sau: »Này các tỉ-khâu, có hai điều thái quá, người xuất gia không nên theo. Thế nào là hai? một là mê đắm dục lạc, hạ liệt, phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Hai là tu khổ hạnh, khổ đau, không xứng Thánh hạnh, không thiệt lợi đạo. Này các tỉ-khâu, chính nhờ từ bỏ hai điều thái quá này, Như Lai giác ngộ trung đạo, con đường đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, chứng Niết-bàn.|Này các tỉ khâu, Trung đạo do Như Lai giác ngộ, đem đến pháp nhãn, trí huệ đưa lại an tịnh, thượng trí, giác ngộ, Niết-bàn là gì? Chính là Bát chính đạo: chính kiến, chính tư duy, chính ngữ, chính nghiệp, chính mệnh, chính tinh tiến, chính niệm, chính định« (kinh Chuyển pháp luân, bản dịch của Thích Minh Châu).|Trung đạo cũng được xem là thái độ từ bỏ hai quan điểm cực đoan thế giới là trường tồn hay hoại diệt, thế giới là có (hữu) hay không có (vô). Trong Trung quán tông, Trung đạo được trình bày rõ nhất với quan điểm tám phủ nhận (bát bất) của Long Thụ:|不生亦不滅。不常亦不斷|不一亦不異。不來亦不出|Bất sinh diệc bất diệt|Bất thường diệc bất đoạn|Bất nhất diệc bất dị|Bất lai diệc bất xuất.|*Không phải sinh cũng không phải diệt,|Không phải một cũng không phải khác,|Không phải thường cũng không phải đoạn,|Không phải đi cũng không phải đến.|Trong Duy thức tông, Trung đạo được hiểu là vừa không xem sự vật tồn tại thật sự (vì sự vật thật tế không hề tồn tại), vừa cũng không cho rằng sự vật không hề có (vì sự vật tồn tại đối với ảo giác tâm lí). Theo Thiên Thai tông, Trung đạo là sự nhận thức rằng, mọi sự vật trống rỗng, chúng không có một thật thể độc lập, nhưng đồng thời chúng có giá trị nhất định, tạm thời – vì chúng là những trình hiện nên có một thọ mệnh nhất định. Sự tổng hợp giữa tính Không (s: śūnyatā) và thế giới hiện tượng chính là Trung đạo đích thật – theo tông này.
Trung đạo giáo 中道教; C: zhōng dàojiào; J: chūdōkyō;|Là »thời kì thứ ba« trong giáo lí do đức Phật giảng dạy (theo Pháp tướng tông), giáo lí về tính Không trong thời kì thứ hai và giáo lí về Hữu của thời kì thứ nhất được chấm dứt, nhường lại cho sự xiển dương giáo lí »phi không phi hữu« (theo kinh Giải thâm mật 解深密經).
Trung đạo tông 中道宗; C: zhōngdàozōng; J: chūdōshū;|1. Trường phái Trung Đạo của Đại thừa Phật giáo Ấn Độ, được thành lập căn cứ vào triết học Tính không do Long Thụ đề xướng, thường được gọi là Trung quán phái (中觀派) tại Trung Hoa; 2. Một trường phái xuất hiện trong thời Cao Li (k: koryǒ) ở Hàn Quốc, sau nầy được xem là chi phái mở rộng của Pháp tính tông (法性).
Trung Hoa truyền tâm địa thiền môn sư tư thừa tập đồ 中華傳心地禪門師資承襲圖; C: zhōng-huā chuánxīndì chánménshī zīchéngxí tú; J: chū-ka denshinchi zenmonshi shishōshū zu;|Một tác phẩm của Thiền sư Khuê Phong Tông Mật (宗密), gồm 1 quyển, được biên soạn vào khoảng giữa năm 830 và 833 để trả lời những câu hỏi của tướng quốc Bùi Hưu (裴休) về giáo lí và sự truyền thừa của 4 tông phái Thiền chính yếu lưu hành sau đời Đường. Trong luận văn nầy, sư phê phán về truyền thống Thiền của Hồng Châu tông (Mã Tổ Đạo Nhất, 709-788).
Trung hữu 中有; C: zhongyǒu; J: chūu; T: bar ma do'i srid pa; S: antarābhava; nghĩa là »trạng thái tồn tại ở khoảng giữa«, cũng được gọi là Trung ấm;|Trong kinh sách Tiểu thừa và Ðại thừa ở thế kỉ thứ 2, người ta đã thấy nói về một giai đoạn nằm sau cái chết và trước sự tái sinh, được gọi là Trung hữu. Giai đoạn này được nhắc nhở nhiều trong Kim cương thừa (s: vajrayāna) và được Tử thư (t: bardo thodol) trình bày cặn kẻ.|Tử thư cho rằng có 6 giai đoạn Trung hữu (s: ṣaḍantarābhava): 1. Trung hữu của lúc sinh (jāti-antarābhava); 2. Trung hữu của giấc mộng (svapnāntarābhava); 3. Trung hữu của thiền định (samādhi-antarābhava); 4. Trung hữu lúc cận tử (mumūrṣāntarābhava); 5. Trung hữu của Pháp thân diệu dụng, của Pháp tính (dharmatāntarābhava), 6. Trung hữu của sự trưởng thành và tái sinh (bhavān-tarābhava). Tử thư cho rằng 3 giai đoạn của Trung hữu 4, 5, 6 nêu trên kéo dài 49 ngày. Theo nhiều luận sư Tây Tạng, giai đoạn Trung hữu diễn ra hàng ngày trong cuộc sống con người, nó có mối liên hệ chặt chẽ với Ba thân (s: trikāya). Trong giai đoạn Trung hữu ngay sau khi chết, thần thức tiếp cận với Pháp thân thanh tịnh; Trung hữu 5 tiếp cận với Báo thân và sự tái sinh, thần thức đi vào cõi của Ứng hoá thân.
Trung khu 中軀; S: cakra; P: cakka; T: rtsa 'khor; nguyên nghĩa là Bánh xe quay (luân, luân xa);|Có hai nghĩa chính:|1. Là hội của những người thờ cúng Phạm thiên trong Ấn Ðộ giáo (e: hinduism);|2. Là các nơi tập trung khí lực của con người (s: prāṇa). Ðó là những nơi tích tụ, chuyển đổi và phân bố khí lực. Các trung khu này có khi được xem như định vị được trên thân thể con người như gần trái tim, lông mày… nhưng thật chất của chúng thuộc về một bình diện khác của thế giới hiện tượng. Trung khu là những điểm, nơi đó thân thể và tâm thức giao hoà và chuyển hoá qua lại với nhau.||H 68: Các trung khu (cakra) và đạo quản (nāḍī) chính trong cơ thể. Dòng kênh chạy dọc xương sống được gọi là Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī), dòng kênh đôi xoắn là Ðạo quản thái âm (idā-nāḍī), dòng kênh xoắn là Ðạo quản thái dương (piṅgalā-nāḍī).|Theo quan điểm của Ấn Ðộ giáo thì có bảy trung khu nằm dọc xương sống. Các trung khu này là nơi mà khí lực con người đi từ thấp lên cao, chạy xuyên qua trong quá trình Giác ngộ. Sáu trung khu đầu tiên (s: ṣaṭcakranirūpaṇam) được xem là nằm trong thân thể, trung khu thứ bảy nằm trên đỉnh đầu. Một khi con rắn lửa (hoả xà; s: kuṇḍalinī) được đánh thức bằng các phép tu tập, khí lực đó sẽ rời trung khu thấp nhất để vươn lên. Qua mỗi trung khu, hành giả sẽ đạt những cảm giác hoan hỉ (s: ānanda), một số thần thông huyền bí (Tất-địa) và vì vậy, các trung khu cũng được xem là »chỗ trú« của tâm thức (s: caitanya). Từ mỗi trung khu xuất phát một số lượng đạo quản (導管; s: nāḍī, là những kênh năng lượng tinh vi) khác nhau.|Những người có biệt tài xem tướng, nhìn thần sắc hay mô tả các trung khu như những »hoa sen« nhiều cánh, mỗi cánh diễn tả một đạo quản. Các hoa sen này luôn luôn xoay chuyển và vì vậy chúng được gọi là »bánh xe quay« (luân xa), ý nghĩa thật sự của danh từ Cakra. Theo hệ thống Hoả xà du-già (s: kuṇḍalinīyoga) của Ấn Ðộ giáo, mỗi trung khu tương ưng với những đặc tính nhất định nào đó của thân, tâm, được diễn tả bằng những biểu tượng khác nhau (hình sắc, chủng tử man-tra [s: bījamantra], biểu tượng thú vật, Hộ Thần [iṣṭadevatā], …).||H 69: Các trung khu chính trong cơ thể theo hệ thống Hoả xà du-già (kuṇḍalinīyoga) I. Từ trên xuống: 7. Trung khu đỉnh đầu (sahasrāha-cakra), 6. Trung khu ở trán (ājñā-cakra), 5. Trung khu ở cổ (viśuddha-cakra), 4. Trung khu ở tim (anāhata-cakra).|Từ trên xuống:|7. Trung khu đỉnh đầu (s: sahasrāha-cakra; saha-srāha: một ngàn): Chủng tử man-tra (bījamantra): OṂ (ॐ), hoa sen ngàn cánh (sahasrāhapadma). Trung khu này nằm ngoài thân thể, có một »ngàn«, được hiểu là vô số đạo quản (nāḍī) bao quanh. Cơ quan tương ưng của cơ thể là bộ não. 50 mẫu tự của Phạn ngữ (sanskrit) chạy vòng quanh trung khu này trên những cánh hoa sen 20 lần và vì vậy, trung khu này chứa đựng, bao gồm tất cả Chủng tử man-tra và các trung khu khác. Trung khu này phát ra ánh sáng »như mười triệu mặt trời« và hệ thuộc vào một cấp chân lí, sự thật khác với sáu trung khu còn lại. Trung khu này được xem là trú xứ của Thấp-bà (śiva) và tương ưng với vạn vật, »thần thức của vũ trụ«, »Siêu thức.« »Nếu Hoả xà lên đến đỉnh đầu và hoà hợp với Thấp-bà, hành giả sẽ cảm nhận một sự an vui tuyệt đỉnh (paramā-nanda), nhận thức tuyệt đối sẽ đến với họ. Hành giả trở thành một trí giả toàn vẹn (brahmavid-variṣṭha).«;|6. Trung khu ở trán (ājñā-cakra; ājñā: lệnh): nằm giữa hai lông mày, Chủng tử man-tra: A ngắn (अ), hoa sen hai cánh, màu trắng sữa. Hệ thống tương ưng của cơ thể là hệ thần kinh phản xạ (l: edulla oblongata). Trung khu này nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68), được xem là nơi tàng ẩn của thần thức. »Ai tập trung vào trung khu này thì sẽ thiêu đốt tất cả nghiệp chướng của tiền kiếp. Tập trung vào trung khu này rất quan trọng vì nó giúp Du-già sư (yogin) trở thành một người được giải thoát trong đời này (jīvanmukti, người đạt giải thoát lúc còn sống, ngay trong đời này), đạt tất cả Tất-địa (siddhi) thượng hạng…«;|5. Trung khu ở cổ (viśuddha-cakra; viśuddha: thanh tịnh): thuộc về Hư không (ākāśa), Chủng tử man-tra: HAṂ (हं), hoa sen 16 cánh, màu trắng, hình tròn, biểu tượng thú vật là con voi với sáu ngà, nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là hệ hô hấp (l: plexus cervicus). »Ai tập trung vào trung khu này thì dù thế giới sụp đổ cũng không tiêu hoại, đạt Nhất thiết trí của bốn Vệ-đà, trở thành một trí giả thông cả ba thời (trikālajñāni), quá khứ, hiện tại và vị lai.«|4. Trung khu ở tim (anāhata-cakra; anāhata: bất khởi động): thuộc về không khí hoặc gió (phong), Chủng tử man-tra (bījamantra): YAṂ (यं), hoa sen 15 cánh, màu xám-xanh, hình lục giác, biểu tượng thú vật là con nai (mṛga), nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là hệ huyết quản (l: plexus cardiacus). »Ai quán tưởng về trung khu này thì đạt uy lực về gió (phong), hành giả có thể bay trong không gian và nhập vào thân thể của một người khác. Lòng từ của vũ trụ sẽ đến với họ …«.||H 70: Các trung khu chính trong cơ thể theo hệ thống Hoả xà du-già (kuṇḍalinīyoga) II. Từ trên xuống: 3. Trung khu ở rốn (maṇipūra-cakra), 2. Trung khu ở bụng dưới (svādhiṣṭhāna-cakra), 1. Trung khu gốc (mūlādhāra-cakra).|3. Trung khu ở rốn (maṇipūra-cakra): thuộc về lửa (hoả), Chủng tử man-tra: RAṂ (रं), hoa sen mười cánh, hình tam giác, màu đỏ, biểu tượng thú vật là con sơn dương, nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là hệ dinh dưỡng, tiêu hoá (l: plexus epigastricus). »Ai tập trung vào trung khu này có thể tìm thấy những bảo vật chôn dấu kĩ, không bao giờ bệnh hoặc và không sợ lửa. Nếu bị quăng vào lửa họ cũng không sợ và cũng không bị hề hấn gì…«.|2. Trung khu ở bụng dưới (svādhiṣṭhāna-cakra; sva: sinh khí; adhiṣṭhāna: trú xứ): nằm dưới gốc bộ phân sinh dục, thuộc về nước (thuỷ), Chủng tử man-tra: VAṂ (वं), hoa sen sáu cánh, hình lưỡi liềm, màu trắng, biểu tượng thú vật là con cá sấu, nằm trong Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là các cơ quan nội tiết và sinh sản (l: plexus hypogastricus). »Ai quán tưởng đến trung khu này và vị Hộ Thần quyến thuộc sẽ không còn sợ nước và chinh phục được đại chủng này. Du-già sư sẽ đạt nhiều loại thần thông, sự hiểu biết trực nhận, khống chế được các giác quan và thấy được các chúng sinh cõi khác. Các đặc tính bất thiện như tham, sân, si, mạn và những ô nhiễm khác đều được tận diệt. Hành giả chinh phục được tử thần (mṛtyuñjaya-siddhi).«|1. Trung khu gốc (mūlādhāra-cakra; mūla: gốc, căn; ādhāra: chỗ nương tựa, trú xứ): nằm ở đốt xương sống cuối cùng, thuộc về đất (địa), Chủng tử man-tra: LAṂ (लं), hoa sen bốn cánh, có dạng vuông, màu vàng, biểu tượng thú vật là con voi bảy vòi, điểm cuối cùng của Ðạo quản chính (suṣuṃṇā-nāḍī, H. 68). Hệ thống tương ưng của cơ thể là bộ phận sinh dục (l: plexus pelvis). Hoả xà (kuṇḍalinī) nằm trong dạng cuộn tròn nằm yên khi chưa được khởi động. »Ai quán tưởng đến trung khu này thì chinh phục được đất và không còn sợ xác thịt tiêu huỷ khi chết. Du-già sư đạt được trí cùng tột của Hoả xà (kuṇḍalinī) và những yếu tố để đánh thức nó. Nếu con rắn lửa được đánh thức, Du-già sư có thể nhất bổng người lên và điều khiển được chân khí (khả năng này được gọi là darduri-siddhi), các tội lỗi đều được xóa bỏ, tinh thông tam thời và đạt niềm an vui tự tại (sahajānanda).« (theo Sivananda trong Kuṇḍalinī-yoga, 1953).|Về quan niệm trung khu khí lực, Mật tông đạo Phật có nhiều yếu tố tương tự như Ấn Ðộ giáo, nhưng phép thiền quán các trung khu đó có nhiều điểm khác. Lạt-ma Gô-vin-đa có viết một quyển sách với tên Foundations of Tibetan Mysticism (bản Việt ngữ: Cơ sở Mật giáo Tây Tạng), nói rất rõ hệ thống tu luyện theo Mật tông Tây Tạng và trong đó hệ thống Hoả xà du-già (kuṇḍalinī-yoga) giữ một vai trò quan trọng.
Trung luận 中論; C: zhōnglùn; J: chūron; S: madhyamaka-śāstra.|4 quyển, được xem là một tác phẩm của Long Thụ. Trung quán luận tụng được nối tiếp bởi chú giải của Thanh Mục (青目; s: pingala), được Cưu-ma La-thập dịch vào năm 409 và có bổ sung thêm vào phần luận giải của riêng mình. Đây là luận văn căn bản cho việc nghiên cứu tư tưởng của trường phái Trung quán (中觀派). Luận giải nầy phản đối gay gắt phạm trù giả và không, đồng thời phủ nhận hai ý niệm cực đoan sinh và bất sinh.
Trung luận tông 中論宗; S: mādhyamika;|Trung quán tông.
Trung Phong Minh Bản 中峰明本; C: zhōngfēng míngběn; J: chūhō myōhon; 1263-1323;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, dòng Viên Ngộ Khấc Cần. Sư nối pháp Thiền sư Cao Phong Nguyên Diệu (高峰原妙; c: gāofēng yuánmiào; j: kōhō gemmyō). Cuộc đời hoằng hoá của Sư giữ một vai trò quan trọng cho tông Lâm Tế tại Nhật.|Sư được rất nhiều người đương thời tôn kính vì phong cách đơn giản, tu tập thiền thuần tuý của mình. Sư được hoàng đế thỉnh đến vương triều để thuyết pháp nhưng từ chối và sau được phong danh hiệu Phật Từ Viên Chiếu Quảng Huệ Thiền sư. Nhiều vị Thiền sư Nhật đã đến nơi Sư tham học và trong số này trội hơn hết là Cổ Tiên Ấn Nguyên (古先印元; j: kosen ingen, 1295-1374) và Cô Phong Giác Minh (孤峰覺明; j: kohō kakumyō, 1271-1361).
Trung quán luận 中觀論; C: zhōngguān lùn; J: chūkanron;|Trung luận.
Trung quán luận sớ 中觀論疏; C: zhōngguānlùn shū; J: chūkanron so;|Tác phẩm của Gia Tường Đại sư Cát Tạng đời Tuỳ, gồm 20 quyển.
Trung quán phái 中觀派; C: zhōngguān pài; J: chūgan ha; S: mādhyamika.|Trung quán tông.
Trung quán tông 中觀宗; hay Trung luận tông (中論宗); S: mā-dhyamika;|Một trường phái Ðại thừa, được Long Thụ (s: nāgārjuna) và Thánh Thiên (āryadeva) thành lập. Tông này có ảnh hưởng lớn tại Ấn Ðộ, Trung Quốc, Tây Tạng, Nhật Bản và Việt Nam. Ðại diện xuất sắc của phái này, bên cạnh hai vị sáng lập, là Phật Hộ (tk. 5), Thanh Biện (tk. 6), Nguyệt Xứng (tk. 8), Tịch Hộ (tk. 8) và Liên Hoa Giới (tk. 8). Những Ðại Luận sư này có ảnh hưởng rất lớn trong việc phát triển đạo Phật tại Tây Tạng.|Tên gọi của tông này dựa trên quan điểm »trung quán«, quan điểm trung dung về việc sự vật có hay không có. Với quan điểm Bát bất (xem dưới Long Thụ), Long Thụ cho rằng mọi mô tả về sự vật đều không đúng và Sư nêu rõ tính chất ảo giác và tương đối của sự vật. Vì tất cả mọi sự đều dựa lên nhau mà thành (Mười hai nhân duyên), cho nên chúng không tồn tại độc lập, không có tự ngã (s: ātman), tự tính (s: svabhāva), trống rỗng. Cái trống rỗng, cái tính Không (s: śūnyatā) trong Trung quán tông có một ý nghĩa hai mặt: một mặt, tính Không không có một tự ngã nào; mặt khác, tính Không đồng nghĩa với sự giải thoát, vì tính Không chính là bản thể tuyệt đối. Chứng ngộ được tính Không tức là giải thoát. Muốn đạt được điều này, người ta phải thoát khỏi tâm thức thị phi. Ðối với Trung quán tông thì tính Không là thể tính cuối cùng, đồng nghĩa với Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân). Vì quan điểm Không toàn triệt nói trên mà Trung quán tông có khi được gọi là Không tông (śūnyavāda).|Muốn đạt được bản thể tuyệt đối, người ta phải vượt qua chân lí tương đối. Vì vậy phái này cũng có quan điểm riêng về »Chân lí hai mặt« (二諦; Nhị đế; s: satyadvaya), họ gọi chân lí thông thường là tục đế hay Chân lí quy ước (s: saṃṛvṛti-satya). Chân lí quy ước này dành cho hiện tượng và khái niệm thế gian, chúng vốn bị tính chất nhị nguyên quy định. Chân lí tuyệt đối, Chân đế (para-mārtha-satya) thì giản đơn, không còn các mặt đối lập. Lí luận thông thường có thể tiếp cận tục đế, tuy không phải là chân lí cuối cùng, nhưng chúng cũng có giá trị nhất định. Vì vậy, không phải cứ chấp nhận tính Không, Vô ngã (anātman) là phủ nhận kinh nghiệm của con người. Ðời sống của một hành giả Trung quán tông cũng phải phản ánh quan điểm đó, nghĩa là, đối với bên ngoài, người đó cũng xem Khổ như là có thật, cũng phải giữ Giới và cố gắng giúp tất cả mọi người giải thoát. Nhưng người đó thật tâm biết rằng, những hành động đó chỉ giả tạo mà thôi.|Các tác phẩm của Long Thụ còn giúp phát triển ngành Nhân minh học (因明學; s: hetuvidyā). Ngành này cũng chịu ảnh hưởng của trường phái lớn thứ hai của Ðại thừa Ấn Ðộ là Duy thức tông (vijñānavāda, yogācāra) và ngược lại ngành Nhân minh học cũng mài dũa cho Trung quán tông những lí luận sắc bén. Trong lĩnh vực Nhân minh, Duy thức tông cũng góp phần quan trọng, trả lời những câu hỏi mà Trung quán tông không có ý kiến, không đề cập đến như cách phát sinh của thế giới hiện tượng.|Sau Thánh Thiên (聖天; āryadeva) thì Phật Hộ (佛護; buddhapālita) là người đại diện xuất sắc của Trung quán tông. Sư có viết bài luận về (Căn bản) Trung quán luận tụng ([mūla-] madhyamaka-kāri-kā), tác phẩm chính của Long Thụ. Trong bộ này, với tên Phật Hộ căn bản trung quán luận thích (buddhapālita-mūlamadhyamaka-vṛtti), Sư đả phá quan điểm của những kẻ đối nghịch và những kết luận (prasaṅga) sai trái của họ, có thể gọi là »phá tà hiển chính,« nghĩa là không nêu quan điểm của chính mình, chỉ dựa vào những nhược điểm, những mâu thuẫn hiển hiện của đối thủ mà đả phá họ. Sư thành lập hệ phái Trung quán-Cụ duyên (中觀具緣; cũng gọi là Trung quán-Ứng thành tông; 中觀應成宗; s: prāsaṅgika-mādhyamika) – tên gọi tông này dựa trên phương pháp đó.|Thanh Biện (清辯; bhāvaviveka) áp dụng luận lí học của Duy thức tông và Nhân minh học của Trần-na (陳那; dignāga) trong thuyết Trung luận của mình. Sư hay nhấn mạnh đến »tính hợp quy luật«, xây dựng luận thức độc đáo của chính mình và sau đó tiến tới bác bỏ lập luận đối phương. Vì thế nên hệ phái của Sư mang tên là Trung quán-Tự ý lập tông (中觀自意立宗) hay Trung quán-Y tự khởi tông (中觀依自起宗; svātantrika-mādhyamika). Sư cũng phân tích và phê bình các luận sư khác và công kích luôn cả Phật Hộ. Cho Trung quán tông thì việc Thanh Biện đưa những quan niệm trung tâm của Duy thức tông vào – tất nhiên là có biến đổi đôi chút – chỉ làm thêm phong phú và thúc đẩy sự phát triển. Tất nhiên qua đó Thanh Biện có nhiều sai biệt với các luận sư khác, như về thể tính của ý thức, sư xem nó chỉ là một phần của thế giới hiện tượng.|Nguyệt Xứng (月稱; candrakīrti) thì cố gắng trở về với giáo lí nguyên thuỷ của Long Thụ. Sư tự xem mình là người thừa kế Phật Hộ và từ chối quan điểm của Thanh Biện, từ chối đưa ra bất cứ một hệ luận nào vì cho rằng Trung quán tông đích thật không chủ trương một quan điểm nào cả. Sư soạn một bài luận giải tác phẩm Trung quán luận của Long Thụ và trong đây, sư chứng minh hệ thống của Phật Hộ là đúng. Với xác nhận này, sư phản ứng những quan điểm được Thanh Biện đề ra để bài xích một vài điểm trong hệ thống của Phật Hộ. Sư nêu rõ là một người có quan điểm trung dung không nên đề ra những luận tam đoạn (三段論法; Tam đoạn luận pháp; e: syllogism) độc lập mà trong đó, cả ba chi của một luận điểm tự lập, tự khởi.|Một luận sư khác quan trọng của Trung quán tông là Tịch Thiên (寂天; śāntideva, tk. 7/8), là người nổi danh với hai tác phẩm Nhập bồ-đề hành luận (入菩提行論; bodhicaryāvatāra), trình bày con đường tu tập của một Bồ Tát và Tập Bồ Tát học luận (集菩薩學論; śikṣāsamuccaya), trình bày các quy định tu học của một vị Bồ Tát.|Trung quán tông đóng một vai trò quan trọng trung tâm trong Phật giáo Tây Tạng, kể từ thế kỉ thứ 8. Ðiều đó có lẽ xuất phát từ hoạt động của luận sư Tịch Hộ (寂護; śāntarakṣita) và môn đệ là Liên Hoa Giới (蓮華戒; kamalaśīla). Thời đó, hai vị này đại diện cho tông Trung quán-Duy thức (yogā-cāra-svātantrika-mādhyamika), đưa những quan điểm Duy thức vào giáo lí của Long Thụ. Tương truyền Liên Hoa Giới tham dự một cuộc tranh luận với Thiền tông tổ chức tại Tây Tạng. Trong cuộc tranh luận đó Liên Hoa Giới thắng lợi và sau đó nhà vua Tây Tạng tuyên bố lấy Trung quán tông làm giáo pháp chính thống. |Trong thế kỉ thứ 11, với việc truyền bá giáo pháp lần thứ hai tại Tây Tạng, quan điểm Trung quán của Nguyệt Xứng lại thắng lợi. Cũng trong thời gian đó lại nẩy sinh một hệ phái Trung quán khác, một sự tổng hợp với giáo pháp của Vô Trước (無著; asaṅga). Giữa thế kỉ 11 và 14, Tây Tạng lại tổng hoà các tông phái khác nhau của Trung quán và tiếp tục phát triển. Giữa thế kỉ 14 và 16, tại Tây Tạng có 4 hệ phái của Trung quán. Trung quán tông phát triển đến mức tuyệt đỉnh và luôn luôn được luận giải mới mẻ, sinh động. Ðến thế kỉ thứ 19, phong trào Ri-mê của Tây Tạng lại tìm cách đổi mới cách sắp xếp thứ tự quan điểm của Trung quán tông. Các quan điểm triết học của Trung luận được trình bày trong các loại luận được gọi là Tất-đàn-đa (s: siddhānta) tại Tây Tạng. Ngoài ra người ta còn tìm thấy trong các loại sách phổ thông chú trọng về các phương pháp tu tập để chứng ngộ được trực tiếp giáo lí của Trung quán tông.
Trung thừa 中乘; S: madhyamā-yāna;|Danh từ chỉ cỗ xe giữa Tiểu thừa và Ðại thừa, đó là Ðộc giác thừa, Ba thừa.
Trừng tịnh 澄淨; C: chéngjìng; J: chōjō;|1. Làm cho trong sáng, làm thanh khiết; 2. »Niềm tin«, trong ý nghĩa phong thái thanh thản đối với hoàn cảnh chung quanh.
Trùng tụng 重頌; S, P: geya; dịch âm Hán Việt là Kì-dạ (祇夜), cũng được dịch nghĩa là Ứng tụng (應頌);|Một dạng thơ, kệ tụng, trong đó nhiều câu được lặp đi lặp lại, khác với một Kệ-đà (s, p: gāthā), một dạng kệ không bị ảnh hưởng bởi các câu thơ đi trước. Trùng tụng được sử dụng trong Tập bộ kinh.
Trung uẩn 中蘊; C: zhōngyùn; J: chūun;|Như Trung ấm (中陰), Trung hữu (中有).
Trước ngữ 著語; J: jakugo; có thể hiểu là »đưa xen vào«;|Chỉ một câu nói hùng dũng, một lời thốt lên hồn nhiên biểu hiện sự ngộ nhập thâm sâu yếu chỉ của một Công án hoặc các thành phần của nó.Trong những tập công án như Bích nham lục, người ta có thể tìm thấy những trước ngữ của Thiền sư Tuyết Ðậu Trọng Hiển và Viên Ngộ Khắc Cần. Những trước ngữ này chính là những lời bình xen vào giữa các công án.|Ví dụ sau được trích từ Bích nham lục, công án 4 với tên »Ðức Sơn mắc áo vấn đáp«: »Ðức Sơn (Tuyên Giám) đến Quy Sơn (Linh Hựu), mắc áo trên pháp đường, từ phía Ðông đi qua phía Tây, từ phía Tây đi qua phía Ðông, nhìn xem, nói: Không! Không! Liền đi ra Tuyết Ðậu trước ngữ: Khám phá xong. Viên Ngộ: Lầm! Quả nhiên! Ðiểm!]…«.|Từ thời Thiền sư Bạch Ẩn Huệ Hạc đến bây giờ, các thiền sinh Nhật Bản thường phải trình bày thêm một hoặc vài trước ngữ song song với câu »Giải đáp« cho công án để minh bạch thêm sự thấu rõ xuyên suốt của mình. Các trước ngữ này thường được trình dưới dạng văn vần (thi hoá) và thiền sinh không nhất thiết là phải tự làm mà có thể trích từ các nguồn tài liệu khác, ngay cả những nguồn tài liệu văn hoá thế tục.
Trường bộ kinh 長部經; S: dīrghāgama; P: dīgha-nikāya;|Là bộ đầu tiên của năm Bộ kinh trong Kinh tạng (p: sutta-piṭaka). Trường bộ kinh văn hệ Pā-li bao gồm 34 bài kinh. Trường bộ kinh của Ðại thừa được viết bằng văn hệ Phạn ngữ (sanskrit), được dịch ra chữ Hán với tên gọi Trường A-hàm (s: dīrghāgama) với 30 bài kinh. Trường bộ kinh của hai văn hệ này không giống nhau hoàn toàn, có 27 kinh là giống nhau. Các kinh này tương đối dài nên được mang tên này.|Các kinh quan trọng nhất của kinh Trường bộ văn hệ Pā-li là: Phạm võng (s, p: brahma-jāla), nói về các quan điểm triết học và siêu hình thời Phật giáo sơ khai; Sa-môn quả (p: sāmaññaphala), nói về giáo lí của sáu đạo sư ngoại đạo thời Phật giáo sơ khai và về kết quả của đời sống Sa-môn; Ma-ha bát-đà-na (p: mahāpadāna), tích truyện về sáu vị Phật đã ra đời trước vị Phật lịch sử; Ðại nhân duyên (mahānidāna), luận giảng về Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda); Ðại bát-niết-bàn kinh (p: mahāparinibbāna), kể lại những ngày tháng cuối cùng trước khi Phật Thích-ca nhập diệt; Giáo thụ thi-ca-la-việt (p: singālovāda), đặc biệt quan trọng cho giới Cư sĩ, nhắc nhở bản phận của cha mẹ, thầy dạy, học trò v.v…
Trương Chuyết Tú Tài 張拙秀才; C: zhāngzhuō xiùcái; J: chōsetsu yūsai; tk. 9/10;|Một Cư sĩ học và đắc pháp nơi Thiền sư Thạch Sương Khánh Chư.
Trường Khánh Ðại An 長慶大安; C: chángqìng dàān; J: chōkei daian; tk 8/9;|Thiền sư Trung Quốc đắc pháp nơi Bách Trượng Hoài Hải. Hai vị đệ tử của Sư thường được nhắc đến là Ðại Tuỳ Pháp Chân và Linh Thụ Như Mẫn (靈樹如敏).|Lúc đầu Sư siêng năng học Luật, sau đó tự nghĩ rằng »Lí cùng tột của Phật pháp vẫn chưa được nghe.« Vì vậy Sư đến Bách Trượng hỏi: »Học nhân muốn cầu biết Phật, thế nào là phải?« Bách Trượng bảo: »Giống hệt cỡi trâu tìm trâu.« Sư hỏi: »Khi biết được về sau thế nào?« Bách Trượng đáp: »Như người cỡi trâu về đến nhà.« Sư hỏi: »Chẳng biết trước sau gìn giữ như thế nào?« Bách Trượng trả lời: »Như chú mục đồng cầm roi trông chừng, chẳng cho nó vào lúa mạ của người.« Sư nhân đây ngộ được ý chỉ.|Khi Thiền sư Linh Hựu đến Quy Sơn khai sáng, Sư đích thân đến phụ tá và khi Linh Hựu tịch, Sư được chúng thỉnh ở lại trụ trì. Vì thế mà Sư cũng thường được gọi là Quy Sơn Ðại An.|Có vị tăng hỏi: »Khi ấm này đã mất, ấm kia chưa sinh thì thế nào (Trung hữu) ?« Sư hỏi vặn lại: »Khi ấm này chưa mất, cái gì là Ðại Ðức?« Tăng thưa: »Chẳng rõ.« Sư bảo: »Nếu hội ấm này liền rõ ấm kia.«|Sư dạy chúng: »… Tất cả các ngươi, mỗi người đều có hòn ngọc lớn vô giá, từ cửa con mắt phóng quang soi sáng núi sông cây cỏ, từ cửa lỗ tai phóng quang nhận lãnh phân biệt tất cả âm thanh lành dữ, sáu cửa (Lục căn) ngày đêm thường phóng quang sáng, các ngươi tự chẳng biết lại nhận bóng trong thân Tứ đại. Nó là vật do trong ngoài giúp đỡ không dám chênh nghiêng, như người gánh nặng đi qua cây cầu khỉ, không dám để sẩy chân. Hãy nói vật gì không thể gìn giữ được? Như thế, không có một mảnh tơ, một sợi tóc có thể thấy. Ðâu chẳng nghe Hoà thượng Chí Công nói: ›Trong ngoài tìm kiếm trọn không ra, trên cảnh thi vi gồm tất cả‹ – trân trọng!«|Sau, Sư rời Quy Sơn đến Trường Khánh, tỉnh Phúc Kiến giáo hoá. Ðời Ðường, niên hiệu Trung Hoà năm thứ ba (883), ngày 22 tháng mười, Sư có chút bệnh rồi tịch. Vua sắc phong là Viên Trí Thiền sư, Tháp hiệu Chứng Chân.
Trường Khánh Huệ Lăng 長慶慧稜; C: chángqìng huìléng; J: chōkei e-ryō; 854-932;|Thiền sư Trung Quốc, nối pháp Tuyết Phong Nghĩa Tồn. Sư có 26 đệ tử được ấn khả.|Sư họ Tôn, quê ở Diêm Quan Hàn Châu. Năm 13 tuổi, Sư xuất gia thụ giới tại chùa Thông Huyền, Tô Châu và sau đó đi tham vấn nhiều Thiền sư. Sau Sư đến Tuyết Phong và ở lại đây. Mặc dù nhiều lần đến Tuyết Phong Ðộc tham nhưng Sư vẫn không ngộ nhập. Tương truyền Sư ngồi rách bảy cái bồ đoàn mà vẫn không hội. Tuyết Phong bảo sẽ giao cho Sư một »thang thuốc dành cho một con ngựa chết« nếu Sư chấp nhận và khuyên Sư từ nay không nên đến độc tham nữa, cứ toạ thiền im lặng »như một cột trụ trong lửa« nhiều năm, sau sẽ tự ngộ. Một đêm, sau đó khoảng hơn hai năm thực hiện lời dạy này bỗng nhiên tâm Sư náo động. Sư không ngồi yên được và đứng dậy đi dạo trong vườn. Khi trở về, Sư cuốn rèm tre lên thấy ngọn đèn leo lét bỗng nhiên đại ngộ. Sư liền làm bài kệ:|也大差矣也大差矣。捲起簾來見天下|有人問我解何宗。拈起拂子劈口打|Dã đại sai hĩ dã đại sai hĩ|Quyện khởi liêm lai kiến thiên hạ|Hữu nhân vấn ngã thị hà tông|Niêm khởi phất tử phách khẩu đả.|*Rất sai cũng rất sai|Vừa cuốn rèm lên thấy thiên hạ|Có người hỏi ta là tông gì|Cầm cây phất tử nhằm miệng đánh.|Thiền sư Huyền Sa không tin, cho rằng bài kệ này do thần thức làm và muốn thử lại. Sư bèn trình bài kệ thứ hai rất nổi tiếng:|萬象之中獨露身。唯人自肯乃爲親|昔時謬向塗中覓。今日看如火裏冰|Vạn tượng chi trung độc lộ thân|Duy nhân tự khẳng nãi vi thân|Tích thời mậu hướng đồ trung mịch|Kim nhật khán như hoả lí băng.|*Chính trong vạn tượng hiện toàn thân|Chỉ người tự nhận mới là gần|Thuở xưa lầm nhắm ngoài đường kiếm|Ngày nay xem lại: Băng trong lò!|Tuyết Phong nghe kệ nhìn Huyền Sa bảo: »Không thể do ý thức làm ra.«|Sau, Sư hỏi Tuyết Phong: »Một đường từ trước chư Thánh truyền trao thỉnh thầy chỉ dạy.« Tuyết Phong lặng thinh. Sư lễ bái rồi lui. Tuyết Phong mỉm cười thầm Ấn khả.|Sư ở Tuyết Phong 29 năm, sau đó nhận lời mời của Thích sử Huyền Châu là Vương Diên Bân đến trụ trì tại Chiêu Khánh. Chẳng bao lâu, Sư lại nhận lời đến Tây Viện, phủ Trường Lạc, để hiệu là Trường Khánh.|Sư dạy chúng: »Nếu ta thuần nêu xướng tông thừa thì nên đóng kín cửa pháp đường bởi do ›Tột pháp thì không dân.‹« Một vị tăng hỏi: »Chẳng sợ không dân, thỉnh thầy tột pháp.« Sư bảo: »Lại bỏ rơi chỗ nào?«|Sư hoằng hoá 27 năm, môn đệ có đến 1500 người, môn phong của Tuyết Phong cao vút. Ðến đời Hậu Ðường niên hiệu Trường Hưng năm thứ ba (932), ngày 17 tháng năm, Sư viên tịch, thọ 79 tuổi, 60 tuổi hạ.
Trưởng lão bộ 長老部; S: sthaviravāda; P: theravāda; cũng có nghĩa là Thượng toạ bộ nhưng được dịch như trên để phân biệt với Thượng toạ bộ (p: theravā-da), trường phái Tích Lan tuyệt đối theo kinh sách văn hệ Pā-li sau này;|Một trong hai trường phái Tiểu thừa phát sinh trong lần Kết tập thứ ba tại Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra). Sự phân chia này bắt nguồn chỉ từ định nghĩa thể tính của A-la-hán. Trong lần kết tập đó, một vi tăng tên là Ðại Thiên (s, p: mahādeva) cho rằng A-la-hán còn có những giới hạn như sau:|1. A-la-hán còn có thể bị quyến rũ, xuất tinh trong khi ngủ; 2. A-la-hán vẫn còn một số Vô minh (s: avidyā); 3. A-la-hán còn nghi ngờ về pháp; 4. A-la-hán có thể cần hỗ trợ bên ngoài để giác ngộ; 5. A-la-hán cần những thanh âm đặc biệt mới đạt giải thoát.|Các vị trong nhóm trưởng lão phản đối ý kiến này và ngược lại các vị trong Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika) đồng ý như thế. Từ đó sinh ra nhiều tông phái khác nhau. Sau đó Trưởng lão bộ lại tiếp tục bị chia chẻ trong năm 240 sau Công nguyên ra các nhóm Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya), Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda), Phân biệt bộ (s: vibhajya-vāda).
Trượng lục 丈六; C: zhàngliù; J: jōroku;|Viết tắc của »Mười sáu bộ«. Hoá thân Phật, với chiều cao khoảng gấp đôi người thường.
Trường Nguyên 長源; 1110-1165|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 10. Sư kế thừa Thiền sư Ðạo Huệ.|Sư người gốc Trung Quốc, họ Phan, quê ở Trường Nguyên. Sư xuất gia tu học với Thiền sư Ðạo Huệ.|Sau khi được Ðạo Huệ Ấn khả, Sư đi thẳng đến Từ Sơn tu khổ hạnh. Vua Lí Anh Tông hâm kính trọng đạo hạnh của Sư, muốn gặp mặt mà không thể được bèn nhờ bạn cũ của Sư dụ dẫn về triều. Người bạn dụ đến nhà trọ tại chùa Hương Sát thì Sư hối hận, quay trở về núi. Sư bảo đồ đệ: »Hạng người thân khô tâm nguội như ta, không phải những vật phù nguỵ thế gian có thể cám dỗ được. Bởi vì chí, hạnh của ta chưa thuần nên bị các thứ bẫy lồng vây khốn. Nghe ta nói kệ đây:|猿猴抱子歸青嶂。自古聖賢沒可量|春來鶯轉百花深。秋至菊開沒模樣|Viên hầu bão tử quy thanh chướng|Tự cổ thánh hiền một khả lượng|Xuân lai oanh chuyển bách hoa thâm|Thu chí cúc khai một mô dạng.|*Khỉ vượn bồng con lại núi xanh|Từ xưa hiền thánh không mối manh|Xuân về oanh hót trong vườn uyển|Thu đến cúc cười mất dōng hình«|Ngày mồng 7 tháng 6 niên hiệu Chính Long Bảo Ứng thứ 3, Sư có chút bệnh bèn gọi chúng lại nói kệ:|在光在塵。常離光塵。心腑證徹。與物無親|體於自然。應物無垠。宗匠二儀。淘汰人倫|亭毒萬物。與物爲春。作舞鐵女。打鼓木人|Tại quang tại trần, thường li quang trần|Tâm phủ trừng triệt, dữ vật vô thân|Thể ư tự nhiên, ứng vật vô ngân|Tông tượng nhị nghi, đào thải nhân luân|Ðình độc vạn vật, dữ vật vi xuân|Tác vũ thiết nữ, đả cổ mộc nhân.|*Ở chỗ bóng trần thường lìa bóng trần|Tâm phủ lóng tột, cùng vật không thân|Thế vốn tự nhiên, hiện vật không thiên|Tài bằng trời đất, vượt cả nhân luân|Ngăn độc muôn vật, cùng vật làm xuân|Người gỗ đánh trống, gái sắt múa may.|Nói xong, Sư viên tịch.
Trường Sa Cảnh Sầm 長沙景岑; C: chángshā jǐngcén; J: chōsha keijin; ?-868;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ được Ấn khả của Nam Tuyền Phổ Nguyện và là bạn đồng học với hai vị Triệu Châu Tòng Thẩm và Tử Hồ Lợi Tung. Tương truyền Sư có hai đệ tử đắc pháp.|Thiền sư Viên Ngộ thuật lại câu chuyện sau giữa Sư và Ngưỡng Sơn Huệ Tịch trong Bích nham lục: Một hôm Sư cùng Ngưỡng Sơn ngắm trăng, Ngưỡng Sơn chỉ mặt trăng nói: »Mỗi người trọn có cái này, chỉ vì dùng chẳng được.« Sư liền nói: »Chính là lúc mời ông dùng?« Ngưỡng Sơn nói: »Sư thúc dùng xem?« Sư liền đạp Ngưỡng Sơn một cái té nhào. Ngưỡng Sơn lồm cồm đứng dậy nói: »Sư thúc giống như con cọp (đại trùng).« Vì tích này mà Sư sau mang danh là »Con cọp Sầm.«|Sư có để lại bài kệ nổi danh, được nhiều Thiền sư sau này nhắc đến: |學道之人不識真。只為從來認識神|無始劫來生死本。癡人喚作本來身|Học đạo chi nhân bất thức chân|Chỉ vị tòng tiền nhận thức thần|Vô thuỷ kiếp lai sinh tử bản|Si nhân hoán tác bản lai nhân.|*Học đạo mà không hiểu lí chân|Bởi tại lâu rồi nhận thức thần|Gốc nguồn sinh tử vô thuỷ kiếp|Người ngu lại gọi là chủ nhân.
Truyền 傳; C: chuán; J: den;|Phát, chuyển giao, truyền trao.
Truyền Giáo Ðại sư 傳教大師; C: chuánjiāo dàshī; J: dengyō dai-shi; |Danh hiệu ban tặng cho sư Tối Trừng (最澄), người sáng lập tông Thiên Thai tại Nhật Bản.
Truyền pháp bảo kỉ 傳法寶紀; C: chuán fǎbăojì; J: denhō bou-ki;|Sách, 1 quyển, của Đỗ Phỉ (杜朏).
Truyền pháp chính tông kí 傳法正宗記; C: chuánfǎ zhèngzōng jì; J: tenhō shoushū ki;|Sách; 9 quyển; của Khế Tung (契嵩).
Truyền quang lục 傳光錄; J: denkōroku; gọi đầy đủ là Oánh Sơn Hoà thượng truyền quang lục (瑩山和尚傳光錄; j: keizan ōshō denkōroku);|Một tác phẩm của Thiền sư Nhật Bản Oánh Sơn Thiệu Cẩn (keizan jōkin), nói về việc truyền thừa từ Phật Thích-ca đến vị Tổ thứ 52 của tông Tào Ðộng là Ðạo Nguyên Hi Huyền. Song song với Chính pháp nhãn tạng (j: shōbogenzō) của Ðạo Nguyên, Truyền quang lục là bộ sách quan trọng nhất của tông Tào Ðộng tại Nhật.
Truyền y 傳衣; C: chuányī; J: denne;|Trao truyền y; theo truyền thống Thiền tông, hàm ý truyền thừa mệnh mạch Phật pháp.
Tu 修; C: xiū; J: shu, shū; S, P: bhāvanā; nguyên nghĩa là »Quán chiếu«;|Có các nghĩa sau: 1. Trau dồi, nuôi dưỡng, phát triển, điều chỉnh, sửa chữa, tu sửa, điều hoà, cải thiện. Sửa, bỏ bớt; 2. Cụ thể hơn là tu dưỡng đạo đức hoặc đạo giác ngộ; 3. Lâu dài.|Theo ý nghĩa trong đạo Phật: 1. Tu (đạo). Tu tập. Thường có nghĩa tu tập thiện pháp, và đặc biệt là tu tập thiền định (s: bhāvanā). Tập định, để tạo mối tương quan với bản tính, Tu có nghĩa là đưa bản tính ấy đến nơi viên mãn. Thực hành tập trung tâm ý đều đặn làm cho đức hạnh tròn đầy. Còn gọi là Tu hành. Các Luận sư phái Nhất thiết hữu bộ công nhận có 4 pháp tu (Tứ tu 四修); 2. Thực hành pháp môn riêng của mình (s: pratinisevana); 3. Nỗ lực, tinh tiến; 4. Viết tắt của Tu đạo (修道); 5. Thiện pháp tương ưng với công phu thiền định (s: bhāvanā). Đồng nghĩa vời Thiền định (禪定); 6. Nghiên cứu, hoàn chỉnh, tu dưỡng, thông thạo; đưa (sự việc) vào trật tự, hồi phục lại.
Tư 滋; C: zī; J: ji;|Càng nhiều hơn; tăng thêm; phong phú; chín muồi. Gia tăng; nuôi dưỡng, làm tươi nhuận, kích động.
Tứ 伺; C: sì; J: shi;|Có các nghĩa: 1. Tìm kiếm, thẩm sát, hỏi về, nghi ngờ; 2. Suy nghĩ, phân tích (s: vicāra). Còn được gọi là Quán (觀). Một trong 4 bất định pháp theo giáo lí của Du-già hành tông. Một trong 8 bất định pháp theo Câu-xá luận (倶舎論). Là tâm hành muốn tìm biết nguyên lí chi tiết của một vật. Thường đi đôi với Tầm (尋). Xem Tứ tầm (伺尋).
Từ 慈; S: maitrī; P: mettā;|Một trong những đức hạnh cao quý tronng Phật giáo, thường được gọi chung với lòng Bi (s, p: karuṇā) là Từ-bi. Từ được xem là lòng thương yêu chúng sinh nhưng không có tính chất luyến ái. Từ là một trong những đối tượng thiền định của Thượng toạ bộ, được dùng để phát huy lòng thương yêu và đối trị sân hận. Trong phép quán này, mới đầu thiền giả hướng lòng từ đến các người thân cận, về sau mở rộng, hướng đến tất cả chúng sinh, kể cả kẻ đối nghịch. Quan niệm về lòng từ được trình bày rõ trong kinh Từ (bi) (p: mettāsutta). Từ là một trong Bốn phạm trú (s, p: brahma-vihāra).
Tử 死; S, P: maraṇa;|Là cái chết theo ý nghĩa thông thường; trong Phật giáo, danh từ Tử được dùng để chỉ sự sinh diệt, thăng trầm của tất cả các hiện tượng, các Pháp.|Sự »sinh đây diệt đó« hoặc »khoảnh khắc của hiện hữu« được vị Ðại luận sư Phật Âm (p: bud-dhaghosa) diễn tả rất hay trong bộ luận Thanh tịnh đạo:|»Theo chân lí tuyệt đối thì chúng sinh chỉ hiện hữu trong một thời gian rất ngắn, một thời gian ngắn như một khoảnh khắc của nhận thức (một ý niệm, Sát-na; s: kṣaṇa). Như một bánh xe, trong khi đang lăn cũng như đang đứng yên, chỉ chạm đất ở một điểm duy nhất, như thế, chúng sinh chỉ sống trong một khoảnh khắc của một nhận thức. Nhận thức này (ý niệm) mất đi, chúng sinh đó chết. Bởi vì chúng sinh của nhận thức vừa qua đã sống, không sống bây giờ và cũng sẽ không sống trong tương lai. Chúng sinh của nhận thức bây giờ đang sống, đã không sống và sẽ không sống trong tương lai. Chúng sinh của nhận thức trong tương lai sẽ sống, đã không sống và hiện tại không sống.«|Ðạt-lại Lạt-ma thứ 14 luận giải cụ thể hơn về cái chết như sau (trích từ luận giải của Ðạt-lại Lạt-ma về Bồ-đề đạo thứ đệ trung luận [t: lam rim 'bring] của Tông-khách-ba):|»… Nhiều người chết khi những nghiệp lực được tạo ra trong kiếp trước, điều kiện chính cho cuộc sống này, hoàn toàn bị dập tắt; những người khác chết bởi vì các nguyên nhân lưu trì cuộc sống này không còn đầy đủ… Người ta gọi như vậy là ›chết sớm‹ hoặc ›chết vì Công đức đã hết‹, bởi vì năng lực lưu giữ cuộc sống vẫn còn (因; nhân) nhưng những duyên (緣; điều kiện phụ) đạt được qua những thiện nghiệp trong đời trước đã hết…|Những người mang tâm bất thiện, hành động bất thiện thì khi chết, phần thân trên mất nhiệt trước, rồi sau đó những thân phần còn lại mới lạnh dần dần. Ngược lại, những người thường hay làm điều thiện thường mất nhiệt ở thân dưới, bắt đầu từ hai bàn chân. Trong cả hai trường hợp thì hơi nóng được gom tụ lại ở ngực (tâm) và từ nơi này, thần thức xuất thân…|Trực tiếp kế đó là trạng thái Trung hữu (中有; s: antarābhava). Chỉ những người tái sinh trong bốn xứ của vô sắc giới (Tứ thiền bát định, Ba thế giới) như Không vô biên xứ (ākāśanantyāyatana), Thức vô biên xứ (vijñānanantyāyatana), Vô sở hữu xứ (ākiṃcanyāyatana) và Phi tưởng phi phi tưởng xứ (naivasaṃjñānāsaṃjñāyatana) mới không bước vào trạng thái trung hữu này; cuộc sống mới của họ bắt đầu ngay sau cái chết. Những người tái sinh trong Dục giới (kāmadhātu) và Sắc giới (rūpadhātu) phải trải qua quá trình trung hữu và trong quá trình này, thần thức tồn tại dưới dạng sau này sẽ tái sinh. Thân trung hữu có tất cả những giác quan thông thường, có Thiên nhãn thông, có thể vượt qua tất cả những chướng ngại và xuất hiện khắp nơi tuỳ ý. Thân này thấy được những thân trung hữu đồng loại – Ðịa ngục, Ngạ quỷ, súc sinh, nhân loài, A-tu-la và chư Thiên – và ngược lại, thân này cũng có thể được những người có thiên nhãn nhận ra.|Nếu thân trung hữu không tìm được nơi tái sinh tương ưng với những nghiệp đã tạo thì nó chết một cái chết nhỏ sau bảy ngày, bước vào một giai đoạn trung hữu khác. Quá trình này chỉ có thể lặp lại nhiều nhất là 6 lần và thần thức chỉ có thể ở trong giai đoạn trung hữu 49 ngày (7 tuần). Như vậy có nghĩa là, những thần thức tự nhận sau một năm chưa tìm được nơi xứng đáng để tái sinh không còn ở trong trạng thái trung hữu nữa mà đã tái sinh thành một oan hồn, ngạ quỷ.|Ai tái sinh thành người trở lại thì thấy cha mẹ tương lai đang nằm chung với nhau. Người nào tái sinh thành nam giới thì phát lòng ái mộ bà mẹ, căm ghét người cha khi thấy cảnh trên; người nào tái sinh thành nữ giới thì phát tâm ngược lại. Bị dục ái thúc đẩy, thân trung hữu nhào đến cảnh giới trên và tìm cách giao phối với người mình yêu thích. Nhưng khi đến nơi thì thần thức chỉ thấy được bộ phận sinh dục của người đó và vì thế trở nên phẫn nộ. Tâm trạng phẫn nộ này chính là yếu tố gián đoạn trạng thái trung hữu; thần thức đã bước vào tử cung của mẹ, một cuộc sống mới đã bắt đầu. Khi tinh của cha, huyết của mẹ và thần thức hợp lại nhau thì chúng phát triển thành những yếu tố tạo thành một con người mới…|Móc nối tiếp giữa cuộc sống hiện tại và tương lai được tạo dưới sự ảnh hưởng của Ba độc là tham, sân và Si. Khi ba độc này chưa được tiêu diệt thì con người còn bị trói buộc. Tái sinh có tốt có xấu, nhưng khi còn bị trói buộc, người ta phải mang gánh nặng của Ngũ uẩn… Nếu muốn diệt cái Khổ của sinh, lão, bệnh, tử thì trước hết, người ta phải diệt ba độc căn bản nêu trên. Nguồn gốc của chúng lại là Vô minh (avidyā) – là kiến giải sai lầm rằng, con người và những hiện tượng khác đều mang một tự tính, tự ngã. Những liều thuốc có thể giảm được phần nào những chứng bệnh bên ngoài, nhưng chúng không thể giải được vấn đề chính. Các cách tu tập nội tâm – ví dụ như tu luyện những cách chống đối lại tham, sân – có thể giúp ích hơn, nhưng chúng cũng chỉ là những phương tiện tạm thời. Chỉ khi nào vô minh – cội rễ của chúng – được đoạn diệt thì chúng mới tự huỷ diệt…«. (Xem thêm Cận tử nghiệp, Trung hữu, Tử thư).
Từ (bi) kinh 慈 (悲) 經; P: mettā-sutta;|Kinh Tiểu thừa nhằm phát huy lòng Từ bi. Kinh này được ghi lại bằng tiếng Pā-li và được phổ biến rất rộng rãi ở các nước theo truyền thống Thượng toạ bộ, được tăng ni tụng niệm hàng ngày.|Toàn văn kinh Từ bi (bản dịch của Thích Thiện Châu):|Ai khôn ngoan muốn tìm hạnh phúc|Và ước mong sống với an lành|Phải tài năng, ngay thẳng, công minh|Nghe lời phải, dịu dàng khiêm tốn.|Ưa thanh bần, dễ dàng chịu đựng|Ít bận rộn, vui đời giản dị|Chế ngự giác quan và thận trọng|Không liều lĩnh, chẳng mê tục luỵ.|Không chạy theo điều quấy nhỏ nhoi|Mà thánh hiền có thể chê bai|Ðem an vui đến cho muôn loài|Cầu chúng sinh thảy đều an lạc.|Không bỏ sót một hữu tình nào|Kẻ ốm yếu hoặc người khỏe mạnh|Giống lớn to hoặc loại dài cao|Thân trung bình hoặc ngắn, nhỏ, thô.|Có hình tướng hay không hình tướng|Ở gần ta hoặc ở nơi xa|Ðã sinh rồi hoặc sắp sinh ra|Cầu cho tất cả đều an lạc|Với ai và bất luận ở đâu|Không lừa dối, chẳng nên khinh dễ|Lúc căm hờn hoặc khi giận dữ|Ðừng mưu toan gây khổ cho nhau|Như mẹ hiền thương yêu con một|Dám hi sinh bảo vệ cho con|Với muôn loài ân cần không khác|Lòng ái từ như bể như non|Tung rãi từ tâm khắp vũ trụ|Mở rộng tình thương không giới hạn|Từng trên, phía dưới và khoảng giữa|Không vướng mắc oán thù ghét bỏ|Khi đi, khi đứng hoặc nằm ngồi|Hễ lúc nào tinh thần tỉnh táo|Phát triển luôn dòng chính niệm này|Là đạo sống đẹp cao nhất đời|Ðừng để lạc vào nơi mê tối|Ðủ giới đức, trí huệ cao vời|Và dứt bỏ lòng tham dục lạc|Ðược như thế thoát khỏi luân hồi.
Từ bi 慈悲; S: maitrī-karuṇā; P: mettā-karuṇā;|Hai đức hạnh chính của đạo Phật và cũng là cơ sở tâm lí của một vị Bồ Tát. Hai đức tính này được biểu hiện qua lời nguyện cứu độ tất cả chúng sinh thoát khỏi luân hồi.|Người ta phân biệt ba loại Từ bi: 1. Tấm lòng từ bi đối với tất cả chúng sinh theo lẽ thường; 2. Là kết quả của việc chứng ngộ được tính vô ngã của tất cả các pháp, là quả vị của tất cả những vị Thanh văn, Ðộc giác và Bồ Tát khi bước vào địa vị thứ nhất của Thập địa; 3. Là tấm lòng Ðại từ đại bi (s: mahāmaitrī-karuṇā) của một đức Phật, một tấm lòng từ bi tuyệt đối vô phân biệt, vô điều kiện.
Tu-bồ-đề 須菩提; S, P: subhūti; tên dịch nghĩa là Thiện Hiện, Thiện Cát, Thiện Nghiệp;|Một trong Mười đại đệ tử của Phật. Tôn giả là người nổi tiếng về phép thiền quán về lòng Từ (s: maitrī; kinh Từ bi). Trong bộ kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, Tôn giả là người giải thích tính Không (s: śūnyatā) ưu việt nhất.
Tứ chính cần 四正勤|Bốn tinh tiến.
Tu chứng 修證; C: xiū zhèng; J: shūshō; S: samudā-gama.|1. Nhận ra được kết quả của việc tu đạo; 2. Tu tập và chứng ngộ.
Tứ cú phân biệt 四句分別; S: catuṣkoṭika; J: shiku fumbet-su;|Chỉ bốn cách lí luận, đó là : 1. Có (有; hữu); 2. Không (無; vô); 3. Vừa có vừa không (亦有亦無; diệc hữu diệc vô), 4. Không phải có cũng không phải không (非有非無; phi hữu phi vô).|Tứ cú phân biệt này tương ưng với bốn trường hợp của luận lí học ngày nay là: 1. Khẳng định; 2. Phủ định; 3. Chiết trung và 4. Hoài nghi (xem thêm Tứ liệu giản của Thiền sư Lâm Tế).
Tư-đà-hàm 斯陀含; S: sakṛḍāgāmin; P: sakaḍāgāmin; |Nhất lai.
Tu-đà-hoàn 須陀洹; S: śrotāpanna; P: sotāpanna; |Dự lưu
Tu-đa-la 修多羅; C: xiūduōluó; J: shūtara;|Cũng như Tu-tha-la (修他羅).
Tứ đại chủng 四大種; Yếu tố, Ðại chủng: s, p: mahābhūta; thường được gọi tắt là Tứ đại;|Là đất (地; địa; s: pṛthvī), nước (水; thuỷ; s: āp), lửa (火; hoả, s: tejah), gió (風; phong; s: vāyu). Chỉ bốn yếu tố hợp thành mọi vật thể: chất cứng (đất), chất lỏng (nước), hơi nóng (lửa) và yếu tố vận động (gió). Phân tích bốn yếu tố này để thấy vật thể cũng do hoà hợp mà thành là một phép quán thiền định quan trọng với mục đích đối trị Ngã kiến, để thấy mọi thân thể là Vô thường, Vô ngã và gây Khổ. Trong hệ thống Tan-tra, người ta còn kể thêm Hư không (虛空; s: ākāśa) là yếu tố thứ năm, gọi chung lại là Ngũ giới (五界; s: pañcadhātu).
Tứ đại danh sơn 四大名山|chỉ bốn ngọn núi tại Trung Quốc, được xem là bốn trú xứ của các vị Bồ Tát: |1. Ngũ Ðài sơn, trú xứ của Văn-thù (s: mañjuśrī); 2. Phổ-đà sơn của Quán Thế Âm (s: avalokiteśvara); 3. Nga Mi sơn của Phổ Hiền (s: samantabhadra) và 4. Cửu Hoa sơn của Ðịa Tạng (s: kṣitigarbha).
Tu đạo 修道; C: xiūdào; J: shudō;|Có các nghĩa sau: 1. Tu tập đạo pháp; thực hành đạo lí (s: mārga-bhāvana); 2. Giai vị Tu đạo (Tu đạo vị), giai vị thứ tư trong Ngũ vị (五位) theo pháp tu của A-tì-đạt-ma và Du-già hành tông, là loại thứ hai trong Tam đạo (三道). Sau khi trải qua giai vị Kiến đạo (見道). Hành giả lập lại nỗ lực mới căn cứ trên nội quán mới có được nầy, quán sát sâu hơn để hoà nhập với Thật tại. Phiền não được chuyển hoá trong giai đoạn nầy là những thứ đeo bám rất sâu, như Câu sinh phiền não, Tư hoặc (倶生、思惑); trong khi giai đoạn trước của Kiến đạo, hành giả có thể giải trừ những phiền não ít thô trọng hơn (như Phân biệt khởi phiền não, Kiến hoặc 分別起、見惑). Theo luận Câu-xá, thể nhập vào giai vị này tương đương với quả vị Dự lưu (預流; theo Du-già luận 瑜伽論).
Tu đạo vị 修道位; C: xiūdàowèi; J: shudōi;|Tu đạo.
Tu-di sơn 須彌山; S: meru, sumeru;|Theo vũ trụ quan của Ấn Ðộ cổ thì Tu-di là trung tâm của vũ trụ và là trú xứ của chư Thiên. Về núi Tu-di thì hai quan niệm vũ trụ của Bà-la-môn và Phật giáo giống nhau, ngoài ra chúng lại có nhiều chỗ khác nhau về các hệ phụ thuộc.|Theo quan niệm Phật giáo thì xung quanh núi Tu-di là biển cả và lục địa bao bọc; dưới núi Tu-di là cõi của loài Ngạ quỷ (s: preta), phía trên là từng của các Thiên giới (s: deva) cao cấp, các tầng Sắc giới (s: rūpaloka) cũng như các tầng Vô sắc giới (Ba thế giới) và Tịnh độ.
Tứ diệu đế 四妙諦; S: catvāri ārya-satyāni; P: cattāri ari-ya-saccāni; cũng gọi là Tứ thánh đế (四聖諦).|Bốn chân lí cao cả, là gốc cơ bản của giáo pháp đạo Phật. Bốn chân lí đó là: |1. Khổ đế (苦諦; s: duḥkhasatya), chân lí về sự Khổ; 2. Tập khổ đế (集苦諦; s: samu-dayasatya), chân lí về sự phát sinh của khổ; 3. Diệt khổ đế (滅苦諦; s: duḥkhanirodha-satya), chân lí về diệt khổ; 4. Ðạo đế (道諦; s: mārgasatya), chân lí về con đường dẫn đến diệt khổ.|Chân lí thứ nhất cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ não, không trọn vẹn. Sinh, lão bệnh, tử, xa lìa điều mình ưa thích, không đạt sở nguyện, đều là khổ. Sâu xa hơn, bản chất của năm nhóm thân tâm, Ngũ uẩn (五蘊; s: pañcaskandha; p: pañcakhan-dha), là các điều kiện tạo nên cái ta, đều là khổ.|Chân lí thứ hai cho rằng nguyên nhân của khổ là sự ham muốn, Ái (愛; s: tṛṣṇā; p: ta-ṇhā), tìm sự thoả mãn dục vọng, thoả mãn được trở thành, thoả mãn được hoại diệt. Các loại ham muốn này là gốc của Luân hồi (輪迴; s, p: saṃsāra).|Chân lí thứ ba nói rằng một khi gốc của mọi tham ái được tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt.|Chân lí thứ tư cho rằng phương pháp để đạt sự diệt khổ là con đường diệt khổ tám nhánh, Bát chính đạo. Không thấu hiểu Tứ diệu đế được gọi là Vô minh (無明; s: avi-dyā; p: avijjā).|Theo truyền thuyết, thông qua sự khám phá Tứ diệu đế, Ðức Phật đạt Giác ngộ (覺悟; s, p: bodhi). Ngài bắt đầu giáo hoá chúng sinh bằng giáo pháp này, tại Lộc uyển.|Phật thuyết như sau về Tứ diệu đế trong kinh Chuyển pháp luân (bản dịch của Thích Minh Châu):|»Này các tỉ-khâu, đây chính là Khổ thánh đế: sinh là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, oán ghét gặp nhau là khổ; thân ái biệt li là khổ, cầu không được là khổ, tóm lại năm uẩn chấp thủ là khổ.|Này các tỉ-khâu, đây chính là Tập khổ thánh đế. Chính là ái đưa đến hữu, tương ứng với hỉ và tham, tìm cầu hoan lạc chỗ này chỗ kia, chính là dục ái, sinh ái, vô sinh ái.|Này các tỉ-khâu, đây chính là Diệt khổ thánh đế. Chính là sự diệt tận, vô dục, từ bỏ, xả li, giải thoát, tự tại đối với các ái.|Này các tỉ-khâu, đây chính là Ðạo diệt khổ thánh đế, đưa đến diệt Khổ, chính là con đường thánh tám ngành: Chính kiến, Chính tư duy, Chính ngữ, Chính nghiệp, Chính mệnh, Chính tinh tiến, Chính niệm, Chính định.«
Tu đoạn 修斷; C: xiūduàn; J: shudan;|Có các nghĩa sau: 1. Tu các thiện pháp, thực hành theo chính kiến… và giải trừ, làm tiêu tan mọi tập khí xấu ác (phiền não 煩惱); 2. Điểm then chốt của Tam học (s: bhāvana-ppdadhāna). Cũng thường viết là Tu đoạn (脩斷). Loại thứ tư trong Tứ chính đoạn (四正斷); 3. Những phiền não được diệt trừ trong giai vị Tu đạo (修道).
Tử Dung Minh Hoằng 明弘; tk. 17|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, pháp hệ thứ 34. Sư người tỉnh Quảng Ðông, đã cùng Thiền sư Nguyên Thiều Siêu Bạch sang miền Trung hoằng hoá. Nơi đây, Sư lập chùa Ấn Tông tại Huế (bây giờ là chùa Từ Ðàm) và truyền pháp cho một đệ tử người Việt trứ danh là Liễu Quán. Sư tịch tại Việt Nam nhưng không rõ năm nào.
Tu hành 修行; C: xiūxíng; J: shugyō;|Có các nghĩa sau: 1. Tập luyện, thực hành, thực hiện (s: pratipatti, prapatti, adhyācāra, adhigama, prayoga); 2. Cố gắng, nỗ lực; 3. Sự sám hối, sự khổ hạnh; 4. Tự mình tinh tấn tu tập pháp Du-già (s: yoga); 5. Hành trì giới luật.
Tu hành trú 修行住; C: xiū xíng zhù; J: shugyōjū;|Một giai vị trong Thập trú.
Tử Hồ Lợi Tung 子湖利蹤; C: zǐhú lìzōng; J: shiko rishō; ~ 800-880; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Nam Tuyền Phổ Nguyện và bạn đồng học với hai vị Triệu Châu Tòng Thẩm và Trường Sa Cảnh Sầm.|Sư nổi danh vì tấm bia độc đáo trước am: »Tử Hồ có một con chó, trên cắn đầu người, giữa cắn lưng người, dưới cắn chân người, suy nghĩ ắt tan thân mất mệnh.« Có ai đến am tham vấn, Sư thường gọi lớn »Coi chừng chó!« Hễ quay đầu lại nhìn thì Sư lui vào phương trượng không tiếp. Ngoài ra Sư cũng được biết đến qua việc cho Lưu Thiết Ma – một vị nữ Thiền sư giác ngộ thâm sâu nếm mùi gậy.
Tu Hoa Nghiêm áo chỉ vọng tận hoàn nguyên quán 修華嚴奥旨妄盡還源觀; C: xiū huāyán àozhǐ wàngjìn huányuán guān; J: shū kegon ou-shi moujin kangen kan; |Luận của Pháp Tạng (法藏).
Tu hoặc 修惑; C: xiūhuò; J: shuwaku;|Phiền não có trong chúng sinh từ khi sinh ra, chỉ giải trừ được bằng cách tu đạo. Còn gọi là Tư hoặc (思惑, theo Câu-xá luận 倶舎論).
Tứ hoằng thệ nguyện 四弘誓願; J: shiguseigan;|Là bốn thệ nguyện rộng lớn, dựa trên Tứ diệu đế mà phát sinh. Tứ hoằng thệ nguyện gồm có: 1. Chúng sinh vô lượng thệ nguyện độ (眾生無量誓願渡), dựa vào Khổ đế mà phát nguyện; 2. Phiền não vô tận thệ nguyện đoạn (煩惱無盡誓願斷), dựa vào Tập đế mà phát nguyện; 3. Pháp môn vô lượng thệ nguyện học (法門無量誓願學), dựa vào Ðạo đế mà phát; 4. Phật đạo vô thượng thệ nguyện thành (佛道無上誓願成), dựa vào Diệt đế mà phát sinh.
Tu học 修學; C: xiūxué; J: shūgaku; |Nghiên cứu và thực hành đạo giác ngộ.
Tu huệ 修慧 (惠); C: xiūhuì; J: shue;|Có các nghĩa sau: 1. Trí huệ chân chính đạt được thông qua tu đạo (s: bhāvanā-mayi-prajñā; t: bsgom pa las byun baḥi śes). Một trong 3 loại huệ (Tam huệ 三慧); 2. Tu tập tùy thuận theo trí huệ.
Tu-la 修羅; C: xiūluó; J: shura;|Cách viết ngắn của từ A-tu-la (阿修羅).
Tứ liệu giản 四料簡|Lâm Tế Nghĩa Huyền
Tự lực 自力; J: jiriki;|Tự sức mình đạt Giác ngộ, chẳng hạn bằng phương pháp Toạ thiền (j: zazen). Ðối nghĩa với tự lực là Tha lực (他力; j: tariki), nghĩa là lực từ bên ngoài. Tha lực hay được dùng để chỉ quan niệm dựa vào một đức Phật, thí dụ Phật A-di-đà để sinh vào Tây phương Tịnh độ. Ngược lại, Thiền tông hay được xem là phương pháp dựa vào tự lực để giải thoát.|Tuy nhiên – như Thiền tông vẫn nhấn mạnh –, mỗi người đều mang sẵn Phật tính trong chính mình. Vì vậy nên sự phân biệt giữa tự lực và tha lực chỉ nói đến cách tu và thật ra cũng không cần thiết. Hành giả theo phép tu tha lực cũng phải tự lực, tinh tiến để mở được cánh cửa của tâm thức mà đến với tha lực nọ. Ngược lại, tự lực chẳng qua là biểu hiện cụ thể của tha lực đó.
Tứ nhiếp pháp 四攝法; S: catvāri-saṃgrahavastūni;|Bốn cách tiếp dẫn chúng sinh của Ðại thừa: 1. Bố thí (布施; s: dāna); 2. Ái ngữ (愛語; s: priyavāditā), nghĩa là dùng lời hay, đẹp để chinh phục người; 3. Lợi hạnh (利行; s: arthacaryā), hành động vị tha; 4. Ðồng sự (同事; s: samānārthatā), cùng chung làm với những người thiện cũng như ác để hướng dẫn họ đến bờ giác.
Tứ niệm xứ 四念處; S: smṛtyupasṭhāna; P: satipaṭṭhāna; |Bốn niệm xứ
Tứ niệm xứ kinh 四念處經; S: smṛtyupasṭhāna-sūtra; P: sati-paṭṭhāna-sutta; |Bốn niệm xứ kinh.
Tứ phạm trú 四梵住; S: catur-brahma-vihāra;|Bốn phạm trú
Tư Phúc Như Bảo 資福如寶; C: zīfú rúbǎo; J: shifuku nyohō; tk. 9/10; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Quy Ngưỡng, nối pháp Thiền sư Tây Tháp Quang Mục (西塔光穆), một môn đệ đắc pháp của Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch. Sư được nhắc lại trong Công án 33 và 91 của Bích nham lục. Ngoài ra sử sách hầu như không ghi gì thêm về Sư ngoài việc sử dụng 97 viên tướng, một hệ thống truyền pháp bí mật mà chỉ các bậc thượng thủ trong Quy Ngưỡng tông được truyền và ứng dụng. Hệ thống 97 viên tướng xuất phát từ Quốc sư Nam Dương Huệ Trung, qua Ðam Nguyên Ứng Chân và được Thiền sư Ngưỡng Sơn đưa vào tông Quy Ngưỡng.
Tứ sát 伺察; C: sìchá; J: shisatsu;|Quán sát, tư duy sâu kín để thâm nhập vào cốt tuỷ của các pháp. Trong hầu hết các hệ thống Thiền minh sát (Quán 觀, s: vipaśya-nā), Tứ sát được xem là dạng vi tế nhất trong pháp Thiền phân tích.
Tứ sinh 四生; S: caturyoni;|Bốn cách sinh
Tử Tâm Ngộ Tân 死心悟新; C: sǐxīn wùxīn; J: shishin goshin; 1044-1115;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế dòng Hoàng Long. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Hối Ðường Tổ Tâm. Từ dòng của Sư, Thiền Lâm Tế được truyền sang Nhật Bản lần đầu qua Minh Am Vinh Tây.|Sư họ Vương, quê ở Khúc Giang Thiều Châu. Dáng người Sư cao lớn mặt đen giống như người Ấn Ðộ. Sư xuất gia tại viện Phật-đà, phong cách xuất chúng. Ban đầu Sư đến Thiền sư Tú Thiết Diện. Sau một Pháp chiến, Thiền sư Tú thừa nhận nhưng Sư chẳng lưu ý, phủi áo ra đi.|Ðến Hoàng Long, Sư yết kiến Thiền sư Bảo Giác. Sau một lúc đàm luận Bảo Giác thấy Sư chưa ngộ bèn nói: »Nếu tài năng chỉ thế, nói ăn đâu no bụng người?« Sư bế tắc không lời nói, tỏ rõ: »Con đến đây cung gãy tên hết, cúi mong Hoà thượng từ bi chỉ chỗ an lạc.« Bảo Giác liền dạy: »Một hạt bụi bay hay che trời, một hạt cải rơi hay phủ đất, chỗ an lạc tối kị Thượng toạ có bao nhiêu thứ tạp nhạp. Cần phải chết toàn tâm từ vô thuỷ kiếp đến nay mới nên vậy.«|Một hôm, Sư ngồi lặng lẽ dưới tấm bảng, chợt thấy Tri sự đánh Cư sĩ và khi nghe tiếng roi, Sư bỗng nhiên thông suốt, quên mang giày chạy đến Bảo Giác trình: »Người trong thiên hạ thảy là học được, con đã ngộ được rồi.« Bảo Giác cười nói: »Tuyển Phật được người đứng đầu bảng, ai dám đương.« Từ đây Sư được hiệu là Tử Tâm, chỗ ở của Sư có bản hiệu là »Tử Tâm thất.«|Sư ban đầu trụ Vân Nham, sau dời trụ tại Thuý Nham. Tại đây có miếu Thần, dân làng cúng rượu thịt liên miên. Sư sai tri sự đi phá miếu, tri sự không dám đi sợ chuốc hoạ. Sư bảo: »Nếu hay tác hoạ, ta tự làm đó.« Nói xong Sư đích thân đi huỷ miếu. Có con rắn to nằm đưa đầu như muốn mổ. Nghe Sư quở, nó trốn đi. Sư về nghỉ an ổn và không bao lâu, Sư trở về Vân Nham. Có một vị quan làm lời kí cho một Kinh tàng. Ông lấy lời ghi mộ của người thân khắc bên cạnh cái bia. Sư không hài lòng nói: »Cái mộ mà xem thường không sợ hoạ sao?« Sư nói chưa dứt, sét đánh nổ vỡ tấm bia.|Niên hiệu Chính Hoà thứ 5, ngày 13 tháng 12, buổi chiều Tiểu tham, Sư nói kệ. Ðến ngày rằm, Sư thị tịch, thọ 72 tuổi, 45 tuổi hạ.
Tu tập 修習; C: xiūxí; J: shūjū;|Có các nghĩa sau: 1. Thực hành, công phu, tu đạo (s: panicarya, bhāvanā, abhyāsa, aseva-na); 2. Thực hành pháp Du-già (yoga). Tu tập pháp thiền Chỉ quán.
Tu tập vị 修習位; C: xiūxí wèi; J: shūjūi; |Giai vị Tu đạo. Giai vị thứ tư trong 5 bậc theo pháp tu của Duy thức tông do Thế Thân giải thích trong Duy thức tam thập tụng. Bài tụng nầy giải thích nhờ tu tập thường xuyên trở về với lí Duy thức mà chứng ngộ được qua »kiến đạo«, thâm chứng được trí vô phân biệt và cắt đứt được mọi phiền não. Giai vị nầy tương quan với công hạnh của hàng Bồ Tát từ Đệ nhất địa đến Thập địa.
Tu-tha-la 修他羅; C: xiūtāluó; J: shūtara;|Phiên âm chữ sūtra trong tiếng Phạn. Giáo pháp của đức Phật được truyền qua kinh điển. Một trong 12 thể loại của Kinh văn Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經). Tiếng Hán dịch ý là Kinh (經).
Tứ thánh đế 四聖諦|Tứ diệu đế
Tứ thập nhị chương kinh 四十二章經; S: dvācatvāriṃśat-khanda-sūtra;|Kinh đầu tiên được dịch ra chữ Hán. Kinh này do một phái đoàn của Minh Ðế đi Ấn Ðộ mang về và được hai Cao tăng Ấn Ðộ là Ca-diếp Ma-đằng (迦葉摩騰; s: kāśyapa mātaṅga) và Trúc Pháp Lan (竺法蘭; go-bharaṇa hoặc dharmarakṣa) dịch trong năm 67. Kinh này là văn bản Phật giáo đầu tiên tại Trung Quốc, nói một số giáo pháp Tiểu thừa cũng như giảng về tính Vô thường (s: a-nitya) và Ái (s: tṛṣṇā). Có nhiều bản dịch của kinh này và nội dung cũng rất khác nhau.
Từ Thị 慈氏; S: maitreya; P: metteya;|Tên dịch nghĩa, dịch âm là Di-lặc.
Tứ thiền 四禪|Gọi đầy đủ là Tứ thiền định; chỉ bốn cấp thiền trong sắc giới (Ba thế giới), đó là:|1. Ðịnh sơ thiền: tâm tập trung vào một cảnh, tâm tầm (s, p: vitarka), tứ (s, p: vicāra), hoàn toàn li dục và không còn các Bất thiện Pháp. Người đạt sơ thiền cảm nhận trạng thái Hỉ (s: prīti), Lạc (s: sukha) và Xả (s: upekṣā); 2. Ðịnh nhị thiền: tâm không còn tầm, tứ. Nội tĩnh, Nhất tâm. Trạng thái này là Hỉ, Lạc, Xả; 3. Ðịnh tam thiền: lìa trạng thái Hỉ, chỉ còn trạng thái Xả và Lạc; 4. Ðịnh tứ thiền: lìa trạng thái Lạc, chỉ còn riêng cảm giác Xả và chính niệm.
Tứ thiền bát định 四禪八定|bao gồm Tứ thiền (1-4) và bốn xứ của Vô sắc giới (s: arūpasamādhi; xem Ba thế giới) sau:|1. Ðịnh Không vô biên xứ (空無邊處定; s: ākāśanantyāyatana, p: ākāsanañcāyatana): hoàn toàn vượt khỏi sắc tướng (rūpa), đối ngại tưởng biến mất, và không tác ý đến những tưởng sai biệt. Với ý tưởng »Hư không là vô biên,« đạt Không vô biên xứ; 2. Ðịnh Thức vô biên xứ (識無邊處定; s: vijñānanantyāyatana, p: viññāṇañcāyata-na): vượt khỏi Không vô biên xứ, đạt Thức vô biên xứ với ý niệm »Thức là vô biên«; 3. Ðịnh Vô sở hữu xứ (無所有處; s: ākiṃ-canyāyatana, p: ākiñcaññāyatana): hoàn toàn vượt khỏi Thức vô biên xứ, đạt Vô sở hữu xứ với ý niệm »Vô sở hữu.« Lìa được trạng thái không quán, thức quán và tâm sở hữu; 4. Ðịnh Phi tưởng, phi phi tưởng xứ (非想非非想處定; s: naivasaṃjñā-nāsaṃjñā-yatana, p: nevasaññā-nāsaññāyatana): hoàn toàn vượt khỏi Vô sở hữu xứ, trú tại Phi tưởng, phi phi tưởng xứ.|Bốn định của vô sắc giới (無色界定; s, p: arūpasamādhi) này có thể được Phật thu thập từ truyền thống thiền của Ấn Ðộ trước đó và sau được hợp lại với Tứ thiền trở thành Bát định.
Tứ thiên vương 四天王; S, P: caturmahārāja;|Ðược xem là bốn vị Hộ thế canh gác bốn phương trời, các vị là người giữ gìn thế giới và đạo Phật. Trước cổng chùa chiền, người ta hay thấy tượng các vị Thiên vương đó.
Tử thư 死書; T: bardo thodol [bar-do thos-grol]; nguyên nghĩa là »Giải thoát qua âm thanh trong Trung hữu«;|Là một bí lục, được xem là trứ tác của Ðại sư Liên Hoa Sinh (s: padmasambhava), gồm những lời khai thị cho người sắp chết (Tử). Tử thư được tìm thấy khoảng thế kỉ thứ 14, đó là một Ter-ma. Giai đoạn của cái chết được chia làm ba phần, liên hệ chặt chẽ với Ba thân Phật:|1. Trong giai đoạn đầu ngay sau khi chết, Pháp thân (s: dharmakāya) xuất hiện dưới dạng Cực quang (s: ābhāsvara), ánh sáng rực rỡ;|2. Trong giai đoạn hai, Báo thân (cũng gọi là Thụ dụng thân; s: saṃbhogakāya) xuất hiện dưới dạng Ngũ Phật hay Phật gia (buddha-kula), gồm hình dáng các vị Phật với những màu sắc khác nhau;|3. Trong giai đoạn ba, Ứng thân (nirmāṇa-kāya) xuất hiện dưới dạng sáu đường tái sinh (Lục đạo) của Dục giới (Vòng sinh tử; s: bhavacakra).|Trong cả ba giai đoạn đó, thần thức của người chết có thể đạt giải thoát bằng cách lắng nghe lời khai thị để nhận ra tất cả là do tâm thức mình đang chiếu hiện mà nhờ vậy đạt Niết-bàn.|Giáo pháp Tử thư được tìm thấy trong Na-rô lục pháp (t: nāro chodrug), Ðại cứu kính (t: dzogchen) và cả trong Bôn giáo của Tây Tạng. Ban đầu, đây là một phép tu (Nghi quỹ; s: sādhana) dành cho hành giả quán cảnh tượng cái chết, một phương pháp tu của Mật tông. Dần dần theo thời gian, Tử thư trở thành nội dung khai thị trong lễ cầu siêu cho người chết. Dựa trên Tử thư, lễ này chia làm nhiều giai đoạn, từ lúc mô tả cảnh tượng lúc chết, đến lúc xuất hiện các ánh sáng, phương thức chủ động lựa chọn nơi chốn đầu thai.|Quá trình chết được Tử thư mô tả như một giai đoạn dần dần rủ bỏ thân Tứ đại, các uẩn (Ngũ uẩn) dần dần hoại diệt. Khi cái chết vừa đến, thế giới ngoại quan vừa tan rã thì thể tính sâu kín nhất của tâm liền xuất hiện dưới dạng ánh sáng rực rỡ, được gọi là Cực quang (s: ābhāsvara). Nếu người chết không tự nhận biết thời điểm để tự »đồng hoá« với ánh sáng này đạt giải thoát thì sẽ »bất tỉnh ba bốn ngày« và sau đó tỉnh dậy với một thân được hình thành bằng ý thức – thức thân (s: manokāya) – thân này sẽ là chủ thể cảm nhận các kinh nghiệm tiếp theo.|Trong 14 ngày sau đó – khoảng thời gian được gọi là Pháp tính trung hữu (s: dharmatāntarābhava) – chủ thể đó sẽ thấy hiện ra Ngũ Phật và quyến thuộc (Phật gia), chứng kiến sự xuất hiện của 42 vị Hộ Thần dưới dạng tịch tịnh (s: śānta) và 58 vị dưới dạng phẫn nộ (s: krodha). Các vị Hộ Thần này xuất hiện trong phạm vi của một Man-đa-la và người ta có thể mô tả chính xác chư vị trong Tử thư được là vì sử dụng một Nghi quỹ (s: sādhana) với khả năng bao gồm, soi rọi tất cả những cảm xúc, tâm trạng của một cá nhân. Khía cạnh tính Không – tính trống rỗng của chư pháp – được biểu hiện qua các vị Hộ Thần dưới dạng tịch tịnh, khía cạnh sáng rõ được biểu hiện qua các vị phẫn nộ. Tử thư khai thị người chết rằng những hình ảnh không có thật chất – chúng chỉ là phản ánh, là những trình hiện của chính tâm thức.|Nếu thần thức cũng không trực chứng được điều này, thân trung hữu chuyển qua một giai đoạn khác kéo dài 28 ngày – được gọi là Trung hữu của sự trưởng thành và tái sinh (bhavāntarābhava). Trong 21 ngày đầu, trung hữu sẽ sống lại các Nghiệp mình đã tạo ra, 7 ngày sau là giai đoạn thần thức tìm một nơi tái sinh.
Tự tính 自性; S: svabhāva; J: jishō;|Chỉ cái tính nằm sau mọi hiện tượng, cái ngã. Theo quan điểm Ðại thừa, tất cả mọi sự đều không có tự tính (s: asvabhāva), vô ngã, tức là không có một cái gì chắc thật, riêng biệt đứng đằng sau các trình hiện. Ðiều đó không có nghĩa sự vật không có thật, chúng hiện diện nhưng chúng chỉ là dạng xuất hiện của tính Không, tự tính là tính Không (自性空; Tự tính không; s: svabhāva-śūnyatā). Ðây là quan điểm trung tâm của tư tưởng Bát-nhã ba-la-mật-đa (s: prajñāpāramitā) và Trung quán (s: madhyamaka). |Tuy nhiên, trong Thiền tông và các tông phái của Ðại thừa tại Trung Quốc, biểu thị Tự tính (j: jishō) được dùng để chỉ cho bản thể thật sự của chúng sinh, vạn vật, đồng nghĩa với Phật tính (s: buddhatā; j: busshō) và nên phân biệt nó với cái tiểu Ngã mà Phật đã bác bỏ.
Tự tính thanh tịnh tâm 自性清淨心; J: jishō-shōjō-shin; nghĩa là cái tâm thanh tịnh có sẵn trong mỗi chúng sinh;|Một biểu thị thường được dùng để chỉ sự hoàn hảo, Phật tính (s: buddhatā). Thanh tịnh tâm lúc nào cũng hiện diện nhưng chỉ một bậc Giác ngộ, Kiến tính mới tự biết được.
Tu trì 修持; C: xiūchí; J: shuji;|Công phu tu tập theo một tinh thần một kinh văn và chuyên tâm, trung thành với kinh ấy. Thường là phẩm khuyến khích sự hành trì vào cuối bản kinh (theo Pháp Hoa kinh 法華經).
Tu trị 修治; C: xiūzhì; J: shuji, shuchi;|Chuyển hoá thanh tịnh bằng công phu tu tập (s: pariśodhana). Sự thanh trừng (theo Du-già luận 瑜伽論).
Tứ vô lượng 四無量; hoặc Tứ vô lượng tâm; S: catur-apra-māṇavihāra; P: catur-appamañña-vihāra;|Một tên khác của Bốn phạm trú.
Tục 俗; C: sú; J: zoku;|Có các nghĩa sau: 1. Thói quen, tập quán, thông lệ, lệ thường, tục lệ; 2. Thế gian, trần tục, thế tục, thông tục. Đồng nghĩa với thế gian (世間), phản nghĩa với Xuất thế gian (出世間; s: vyavahāra); 3. Người thế gian, cư sĩ, khác với người đã xuất gia sống trong Tăng đoàn; 4. Hèn hạ, thường, đê tiện.
Tục đế 俗諦; C: súdì; J: zokutai;|Chân lí thế gian, Chân lí thế tục. Thật tại được nhìn nhận từ người chưa giác ngộ. Chư Phật vận dụng chân lí nầy như 1 pháp phương tiện để dẫn dắt chúng sinh thể nhập chân lí tuyệt đối, hoặc được giác ngộ (s: saṃvṛti-satya, vyavahāra).
Tức Lự 息慮; tk. 12-13|Thiền sư Việt Nam, thuộc dòng thiền Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 14. Sư kế thừa Thiền sư Thông Thiền và sau truyền lại cho một vị Cư sĩ là Ứng Thuận Vương.|Sư quê ở Chu Minh, lúc nhỏ đã tỏ trí thông minh phi thường, đọc tất cả các sách ngoại điển. Bỗng một hôm, Sư bỏ tất cả những sở học, theo Thiền sư Thông Thiền tu học.|Một hôm, Sư đốn cây bắt được một con chim, đem về dâng thầy. Thông Thiền thấy vậy liền quở: »Ngươi đã làm tăng, sao lại phạm tội sát sinh? Làm sao tránh khỏi quả báo ngày sau?« Sư thưa: »Con chính khi ấy chẳng thấy có vật này, và cũng chẳng thấy có thân con, cũng chẳng biết có quả báo sát sinh, cho nên mới làm thế này.« Thông Thiền biết Sư là pháp khí thượng thặng liền gọi vào thất thầm dặn: »Ngươi nếu dùng đến chỗ đất ấy, dù có tạo tội Ngũ nghịch, thất giá cũng được thành Phật.« Có vị tăng nghe trộm lời này liền nói to: »Khổ thay, dù thế ấy tôi cũng chẳng nhận.« Thông Thiền lên tiếng bảo: »Trộm! Trộm! Ðâu nên, phi nhân sẽ gặp cơ hội tốt.« Sư nghe câu này liền lĩnh hội ý chỉ.|Sau, Sư trở về chùa Thông Thánh ở làng Chu Minh, phủ Thiên Ðức trụ trì.|Không biết Sư tịch năm nào, ở đâu.
Tục trí 俗智; C: súzhì; J: zokuchi; |Có các nghĩa sau: 1. Trí thế gian, trí thông tục. Còn gọi là Thế tục trí (世俗智); 2. Trí huệ khi nhìn các hiện tượng, sự kiện, xuất phát từ sự phân biệt chủ thể-khách thể; Đối lại là Chân trí (眞智) và Thánh trí (聖智); 3. Hữu lậu trí (theo Nhị chướng nghĩa 二障義).
Tục vọng chân thật tông 俗妄眞實宗; C: súwàng zhēnshí zōng; J: zokubōjinjitsushū; |Giáo lí cho rằng, tất cả những sự việc thế tục đều là hư vọng, chỉ Phật pháp mới là chân thật.
Tuệ 慧,惠|và những chữ bắt đầu bằng chữ Tuệ xem dưới chữ Huệ
Tuệ Trung Thượng Sĩ 慧忠上士|Huệ Trung Thượng Sĩ
Tụng 頌; J: ju; cũng được dịch theo âm là Kệ-đà; dịch nghĩa từ chữ Gāthā của Phạn ngữ (sanskrit);|Là cách trình bày giáo pháp dưới dạng thơ, dạng chỉnh cú.
Tùng Nguyên Sùng Nhạc 松源崇嶽; C: sōngyuán chóngyuè; J: shōgen sōgaku; 1139-1209;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế dòng Dương Kì, từng tham học với Thiền sư Ðại Huệ Tông Cảo, đắc pháp nơi Thiền sư Mật Am. Tắc 20 trong Vô môn quan có nhắc lại một giai thoại của Sư.
Tùng Quảng tự 松廣寺; C: sōngguăng sì; J: shōkōji; K: sŏnggwangsa;|Một trong những Thiền viện quan trọng nhất ở Hàn Quốc, nằm trên núi Tào Khê (曹溪山). Được Tri Nột (知訥, k: chinul) khai sáng, thiền viện nầy vẫn còn hoạt động đến ngày nay như một trung tâm tu học. Kiến thức đào tạo trong thiền viện nầy đã được trình bày qua tác phẩm của Buswell (1992).
Tung sơn 嵩山; C: sōngshān; J: sūsan, sūzan;|Một rặng núi thiêng ở Hồ Nam, Trung Quốc. Trên dãy núi này có rất nhiều chùa và nổi tiếng nhất là Thiếu Lâm tự trên ngọn Thiếu Thất, nơi Bồ-đề Ðạt-ma đã dừng chân.
Tùng Vĩ Ba Tiêu 松尾芭蕉; J: matsuo bashō; 1644-1694;|Một thi hào vĩ đại người Nhật, người đã đưa dạng thơ Bài cú (排句; j: haiku, cũng thường được đọc là Hài cú), dạng thơ ba dòng với âm điệu 5-7-5 đến tuyệt đỉnh. Trong những bài thơ của ông, tinh thần Thiền được trình bày dưới dạng thi ca hoàn hảo nhất.|Ông họ Tùng Vĩ (松尾; matsuo), tên Tông Phòng (宗房; munefusa) xuất thân từ một gia đình hiệp sĩ (侍; samurai) cấp thấp. Vì sớm bước vào làm việc với vị quan hầu gần nhà nên ông có điều kiện tiếp xúc với nghệ thuật làm thơ, đặc biệt là dạng Bài cú. Vì sau này trụ tại một am có cây chuối trước cổng nên ông đặt tên là Ba Tiêu am, »Am cây chuối« và tự gọi mình là Ba Tiêu. |Sau khi được Phật Ðỉnh (佛頂; butchō), một vị Thiền sư thuộc tông Lâm Tế hướng dẫn vào giáo lí và phương pháp Toạ thiền theo Thiền tông, ông Kiến tính, ngộ đạo. Những kinh nghiệm quý báu này đã được trình lại một cách trọn vẹn trong những bài thơ, đặc biệt là những tác phẩm được hình thành trong thập niên cuối đời của ông. Cuộc đời của ông là một cuộc đời du tử, chu du đây đó, lúc nào cũng tự do tự tại. Ông du ngoạn khắp nước Nhật và những bài thơ về thắng cảnh, thiên nhiên của ông, được ép vào phạm vi khắc khe của dạng Bài cú là những kiệt tác vô song của nền văn hoá Nhật. Hầu hết tất cả những bài thơ Bài cú của ông đều có liên hệ đến thiên nhiên – không phải chỉ vì quy luật đặc biệt của Bài cú là trong mỗi bài, thi sĩ phải nhắc đến một trong bốn mùa hoặc ít nhất phải ám chỉ. Ông rất yêu thiên nhiên và con người. Nơi con người, ông thấy được sự ưu đãi của thiên nhiên, vũ trụ, sự quý báu vô cùng khi được làm người. Trong một Bài cú, ông trình bày rõ lòng mình (tạm dịch từ một bản Ðức ngữ):|Ko ni aku|tomōsu hito ni wa|hana mo nashi|»Ta không thích trẻ con«|Ai nói vậy sẽ không thấy được|Những nụ hoa chớm nở.|Bài thơ cuối cùng của ông trước khi tịch tại O-saka:|Tabi ni yande|yume wa kareno wo|kake-meguru|*Bệnh trên đường du ngoạn|đeo đuổi trên những cánh đồng khô|những giấc mộng xoay vòng.
Tưởng 想; S: saṃjñā; P: saññā;|Cảm giác, khái niệm xuất phát từ tâm khi sáu giác quan tiếp xúc với ngoại cảnh. Ví dụ như một người nhìn một bầy chim bay thì khi vừa nhìn thấy bầy chim là Thụ (受; s, p: vedanā), trạng thái tự chủ, tự biết mình đang thấy bầy chim bay là Tưởng (e: perception). Tưởng là uẩn thứ ba trong Ngũ uẩn.
Tượng pháp 像法; C: xiàngfǎ; J: zōhō;|Có các nghĩa sau: 1. »Tương tự Chính pháp«; »tương tự pháp«. Giáo lí tương tự với chính pháp do đức Phật thuyết. Một trong ba thời (Tam thời 三時) (xem Chính tượng mạt 正像末) sau khi đức Phật nhập diệt, đó là thời Chính pháp, Tượng pháp và Mạt pháp. Các Phật tử nghiên cứu giáo lí và hiến mình cho việc tu tập, nhưng không nhất thiết hướng đến giác ngộ rốt ráo (s: pratirūpa-kah); 2. Các pháp (phần tử) như hình sắc, được phản chiếu trong gương (theo Bảo tính luận 寶性論).
Tượng pháp quyết nghi kinh 像法決疑經; C: xiàngfǎ juéyí jīng; J: zōhō-ketsugikyō;|Kinh nguỵ tạo ở vùng Đông Á; 1 quyển.
Tương ưng bộ kinh 相應部經; S: saṃyuktāgama; P: saṃyutta-ni-kāya;|Bộ thứ ba của Kinh tạng văn hệ Pā-li (Bộ kinh, A-hàm). Tương ưng bộ bao gồm các kinh ngắn nói về cuộc đời và hoạt động của đức Phật. Các kinh này được xếp loại và đặt tên dựa trên nội dung, tên người đối đáp hay cơ hội của các bài giảng của đức Phật.
Tuỳ miên 隨眠; S: anuśaya; P: anusaya;|Ðược hiểu là »khuynh hướng« con người dễ sa vào. Có bảy thứ: 1. Dục (欲; s, p: kāma); 2. Sân (瞋; pratigha); 3. Kiến (見; s: dṛṣṭi); 4. Nghi (疑; s: vicikitsā); 5. Mạn (慢; s: māna); 6. Hữu (有; s: bhava) muốn hiện hữu, có xác thịt; 7. Si (癡; moha) hoặc Vô minh (無明; avidyā). Các khuynh hướng đó nằm trong tiềm thức, là Tập khí (習氣; s: vāsanā), luôn luôn muốn trỗi dậy và tạo Ái. |Theo quan niệm của Thượng toạ bộ (p: theravāda) và Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda) thì các khuynh hướng này có gốc tại tư tưởng và liên hệ với sự suy tư. Chúng có một đối tượng, một nguồn gốc tốt xấu và là »xấu«. Theo quan niệm của Ðại chúng bộ, Ðộc tử bộ và Pháp Tạng bộ thì các khuynh hướng này không liên quan gì đến suy tư, không có đối tượng, không có nguồn gốc tốt xấu, là trung tính – không tốt không xấu.
Tuỳ niệm 隨念; P: anussati; nghĩa là kiến giải, quán tưởng; |Trong các kinh Tiểu thừa, đây là các phép tu quán nhằm giải thoát ba gốc Bất thiện (p: akusala) Tham, Sân, Si, nhằm đạt các niềm vui giác ngộ. Các phép quán tưởng đó gồm có sáu: Quán Phật, quán Pháp (p: dhamma), quán Tăng-già (saṅgha), quán Giới (p: sīla), quán Bố thí (dāna), quán chư Thiên (deva). Có lúc hành giả còn quán thêm bốn thứ khác là: quán cái chết, quán thân, quán hơi thở ra vào và quán sự bình an.
Tuỳ pháp hành 隨法行; S: dharmānussarin; P: dhammānus-sarin; |Một trong bảy hạng thánh môn đệ. Một trong hai hạng người trên đường đạt quả Dự lưu, lấy trí lí phân tích lí thuyết Phật pháp mà đạt. Hạng người thứ hai lấy Tín tâm mà đắc quả, được gọi là Tuỳ tín hành (s: śraddhānusārin; p: saddhānusārin).
Tuỳ tín hành 隨信行; S: śraddhānusārin; P: saddhānu-sārin;|Chỉ người dựa vào lòng tin (Tín; s: śraddhā; p: saddhā), lấy lòng tin làm căn bản để tu tập Phật pháp. Một trong hai hạng người đang chuẩn bị đắc quả Dự lưu. Hạng người thứ hai là Tuỳ pháp hành (s: dharmānussarin; p: dhammānussarin).
Tuyên Giám 宣鑒|Ðức Sơn Tuyên Giám.
Tuyết Ðậu Trọng Hiển 雪竇重顯; C: xuědòu chóngxiǎn; J: setchō jū-ken; 980-1052; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ của Trí Môn Quang Tộ. Sư là một trong những Ðại Thiền sư của tông Vân Môn.|Sư nổi danh một phần là nhờ việc sưu tầm biên soạn 100 Công án, sau này được Thiền sư Viên Ngộ bổ sung thêm thành bộ Bích nham lục. Dòng Thiền của Sư được Thiền sư Thảo Ðường đem qua Việt Nam trong thế kỉ 11. Nối Pháp của Sư có rất nhiều vị (tương truyền 84) nhưng nổi danh nhất có lẽ là Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài.|Sư họ Lí, quê ở phủ Toại Ninh, theo sư Nhân Săn ở viện Phổ Am xuất gia. Sau khi thụ giới cụ túc, Sư đến những nơi giảng kinh luận, nghiên cứu cặn kẽ giáo lí. Sư lúc này đã nổi danh là biện luận lanh lẹ, là pháp khí Ðại thừa. Sau khi trải qua nhiều tùng lâm, Sư gõ cửa nơi Thiền sư Quang Tộ ở chùa Trí Môn.|Sư hỏi Trí Môn: »Chẳng khởi một niệm, tại sao có lỗi?« Trí Môn gọi Sư lại gần. Sư bước đến gần, Trí Môn vung cây Phất tử nhằm miệng Sư đánh. Sư toan mở miệng, Trí Môn lại đánh. Sư nhân đây đại ngộ, ở lại hầu Trí Môn thêm năm năm.|Rời Trí Môn, Sư tiếp tục Hành cước và nhân đây gặp lại người bạn cũ là Tu Tuyển Tằng Hội, đang giữ chức Thái thú. Một câu chuyện thú vị được lưu lại về cuộc gặp gỡ này và nó cũng cho thấy phong cách giản dị, không câu nệ của Sư. Tằng Hội khuyên Sư đến chùa Linh Ẩn xem việc ra sao và để giúp Sư, ông viết một bức thư nhờ vị Thiền sư trụ trì chùa này tìm giúp một thiền viện nào đó để Sư có thể hoằng hoá. Sư nghe lời đến, nhưng không trình thư của Tằng Hội gửi mà chỉ âm thầm sinh hoạt, lao động cùng với tăng chúng. Sau hai năm, Tằng Hội đến viếng chùa và hỏi vị trụ trì về Sư. Vị này ngạc nhiên vì không biết Tằng Hội muốn nói gì và kêu chúng gọi Sư. Gặp mặt, Tằng Hội hỏi có đưa thư không thì Sư rút lá thư từ ngực ra và trả lời một cách đơn giản là »rất cảm ơn vì lá thư này và gìn giữ nó thận trọng« nhưng Sư nói kèm rằng mình đến đây »với phong cách tu tập của một Vân thuỷ (thiền sinh đi hành cước, làm bạn với mây nước) mà vân thuỷ thì không được phép làm sứ giả trình thư.« Nỗi ngạc nhiên của mọi người nhân đây biến thành nụ cười vui vẻ hồn nhiên. Vị trụ trì chùa này giúp Sư đến trụ trì một ngôi chùa ở Ðộng Ðình – một hòn đảo rất đẹp và Sư cũng có làm một bài tụng về cảm xúc khi dời đến nơi này trong công án thứ 20 của Bích nham lục.|Sau, Tằng Hội lại mời Sư đến Tứ Minh sơn, một rặng núi mà nhiều vị Cao tăng đã trụ trì hoằng hoá. Sư nghe theo lời khuyên của người bạn và đến trụ trì tại Tứ Minh sơn, trên ngọn Tuyết Ðậu. Ngày khai đường tại Tuyết Ðậu, Sư bước đến trước pháp toà nhìn chúng rồi bảo: »Nếu luận bản phận thấy nhau thì chẳng cần lên pháp toà.«|Có vị tăng hỏi: »Thế nào là Duy-ma-cật một phen làm thinh?« Sư trả lời: »Hàn Sơn hỏi Thập Ðắc.« Tăng lại hỏi: »Thế ấy là vào cửa Bất nhị?« Sư bèn »Hư!« một tiếng và nói kệ:|維摩大士去何從,千古令人望莫窮|不二法門休更問,夜來明月上孤峰|Duy-ma Ðại sĩ khứ hà tòng|Thiên cổ linh nhân vọng mạc cùng|Bất nhị pháp môn hưu cánh vấn|Dạ lai minh nguyệt thướng cô phong.|*Ðại sĩ Duy-ma đi không nơi|Ngàn xưa khiến kẻ trông vời vời|Pháp môn bất nhị thôi chớ hỏi|Ðêm về trăng sáng trên cảnh đồi.|Một hôm, Sư dạo núi nhìn xem bốn phía rồi bảo thị giả: »Ngày nào lại đến ở đây.« Thị giả biết Sư sắp tịch, cầu xin kệ di chúc. Sư bảo: »Bình sinh chỉ lo nói quá nhiều.« Hôm sau, Sư đem giày dép, y hậu phân chia và bảo chúng: »Ngày bảy tháng bảy lại gặp nhau.« Ðúng ngày mồng bảy tháng bảy năm Hoàng Hựu thứ tư (1058) đời nhà Tống, Sư tắm gội xong nằm xoay đầu về hướng Bắc an nhiên thị tịch. Vua sắc thuỵ là Minh Giác Ðại sư.
Tuyết Phong Nghĩa Tồn 雪峰義存; C: xuéfēng yìcún; J: seppō gison; 822-908;|Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðức Sơn Tuyên Giám. Từ dòng thiền của Sư xuất sinh ra hai tông lớn của Thiền tông, đó là tông Vân Môn và Pháp Nhãn. Sư Ấn khả cho 56 môn đệ, trong đó các vị Vân Môn Văn Yển, Huyền Sa Sư Bị và Trường Khánh Huệ Lăng là ba vị danh tiếng nhất.|Sư sinh trong một gia đình mộ đạo. Thuở nhỏ Sư không ăn thịt cá, muốn xuất gia nhưng cha mẹ không cho. Năm 12 tuổi, Sư theo cha đến chùa. Gặp một Luật sư, Sư làm lễ nói »Thầy con« và sau đó xin ở lại học luôn. Sau khi thụ giới cụ túc tại chùa Bảo Sát, U Khê, Sư tham học với nhiều Thiền sư. Ban đầu Sư đến Thiền sư Lương Giới ở Ðộng Sơn làm Ðiển toạ, tại đây có tỉnh, sau đến Ðức Sơn được thầm nhận.|Mặc dù chưa triệt ngộ, Sư cùng Thiền sư Nham Ðầu Toàn Hoát từ giã Ðức Sơn đi du phương. Nham Ðầu ngày ngày chỉ lo ngủ, Sư chỉ chăm Toạ thiền. Một hôm Sư đánh thức Nham Ðầu: »Sư huynh! Sư huynh! hãy dậy!« Nham Ðầu hỏi: »Cái gì?« Sư nói: »Ðời nay chẳng giải quyết xong, lão Văn Thuý (tức là Thiền sư Khâm Sơn) đi Hành cước đến chỗ nơi, sẽ bị y chê cười. Từ hôm đến nay sao cứ lo ngủ!« Nham Ðầu nạt: »Ngủ đi! Mỗi ngày ngồi trên giường giống như Thổ địa trong thôn xóm hẻo lánh, sau này làm mê hoặc người trong thiên hạ« Sư tự chỉ hông ngực thưa: »Tôi trong ấy thật chưa ổn, chẳng dám tự dối« Nham Ðầu bảo: »Ta bảo Huynh ngày kia sẽ nhằm trên đỉnh chót vót cất am tranh xiển dương đại giáo, vẫn còn nói câu ấy?« Nham Ðầu bảo Sư nói sở đắc, được thì chứng minh, không được thì phá bỏ. Sư trình sở đắc nơi Ðộng Sơn (Lương Giới) và Ðức Sơn, Nham Ðầu đều gạt bỏ, hét bảo: »Huynh chẳng nghe nói, từ cửa vào chẳng phải của báu trong nhà!« Sư bèn hỏi: »Về sau thế nào là phải?« Nham Ðầu nói: »Về sau muốn xiển dương đại giáo, mỗi mỗi phải từ hông ngực mình ra, sau này cùng ta che trời che đất đi.« Nhân câu này Sư đại ngộ, lễ bái và nói: »Sư huynh, ngày nay mới là thành đạo ở Ngao Sơn.«|Sau Sư đến núi Tuyết Phong dựng một am nhỏ ngụ tại đây. Không bao lâu thiền giả mọi nơi đến tham vấn và nơi này trở thành một thiền viện với 1500 người tham thiền. Môn đệ của Sư nổi danh về kỉ luật, trật tự nề nếp tu hành và rất nhiều người ngộ đạo tại đây.|Ðời Lương, niên hiệu Thái Bình (908) ngày mùng hai tháng năm, Sư để kệ truyền pháp xong nửa đêm nhập diệt, thọ 87 tuổi, 59 tuổi hạ.
Tuyết Thôn Hữu Mai 雪村有梅; J: sesson yūbai; 1288-1346;|Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế. |Ban đầu, Sư thụ giáo nơi Thiền sư Nhất Sơn Nhất Ninh tại thiền viện Kiến Trường (kenchō-ji) ở Liêm Thương (kamakura). Năm 1307, Sư cất bước sang Trung Quốc tu học nhưng không may, bị nghi là gián điệp và phải ngồi tù 10 năm liền. Sau khi được thả, Sư chu du đây đó, tham vấn nhiều vị Thiền sư danh tiếng bấy giờ. Năm 1328, Sư trở về Nhật và theo lời thỉnh cầu của vị Tướng quân (shōgun) Túc Lợi Tôn Thị (j: ashikaga takauji) trụ trì chùa Vạn Thọ (manju-ji). Năm 1345, Sư được cử trụ trì chùa Kiến Nhân (kennin-ji). Cùng với Nhất Sơn Nhất Ninh, Sư được xem là người khai sáng phong trào Ngũ Sơn văn học (gosan bungaku) tại Nhật.
U-đi-li-pa S: udhilipa; »Người chim«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 9 hoặc 11.||H 71: U-đi-li-pa (udhilipa) đang hoà mình vào không gian.|Ông thuộc giòng dõi vương tước, sống sung sướng trong cung điện xa hoa. Ngày nọ, ông thấy một con chim bay trên trời bỗng nhiên phát ý nguyện muốn bay được như chim. Lần nọ, vị Ma-ha Tất-đạt Thánh Thiên đến khất thực, ông cúng dường hậu hỉ rồi quì lạy xin học phép biết bay. Thánh Thiên cho ông nhập môn một Tan-tra đặc biệt, bảo ông phải đi đến 24 thánh địa, tìm kiếm 24 thuốc quý của 24 vị Không hành nữ (s: catuṣpīṭha-mahāyoginī-tan-tra), đọc thần chú của các vị đó hàng vạn lần. Ông vâng lời, hành hương và sau khi trở về gặp lại Thánh Thiên, ông được chỉ cách sắc thuốc. Sau 12 năm thì thuốc sắc xong, quả nhiên U-đi-li-pa bay được. Người đời gọi ông là »Du-già sư biết bay«. Bài thánh ca của ông như sau:|Chỉ điên mới theo đuổi,|dòng tư tưởng lao xao.|Bỏ đi thói quen đó,|Nghiệp sẽ dứt theo liền.|Ðừng rong ruổi nơi đâu,|tâm tự thấy điểm giữa.|Cố tìm nơi đâu khác,|chỉ phí hoài công thôi.|(Xem tên của 24 Thánh địa dưới Jô-gi-pa).
U-pa-na-ha S: upanaha; »Thợ đóng giày«;|Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thế kỉ nào.|U-pa-na-ha là người thợ đóng giày tại Sen-đô-na-ga (seṅdhonagar). Ngày nọ thấy một Du-già sư đi ngang, ông bỗng sinh lòng mến mộ, đi theo xin học Phật pháp. Vị này chỉ ông nguyên nhân của mọi cảnh Khổ trên đời và niềm vui khi thoát được sinh tử. Ông cầu xin phép tu tập để thoát khổ, vị Du-già sư Quán đỉnh cho ông và bảo:|Những chiếc chuông bé tí,|gắn trên hai đôi giày,|buông tiếng chuông dễ chịu.|Lắng nghe tiếng chuông đó,|và quán tưởng như sau:|Âm và Không là một.|Người thợ giày quán như thế chín năm trời. Dần dần các Ô nhiễm trong tâm ông tan biến, những thứ ô nhiễm che mất huệ giác của ông, làm trì trệ khả năng thật sự nơi ông. Ông sống thêm chín trăm năm nữa để giáo hoá. Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Một trái tim thanh tịnh,|khi mong cầu điều gì,|điều đó liền hiển hiện.|Thật tại rất sinh động,|và cũng rất nhạy cảm,|những gì ta muốn có,|tức khắc thành sự thật.
Ức 億; C: yì; J: oku;|Có hai nghĩa: 1. Trăm triệu (100.000.000), một số lượng lớn; 2. Đếm, tính, ước lượng.
Ứng lượng khí 應量器; J: ōryoki; S: pātra;|Ðược dịch theo âm là Bát-đà-la, Bát.
Ứng thân 應身; S: nirmāṇakāya; hoặc Ứng hoá thân, Hoá thân;|Ba thân
Ứng Thuận Vương 應順王; tk. 13;|Một Cư sĩ ngộ yếu chỉ thiền, được xem là môn đệ trong thiền phái Vô Ngôn Thông, đời thứ 15. Ông đắc pháp nơi Thiền sư Tức Lự và được xếp ngang hàng với các vị Thiền sư danh tiếng thời bấy giờ. Ông cũng là người cuối cùng được ghi lại trong hệ thống truyền thừa của dòng Vô Ngôn Thông trước khi dòng thiền này được thiền phái Trúc Lâm Yên Tử hấp thụ.
Ưu 優; C: yōu; J: yū, u;|Có hai nghĩa: 1. Hơn, vượt trội hơn, tốt hơn; 2. Dùng để chú âm u trong tiếng Phạn và Pa-li.
Ưu-bà-cúc-đa 優婆菊多; S: upagupta;|Tổ thứ tư của Thiền tông Ấn Ðộ.
Ưu-ba-đề-xá 優波提舍; S: upadeśa, upadaiśa; cách phiên âm Hán Việt, dịch nghĩa là Luận nghị (論議);|Nghĩa là lời dạy, lời khai thị, bài luận giải, sự tranh luận. A-tì-đạt-ma cũng được gọi là Ưu-ba-đề-xá.
Ưu-bà-đề-xá 優婆提舍; C: yōupótíshè; J: yūbadaisha;|Phiên âm chữ upadeśa từ tiếng Phạn, (t: gtan la phab pa), nghĩa là bàn cãi, thảo luận, tranh luận, đặc biệt về đề tài triết học. Dịch sang tiếng Hán là Luận nghị (論議). Là 1 trong 12 thể loại của Kinh luận Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經), nghĩa là thảo luận về giáo lí, đưa ra những câu hỏi và trả lời.
Ưu-bà-di 優婆夷; C: yōupóyí; J: ubai; S, P: upāsikā; dịch nghĩa là Cận sự nữ;|Phiên âm chữ upāsikā từ tiếng Phạn. Nữ Phật tử tu tập tại gia; Nữ cư sĩ, Cận sự nữ. Cư sĩ.
Ưu-ba-li 優波離; C: yōupōlí; J: upari; S, P: upāli; |Một trong Mười đại đệ tử của Phật. Ưu-ba-li nguyên là thợ cạo cho dòng Thích-ca. Về sau, khi vào Tăng-già, Ưu-ba-li lại có vị trí cao hơn các vương tử Thích-ca vì được Phật thu nhận trước. Nhờ tài cạo râu tóc, khi vào Tăng-già Ưu-ba-li lại chuyên trách cạo đầu cho các tăng sĩ. Ưu-ba-li nổi tiếng là người giữ giới luật nghiêm minh. Trong lần Kết tập thứ nhất, Tôn giả được hỏi về giới luật và những gì Tôn giả nói đều được ghi vào Luật tạng (律藏; s, p: vinaya-piṭaka).
Ưu-bà-li 優婆離; C: yōupólí; J: ūbari; S: upāli, cũng viết Ưu-ba-li (優波離).|Ưu-ba-li (優波離)
Ưu-bà-tắc 優婆塞; C: yōupósē; J: ubasoku; S: upāsa-ka.|Phiên âm từ tiếng Phạn. Nam Phật tử tu tập tại gia; Nam cư sĩ, Cận sự nam. Thuật ngữ tiếng Phạn nầy được dùng trong nhiều hệ phái tôn giáo Ấn Độ, sau được Phật giáo sử dụng. Cư sĩ.
Ưu-bà-tắc giới kinh 優婆塞戒經; C: yōupósē jiè jīng; J: ubasoku kai kyō;|Kinh, 7 quyển, Đàm-vô-sấm (曇無讖) dịch.
Ưu-bát-la 優鉢羅; C: yōubōluó; J: uhatsura; S: utpala;|Có hai nghĩa: 1. Tên một loài hoa, được mô tả là có màu đỏ, hoặc xanh lục trong nhiều kinh văn khác nhau; 2. Trong kinh Pháp Hoa, đó là tên của một vị Long vương (theo kinh Pháp Hoa).
Ưu-đà-di 優陀夷; C: yōutuóyí; J: udai; S: udāyin.|Ô-đà-di (烏陀夷).
Ưu-đà-na 憂 (優) 陀那; C: yōutuónà; J: udana; S, P: udā-na; danh từ dịch âm, dịch nghĩa Tự thuyết;|Phiên âm chữ udāna từ tiếng Phạn, là những lời dạy của đức Phật mà không xuất phát từ sự thưa hỏi hay gợi ý của đệ tử. Dịch sang tiếng Hán là Tự thuyết (自説). Là 1 trong 12 thể loại của kinh luận Phật giáo (Thập nhị bộ kinh 十二部經). Tiểu bộ kinh
Ưu-đàm 優曇; S: udumbara; dịch trọn âm Hán Việt là Ưu-đàm-ba-la, dịch nghĩa là Linh Thuỵ, là »Ðiềm lành linh ứng«;|Một loài hoa chỉ nở ba ngàn năm một lần (có thuyết nói là 12 năm) để báo hiệu một Chuyển luân vương (s: cakravartī-rāja, ca-kravartin) hoặc một vị Phật giáng sinh.
Ưu-lâu-tần-loa 優樓頻螺; C: yōulóupínluó; J: urubinra;|Thôn làng nơi Tôn giả Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp (優樓頻螺迦葉; s: uruvilvā-kāśyapa) sinh ra.
Ưu-lâu-tần-loa Ca-diếp 優樓頻螺迦葉; C: yōulóupínluó jiāshě; J: u-rubinra kashō; S: uruvilvā-kāśyapa.|Người anh cả trong 3 anh em Ca-diếp (Tam Ca-diếp 三迦葉), đều là đệ tử thân cận của Thích-ca Mâu-ni. Có thời gian Tôn giả sống ở làng Ưu-lâu-tần-loa (s: uruvilvā) xứ Ma-kiệt-đà (s: magadha).
Ưu liệt 優劣; C: yōuliè; J: yūretsu;|Tốt và xấu; xuất sắc và yếu kém.
Ưu-tất-xoa 優畢叉; C: yōubìchā; J: uhissha;|Phiên âm chữ upekṣa từ tiếng Phạn, dịch sang tiếng Hán là Xả (捨 hoặc 舎), nghĩa là »xả bỏ mọi quan niệm cực đoan«.
Vân bản 雲版; J: umpan;|Một tấm bản bằng đồng dùng để báo hiệu từng khoảng thời gian trong ngày của một Thiền viện. Chữ »Vân« được dùng vì tấm bản này thường được viền trang trí xung quanh với dạng mây.|Những dụng cụ tạo âm thanh như vân bản được dùng để thay thế khẩu lệnh trong thời gian Toạ thiền căng thẳng. Âm thanh của vân bản hoặc một chuông đồng có một tác dụng lớn cho một thiền sinh, tuỳ theo tâm trạng của họ. Trong một thiền viện im lặng, tiếng vang của vân bản có thể đi »sâu đến tận tuỷ«, và cũng có thể là một yếu tố để cho các thiền sinh Kiến tính, ngộ đạo.
Vân Cư Ðạo Ưng 雲居道膺; C: yúnjū dàoying; J: ungo dōyō; ?-902; |Thiền sư Trung Quốc, môn đệ của Ðộng Sơn Lương Giới. Dòng thiền của Sư là dòng chính của tông Tào Ðộng được truyền đến bây giờ tại Nhật. Dòng của Tổ thứ hai là Tào Sơn Bản Tịch chỉ tồn tại được vài thế hệ (xem biểu đồ cuối sách). |Sư họ Vương, quê ở Ngọc Ðiền, U Châu, xuất gia từ nhỏ và thụ giới cụ túc năm 25 tuổi. Ban đầu, Sư học kinh luật Tiểu thừa rồi tự than »Kẻ đại trượng phu đâu thể chịu luật nghi còng trói« và đến Thuý Vi lưu học ba năm. Sau, nghe người ca ngợi pháp hội Ðộng Sơn, Sư đến tham vấn.|Một hôm, Ðộng Sơn hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Ðạp núi đến.« Ðộng Sơn hỏi: »Quả núi nào nên ở?« Sư hỏi lại: »Có quả núi nào chẳng nên ở?« Ðộng Sơn bảo: »Thế thì cả nước đều bị Xà-lê chiếm hết.« Sư thưa: »Chẳng phải.« Ðộng Sơn hỏi: »Thế ấy là ngươi đã được đường vào?« Sư thưa: »Không đường.« Ðộng Sơn hỏi: »Nếu không đường làm sao được cùng Lão tăng gặp nhau?« Sư thưa: »Nếu có đường thì cùng Hoà thượng cách núi vậy.« Ðộng Sơn bảo: »Kẻ này về sau ngàn muôn người nắm chẳng đứng.«|Sư cất am ở riêng, trải qua nhiều ngày không xuống trai đường. Ðộng Sơn hỏi vì sao thì Sư thưa có Thiên thần cúng dường. Chiều đến, Ðộng Sơn gọi Sư vào hỏi: »Am chủ Ưng!« Sư ứng thinh: »Dạ!« Ðộng Sơn hỏi: »Chẳng nghĩ thiện, chẳng nghĩ ác, là cái gì?« Sư trở về am ngồi yên, Thiên thần tìm không ra mới thôi cúng dường.|Sau khi được Ðộng Sơn Ấn khả, Sư đến Vân Cư trụ trì, học chúng đến rất đông không dưới 1500 chúng, tông phong của Ðộng Sơn rất thịnh hành.|Sư tịch ngày 03 tháng giêng niên hiệu Thiên Phục năm thứ hai đời Ðường sau 30 năm hoằng hoá tại đây.
Vân Cương 雲岡; C: yúngāng;|Một vùng hang động nổi tiếng tại Trung Quốc, có nhiều di tích Phật giáo, được xây dựng giữa 460 và 540 và là một trong những di tích văn hoá quan trọng nhất. Người ta tìm thấy 53 hang động, dài trên 1km. Tại đó có khoảng 50 000 tranh tượng Phật, Bồ Tát và các vị Thánh khác. Tượng Phật lớn nhất tại đó cao đến 17m và là một trong những tượng lớn nhất tại Trung Quốc. |Ðộng đầu tiên được xây dựng khoảng năm 460. Trong giai đoạn một, các hang động này được thiết lập do sư Ðàm Dược hướng dẫn, đó là các động số 16-20. Các hang động của giai đoạn này thường có hình tròn. Trong giai đoạn hai (động số 5-10), các động có hình vuông thường có tượng Phật ở giữa, cửa vào có vô số tượng nhỏ, tượng Bồ Tát, hình các thánh tích… Ðộng quan trọng nhất là động số 5, 6, trong đó cuộc đời của Phật Thích-ca, từ lúc sinh ra đến lúc giác ngộ được trình bày lại. Trong một số các động khác, bộ kinh Duy-ma-cật sở thuyết (s: vimalakīrtinirdeśa-sūtra) được minh hoạ. Các động cuối cùng được xây vào thời nhà Tuỳ (589-618).|Các động ở Vân Cương là dấu hiệu »sám hối« về việc truy bức đạo Phật trong năm 446, đời nhà Tống và chứng tỏ đạo Phật sau đó được triều đình bảo hộ. Sách vở truyền lại cho thấy việc xây dựng các công trình này vừa do triều đình vừa do giáo đồ đóng góp. Triều đình thì mong được phúc đức để quốc thái dân an, Phật tử thì mong nhờ đó tái sinh trong Tịnh độ.|Nghệ thuật xây dựng và tạc tượng Vân Cương chịu ảnh hưởng mạnh của nghệ thuật Ấn Ðộ (Càn-đà-la) và Trung á; tranh tượng các vị Phật tạo một cảm giác bất động, còn các vị Bồ Tát có vẻ sinh động và gần gủi hơn. Một số trang trí khác như hình rồng, chim, hoa sen, hào quang các vị Phật thì lại thuần tuý nghệ thuật Trung Quốc.
Vấn đáp 問答; C: wèndá; J: mondō;|Là những cuộc đối đáp trong Thiền tông, giữa thầy và trò về một Công án hay một vấn đề làm thiền sinh thao thức. Thiền sư thường thường trả lời theo một cách nằm ngoài quy ước, với mục đích đánh thức trực giác nơi thiền sinh (Pháp chiến).|Nhiều vấn đáp đã trở thành công án trong lịch sử Thiền:|Tăng hỏi Ðộng Sơn (Thủ Sơ): »Thế nào là Phật?« Ðộng Sơn đáp: »Ba cân gai« (麻三斤).|Tăng hỏi Mã Tổ: »Thế nào là Phật?« Mã Tổ đáp: »Tức tâm tức Phật« (即心即佛).|Tăng khác cũng hỏi: »Thế nào là Phật?« Mã Tổ đáp: »Phi tâm phi Phật« (非心非佛).
Vân hà 云何; C: yún hé; J: unga;|»Vì sao?«, »Ông nghĩ như thế nào?« (s: ka-tham-krtvā).
Vạn Hạnh 萬行; ?-1018|Thiền sư Việt Nam, thuộc đời thứ 12 dòng Thiền Tì-ni-đa Lưu-chi.|Sư họ Nguyễn, người làng Cổ Pháp, thuở nhỏ đã là người thông minh, học Tam giáo (Nho, Lão, Thích) và nghiên cứu Bách luận. Năm 21 tuổi, Sư theo Thiền sư Ðịnh Huệ xuất gia và thụ học với Thiền Ông Ðạo Giả ở chùa Lục Tổ làng Dịch Bảng, phủ Thiên Ðức. Sau khi Thiền Ông tịch, Sư kế tiếp trụ trì chùa này, chuyên tập »Tổng trì Tam-ma-địa« và cũng vì thế khuynh hướng Mật giáo của Sư rất rõ. Vua Lê Ðại Hành rất tôn kính Sư.|Năm 980 tướng Tống là Hầu Nhân Bảo đem quân đánh nước ta, Sư tiên đoán vài ngày sau giặc sẽ rút, quả nhiên đúng như thế. Ðến lúc Lê Ngọa Triều lên ngôi, nhân dân oán ghét sự tàn bạo của vua. Lúc đó Lí Công Uẩn làm chức Thân vệ, có theo học thiền với Sư. Nhân cơ hội đó Ðào Cam Mộc bàn mưu tính kế với Sư đưa Lí Công Uẩn lên ngôi, xưng là Lí Thái Tổ, niên hiệu Thuận Thiên. Ðể chiêu an bá tính, Sư ra yết thị:|蒺藜沉北水。李子樹南天|四方戈干靜。八表賀平安|Tật Lê trầm Bắc thuỷ, Lí tử thụ Nam thiên|Tứ phương qua can tịnh, Bát biểu hạ bình an.|*Tật Lê chìm biển bắc,|Cây Lí che trời nam.|Bốn phương binh đao dứt,|Tám hướng thảy bình an.|Năm Thuận Thiên thứ 9 (1018), Sư không bệnh, gọi chúng nói kệ:|身如電影有還無。萬木春禜秋又枯|任運盛衰無怖畏。盛衰如露草頭鋪|Thân như điện ảnh hữu hoàn vô|Vạn mộc xuân vinh thu hựu khô|Nhậm vận thạnh suy vô bố uý|Thạnh suy như lộ thảo đầu phô.|*Thân như bóng chớp có rồi không,|Cây cỏ xuân tươi, thu đượm hồng,|Mặc cuộc thịnh suy không sợ hãi,|Thịnh suy như cỏ hạt sương đông.|Sau đó Sư bảo: »Các ngươi cần trụ chỗ nào? Ta chẳng lấy chỗ trụ mà trụ, chẳng y không trụ mà trụ.« Sau khi Sư tịch, nhà vua và đệ tử làm hoả táng và xây tháp cúng dường.|Về sau vua Lí Nhân Tông có bài truy tán:|萬行融三際,眞符古讖機|鄉關名古法,柱錫鎭王畿|Vạn Hạnh thông ba mé,|Thật hợp lời sấm xưa,|Quê nhà tên Cổ Pháp,|Dựng gậy vững kinh vua.|Hiện chùa Tiêu Sơn tại tỉnh Hà Bắc thờ tượng của Sư.
Vân Hoa Trí Nghiễm 雲華智儼; 602-668, còn được gọi là Chí Tướng Tôn giả;|Cao tăng kiêm học giả vào đời Đường, về sau được suy tôn như là tổ thứ hai của Hoa Nghiêm tông Trung Hoa. Sư là đệ tử của Đỗ Thuận (杜順), và là thầy của Pháp Tạng (法藏) và Nghĩa Tương (義湘, k: ŭisang). Đương thời, Sư thường được gọi là Chí Tướng Đại sư (至相大師) và Vân Hoa Tôn giả (雲華尊者). Trước khi hành đạo, Sư làm lễ trước Ðại tạng và rút từ đó một quyển kinh ra để tu theo. Quyển kinh đó chính là bộ kinh Ðại phương quảng Phật hoa nghiêm và từ đây, Sư trì chí tụng đọc kinh này. Sư bắt đầu học Phật với ngài Đỗ Thuận vào năm 12 tuổi tại chùa Chí Tướng ở núi Chung Nam, sau một thời gian, sư thông thạo các giáo lí Đại thừa. Sư thụ giới cụ túc năm 20 tuổi, sau đó sư nghiên cứu sâu vào Tứ phần luật (四分律), A-tì-đạt-ma Câu-xá luận, Thành thật luận (成實論), Thập địa luận (十地論), kinh Niết-bàn, v.v… Sau đó, sư tập trung nghiên cứu kinh Hoa Nghiêm và những lí thuyết xuất phát từ kinh nầy. Sư trứ tác khá nhiều. Các tác phẩm của sư gồm có: Đại phương quảng Phật Hoa Nghiêm kinh sưu huyền phân tể thông trí phương quỹ (大方廣佛華嚴經搜玄分齊通智方軌), 10 quyển; Hoa Nghiêm kinh nội chương môn đẳng tạp khổng mục (華嚴經内章門等雜孔目), 4 quyển; Hoa Nghiêm ngũ thập yếu vấn đáp (華嚴五十要問答), 2 quyển; Hoa Nghiêm nhất thừa thập huyền môn (華嚴一乘十玄門), 1 quyển; Kim Cương Bát-nhã ba-la-mật kinh lược sớ (金剛般若波羅蜜經略疏); Vô tịnh nhiếp luận sớ (無性攝論疏) v.v… Tiểu sử của sư có thể đọc trong quyển thứ 25 của Tục cao tăng truyện (續高僧傳). Để nghiên cứu sâu hơn, xin xem tác phẩm của Gimello (1976) .
Vân Môn tông 雲門宗; C: yúnmén-zōng; J: ummon-shū;|Vân Môn Văn Yển, Ngũ gia thất tông.
Vân Môn Văn Yển 雲門文偃; C: yúnmén wényǎn; J: ummon bun'en; 864-949; |Thiền sư Trung Quốc lỗi lạc, khai sáng Vân Môn tông. Sư nối pháp của Tuyết Phong Nghĩa Tồn và là thầy của nhiều vị đạt đạo như Hương Lâm Trừng Viễn, Ðộng Sơn Thủ Sơ, Ba Lăng Hạo Giám v.v… (khoảng 60 vị). Những pháp ngữ quan trọng nhất của Sư được ghi lại trong Vân Môn Khuông Chân Thiền sư quảng lục (雲門匡眞禪師廣錄).|Sư họ Trương, quê ở Gia Hưng. Lúc nhỏ theo Luật sư Chí Trừng chùa Không Vương xuất gia và thụ giới tại giới đàn Tì Lăng. Hầu hạ Chí Trừng vài năm, Sư đến Mục Châu (Trần Tôn Túc) hỏi đạo. Mục Châu thấy Sư liền đóng cửa lại. Sư đến gõ cửa, Mục Châu hỏi: »Ai?« Sư thưa: »Con.« Mục Châu hỏi: »Làm gì?« Sư thưa: »Việc mình chưa sáng, xin thầy chỉ dạy.« Mục Châu mở cửa, thấy Sư liền đóng lại. Sư cứ đến như vậy ba ngày liên tục. Lần thứ ba, Mục Châu vừa hé cửa, Sư liền chen vào, Mục Châu bèn nắm đứng Sư bảo: »Nói! Nói!« Sư vừa suy nghĩ, Mục Châu xô ra bảo: »Cây dùi đời Tần« và đóng cửa lại khiến một chân Sư bị thương. Sư nhân đây có ngộ nhập. Mục Châu khuyên Sư đến Tuyết Phong và nơi đây, Sư được ấn khả. Lúc đầu, Sư trụ trì chùa Linh Thụ một thời gian, sau đến Vân Môn trụ trì chùa Quang Thới, học chúng tụ tập rất đông.|Sư thượng đường, đưa cây gậy trong tay lên bảo chúng: »Phàm phu gọi nó là thật, Nhị thừa phân tích gọi nó là không, Duyên giác gọi nó là huyễn có, Bồ Tát thì đương thể tức không, Thiền gia thì thấy cây gậy gọi là cây gậy, đi chỉ đi, ngồi chỉ ngồi, không được động đến.«|Những lời dạy của Sư rất được ưa chuộng trong giới thiền sau này và không có vị nào khác Sư được nhắc đến nhiều trong các tập Công án lớn (Bích nham lục, 18 công án, Vô môn quan, 5 công án). Người ta nói rằng, pháp ngữ của Sư lúc nào cũng đạt đủ ba điều kiện: 1. Thích hợp với câu hỏi như »nắp đậy nồi«; 2. Có năng lực cắt đứt vô minh, suy nghĩ cảm giác phân biệt như một cây gươm bén và 3. Thích hợp với khả năng tiếp thu của người hỏi như »một làn sóng theo một làn sóng.«||H 73: Thiền sư Vân Môn, Bạch Ẩn Huệ Hạc minh hoạ.|Sư là một trong những Thiền sư đầu tiên sử dụng những lời vấn đáp của các vị tiền nhân để giảng dạy, và từ đây xuất phát ra phương pháp khán Thoại đầu của Thiền tông sau này. Thông thường, Sư đưa ra một »câu trả lời khác« (別語; biệt ngữ; j: betsugo) những câu trả lời trong những cuộc Vấn đáp (j: mondō) hoặc Pháp chiến (j: hossen) được Sư nêu ra giảng dạy. Sau đó Sư lại nêu ra một câu hỏi và tự trả lời thay cho đại chúng với một »câu thay thế« (代語; đại ngữ; j: daigo), như trong công án thứ 6 của Bích nham lục:|Sư bảo: »Mười lăm ngày về trước chẳng hỏi ông, mười lăm ngày về sau thử nói một câu xem?« Sư tự đáp thay chúng tăng: »Ngày qua ngày, ngày nào cũng là ngày tốt« (Nhật nhật thị hảo nhật).|Những câu trả lời của Sư có lúc chỉ là một chữ duy nhất (Nhất tự quan); chúng được xem là những công án hiệu nghiệm nhất trong thiền ngữ.||H 74: »Ngày qua ngày, ngày nào cũng là ngày tốt« (Bút pháp của Thiện Thuận).|Mặc dù Sư rất đề cao việc dùng ngôn ngữ sống động (hoạt cú) để dạy và sử dụng nó rất tài tình nhưng Sư lại rất kị ngôn ngữ trên giấy và nghiêm cấm môn đệ không được ghi chép lại những lời dạy của mình. Nhiều pháp ngữ của Sư còn được truyền lại đến ngày nay là nhờ một môn đệ lén viết vào một ca-sa rồi sau đó mang xuống núi. Tông của Sư được lưu truyền đến thế kỉ 12 và các vị kế thừa tông này đều đóng góp nhiều cho việc lưu giữ thiền ngữ cho những thế hệ sau.|Niên hiệu Càn Hoà năm thứ bảy (949) nhà Hán, ngày mùng 10 tháng 4, Sư ngồi ngay thẳng viên tịch thọ 81 tuổi.
Vân Nham Ðàm Thạnh 雲巖曇晟; C: yúnyán tánshèng; J: ungan don-jō; 781-841;|Thiền sư Trung Quốc, đắc pháp nơi Dược Sơn Duy Nghiễm. Ðộng Sơn Lương Giới là môn đệ giỏi nhất của Sư, là người khai sáng tông Tào Ðộng.|Lúc đầu, Sư đến học nơi Bách Trượng nhưng ở đây hai mươi năm đến lúc Bách Trượng tịch vẫn chưa sáng tỏ. Ðến Dược Sơn, Dược Sơn hỏi: »Từ đâu đến?« Sư thưa: »Từ Bách Trượng đến« Dược Sơn hỏi: »Bách Trượng có ngôn cú gì dạy đồ chúng?« Sư thưa: »Bình thường Ngài nói: ›Ta có một câu đầy đủ trăm vị.‹« Dược Sơn bảo: »Mặn là vị mặn, lạt là vị lạt, chẳng mặn chẳng lạt là vị bình thường, thế nào là một câu đầy đủ trăm vị?« Sư không đáp được. Dược Sơn hỏi tiếp: »Sinh tử trước mắt làm sao tránh?«. Sư thưa: »Trước mắt không sinh tử.« Dược Sơn hỏi: »Ở Bách Trượng bao nhiêu lâu?« Sư thưa: »Hai mươi năm«. Dược Sơn bảo: »Hai mươi năm nơi Bách Trượng mà Tập khí trần tục vẫn chẳng trừ.«|Ngày khác – nhân lúc Sư đứng hầu – Dược Sơn hỏi: »Bách Trượng lại nói pháp gì?« Sư trình: »Có khi thượng đường, đại chúng nhóm họp xong, Ngài lấy gậy đuổi tan, rồi gọi đại chúng. Ðại chúng xoay đầu nhìn lại thì Ngày hỏi: ›Là cái gì?‹« Dược Sơn bảo: »Sao chẳng sớm nói như thế! Ngày nay do ngươi mà ta được thấy Hải huynh.« Sư nghe câu này triệt ngộ.|Sau, Sư đến núi Vân Nham trụ trì, tuỳ duyên hoằng giáo. Một vị tăng hỏi: »Khi một niệm chợt khởi liền rơi vào ma giới, là thế nào?« Sư hỏi lại: »Ngươi nhân đâu từ Phật giới đến?« Tăng không đáp được, Sư hỏi: »Hội chăng?« Tăng thưa: »Chẳng hội.« Sư bảo: »Chớ bảo hội chẳng được, giả sử hội được cũng chỉ là bên trái, bên phải.«|Ngày 26 tháng 10 năm đầu niên hiệu Hội Xương đời Ðường, Sư có chút bệnh, tắm gội xong gọi Tri sự vào bảo: »Sắm sửa trai, ngày mai có Thượng toạ đi.« Tối hôm 27, Sư viên tịch, thọ 60 tuổi.
Vân Phong 雲峰; ?-956|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông, pháp hệ thứ 3. Sư nối pháp Thiền sư Thiện Hội và truyền lại cho đệ tử là Thái sư Khuông Việt.|Sư họ Nguyễn, quê ở Từ Liêm, quận Vĩnh Khang. Khi mẹ sinh Sư ra, hào quang chiếu đầy nhà. Vì thấy sự linh dị này nên cha mẹ cho phép Sư xuất gia. Lớn lên, Sư theo hầu thiền sư Thiện Hội ở chùa Ðịnh Thiền, làng Siêu Loại. Thiện Hội thường bảo: »Sống chết là việc lớn, cần phải thấu triệt.«Một hôm, Sư hỏi Thiện Hội: »Khi sống chết đến làm sao tránh?« Thiện Hội bảo: »Hãy nắm lấy chỗ không sống chết mà tránh.« Sư hỏi: »Thế nào là chỗ không sống chết?« Thiện Hội bảo: »Ngay trong sống chết nhận lấy mới được.« Sư hỏi: »Làm sao hiểu được?« Thiện Hội bảo: »Ngươi hãy đi, chiều đến!« Chiều đến, Sư lại vào thất. Thiện Hội bảo: »Ðợi sáng mai, chúng sẽ chứng minh cho ngươi.« Sư hoát nhiên tỉnh ngộ, liền quì lạy. Thiện Hội hỏi: »Ngươi thấy đạo lí gì?« Sư thưa: »Con đã lĩnh hội.« Thiện Hội hỏi: »Ngươi hội thế nào?« Sư bèn đưa nắm tay lên thưa: »Chẳng lĩnh hội là cái gì?« Thiện Hội liền thôi.|Sau, Sư trụ trì chùa Khai Quốc trong Kinh Ðô Thăng Long. Niên hiệu Hiển Ðức đời Châu, Sư viên tịch.
Vân Thê Châu Hoằng 雲棲袾宏; C: yúnqī zhūhóng; 1535-1615;|Một Cao tăng Trung Quốc đời Minh. Sư là người phối hợp và phát triển cách tu niệm danh Phật A-di-đà của Tịnh độ tông và phương pháp tu trì của Thiền tông.|Sư cho rằng, khi niệm danh A-di-đà, người ta không nên tập trung vào danh hiệu này thôi, mà còn phải chú tâm vào »sự thật« đứng sau danh hiệu này. Ngoài cái tâm đang niệm danh A-di-đà không có A-di-đà và ngoài A-di-đà không có tâm nào. Ðây là một phương pháp khác để giải thích lời của các vị Thiền sư »Ngoài tâm không có Phật«. Mặt khác, người ta có thể chứng ngộ được chân lí tuyệt đối bằng cách niệm danh A-di-đà và vì vậy, giữa Thiền tông và Tịnh độ tông không có một sự khác biệt nào đáng kể.|Sư ban đầu học Nho, năm 32 tuổi mới xuất gia cầu đạo. Sư tham học với nhiều Cao tăng của các tông phái đương thời. Sư sáng lập chùa Vân Thê tại Hàng Châu, một ngôi chùa có tiếng là giữ giới luật nghiêm ngặt. Sư có quan niệm rằng, người niệm Phật A-di-đà và một người quán Công án trong Thiền tông tuy có khác nhau bề ngoài, khác nhau trong cách tu tập nhưng kết quả đạt được lại như nhau. Niệm danh Phật đến khi tất cả những ý nghĩ được xua đuổi ra khỏi tâm thức, chỉ còn »A-di-đà«, người ta sẽ đạt một trạng thái không khác gì chú tâm vào một công án. Với quan niệm này – song song với việc giữ giới luật – Sư thuyết phục được rất nhiều người tu hành Phật đạo, đặc biệt là trong giới Cư sĩ.
Văn-thù 文殊; S: mañjuśrī; |Văn-thù Sư-lị
Văn-thù Sư-lị 文殊師利; S: mañjuśrī; tên dịch theo âm, thường được gọi tắt là Văn-thù, dịch nghĩa là Diệu Ðức (妙德), Diệu Cát Tường (妙吉祥), cũng có lúc được gọi là Diệu Âm (妙音; s: mañjughoṣa);|Một vị Bồ Tát tượng trưng cho trí huệ, một trong những vị Bồ Tát quan trọng của Phật giáo. Lần đầu tiên người ta nhắc đến Văn-thù trong tác phẩm Văn-thù Sư-lị căn bản nghi quỹ (s: ārya-mañjuśrī-mūlakalpa) ở thế kỉ thứ 4. Tranh tượng trình bày Văn-thù với lưỡi kiếm và kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa, được vẽ khoảng ngang đầu. Người ta xem đó là biểu tượng trí huệ phá đêm tối của Vô minh.|Trong Phật giáo Tây Tạng, các vị luận sư xuất sắc như Tông-khách-ba (t: tsong-khapa) thường được xem là hiện thân của Văn-thù (Chu-cô). Dưới tên Diệu Âm (妙音; mañjughoṣa), »Người với tiếng nói êm dịu«, Văn-thù Bồ Tát thường được tán tụng trước khi hành giả nghiên cứu kinh điển, nhất là kinh điển thuộc hệ Bát-nhã ba-la-mật-đa và học thuyết của Trung quán tông. Ngài là vị Bồ Tát tượng trưng cho kinh nghiệm giác ngộ, đạt được bằng Phương tiện tri thức.|Văn-thù cũng xuất hiện dưới dạng Hộ Thần (s: iṣṭadevatā, sādhita; t: yidam) phẫn nộ, có tên gọi là Diêm-mạn Ðức-ca – »Người chiến thắng tử thần« (s: yamāntaka), có dạng vị thần mang đầu bò. Dạng này là Hộ Thần quan trọng của phái Cách-lỗ (t: gelugpa) tại Tây Tạng.||H 72: Văn-thù Sư-lị dưới dạng mười hai tay (s: nāmasaṅgīti-mañjuśrī). Hai tay dưới cùng đang bắt Ấn thiền, hai tay kế trên đang nhúng vào Bát trong tư thế chuẩn bị rưới nước Cam-lộ, hai tay trước ngực đang bắt ấn chuyển pháp luân, bốn tay bên hông đang trong tư thế cầm cung tên, kiếm và sách (kinh Bát-nhã ba-la-mật-đa), nhằm tiêu diệt Vô minh. Hai tay trên đầu bắt Ấn tối thượng bồ-đề.|Theo truyền thống Phật giáo Trung Quốc, Văn-thù được Phật đích thân Thích-ca giao phó việc truyền bá Phật pháp tại đây và Ngũ Ðài sơn chính là nơi Ngài thuyết pháp. Vì vậy, Ngũ Ðài sơn cũng được xem là trụ xứ của Ngài (Tứ đại danh sơn). Một thuyết khác bảo rằng, Ngài đã từng xuất hiện tại Trung Quốc trong thế kỉ 1, đời Hán Minh Ðế.
Vân thuỷ 雲水; J: unsui; là mây nước;|Trong Thiền tông, danh từ này được dùng để chỉ những thiền sinh mới gia nhập Thiền viện, các Sa-di. Các khung trang trí ở những Thiền viện thường được vẽ hoặc khắc với những mô-típ vân thuỷ.|Ðến và đi vô ý, lưu động tự do tự tại, hợp tán tuỳ theo điều kiện bên ngoài, thích hợp với mọi hoàn cảnh như nước chảy một cách im lặng qua những chướng ngại, tuỳ theo dạng của vật chứa – đó chính là những đặc tính tiêu biểu của mây nước, những đặc tính mà Thiền tông đề cao và tìm cách thực hiện trong cuộc sống.|Lấy mây nước làm gương cho cuộc sống – phong cách này đã được tìm thấy nơi các vị hâm mộ Lão giáo (Lão Tử, Trang Tử), một hệ thống triết lí gây ảnh hưởng rất lớn đến Thiền tông. Rất nhiều thi hào đã ca tụng »mây trắng« (白雲; bạch vân) là biểu tượng của một cuộc sống siêu phàm. John Blofeld viết trong The Wheel of Life: »Trong vạn vật thì người có trí nên chọn nước làm thầy. Nước chinh phục được tất cả… Nước tránh tất cả những chướng ngại với một sự khiêm nhường lạ lùng, nhưng không một chướng ngại nào có thể ngăn cản được nước trên con đường trở về đại dương đã định. Nước thắng bằng sự khiêm nhường, không bao giờ tấn công nhưng vẫn thắng trận cuối. Trí giả noi gương nước mà hành động thì rất khiêm nhường, vô sự, hành động trong vô vi (Bất hành nhi hành) nhưng qua đó mà chinh phục được thế gian.«
Văn tự pháp sư 文字法師; J: monji-hōshi;|Chỉ một »Pháp sư« tinh thông chữ nghĩa trong kinh luận nhưng lại không thấu được huyền nghĩa và trực nhận chân lí, nghĩa là chưa đạt đến trình độ Tri hành hợp nhất, chưa Kiến tính.
Vân vân 云云; C: yúnyún; J: unun;|1. Và như thế, »v.v…«; 2. Chấm dứt một đoạn văn được trích dẫn.
Văn Yển 文偃|Vân Môn Văn Yển
Vệ-xá-li S: vaiśālī; P: vesāli; Hán Việt: Phệ-xá-li (吠舍釐), Tì-da-li;|Thành phố quan trọng trong thời Phật còn tại thế, cách thành phố Patna ngày nay khoảng 40 km, nằm giữa sông Hằng và dãy Hi-mã-lạp sơn. Ðây là kinh đô của dòng Licchavi, thuộc liên minh Bạt-kì (p: vajjī), là nơi vua A-xà-thế định tấn công. Phật Thích-ca đã nhiều lần thăm viếng Vệ-xá-li, là nơi nàng Am-ba tặng Phật một vườn trái cây để an nghỉ với tên Am-la thụ viên (p: āmravāna). Phật đã thuyết nhiều bài kinh quan trọng tại đó. Vệ-xá-li là nơi Kết tập lần thứ 2 năm 386.|Năm 1958 người ta tìm thấy tại đây trong một tháp cũ, một bình nhỏ đựng di cốt, tro và nhiều vật dụng. Có thể đây là phần Xá-lị của Phật được chia cho dân Licchavi.
Vị 味; C: wèi; J: mi;|Có các nghĩa sau: 1. Mùi vị, hương vị; 2. Nếm; 3. Độ nghiêng, khuynh hướng; 4. Cảm giác, không khí; 5. Lí lẽ, ý nghĩa.
Vị 位; C: wèi; J: i;|1. Địa vị, tầng lớp, vị trí, mức độ, chỗ ngồi, thế. Giai vị (s: daśā, avasthā); 2. Đặt vào vị trí, đặt vào một chỗ nhất định; 3. Địa thế, trường hợp; 4. Giai vị chứng đạo; 5. Địa vị của người thống trị.
Vị cảnh 味境; C: wèijìng; J: mikyō; S: rasa-visaya.|Một trong 5 loại trần cảnh (vị trần, đối tượng nhận biết của giác quan). Đối tượng của vị giác được nhận biết bởi thiệt thức.
Vị chí 未至; C: wèizhì; J: mishi;|Viết tắt của Vị chí định (未至定).
Vị chí định 未至定; C: wèizhìdìng; J: mishijō; |Công phu tu tập chuẩn bị để thể nhập vào định Sơ thiền (初禪定).
Vị cư 位居; C: wèijū; J: ikyo;|Trú xứ, nơi cư ngụ.
Vi-da-li-pa S: vyālipa; »Nhà giả kim của kĩ nữ«;|Là vị Tất-đạt cuối cùng trong hệ thống 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống trong thế kỉ thứ 10.|Ông là một Bà-la-môn rất giàu có và mơ ước chế ra được thuốc bất tử. Ông dành hết gia tài mua thật nhiều thuỷ ngân và dị thảo để chế thuốc nhưng không thành, ông tức giận vứt sách chỉ dẫn xuống sông, trở thành người ăn xin. Lần nọ, bên bờ sông Hằng, ông gặp một nàng kĩ nữ cho ông xem một cuốn sách mà nàng nhặt được, thì ra đó là cuốn sách ông đã vứt. Ông kể cho nàng nghe toàn bộ câu chuyện, nghe xong nàng cho ông 30 đồng tiền vàng để ông nghiên cứu tiếp. Ông lại bỏ tiền ra mua các thứ. Một năm trôi qua mà không có kết quả gì vì thiếu một chất nhất định nào đó. Lần nọ, nàng kĩ nữ đang tắm thì có một cánh hoa rơi vào tay, nàng ném hoa đi thì có một giọt nước từ hoa tiết ra rơi vào thuốc. Nhờ đó, thuốc thành tiên dược. Vi-da-li-pa, nàng kĩ nữ và một con ngựa được uống thuốc này cả ba đạt trường sinh bất tử. Sau đó cả ba sống cô độc trên một tảng đá giữa vùng đầm lầy để tránh không cho ai được biết công thức của thuốc này. Nhưng vị Ma-ha Tất-đạt Long Thụ biết được, dùng thần thông bay đến xin đổi công thức của thuốc lấy một chiếc giày biết bay của ông. Sau khi truyền cho Long Thụ công thức bí mật thì Vi-da-li-pa về lại thế gian, xin làm đệ tử của Cha-ba-ri-pa (s: carbaripa) và đạt Tất-địa. Về sau Vi-da-li-pa trở thành một nhà thơ và chuyên ca những bài ca chứng đạo (s: dohā). Bài hát chứng đạo của ông như sau:|Linh ảnh về Thật tại,|là hình ảnh Ðạo sư.|Ðộc cư cao cả nhất,|là quán không vô biên.|Hoà hợp vẹn toàn nhất,|là ngộ được Tự tính,|của mỗi một hiện tượng.|Khi ngươi uống một hơi,|bầu sữa của trời đất,|mới đích thật là sống.
Vị hữu 未有; C: wèiyŏu; J: miu; |Không hiện hữu; chưa bao giờ có; chưa từng có. (s: abhāva, abhūtvā, vinā; t: med pa)
Vị lai 未來; C: wèilái; J: mirai; S: anāgata. |Thời gian chưa đến; tương lai, thế hệ kế tiếp, thời đại tiếp theo.
Vị li dục 未離欲; C: wèilíyù; J: miriyoku; |Trạng thái chưa tự tại đối với sự ham muốn (s: avītarāga). Trong Du-già sư địa luận, giai đoạn nầy tương đương với quả vị Dư lưu, và là giai vị đầu tiên trong ba quả vị li dục (Tam li dục 三離欲).
Vi-na-pa S: vīṇāpa; »Người chơi đàn Vi-na«, còn có biệt danh khác là »Người mê âm nhạc«; |Một trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, không rõ sống trong thời đại nào, có thể trong thế kỉ thứ 8. |Ông là một hoàng tử được vua cha truyền ngôi nhưng không ham thích gì hơn là chơi đàn Vi-na (vīṇā). Hoàng cung mời vị Du-già sư Phật-đà-ba (buddhapa) khuyên giải. Phật-đà-ba khuyên ông quán tính Không trong tiếng đàn, quán âm thanh siêu việt nhất là »Vô âm.« Sau chín năm thực hành, ông đạt Tất-địa. |Sau nhiều năm kiên trì,|và hết lòng tập luyện,|thuần thục đàn Vi-na|Rồi khi ta tu tập,|tiếng dây đàn vô thanh,|ta đánh mất tự ngã.
Vị phân 未分; C: wèifēn; J: mibun; |Không khác biệt; chưa bị phân biệt; chưa bị tách rời.
Vi-ru-pa S: virūpa; »Thầy của Không hành nữ«;|Một Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha) trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, được xem sống trong đầu thế kỉ thứ 9.|Vi-ru-pa sinh dưới thời vua Ðề-bà Ba-la (Thiên Hộ; s: devapāla), từ nhỏ đã xuất gia thụ giới và được hướng dẫn tu tập Mật giáo. Nữ Hộ Thần của ông là một Không hành nữ (s: ḍākinī) với tên Kim cương Va-ra-hi (s: vajra vārāhī). Sau khi đọc tên của vị này đến hai mươi triệu lần trong mười hai năm không có kết quả, dấu hiệu gì của sự tiến triển, ông định vứt bỏ mọi phép tu tập thì một Không hành nữ hiện lên và khai thị: »Con người may mắn kia, đừng lo ngại! Hãy từ bỏ mọi thói quen, quan niệm thị phi, giữ tâm thức vô niệm.« Sau khi tu luyện thêm mười hai năm, Vi-ru-pa đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Bài kệ chứng đạo của ông như sau:|Tính thanh tịnh sẵn có,|Là tự tính của tâm|Kim cương Va-ra-hi đích thật|Ðừng tìm kiếm đâu xa,|dại dột và trẻ con.|Tự tính của tâm thức,|là viên ngọc như ý,|Vượt khỏi mọi khái niệm,|là nhận thức đúng nhất.|Ðặc biệt là sau khi đắc đạo, ông bắt đầu ăn thịt uống rượu do các môn đệ đem đến. Một hôm, các vị trụ trì trong chùa thấy nhiều con bồ câu mất tích, tìm kiếm và thấy ông đang ngồi ăn thịt bồ câu. Kết quả là ông bị trục xuất ra khỏi chùa. Gần chùa có một ao sen lớn và khi Vi-ru-pa rời chùa băng qua ao này, mỗi bước chân ông được một lá sen nâng lên. Thấy vậy, các vị trụ trì hối hận vì đã trục xuất một thánh nhân. Các vị tăng đến hỏi ông vì sao ông lại ăn thịt bồ câu. Bình thản, ông trả lời: »Chúng chỉ là ảo ảnh, ảo ảnh như tất cả các pháp hữu vi.« Ông ra lệnh đem tất cả những xương, lông còn lại của mấy con bồ câu và khẩy ngón tay, tất cả những con bồ câu sống lại và tung cánh bay. Sau đó, ông giao du khắp nơi truyền bá Phật pháp và cuối cùng được lên cõi của các vị Không hành nữ.
Vị tằng hữu 未曾有; C: wèicéng yŏu; J: misōu; |1. Không bao giờ, chưa bao giờ. Chưa từng có bao giờ, từng thấy, từng trải qua; chưa từng xảy ra; chưa từng có bao giờ…; hiếm, bất thường; 2. Trong kịch nghệ và mỹ học Ấn Độ, có một loại thơ gọi là adbhuta, nghĩa là »ngạc nhiên«, hoặc »tôi chưa từng bao giờ…« Do kinh Phật là điều chưa từng thấy trên thế gian, nên thuật ngữ nầy trở nên được dùng như một thuật ngữ chỉ cho 12 thể loại trong kinh văn Phật giáo. A-phù-đạt-ma (阿浮達磨), là sự giải thích những biểu hiện mầu nhiệm của Đức Phật hay của các vị Bồ Tát. Còn được dịch là Hi pháp (希法), Thắng pháp (勝法), Kì đặc pháp (奇特法), Vị tằng hữu pháp (未曾有法), Vị tằng hữu kinh (未曾有經) và phiên âm là A-phù-đà Đạt-ma (阿浮陀達磨), A-phù-đa Đạt-ma (阿浮多達磨), Át-phù-đà Đạt-ma (頞浮陀達磨), và A-phù-đạt-ma (阿浮達磨).
Vị tằng hữu kinh 未曾有經; C: wèicéngyŏu jīng; J: misōu kyō; |Chưa từng trải qua; chưa từng xảy ra; hiếm có, bất thường (s: adbhuta). Một trong 12 thể loại trong kinh Phật. Vị tằng hữu (未曾有).
Vị tằng hữu pháp 未曾有法; C: wèicéngyŏu fă; J: misōu hō; |Chưa từng trải qua; chưa từng xảy ra; hiếm có, bất thường (s: adbhuta; adbhuta-dharma); Vị tằng hữu (未曾有).
Viên Chiếu 圓照; 999-1090|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Vô Ngôn Thông đời thứ 7. Sư kế thừa Thiền sư Ðịnh Hương và là thầy của Quốc sư Thông Biện.|Sư tên Mai Trực, quê ở Phúc Ðường, Long Ðàm, là con của người anh của bà Linh Thái Hậu, vợ vua Lí Thái Tông. Thuở nhỏ, Sư rất thông minh và hiếu học. Một hôm, Sư đến chùa Mật Nghiêm nhờ một vị Trưởng lão xem số. Vị này bảo: »Ngươi có duyên với Phật pháp, nếu xuất gia sẽ là vị Bồ Tát, bằng không thì việc thọ yểu khó giữ.«|Cảm ngộ lời khuyên này, Sư đến ấp Tiêu Sơn thụ giáo với Thiền sư Ðịnh Hương và được truyền tâm ấn. Sư chuyên trì kinh Viên giác và có nhiều điềm linh ứng xảy ra.|Sau, Sư đến kinh đô Thăng Long lập một ngôi chùa để hiệu là Cát Tường. Học giả đến tham vấn rất đông. Sư có soạn một bài thích luận với tên Dược Sư thập nhị nguyện văn, vua Lí Nhân Tông truyền sứ giả mang sang Trung Quốc trình vua Tống Triết Tông. Vua Tống trao cho những vị cao tăng ở đây xem. Xem xong, các vị bảo: »Ðây là nhục thân Bồ Tát ra đời ở phương Nam, giảng giải kinh nghĩa rất tinh vi, chúng tôi đâu dám thêm bớt chữ nào«. Sứ thần về kinh đô tâu lại, vua lại càng kính nể.|Tháng 9 niên hiệu Quảng Hựu thứ 6 đời vua Lí Nhân Tông, Sư gọi môn đồ vào dạy: »Trong thân ta đây, xương lóng gân mạch, tứ đại hoà hợp, ắt phải vô thường. Ví như ngôi nhà khi hoại, nóc mái, xà ngang đều rơi rớt. Tạm biệt các ngươi. Hãy nghe ta nói kệ:|身如牆壁已頹時。舉世匆匆熟不悲|若達心空無色相。色空隱顯任推移|Thân như tường bích dĩ đồi thì|Cử thế thông thông thục bất bi|Nhược đạt tâm không vô sắc tướng|Sắc không ẩn hiển nhậm thôi di.|*Thân như tường vách đã long lay|Ðau đâu người đời luống xót thay|Nếu đạt tâm không, không tướng sắc|Sắc, không ẩn hiện mặc vần xoay.«|Nói xong, Sư ngồi ngay thẳng thị tịch, thọ 92 tuổi, 56 tuổi hạ.|Sư có để lại các tác phẩm như: 1. Tán Viên giác kinh; 2. Thập nhị Bồ Tát hạnh tu chứng đạo trường; 3. Tham đồ hiển quyết.
Viên Chiếu Tông Bản 圓照宗本; ?-1099|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ đắc pháp của Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài. Nối pháp của Sư có bốn vị danh tiếng là Pháp Vân Thiện Bản, Ðầu Tử Tu Ngung, Kim Sơn Pháp Ấn và Tịnh Nhân Phật Nhật.|Sư họ Quản, quê ở Vô Tích, Thường Châu. Sư lúc nhỏ đã dung mạo trang nghiêm, tính tình thuần hậu. Năm được 19 tuổi, Sư theo Thiền sư Ðạo Thăng tại chùa Thừa Thiên Vĩnh An trên núi Cô Tô xuất gia và ở đây hầu hạ thầy.|Bước đầu du phương, Sư đến Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài. Thiên Y dẫn câu chuyện sau hỏi Sư: »Thế Thân (s: vasubandhu) theo đức Di-lặc vào nội cung nghe thuyết pháp rồi trở về. Vô Trước (asaṅga) hỏi Thế Thân: ›Ở nhân gian bốn trăm năm tại cõi trời Ðâu-suất một ngày một đêm. Ðức Di-lặc trong một thời dạy xong năm trăm ức vị thiên tử chứng pháp vô sinh, chưa biết nói pháp gì?‹ Thế Thân đáp: ›Chỉ nói pháp ấy. Thế nào là pháp ấy?‹« Trải qua một thời gian lâu Sư mới ngộ được ý chỉ. Một hôm, Thiên Y hỏi Sư: »Khi tức tâm tức Phật thì thế nào?« Sư thưa: »Giết người đốt nhà có gì là khó!«|Danh tiếng của Sư từ lúc này vang khắp và Sư được thỉnh trụ trì nhiều Thiền viện. Sau, Sư đến chùa Huệ Lâm trụ trì. Vua Tống Thần Tông rất tôn kính Sư.|Sau, Sư lấy cớ tuổi già xin trở về rừng núi. Vua chấp thuận và cho phép Sư tuỳ ý vân du, không ép buộc trụ trì nơi nào. Sư đánh trống từ biệt chúng và nói kệ:|Bản thị vô gia khách|Na kham nhậm ý du|Thuận phong da lỗ trạo|Thuyền tử hạ Dương Châu.|*Vốn là khách không nhà|Nay được tuỳ ý đạo|Thuận gió theo nhịp chèo|Dương Châu thuyền thẳng đến.|Sắp từ biệt nhau, Sư nhắc nhở những người đưa tiễn: »Không nên vui đùa năm tháng, già chết chẳng thẹn cùng người. Chỉ nên siêng năng tu hành chớ lười trể đó mới là thật lòng vì nhau.«|Sau khi chu du hoằng hoá nhiều nơi, Sư lại đến Linh Nham trụ trì. Niên hiệu Nguyên Phù năm thứ hai (1099), lúc sắp tịch, Sư tắm gội xong nằm dài dưới đất. Ðệ tử thấy vậy liền đỡ Sư lên giường nằm và thưa: »Hoà thượng truyền đạo khắp thiên hạ, hôm nay không lẽ chẳng để kệ, mong gắng ngồi yên.« Sư liền bảo: »Kẻ si! Ta bình thường ghét làm kệ, ngày nay cả thảy mong làm gì? Bình thường ta ưng nằm thì nằm, chẳng lẽ ngày nay lại chuyên ngồi? Ðem bút lại.« Chúng đem bút lại, Sư cầm bút viết: »Việc sau trao cho Thủ Vinh«, và ném bút, nằm xuống thị tịch.
Viên giác kinh 圓覺經; C: yuánjué-jīng; J: engaku-kyō; tên ngắn của bộ kinh Ðại phương quảng viên giác tu-đa-la liễu nghĩa kinh (s: mahāvaipulyapūrṇa-buddhasūtra-prasannārtha-sūtra); |Một bộ kinh Ðại thừa quan trọng được Giác Cứu (Phật-đà Ða-la; s: buddhatrāta) dịch sang Hán ngữ năm 693. Kinh này được chia làm mười hai chương, lấy tên của mười hai vị Ðại Bồ Tát làm tên của mỗi chương. Phần nội dung và phần kết thúc bao gồm mười hai lần hỏi đáp. Trong kinh này, mười hai vị Ðại Bồ Tát, trong đó có hai vị Văn-thù và Phổ Hiền, được chỉ dạy về sự viên mãn của Giác ngộ (viên giác). Kinh này có ảnh hưởng lớn trong Thiền tông.
Viên Giác tự 圓覺寺; J: engaku-ji; |Một thiền viện nổi danh của Nhật Bản, nằm tại Liêm Thương (kamakura). Thiền viện này được một vị Thiền sư Trung Quốc là Vô Học Tổ Nguyên khai sáng, với sự ủng hộ của Tướng quân Bắc Ðiều Thì Tông (hōjo tokimune). Thiền viện này là trụ sở chính của thiền phái Viên Giác (engaku-ji-ha) của tông Lâm Tế tại Nhật, được xếp vào hệ thống Ngũ sơn của Liêm Thương. Viên Giác tự là một trong những thiền viện hiếm hoi vẫn còn hoạt động đến thời nay; rất nhiều thiền viện nhỏ đứng dưới sự quản lí của thiền viện này.
Viên Học 圓學; 1053-1116|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi, pháp hệ thứ 17. Sư nối pháp Thiền sư Chân Không và truyền lại cho đệ tử là Quốc sư Viên Thông.|Sư họ Hoàng, quê ở làng Như Nguyệt. Thuở nhỏ, Sư xuất gia tu học tại chùa Ðại An Quốc, huyện Tế Giang, ban đầu đọc hết các loại sách thế tục, đến năm lên hai mươi mới bước vào nghiên cứu nội điển.|Nhân nghe một câu nói của Thiền sư Chân Không, Sư lĩnh hội huyền chỉ. Sau đó, Sư tuỳ phương giáo hoá.|Về sau, Sư trùng tu chùa Quốc Thanh ở làng Phù Cầm và đúc một quả chuông. Sư làm bài kệ dạy chúng:|六識常昏終夜苦。無明被覆久迷慵|晝夜聞鐘開覺悟。懶神淨剎得神通|Lục thức thường hôn chung dạ khổ|Vô minh bị phú cửu mê dung|Trú dạ văn chung khai giác ngộ|Lãn thần tịnh sát đắc thần thông.|*Sáu thức tối tăm khổ đêm dài|Vô minh che đậy mãi mê say|Sớm tối nghe chuông lòng tỉnh giác|Thần lưỡi dứt sạch, được thần thông.|Năm Bính Thìn, niên hiệu Thiên Chương Bảo Tự thứ 4, ngày 14 tháng 6, Sư thị tịch, thọ 64 tuổi.
Viên Ngộ Khắc Cần 圓悟克勤; C: yuánwù kèqín; J: engo kokugon; 1063-1135, cũng được gọi là Phật Quả; |Thiền sư Trung Quốc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sư nối pháp Ngũ Tổ Pháp Diễn và là thầy của Hổ Khâu Thiệu Long và Ðại Huệ Tông Cảo.|Sư là một trong những Thiền sư danh tiếng nhất thời đó và với những môn đệ nói trên, Thiền tông Trung Quốc phất lên như một ngọn đuốc lần cuối trước khi được truyền sang Nhật và bước đến thời kì suy tàn tại bản quốc. Sư nổi danh nhờ biên soạn tập Công án Bích nham lục, một kiệt tác mà ngày nay vẫn còn được rất nhiều người hâm mộ.|Sư sinh trong một gia đình theo Nho giáo. Sau khi xuất gia, Sư chuyên học kinh luận. Một cơn bệnh nguy kịch làm cho Sư thấy rõ con đường giác ngộ không nằm trong văn tự. Vì vậy, Sư Hành cước, thăm viếng nhiều vị Thiền sư. Ðến Thiền sư Thắng ở Chân Giác, Thắng chích máu ở cánh tay bảo Sư: »Ðây là một giọt nước nguồn Tào« (tức là Tào Khê, ám chỉ Lục tổ), Sư kinh hãi nói: »Ðạo vẫn như thế ư?« và ngay ngày hôm sau, Sư rời Thiền sư Thắng.|Cuối cùng, Sư đến Thiền sư Pháp Diễn ở núi Ngũ Tổ. Mặc dù đã trình hết cơ dụng, sở đắc của mình nhưng Pháp Diễn vẫn không chấp nhận. Sư tức giận – cho rằng Pháp Diễn nói lời bừa bãi xoay chuyển người – bèn bỏ đi. Thiền sư Diễn bảo Sư: »Ðợi ông mắc bệnh nặng mới nghĩ đến ta.«|Sư đến Kim Sơn mắc bệnh thương hàn rất nặng. Nhớ đến lời của Pháp Diễn, Sư trở về làm Thị giả. Mới tham thiền ở đây được nửa tháng, Sư gặp một vị quan Ðề Hình (cảnh sát) đến Pháp Diễn vấn đạo. Pháp Diễn nhân đây hỏi: »Ðề Hình thuở thiếu niên từng học Tiểu diễm thi chăng? Có hai câu hỏi gần nhau ›Cô ấy gọi và gọi, Tiểu Ngọc, nhưng lại chẳng có ý gì, chỉ muốn chàng biết qua lời mình: Em ở đây.‹ (Tần hô Tiểu Ngọc nguyên vô sự, chỉ yếu Ðàn Lang nhận đắc thanh; 頻呼小玉元無事秖要檀郎認得聲)«. Ðề Hình ứng: »Dạ! Dạ!« Pháp Diễn bảo: »Hãy chính chắn.« Sư nhân nghe cuộc đàm thoại này có chút tỉnh và sau khi vị quan từ biệt, Sư hỏi Pháp Diễn xem Ðề Hình có hiểu lời dạy chăng. Diễn bảo: »Ông ấy chỉ nhận được thanh.« Sư thưa: »Chỉ cốt đàn lang nhận được thanh, kia đã nhận được thanh, vì sao lại chẳng phải?« Pháp Diễn hỏi: »Thế nào là ý Tổ sư sang?« và tự đáp: »Cây bách trước sân, xem, xem!« Sư ngay lúc này triệt ngộ, chạy thẳng một mạch ra sân. Thấy con gà đậu trên lan can vỗ cánh gáy, Sư tự bảo: »Ðây há chẳng phải thanh« và trở vào thất trình bài kệ (Ðịnh Huệ dịch):|金鴨香鎖錦繡幃。笙歌叢裏醉扶歸|少年一段風流事。只許佳人獨自知|Kim áp hương tiêu cẩm tú vi|Sảnh ca tòng lí tuý phù quy|Thiếu niên nhất đoạn phong lưu sự|Chỉ hứa giai nhân độc tự tri.|*Lò hương bên trướng khói vừa tan|Say khước dìu về nhạc vấn vương|Một đoạn phong lưu thời trai trẻ|Chỉ có giai nhân mới hiểu chàng.|Mặc dù đã được ấn khả nhưng Sư vẫn ở lại hầu đến lúc thầy tịch. Cùng với hai vị Thanh Viễn Phật Nhãn và Huệ Cần Phật Giám, Sư – với danh hiệu khác là Phật Quả – được xem là bậc thượng thủ trong thiền lâm thời bấy giờ.|Sư đến thăm vị Cư sĩ danh tiếng bấy giờ là Trương Vô Tận và nhân dịp này, hai người luận về kinh Hoa nghiêm. Nhân lúc bàn luận về Lí sự pháp giới (Hoa nghiêm tông), Sư hỏi: »Ðây đáng gọi là Thiền chưa?« Vô Tận đáp: »Chính gọi là Thiền.« Sư cười bảo: »Chưa phải, còn nằm trong Lượng pháp giới bởi Lượng pháp giới chưa diệt. Nếu đến Sự sự vô ngại pháp giới thì Lượng pháp giới diệt, mới gọi là Thiền. Thế nào là Phật? Cục cức khô. Thế nào là Phật? Ba cân gai. Thế nên Chân Tịnh (Bảo Phong Khắc Văn) làm bài kệ: ›Sự sự vô ngại, như ý tự tại, tay cầm đầu heo, miệng tụng tịnh giới, đẩy ra phòng dâm, tiền rượu chưa trả, ở ngã tư đường, cởi mở túi vải.‹« Cư sĩ Vô Tận nghe rất khâm phục, nhận Sư làm thầy. Sư cũng nhận lời mời của Vô Tận trụ trì viện Linh Tuyền ở Giáp Sơn và nơi đây, Sư hoàn tất tập công án Bích nham lục, một tác phẩm được xem là tối trọng trong lĩnh vực thiền ngữ.|Sư dạy chúng: »Bờ ao muôn nhẫn buông thỏng tay, cần phải người ấy, cây nỏ ngàn quân khi ấn máy há vì chuột thỏ? Vân Môn, Mục Châu ngay mặt lầm qua, Ðức Sơn, Lâm Tế nói đùa ngoài cổng, ngoài ra lập cảnh lập cơ làm hang làm ổ, thế là diệt chủng tộc nhà Phật, một câu độc thoát phải nói làm sao? Muôn duyên thay đổi nào còn việc, tháng năm phòng núi lạnh như băng…«|Niên hiệu Thiệu Hưng thứ năm (1135) tháng tám, Sư có chút bệnh, gọi chúng từ biệt và cầm bút viết kệ (Hân Mẫn dịch):|Ðã triệt không công|Bất tất lưu kệ|Hãy để ứng duyên|Trân trọng! Trân trọng!|Viết xong, Sư ngồi kết già an nhiên thị tịch. Vua Cao Tông sắc phong là Chân Giác Thiền sư.
Viên Nhân 圓仁; J: ennin; 793-864;|Một Ðại sư Nhật Bản, thuộc tông Thiên Thai. Sư là đệ tử của Tối Trừng (j: saichō), từng du học 9 năm tại Trung Quốc. Sư viết một kí sự nổi tiếng về những năm tu học đó.|Lên 15 tuổi, Sư trở thành đệ tử của Tối Trừng. Sau khi thầy mất, năm 838 Sư đi Trung Quốc, tham vấn nhiều Thiền sư danh tiếng và khi trở về năm 847, Sư mang theo 559 bộ kinh, luận. Tại núi Tỉ Duệ (j: hiei), Sư truyền bá Thiên Thai tông và Chân ngôn tông và cả phép niệm danh hiệu A-di-đà để thác sinh về cõi Tịnh độ. Sư kế thừa sự việc của Tối Trừng bằng cách truyền bá tư tưởng Ðại thừa, và với những công lao này, Thiên Thai tông tại Nhật đi vào thời kì hưng thịnh. Kí sự của Sư đi Trung Quốc trong thời nhà Ðường chứa đựng những tư liệu quý báu về học thuật Phật giáo cũng như đời sống xã hội thời đó.
Viên Nhĩ Biện Viên 圓爾辨圓; J: enni ben'en; 1202-1280; cũng được gọi là Thánh Nhất Quốc sư; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Lâm Tế, hệ phái Dương Kì. Sau một cuộc du học bảy năm tại Trung Quốc, Sư được Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm Ấn khả. Trở về Nhật, Sư khai sáng và trụ trì nhiều chùa và được Hoa Viên Thiên hoàng (hanazono) sắc phong là Thánh Nhất Quốc sư (聖一國師; shōichi kokushi). Ðây là lần đầu tiên Nhật Bản có danh hiệu Quốc sư.|Sư xuất gia năm lên năm và sớm học giáo lí của Thiên Thai tông. Năm lên mười tám, Sư thụ giới cụ túc và sau đó, trong một khoảng thời gian ba năm, Sư chuyên học Nho giáo. Song song với các giáo lí trên, Sư cũng tu tập theo Mật giáo của Thiên Thai tông và được ấn chứng theo nghi lễ tông này năm 1228.|Năm 1235, Sư sang Trung Quốc và may mắn gặp được một trong những vị Thiền sư danh tiếng nhất thời là Vô Chuẩn Sư Phạm ở Kính Sơn, trụ trì Vạn Thọ Thiền tự. Sau một thời gian tu tập không lâu, Sư được Vô Chuẩn ấn khả và tặng một bức tranh. Bức tranh này ngày nay vẫn còn được trưng bày tại Ðông Phúc tự (tōfuku-ji) tại Kinh Ðô (kyōto).|Trở về Nhật, Sư sáng lập chùa Ðông Phúc và trụ trì nơi đây. Ngoài ra, Sư còn quản lí hai thiền viện khác là Thụ Phúc (jufuku-ji) và Kiến Nhân (kennin-ji), cả ba đều là những thiền viện quan trọng nằm trong hệ thống Ngũ sơn thập sát của Liêm Thương và Kinh Ðô. |Phương pháp dạy đệ tử của Sư bao gồm giáo lí của Thiên Thai, Chân ngôn và Thiền nhưng khác với Minh Am Vinh Tây (myōan eisai), Thiền được xếp cao hơn hẳn hai giáo môn kia. Trong Thánh Nhất pháp ngữ (shōichihōgo), Sư trả lời câu hỏi »Tông này được gọi là nền tảng của tất cả các pháp, hiểu thế nào?«: |»Thiền là Phật tâm, Giới luật chỉ là bề ngoài, giáo pháp là giảng nghĩa bằng văn tự, niệm Phật là Phương tiện (j: hōben), cả ba đều xuất phát từ Phật tâm, vì thế tông này được xem là căn bản.«|Hỏi: »Làm thế nào học để hiểu được ›Kiến tính thành Phật‹?« |Sư đáp: »Cái hiểu biết qua Kinh (s: sūtra), Luận (s: śāstra) là thấy, nghe, thụ tưởng và nhận thức. Ðó là cái hiểu biết của Phàm phu (s: pṛthagjana; j: bonpu), không phải cái hiểu biết chân thật. Ai biết xoay ánh sáng của tâm rọi chiếu trở lại sẽ nhìn ra Phật tính, người ta gọi là có huệ nhãn. Với huệ nhãn người ta kiến tính và thành Phật.«|Sư mất năm 1280 tại Ðông Phúc tự, thọ 80 tuổi. Ðệ tử đắc pháp của Sư hơn 30 người.
Viên Phật giáo 圓佛教; E: won-buddhism; »Won« nghĩa là »Viên«, là tròn tròa, viên mãn;|Một phong trào Phật giáo tại Hàn Quốc, được Soe-Tae San (1891-1943) khai sáng.|Cách tu tập theo giáo phái này bao gồm hai khía cạnh: thực hiện được Phật tính và tu »thiền phi thời gian và không gian.« Như vậy có nghĩa là, các tín đồ của giáo phái này cố gắng tìm thấy Phật tính nơi vạn vật và sống theo quan niệm này. Cách tu tập Thiền nói trên được gọi là »phi thời gian và không gian« bởi vì nó phông phụ thuộc vào một khoảng thời gian nào, thiền đường nào, luôn luôn được thực hiện được ở mọi nơi.|Viên Phật giáo chỉ biết một đối tượng thiền quán duy nhất: một hình tròn màu đen trên một nền trắng, một biểu tượng của Phật thân, Pháp thân (s: dharmakāya; Ba thân); từ biểu tượng này mà phát sinh ra tên của trào lưu Phật giáo này.|Phong trào này không phải là Tăng-già thông thường của Phật giáo: các vị tăng có thể lập gia đình. Viên Phật giáo không theo một nghi lễ nhất định nào, luôn luôn cố gắng viên dung các nhu cầu, điều kiện của con người hiện đại. Các bộ kinh quan trọng nhất được dịch sang tiếng Hàn Quốc dễ hiểu. Tín đồ của Viên Phật giáo đều hăng hái tham dự những hoạt động xã hội, từ thiện; trong những năm sau chiến tranh, họ góp công rất nhiều trong việc xây dựng trường học v.v…|Trong thời niên thiếu, Soe-Tae San đã tu tập khổ hạnh cho tới lúc »Ðại ngộ« năm 1915. Cùng với 9 vị đệ tử, ông tiếp tục tu tập, nghiên cứu Phật giáo. Năm 1924, họ thành lập »Hội nghiên cứu Phật giáo«, nhưng dưới sự đô hộ của Nhật Bản, ảnh hưởng của họ rất hạn chế. Kể từ 1946, giáo lí của Soe-Tae San mới thật sự được phổ biến khắp Hàn Quốc dưới tên Viên Phật giáo. Ngày nay, giáo phái này còn rất nhiều tín đồ.
Viên Thông 圓通; 1080-1151|Thiền sư Việt Nam, thuộc thiền phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 18. Sư đắc pháp nơi Thiền sư Viên Học và sau đó truyền lại cho đệ tử ưu tú là Y Sơn. Sư được phong danh hiệu Quốc sư.|Sư tên tục là Nguyễn Nguyên Ức, quê làng Cổ Hiền, sau dời về kinh đô Thăng Long lập nghiệp. Cha sư làm quan đến chức Tả hữu nhai tăng lục dưới triều Lí. Sư bẩm chất thông minh, xuất gia lúc còn nhỏ, thụ giáo với Thiền sư Viên Học ở chùa Quốc An. Nơi đây, Sư được truyền tâm ấn.|Sư được hai vị vua Lí là Nhân Tông và Thần Tông hết sức kính trọng, ban cho nhiều danh chức. Nổi danh nhất là lời dạy của Sư cho vua Lí Thần Tông về việc an dân trị nước, được lưu lại trong Thiền uyển tập anh.|Cuối đời, Sư về làng Cổ Hiền, tỉnh Nam Ðịnh lập chùa Quốc Ân trụ trì. Ngày 21 tháng 4 năm Tân Mùi, niên hiệu Ðại Ðịnh, Sư họp chúng từ biệt rồi viên tịch, thọ 72 tuổi.|Sư có đề lại các tác phẩm: 1. Chư Phật tích duyên sự; 2. Hồng chung văn bi kí; 3. Tăng-già tạp lục; 4. Viên Thông tập, gồm hơn 1000 bài thơ.
Viên Thông Pháp Tú 圓通法秀; C: yuántōng fǎxiù; ?-1090; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Vân Môn, môn đệ nối pháp của Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài.|Sư họ Tân, quê ở Thành Lũng, Tần Châu. Câu chuyện sinh ra Sư rất kì đặc. Có một vị sư già tại núi Mạch Tín muốn theo Hoà thượng Lỗ – vị trụ trì ở chùa Ứng Càn – đi du phương. Hoà thượng Lỗ chê vị này già không đi được và vị sư này nói với Hoà thượng Lỗ »Ngày sau nên tìm tôi ở dưới ngọn Thiết Trường bên rặng tre cạnh sườn núi.« Mẹ của Sư nằm mộng thấy có một vị sư già đến ngủ nhờ và tỉnh dậy biết mình có thai. Sau, Hoà thượng Lỗ nghe thấy Sư được sinh ra liền đến hỏi thăm và khi gặp Hoà thượng Lỗ, Sư liền mỉm cười. Lên ba tuổi, Sư theo Hoà Thượng Lỗ về chùa.|Ðến năm mười chín tuổi Sư đã thông các kinh như Viên giác, Hoa Nghiêm. Nghe danh Thiền sư Thiên Y Nghĩa Hoài, Sư liền đến tham vấn. Thiên Y hỏi Sư: »Toạ chủ giảng kinh gì?« Sư thưa: »Kinh Hoa Nghiêm.« Thiên Y hỏi: »Kinh Hoa Nghiêm lấy gì làm tông?« Sư thưa: »Lấy Pháp giới làm tông.« Thiên Y hỏi: »Pháp giới lấy gì làm tông?« Sư thưa: »Lấy tâm làm tông.« Thiên Y lại hỏi: »Tâm lấy gì làm tông?« Sư không đáp được. Thiên Y bảo: »Có sai hào li, cách xa trời đất. Ông phải tự khán ắt sẽ tìm ra được.« Sau, Sư nghe một vị tăng nhắc đến việc Bạch Triệu đến tham vấn Báo Từ với câu hỏi »Khi tình chưa sinh thì thế nào« và câu trả lời của Báo Từ »Cách« cho câu hỏi này, Sư hoát nhiên đại ngộ, chạy đến Thiên Y trình bày sở đắc. Thiên Y khen Sư: »Ngươi thật là pháp khí. Tông của ta sau này đi theo ngươi vậy.«|Ban đầu, Sư trụ trì tại Long Thô Tứ Diện, sau lại theo chiếu của vua Tống Thần Tông về núi Trường Lô trụ trì chùa Pháp Vân và cũng tại đây, Sư được ban hiệu là Viên Thông.|Sư thượng đường dạy chúng: »Trời lạnh mưa tí tách, gió thổi cát bay đá chạy, cây tróc chim kêu, các ngươi cả thảy đều biết. Hãy nói gió có hình sắc gì? Nếu biết được chấp nhận ngươi có con mắt sáng, nếu chẳng biết chớ lấy làm lạ lừa nhau. Tham!… Thiếu Lâm (chỉ Bồ-đề Ðạt-ma) chín năm ngồi lặng, lại bị Thần Quang Nhị tổ (Huệ Khả) ngó phủng. Hiện nay ngọc đá khó phân biệt, chỉ được gai cột giấy gói, hội chăng? Cười ta thì nhiều, nhận ta thì ít.«|Niên hiệu Nguyên Hựu năm thứ năm (1090), lúc sắp tịch, Sư bảo chúng: »Lão tăng sáu chỗ trụ trì có phiền Tri sự, Thủ toạ. Ðại chúng ngày nay Tứ đại chẳng vững chắc, gió lửa sắp tan, mỗi người nên lấy đạo tự an, chớ trái lời ta di chúc«, và nói kệ:|來時無物去時空。南北東西事一同|六處住持無所補。|Lai thời vô vật, khứ thời không|Nam bắc đông tây sự nhất đồng|Lục xứ trụ trì vô sở bổ.|*Khi đến không vật, lúc đi không|Nam bắc đông tây việc vẫn đồng|Trụ trì sáu chỗ không ai bổ.|Sư im lặng giây lâu, vị đệ tử là Huệ Ðương thưa: »Sao Hoà thượng không nói câu rốt sau?« Sư nói: |珍重!珍重!|»Trân trọng! Trân trọng!« |và nói xong liền tịch.
Viên tướng 圓相; J: ensō; là hình tròn, vòng tròn;|Theo đạo Phật – nhất là Thiền tông – hình tròn là biểu hiện của Chân lí tuyệt đối, Chân như, Giác ngộ. Trong những bức hoạ của giới hâm mộ thiền, người ta thường thấy những hình tròn. Người ta cho rằng, hình tròn này tiết lộ nhiều về trạng thái tâm thức của người vẽ và chỉ có người nào chú tâm, bình tĩnh mới có thể vẽ được hình tròn cân xứng tuyệt hảo (Quy Ngưỡng tông, Thập mục ngưu đồ).
Viết 曰; C: yuē; J: etsu; |1. Nói, tuyên bố. Nói rằng; 2. Trình bày với lí lẽ, lí do; 3. Vui lòng để nói.
Vinh 榮; C: róng; J: yō;|1. Phát triển, tăng trưởng, trở nên phổ biến; phong phú; 2. Sáng rỡ, sự thịnh vượng, phồn vinh. Huy hoàng, tráng lệ, sự kính trọng; 3. Ưu tú, kì diệu (s: samucchraya).
Vĩnh Bình tự 永平寺; J: eihei-ji;|Một trong hai ngôi chùa chính của tông Tào Ðộng ở Nhật Bản, được Thiền sư Ðạo Nguyên Hi Huyền thành lập năm 1243. Chùa thứ hai là Tổng Trì tự (sōji-ji).
Vĩnh đoạn 永斷; C: yŏngduàn; J: yōdan; |Vĩnh viễn cắt đứt, thường nói đến sự cắt đứt phiền não. Theo Du-già sư địa luận, dạng nầy thù thắng hơn Phục đoạn (伏斷), là chỉ chặn đứng phiền não nhất thời.
Vĩnh Gia 永嘉; C: yŏngjiā; J: yōka;|Vĩnh Gia Huyền Giác (永嘉玄覺).
Vĩnh Gia chứng đạo ca 永嘉證道歌; C: yŏngjiā zhèngdào gē; J: yōka shōdō ka; |1 quyển, tác phẩm của Vĩnh Gia Huyền Giác, có sự liên hệ rất mật thiết về văn phong và nội dung với kinh Viên Giác.
Vĩnh Gia Huyền Giác 永嘉玄覺; C: yòngjiā xuānjué; J: yōka genkaku; 665-713;|Thiền sư đời Đường. Sư còn có các tên Minh Đạo (明道), Chân Giác (眞覺), và Đạo Minh (道明). Thuỵ hiệu là Vô Tướng Đại Sĩ (無相大士). Sư là đệ tử được Huệ Năng ấn chứng, sư tinh thông cả 3 tông Thiền, Thiên Thai, và Hoa Nghiêm, Sư nổi tiếng với tên Nhất Túc Giác (一宿覺), có nghĩa là »giác ngộ trong một đêm«, với câu chuyện sư nghỉ lại một đêm với Lục tổ. Sư còn là tác giả của 2 tác phẩm ngắn nhưng rất thông dụng là Chứng đạo ca (證道歌) và Thiền tông Vĩnh Gia tập (禪宗永嘉集). Cả 2 tác phẩm đều giải quyết những vấn đề tư tưởng quan trọng trong giai đoạn ấy và cũng là đề tài của luận Đại thừa khởi tín, kinh Viên Giác, kinh Thủ Lăng Nghiêm. |Sư họ Ðới, quê ở Vĩnh Gia, Ôn Châu. Sư xuất gia từ nhỏ và sớm tham học Ðại tạng kinh, tinh thâm Chỉ-Quán. Nhân xem kinh Duy-ma-cật sở thuyết, Sư hoát nhiên liễu ngộ. Môn đệ của Lục tổ là Thiền sư Huyền Sách thấy Sư đàm luận lời lẽ thích hợp với chư Tổ bèn khuyên Sư đến Lục tổ để được ấn chứng chỗ sở đắc. Trận Pháp chiến sau đây giữa Sư và Tổ đã đi vào lịch sử của Thiền tông:|Sư cùng Huyền Sách đến Tào Khê tham vấn Tổ. Ðến nơi, Sư tay cầm tích trượng, vai mang bình bát đi nhiễu Tổ ba vòng. Tổ hỏi: »Phàm Sa-môn phải đủ ba ngàn uy nghi tám muôn tế hạnh, Ðại đức là người phương nào đến mà sinh đại ngã mạn như vậy?«|Sư thưa: »Sinh tử là việc lớn, Vô thường quá mau.«|Tổ bảo: »Sao không ngay nơi đó thể nhận cái vô sinh, liễu chẳng mau ư?« Sư thưa: »Thể tức vô sinh, liễu vốn không mau.« Tổ khen: »Ðúng thế! Ðúng thế!«|Ðại chúng nghe vậy đều ngạc nhiên. Sư bây giờ mới đầy đủ trang nghiêm lễ bái Tổ. Lát sau, Sư cáo từ, Tổ bảo: »Trở về mau quá!« |Sư thưa: »Vốn tự không động thì đâu có mau.« |Tổ hỏi: »Cái gì biết không động?« |Sư thưa: »Ngài tự phân biệt.« |Tổ bảo: »Ngươi đạt ý vô sinh rất sâu!« |Sư thưa: »Vô sinh há có ý sao?«|Tổ hỏi: »Không có ý, cái gì biết phân biệt?« |Sư thưa: »Phân biệt cũng không phải ý.« |Tổ khen: »Lành thay! Lành thay!«|Sư lưu lại một đêm hỏi thêm đạo lí và sau đó cùng Huyền Sách xuống núi. Thời nhân gọi Sư là »Giác giả một đêm« (一宿覺; Nhất túc giác).|Sư sau trụ trì ở Ôn Giang, học chúng đến tấp nập.|Ðời Ðường, niên hiệu Tiên Thiên thứ hai, ngày 17 tháng 10, Sư ngồi vui vẻ thị tịch, thọ 49 tuổi. Vua sắc phong là Vô Tướng Ðại sư, tháp hiệu Tịnh Quang. Sư trứ tác hai tập là Chứng đạo ca (證道歌) và Thiền tông ngộ tu viên chỉ, được lưu hành rộng rãi.
Vĩnh Gia tập 永嘉集; C: yŏngjiā jí; J: yōkashū; |Gọi tắt của Thiền tông Vĩnh Gia tập (禪宗永嘉集).
Vĩnh Minh Diên Thọ 永明延壽; C: yòngmíng yánshòu; J: yōmyō enju; 904-975, cũng được gọi là Huệ Nhật Trí Giác (慧日智覺); |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Pháp Nhãn, nối pháp Quốc sư Thiên Thai Ðức Thiều. Tông Pháp Nhãn rất phồn thịnh dưới sự hoằng hoá của Sư. Học chúng đến rất đông – có lúc đến 2000 người để tham thiền. Sư có soạn bộ Tông kính lục (宗鏡錄) gồm một trăm quyển, được lưu truyền khá rộng trong giới thiền.|Sư họ Vương, quê ở Dư Hàng, mộ đạo từ nhỏ. Sư lúc nhỏ không ăn thịt cá, mỗi ngày chỉ ăn một bữa. Năm 28 tuổi, Sư được làm quan trấn ở Hoa Ðình và có dịp tiếp xúc với Thiền sư Thuý Nham Vĩnh Minh. Sư lễ Thuý Nham làm thầy, làm việc hằng ngày phục vụ chúng mà quên cả chức vụ quan tước của mình. Cơ duyên xuất gia của Sư cũng rất thú vị và thường được nhắc đến. Vì thương dân nên Sư trộm lấy tiền của vua mà phân phát cho người nghèo. Một vị quan khác biết được bèn tâu lại với vua. Nghe chuyện này vua rất ngạc nhiên vì ông cứ cho rằng Sư là người thuần lương, thành thật. Ðể răn chúng dân, vua ra lệnh xử trảm nhưng lại căn dặn vị quan là nếu Sư nhận lệnh mà an vui trầm tĩnh thì tha tội và đến trình vua. Quả thật như nhà vua tiên đoán, Sư không tỏ vẻ sợ hãi khi nghe tin này. Ðược vua hỏi vì sao, Sư trả lời: »Thần muốn từ quan, cống hiến cuộc đời cho tất cả chúng sinh, muốn xuất gia tu học Phật pháp với trọn tấm lòng.« Nghe như vậy, Sư được vua cho phép từ quan chức để xuất gia.|Lên núi Thiên Thai, Sư yết kiến Quốc sư Ðức Thiều và được thầm trao huyền chỉ. Quốc sư bảo: »Ngươi cùng Nguyên Soái có duyên, sau này sẽ làm hưng thịnh Phật pháp.«|Ban đầu Sư đến núi Tuyết Ðậu, Minh Châu hoằng hoá, học chúng đến rất đông. Niên hiệu Kiến Long (950), Trung Hiến Vương thỉnh Sư trụ trì ở núi Linh Ẩn. Năm sau lại thỉnh Sư về trụ trì đại đạo trường ở Vĩnh Minh. Nơi đây, học chúng tấp nập có đến hai ngàn người.|Có vị tăng ra hỏi: »Thế nào là diệu chỉ của Vĩnh Minh?« Sư đáp: »Lại thêm hương đi.« Tăng thưa: »Tạ thầy chỉ dạy.« Sư bảo: »Hãy mừng chớ giao thiệp.«|Sư làm bài kệ:|欲識永明旨。門前一湖水|日照光明生。風來波浪起|Dục thức Vĩnh Minh chỉ|Môn tiền nhất hồ thuỷ|Nhật chiếu quang minh sinh|Phong lai ba lãng khởi.|*Biết diệu chỉ Vĩnh Minh|Trước cửa nước một hồ|Trời soi ánh sáng dậy|Gió sang sóng mòi sinh.|Tăng hỏi: »Ðâu chẳng phải lìa thức tính riêng có chân tâm ư? Trường Sa (Cảnh Sầm) có kệ: ›Học đạo mà không hiểu lí chân, bởi tại lâu rồi nhận thức thần, gốc nguồn sinh tử vô thuỷ kiếp, người ngu lại gọi là chủ nhân.‹«|Sư đáp: »Như Lai Thế Tôn trên hội Thủ-lăng-nghiêm vì ngài A-nan-đà giản biệt rất rõ mà ngươi vẫn cố chẳng tin. Ngài A-nan lấy cái suy xét theo đuổi làm tâm, bị Phật quở đó. Cái suy xét theo đuổi ấy là ›Thức‹ vậy. Nếu lấy cái biết pháp, theo tướng là Phiền não thì gọi thức, chẳng gọi tâm. Ý là nhớ, nhớ tưởng cảnh trước khởi vọng đều là vọng thức, chẳng can gì về việc của tâm. Tâm chẳng phải có không, có không chẳng nhiễm. Tâm chẳng phải cấu tịnh, cấu tịnh chẳng nhơ. Cho đến mê ngộ phàm thánh đi đứng ngồi nằm đều là vọng thức, chẳng phải tâm vậy. Tâm xưa nay chẳng sinh, nay cũng chẳng diệt. Nếu biết tâm mình như thế, đối chư Phật cũng vậy. Cho nên Duy-ma-cật nói ›Trực tâm là đạo trường‹ vì không có hư giả vậy.«|Niên hiệu Khai Bảo năm thứ tám (975), tháng chạp, Sư có chút bệnh. Buổi sáng ngày 26, Sư thắp hương từ biệt chúng rồi ngồi kết già thị tịch, thọ 72 tuổi, 42 tuổi hạ.
Vĩnh Minh Trí Giác Thiền sư duy tâm quyết 永明智覺禪師唯心訣; C: yŏngmíng zhìjué chánshī wéixīn jué; J: youmyō chigaku zenshi yuishin ketsu; |1 quyển; của Thiền sư Vĩnh Minh Diên Thọ (永明延壽). Thường gọi tắt là Duy tâm quyết (唯心訣)
Vinh Tây 榮西; J: eisai; |Minh Am Vinh Tây
Vĩnh vô 永無; C: yŏngwú; J: yōmu; |Hoàn toàn không hiện hữu.
Vô Ðoan Tổ Hoàn 無端祖環; J: mutan sokan; ?-1387; |Thiền sư Nhật Bản, thuộc tông Tào Ðộng, một trong năm vị đại đệ tử của Thiền sư Nga Sơn Thiều Thạc (j: gasan jōseki, 1275-1365).|Sư khai sáng rất nhiều Thiền viện ở các tỉnh Echizen, Noto và Iwami. Môn đệ của Sư sau truyền bá tông Tào Ðộng tại miền Bắc Nhật Bản.
Vô Học 無學|Thuý Vi Vô Học
Vô Học Tổ Nguyên 無學祖元; C: wúxué zǔyuán; J: mugaku sogen; 1226-1286;|Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Lâm Tế, đắc pháp nơi Thiền sư Vô Chuẩn Sư Phạm ở Kính Sơn. Năm 1279, Sư được mời sang Nhật giáo hoá và nối dõi Thiền sư Lan Khê Ðạo Long trụ trì chùa Kiến Trường (kenchō-ji). Sau, Sư thành lập chùa Viên Giác (engaku-ji). Cả hai chùa đều được xếp vào Ngũ sơn của Liêm Thương (kamakura), trung tâm của Thiền tông tại Nhật.
Vô Lượng Quang 無量光; S: amitābha;|A-di-đà Phật
Vô Lượng Thọ 無量壽; S: amitāyus;|Một hiện thân của A-di-đà Phật. Dưới dạng Vô Lượng Thọ, A-di-đà được trình bày trong tư thế Toạ thiền, hai tay cầm bình nước Cam-lộ (bất tử tửu 不死酒, nước bất tử; s: amṛta).
Vô minh 無明; S: avidyā; P: avijjā; dịch theo âm là A-vĩ-di;|Chỉ sự u mê, không hiểu Tứ diệu đế, Tam bảo (s: triratna) và nguyên lí Nghiệp (s: karma). Vô minh là yếu tố đầu tiên trong Mười hai nhân duyên (s: pratītya-samutpāda), là những nguyên nhân làm con người vướng trong Luân hồi (s, p: saṃsāra). Vô minh cũng là một trong ba Ô nhiễm (s: āśrava), một trong ba Phiền não (s: kleśa) và khâu cuối cùng của mười Trói buộc (s: saṃyojana).|Vô minh dược xem là gốc của mọi bất thiện trong thế gian và cũng là một đặc tính của Khổ (s: duḥkha). Ðó là tình trạng tâm thức không thấy sự vật »như nó là«, cho ảo giác là sự thật và vì vậy sinh ra Khổ. Vô minh sinh Ái (s: tṛṣṇā) và đó là yếu tố cơ bản sinh ra sự tái sinh. Theo quan điểm Ðại thừa, vì vô minh mà từ tính Không (s: śūnyatā) thoắt sinh ra hiện tượng, làm cho người còn mê lầm tưởng lầm đó là sự thật và không thấy tự tính (Si).|Trong các trường phái Ðại thừa, vô minh cũng được hiểu khác nhau. Trung quán tông (s: mā-dhyamika) cho rằng, vô minh xuất phát từ quan điểm chấp trước tiên thiên của ý thức, và từ đó mà xây dựng lên một thế giới của riêng mình, cho thế giới đó những tính chất của chính mình và ngăn trở không cho con người thấy thế giới đích thật. Vô minh cũng là không thấy thể tính thật sự, và thể tính đó là tính Không. Như thế vô minh có hai khía cạnh: một là nó che đậy thế giới đích thật, hai là nó xây dựng cái ảo, cái giả. Hai mặt này cứ luôn luôn dựa vào nhau. Ðối với Kinh lượng bộ (s: sautrāntika) và Tì-bà-sa bộ (s: vaibhāṣika) thì vô minh là cách nhìn thế giới sai lạc, cho thế giới là thường còn, mà thế giới có thật chất là vô thường. Vô minh làm cho con người tưởng lầm thế giới có một tự ngã. Theo Duy thức tông thì vô minh là Ðảo kiến, cho rằng, thế giới độc lập với ý thức (tâm) mặc dù thế giới và ý thức chỉ là một.
Vô Môn Huệ Khai 無門慧開; C: wúmén huìkāi; J: mumon ekai; 1183-1260; |Thiền sư Trung Quốc dòng Dương Kì tông Lâm Tế, nối pháp Thiền sư Nguyệt Lâm Sư Quán (月林師觀). Sư là vị Thiền sư nổi danh nhất thời, đến bây giờ vẫn còn được nhắc đến qua tập Công án Vô môn quan.|Sư họ Lương, người Tiền Ðường, Hàng Châu, xuất gia từ thuở nhỏ. Sư ban đầu tham vấn các nơi, sau đến Thiền sư Nguyệt Lâm Sư Quán ở chùa Vạn Thọ, Giang Tô. Ban đầu Nguyệt Lâm giao cho Sư công án »Không« (無) của Triệu Châu làm Thoại đầu. Sư chú tâm vào công án này sáu năm liền nhưng không kết quả. Sư thuật lại rằng, vì quá tập trung vào công án này mà Sư quên cả ngủ mà nếu buồn ngủ trong lúc Toạ thiền, Sư liền đứng dậy đi qua lại trong thiền đường, đập đầu vào cột gỗ cho tỉnh. Một ngày nọ, khi nghe tiếng trống báo hiệu giờ ăn trưa, Sư hoát nhiên đại ngộ, ứng khẩu ngay bài kệ sau (Trúc Thiên & Tuệ Sĩ dịch):|清天白日一聲雷。大地羣生眼豁開|萬象森羅齊稽首。須彌勃跳舞三臺|Thanh thiên bạch nhật nhất thanh lôi|Ðại địa quần sinh nhãn hoát khai|Vạn tượng sum la tề khể thủ|Tu-di bột khiêu vũ tam đài.|*Trời quang mây tạnh sấm dậy vang lừng|Mọi vật trên đất, mắt bỗng mở bừng|Muôn hồng nghìn tía cúi đầu làm lễ|Núi Tu-di cũng nhảy múa vui mừng.|Mừng quá, Sư chạy đến Nguyệt Lâm trình sở đắc. Nguyệt Lâm bắt gặp Sư chạy giữa đường, hỏi: »Chạy đi đâu như bị ma đuổi vậy?« Sư hét một tiếng, Nguyệt Lâm cũng hét một tiếng. Sau đó Sư trình bài kệ rất độc đáo sau:|無無無無無。無無無無無|無無無無無。無無無無無|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|Vô vô vô vô vô – Vô vô vô vô vô|*Không không không không không|Không không không không không|Không không không không không|Không không không không không|Vì kinh nghiệm giác ngộ thâm sâu của Sư nên mọi người trong viện đều kính trọng nhưng cuộc sống hằng ngày của Sư cũng không có gì thay đổi. Lúc nào Sư cũng giữ một tác phong giản dị, thâm trầm. Sư thân hình gầy ốm, ăn mặc thô sơ nhưng lúc nào cũng xả mình vào làm mọi việc cùng với tăng chúng. Những năm sau khi được Nguyệt Lâm ấn khả, Sư chu du nhiều nơi và nhân đây thu thập tài liệu để soạn tập công án Vô môn quan. Năm 1229, tập này được in lần đầu và với 46 tuổi, Sư đang ở tuyệt đỉnh của cuộc đời hoằng hoá của mình.|Năm 1246 – theo lệnh của vua Tống Lí Tông – Sư sáng lập chùa Hộ Quốc Nhân Vương. Những năm cuối đời, Sư lui về một ngôi chùa nhỏ ở Tây Hồ. Một cơn hạn lớn là nguyên do mà vua Lí Tông mời Sư trở về triều đình làm lễ cầu mưa. Ngay lúc Sư thuyết pháp thì trời mưa như trút và vì vậy Sư được vua ban hiệu Phật Nhãn Thiền sư và tặng cho ca-sa vàng (kim lan y).
Vô môn quan 無門關; C: wúmén-goān; J: mumonkan; nghĩa là »Ải không cửa vào«;|Tên của một tập Công án do Thiền sư Vô Môn Huệ Khai biên soạn. Cùng với Bích nham lục, đây là hai tập công án lừng danh nhất của Thiền tông.|Vô môn quan ghi lại 48 công án, mỗi công án được bổ sung thêm một lời bình và một bài kệ. Những bài kệ tụng trong đây là những kiệt tác của văn chương Phật giáo tại Trung Quốc.|Vô môn quan ra đời khoảng một thế kỉ sau Bích nham lục. Cấu trúc của tập này đơn giản hơn nhiều so với Bích nham lục, chứng tỏ rằng sư Huệ Khai chú trọng đến việc sử dụng những tắc công án trong đây làm phương tiện thực hành, tu tập. Sư xem nó là những »viên gạch gõ cửa tâm« của các thiền sinh và viết như sau trong lời tựa:|»Phật dạy tâm là tông chỉ, cửa Không là cửa pháp. Ðã không cửa, thì sao qua? Há chẳng nghe ›từ cửa mà vào thì không phải là của báu trong nhà, nhờ duyên mà thành đạt tất phải có thành hoại.‹ Nói như vậy thật chẳng khác chi khi không dậy sóng, thịt da đang lành đem ra mổ mụt. Huống chi chấp vào văn tự để tìm mong lí giải, vác gậy quơ trăng, gãi ngứa ngoài giày, có dính líu gì đến sự thật đâu!…|大道無門。千差有路|透得此關。乾坤獨步|Ðại đạo vô môn, thiên sai hữu lộ|Thấu đắc thử quan, càn khôn độc bộ.|*Ðại đạo không cửa, có nghìn nẻo vào|Qua được cửa này, càn khôn lẻ bước«.|Mỗi công án bao gồm ba phần: 1. Công án, nói về một sự kiện, lời nói, dạy của các vị Tổ; 2. Lời bình của sư Huệ Khai và 3. Kệ tụng. Mặc dù nguồn tài liệu của những tập công án danh tiếng đều như nhau nhưng trong tập Vô môn quan, người ta có thể thấy một dấu ấn đặc biệt của sư Vô Môn Huệ Khai, những nét đặc sắc, thật dụng chỉ có ở riêng đây và có lẽ vì thế, Vô môn quan được ưa chuộng và phổ biến rộng rãi đến ngày nay.
Vô ngã 無我; S: anātman; P: anattā;|Một trong Ba tính chất (s: trilakṣaṇa) của sự vật. Quan điểm vô ngã là một giáo pháp cơ bản của đạo Phật, cho rằng, không có một Ngã (ātman), một cái gì trường tồn, bất biến, nhất quán, tồn tại độc lập nằm trong sự vật. Như thế, theo đạo Phật, cái ngã, cái »tôi« cũng chỉ là một tập hợp của »năm nhóm«, Ngũ uẩn (s: pañcaskandha), luôn luôn thay đổi, mất mát, và vì vậy, »tôi« chỉ là một sự giả hợp, gắn liền với cái Khổ.|Theo Tiểu thừa (s: hīnayāna), tính vô ngã chỉ liên hệ đến cá nhân con người. Theo Ðại thừa (s: mahāyāna) thì tính vô ngã có giá trị cho tất cả các Pháp (s: dharma), vốn tuỳ thuộc lẫn nhau như thuyết Mười hai nhân duyên chỉ rõ. Sự thiếu vắng một tự tính (自性; s: svabhāva) được Ðại thừa gọi là tính Không (空性; s: śūnyatā).|Theo quan điểm thông thường của Ấn Ðộ giáo thì »linh hồn« – cái Ngã (ātman) – vốn là trường tồn và độc lập với mọi ô nhiễm. Theo đạo Phật thì con người là một tập hợp của ngũ uẩn đang vận hành vô chủ, ngũ uẩn đó cũng vô thường biến hoại. Ngoài ngũ uẩn đó không có gì khác, nên con người chỉ được xem có thật một cách quy ước và trong kinh nghiệm thông thường.|Ðối với câu hỏi, Ngã có tồn tại thật hay không, đức Phật thường không trả lời vì không muốn khơi gợi thêm khái niệm mới, chúng chỉ là trở ngại cho các phép tu hành thật tiễn. Vì vậy giáo pháp vô ngã trong thời đức Phật có thể xem là phương tiện giáo huấn, không phải là một quan điểm triết học đích thật. Với thời gian phát triển, Vô ngã trở thành một quan điểm hẳn hoi trong các trường phái Phật giáo và chỉ có Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya) mới chấp nhận một cái Ngã.|Dần dần, các phép tu học đạo Phật cũng tập trung tiến tới phương pháp đạt Niết-bàn bằng cách giải thoát hành giả ra khỏi ảo tưởng có một cái Ta. Sự ràng buộc vào một cái Ta là nguồn gốc mọi khổ đau, phải phá bỏ vô minh đó mới đạt giải thoát. Lí do là khi con người không thấy tính vô ngã của đời sống này, không thấy nó chỉ nằm trong dòng vận chuyển của sự sinh thành hoại diệt liên tục, thì lúc đó ta chưa hiểu thật sự Tứ diệu đế và không thể thâm nhập, phát huy triệt để chính tri kiến.
Vô Ngôn Thông 無言通; ?-826|Thiền sư Trung Quốc, học trò của vị Thiền sư nổi tiếng Bách Trượng Hoài Hải. Năm 820, Sư qua Việt Nam, ở tại chùa Kiến Sơ, ngày nay thuộc tỉnh Bắc Ninh, thành lập phái thiền Vô Ngôn Thông. Sư mất năm 826, và phái Thiền của Sư kéo dài được 17 thế hệ. Những Thiền sư quan trọng của dòng thiền này là Khuông Việt (?-1011), Thông Biện (?-1134), Mãn Giác (?-1096); Minh Không (mất 1141), Giác Hải. Thế hệ cuối cùng là khoảng cuối thế kỉ thứ 13. Phái Vô Ngôn Thông theo đúng dòng Thiền của Huệ Năng, chủ trương Ðốn ngộ (giác ngộ nhanh chóng). Các vị Thiền sư dòng Vô Ngôn Thông đều có tâm hồn thi sĩ.|Sư họ Trịnh, quê ở Quảng Châu, xuất gia tại chùa Song Lâm, Vũ Châu. Tính tình Sư điềm đạm ít nói, nhưng thông minh nên thời nhân gọi là Vô Ngôn Thông.|Một hôm, Sư lễ Phật, có một thiền khách hỏi: »Toạ chủ lễ đó là cái gì?« Sư thưa: »Là Phật.« Khách liền chỉ tượng Phật hỏi: »Cái này là Phật gì?« Sư không trả lời được. Ðến tối, Sư y phục chỉnh tề đến lễ vị khách, vị này chỉ đến Mã Tổ. Sư lên đường đến Mã Ðại sư nhưng nghe tin Tổ đã viên tịch bèn đến Bách Trượng. Nhân nghe Bách Trượng trả lời một vị tăng »Ðất tâm nếu không, mặt trời trí huệ tự chiếu.« Sư triệt ngộ.|Sau khi rời Bách Trượng, Sư đến trụ trì chùa Hoà An và tương truyền rằng, Thiền sư Ngưỡng Sơn Huệ Tịch có đến đây học hỏi. |Năm Canh Tí, niên hiệu Nguyên Hoà đời Ðường, Sư sang An Nam ở chùa Kiến Sơ làng Phù Ðổng, huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh. Ở đây mấy năm liền Sư chỉ quay mặt vào vách toạ thiền và không ai biết tông tích của Sư. Vị trụ trì nơi đây là Cảm Thành thầm biết Sư là Cao tăng đắc đạo nên hết sức kính trọng. Sắp sửa tịch, Sư gọi Cảm Thành đến nói kệ:|一切諸法皆從心生。心無所生法無所住|若達心地所住無礙。非遇上根慎勿輕許|Nhất thiết chư pháp giai tòng tâm sinh|Tâm vô sở sinh pháp vô sở trụ|Nhược đạt tâm địa sở trụ vô ngại|Phi ngộ thượng căn thận vật khinh hứa.|*Tất cả các pháp đều từ tâm sinh|Tâm không chỗ sinh, pháp không chỗ trụ|Nếu đạt đất tâm chỗ trụ không ngại|Không gặp thượng căn dè dặt chớ dạy.|Nói xong Sư chắp tay viên tịch. Cảm Thành thiêu lấy hài cốt và xây tháp thờ trên núi Tiên Du.
Vô sắc giới 無色界; S, P: arūpadhātu, arūpaloka; |Ba thế giới
Vô thường 無常; S: anitya; P: anicca; nghĩa là không chắc chắn, thay đổi;|Một trong Ba tính chất (s: trilakṣaṇa) của tất cả sự vật. Vô thường là đặc tính chung của mọi sự sinh ra có điều kiện, tức là thành, trụ, hoại diệt. Từ tính vô thường ta có thể suy luận ra hai đặc tính kia là Khổ (s: duḥkha) và Vô ngã (s: anātman). Vô thường là tính chất cơ bản của cuộc sống, không có vô thường thì không có sự tồn tại; vô thường cũng chính là khả năng dẫn đến giải thoát. Có tri kiến vô thường hành giả mới bước vào Thánh đạo (s: ārya-mārga) – vì vậy tri kiến vô thường được xem là tri kiến của bậc Dự lưu (s: śrotāpanna).|Vô thường là gốc của Khổ vì Sinh, Thành, Hoại, Diệt tự nó là Khổ. Tính Vô thường của Ngũ uẩn dẫn đến kết luận Vô ngã, vì không có gì vừa vô thường vừa Khổ lại là một cái Ngã trường tồn được. Ngoài ra, trong Ðại thừa, tính vô thường của mọi pháp dẫn đến kết luận về tính Không.
Vô thượng bồ-đề 無上菩提; S: anuttara-samyaksaṃbodhi; |Giác ngộ cùng tột, Phật quả
Vô thượng chính đẳng chính giác 無上正等正覺; S: anuttara-samyaksaṃbo-dhi; dịch âm là A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề;|Giác ngộ cùng tột, chỉ một vị Phật.
Vô thượng du-già tan-tra S: anuttara-yoga-tantra; Hán Việt: Vô thượng du-già đát-đặc-la (無上瑜伽怛特羅).|Tan-tra cao cấp nhất (vô thượng; s: anut-tara) trong bốn loại Tan-tra của Phật giáo. Ba loại khác là Tác (kriyā), Hành (caryā) và Du-già (yoga). Các Tan-tra này nằm trong Ðại tạng của Tây Tạng, thuộc phần thứ bảy trong Cam-châu-nhĩ (t: kangyur) và bao gồm 22 bộ. Hai bộ Tan-tra danh tiếng nhất được xếp vào hạng Vô thượng du-già là Bí mật tập hội (s: guhyasamāja-tantra) và Hô kim cương (s: hevajra-tantra).|Trước khi được Quán đỉnh (s: abhiṣeka), được khai thị vào Vô thượng du-già, hành giả cần phải đi qua những cấp Tan-tra khác đã nêu trên, giữ giới luật (vinaya) nghiêm ngặt để dần dần thanh lọc thân tâm. Trong cấp Vô thượng du-già thì tất cả những nghi quỹ đều được gạt qua một bên, hành giả đã vượt qua thế giới nhị nguyên, tương đối, phụ thuộc.|Hai cấp đầu của Tan-tra được xem là cấp thấp vì ở đây thiếu những yếu tố cần được phân tích bằng Trí và nội dung của chúng không vượt ra khỏi những nghi lễ. Nói chung, Tác và Hành tan-tra là sự giao tiếp với thế giới hiện hữu, vẫn còn nằm trong phạm vi cố định, phụ thuộc.|Ngược lại trên, hai cấp Du-già và Vô thượng du-già tan-tra chứa đựng những mầm mống triết lí cao đẳng của Ðại thừa Phật giáo. Những hành giả thực hành hai Tan-tra này (s: tantrika hoặc sādhaka) phải nắm vững những tư tưởng căn bản của Ðại thừa trước khi bước vào một Vô thượng du-già tan-tra và sau khi đạt yếu chỉ, họ được gọi là là một Tất-đạt (siddha), một Thành tựu giả, »người thành đạt«.|Triết lí nền tảng của Vô thượng du-già là Trung quán (s: madhyamaka), chủ trương nhấn mạnh sự bình đẳng tuyệt đối của Niết-bàn (s: nirvāṇa) và Luân hồi (saṃsāra). Vì thế nên không có sự khác biệt giữa kinh nghiệm thu thập qua các giác quan, thế giới hiện hữu, và kinh nghiệm huyền diệu khi đã đến đích, Niết-bàn. Không có một sự khác biệt nào giữa chủ thể và khách thể, tất cả đều »không hai« (Bất nhị; s: advaya). Sự trực nhận thấy chân lí này chính là niềm vui vô biên (大樂; Ðại lạc; s: mahāsukha) xuất phát từ những vị Ma-ha Tất-đạt (s: mahāsiddha), được chư vị trình bày trong các bài ca chứng đạo (s: dohā, dịch âm Hán Việt là Ðạo-bả; 道把).|Các kinh nghiệm giác ngộ của chư vị được trình bày trong các kệ tụng có thể được tóm tắt, trình bày như sau:|Chỉ có Phật mới nhận ra Phật|Mỗi khoảnh khắc của nhận thức là Phật|Tất cả các dạng hiện hữu là thân Phật|Tất cả âm thanh là lời Phật|Tất cả tâm trạng thanh tịnh là tâm Phật|Tất cả hiện hữu đều là Tâm|Không có gì cấu uế, nhưng có ý niệm cấu uế|Ðạo là mục đích, mục đích là Ðạo|Sắc tức là Không, Không tức là Sắc.|Vô thượng du-già đưa ra một loạt phương pháp tu tập thiền định để đạt được kinh nghiệm nói trên. Hầu hết tất cả những phương pháp thiền định (được gọi là Nội du-già) này đều được sự phụ trợ của những nghi lễ, khế ấn, thủ ấn (Ngoại du-già). Những nghi lễ này đều mang một biểu hiện tâm lí thâm sâu và tất cả những nghi quỹ, hành động của hành giả Tan-tra đều không tự có giá trị – chúng chỉ là những biểu tượng tư tưởng của người thực hiện. Kinh nghiệm tối thượng của Vô thượng du-già chính là sự thống nhất, sự hoà hợp của hai yếu tố chính để đạt Niết-bàn, đó là Trí huệ (prajñā) và Phương tiện (upāya). Hai yếu tố này đã đưa đến cho Vô thượng du-già những biểu tượng tính dục nam nữ và trong đây, Trí huệ được xem là nữ tính, Phương tiện thuộc nam tính. Biểu tượng giao hợp (s: yuganaddha; t: yab-yum; Yab-yum) của nam nữ được sử dụng vì trong tục thế, không có biểu tượng nào gần gũi, cô đọng hơn và cũng vì những biểu tượng này mà Vô thượng du-già thường bị hiểu lầm. Vô thượng du-già bộ không được truyền qua Trung Quốc và vì vậy, sử sách ở đây hay gọi sai là »tả (với ý nghĩa tà) đạo« mặc dù tại đây chưa bao giờ có truyền thống, điều kiện tu tập. Dù muốn hay không, mỗi người tu tập đạo – có quyến thuộc hay không quyến thuộc – đều là kết quả của sự giao hợp này và nó chính là sự dung hoà, tổng hợp giữa âm và dương mà ở đâu người ta cũng có thể thấy được (tương ưng với mặt trời, mặt trăng trong vũ trụ,…, các cặp âm dương câu sinh, đối đãi của thế giới hiện hữu). Kết quả của sự phối hợp giữa Bát-nhã (般若; s: prajñā) và Phương tiện (方便; s: upāya) được gọi là Bồ-đề tâm (菩提心; s: bodhi-citta). Trong khía cạnh tuyệt đối (vivṛti), Bồ-đề tâm là một kinh nghiệm thật tại siêu việt, được mô tả bằng nhiều tên như Ðại lạc (mahāsukha), Tự chứng phần (svasaṃvedya), cái Tự có sẵn (Câu sinh khởi, s: sahaja).|Hai đặc điểm khác của Vô thượng du-già là cách sử dụng những Man-đa-la (maṇḍala) và ăn những thức ăn hành lễ. Những Man-đa-la này được vẽ như những bức tranh để các hành giả dùng để thiết tưởng linh ảnh hoặc được vẽ thẳng ngay dưới đất, được sử dụng trong lúc hành lễ. Còn những món ăn bao gồm nhiều loại khác nhau (năm loại thịt,…) và các luận giải cho rằng, các món ăn này có công dụng thanh lọc Thân khẩu ý một cách nhanh chóng.|Về phần nội dung thì hai bộ Bí mật tập hội (guhya-samāja-tantra) và Hô kim cương tan-tra (hevajra-tantra) nói trên tương đối giống nhau, mặc dù Bí mật tập hội ghi rõ hơn về những Nghi quỹ trong lúc thực hành nghi lễ. Các bộ Vô thượng du-già tan-tra đều được ghi lại bằng một ngôn ngữ bí mật, nhiều nghĩa, có thể giảng giải bằng nhiều cách và nếu không có Ðạo sư (guru) truyền lại những khẩu quyết thì không ai có thể thực hành được. Vì lí do này và những lí do khác đã nói, Vô thượng du-già tan-tra được giữ kín, bí mật, chỉ dành cho hạng thượng căn có duyên.|Nói tóm lại, cách tu tập theo Vô thượng du-già với mục đích »Thành Phật trong kiếp này với thân này« rất khó và chỉ có những ai dày công tu luyện, đã đạt tâm vô chấp, những kiến giải nhị nguyên phân biệt đã tan biến phần nào mới có thể bước vào Pháp môn này được.
Vô Trụ Ðạo Hiểu 無住道曉; J: mujū dōkyō; 1226-1313; còn được gọi là Nhất Viên (j: ichien);|Thiền sư Nhật Bản dòng Lâm Tế, môn đệ của Thiền sư Viên Nhĩ Biện Viên. Sư diêu du khắp nước Nhật và tham vấn nhiều Thiền sư. Sư có một tác phẩm rất hay, được gọi là Sa thạch tập (沙石集; j: shasekishū; được dịch ra Việt ngữ với tên: Góp nhặt cát đá). Tác phẩm này là một bản sưu tầm những ngụ ngôn, lời dạy của các chư Phật, Tổ và những Thiền sư, rất được ưa chuộng trong giới thiền.
Vô trụ xứ niết-bàn 無住處涅槃; S: apratiṣṭhita-nirvāṇa; |Niết-bàn
Vô Trước 無著; S: asaṅga; dịch âm là A-tăng-già (阿僧伽), nghĩa là không bị ô nhiễm, cấu uế, vướng mắc; ~ tk. 4;|Một Ðại luận sư của Phật giáo Ấn Ðộ, người sáng lập Duy thức tông (yogācāra). Sư khước từ quan điểm của Long Thụ (nāgārjuna) về tính Không tuyệt đối và thiết lập giáo pháp của mình dưới ảnh hưởng của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvāstivāda). Tương truyền Sư được Bồ Tát Di-lặc trực tiếp giáo hoá. Có một số luận sư cho rằng Di-lặc này là một nhân vật lịch sử với tên Mai-tre-ya-na-tha (s: maitreyanātha).||H 76: Vô Trước, được trình bày với ấn Sa-môn (s: śramaṇa-mudrā, dấu hiệu của sự đoạn niệm, từ bỏ, thoát li). Sư mang một mũ đầu nhọn, dấu hiệu tượng trưng cho một Học giả (paṇḍita), ba vòng trên mũ là dấu hiệu của một Pháp sư tinh thông Tam tạng. Bình đất đựng nước phía sau cho biết rằng, Sư là một luận sư Ấn Ðộ, xứ nóng. Bình đất đựng nước có công dụng giữ nước mát dưới ánh nắng gắt vì nước có thể bốc hơi một ít qua vành đất nung và giảm nhiệt. Các luận sư Tây Tạng không được trình bày với bình đất vì họ là người xứ lạnh, chỉ uống trà.|Theo Bà-tu Bàn-đầu pháp sư truyện (tức là Thế Thân truyện) của Chân Ðế (paramārtha), Sư sinh ra trong một gia đình Bà-la-môn và là người anh cả, Thế Thân (vasubhandu) là người em kế và người em út có tên Tì-lân-trì Bạt-bà (viriñcivatsa). Cả ba anh em đều tu học giáo pháp của Nhất thiết hữu bộ. Riêng Sư chú tâm tu tập để chứng ngộ được lí Không (s: śūnyatā) của Long Thụ nhưng không đạt được. Ðang lúc thất vọng thì một vị A-la-hán tên là Tân-đầu-la (piṇḍola) đến, dạy Sư nhập môn phép quán Không theo Tiểu thừa. Sư theo học và đạt được kết quả nhưng vẫn không thoả mãn. Cuối cùng, Sư vận dụng Thần thông (s: ṛddhi) lên Ðâu-suất thiên (s: tuṣita) để được nghe đức Di-lặc thuyết giảng về tính Không. Về lại nhân thế, Sư truyền bá lí thuyết mới này nhưng không ai tin. Sau, Sư lại lên Ðâu-suất để thỉnh đức Di-lặc xuống giáo hoá và sau đó đức Di-lặc giáng trần, thuyết giảng Thập thất địa (s: saptadaśabhūmi, tức là 17 quyển của Du-già sư địa luận) trong một khoảng thời gian bốn tháng. Trong lúc này, Sư ban ngày thì thuyết giảng những lời dạy của Di-lặc, ban đêm lắng nghe và ghi chép lại những lời thuyết đó. Sau đó, Sư bắt đầu trình bày tất cả giáo lí Ðại thừa qua những trứ tác quan trọng của mình và cũng khuyến dụ Thế Thân, người em cùng mẹ khác cha, vốn theo học giáo lí của Hữu bộ và cũng đã viết bộ luận lừng danh là A-tì-đạt-ma câu-xá (abhidharmakośa-śāstra). Thế Thân nghe lời khuyên của Sư và từ đây, hai anh em trở thành hai Luận sư tối trọng của Ðại thừa Phật pháp, đại diện cho nhánh Duy thức, để lại những tác phẩm vô cùng quý giá cho hậu thế.|Những nhà Phật học ngày nay đều nhất trí rằng, Ðại thừa Phật pháp là sự phát triển tuyệt đỉnh của các giáo lí mà đức Phật lịch sử từng tuyên thuyết nhưng không hẳn là chính lời của Ngài. Trong thời của Vô Trước, giáo lí Ðại thừa này bị nhiều trường phái Tiểu thừa chỉ trích, cho là Dị giáo (s: tīrthikā; p: titthiyā), là giáo lí của tà ma, ngoại đạo. Sư cũng đứng trước vấn đề này và đã tìm cách chứng minh tính chất phù hợp, tiếp nối, phát triển của giáo lí mới, nêu ý kiến của mình trong Nhiếp Ðại thừa luận: »Nếu Ðại thừa là giáo lí sau này của một người nào đó thì Phật đã bảo rằng, đây là một mối nguy hại cho tương lai. Nhưng Ngài đã không nói. Ðại thừa xuất phát cùng thời với Thanh văn thừa (s: śrāvakayāna), không phải thời sau. Nếu như thế thì sao người ta không thể xem nó chính là lời Phật (buddhavacana) thuyết? Giáo lí thâm sâu này không thể hội được qua biện luận nghi ngờ; những giáo lí này không thể nào tìm thấy được trong các Dị giáo luận (tīrthikāśāstra) và nếu nó được thuyết giảng, ngoại đạo cũng không thể hiểu nổi…« Sư nhấn mạnh rằng, ý nghĩa (artha) được trình bày trong Ðại thừa không nhất thiết theo ngôn ngữ trình bày trên giấy mực; nó chính là cái cốt tuỷ nằm sau những lời văn này. Người ta không thể thâm nhập huyền nghĩa nếu chỉ chú tâm, bám chặt vào văn tự.|Theo thuyết của Cao tăng Tây Tạng Tā-rā-nā-tha (t: kun-dgaḥ sñyin-po), Sư đến nhiều vùng tại Ấn Ðộ và xiển dương giáo lí Ðại thừa Duy thức, thành lập khoảng 25 tu viện. Thời gian hoằng hoá của Sư được xem là nằm trong thế kỉ thứ tư, đặc biệt là trong những vùng Tây Bắc Ấn Ðộ, bây giờ thuộc về Pakistan.|Các tác phẩm quan trọng của Vô Trước là Du-già sư địa luận, Ðại thừa kinh trang nghiêm luận, Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận và Nhiếp Ðại thừa luận, một bộ luận viết bằng văn vần trình bày giáo pháp của Duy thức tông, hiện nay chỉ còn bản dịch chữ Hán và Tây Tạng. Tác phẩm này gồm có mười chương và bàn luận các điểm sau: 1. A-lại-da thức; 2. Lí thuyết cho rằng tất cả thế giới đều từ tâm thức hiện nên, thuần tuý duy tâm (s: cittamātra); 3. Cách chứng ngộ được thuyết này; 4. Các hạnh Ba-la-mật; 5. Thập địa; 6. Giới; 7. Thiền định; 8. Bát-nhã; 9. Trí huệ siêu việt vô phân biệt; 10. Ba thân (trikāya). Có thuyết cho rằng, Sư cũng là tác giả của Bí mật tập hội (guhyasamāja-tantra), một tác phẩm quan trọng thuộc hệ Vô thượng du-già tan-tra, và nếu vậy Sư giữ một vị trí quan trọng trong Mật tông Phật giáo.|Các tác phẩm còn lưu lại dưới tên Sư hoặc dưới tên Di-lặc (trích): 1. Hiển dương thánh giáo luận (pra-karaṇāryaśāsana-śāstra, ārya-śāsana-prakaraṇa-śāstra), 20 quyển, Huyền Trang dịch; 2. Du-già sư địa luận (yogācārabhūmi-śāstra), 100 quyển, Huyền Trang dịch; 3. Nhiếp Ðại thừa luận (mahā-yānasaṃgraha), 3 quyển, Chân Ðế dịch; 4. Ðại thừa a-tì-đạt-ma tập luận (abhidharma-samuc-caya), 7 quyển, Huyền Trang dịch; 5. Ðại thừa kinh trang nghiêm luận tụng (mahāyāna-sūtralaṅkāra-kārikā), 13 quyển, Ba-la-phả Mật-đa-la (prabha-kāramitra) dịch, cũng có bản Phạn và Tạng ngữ; 6. Thuận trung luận (madhyāntānusāra-śāstra), 2 quyển, Bát-nhã Lưu-chi (prajñāruci) dịch; 7. Năng đoạn kim cương bát-nhã ba-la-mật-đa kinh luận tụng (2 bản, āryabhagavatī-prajñāpāramitā-vajrac-chedikā-saptārtha-ṭīkā và triśatikāyā-prajñāpārami-tāyā-kārikā-saptati); 3 quyển, Bồ-đề Lưu-chi dịch, Nghĩa Tịnh cũng dịch một bản; 8. Giải thâm mật kinh chú (ārya-saṃdhinirmocana-bhāṣya), chỉ còn bản Tạng ngữ; 9. Hiện quán trang nghiêm luận tụng (abhisamayā-laṅkāra-nāmaprajñāpāramitā-upa-deśa-śāstra [-kārikā] thường được viết ngắn là abhi-samayālaṅkāra-śāstra), còn bản Phạn và Tạng ngữ; 10. Biện trung biên luận tụng (madhyānta-vibhāga-kārikā), bản Hán và Tạng ngữ vẫn còn. Có hai bản dịch tại Trung Quốc, Huyền Trang dịch ra 3 quyển, Chân Ðế dịch ra 2 quyển dưới tên Trung biên phân biệt luận; 11. Pháp pháp tính phân biệt luận (dharma-dharmatā-vibhāga).
Vô Trước Văn Hỉ 無著文喜; C: wúzhù wénxǐ; J: mujaku bun 'eki; hoặc Hàng Châu Văn Hỉ, Long Tuyền Văn Hỉ; 821-900; |Thiền sư Trung Quốc, thuộc tông Quy Ngưỡng. Sư nối pháp Ngưỡng Sơn Huệ Tịch.|Lúc nhỏ, Sư vân du khắp nơi, có dịp yết kiến Văn-thù Bồ Tát tại Ngũ Ðài sơn và sự việc này được biên soạn lại thành một Công án nổi tiếng trong Bích nham lục (35).
Vô tướng 無相; S, P: animitta;|Sự vô tướng, tính Không (s: śūnyatā) của tất cả các Pháp (s: dharma), dấu hiệu của tuyệt đối không phân biệt.
Vô vi 無爲; S: asaṃskṛta; P: asaṅkhata;|1. Vô vi nghĩa là không phụ thuộc, không bị ảnh hưởng, không vì nhân duyên mà sinh ra, đối nghĩa với vô vi là Hữu vi (有爲; s: saṃs-kṛta), cũng thường được hiểu là »Không làm«. Trong Phật giáo nguyên thuỷ thì chỉ có Niết-bàn được xếp vào hạng vô vi, tất cả các Pháp còn lại đều là hữu vi. Quan niệm này được lưu lại trong Thượng toạ bộ (p: theravāda) và Ðộc Tử bộ (s: vātsīputrīya). Tất cả những bộ phái khác đều dần dần thay đổi cách sử dụng danh từ này.|Ðại chúng bộ chấp nhận 9 pháp vô vi, đó là hai cách Diệt độ (s, p: nirodha), trong đó một loại (1.) được đạt bằng sự phân tích phân biệt, gọi là Trạch diệt (s: pratisaṃkhyā-nirodha), tương ưng với Niết-bàn. Loại Diệt thứ hai (2.) được đạt không qua sự phân tích, phân biệt (phi trạch), được gọi là Phi trạch diệt (s: apratisaṃkhyā-nirodha), liên hệ đến những lậu hoặc (ô nhiễm) mà một A-la-hán không còn vướng mắc. Ðược xếp vào vô vi pháp nữa là Hư không (3.), Không vô biên xứ (4.), Thức vô biên xứ (5.), Vô sở hữu xứ, tức là cái »không có gì« (6.), Phi tưởng phi phi tưởng xứ (7.), nội dung của thuyết Mười hai nhân duyên (8.) và Bát chính đạo (9.).|Nhất thiết hữu bộ công nhận ba pháp vô vi là Hư không và hai loại Diệt trên. Duy thức tông liệt kê thêm vào ba vô vi pháp này một loại Diệt bằng một trạng thái thiền định an vui bất động, sự chấm dứt suy nghĩ và thụ cảm của một A-la-hán và Chân như (tathatā). |Pháp Tạng bộ (s: dharmaguptaka) xếp vào loại vô vi pháp Chân như và sự »Trường tồn của mọi pháp.« Dưới »Trường tồn của mọi pháp« họ định nghĩa rằng cái đặc tính gì không biến đổi của nó (Sự không biến đổi của nó chính là sự biến đổi) và định luật nhân quả (Nghiệp) cũng như một vài trạng thái Ðịnh.|2. Về nghĩa »Không làm« xem dưới Bất hành nhi hành.
Vòng sinh tử S: bhava-cakra; P: bhāva-cakka; nguyên nghĩa Phạn ngữ (sanskrit) là Hữu luân, bánh xe của tồn tại, chỉ cái luân chuyển của thế giới hiện hữu; |Cách nói và biểu tượng của người Tây Tạng chỉ Luân hồi (s: saṃsāra). Thế giới của Hữu tình hiển hiện dưới sáu dạng (Lục đạo): Thiên giới, loài A-tu-la, loài người là ba thiện giới nằm phía trên của bánh xe. Phía dưới của bánh xe là súc sinh, Ngạ quỷ và Ðịa ngục. Tất cả sáu loài này đều chịu Khổ và sự hoại diệt. Cái chết được xem do Diêm vương gây ra, là người quay và giữ (cắn) chặt bánh xe.|Nguyên nhân của khổ được biểu tượng bằng ba con thú nằm ở trung tâm bánh xe: gà (chỉ tham), lợn (chỉ Si) và rắn (chỉ sân). Chu vi của bánh xe được khắc ghi mười hai yếu tố của nhân duyên sinh (Mười hai nhân duyên). Biểu tượng của bánh xe tồn tại được hiểu dưới nhiều cách khác nhau. Ðầu tiên, sáu nẻo tái sinh được trình bày dưới sáu cảnh tượng khác nhau. Tử thư xuất phát từ quan điểm này mà chỉ dẫn những gì cần phải làm lúc chết để được sinh vào các cõi tốt đẹp. Người ta cần hiểu các cõi này chính là sáu loại tâm thức hay sáu mẫu người tiêu biểu hay sáu loại trạng huống ngay trong đời sống bình thường.|Trên một bình diện khác, người xem có thể khám phá ra trong sáu cảnh tượng đó có trình bày sáu dạng xuất hiện của Quán Thế Âm với sáu cách khai thị khác nhau để chúng sinh cõi đó giải thoát. Ngay như câu Man-tra OṂ MA-ṆI PAD-ME HŪṂ với sáu âm cũng được xem là mỗi âm thuộc về một cõi nói trên. Nếu trung tâm bánh xe ghi rõ ba nguyên nhân sinh thành sáu cõi thì vòng ngoài bánh xe là các nguyên nhân cụ thể sinh ra mỗi đời sống cá nhân. Cả hai nơi đều lấy vô minh là cơ sở. Các yếu tố của Mười hai nhân duyên được trình bày trong bức tranh sau (bản vẽ của bà Li Gô-ta-mi, bạn đồng hành của Lạt-ma Gô-vin-đa).|||||H 75: Vòng sinh tử; ① Diêm vương đang cắn và giữ chặt; ② Vòng ngoài cùng tượng trưng cho Mười hai nhân duyên (十二因緣; s: dvādaśāṅga-pratītyasamutpāda), từ trên đỉnh theo chiều kim đồng hồ: 1. Người đàn bà mù chống gậy, vô minh (無明; s: avidyā), 2. Thợ gốm, hành (行; s: saṃskāra), 3. Khỉ, thức (識; s: vijñāna), 4. Hai người trong thuyền, danh sắc (名色; nāmarūpa), 5. Nhà sáu cửa sổ, sáu giác quan, lục căn (六根; ṣaḍāyatana); 6. Cặp trai gái, xúc (觸; sparśa), 7. Mũi tên bắn trúng mắt, thụ (受; vedanā), 8. Người say, ái (愛; tṛṣṇā), 9. Người hái trái cây, thủ (取; upādāna), 10. Cảnh giao hợp, hữu (有; bhava), 11. Mẹ sinh con, sinh (生; jāti), 12. Vai mang xác chết, lão tử (老死; jāra-maraṇa); ③ Vòng giữa, biểu hiện của Lục đạo (六道; từ trên theo kim đồng hồ): 1. Thiên giới (天; deva), 2. A-tu-la (阿修羅; āsura), 3. Ngạ quỷ (餓鬼; preta), 4. Ðịa ngục (地獄; nāraka), 5. Súc sinh (畜生; paśu), 6. Loài người (人; nāra). IV. Trung tâm: gà, tham (貪; rāga), lợn, si (癡; moha) và rắn, sân (瞋; dveṣa).
Vu-lan-bồn hội 盂蘭盆會; S: ullambana; là cách dịch theo âm, dịch nghĩa là Cứu đảo huyền (救倒懸), tức là »Cứu nạn treo ngược«, cứu »những oan hồn bị treo ngược dưới địa ngục«;|Một lễ hội cúng các cô hồn, Ngạ quỷ nhằm ngày rằm tháng bảy. Trong ngày này, các quỷ đói dưới Ðịa ngục (Lục đạo) được cúng dường thức ăn, bánh trái, giấy tiền vàng bạc, quần áo, v.v. để họ được giảm khổ đau. Lễ này được tổ chức lần đầu tiên năm 538 tại Trung Quốc và vẫn được tổ chức hàng năm tại các nước Ðông Á như Trung Quốc, Việt Nam.|Nguồn gốc của lễ này xuất phát từ Mục-kiền-liên. Tôn giả nhờ Thiên nhãn thông (Lục thông) thấy được mẹ mình tái sinh làm ngạ quỷ dưới địa ngục và đau xót muốn cứu bà. Ðức Phật bảo là chỉ có sự hỗ trợ của toàn thể Tỉ-khâu trong Tăng-già mới giảm đau cho họ được. Từ đây xuất phát ra truyền thống cúng ngày rằm tháng bảy, nhằm ngày chư tăng làm lễ tự tứ sau ba tháng an cư, và người ta tin rằng, lễ cúng này giải thoát khổ đau cho thân quyến bảy đời trước của người cúng. Sự phối hợp giữa giáo lí Từ bi và truyền thống thờ Tổ tiên tại Trung Quốc là một trong những yếu tố chính để cho lễ cúng này được lưu truyền đến ngày nay (Phóng diệm khẩu).
Vương Duy 王維; C: wángwéi; 701-761 hoặc 699-759, tự Ma-cật, thường được gọi theo chức vụ là Vương Hữu Thừa;|Cư sĩ ngộ đạo kiêm thi hào nổi danh người Trung Quốc đời Ðường. Ông được xếp ngang hàng với ba đại thi hào đời Ðường là Lí Thái Bạch, Ðỗ Phủ và Bạch Cư Dị. Ông rất đa tài, thơ hay, chữ đẹp, tinh thông hội hoạ và âm nhạc. Ðời sau tôn ông là »Khai sơn tổ sư« của lối vẽ »Thuỷ mặc Nam phương.«|Ông người huyện Kì (nay thuộc phủ Thái Nguyên ở tỉnh Sơn Tây). Cha mất khi ông còn nhỏ. Mẹ ông rất sùng bái đạo Phật và sự việc này có ảnh hưởng rất nhiều đến tư tưởng của ông sau này.|Năm lên 21, ông thi đỗ tiến sĩ, được phong quan đến chức Thượng thư hữu thừa. Vợ mất lúc ông ba mươi tuổi nhưng ông không tục huyền, sống yên tĩnh với một chức quan văn nhàn hạ, »suốt ngày gãy đàn thổi sáo, làm phú vịnh thơ,« và »mỗi lần bãi triều thì về đốt hương ngồi một mình, tụng kinh niệm Phật.«|Ông ăn chay trường, thường kết bạn, đàm luận với các nhà sư và cung cấp thực phẩm cho hơn mười vị tăng. Người đời rất tôn trọng, gọi ông là »Thi Phật« (詩佛). Ông rất đa tài: tinh thông thư pháp, hội hoạ, âm nhạc và thư ca. Những khía cạnh nghệ thuật nói trên đều được phối hợp chặt chẽ, cân đối trong những tác phẩm của ông. Ðại văn hào Tô Ðông Pha đời Tống ca ngợi các tác phẩm của ông là »Thưởng thức thơ của Ma-cật, trong thơ thấy có hội hoạ; ngắm những bức hoạ của Ma-cật lại thấy trong đó có thơ« (vi Ma-cật chi thi, thi trung hữu hoạ, quan Ma-cật chi hoạ, hoạ trung hữu thi).|Trong các bài thơ, ông thường mô tả cuộc sống nông thôn yên tĩnh, trong sáng, con người nhàn nhã phù hợp với tư tưởng thấm nhuần triết lí »bất sinh, bất tử« của đạo Phật và cách nhìn thế gian theo quan niệm »Vô vi« của Lão Tử và Trang Tử (theo Lê Nguyễn Lưu).|Sau đây là hai bài thơ tiêu biểu cho tư tưởng đạo Phật của ông:|Quá Hương Tích tự 過香積寺 – Ghé chùa Hương Tích (Trần Trọng Kim dịch):|不知香積寺。數里入雲峰|古木無人徑。深山何處鐘|泉聲咽危石。日色冷青松|薄暮空譚曲。安禪制毒龍|Bất tri Hương Tích tự|Sổ lí nhập vân phong|Cổ mộc vô nhân kính|Thâm sơn hà xứ chung?|Tuyền thanh yết nguy thạch|Nhật sắc lãnh thanh tùng|Bạc mộ không đàm khúc|An thiền chế độc long.|*Chẳng hay Hương Tích chùa đâu|Trèo lên mấy dặm núi cao mây hồng|Một đường cây cổ vắng không|Chuông đầu nghe vẳng chỗ cùng non xa|Tiếng khe bên đá tuôn ra|Vẻ trời lạnh lẽo bơ phờ cây thông|Chiều hôm đầm vắng uốn vòng|Phép thiền mầu nhiệm, độc long nép mình.|Thu dạ độc toạ 秋夜獨坐 – Ðêm thu ngồi một mình (Lê Nguyễn Lưu dịch):|獨坐悲雙鬢。空堂欲二更|雨中山果落。燈下草蟲鳴|白髮終難變。黃金不可成|欲知除老病。惟有學無生|Ðộc toạ bi song mấn|Không đường dục nhị canh|Vũ trung sơn quả lạc|Ðăng hạ thảo trùng minh|Bạch phát chung nan biên|Hoàng kim bất khả thành|Dục tri trừ lão bệnh|Duy hữu học vô sinh.|*Ngồi chạnh thương màu tóc|Canh hai, nhà lặng yên|Trong mưa rừng trái rụng|Dưới nến cỏ giun rền|Tóc trắng thay nào được?|Thuốc vàng luyện khó nên|Bệnh, già mong dứt hết|Ðạo Phật học cho chuyên.
Vương xá 王舍; S: rājagṛha; P: rājagaha;|Thành phố cách Patna ngày nay khoảng 70 km về phía Ðông Nam, nằm cạnh sông Hằng, kinh đô của nước Ma-kiệt-đà (magadha) do vua Tần-bà-sa-la (s, p: bimbisāra) trị vì trong thời Phật tại thế. Tại Vương xá có 16 Tinh xá dành cho đức Phật giảng pháp và trong đó có Tinh xá Trúc Lâm (s: veṇuvana; p: veḷuvana) do chính Tần-bà-sa-la tặng. Phật Thích-ca từng lưu trú ở Vương xá trong số mùa mưa và nơi đây cũng là hội nghị Kết tập lần thứ nhất được tổ chức sau khi Phật diệt độ.
Xả 捨; S: upekṣā; P: upekkhā;|Là xả bỏ, một trong những đức hạnh quan trọng trong đạo Phật. Xả có nội dung: 1. Tình trạng không vui không buồn, độc lập với vui buồn; 2. Tâm thức vững chắc, nằm ngoài mọi phân biệt. Trong kinh sách đạo Phật, người ta hay hiểu nghĩa thứ hai nói trên. Xả là một trong Bảy giác chi (s: bo-dhyaṅga; p: bojjhaṅga) và Bốn phạm trú (s, p: brahma-vihāra).
Xà-dạ-đa 闍夜多; S: śayata;|Tổ thứ 20 của Thiền tông Ấn Ðộ.
Xà-lê 闍黎|A-xà-lê
Xá-lị 舍利; S: śarīra;|Chỉ chung những gì còn sót lại sau khi thiêu thân Phật Thích-ca hoặc các bậc đắc đạo, thường được thờ trong các Tháp hay chùa chiền.|Người ta cho rằng, tục thờ Xá-lị có lẽ bắt đầu với Phật Thích-ca. Tro của Ngài được chia ra nhiều phần cho các bộ tộc và lần đó có sự tranh chấp về vấn đề này. Danh từ Xá-lị cũng được dùng để chỉ Kinh (s: sūtra), Ðà-la-ni (s: dhāraṇī) hay tranh tượng đức Phật, mang tính chất thiêng liêng. Tục thờ cúng Xá-lị được lưu truyền trong dân chúng, người ta tin rằng nhờ vậy mà trừ được rủi ro.|Người ta đã tìm thấy Xá-lị của Phật Thích-ca tại quê hương của Ngài là Ca-tì-la-vệ (s: kapilavastu) và Vệ-xá-li (s: vaiśālī). Một răng của Phật được thờ tại Candy (Tích Lan), tóc của Ngài được thờ tại Miến Ðiện. Người ta cho rằng bình khất thực của Ngài ngày nay vẫn còn: theo Ðại sử (p: mahāvaṃsa) của Tích Lan thì bình này được vua A-dục cho mang qua Tích Lan, sau thời Marco Polo thì vua Tích Lan Kublai Khan cho mang bình qua Trung Quốc.
Xá-lị-phất 舍利弗; hoặc Xá-lị tử; S: śāriputra; P: sāriput-ta;|Một trong Mười đại đệ tử của Phật. Xá-lị-phất xuất thân từ một gia đình Bà-la-môn. Sau khi đức Phật giác ngộ, Xá-lị-phất cùng bạn thân là Mục-kiền-liên (s: mahāmau-dgalyāyana; p: mahāmoggallāna) gia nhập Tăng-già và mang danh hiệu là »Trí huệ đệ nhất«. Tôn giả mất vài tháng trước ngày Phật nhập diệt. Trong nhiều chùa, người ta thấy tranh tượng của Xá-lị-phất và Mục-kiền-liên tả hữu bên cạnh đức Phật.|Xá-lị-phất là một người đầy nghi ngờ trước khi gia nhập Tăng-già. Theo kinh sách, Tôn giả trở thành đệ tử của Phật sau khi gặp Tỉ-khâu A-thuyết-thị (assaji). Thấy gương mặt sáng ngời trang nghiêm, phong độ nhàn nhã của A-thuyết-thị, Tôn giả liền hỏi ông ta tin tưởng nơi ai. A-thuyết-thị trả lời bằng bốn câu kệ, được gọi là Duyên khởi kệ:|若法因緣生,法亦因緣滅|是生滅因緣,佛大沙門說|Nhược pháp nhân duyên sinh|Pháp diệc nhân duyên diệt|Thị sinh diệt nhân duyên|Phật Ðại sa-môn thuyết.|*Các pháp nhân duyên sinh|Cũng theo nhân duyên diệt|Nhân duyên sinh diệt này|Phật Ðại sa-môn thuyết.|Nghe xong, Xá-lị-phất liền trực nhận ngay về lí »Có sinh thì có diệt« thuật lại cho bạn là Mục-kiền-liên rồi hai người xin Phật cho gia nhập Tăng-già, trở thành đệ tử.
Xá-vệ 舍衛; S: śrāvāsti; P: sāvatthi;|Thủ đô của nước Kiêu-tát-la (s: kośala; p: kosala). Nơi đây trưởng giả Cấp Cô Ðộc đã cúng dường Kì viên (s, p: jetavana) cho Phật. Phật trú tại Xá-vệ 25 mùa mưa, 19 mùa tại Kì viên và 6 mùa tại vườn trái cây (p: pubā-rāma), một nơi an trú được Ưu-bà-di tên Vi-sākhā cúng dường.
Xú uế 朽穢; C: xiǔhuì; j: kue;|Thối rữa, ô uế, bẩn thỉu.
Xu yếu 樞要; C: shū yào; J: sūyō; |1. Điểm then chốt; điểm sinh động; điểm quan trọng; 2. Luận giải với dụng ý làm sáng tỏ yếu điểm của kinh văn, như Thành Duy thức luận xu yếu (成唯識論樞要) của Khuy Cơ.
Xuất 出; C: chū; J: shuchi;|Có các nghĩa sau: 1. Lộ ra, hiện ra, xuất hiện, trình hiện (s: abhipravartate, pravartate; t: skye ḥgyur); 2. Sinh ra từ bào thai; 3. Vượt quá, vượt hơn.
Xuất định 出定; C: chūdìng; J: shuchijō;|Ra khỏi trạng thái tập trung tâm ý trong thiền định (s: vyutthāna).
Xuất gia 出家; C: chūjiā; J: shukke; S: pravraiyā; P: pabbajjā;|Rời bỏ gia đình và từ bỏ mọi quan hệ xã hội, đó là bước đầu tiên của một Tỉ-khâu Tiểu thừa, là người phải xa lánh thế gian để đạt thánh đạo. Tỉ-khâu phải cạo râu tóc, mang y vàng và bắt đầu giai đoạn làm Sa-di (s: śrā-maṇera).|Kinh sách nói về đời sống xuất gia như sau: »›Ðời sống tại gia đầy trở ngại, là nơi thiếu thanh tịnh, sống xuất gia thì nhẹ như khí trời. Khó khăn thay sống tại gia mà giữ được một đời không uế nhiễm. Còn nếu ta, cạo râu tóc, đắp y vàng, bước vào cuộc sống không nhà cửa thì sao?‹. Người đó nghĩ như thế, một thời gian sau, bỏ tài sản lớn, tài sản nhỏ, bỏ quyến thuộc lớn, quyến thuộc nhỏ, cạo râu tóc, đắp y vàng, bỏ nhà ra đi, bước vào cuộc sống không nhà.«
Xuất hiện 出現; C: chūxiàn; J: shutsugen;|Sự đến, sự ra đời. Sự thị hiện nơi thế gian (s: utpāda).
Xuất kinh 出經; C: chūjīng; J: shutsukyō;|Tên gọi tắt của Kim Cương Trí sở dịch chi Kim Cương đỉnh du-già trung lược xuất niệm tụng kinh (金剛智所譯之金剛頂瑜伽中略出念誦經).
Xuất lĩnh 出嶺; C: chūlǐng; J: shutsurei;|Xuống núi.
Xuất quán 出觀; C: chūguān; J: shukkan;|Ra khỏi cảnh giới thiền định, khi hành giả muốn giáo hoá người khác. Như Xuất định (出定), phản nghĩa với Nhập quán (入觀, theo luận Kim Cương tam-muội 金剛三昧論).
Xuất sinh nhất thiết Như Lai pháp nhãn Biến Chiếu Đại Lực Minh vương kinh 出生一切如來法眼遍照大力明王經; C: chūshēng yīqiè rúlái fǎyăn biànzhào dàlì míngwáng jīng; J: shusshō issai nyorai hōgen henjō dairiki myōō kyō; S: mahābala.|Kinh; 2 quyển. Tên gọi tắt là: Tịch trừ chư ác kinh (辟除諸惡經), và Biến Chiếu Đại Lực Minh Vương kinh (遍照大力明王經), Thí Hộ (s: dānapāla) dịch.
Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh 出生無邊門陀羅尼經; C: chūshēng wúbiān mén tuóluóní jīng; J: shusshō muhen mon dara-nikyō; S: anantamukha-dhāraṇī; t: ['phags pa] sgo mtha' yas pas bsgrub pa shes bya ba'i gzungs.|Các tên khác là anantamukhanirhāra-dhā-raṇī và anantamukhasādhakanāma-dhāraṇī. Tương truyền kinh nầy được biên tập bởi đức Phật lịch sử tại thành Tì-xá-li (s: vaiśālī) 3 tháng trước khi ngài nhập Niết-bàn. Những ai trì tụng Đà-la-ni nầy có thể vượt thoát mọi chướng ngại và được chư Phật hộ niệm; những ai thâm nhập được nghĩa Đà-la-ni thì nhanh chóng được giác ngộ, vì sự hành trì Đà-la-ni dựa vào ý niệm vô sở đắc (s: anupalaṃbha 無所得). Để cho Đà-la-ni có được hiệu nghiệm, hành giả phải từ bỏ thế tục, sống đạo hạnh và thông hiểu ý nghĩa 8 chủng tự (種字; s: akṣarabīja: pa, la, ba, ja, ka, dha, śa, kṣa). Sự hiện diện của pháp tu như thế trong kinh văn tương đối sớm cho biết ảnh hưởng mạnh mẽ của sự phát triển Mật tông Phật giáo. Trong 8 bản dịch tiếng Hán, bản của Bất Không (不空; s: amoghavajra) có uy tín nhất đối với Chân ngôn tông (眞言宗). Các bản dịch được sắp xếp thứ tự theo lịch sử như sau:|1. Vô lượng môn vi mật trì kinh (無量門微密持經), 1 quyển, Chi Khiêm (支謙) dịch. Điểm khác thường là bản kinh nầy đã dịch 8 chủng tự hơn là chuyển âm chúng thành chữ Hán, có nghĩa là, chọn những chữ Hán tương đương để biểu thị cho nghĩa của những mẫu tự mà chủng tự sử dụng, và đó không phải đơn thuần là việc phiên âm; 2. Xuất sinh vô lượng môn trì kinh (出生無量門持經) 1 quyển, Phật-đà Bạt-đà-la dịch (佛陀跋陀羅; s: buddhabhadra) vào thế kỉ thứ 5; 3. A-nan-đà mục-khiếp-ni-kha-li-đà kinh (阿難陀目怯尼呵離陀經; s: anantamukha-nirhāra-dhāraṇī), 1 quyển, Cầu-na Bạt-đà-la (求那跋陀羅; s: guṇabhadra) dịch; 4. Vô lượng môn bạt quỷ đà-la-ni kinh (無量門破魔陀羅尼經), 1 quyển, Công Đức Trực (功德直) và Huyền Sướng (玄暢) dịch; 5. A-nan-đà mục-khiếp ni-kha-li đà-lân-ni kinh (阿難陀目怯尼呵離陀隣尼經; s: anan-tamukhanirhāra-dhāraṇī), 1 quyển, Phật-đà Phiến-đa (佛陀扇多; s: buddhaśānta) dịch; 6. Xá-lợi-phất đà-la-ni kinh (舍利弗陀羅尼經), 1 quyển, Tăng-già Bà-la (僧伽婆羅; s: saṅghavarman) dịch; 7. Nhất hướng xuất sinh Bồ Tát kinh (一向出生菩薩經), 1 quyển, Xà-na Quật-đa (闍那崛多; s: jñānagupta) dịch; 8. Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經), 1 quyển, Trí Nghiêm (智嚴) dịch; 9. Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經), 1 quyển, Bất Không dịch. Bản dịch nầy là nền tảng của tập Xuất sinh vô biên môn kinh nghi quỹ (出生無邊門經儀軌) được Bất Không soạn. |Để nghiên cứu thêm từ nguồn gốc tiếng Hán, Khotanese, Phạn, và tiếng Tây Tạng, có trích dẫn Anantamukhanirhāradhāraṇīṭīkā của Jñānagarbha, xin xem tác phẩm của Inagaki (1987); về bản dịch sang tiếng Nhật của luận giải này, xem Horiuchi (1967) Horiuchi (1968) và Horiuchi (1969).
Xuất sinh vô lượng môn trì kinh 出生無量門持經; C: chūshēng wúliángmén chí jīng; J: shusshō muryōmon ji kyō;|Tên gọi khác của kinh Xuất sinh vô biên môn đà-la-ni kinh (出生無邊門陀羅尼經).
Xuất tam tạng kí tập 出三藏記集; C: chū sānzàng jìjí; J: shutsu sanzō kishū;|Sách; được Tăng Hựu (僧祐) biên soạn vào khoảng năm 515. Sư hoàn chỉnh bản mục lục ngay trước khi viên tịch. Sư đã sưu tập một danh sách đồ sộ dựa vào những tài liệu có được trong thời đại của sư (nay đã thất lạc) song song với công trình nghiên cứu của mình. Thêm vào mục lục của rất nhiều kinh văn, tập này còn bao gồm những tiểu luận giới thiệu việc phiên dịch kinh điển và tiểu sử của các dịch giả tiền bối, và như vậy, làm cho công trình nầy hoàn chỉnh và đáng tin cậy nhất trong các tác phẩm được đề cập trước thời đó. Mục lục của Tăng Hựu có ghi cả dạng kinh đáng ngờ và kinh nguỵ tạo, mà không có một phân định rõ ràng giữa hai loại ấy.
Xuất thế 出世; C: chū shì; J: shusse; S: lokottara; P: lokuttara; nghĩa là »vượt lên trên thế gian«;|1. Chỉ đặc tính của tất cả những gì nhằm giải thoát khỏi ràng buộc thế gian và hướng đến Niết-bàn (s: nirvāṇa; p: nibbāna). Ví dụ như Thánh đạo (s: ārya-mārga; p: ariya-magga) là đạo xuất thế, trong đó có đạo và Thánh quả Dự lưu (s: śrotāpanna; p: sotā-panna), Nhất lai (s: sakṛḍāgāmin; p: sakaḍā-gāmin), Bất hoàn (s, p: anāgāmin), A-la-hán (s: arhat; p: arahant) và Niết-bàn.|Trong Ðại thừa, đức Phật được xem là con người xuất thế, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh, thọ mệnh vô lượng, đã đạt Nhất thiết trí.|2. Từ bỏ cuộc sống thế tục để tu tập Phật pháp; |3. Đức Phật hay Bồ Tát thị hiện ở thế gian để cứu độ chúng sinh (s: utpāda);|4. Sự đề cử một vị Thiền sư đảm nhiệm việc trú trì một tu viện.
Xuất thế gian đạo 出世間道; C: chūshìjiāndào; J: shusse-kendō;|Đạo xuất thế đưa đến giác ngộ. Đạo giác ngộ được hành trì để tăng trưởng đạo tâm: đó là Kiến đạo (見道), Tu đạo (修道) và Cứu cánh đạo (究竟道).
Xuất thế gian pháp 出世間法; C: chū shìjiān fǎ; J: shussekenhō; |Xuất thế pháp (出世法).
Xuất thế pháp 出世法; C: chūshì fǎ; J: shussehō;|Các pháp siêu việt thế gian. Các pháp của thế giới giác ngộ, như Lục độ, Tứ diệu đế, Niết-bàn…
Xuất trần 出塵; C: chūchén; J: shutsujin;|Lìa xa ô nhiễm của thế giới phàm trần. Tự nguyện sống đời xuất gia, nhập viện.
Xúc 觸; S: sparśa; P: phassa;|Chỉ sự tiếp xúc giữa các giác quan (Lục căn) và các đối tượng của chúng (trần) với sự hiện diện của Thức (s: vijñāna; p: viññāṇa). Xúc sẽ sinh ra Thụ (s, p: vedanā). Xúc chỉ là tiếp cận chớp nhoáng giữa giác quan và đối tượng, chưa có phân biệt tốt xấu. Có sáu loại Xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân và ý. Xúc là một hoạt động tâm lí (Ngũ uẩn) và là yếu tố thứ sáu trong Mười hai nhân duyên.
Xung 冲 (沖); C: chōng; J: chū;|Có các nghĩa sau: 1. Sự hài hoà, tính ân cần, vui lòng; 2. Sâu, thăm thẳm; 3. Không, trống không; 4. Xông tới, va chạm; 5. Toả ra, truyền đi; 6. Bay vút lên, đi lầm đường.
Xướng 唱; C: chàng; J: shō;|Có các nghĩa sau: 1. Gọi, kêu lên; 2. Tán dương, ca tụng, thán phục, khen ngợi (s: parikīrtayati); 3. Ca hát (ca 歌); 4. Hướng dẫn, chỉ dẫn (đạo 導); 5. Giảng giải (thuyết 説).
Y 依; C: yī; J: e.|Cơ sở, căn bản (s: saraya, sama-, samupa-, samyoga, niśraya, niśrita, niśritya); 2. Nguyên nhân khiến cho mọi vật hiện hữu; 3. Nền tảng, nơi an trú (của mọi vật); 4. Nền tảng của sự chấp trước. Những yếu tố tạo nên sự hiện hữu (trong sự tạo thành thật thể luân hồi từ quá khứ đến tương lai). Phiền não, nhiễm ô, chấp trước. Vì phiền não là điều kiện căn bản (sở y) của vô số cảnh giới (năng y) khổ đau, nên có hai tầng bậc ý nghĩa của thuật ngữ (s: upādhi: thật thể luân hồi); 5. Quy tắc, luật lệ, sự chỉ đạo. Hiện hữu vì mục đích cho sự gia trì (s: adhisthāna); 6. Sự tùy thuộc, nương vào; 7. Theo triết học của phái Số luận, đó là những pháp hiện hữu tùy thuộc vào một cái gì đó khác (s: āśrita); 8. Chiếu theo căn cứ đáng tin (kinh văn, luận giải…, s: āśraya); 9. Vật, nơi được dựa vào; 10. Sinh khởi từ, căn cứ vào, dựa vào, xuất phát từ; 11. Được đặt vào vị trí (trong, trên, ngay, s: upādāya, pratisarana).
Y báo 依報; C: yībào; J: ehō.|»Nghiệp báo theo hoàn cảnh«. Hoàn cảnh, môi trường mà chúng ta được sinh vào, như tình trạng xã hội, địa lí, xuất phát từ nghiệp mà ta đã tạo từ kiếp trước. Đối lại, thân tâm là chính báo (正報, nghiệp báo trực tiếp).
Y chỉ 依止; C: yīzhǐ; J: eji;|Có các nghĩa: 1. Sự tin cậy, sự nương vào; 2. Nương vào điều gì có năng lực và đạo đức. Một nền tảng, một lực gia trì (s: āśraya, a-dhistāna); 3. Phụng sự (s: samśraya); 4. Phụng sự (thầy) với tư cách là đệ tử, để tu tập và học hỏi giáo pháp; 5. Y theo; 6. Làm (việc gì) theo chủ đề. Xem, tham khảo, nói đến, đề cập đến.
Y chỉ chân như 依止眞如; C: yīzhǐ zhēnrú; J: eji shinnyo;|Chân như, bản chất Như như của sự tu tập, liên quan đến khổ đế. Một trong 7 pháp Chân như (Thất chủng chân như 七種眞如; theo Thập bát không luận 十八空論)
Y cứ 依據; C: yījù; J: ekyo;|Sự dựa vào, sự tin vào.
Y-đế-mục-đa-già 伊帝目多伽; C: yīdìmùduōqié; J: itaimokuta-ka;|Phiên âm từ chữ itivṛttaka trong tiếng Phạn (sanskrit). Là một trong 12 thể loại của kinh Phật (Thập nhị bộ kinh 十二部經), theo sự sắp xếp của các đệ tử Phật từ thời quá khứ.
Y Sơn 依山; ?-1213|Thiền sư Việt Nam, thuộc phái Tì-ni-đa Lưu-chi đời thứ 19. Sư nối pháp Quốc sư Viên Thông.|Sư họ Nguyễn, quê ở làng Cẩm, tỉnh Nghệ An. Thuở nhỏ Sư đã tinh thông sách sử, cả kinh sách của nhà Phật. Năm 30 tuổi, Sư xuất gia với một vị Trưởng lão trong làng và sau đó đến kinh đô tham học với Thiền sư Viên Thông. Nhân một câu nói của Viên Thông mà Sư ngộ được yếu chỉ.|Về sau, Sư chu du tuỳ duyên hoằng hoá và thường khuyên đồ chúng: »Mến danh thích lợi, đều như bọt nước mặt ghềnh. Cấy phúc gieo duyên, trọn là trong lòng hoài bão.«|Sắp tịch, Sư gọi chúng đến bảo: »Ta chẳng trở lại cõi này nữa.« Ngày 18 tháng 3 năm Bính Tí, năm thứ ba niên hiệu Kiến Gia, Sư an nhiên thị tịch.|Sau đây là bài kệ Hoá vận – 化運 của Sư:|真身成萬象。萬象成真身|月殿榮丹桂。丹桂在一輪|Chân thân thành vạn tượng|Vạn tương thành chân thân|Nguyệt điện vinh đan quế|Ðan quế tại nhất luân.|*Một thật thân thành nghìn tướng sắc|Dẫu muôn nghìn cũng tức chân thân|Khác nào quế tốt muôn phần|Nghìn thu vẫn ở giữa vầng trăng trong.|(Phạm Tú Châu dịch)|Y tha khởi |依他起; C: yītāqǐ; J: etaki.|Sinh khởi tùy thuộc vào các pháp khác (s: paratantra, t: gshan gyi dbaṅ). Xem Y tha khởi tính (依他起性; theo Hiển dương luận 顯揚論)
Y tha khởi tính 依他起性; C: yītā qǐxìng; J: etakishō; S: para-tantra-svabhāva.|1. Tính hiện hữu của các pháp sinh khởi tùy thuộc vào các pháp khác; nên nói các pháp sinh khởi nhờ vào nhân duyên. Còn được gọi là Duyên hữu (縁有); 2. Các pháp sinh ra do nhân duyên và hoại diệt khi các nhân duyên không hội đủ. Theo lí thuyết của Duy thức tông, nó liên quan đến 94 yếu tố nhân duyên. Dù các pháp hiện hữu, nhưng nó không hiện hữu trong một ý niệm cơ bản, nên nó không thể được xem là không hiện hữu (vô 無). Đây được gọi là »giả hữu pháp« (假有法) hoặc là »không hiện hữu thật sự, có vẻ như hiện hữu« (phi hữu tự hữu 非有似有).
Ý thức 意識; S: manovijñāna; P: manoviññāṇa;|Thức dựa trên cơ bản tin tức truyền đến từ năm giác quan còn lại. Ðối tượng của ý thức là tất cả những vật chất hiện hữu và ý nghĩ. Ý thức bao gồm những hoạt động của tâm như tưởng tượng, phê bình, so sánh… (Pháp tướng tông, Duy thức tông).
Y tự 伊字; C: yīzì; J: iji;|Nguyên âm i trong tiếng Phạn (sanskrit), được viết như hình có ba cạnh trong một vòng tròn nhỏ (s: i-kara).
Y tự tam điểm 伊字三點; C: yīzì sāndiǎn; J: ijisanten;|Trong tiếng Sanskrit, nguyên âm I được viết bằng ba chấm theo hình tam giác (∴). Vì ba điểm nầy được xếp theo chiều ngang hoặc theo chiều dọc, nên nó được dùng cho chuyển nghĩa »không giống cũng không khác- bất đồng diệc bất dị«. Trong kinh Niết-bàn, ba điểm nầy được dùng cho chuyển nghĩa về sự tương quan giữa Pháp thân với Giải thoát (s: mokṣa).
Y xứ 依處; C: yīchù; J: esho;|Quan điểm, lập trường căn bản. Căn nguyên (s: adhikāra, adhiṣṭhāna, vastu, hetu).
Yab-yum T: yab-yum; S: yuganaddha; nghĩa là »Phụ mẫu«;|Hình tượng thường thấy trong nghệ thuật Tây tạng trình bày nam thần nữ thần trong tư thế giao hợp, vấn víu nhau. Trong Kim cương thừa, đây là biểu tượng cho sự thống nhất của hai nguyên lí âm dương. Hình tượng này cũng được vẽ trên các Thăng-ka (t: than-ka) và đôi khi được một số Du-già sư (yogin) dùng để thiền quán, nhằm thống nhất năng lực âm dương trong người mình, theo những phép hành trì mật tông, Nghi quỹ (s: sādhana) nhất định.
Ye-she Tsog-yel T: ye-shes mtsho-rgyal; 757-817, nghĩa là »Nàng công chúa của hồ trí huệ«;|Người phụ nữ nổi tiếng nhất của tông Ninh-mã (t: nyingmapa) tại Tây Tạng, là bạn đồng hành của Liên Hoa Sinh (padmasambhava). Bà thuộc dòng vương tước Khar-chen, năm 12 tuổi đã được vua Tri-song Ðet-sen (t: trisong detsen) chú ý, cho đưa vào cung. Tại đây bà gặp vị Cao tăng Ấn Ðộ Tịch Hộ (śāntarakṣita). Sau đó bà được Liên Hoa Sinh chọn làm bạn đồng tu, truyền cho phép Phur-bu. Bà là người ghi lại vô số lời khai thị của Liên Hoa Sinh trong các bí lục Ter-ma và cũng chép lại cuộc đời của Ngài. Khoảng cuối đời bà sống tại miền đông Tây Tạng. Ngày nay người ta còn thờ cúng bà như một Không hành nữ (s: ḍākinī).
Yên Tử 安子|Một dòng thiền Việt Nam, bắt đầu trong thế kỉ thứ 13. Dòng Yên Tử được xem là sự hợp nhất của ba phái Thiền Thảo Ðường, Vô Ngôn Thông và Tì-ni-đa Lưu-chi. Yên Tử được Thiền sư Hiện Quang (mất năm 1221) sáng lập. Tổ thứ sáu của Yên Tử là Trần Nhân Tông (hiệu Trúc Lâm), một vì vua lỗi lạc cho nên dòng Yên Tử sau được gọi là dòng Trúc Lâm Yên Tử và Trần Nhân Tông được tôn là Ðệ nhất tổ. Dòng Yên Tử tập hợp nhiều vị Thiền sư xuất sắc của Việt Nam như Trúc Lâm Ðầu Ðà Trần Nhân Tông, Pháp Loa, Huyền Quang và các nhà vua đời Trần như Trần Thái Tông, Anh Tông cũng như Huệ Trung Thượng sĩ. Khác với truyền thống chia nhiều phái Thiền như tại Trung Quốc, tại Việt Nam, Yên Tử là nơi tập hợp ba thiền phái thành một dòng thiền duy nhất. Cơ sở của dòng Thiền Yên Tử Trúc Lâm là các bộ kinh Ðại thừa như Kim cương, Diệu pháp liên hoa, Bát-nhã ba-la-mật-đa, Nhập Lăng-già và Hoa nghiêm.
Thân, khẩu, ý 身口意; S: kāya-vāk-citta;|Ba khái niệm quan trọng (thân thể, lời nói, ý niệm) trong đạo Phật, có ý nghĩa rất sâu xa. Từ thời Phật giáo nguyên thuỷ, khi luận về Nghiệp (s: karma), người ta đã chia ra ba loại Nghiệp do thân, khẩu, ý sinh ra. Ðến Kim cương thừa, ba thành phần trên đây của con người trở thành ba phép tu luyện thiền định. Mục đích cuối cùng của hành giả qua phương pháp tu tập các Nghi quỹ là chứng được Ba thân Phật (s: trikāya). Hành giả bắt Ấn (s: mudrā) thuộc thân, thực hành Thiền định (s: samādhi) thuộc ý và tụng đọc Man-tra (Thần chú) thuộc khẩu để chứng được ba thân đó. Sau đây là mối liên hệ:|Phạm vi/Phương pháp/Chứng ngộ. Thân/Bắt ấn/Ứng hoá thân. Khẩu/Man-tra/Báo thân. Ý/Thiền định/Pháp thân. Phép chia ba thành phần này thường được biểu diễn bởi ba âm OṂ ĀḤ HŪṂ. Ba thành phần và ba âm đó đóng vai trò tuyệt đối quan trọng trong các phép hành trì Nghi quỹ (s: sādhana) và là bước đi cần thiết để tạo linh ảnh. OṂ được xem là có sắc trắng, đặt tại trán và đại diện cho Thân. ĀḤ có sắc đỏ, đặt tại cổ, đại diện cho Khẩu và HŪṂ sắc xanh, đặt tại tim, đại diện cho Ý. Ba khuynh hướng xấu ác của ba thành phần này chính là tham, sân và si, là ba nguyên nhân trói buộc trong Luân hồi. Sau khi được chuyển hoá, Thân khẩu ý được biểu diễn bằng ba Kim cương chử (s: vajra; t: dorje) tượng trưng cho thể tính đích thật của ba thành phần. Trong các tranh trình bày đức Phật (Thăng-ka), người ta hay thấy mặt sau bức tranh các âm OṂ ĀḤ HŪṂ đặt tại trán, cổ và tim.|Giáo pháp tu luyện biến Thân khẩu ý thành Ba thân được trình bày trong hệ thống Ðại thủ ấn (s: mahā-mudrā) và trong Ðại cứu kính (t: dzogchen) của Phật giáo Tây Tạng, gồm có bốn phép tu đặc biệt: 1. Quy y tam bảo (t: kyabdro) và phát Bồ-đề tâm (s: bodhicitta); 2. Quán tưởng đến Kim cương Tát-đoá (s: vajrasattva) để rửa sạch thân khẩu ý; 3. Tích tụ phúc đức (s: puṇya) bằng cách quán niệm Man-đa-la (s: maṇḍala); 4. Hoà nhập tự ngã vào một dòng tu dưới sự hướng dẫn của một Ðạo sư (s: guru).|Cần biết thêm rằng rất nhiều phép tu của Phật giáo Tây Tạng đều nằm trong mối liên hệ chung với ba thành phần Thân khẩu ý. Ðặc biệt trong ba thành phần này thì Khẩu đóng một vai trò trung gian giữa Thân và Ý.