Files
tudien/dict/Tu-dien-Tong-hop-Phat-hoc.json
T
2026-10-02 22:54:53 +08:00

6297 lines
768 KiB
JSON
Raw Blame History

This file contains invisible Unicode characters
This file contains invisible Unicode characters that are indistinguishable to humans but may be processed differently by a computer. If you think that this is intentional, you can safely ignore this warning. Use the Escape button to reveal them.
This file contains Unicode characters that might be confused with other characters. If you think that this is intentional, you can safely ignore this warning. Use the Escape button to reveal them.
{
"WordRaw": [
{
"Id": 1,
"Word": "Tứ xứ",
"Dict": 3,
"Mean": "四處 [ja] シショ shisho ||| (1) The four great locations of Śākyamuni's religious career: his birthplace at Lumbini;Magadha, the place of his enlightenment; the Deer Park at Bārāṇasī, where he preached his first sermon and Hiranyavati in Kuśinagara, where he entered nirvāna. (2) The four practices of wisdom, truth, detachment and equanimity. => Có 2 nghĩa: 1. Bốn vị trí lớn trong đời sống tu hành của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni: nơi sinh ại vườn Lâm-tì-ni; Ma-kiệt-đà, nơi thành đạo; Lộc Uyển ở Ba-la-nại, nơi Ngài thuyết pháp lần đầu tiên và Hiranyavati ở thành Câu-thi-na, nơi ngài nhập niết-bàn. 2. Bốn pháp tu tập: trí huệ, chân thật, xả ly và an tĩnh.",
"Search1": "***",
"Search2": "***"
},
{
"Id": 2,
"Word": "1250 đệ tử",
"Dict": 7,
"Mean": "1250 disciples Gồm: - 4 nhóm chánh: 500 người là thầy trò Ưu lâu tần loa Ca Diếp, 250 người thầy trò Na đề Ca Diếp, 250 người thầy trò Già Da Ca Diếp và 250 người nữa là thầy trò Xá lợi Phất và Mục kiền Liên. Khi Phật ngự tới đâu thường có 1250 đệ tử nay theo hầu. - Ngoài ra Phật con có nhiều đệ tử khác nữa như: 500 đệ tử ở thành Ba la nại, những người trong dòng họ Thích, những Tỳ kheo ni,...",
"Search1": "1250 đệ tử",
"Search2": "1250 de tu"
},
{
"Id": 3,
"Word": "a",
"Dict": 8,
"Mean": "3608<一> 悉曇字???(a,短音)。爲悉曇十二韻之一,四十二字門之一,五十字門之一。又作婀、安、頞、菴、曷、㫊、噁、惡、遏。爲阿字五轉之第一轉,故又稱初轉阿字,或無轉阿字。 蓋印度自古以來即普遍研習有關悉曇字母之字義,於佛教中,顯密諸經論疏亦皆廣泛運用,尤以密教,言及真言陀羅尼時,必特別重視悉曇字義之解說。而於悉曇五十字中,阿字爲第一字,此係因凡有開口成聲者,必含有阿字之聲,若離阿字聲,則無一切言說可言,故密教以阿字爲眾聲之母。又悉曇諸字於運筆之初,必打「、」點,此點稱爲阿點,以此表示「阿」亦爲眾字之母。準此,並引申其義,遂謂內外一切之教法皆由阿字所產生,大日經疏卷七又進一步以阿字爲「一切法教之本」,大日經卷二、卷六亦分別歎之爲「真言王」與「一切真言心」。 若就原本之字義而言,阿字含有「無」、「不」、「非」等的否定之意,如大方等大集經卷十海會菩薩品、文殊師利問經卷上等,謂阿字有「無常」之義;北本大般涅槃經卷八舉出不破壞、不流等義;大寶積經卷六十五緊那羅授記品舉出無作、無邊、無分別、無自性、不可思議等諸義;守護國界主陀羅尼經卷九舉出菩提心、法門、無二、法界、法性、自在、法身等七義,稱爲阿字七義;同經卷二又列舉無來、無去、無行、無住、無本性、無根本、無終、無盡等百義之多。又於大品般若經卷五廣乘品詮解四十二字門中之阿字時,釋之爲「一切法初不生」,此一解釋爲大小顯密各種經論所最常見者,尤以密教更以此義爲其教相、事相之根本要義,故「阿字本不生」(梵 akāra-ādyanutpādaḥ)已成慣用術語而散見於密教各類典籍中。 大日經疏卷七基於中論所說之「亦空亦假亦中」及大智度論之「三智一心」,而從「有、空、不生」等三義來解釋「阿字本不生」之理。又大日經卷一住心品、大日經疏卷十四則以阿字爲本初不生之淨菩提心,謂若了知其實義,則亦可如實了知自心。蓋一部大日經之奧旨盡在窮究菩提心之相,故若就其大綱而言,亦可謂整部大日經盡在詮顯阿字之義相。 此外,又以胎藏界大日如來所宣說自內證之法門(即一部大日經),係在闡明「阿字本不生」之理,故可謂胎藏界大日如來之理法身即以此字爲種子,此即大日經疏卷七所謂(大三九‧六五一下)「故毘盧遮那唯以此一字爲真言也」之意。然同書卷七又以阿字爲菩提心之種子,謂持誦阿字者皆有菩提心,並以之希求無上菩提。 以密教諸尊之種子而言,通常各尊皆有象徵引生、攝持佛智之種子及真言,然諸尊中部分並無各別特定之種子,而以阿字充之,此稱通種子真言。 於金剛、胎藏兩部曼荼羅中,阿字又爲胎藏之種子;於法、報、應三身中,阿字爲法身之種子;於佛、蓮華、金剛三部中,阿字爲佛部之種子;於因、行、證、入、方便等五轉之位次中,阿字爲因之種子;於地、水、火、風、空、識等六大之中,阿字爲地大之種子。又密教各種觀法中,以阿字之形音義爲觀想對象之觀法,稱爲阿字觀,乃真言行者最重要之觀法。〔大日經卷三悉地出現品、守護經卷九陀羅尼功德品、瑜伽金剛頂經釋字母品、大智度論卷四十八、卷八十九、大日經疏卷十、卷十二〕(參閱「阿字五轉」3613、「阿字本不生」3615、「阿字觀」3615) <二>悉曇字???(ā,長音)。悉曇十二韻之一,五十字門之一。又作痾、噁。爲阿字五轉中之第二轉,即無點的阿字加上一點(稱爲修行點);以五轉配上五佛,阿字表示南方寶生如來之三摩地,象徵修行之德,故於五轉中,屬於修行位,此係東因發心之說。若以之配當四方,則表示南方之修行門,爲一切法寂靜(梵 āraṇya)之義,故悉曇家多稱此字爲「寂靜之阿字」。此外,此字另有遠離我、自利利他、空、三昧、聖者、少欲知足、清淨、制度、教誨等諸義。〔金剛頂經釋字母品、大日經疏卷十、卷十四〕",
"Search1": "a",
"Search2": "a"
},
{
"Id": 4,
"Word": "a",
"Dict": 2,
"Mean": "1) Vần bắt đầu của 12 mẫu vận trong Phạn ngữ—The first letter of the 12 Sanskrit Siddham alphabets. 2) Tất cả những Phạn ngữ khác đều phát sinh từ mẫu tự “A”—All other Sanskrit letters are originated from it. 3) “A” là tiếng khai khẩu đầu tiên của nhân loại—It is the first sound uttered by the human mouth. 4) Chữ “A” đứng đầu một chữ có nghĩa phủ định—“A” is a negation if it stands in front of a word. 5) Chữ “A” là biểu tượng—“A” symbolizes -Vô sanh: Hết thảy các pháp không sanh—The unproduced. -Vô thường: Impermanent. -Phi vật chất: Immaterial.",
"Search1": "a",
"Search2": "a"
},
{
"Id": 5,
"Word": "a",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿) I. A. Chữ (a, âm ngắn) của mẫu tự Tất đàm (chữ cái của tiếng Phạm). Là một trong mười hai nguyên âm của mẫu tự Tất đàm, một trong bốn mươi hai hoặc năm mươi chữ cái. Âm Hán: a, an, át, am, hạt, á, ác. Là chữ A chuyển hóa lần thứ nhất trong năm lần chuyển hóa, bởi thế cũng gọi là chữ A chuyển lần đầu, hoặc chữ A không chuyển (còn nguyên gốc). Từ xưa, việc học tập, nghiên cứu về nghĩa mẫu tự Tất đàm, đã rất phổ biến tại Ấn Độ. Trong Phật giáo, các kinh, luận, sớ thuộc Hiển giáo, Mật giáo cũng đều vận dụng một cách rộng rãi, nhất là Mật giáo, khi nói đến Chân ngôn đà-la-ni (thần chú) thì đặc biệt coi trọng sự giải thích về tự nghĩa Tất đàm. A là chữ đầu tiên trong năm mươi chữ cái Tất đàm, đó là vì người ta khi mở miệng nói thành tiếng thì trong đó đã có tiếng chữ A rồi, nếu bỏ tiếng A thì không có tất cả lời có thể nói. Vì vậy, Mật giáo cho chữ A là mẹ của hết thảy tiếng nói. Các chữ Tất đàm, khi mới chuyển bút viết, phải chấm một dấu ., chấm này gọi là chấm chữ A, dùng để biểu thị A là mẹ của tất cả các chữ. Theo đó, suy rộng nghĩa chữ A, mà bảo hết thảy giáo pháp trong hoặc ngoài Mật giáo đều do chữ A sinh ra. Đại Nhật kinh sớ còn đi xa hơn, cho chữ A là gốc của hết thảy các pháp. Kinh Đại Nhật quyển 2, quyển 6 cũng lần lượt khen là Vua chân ngôn và Tâm của hết thảy chân ngôn. Nếu nói theo nghĩa gốc, thì chữ A hàm ý phủ định không, chẳng, chẳng phải .v.v... như kinh Đại Phương Đẳng Đại tập quyển 10 phẩm Hải hội Bồ-tát, kinh Văn Thù Sư Lợi Vấn quyển thượng v.v... bảo chữ A nghĩa là: không thường; kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 8 nêu ra các nghĩa: không phá hoại, không chuyển động. Kinh Đại Bảo Tích quyển 65 phẩm Khẩn-na-la Thụ kí nêu các nghĩa: không làm, không biên giới, không phân biệt, không tự tính, chẳng thể nghĩ bàn, v.v... Kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni quyển 9 thì nêu ra bảy nghĩa: Tâm Bồ đề, pháp môn, không hai, pháp giới, pháp tính, tự tại, pháp thân gọi là bảy nghĩa chữ A. Cũng kinh Thủ Hộ Quốc Giới Chủ Đà La Ni quyển 2 còn nêu rất nhiều nghĩa nữa, như: không lại, không qua, không đi, không đứng, không bản tính, không gốc rễ, không cùng, không hết, v.v...…Lại khi giải thích chữ A trong bốn mươi hai chữ cái, kinh Đại Phẩm Bát Nhã quyển 5 phẩm Quảng Thừa, giải là hết thảy pháp lúc đầu chẳng sinh. Cách giải thích này rất thường thấy trong các kinh luận Đại thừa, Tiểu Thừa, Hiển giáo, Mật giáo, nhất là Mật giáo lại cho nghĩa này là nghĩa căn bản chủ yếu của giáo tướng, sự tướng. Vì thế chữ A vốn không sinh (Phạm: akàraàdyanutpàdah) đã thành là thuật ngữ quen dùng và thấy rải rác trong các kinh điển của Mật giáo. Đại Nhật kinh sớ quyển 7, dựa vào nghĩa cũng không cũng giả cũng trung nói trong luận Trung Quán và nghĩa một tâm ba trí trong luận Đại Trí Độ, rồi theo ba nghĩa có, không, chẳng sinh mà giải thích lý chữ A vốn không sinh. Kinh Đại Nhật quyển 1 phẩm Cụ Duyên và Đại Nhật kinh sớ quyển 14 thì cho chữ A là tâm Bồ đề thanh tịnh lúc đầu vốn chẳng sinh, rồi bảo nếu biết rõ nghĩa chân chính của chữ A, thì cũng có thể biết rõ tâm mình một cách như thực. Bởi vì ý chỉ sâu xa của bộ kinh Đại Nhật là ở chỗ nghiên cứu đến cùng tận cái tướng của tâm Bồ đề. Cho nên, nếu nói một cách đại cương, thì cũng có thể bảo toàn bộ bộ kinh Đại Nhật chỉ nhằm giải thích rõ nghĩa tướng của chữ A. Ngoài ra, mục đích của pháp môn Tự nội chứng (bộ kinh Đại Nhật) do đức Đại Nhật Như Lai tuyên giảng trong Thai tạng giới là nhằm nêu rõ li chữ A vốn chẳng sinh. Cho nên, có thể nói Lý pháp thân của Đại Nhật Như Lai ở Thai tạng giới lấy chữ A này làm chủng tử. Đây chính là cái ý được nói rõ trong Đại Nhật kinh sớ quyển 7 (Đại 39, 651 Hạ): Bởi thế, đức Tì-lô-giá-na chỉ dùng một chữ A này làm chân ngôn. Nhưng, cũng Đại Nhật kinh sớ quyển 7 lại cho chữ A là chủng tử của tâm Bồ đề, bảo những người trì tụng chữ A đều có tâm bồ đề, và nhờ đó mong đạt đến Bồ đề cao tột. Đứng về phương diện chủng tử của chư tôn trong Mật giáo mà nói, thông thường các tôn vị đều có chủng tử và chân ngôn tượng trưng sự dẫn sinh và nhiếp trì trí Phật. Nhưng một bộ phận trong các tôn vị không có chủng tử riêng của mỗi vị mà lấy chữ A thay vào, đây gọi là chủng tử chân ngôn chung. Trong Mạn-đồ-la của Kim Cương giới và Thai Tạng giới, chữ A là chủng tử của Thai Tạng giới. Trong ba thân: Pháp thân, Báo thân và Ứng thân, chữ A là chủng tử của Pháp thân. Trong ba bộ: Phật bộ, Liên Hoa bộ và Kim Cương bộ, chữ A là chủng tử của Phật bộ. Trong thứ tự năm chuyển: Nhân, Hành, Chứng, Nhập, Phương tiện, chữ A là chủng tử của Nhân. Trong sáu nguyên tố Đất, Nước, Lửa, Gió, Không, Thức, chữ A là chủng tử của nguyên tố Đất. Trong các phép quán của Mật giáo, phép quán lấy hình viết, âm đọc và ý nghĩa của chữ A làm đối tượng quán tưởng, thì gọi là pháp quán chữ A, là phép quán trọng yếu nhất của người tu hành chân ngôn. [X. kinh Đại Nhật Q.3, phẩm Tất Địa Xuất Hiện; kinh Thủ Hộ Q.9 phẩm Đà La Ni Công đức; kinh Du Già Kim Cương Đính phẩm Thích Tự Mẫu; luận Đại Trí Độ Q.48, Q.89; Đại Nhật kinh sớ Q.10, Q.12]. (xt. A Tự Ngũ Chuyển, A Tự Bản Bất Sinh, A Tự Quán). II. A. Chữ (à, âm dài) của mẫu tự Tất đàm, một trong mười hai nguyên âm, một trong năm mươi chữ cái tiếng Phạm. Cũng đọc là á. Đây là chữ À chuyển hóa lần thứ hai trong năm lần chuyển hóa, tức là chữ À không có chấm thêm một chấm (gọi là chấm tu hành). Đem năm lần chuyển hóa phối với năm vị Phật, thì chữ À biểu thị Tam-ma-địa của đức Bảo Sinh Như Lai ở phương Nam, tượng trưng đức tu hành. Cho nên, trong năm lần chuyển hóa, chữ À này thuộc về ngôi tu hành, đây là thuyết Đông Nhân Phát Tâm. Nếu đem phối với bốn phương, thì chữ À biểu thị cửa tu hành ở phương Nam, là nghĩa hết thảy pháp vắng lặng (Phạm: àraịya), bởi thế, nhà Tất đàm phần nhiều gọi chữ À là chữ À vắng lặng. Ngoài ra, chữ À này còn có các nghĩa như: xa lìa ta, lợi mình lợi người, Không tam muội, Thánh giả, ít muốn, biết đủ, trong sạch, răn dạy v.v... [X. kinh Kim Cương Đính phẩm Thích Tự Mẫu; Đại Nhật kinh sớ Q.10, Q.14].",
"Search1": "a",
"Search2": "a"
},
{
"Id": 6,
"Word": "á",
"Dict": 8,
"Mean": "① Thuật ngữ này được dùng trong trường hợp người học tuy muốn biểu hiện sở đắc của riêng mình, nhưng khi ấy tận cùng ngôn ngữ cũng không cách gì biểu đạt; hoặc là thuật ngữ dùng để biểu thị chân lí Phật pháp mà không dùng lời nói. Phần Khám Biện trong [i]Lâm Tế lục[/i] (Đại 47, 504 thượng) ghi: »師 問 杏 山:如 何 是 露 地 白 牛?山 云:吽 吽。師 云:啞 那。– [i]Sư hỏi Hạnh Sơn: ›Thế nào là con trâu trắng sờ sờ?‹ Sơn đáp: ›Hồng! Hồng!‹ Sư nói: ›Á‹[/i]«. ② Biểu thị tiếng cười, tiếng quạ kêu, còn gọi: Á á. Tắc 14, [i]Bích Nham lục[/i] (Đại 48, l54 hạ) ghi: »閻 浮 樹 下 笑 呵 呵、昨 夜 驪 龍 拗 角 折 (非 止 驪 龍 拗 折、有 誰 見 來? 還 有 證 明 麼? 啞!)。 – [i]Dưới cội Diêm Phù cười ha hả, đêm trước rồng đen bị gãy sừng. (Chẳng phải cấm rồng đen gãy sừng, có ai thấy chăng? Có chứng minh được chăng? Á!)[/i]«.",
"Search1": "á",
"Search2": "a"
},
{
"Id": 7,
"Word": "á",
"Dict": 8,
"Mean": "4414禪林用語。<一>係用於學人雖欲表現一己之所得,然窮盡言語而無法表達時;或為表示佛法真理是難以言語表達時之用語。臨濟錄勘辨(大四七‧五○四上):「師問杏山:『如何是露地白牛?』山云:『吽吽。』師云:『啞那!』」 <二>表示笑聲、鳥叫聲。又作啞啞。碧巖錄第十四則(大四八‧一五四下):「閻浮樹下笑呵呵,昨夜驪龍拗角折。(非止驪龍拗折,有誰見來?還有證明麼?啞!)」",
"Search1": "á",
"Search2": "a"
},
{
"Id": 8,
"Word": "á",
"Dict": 2,
"Mean": "1) Câm—Eda (skt)—Dumb—Deaf and dumb. 2) Câm và điếc: Edamuka (skt)—Deaf and dumb, unable to express oneself. 3) Thứ yếu: Inferior. 4) Hạng nhì: Second. 5) Phụ: Secondary.",
"Search1": "á",
"Search2": "a"
},
{
"Id": 9,
"Word": "á",
"Dict": 1,
"Mean": "(啞) Tiếng dùng trong Thiền lâm I. Á. Tiếng dùng đối với kẻ học giả, khi muốn diễn tả một điều gì đó mà mình tâm đắc, nhưng dùng hết lời mà vẫn không diễn tả được, hoặc là biểu thị chân lí Phật pháp khó có thể dùng ngôn ngữ mà diễn đạt được. Lâm tế lục khám biện (Đại 47, 504 thượng), nói: Sư hỏi Hạnh sơn: Thế nào là trâu trắng ở chỗ đất trống? Sơn trả lời: Hồng hồng. Sư nói: Á na!. II. Á.Biểu thị tiếng cười, tiếng chim kêu. Còn nói là á á. Bích nham lục, tắc 14 (Đại 48, 154 hạ), nói: Dưới cây Diêm phù cười ha ha, đêm qua rồng đen bẻ gãy sừng. (Chẳng ngăn rồng đen bẻ gãy, có ai thấy không? Lại có ai chứng minh không? Á!)",
"Search1": "á",
"Search2": "a"
},
{
"Id": 10,
"Word": "á (hoạ)",
"Dict": 8,
"Mean": "Chỉ cho tiếng kéo thuyền hoặc tiếng la lên khi tìm được món đồ rơi mất. Trong nhà Thiền dùng để chỉ tiếng »Ồ« khi hốt nhiên đại ngộ. Điều Trường Sa Cảnh Sầm trong [i]Thiền tông Cổ Tụng Liên Châu Thông tập[/i] q. 16 (Vạn Tục 115, 96 hạ) ghi: »你 作 麼 生 用? 師 拍 胸 與 一 踏。山 曰:㘞。 – ›[i]Ông dùng như thế nào?‹ Sư thộp ngực đạp cho một đạp. Sơn nói: ›Ồ!‹[/i]«. [i]Thiền Quan Sách Tiến[/i] (Đại 48, 1099 hạ) ghi: »首 座 入 堂 燒 香、打 香 匣 作 聲、忽 然 㘞 地 一 聲、識 得 自 己。– [i]Vị Thủ toạ lên thiền đường thắp nhang, khua hộp nhang phát ra tiếng, thình lình ông ›ồ‹ lên một tiếng, biết ra được chính mình[/i]«.",
"Search1": "á (hoạ)",
"Search2": "a (hoa)"
},
{
"Id": 11,
"Word": "a a a!",
"Dict": 8,
"Mean": "A ha ha! Thán từ thường được dùng trong thiền ngữ. Tiết Lang Nha Vĩnh Khởi Thiền sư trong NĐHN q. 19 ghi: »師 上 堂、良 久、拊 掌 一 下 曰: 阿 呵 呵!還 會 麼?法 法 本 來 法。– [i]Sư thượng đường lặng lẽ hồi lâu rồi vỗ tay một cái, nói: A ha ha! A ha ha! Có lãnh hội chăng? Hết thảy các pháp xưa nay vẫn là pháp[/i]«.",
"Search1": "a a a!",
"Search2": "a a a!"
},
{
"Id": 12,
"Word": "a âu",
"Dict": 8,
"Mean": "3672梵語 au。又作阿漚、阿優、阿傴。a(阿),無之義;u(歐),有之義。外道於經典之首,必書此二字;對此,佛教則用「如是」二字起首。法華文句卷一上(大三四.三上):「對破外道阿歐二字不如不是。」 〔百論疏卷上之下、華嚴疏鈔卷一上、圓覺大鈔卷四上〕",
"Search1": "a âu",
"Search2": "a au"
},
{
"Id": 13,
"Word": "a âu",
"Dict": 2,
"Mean": "Một tán thán từ của ngoại đạo hay Bà La Môn có nghĩa là không và có (“A” là “Không,” “Âu” là “Có”), đạo Phật lấy hai chữ “Như Thị” đặt ở đầu các kinh—A heretic or brahmanical exclamation. The two letters “A” and “U” fell from the corners of Brahma's mouth when he gave the seventy-two letters of Kharosthi, and they are said to be placed at the beginning of the Brahmanical sacred books as divine letters, the Buddhists adopting “Thus” instead.",
"Search1": "a âu",
"Search2": "a au"
},
{
"Id": 14,
"Word": "a âu",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿歐) Phạm: Au. Cũng gọi a ưu, a ủ. A nghĩa là không; U (âu) nghĩa là có. Ở đầu các kinh điển của ngoại đạo, đều có viết hai chữ này. Trái lại, Phật giáo thì dùng hai chữ Như thị để mở đầu. Pháp Hoa văn cú quyển 1 thượng (Đại 34,3 thượng): Đối trị phá trừ hai chữ a âu bất như bất thị của ngoại đạo. [X. Bách Luận sớ Q.thượng phần dưới; Hoa Nghiêm sớ sao Q.1 phần trên; Viên Giác đại sao Q.4 phần trên].",
"Search1": "a âu",
"Search2": "a au"
},
{
"Id": 15,
"Word": "a ba ba",
"Dict": 2,
"Mean": "Ababa or Habava (skt)—Địa ngục thứ tư trong bát hàn địa ngục—The fourth of the eight cold hells—See Địa Ngục (b) (4).",
"Search1": "a ba ba",
"Search2": "a ba ba"
},
{
"Id": 16,
"Word": "a bà bà địa ngục",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A la la địa ngục.",
"Search1": "a bà bà địa ngục",
"Search2": "a ba ba dia nguc"
},
{
"Id": 17,
"Word": "A-ba-đà-na",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ Avadna, một trong Mười hai bộ kinh (Thập nhị bộ kinh), dịch nghĩa là ‘thí dụ’, là những kinh Phật dùng các thí dụ để làm rõ ý nghĩa giáo pháp. Xem thêm Mười hai bộ kinh.",
"Search1": "a ba đà na",
"Search2": "a ba da na"
},
{
"Id": 18,
"Word": "a ba đà na",
"Dict": 8,
"Mean": "3631梵語 avadāna,巴利語 apadāna 之音譯。略作婆陀。意譯爲譬喻、出曜、解語。佛所說之經典,依其內容、形式之不同,而分類爲十二種,稱爲十二部經。阿波陀那即十二部經之一。凡經典中,以譬喻或寓言方式說明深遠甚妙教義之部分,即稱阿波陀那。(參閱「十二部經」344、「譬喻」6809)",
"Search1": "a ba đà na",
"Search2": "a ba da na"
},
{
"Id": 19,
"Word": "a ba đà na",
"Dict": 6,
"Mean": "Avadàna (S). Exemple bạt ma la. Green face devil.",
"Search1": "a ba đà na",
"Search2": "a ba da na"
},
{
"Id": 20,
"Word": "a ba đà na",
"Dict": 2,
"Mean": "Avadana (skt)—See Phược Đà.",
"Search1": "a ba đà na",
"Search2": "a ba da na"
},
{
"Id": 21,
"Word": "a ba đà na",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿波陀那) Phạm: Avadāna, Pāli: Apadāna. Gọi tắt là Bà-đà. Dịch ý là thí dụ, xuất diệu, giải ngữ. Những kinh điển do đức Phật nói, theo nội dung và hình thức khác nhau, chia làm mười hai thể tài, gọi là mười hai bộ kinh. A-ba-đà-na là một trong mười hai thể tài kinh đó. Trong các kinh điển, các kinh dùng hình thức thí dụ hoặc ngụ ngôn để giải thích rõ phần nghĩa sâu xa mầu nhiệm, thì gọi là A-ba-đà-na. (xt. Thập Nhị Bộ Kinh, Thí Dụ).",
"Search1": "a ba đà na",
"Search2": "a ba da na"
},
{
"Id": 22,
"Word": "a bà đa na",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Thí dụ.",
"Search1": "a bà đa na",
"Search2": "a ba da na"
},
{
"Id": 23,
"Word": "a bà dựng ca la",
"Dict": 7,
"Mean": "Abhayaṃkara (S)Ly bố uý địa.Tên một vị Như Lai hay một cõi giới.",
"Search1": "a bà dựng ca la",
"Search2": "a ba dung ca la"
},
{
"Id": 24,
"Word": "a ba hội",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Cực quang tịnh thiên.",
"Search1": "a ba hội",
"Search2": "a ba hoi"
},
{
"Id": 25,
"Word": "a ba la",
"Dict": 2,
"Mean": "Abhasvara-vimana (skt)—Cõi trời Quang Âm Thiên—The sixth of the Brahmalokas of light and sound (abhasvara) and its devas.",
"Search1": "a ba la",
"Search2": "a ba la"
},
{
"Id": 26,
"Word": "a ba la la long tuyền",
"Dict": 8,
"Mean": "3632阿波邏羅,梵名 Apalāla。爲阿波邏羅龍王所住之泉池。又作阿波羅利龍泉、阿鉢羅龍泉。意譯無稻稈龍泉、無留龍泉、無流延龍泉。關於此泉之位置,諸經論記載不同,有說爲摩揭陀國、罽賓國、健馱羅國、北印度那竭羅曷國等。據大唐西域記卷三烏仗那國條載,此泉爲蘇婆伐窣堵河(梵 Subhavastu)之源。傳云此泉有龍,彼於迦葉波佛時,生在人趣,名爲殑祇,深通咒術,禁禦惡龍,不令有暴雨。國人因豐收有餘糧,而斗穀饋遺以謝其恩。歲久或有懈怠者,殑祇因此怒而化生爲毒龍,損傷苗稼地利。釋迦如來愍此國人遭斯難,乃降神至此,欲化暴龍。龍王震懼而歸依,聞佛說法,心淨信悟。上述之蘇婆伐窣堵河即今印度河上游之支流斯瓦特河(Swat)。〔佛本行經卷一、大智度論卷三、解說西域記〕",
"Search1": "a ba la la long tuyền",
"Search2": "a ba la la long tuyen"
},
{
"Id": 27,
"Word": "a ba la la long tuyền",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿波邏羅龍泉) A-ba-la-la, Phạm: Apalāla. Dòng suối nơi rồng chúa A-ba-la-la ở. Cũng gọi A-ba-la- lợi long tuyền. Dịch ý: suối rồng không có lúa, suối rồng không lưu lại, suối rồng không chảy. Về vị trí của con suối này, các kinh luận ghi chép không giống nhau, có những thuyết cho ở nước Ma-yết-đà, nước Kế Tân, nước Kiện-đà-la, nước Na-kiệt-la-hạt ở bắc Ấn độ v.v... Cứ theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 3, mục nước Ô-trượng-na chép, thì con suối này là nguồn của sông Tô-bà-phạt-tốt-đổ (Phạm:Subhavastu). Truyền thuyết nói: suối này có rồng, ở thời đức Phật Ca-diếp-ba, rồng này sinh trong cõi người, tên là Căng kì, thông thạo chú thuật, ngăn cấm các rồng dữ, không cho làm mưa bão. Người trong nước nhờ đó được mùa, có thừa lương thực, nên đem thóc đến biếu để tạ ơn rồng. Nhưng lâu ngày chày tháng, có người trễ nải, Căng kì tức giận, hóa sinh làm rồng dữ, phá hại lúa mạ mùa màng. Vì thương xót nhân dân nước ấy gặp tai nạn, đức Phật Thích Ca bèn giáng thần đến đó để hóa độ rồng dữ. Vua rồng sợ hãi, xin qui y Phật, nghe Ngài nói pháp, lắng tâm, tin hiểu. Sông Tô-bà-phạt-tốt- đổ nói ở trên tức là con sông Swat, một chi nhánh ở thượng du sông Ấn Độ (Indus) hiện nay. [X. kinh Phật Bản Hạnh Q.1; Luận Đại Trí Độ Q.3; Giải thuyết Tây Vực kí].",
"Search1": "a ba la la long tuyền",
"Search2": "a ba la la long tuyen"
},
{
"Id": 28,
"Word": "a ba la nhĩ đa",
"Dict": 8,
"Mean": "3631梵名 Aparājitā。意譯無能勝。四姊妹女天之一,文殊菩薩之眷屬。位於密教胎藏界曼荼羅文殊院童母盧之左方,阿爾多之下方。其形像爲肉色之童子形,左拳叉腰,右手持獨股棒,面向左方,交腳而坐。然在理趣經曼荼羅中,此尊位列於童母盧之西,形像亦不同。種子爲???(a),三昧耶形爲棒,密號爲金剛,顯示淨波羅蜜。〔理趣釋卷下、兩部曼荼羅義記卷三、胎藏界七集卷中〕",
"Search1": "a ba la nhĩ đa",
"Search2": "a ba la nhi da"
},
{
"Id": 29,
"Word": "a ba la nhĩ đa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿波羅爾多) Phạm : Aparājitā. Dịch ý là không thể hơn. Một trong bốn chị em Thiên nữ, quyến thuộc của Bồ-tát Văn Thù, ngồi ở phía dưới A-nhĩ-đa, bên trái Đồng Mẫu Lô thuộc viện Văn Thù trong Thai tạng giới mạn-đồ-la Mật giáo. Hình tượng Thiên nữ này là thân trẻ con, màu da trắng, tay trái nắm lại, chống vào cạnh sườn, tay phải cầm gậy một chẽ, xoay mặt về phía trái, ngồi tréo chân. Nhưng trong mạn-đồ-la kinh Lí Thú, thì Tôn vị này được bày ở phía Tây của Đồng Mẫu Lô, hình tượng cũng khác. Chủng tử là (a), hình Tam-muội-da là cây gậy, mật hiệu là Kim Cương, hiển bày Ba-la-mật thanh tịnh [X. Lí Thú thích Q.hạ; Lưỡng bộ mạn-đồ-la Nghĩa kí Q.3; Thai tạng giới thất tập Q.trung].",
"Search1": "a ba la nhĩ đa",
"Search2": "a ba la nhi da"
},
{
"Id": 30,
"Word": "a ba lan đa ca quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3631阿波蘭多迦,梵名 Aparāntaka,又作阿波蘭多、阿般蘭得迦。爲西印度古國名。乃阿育王所派遣至各地傳道之九傳道僧中曇無德尊者布教之地。位於今阿富汗境內。依善見律毘婆沙卷二載,曇無德於此地講火聚喻經,得天眼者有三萬人,出家爲僧尼者各一千人。〔解說西域記〕",
"Search1": "a ba lan đa ca quốc",
"Search2": "a ba lan da ca quoc"
},
{
"Id": 31,
"Word": "a ba lan đa ca quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿波蘭多迦國) A-ba-lan-đa-ca, Phạm: Aparāntaka. Cũng gọi là A-ba-lan-đa, A-ban- la-đắc-ca. Tên một nước xưa ở phía Tây Ấn độ. Một trong chín vị tăng do vua A-dục phái đi các nơi để truyền đạo, thì tôn giả Đàm Vô Đức đã đến nước này giáo hóa. Đất này hiện nay nằm trong lãnh thổ của nước A-phú- hãn (Afghanistan). Cứ theo Thiện Kiến luật Tì-ba-sa quyển 2 chép, thì ngài Đàm Vô Đức đã giảng kinh Hỏa Tụ Dụ ở nước này, có ba vạn người được mắt trời, một nghìn người xuất gia làm Tăng và một nghìn người xuất gia làm Ni. [X. Giải thuyết Tây Vực kí].",
"Search1": "a ba lan đa ca quốc",
"Search2": "a ba lan da ca quoc"
},
{
"Id": 32,
"Word": "a bà lô cát đê xá bà la",
"Dict": 2,
"Mean": "Avalokitesvara (skt)—Tên của Quán Thế Âm—Name of Kuan-Yin.",
"Search1": "a bà lô cát đê xá bà la",
"Search2": "a ba lo cat de xa ba la"
},
{
"Id": 33,
"Word": "a bà lư cát dế xá bà la",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Quán Thế Âm Bồ tát.",
"Search1": "a bà lư cát dế xá bà la",
"Search2": "a ba lu cat de xa ba la"
},
{
"Id": 34,
"Word": "a bà ma",
"Dict": 2,
"Mean": "Anupama (skt)—Một danh hiệu của Đức Phật, được định nghĩa là “Vô Đẳng Đẳng”—A title of the Buddha, defined as “Unequalled rank.”",
"Search1": "a bà ma",
"Search2": "a ba ma"
},
{
"Id": 35,
"Word": "a ba ma la",
"Dict": 2,
"Mean": "Apasmara (skt)—Nhân từ quỷ—Malevolent demons, epilepsy, and the demons who cause it.",
"Search1": "a ba ma la",
"Search2": "a ba ma la"
},
{
"Id": 36,
"Word": "a ba mạt lợi ca",
"Dict": 8,
"Mean": "3630梵語 apā-mārga 之音譯。又作阿婆麼羅誐、阿婆末唎。意譯爲牛膝。係一種野生之藥草。學名 Achyzanthes bidentata。據千手千眼觀世音菩薩治病合藥經載,若女人懷妊,胎死腹中,可取此草一大兩,和水二升煮之,絞滓取汁而飲,痛楚盡去。〔不空羂索陀羅尼經、千手千眼觀世音菩薩廣大圓滿無礙大悲心陀羅尼經、枳橘易土集卷三〕",
"Search1": "a ba mạt lợi ca",
"Search2": "a ba mat loi ca"
},
{
"Id": 37,
"Word": "a ba mạt lợi ca",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿波末利迦) Phạm: Apā-mārga. Còn gọi là A-bà-ma-la-nga, A-bà-mạt-lị. Dịch ý là Ngưu tất. Một loại cỏ thuốc mọc ngoài đồng. Tên khoa học là Achyzanthes bidentata. Cứ theo kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ-tát trị bệnh hợp dược chép, nếu đàn bà có thai, mà thai nhi bị chết trong bụng, hãy lấy một lượng lớn cỏ này, hòa với hai lít nước nấu lên, vắt bỏ bã đi, lấy nước mà uống sẽ hết đau đớn. [X. kinh Bất Không Quyên Sách Đà-la-ni; kinh Thiên Thủ Thiên Nhãn Quan Thế Âm Bồ-tát Quảng Đại Viên Mãn Vô Ngại Đại Bi Tâm Đà-la-ni; Chỉ Quất Dịch Thổ tập Q.3].",
"Search1": "a ba mạt lợi ca",
"Search2": "a ba mat loi ca"
},
{
"Id": 38,
"Word": "a ba na già đê",
"Dict": 2,
"Mean": "Aparagati (skt)—Tam ác đạo, như súc sanh, ngạ quỷ, địa ngục—The three evil paths, i.e. animal, hungry ghost, hell.",
"Search1": "a ba na già đê",
"Search2": "a ba na gia de"
},
{
"Id": 39,
"Word": "a bà sa ma la",
"Dict": 2,
"Mean": "Apasmara (skt)—Quỷ động kinh—Epileptic demons, demons of epilepsy.",
"Search1": "a bà sa ma la",
"Search2": "a ba sa ma la"
},
{
"Id": 40,
"Word": "a ba tất ma la",
"Dict": 7,
"Mean": "Apasmāra (S)Một trong Thập ngũ quỷ thần thường não loạn trẻ em.",
"Search1": "a ba tất ma la",
"Search2": "a ba tat ma la"
},
{
"Id": 41,
"Word": "a ba thoại",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Cực quang tịnh thiên.",
"Search1": "a ba thoại",
"Search2": "a ba thoai"
},
{
"Id": 42,
"Word": "a bàn đà la",
"Dict": 2,
"Mean": "Avantara (skt)—Trung gian—Intermediate.",
"Search1": "a bàn đà la",
"Search2": "a ban da la"
},
{
"Id": 43,
"Word": "a ban đề quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3658阿般提,梵名 Avanti。古代印度十六大國之一。位於西印度頻闍耶山脈(梵 Vindhya)之北,憍賞彌國之西,秣菟羅國之南,首都鄔闍衍那(梵 Ujjayanī)。又作阿槃陀國、阿婆提國、阿和提國。佛陀在世時,此國國君帕嘉歐達(巴 Pajjota)嘗與憍賞彌國優填王互相攻伐。〔中阿含卷五十五持齋經、長阿含卷五闍尼沙經、五分律卷二十一、大毘婆沙論卷一二四〕(參閱「十六大國」379)",
"Search1": "a ban đề quốc",
"Search2": "a ban de quoc"
},
{
"Id": 44,
"Word": "a ban đề quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿般提國) A-ban-đề, Phạm: Avanti. Một trong mười sáu nước lớn ở Ấn độ cổ đại, nằm về mạn bắc dãy núi Tần-xà-da (Phạm:Vindhya) miền Tây Ấn độ, phía Tây nước Kiều-thưởng-di, phía Nam nước Mạt-thố-la, thủ đô là Ô-xà-diễn-na (Phạm:Ujjayanī). Cũng gọi A-bàn-đà quốc, A-bà-đề quốc, A- hòa-đề quốc. Khi đức Phật còn tại thế, vua nước này là Phạ-gia-âu-đạt (Pāli:Pajjota) từng đã đánh nhau với vua Ưu Điền nước Kiều-thưởng-di. [X. Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; Trường A-hàm Q.5 kinh Xà-ni-sa; luật Ngũ phần Q.21; luận Đại Tì-bà-sa Q.124] (xt. Thập Lục Đại Quốc).",
"Search1": "a ban đề quốc",
"Search2": "a ban de quoc"
},
{
"Id": 45,
"Word": "a bản đồ quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3656阿畚荼,梵名 Avanda。位於西印度之古國。約在今中部信度州維迦拉(Vichala)一帶。又作阿軬荼國。依大唐西域記卷十一所載,此國周長二千四、五百里,都城周長二十餘里。都城東北之大竹林中,乃佛陀曾聽許諸比丘著靴之處。此國人言辭樸質,不崇尚學業,然於三寶皆守心淳信,有伽藍二十餘所,僧徒二千餘人,多學小乘正量部。〔大慈恩寺三藏法師傳卷四、解說西域記、A. Cunningham: The Ancient Geography of India; S. Julien: Mémoires sur les Contrées Occidentales, vol. Ⅱ〕",
"Search1": "a bản đồ quốc",
"Search2": "a ban do quoc"
},
{
"Id": 46,
"Word": "a bản đồ quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿畚荼國) A-bổn-đồ, Phạm: Avanda. Một nước xưa nằm về phía Tây Ấn-độ. Và nay là vùng Duy-ca-lạp (Vichala) thuộc trung bộ tiểu bang Tín độ. Theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11, thì chu vi nước này rộng hai nghìn bốn đến năm trăm dặm. Thủ đô chu vi hơn hai mươi dặm. Trong khu rừng trúc ở mạn Đông bắc Thủ đô là nơi đức Phật đã từng cho phép các vị Tỉ-khưu mang giày. Nhân dân nước này tính tình chất phác, không chuộng học vấn, nhưng đều giữ tâm thuần tín đối với Tam bảo. Có hơn hai mươi ngôi chùa, với hai nghìn vị Tăng, phần nhiều học pháp của phái Chính Lượng Bộ của Tiểu thừa. [X. Đại Từ Ân Tự Tam tạng Pháp sư truyện Q.4; Giải thuyết Tây Vực Kí; A. Cunningham: The Ancient Geography of India; S. Julien: Mémoires sur les Contrées Occidentales, Vol.II].",
"Search1": "a bản đồ quốc",
"Search2": "a ban do quoc"
},
{
"Id": 47,
"Word": "a ban thủ ý",
"Dict": 7,
"Mean": "Ānāpanasati (P), Ānāprānasmṛti (S)Quán niệm hơi thở.",
"Search1": "a ban thủ ý",
"Search2": "a ban thu y"
},
{
"Id": 48,
"Word": "a bàng la sát",
"Dict": 8,
"Mean": "3659爲地獄獄卒之名。又作阿防羅剎。略稱旁、阿傍。據五苦章句經所載,阿傍形像爲牛頭人手,兩腳有牛蹄,力壯排山,手持鋼鐵叉,每一叉有三股,可叉罪人數百千萬入於鑊中。〔賢愚經卷十三、鐵城泥犁經〕",
"Search1": "a bàng la sát",
"Search2": "a bang la sat"
},
{
"Id": 49,
"Word": "a bàng la sát",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿傍羅刹) Tên của ngục tốt ở địa ngục. Cũng gọi A phòng la sát. Gọi tắt: Bàng, A bàng. Theo kinh Ngũ khổ chương cú, thì hình tượng của A bàng là đầu trâu tay người, hai chân có móng trâu, sức mạnh có thể dời núi, tay cầm xoa sắt, mỗi xoa có ba mũi nhọn, có thể xiên vài trăm vạn người có tội ném vào trong vạc dầu. [X. kinh Hiền Ngu Q.13; kinh Thiết Thành Nê Lê].",
"Search1": "a bàng la sát",
"Search2": "a bang la sat"
},
{
"Id": 50,
"Word": "a bạt da chỉ ly",
"Dict": 2,
"Mean": "Abhayagiri (skt)—Núi Vô Úy ở A Nâu La Đà Bổ La, cố đô (kinh đô cổ) của nước Tích Lan—Mount Fearless in Ceylon at Anuradhapura.",
"Search1": "a bạt da chỉ ly",
"Search2": "a bat da chi ly"
},
{
"Id": 51,
"Word": "a bạt đa la",
"Dict": 2,
"Mean": "Avatara (skt)—Vô thượng—Peerless.",
"Search1": "a bạt đa la",
"Search2": "a bat da la"
},
{
"Id": 52,
"Word": "a bát lợi cụ đà ni",
"Dict": 2,
"Mean": "Aparagodana (skt)—See Tứ Châu (3).",
"Search1": "a bát lợi cụ đà ni",
"Search2": "a bat loi cu da ni"
},
{
"Id": 53,
"Word": "a bệ bạt trí",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Bất thoái.",
"Search1": "a bệ bạt trí",
"Search2": "a be bat tri"
},
{
"Id": 54,
"Word": "a bệ bạt trí",
"Dict": 6,
"Mean": "Avaivartika (S). One who never recedes; a bodhisattva who, in his progress towards Buddhahood, never retrogrades to a lower state than that to which he hes attained. Bất thoái chuyển.",
"Search1": "a bệ bạt trí",
"Search2": "a be bat tri"
},
{
"Id": 55,
"Word": "a bệ bạt trí",
"Dict": 2,
"Mean": "Avaivartika or Avivartin, or Aparivartya (skt)—A Bề—A Duy Việt Trí—A Tỳ Bạt Trí—Bất Thối Chuyển. 1) Chữ A Bệ Bạt Trí, theo tiếng Bắc Phạn là Avaivartika, có nghĩa là “Bất Thối Chuyển” hay chẳng lùi xuống. Có ba nghĩa, áp dụng cho những chúng sanh nơi cõi Tịnh Độ—The Sanskrit word “Avaivartika” means “not falling back.” There are three senses of “not falling back” that apply to sentient beings in the Pure Land: a) Vị Bất Thoái: Do not fall back from their position—Một khi đã dự vào địa vị Tứ Thánh rồi, chẳng còn bị xuống địa vị Lục Phàm nữa—Having entered the holy stream or the four levels of sagehood culminating in Ahratship, they do not fall back to the levels of gods and men. b) Hạnh Bất Thoái: Do not fall back from practice—Một khi đã tu hạnh Bồ Tát thường hóa độ chúng sanh, chẳng còn sa đọa xuống hàng nhị thừa nữa—As followers of the Bodhisattva path they continue to work for the salvation of all beings, and do not fall back to the level of Lesser Vehicles with their concern limited to individual salvation. c) Niệm Bất Thoái: Do not fall back from their mindfulness—Giờ phút nào tâm niệm cũng như dòng nước chảy vào biển “Nhất Thiết Trí”—From mind-moment to mind-moment, they flow into the ocean of all knowledge. 2) Bậc Bất Thối Chuyển: Vị chẳng bao giờ rơi rớt lại những đường thấp hơn—One who never recedes. One who never reverts to a lower condition. 3) Bồ Tát Bất Thối Chuyển, trải qua quá trình tu hành dài một đại a tăng kỳ kiếp mà thành tựu quả vị Phật, chưa hề thối chuyển: A Bodhisattva who, in his progress towards Buddhahood, never retrogrades to a lower state than that to which he has attained. 4) Theo Kinh A Di Đà thì dù cho người vãng sanh vào địa vị thấp nhất trong cõi Tịnh Độ, dù phải mang theo nghiệp còn sót lại, nhưng vẫn không còn thoái chuyển nữa: According to The Amitabha Sutra, even those who dwell in lowest level of the Pure Land, and have been born there bringing along their karmic burdens, do not fall back from their position, from their practice, or from their mindfulness.",
"Search1": "a bệ bạt trí",
"Search2": "a be bat tri"
},
{
"Id": 56,
"Word": "a bệ bạt trí bồ tát",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Bất Thối Bồ tát.",
"Search1": "a bệ bạt trí bồ tát",
"Search2": "a be bat tri bo tat"
},
{
"Id": 57,
"Word": "A Bệ Bạt Trí, A Tì Bạt Trí",
"Dict": 10,
"Mean": "(s: avaivart, 阿鞞跋致): còn gọi là A Tỳ Bạt Trí (阿毘跋致), A Duy Việt Trí (阿惟越致); ý dịch là bất thối chuyển (不退轉, không thối lui), tức là không thối lui trên con đường tiến lên thành Phật. Đây là tên gọi của giai vị Bồ Tát, trãi qua tu hành một đại A Tăng Kỳ Kiếp mới có thể đạt đến địa vị này. Như trong Đại Trí Độ Luận (大智度論, Taishō Vol. 25, No. 1509) quyển 38, Vãng Sanh Phẩm (往生品), có đoạn rằng: “Cúng dường thập phương chư Phật, thông đạt Bồ Tát đạo, cố nhập Bồ Tát vị, tức thị A Bệ Bạt Trí địa (供養十方諸佛、通達菩薩道、故入菩薩位、卽是阿鞞跋致地, cúng dường mười phương chư Phật, thông đạt Bồ Tát đạo, nên nhập vào địa vị Bồ Tát, tức là cảnh địa không thối chuyển).” Hay trong Phật Thuyết A Di Đà Kinh (佛說阿彌陀經, Taishō Vol. 12, No. 366) cũng có đoạn: “Cực Lạc quốc độ chúng sanh sanh giả, giai thị A Bệ Bạt Trí (極樂國土眾生生者、皆是阿鞞跋致, những chúng sanh nào sanh vào quốc độ Cực Lạc, đều là bực Không Thối Chuyển).”",
"Search1": "a bệ bạt trí, a tì bạt trí",
"Search2": "a be bat tri, a ti bat tri"
},
{
"Id": 58,
"Word": "a bộ chính hùng",
"Dict": 8,
"Mean": "3659(1915~ )日本佛教學者。滋賀縣人。一九四四年於京都大學文學部畢業,專攻哲學。曾留學美國哥倫比亞大學,後並任哥倫比亞大學客座教授。歷任日本奈良教育大學、京都大學等校教授。著有有關康德、親鸞、道元之論文,以及 The Idea of Purity in Mahāyāna Buddhism 之英文論文。",
"Search1": "a bộ chính hùng",
"Search2": "a bo chinh hung"
},
{
"Id": 59,
"Word": "a bộ đàm",
"Dict": 2,
"Mean": "Át Phù Đà địa ngục—The Arbuda hell—See Địa Ngục (b) (1).",
"Search1": "a bộ đàm",
"Search2": "a bo dam"
},
{
"Id": 60,
"Word": "a bố sa la tư",
"Dict": 8,
"Mean": "3612梵名 Apsaras。印度婆羅門教女神名。據羅摩衍那、往世書之記載,阿布沙羅斯係天神與阿修羅由乳海中所攪出者,爲乾闥婆之妻 ,住於河岸,常在榕樹下或菩提樹下吹笛、舞蹈、歌唱、遊戲,慣於惑亂人心,好賭;據云能使賭博者交好運。",
"Search1": "a bố sa la tư",
"Search2": "a bo sa la tu"
},
{
"Id": 61,
"Word": "a bố sa la tư",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿布沙羅斯) Phạm: Apsaras. Tên một vị Thần nữ của Bà-la-môn giáo Ấn độ. Theo La-ma-diễn-na và sách Vãng Thế, thì A-bố-sa la tư là do thần trời và a-tu-la A-ba-mạt-lợi-ca khuấy động trong biển sữa mà sinh ra, là vợ của Càn-thát-bà, sống ở bờ sông, thường thổi sáo, nhảy múa, ca hát, chơi giỡn dưới gốc cây si hoặc cây Bồ đề; hay làm mê loạn lòng người và thích đánh bạc. Theo người ta nói, vị thần này có khả năng giúp người đánh bạc gặp vận đỏ.",
"Search1": "a bố sa la tư",
"Search2": "a bo sa la tu"
},
{
"Id": 62,
"Word": "a bộ triệu nhất",
"Dict": 8,
"Mean": "3659(1928~ )日本佛教學者。一九五六年間就讀於東京文理科大學。後於駒澤大學任教,並從事佛教學史之研究。著有中國禪宗史之研究─南宗禪形成之後的政治社會史之考察、中國禪宗史之研究等。",
"Search1": "a bộ triệu nhất",
"Search2": "a bo trieu nhat"
},
{
"Id": 63,
"Word": "A-ca-ni-trá",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ Akaniṣṭha, dịch nghĩa là Sắc cứu cánh thiên, cũng gọi là Hữu đỉnh thiên, là cõi trời hữu hình cao nhất trong Tam giới. Cõi trời này cũng gọi là Phi tưởng phi phi tưởng xứ (Naiva-saṃjđnsaṃjđ-yatana) vì những người tu thiền đạt đến mức định Phi tưởng phi phi tưởng thì thần thức có thể đến được cảnh giới này. Chư thiên cư trú ở cõi trời này có tâm thức không phải tưởng cũng chẳng phải không tưởng.",
"Search1": "a ca ni trá",
"Search2": "a ca ni tra"
},
{
"Id": 64,
"Word": "a cá ni trá",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Sắc cứu cánh thiên.",
"Search1": "a cá ni trá",
"Search2": "a ca ni tra"
},
{
"Id": 65,
"Word": "a ca ni trá (thiên)",
"Dict": 6,
"Mean": "Akanistha (S)",
"Search1": "a ca ni trá (thiên)",
"Search2": "a ca ni tra (thien)"
},
{
"Id": 66,
"Word": "a ca ni trá thiên",
"Dict": 8,
"Mean": "3651梵名 Akaniṣṭha-deva,巴利名 Akaniṭṭha-deva。乃色界十八天之一,五淨居天之一。又作阿迦膩吒天、阿迦尼師吒天。意譯一究竟天、一善天,有頂天。位於第四禪天之最頂位,亦爲色界十八天之最上天,爲有形體之天處之究竟,故又稱質礙究竟天、色究竟天。過此天則爲無色界之天,僅有心識而無形體。〔長阿含經卷二十、順正理論卷二十一、慧苑音義卷上、慧琳音義卷二十〕",
"Search1": "a ca ni trá thiên",
"Search2": "a ca ni tra thien"
},
{
"Id": 67,
"Word": "a ca ni trá thiên",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Sắc cứu cánh thiên.",
"Search1": "a ca ni trá thiên",
"Search2": "a ca ni tra thien"
},
{
"Id": 68,
"Word": "a ca ni trá thiên",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿迦尼吒天) Phạm: Akaniwỉha-deva, Pāli: Akaniỉỉha-deva. Là một trong mười tám từng trời cõi Sắc, một trong năm trời Tịnh cư. Cũng gọi A-ca-nị-tra thiên, A-ca-ni-sư-tra thiên. Dịch ý là Nhất cứu kính thiên, Nhất thiện thiên. Cõi trời ở chỗ cao nhất của các từng trời Thiền thứ tư, cũng là tầng trời cao nhất trong mười tám tầng trời cõi Sắc và là cõi trời cùng tột của các cõi trời có hình thể. Vì thế cũng gọi là Chất ngại cứu kính thiên (trời cao tột còn chất ngại), Sắc cứu kính thiên (trời cao tột còn có sắc). Bên trên cõi trời này là các từng trời của cõi Vô sắc, ở đây chỉ có tâm thức chứ không có hình thể. [X. kinh Trường A Hàm Q.20; luận Thuận Chính Lí Q.21; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.thượng; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.20].",
"Search1": "a ca ni trá thiên",
"Search2": "a ca ni tra thien"
},
{
"Id": 69,
"Word": "a ca sắc",
"Dict": 2,
"Mean": "Agham or Akasa (skt)—Theo Giáo Sư Soothill trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, agham có hai nghĩa đối nghịch nhau, một là vật chất hữu hình, hai là không giới vô hình—According to Professor Soothill in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Agham has two opposite interpretations, substantial and unsubstantial.",
"Search1": "a ca sắc",
"Search2": "a ca sac"
},
{
"Id": 70,
"Word": "a ca xa",
"Dict": 2,
"Mean": "Akasa (skt)—Hư không—The sky space—Atmosphere—The air.",
"Search1": "a ca xa",
"Search2": "a ca xa"
},
{
"Id": 71,
"Word": "a câu lư xá",
"Dict": 2,
"Mean": "Akrosa (skt)—Mạ lỵ—Scolding—Abusing.",
"Search1": "a câu lư xá",
"Search2": "a cau lu xa"
},
{
"Id": 72,
"Word": "a chất",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A xà Thế.",
"Search1": "a chất",
"Search2": "a chat"
},
{
"Id": 73,
"Word": "a chất đạt tản",
"Dict": 8,
"Mean": "3673梵名 Ajitasena。意譯無能勝將。北印度人。據傳唐開元年間,於安西(即龜茲)譯出大威力烏樞瑟摩明王經三卷、穢跡金剛說神通大滿陀羅尼法術靈要門一卷、穢跡金剛禁百變法經一卷。貞元新定釋教目錄卷十四中除列出上記之三部經,並載(大五五‧八七八中)︰「開元二十年,因法月三藏貢獻入朝,附上件經至于京邑,不及得入開元目錄,准勅編入貞元新定釋教目錄。」依此,阿質達霰似未至中國,而僅在安西譯經。然穢跡金剛禁百變法經中之符書頗怪異,向來被視爲偽經,則貞元錄之說亦難令人置信。〔續開元錄卷上、英譯大明三藏聖教目錄〕",
"Search1": "a chất đạt tản",
"Search2": "a chat dat tan"
},
{
"Id": 74,
"Word": "a chất đạt tản",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿質達霰) Phạm: Ajitasena. Dịch ý là Vô năng thắng tướng (ông tướng không ai hơn được), người Bắc Ấn-độ. Theo truyền thuyết, khoảng năm Khai nguyên đời Đường, ngài ở nước An Tây (Cưu Tư) dịch xong các bộ kinh như: Đại Uy Lực ô-xu-sắt-ma Minh Vương 3 quyển, Uế Tích Kim Cương Thuyết Thần Thông Đại Mãn Đà-la-ni Pháp Thuật Linh Yếu Môn 1 quyển, kinh Uế Tích Kim Cương Bách Biến Pháp 1 quyển. Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục quyển 14, sau khi đã liệt kê 3 bộ kinh trên đây, có ghi (Đại 55,878 Trung): Năm Khai Nguyên 20, nhân dịp ngài Tam tạng Pháp Nguyệt vào triều cống, ngài có mang ba bộ kinh ghi ở trên vào Kinh đô, không kịp đưa vào Khai Nguyên Mục Lục, nhà vua bèn cho phép biên vào Trinh Nguyên Tân Định Thích Giáo Mục Lục. Cứ đó suy ra, thì ngài A-chấ- đạt tản hình như chưa hề đến Trung Quốc, mà chỉ ở An Tây dịch kinh thôi. Nhưng phần ghi chú về bùa chú trong kinh Uế Tích Kim Cương Cấm Bách Biến Pháp rất là quái gở lạ lùng, xưa nay bị cho là kinh giả, thì lời trong Trinh Nguyên Lục cũng khó khiến người ta tin được. [X. Tục Khai Nguyên Lục, Q. Thượng; Đại Minh Tam Tạng Thánh Giáo Mục Lục (bản dịch tiếng Anh)].",
"Search1": "a chất đạt tản",
"Search2": "a chat dat tan"
},
{
"Id": 75,
"Word": "a chất mục đa",
"Dict": 7,
"Mean": "Atimuktaka (S)Một loại hoa cõi trời.",
"Search1": "a chất mục đa",
"Search2": "a chat muc da"
},
{
"Id": 76,
"Word": "a chất, a xà thế",
"Dict": 6,
"Mean": "Ajàtasatru (S)",
"Search1": "a chất, a xà thế",
"Search2": "a chat, a xa the"
},
{
"Id": 77,
"Word": "a châu đà",
"Dict": 8,
"Mean": "3615即摩訶目犍連。據太子須大拏經載,目犍連昔時爲阿州陀道人,於檀特山見須大拏太子(即釋尊於因位時之身),並發願於太子得無上菩提時,當作其第一神足弟子。(參閱「目犍連」2108)",
"Search1": "a châu đà",
"Search2": "a chau da"
},
{
"Id": 78,
"Word": "a châu đà",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿州陀) Tức là ngài Ma Ha Mục-kiền-liên. Cứ theo kinh Thái tử Tu-đại-noa chép, thì thuở xưa ngài Mục-kiền-liên là đạo nhân A-châu-đà, gặp Thái tử Tu-đại-noa (tức là tiền thân của đức Thích Tôn khi còn ở địa vị tu nhân) ở núi Đàn-đặc, có phát nguyện, khi Thái tử được đạo Bồ-đề cao tột, thì sẽ làm đệ tử thần thông bậc nhất của Ngài. (xt. Mục Kiền Liên).",
"Search1": "a châu đà",
"Search2": "a chau da"
},
{
"Id": 79,
"Word": "a chế đa",
"Dict": 2,
"Mean": "A Dật Đa—See Ajita.",
"Search1": "a chế đa",
"Search2": "a che da"
},
{
"Id": 80,
"Word": "A-chi-la-bà-đề",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-lỵ-la-bạt-đề.",
"Search1": "a chi la bà đề",
"Search2": "a chi la ba de"
},
{
"Id": 81,
"Word": "a chiên đa thạch quật",
"Dict": 8,
"Mean": "3654阿旃多,梵名 Ajantā。爲西印度與奧蘭迦巴(Aurangābād)之東北及阿旃多村之因德亞里丘陵(Indhyādri)所發掘出來之窟院群,大小共二十九窟,其中可辨認者有二十七窟,包括四個塔院(梵 caitya,第九、十、十九、二十六窟)與二十三個僧院(梵 vihāra)。塔院爲僧眾禮拜集會之所,其構造,天井爲穹狀,樑爲木造建築,入口處由二柱三分,上方設有馬蹄形之窗,內部有木柱數十,沿著壁面每隔約一公尺設一柱。院中有佛塔,中央雕刻釋尊像。僧院爲僧眾止息之處,其構造,入口處有方形空間,四周開鑿甚多小僧房。柱頭、欄楯、諸壁間除佛像雕刻外,尚有人物、動物等雕刻,頗爲美觀。此等諸窟並非完成於一時一代,其最早者可追溯至西元前二至前一世紀(第九、第十窟),大多數屬於西元五至七世紀之產物,約集中於第一、第二、第十六、第十七窟。 內容以佛傳圖、本生圖(佛陀前生圖)爲主。壁間、天井、樑柱等處,則利用水溶性媒劑以技法加以描繪成圖。印度之壁畫保存至今者不獨阿旃多,然若論規模之宏大、筆致之精妙、保存之完整,則爲其餘他處不可匹敵者。其廊下之壁面、精緻之天井均有壁畫,諸窟之中,剝落較少者爲第一、第二、第十六、第十七等四窟。此石窟最早見於玄奘之大唐西域記卷十一。玄奘遊學印度,於貞觀十二年(638)到南印度摩訶剌侘國,曾概括敘述此一石窟之全貌。西元一八一九年,馬德拉斯(Madras)師團之數名士官發現阿旃多石窟。一八二八年,葛雷斯禮上尉(Gresley)、拉爾呼(Ralph),及帕德博士(Dr. J. Bird)第三人深入作精細的學術研究,拉爾呼並就內部之壁畫發表論文於亞細亞學會誌。一八三九年,普雷克中尉(Black)亦刊行「印度窟院」(Rockcut Temples in India)一書,引起世界學者之注意。一八九六年,葛瑞福斯(Griffiths)出版「阿旃多佛教窟院之繪圖」(The Paintings in the Buddhist Cave-temples of Ajanta)後,阿旃多於佛教史及美術史上之地位更加確立。〔解說西域記、印度佛蹟實寫解說〕",
"Search1": "a chiên đa thạch quật",
"Search2": "a chien da thach quat"
},
{
"Id": 82,
"Word": "a chiên đa thạch quật",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿旃多石窟) A chiên đa, Phạm:Ajantà, là quần thể chùa viện hang đá được phát hiện ở phía tây Ấn độ và mạn Đông bắc Áo-lan-ca (Pāli: Aurangàbàd) và gò Nhân đức á-lí (Pāli: Inhyàdri) thuộc thôn A-chiên-đa, lớn nhỏ gồm hai mươi chín hang, trong số này có hai mươi bảy hang được nhận rõ, gồm bốn viện tháp (Phạm:caitya, các hang 9, 10, 19, 26) và hai mươi ba viện tăng (Phạm: vihàra). Viện tháp là nơi chư tăng hội họp lễ bái. Về cách cấu trúc thì thiên tỉnh (giếng trời, tức là trần nhà) là hình vòm cung, rường làm bằng gỗ, chỗ lối vào do hai cây cột chia làm ba khoảng, phía trên trổ cửa sổ hình móng ngựa, bên trong có vài chục cây cột gỗ dọc theo mặt vách, mỗi cột cách nhau chừng một mét. Trong viện có tháp Phật, chính giữa có khắc tượng đức Thích tôn. Viện tăng là nơi chư Tăng nghỉ ngơi. Về cách cấu trúc, chỗ cửa vào có khoảng trống hình vuông, bốn mặt đục mở rất nhiều phòng tăng nhỏ. Trên các đầu cột, lan can, các bức vách, ngoài việc điêu khắc tượng Phật, còn chạm trổ hình người và các động vật, trông rất đẹp. Những hang động này không phải được hoàn thành trong cùng một thời đại mà những hang sớm nhất có thể đã được xoi đục vào thế kỉ thứ II đến thế kỷ thứ I trước Tây lịch (các hang 9, 10), còn đại đa số là sản phẩm của thế kỉ thứ V đến thứ VII Tây lịch, tập trung ở các hang 1, 2, 16, 17. Nội dung lấy tranh vẽ về truyện Phật, tranh vẽ sự tích bản sinh (sự tích tiền thân của Phật) làm chính. Trên vách, thiên tỉnh (vòm nóc), rường cột, thì dùng chất thuốc nước với kĩ thuật đặc biệt vẽ thành các bức tranh. Các bức bích họa ở Ấn độ được giữ gìn đến nay, không chỉ riêng ở A-chiên-đa, nhưng nếu bàn về qui mô rộng lớn, nét bút tinh xảo, bảo tồn hoàn chỉnh, thì bích họa ở các nơi khác không thể sánh kịp. Mặt vách dưới mái hiên, thiên tỉnh, chỗ nào cũng có vẽ tranh. Trong các hang, các tranh vẽ ở bốn hang 1, 2, 16, 17 tương đối tróc ít. Quần thể hang đá này được biết đến sớm nhất trong Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 của ngài Huyền Trang. Ngài Huyền Trang du học ở Ấn-độ, vào năm Trinh Quán 12 (638), ngài đến nước Ma-ha Quần Thể Hang Đá ở Ajanta (Ấn Độ) thích sá thuộc Nam Ấn Độ, có trình bày một cách khái quát về toàn bộ quần thể hang đá này. Năm 1879, một vài sĩ quan của sư đoàn Madras đã tìm thấy hang đá ở A-chiên-đa. Năm 1828, các ông Gresley, Ralph và bác sĩ J. Bird đi sâu vào việc nghiên cứu học thuật một cách tỉ mỉ. Ông Ralph có đăng một bài phát biểu về các bích họa trên những hang động này trên tờ tạp chí của Á-tế-á học hội. Năm 1839, ông Black cũng ấn hành cuốn Rockcut Temples in India (Những chùa Hang ở Ấn độ), khiến các học giả trên thế giới chú ý. Năm 1896, sau khi ông Griaffiths xuất bản cuốn The Paintings In The Buddhist Cave Temples Of Ajanta (Tranh vẽ trong chùa hang động của Phật giáo ở A-chiên-đa), thì địa vị của A-chiên-đa về phương diện Phật giáo sử và mĩ thuật sử lại càng được xác lập. [X. Giải thuyết Tây Vực Kí; Ấn-độ Phật Tích Thực Tả giải thuyết].",
"Search1": "a chiên đa thạch quật",
"Search2": "a chien da thach quat"
},
{
"Id": 83,
"Word": "a chiết la",
"Dict": 8,
"Mean": "3621梵名 Ācāra。意譯所行。西印度人。爲報答母育之恩,嘗建伽藍。據大唐西域記卷十一摩訶剌侘國條所載,該國東境有大山,疊嶺連嶂,重巒絕巘,爰有伽藍,乃阿折羅阿羅漢所建,高堂重閣,高百餘尺,中有石佛像,高七十餘尺,昔時陳那菩薩多止住於此伽藍。據此推知,阿折羅當在陳那之前。〔大唐西域記卷十案達羅國條、卷十一伐臘毘國條、解說西域記〕",
"Search1": "a chiết la",
"Search2": "a chiet la"
},
{
"Id": 84,
"Word": "a chiết la",
"Dict": 2,
"Mean": "Acara (skt). 1) Vị A La Hán trong Vương Quốc Andhra: An arhat of the kingdom of Andhra. 2) Người sáng lập tự viện A Chiết La: Founder of the Acara monastery.",
"Search1": "a chiết la",
"Search2": "a chiet la"
},
{
"Id": 85,
"Word": "a chiết la",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿折羅) Phạm: Àcàra. Dịch ý là Sở hành. Vị A-la-hán, người miền Tây Ấn- độ. Để đền đáp công ơn dưỡng dục của thân mẫu, Ngài thường xây dựng các chùa thờ Phật để hồi hướng công đức cho mẹ Ngài. Cứ theo điều Ma- ha-thích-sá quốc trong Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11 thì miền Đông nước này có dẫy núi lớn, nhiều ngọn núi trùng điệp quanh co cao chót vót, trong đó có một ngôi già lam (chùa) do A-la-hán A-chiết-la xây dựng, nhiều tầng gác, cao hơn trăm thước. Trong chùa có pho tượng Phật bằng đá cao hơn 70 thước. Thời xưa, Bồ-tát Trần Na đã từng ở chùa này. Cứ đó mà suy thì có thể biết: Ngài A-chiết-la phải có trước Bồ-tát Trần-na. [X. Đại đường Tây Vực Kí Q.10 Án-đạt-la quốc điều, Q.11 Phạt-lạp-tì quốc điều; Giải thuyết Tây Vực Kí].",
"Search1": "a chiết la",
"Search2": "a chiet la"
},
{
"Id": 86,
"Word": "A-chin-ta",
"Dict": 5,
"Mean": "S: aciṅta, aciṅtapa; cũng gọi A-chin-ta-pa, với biệt danh là »Nhà tu hành mê của«;\r\n Một trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, được xem là đệ tử của Kam-ba-la (s: kam­ba­la), sống trong cuối thế kỉ thứ 9.\r\n Ông là một người đốn củi nghèo tại Ða-ni-ru-pa (s: dhanirupa), chỉ mong được giàu có. Bị ý nghĩ này hành hạ, ông trốn vào rừng sống độc cư và gặp Du-già sư (s: yogin) Kam-ba-la. Kam-ba-la hướng dẫn ông vào Saṃ-va-ra-tan-tra, dạy cho ông phép đối trị lòng tham muốn giàu sang:\r\n Tham muốn là những gì?\r\n Tham muốn là con trai,\r\n của một người đàn bà\r\n mất khả năng sinh sản.\r\n Hãy giải thoát khỏi nó.\r\n Quán thân là bầu trời,\r\n lúc đó Thần giàu sang,\r\n sẽ tự hiện trước mắt,\r\n và ước nguyện thành tựu.\r\n A-chin-ta quán tưởng đúng như lời Ðạo sư chỉ dạy. Tâm thức thèm khát của ông biến mất trong ánh sáng đầy tinh tú, tinh tú lại biến mất trong không gian rộng lớn nên tâm thức ông trống rỗng. Ông báo lại với thầy tâm mình đã trống, Kam-ba-la dạy tiếp: \r\n Tự tính bầu trời ư?\r\n Có vật gì không nào?\r\n Ngươi còn thèm vật gì, \r\n không màu sắc, hình tướng?\r\n Còn gì để quán tưởng?\r\n Khi A-chin-ta nghe câu nói này, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa. Thánh đạo ca (s: dohā) của ông như sau:\r\n Trong Ðại ấn vô tướng,\r\n vạn tư duy giả dối,\r\n đã biến thành trống rỗng.\r\n Mọi hiện tượng chỉ là,\r\n tâm thức đang biến hiện,\r\n thật tại ta chính là,\r\n Ðại thủ ấn không khác.\r\n",
"Search1": "a chin ta",
"Search2": "a chin ta"
},
{
"Id": 87,
"Word": "a chu đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Tên của Mục Kiền Liên khi còn là một vị Tiên—Name of Mahamaudgalyayana as a rsi.",
"Search1": "a chu đà",
"Search2": "a chu da"
},
{
"Id": 88,
"Word": "a chu đà na",
"Dict": 2,
"Mean": "See Arjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a chu đà na",
"Search2": "a chu da na"
},
{
"Id": 89,
"Word": "a cưu la gia la",
"Dict": 2,
"Mean": "Akulakara (skt). 1) Quấy rầy: Phiền hà—Disturbing, upsetting. 2) Tên của một thứ gió: Name of a wind.",
"Search1": "a cưu la gia la",
"Search2": "a cuu la gia la"
},
{
"Id": 90,
"Word": "a đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Agada (skt)—See A Già Đà.",
"Search1": "a đà",
"Search2": "a da"
},
{
"Id": 91,
"Word": "a da cát lị bà",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Mã đầu quan âm Bồ tát.",
"Search1": "a da cát lị bà",
"Search2": "a da cat li ba"
},
{
"Id": 92,
"Word": "a đa đa",
"Dict": 2,
"Mean": "Atata (skt)—See Át Triết Tra and Bát Hàn Địa Ngục.",
"Search1": "a đa đa",
"Search2": "a da da"
},
{
"Id": 93,
"Word": "a da đát na",
"Dict": 8,
"Mean": "3650梵語 āyatana。又作阿也怛那。意譯處、入處。處,生門之義;乃六根及六境之所依、所緣,而生起心、心所。亦即十二處。俱舍光記卷一末(大四一‧二八上):「阿耶怛那,唐云處,舊翻爲入,此亦不然。若言入,梵本應云鉢羅吠舍。舊經亦有譯爲處者,如空無邊處等及阿練若處,並與今同。」",
"Search1": "a da đát na",
"Search2": "a da dat na"
},
{
"Id": 94,
"Word": "a da đát na",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耶怛那) Phạm: Àyatana. Cũng gọi A-dã-đát-na. Dịch ý là xứ (chỗ), nhập xứ (chỗ vào). Xứ, nghĩa là chỗ sinh ra; là chỗ nương, chỗ duyên theo của sáu căn và sáu cảnh để sinh ra tâm, tâm sở. Cũng tức là mười hai xứ. Câu Xá Luận Quang Kí quyển 1 phần cuối (Đại 41,28 Thượng) nói: A-da-đát-na, dịch cũ là nhập, dịch mới là xứ. Dịch nhập thì không đúng. Nếu dịch nhập thì tiếng Phạm phải là Bát-la-phệ-xá. Các kinh dịch cũ cũng có kinh dịch là xứ, như Không vô biên xứ và A-luyện-nhã xứ, đều giống với chữ xứ .",
"Search1": "a da đát na",
"Search2": "a da dat na"
},
{
"Id": 95,
"Word": "a da hạ hàm",
"Dict": 8,
"Mean": "Còn gọi: A gia hạ hàm. Vốn chỉ xương hàm dưới của cha. Hình dáng yên lừa giống như cây cầu, cho nên gọi là cầu yên. Đứa con ngu si khi đi tìm hài cốt của cha chết nơi chiến trường, nhận lầm cái cầu yên lừa cho là xương hàm dưới của cha mình, rồi cẩn thận mang về. Mẩu chuyện này về sau trở thành từ ngữ để mắng người ngu si, không phân biệt được chân, giả. Tắc 78, [i]Thung Dung lục[/i] (Đại 48, 252 trung) ghi: »以 賊 爲 子、認 奴 作 郎、 破 沐 碏 豈 是 先 祖 骨 髏、驢 鞍 橋 亦 非 阿 爺 下 頷。– [i]Nhận giặc là con, cho tớ là chủ. Nhận lầm cái gáo bể là đầu lâu của tổ tiên, cái cầu yên lừa là hàm dưới của cha mình[/i]«.",
"Search1": "a da hạ hàm",
"Search2": "a da ha ham"
},
{
"Id": 96,
"Word": "a dạ kiện đa",
"Dict": 2,
"Mean": "Ayahkanda (skt)—Thiết tiễn (mũi tên sắt)—An iron arrow.",
"Search1": "a dạ kiện đa",
"Search2": "a da kien da"
},
{
"Id": 97,
"Word": "a đà la",
"Dict": 2,
"Mean": "Adara (skt)—Chấp tay chào—To salute with folded hands, palms together.",
"Search1": "a đà la",
"Search2": "a da la"
},
{
"Id": 98,
"Word": "a da luận",
"Dict": 7,
"Mean": "Ayur-śāstra (S)Vệ đà.A da yết lị bà Xem Mã đầu quan âm Bồ tát.",
"Search1": "a da luận",
"Search2": "a da luan"
},
{
"Id": 99,
"Word": "a da mục khư quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3650阿耶穆佉,梵名 Ayomukhī。位於中印度之古國。大唐西域記卷五載,全國周圍凡二千四、五百里,都城臨殑伽河,周圍二十餘里。人民淳厚,風俗樸質。有伽藍五所,僧徒千餘人,學習小乘正量部之法。另有天祠十餘所,異道雜居。城東南不遠臨殑伽河岸有塔,爲阿育王所建,高二百餘尺,佛陀昔時嘗於此處說法三月,其側則過去四佛所坐及經行之遺蹟。據傳,昔有佛陀馱娑論師(巴 Buddhadāsa,覺使)於此國造說一切有部大毘婆沙論;無著曾在都城西南之大菴沒羅林中從彌勒受瑜伽師地論、大乘莊嚴論、中邊分別論等;世親亦於此地禮謁無著,皈依大乘,並造大乘論百餘部。該國位置相當於今歐得州(Oudh)帕依士瓦拉(Baisw⑨ara)地方,恆河以南之地。〔大慈恩寺三藏法師傳卷二、T. Watters: On Yuan Chwang; S.N.Majumdar: Cunningham's Ancient Geography of India〕",
"Search1": "a da mục khư quốc",
"Search2": "a da muc khu quoc"
},
{
"Id": 100,
"Word": "a da mục khư quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耶穆佉國) A-da-mục-khư, Phạm: Ayomukhì. Một nước xưa ở Trung Ấn Độ. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 5 nói, cả nước chu vi hai nghìn bốn trăm dặm, thủ đô ở gần sông Hằng, rộng hơn hai mươi dặm. Nhân dân hiền lành, phong tục chất phác. Có năm ngôi chùa với hơn một nghìn vị tăng, tu học giáo pháp Chính Lượng Bộ của Tiểu thừa. Còn có hơn mười ngôi đền thờ trời, đạo khác ở lẫn lộn. Về phía Đông nam của thủ đô không xa, bên bờ sông Hằng, có ngôi tháp do vua A-dục xây dựng, cao hơn hai trăm thước, khi xưa có lần đức Phật đã nói pháp ở đây trong ba tháng, bên cạnh tháp còn lại dấu vết chỗ ngồi và đi dạo của bốn đức Phật thời quá khứ. Cứ theo truyền thuyết, ngày xưa Luận sư Phật-đà-đà-sa (Pāli: Buddhadasa, Giác sứ) soạn luận Đại-tì-bà-sa của Thuyết Nhất Thiết Hữu Bộ ở nước này. Ngài Vô Trước theo Bồ-tát Di Lặc học các luận Du Già Sư Địa, Đại Thừa Trang Nghiêm, Trung Biên Phân Biệt v.v... trong rừng Đại-am-một-la về phía Tây nam thủ đô nước này. Ngài Thế Thân được ngài Vô Trước khuyến hóa qui y Đại thừa và soạn hơn một trăm bộ luận Đại thừa cũng ở nước này. Vị trí nước này tương đương với vùng Baiswara ở tiểu bang Oudh về mạn Nam sông Hằng hiện nay. [X. Đại Từ Ân Tự Tam tạng Pháp sư truyện Q.2; T. Watters: On Yuan Chwang; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India].",
"Search1": "a da mục khư quốc",
"Search2": "a da muc khu quoc"
},
{
"Id": 101,
"Word": "a đà na",
"Dict": 6,
"Mean": "Adàna (S) Chấp trì, holding on to, maintaining; holding together the karma, good or evil, maintaining the sentient organism, or the germ in a seed of plant. It is another name for the Alaya-vijnàna.",
"Search1": "a đà na",
"Search2": "a da na"
},
{
"Id": 102,
"Word": "a đà na",
"Dict": 2,
"Mean": "Adana (skt). 1) Chấp Trì: Chấp thủ hay duy trì—Holding on to, maintaining. 2) Chấp thủ hay duy trì—Holding together: - Nghiệp nhân thiện ác: Maintaining the karma, good or evil. - Thân thể của loại hữu tình: Maintaining the sentient organism. - Chủng tử hay hạt của cây cối: Maintaining the germ in the seed or plant. 3) Tên khác của A Lại Da Thức: A Đà Na Thức—Another name for Alaya-vijnana. It is known as Adanavijnana—See A Lại Da Thức.",
"Search1": "a đà na",
"Search2": "a da na"
},
{
"Id": 103,
"Word": "a đà na thức",
"Dict": 8,
"Mean": "3639又作陀那識。阿陀那,梵語 ādāna,新譯家將之意譯作執、執持、執我,並以之爲第八識之別名;舊譯家譯作無解,而以之爲第七識之別名。(一)爲第八識之別名。因阿陀那識爲執持感官、身體,令不壞之根本識;且執持諸法之種子,令不失;復因其執持自身,令結生相續,故稱執持識。玄奘、窺基等法相宗新譯家,認爲阿陀那識執持善惡業之勢力及有情之身體,令之不壞,故以其爲第八阿賴耶識之別名。(二)爲第七末那識之別名。因阿陀那識執持種子及有情之身體;而末那識恆與我癡、我見、我慢、我愛等四煩惱相應,並恆審第八阿賴耶識之見分爲「我、我所」而執著;二者所代表之意義實係相同,故地論宗、攝論宗、天台宗之舊譯家以阿陀那識係執持阿賴耶識爲自我之第七末那識之別名。又有將此識譯作無明識、業識、轉識、現識、智識、相續識、妄識、執識、煩惱識、染污識等。〔解深密經卷一心意識相品、攝大乘論本卷上、成唯識論卷三、大乘義章卷三、法華玄義卷五〕",
"Search1": "a đà na thức",
"Search2": "a da na thuc"
},
{
"Id": 104,
"Word": "a đà na thức",
"Dict": 7,
"Mean": "Ādāna-vijāna (S), Ādāna-viāna (P)Chấp trì thức, A lại da thức= A lại da thức.",
"Search1": "a đà na thức",
"Search2": "a da na thuc"
},
{
"Id": 105,
"Word": "a đà na thức",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿陀那識) Cũng gọi Đà-na-thức. A-đà-na, Phạm: Àdàna, các nhà dịch mới dịch ý là chấp, chấp trì, chấp ngã, và cho nó là tên khác của thức thứ tám. Các nhà dịch cũ thì dịch là vô giải, và cho đó là tên khác của thức thứ bảy. 1. Tên khác của thức thứ tám. Vì thức này là thức gốc giữ gìn cảm quan, thân thể, không để hư nát. Hơn nữa, thức này nắm giữ hạt giống của các pháp, không để mất mát. Lại vì nó nắm giữ chính nó, làm cho sự kết sinh nối nhau liên tục, bởi thế gọi là Chấp trì thức (thức nắm giữ). Các nhà dịch mới của tông Pháp Tướng, như ngài Huyền Trang, Khuy Cơ v.v... thức A-đà-na là cái thế lực nắm giữ nghiệp thiện ác và thân thể hữu tình, không để hư hoại, vì thế cho nó là tên khác của thức A-lại-da thứ tám.2. Là tên khác của thức Mạt-na thứ bảy. Vì thức A-đà-na nắm giữ hạt giống và thân thể hữu tình, còn thức Mạt-na thì thường tương ứng với bốn phiền não căn bản ngã là: ngã si, ngã kiến, ngã mạn, ngã ái, đồng thời, thường lấy kiến phần của thức A-lại-da thứ tám làm ta, của ta mà chấp chặt lấy. Ý nghĩa mà thức A-đà-na và thức Mạt-na biểu thị thực ra là giống nhau, cho nên các nhà dịch cũ thuộc các tông Địa Luận, Nhiếp Luận, Thiên Thai v.v... mới cho thức A-đà-na là tên khác của thức Mạt-na thứ bảy nắm giữ thức A-lại-da làm tự ngã. Thức này còn được dịch là vô minh thức, nghiệp thức, chuyển thức, hiện thức, trí thức, tương tục thức, vọng thức, chấp thức, phiền não thức, nhiễm ô thức v.v... [X. kinh Giải Thâm Mật Q.1 phẩm Tâm Ý Thức Tướng; Nhiếp Đại Thừa luận bản Q.Thượng; luận Thành Duy Thức Q.3; Đại Thừa Nghĩa Chương Q.3; Pháp Hoa Huyền Nghĩa Q.5].",
"Search1": "a đà na thức",
"Search2": "a da na thuc"
},
{
"Id": 106,
"Word": "a đặc mạn",
"Dict": 8,
"Mean": "3656梵語 ātman。印度哲學術語,乃特指奧義書(梵 Upaniṣad)和吠檀多派(梵 Vedānta)哲學,用以表示「自我」、「神我」之術語。此乃由動詞「呼吸」(梵 van)轉成之語,因認爲呼吸乃是生命之根源,故進而以 ātman 爲統攝個人之中心。此「自我」被認爲是凡人皆備,而與宇宙原理之梵(梵 Brahman)同一性質,因此有「梵我一如」之思想產生。這種思想除了婆羅門教外,對於自由思想家亦有鉅大之影響。在僧佉耶派中,此自我乃爲一純粹之精神原理,名爲補盧沙(梵 puruṣa),有別於自然而成立二元論。 在佛教之中,計對「自我」,而主張「無我」(梵 anātman,巴 anattā)。此無我論,乃基於諸法緣起無常的道理。一切事物並非有固定之實體存在而永遠不變,可以說一切之存在皆屬因緣生因緣滅(相依相關之關係),因此稱爲無我。蓋眾生執我、我所,迷惑於真理,而輪迴生死;故釋尊闡揚無我,欲令眾生了悟無我,可以解惑、破執、除障而得解脫。菩薩證得無我,能以三輪體空行六度萬行,而自在無礙。",
"Search1": "a đặc mạn",
"Search2": "a dac man"
},
{
"Id": 107,
"Word": "a đặc mạn",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿特曼) Phạm: Àtman. Thuật ngữ triết học Ấn độ và là thuật ngữ đặc biệt của triết học Upanisad và phái Vedànta, dùng để biểu thị tự ngã, thần ngã. Thuật ngữ này do động từ van(hô hấp) trong tiếng Phạm chuyển thành. Vì cho hô hấp là nguồn gốc của mạng sống, nên tiến bước nữa lấy tự ngã (àtman) làm trung tâm thống nhiếp cá nhân. Tự ngã này, người phàm ai cũng có đủ và cùng một tính chất với Phạm (Brahman) là nguyên lí của vũ trụ, do đó nảy sinh tư tưởng Phạm Ngã Nhất Như. Tư tưởng này có ảnh hưởng rất lớn đối với Bà-la-môn giáo cũng như với các nhà tư tưởng tự do. Đối với phái Tăng-khư-da, tự ngã này là một nguyên lí tinh thần thuần túy, gọi là puruwa, khác với tự nhiên và phái này dựa vào đó mà thành lập Nhị Nguyên luận. Trong Phật giáo, nhằm đối lại với tự ngã nên chủ trương Vô ngã (Phạm: anàtman; Pāli: anattà). Luận vô ngã này được xây dựng trên nền tảng của đạo lí: các pháp duyên sinh vô thường. Hết thảy sự vật đều không có thực thể tồn tại một cách cố định, mà luôn luôn thay đổi. Có thể nói, tất cả những cái tồn tại đều thuộc về nhân duyên sinh nhân duyên diệt (quan hệ nương vào nhau, liên quan với nhau), vì thế nên gọi là vô ngã. Nhưng vì chúng sinh chấp ngã, ngã sở, mê mất chân lí, nên phải chịu sống chết vòng quanh. Bởi vậy, đức Thế Tôn nêu cao đạo lí vô ngã, khiến chúng sinh hiểu rõ vô ngã, mới có thể giải tỏa mê lầm, phá tan chấp trước, trừ bỏ chướng ngại để được giải thoát. Bồ-tát chứng được vô ngã, có thể dung tam luân thể không mà thực hành sáu độ muôn hạnh một cách tự tại không ngại.",
"Search1": "a đặc mạn",
"Search2": "a dac man"
},
{
"Id": 108,
"Word": "a đạo",
"Dict": 8,
"Mean": "3665<一>東晉僧。生卒年、籍貫均不詳。或謂天竺人,或謂高句麗人。師風儀特異,神變尤奇,開講時常雨天花。東晉寧康二年(374)入高句麗,翌年,小獸林王爲師創建仍伊弗蘭寺。朝鮮佛教之弘傳,濫觴於此。其餘事蹟不詳。〔三國遺事卷三、海東高僧傳卷上〕 <二>日本淨土宗西山派學僧。寂年、世壽均不詳。字澄空。元亨年間(1321~1323)出家,師事道空。弟子有理圓、本智、道忠等。〔淨土總系譜卷下〕",
"Search1": "a đạo",
"Search2": "a dao"
},
{
"Id": 109,
"Word": "a đạo",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿道) Vị tăng đời Đông Tấn. Năm sinh năm mất và quê quán đều không rõ. Có thuyết nói ngài là người Thiên Trúc, cũng có thuyết bảo là người Cao Cú Li. Phong nghi của ngài khác thường, đặc biệt thần biến rất lạ lùng, trong khi ngài giảng kinh thường có mưa hoa. Năm Ninh Khang thứ 2 (374) đời Đông Tấn, ngài đến nước Cao Cú Li, năm sau, vua Tiểu Thú Lâm cất chùa Y-phất-lan mời ngài ở. Phật giáo Triều Tiên được truyền bá rộng, bắt đầu từ đó. Những sự tích khác về ngài không được rõ. [X. Tam Quốc Di Sự Q.3; Hải Đông Cao Tăng Truyện Q.Thượng].",
"Search1": "a đạo",
"Search2": "a dao"
},
{
"Id": 110,
"Word": "A-dật-đa",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ Ajita, dịch nghĩa là ‘vô năng thắng’, tức là Bồ Tát Di-lặc. Xem Bồ Tát Di-lặc.",
"Search1": "a dật đa",
"Search2": "a dat da"
},
{
"Id": 111,
"Word": "a dật đa",
"Dict": 8,
"Mean": "3664梵名 Ajita。爲佛陀弟子之一。又作阿氏多、阿恃多、阿嗜多、阿夷哆。意譯無勝、無能勝或無三毒。立志當來成蠰佉(梵 Śaṃkha,螺)轉輪聖王。古來或以阿逸多即爲彌勒,但似另有其人。於巴利大藏經之經集(Sutta-nipāta)彼岸道品(Pārāyana-vagga)之序偈中則並舉阿恃多及帝須彌勒(Tissametteyya)之名,即完全以之爲另一人,且於該品中又兼列阿恃多問經(Ajitamāṇavapucchā)以及帝須彌勒問經(Tissametteyyamāṇavapucchā)二經。又中阿含卷十三說本經及賢愚經卷十二載,尊者阿夷哆,於未來久遠人壽爲八萬歲時,願成轉輪王,名號爲螺。尊者彌勒亦於未來久遠人壽爲八萬歲時,願成佛,號爲彌勒如來。大毘婆沙論卷一七八亦載,阿氏多比丘於有而起意樂,起勝解,起欣慕,起希望,起尋求,故佛訶斥之。慈氏菩薩於有不起意樂乃至尋求,於利樂諸有情事起意樂乃至尋求,故佛讚歎之。此等皆說阿逸多與彌勒實爲兩人,同爲佛陀時代受佛教化之弟子。〔中阿含經卷十五、阿羅漢具德經、玄應音義卷二十五、慧苑音義卷上、慧琳音義卷二十二〕",
"Search1": "a dật đa",
"Search2": "a dat da"
},
{
"Id": 112,
"Word": "a dật đa",
"Dict": 7,
"Mean": "Ajeyya (P), Ajita (S), Ajeyya (P), Ajjeyya (P)Vô năng Thắng, A thị đa, Di Lặc1- Tên tự của Di Lặc Bồ tát. 2- Một trong 16 vị A la hán vâng lời Phật dạy trụ ở thế gian giữ gìn chánh pháp.",
"Search1": "a dật đa",
"Search2": "a dat da"
},
{
"Id": 113,
"Word": "a dật đa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿逸多) Phạm: Ajita. Một trong những vị đệ tử của đức Phật. Cũng gọi là A- thị-đa, A-di-đá. Dịch ý: Vô thắng, Vô năng thắng (không ai hơn được) hoặc Vô tam độc (không có ba độc tham sân si). Ngài lập chí trong tương lai sẽ thành Chuyển luân Thánh vương tên là Nhương Khư (Phạm: Zaôkha, Loa). Xưa nay thường cho A-dật-đa tức là Di-lặc, nhưng tựa hồ còn có một người khác nữa. Trong bài kệ Tựa phẩm Bỉ ngạn đạo (Pàràyana-vagga) của Kinh Tập (Suttanipàta) trong Đại tạng kinh Pāli nêu tên của hai vị A-thị-đa và Đế-tu-di-lặc (Tissametteyya) tức hoàn toàn cho đó là một người khác. Hơn nữa, phẩm ấy còn nêu cả hai kinh: A Thị Đa Vấn Kinh (Ajitamàịavapucchà) và Đế Tu Di Lặc Vấn Kinh (Tissametteyyamàịavapucchà). Lại kinh Thuyết bản trong Trung A-hàm quyển 13 và kinh Hiền Ngu quyển 12 chép: Tôn giả A-di-đá, trong vị lai lâu xa, khi con người sống tám vạn tuổi, nguyện thành Chuyển luân thánh vương tên là Loa. Tôn giả Di-lặc, cũng trong vị lai lâu xa, khi người sống tám vạn tuổi,nguyện thành Phật, hiệu là Di-lặc Như Lai. Luận Đại-tì-bà- sa quyển 178 cũng chép: Tỉ-khưu A-thị-đa đối với các cái có, khởi tâm ưa thích, khởi tâm thắng giải, khởi tâm mến mộ, khởi tâm hy vọng, khởi tâm tìm cầu, cho nên bị đức Phật quở trách. Còn Bồ-tát Từ Thị, đối với các cái có, không khởi tâm ưa thích cho đến tìm cầu; đối với các việc lợi lạc hữu tình, thì khởi từ tâm ưa thích cho đến tìm cầu; thế nên được đức Phật khen ngợi. Những kinh luận kể trên nói A-dật-đa và Di-lặc là hai người, cùng là đệ tử của Phật ở thời đại Ngài và được Ngài giáo hóa. [X. kinh Trung A-hàm Q.5; kinh A-la-hán Cụ Đức; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.25; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.Thượng; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.22].",
"Search1": "a dật đa",
"Search2": "a dat da"
},
{
"Id": 114,
"Word": "a dật đa bồ tát",
"Dict": 7,
"Mean": "Ajita Bodhisattva (S)Tên một vị Phật hay Như Lai.",
"Search1": "a dật đa bồ tát",
"Search2": "a dat da bo tat"
},
{
"Id": 115,
"Word": "a dật đa bồ tát",
"Dict": 2,
"Mean": "1) Vô Năng Thắng Bồ Tát—Ajita-Bodhisattva (skt). 2) Danh hiệu của Đức Phật Di Lặc: A title of Maitreya Buddha. ** For more information, please see Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a dật đa bồ tát",
"Search2": "a dat da bo tat"
},
{
"Id": 116,
"Word": "a dật đa, vô năng thắng",
"Dict": 6,
"Mean": "Ajita (S) Invincible, title of Maitreya Buddha.",
"Search1": "a dật đa, vô năng thắng",
"Search2": "a dat da, vo nang thang"
},
{
"Id": 117,
"Word": "a đề bạt trí",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Bất thoái chuyển.",
"Search1": "a đề bạt trí",
"Search2": "a de bat tri"
},
{
"Id": 118,
"Word": "a để lí tiên",
"Dict": 8,
"Mean": "3628阿底哩,梵名 Atri,又作阿跌哩、阿底麗,意譯貪食者。爲古代 印度之仙人,或爲梵天九子之一,北斗七星之一。關於此仙人之記載,散見於吠陀中之火天、帝釋天、阿濕毘膩(梵 Aśvinī),及毘首提婆(梵 Viśvadeva)等偈頌中。祕藏記、諸說不同記卷十謂,此仙爲火天之眷屬。現圖曼荼羅並無其像,唯祕藏記載其左手持水瓶,右手覆身。〔胎藏界七集卷中、阿娑縛抄卷一二五〕",
"Search1": "a để lí tiên",
"Search2": "a de li tien"
},
{
"Id": 119,
"Word": "a để lí tiên",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿底哩仙) A-để-li, Phạm: Atri. Cũng gọi A-điệt-lí, A-để-lệ. Dịch ý là người tham ăn. Tên một vị tiên ở Ấn Độ thời xa xưa, hoặc là một trong chín người con của Phạm Thiên, một trong bảy ngôi sao trong chòm sao Bắc đẩu. Những ghi chép về vị tiên này, thấy rải rác trong các kệ tụng của Hỏa Thiên, Đế Thích Thiên, A-thấp-bà-nị (Phạm: Azvinì) và Tì-thủ-đề-bà (Phạm:Vizvadeva) trong kinh điển Phệ Đà. Bí Tạng Kí và Chư Thuyết Bất Đồng Kí quyển 10 nói, vị tiên này là quyến thuộc của Hỏa Thiên. Trong Hiện đồ mạn-đồ-la không có tượng của vị tiên này, chỉ có Bí Tạng Kí thì nói vị tiên này tay trái cầm bình nước, tay phải úp vào mình. [X. Thai tạng giới thất tập Q.Trung; A-sa-phọc-sao Q.125].",
"Search1": "a để lí tiên",
"Search2": "a de li tien"
},
{
"Id": 120,
"Word": "a để lý",
"Dict": 2,
"Mean": "Atri (skt). 1) Kẻ nuốt sống: A devourer. 2) Một trong những ngôi sao trong nhóm Đại Hùng: One of the stars in Ursa Major. 3) Một trong những thị giả của Thần Hỏa trong Thai Tạng Giới: One of the assistants of Agni shown in the Garbhadhatu. 4) Một vị cổ Tiên: An ancient rsi.",
"Search1": "a để lý",
"Search2": "a de ly"
},
{
"Id": 121,
"Word": "a đề mục đa",
"Dict": 2,
"Mean": "See A Đề Mục Già.",
"Search1": "a đề mục đa",
"Search2": "a de muc da"
},
{
"Id": 122,
"Word": "a đề mục đa ca hoa",
"Dict": 8,
"Mean": "3659阿提目多迦,梵語 atimuktaka。又作阿地目得迦花。意譯龍舐花、苣藤。學名 Gaertncra racemosa。一般歸屬於蔓草類。開白色或赤色之花,甚爲芳香,種子可提煉香油。翻譯名義集卷八謂此植物又稱苣藤子,即胡麻,舊譯作善思夷花。〔慧琳音義卷二十六、卷二十七〕",
"Search1": "a đề mục đa ca hoa",
"Search2": "a de muc da ca hoa"
},
{
"Id": 123,
"Word": "a đề mục đa ca hoa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿提目多迦花) A-đề-mục-đa-ca, Phạm: Atimuktaka. Cũng gọi A-đề-mục-đắc-ca-hoa. Dịch ý là Long thỉ hoa, Cự đằng. Tên khoa học: Gaertncra racemosa. Thông thường được xếp vào loại cây leo. Hoa nở màu trắng hoặc màu đỏ, rất thơm, hạt có thể được ép lấy tinh chất để làm dầu thơm. Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 8 bảo loại thực vật này còn được gọi là cự đằng tử, tức là vừng (mè), dịch cũ dịch là thiện tư di hoa. [X. Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.27].",
"Search1": "a đề mục đa ca hoa",
"Search2": "a de muc da ca hoa"
},
{
"Id": 124,
"Word": "a đề mục đa già",
"Dict": 6,
"Mean": "hoa Thiện tư duy.",
"Search1": "a đề mục đa già",
"Search2": "a de muc da gia"
},
{
"Id": 125,
"Word": "a đề mục già",
"Dict": 2,
"Mean": "Adhimukti or Atimukti (skt). 1) Tâm giải thoát, được diễn dịch là “Thiện Tư Duy”—Entire freedom of mind, confidence, interpreted as “pious thoughtfulness,” good propensity. 2) A Đề Mục Già là tên của một loại cây có hoa đỏ, lá màu xanh đậm, hạt ép ra dầu thơm—Atimuktaka, a plant like the “dragon-lick,” suggestive of hemp, with red flowers and bluish-green leaves; its seeds produce fragrant oil, sesame.",
"Search1": "a đề mục già",
"Search2": "a de muc gia"
},
{
"Id": 126,
"Word": "A-đề Phật",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 提 佛; S: ādibuddha; dịch nghĩa là Bản sơ Phật (本 初 佛), tức là vị Phật gốc, Phật cội nguồn. Xem thêm: Phổ Hiền.",
"Search1": "a đề phật",
"Search2": "a de phat"
},
{
"Id": 127,
"Word": "a đề phật",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Tối thắng Phật.",
"Search1": "a đề phật",
"Search2": "a de phat"
},
{
"Id": 128,
"Word": "a đề phật",
"Dict": 6,
"Mean": "Adi-Buddha (S). The primal Buddha of ancient Lamaism.",
"Search1": "a đề phật",
"Search2": "a de phat"
},
{
"Id": 129,
"Word": "a đề phật đà",
"Dict": 8,
"Mean": "3660梵名 Ādi-buddha,西藏名 Chos-ki daṅ-poḥi saṅs-rgyas。意譯本初覺者、第一覺者。爲西藏密教所奉持之本初本佛。藏密之舊派以此佛係從毘盧遮那佛所化生之普賢(梵 Samantabhadra,藏 Kun-tu-bzaṅ-po,至善法身),亦即法身普賢(梵 Dharmakāya-samantabhadra),而加以崇拜;新派則以之爲跋折囉陀羅(梵 Vajradhara,金剛持)與跋折囉薩埵(梵 Vajrasattva,金剛薩埵)之一體不二之身。金剛持有最勝佛、最上勝者、一切祕密主、諸如來都統、無始無終者等異名;金剛薩埵則有最上智、上首、五禪那佛統領等異名。阿提佛陀爲具足三德之大覺者、無上者、大自在者,無始無終,無限無際,能遍滿十方,一切萬有皆爲其所造,依其力而顯現,又具有五體、五智、五見,乃一切佛之能造者,五禪那佛之統領。其淨土爲 Ḥog-min(色究竟天之義)。〔佛說最上根本大樂金剛不空三昧大教王經卷七、E. Schlagintweit: The Buddhism in Tibet; L.A. Waddell: The Buddhism of Tibet,or Lamaism〕",
"Search1": "a đề phật đà",
"Search2": "a de phat da"
},
{
"Id": 130,
"Word": "a đề phật đà",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Tối thắng Phật.",
"Search1": "a đề phật đà",
"Search2": "a de phat da"
},
{
"Id": 131,
"Word": "a đề phật đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Adi-buddha (skt)—Đây là vị Phật bản sơ của Lạt Ma giáo—The primal Buddha of ancient Lamaism. 1) Theo cựu phái, ngài là Pháp Thân Phổ Hiền—By the older school he is associated with P'u-Hsien born of Vairocana (Dharmakaya-Samantabhadra). 2) Theo tân phái, ngài là Kim Cương Tát Đỏa siêu việt, vĩnh hằng, khởi sanh chư pháp—By the later school with Vajradhara, or vajrasattva, who are considered as identical, eternal, infinite, uncaused, and causing all things.",
"Search1": "a đề phật đà",
"Search2": "a de phat da"
},
{
"Id": 132,
"Word": "a đề phật đà",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿提佛陀) Phạm: Àdi-buddha, tên Tây Tạng: Chos-ki da-po#i sas-rgyas. Dịch ý là Bản sơ giác giả, Đệ nhất giác giả, (bậc giác ngộ đầu tiên, bậc giác ngộ bậc nhất). Bản Phật Bản Sơ do Mật giáo Tây Tạng phụng thờ. Phái cũ của Mật giáo Tây Tạng cho vị Phật này là Phổ Hiền (Phạm: Samantabhadra, Tạng: Kun-tu-bzan-po=pháp thân chí thiện) do đức Phật Tì-lô-giá-na hóa sinh, cũng tức là pháp thân Phổ Hiền (Phạm: Dharmakàya-samantabhadra) để tăng thêm lòng sùng kính. Phái mới thì cho vị Phật này là thân cùng một thể không hai của Bạt-chiết-ra-đà-la (Phạm:Vajradhara, Kim cương trì) và Bạt-chiết-ra-tát-đóa (Phạm:Vajrasattva, Kim-cương-tát-đóa). Kim cương trì có các tên gọi khác là: Tối thắng Phật, Tối thượng thắng giả, Nhất thiết bí mật chủ, Chư Như Lai đô thống, Vô thủy vô chung giả v.v... Kim-cương-tát-đóa cũng có những tên khác là: Tối thượng trí, Thượng thủ, Ngũ thiền na Phật thống lãnh v.v... A-đề-phật-đà là bậc có đủ ba đức Đại giác, Vô thượng, Đại tự tại; không đầu không cuối, không giới hạn, không biên tế, có thể biến khắp mười phương, hết thảy muôn vật đều do A-đề-phật-đà tạo ra, nương vào năng lực của Ngài mà hiển hiện. Ngài có đủ năm thể, năm trí, năm kiến. Ngài tạo ra hết thảy Phật, thống lãnh Ngũ thiền na Phật. Tịnh độ của Ngài là trời Sắc Cứu Kính (#og-min). [X. Phật Thuyết Tối Thượng Căn Bản Đại Lạc Kim Cương Bất Không Tam Muội Đại Giáo Vương Kinh Q.7; E. Schlagintweit: The Buddhism in Tibet; L. A. Waddell: The Buddhism of Tibet, or Lamaism].",
"Search1": "a đề phật đà",
"Search2": "a de phat da"
},
{
"Id": 133,
"Word": "A-đề-sa",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 提 沙; S: atīśa, atiśa; A-đề-sa là cách đọc theo âm Hán Việt, dịch ý là »Người xuất chúng, xuất sắc«, cũng được gọi là Nhiên Ðăng Cát Tường Trí (燃 燈 吉 祥 智; s: dī­paṅ­­ka­raśrī­jñā­na);\r\n Ðại sư người Ðông Ấn (982-1054), người đã đóng góp rất nhiều trong việc truyền Phật giáo sang Tây Tạng. Sư chuyên nghiên cứu các phương pháp phát triển Bồ-đề tâm (s: bo­dhi­­­citta). Là Tổ của dòng Ma-kiệt-đa (s: ma­ga­dha) và thuyết sư tại đại học Siêu Giới (s: vi­­kramaś­īla), Sư được mời qua Tây Tạng và sống ở đó 12 năm cuối đời mình. Sư là người sáng lập trường phái Cam-đan (t: ka­dam­pa), gây ảnh hưởng rất lớn cho nền Phật giáo Tây Tạng, nhất là dòng Cách-lỗ (t: ge­­lugpa) của Tông-khách-ba (t: tsong-kha-pa). Ðệ tử quan trọng nhất của Sư là Lạc-mẫu-đông (hoặc Ðông-đốn [t: drom­ton], 1003-1064). \r\n Thế kỉ thứ 10 được xem là thời đại truyền pháp lần thứ hai từ Ấn Ðộ qua Tây Tạng, thông qua vương triều miền Tây. Ban đầu nhà vua cử sứ giả qua Ấn Ðộ thỉnh kinh, như dịch giả Lâm-thân Tang-pha (t: rinchen sangpo). Về sau nhà vua mời hẳn một Luận sư Ấn Ðộ và người đó là A-đề-sa. Năm 1042, Sư bước chân vào đất Tây Tạng, sống ở Netang và bắt đầu giáo hoá.\r\n Trong tác phẩm Bồ-đề đạo đăng (s: bo­dhi­pa­tha­­pra­dīpa), Sư trình bày toàn cảnh giáo pháp Ðại thừa và chia hành giả theo ba căn cơ khác nhau: 1. Hạ sĩ: loại người mong được tái sinh nơi tốt lành, 2. Trung sĩ: loại người tu vì sự giác ngộ của chính mình (Tiểu thừa) và 3. Thượng sĩ: loại người tu vì sự Giác ngộ của tất cả chúng sinh (Bồ Tát). Công trình chính của A-đề-sa là xếp đặt thứ tự kinh sách, không phổ biến bừa bãi. Sư là người đưa Ða-la (s: tārā) trở thành một vị nữ Hộ Thần quan trọng trong hệ thống Phật giáo Tây Tạng. Trong các trứ tác, Sư thống nhất hai trường phái chính của giáo pháp Bát-nhã ba-la-mật: quan điểm tính Không (s: śūnyatā) của Long Thụ (s: nāgārjuna) và tính bao trùm của tâm thức giác ngộ theo Vô Trước (s: a­saṅ­ga).",
"Search1": "a đề sa",
"Search2": "a de sa"
},
{
"Id": 134,
"Word": "a đề sa",
"Dict": 8,
"Mean": "3661 (982~1054?)梵名 Atiśa,西藏名 Phul-byuṅ。又作阿底峽、阿底沙、阿通沙。西藏佛教迦當派(藏 Bkaḥ-gdam-pa)開祖。東印度薩賀國(Zahora)善祥王(Dge-ahi-dpal)次子,原名月藏。二十九歲,從戒護(梵 Śīlarakṣita)律師出家。出家後,廣學大眾、上座、正量、一切有部之教典及密教。法名吉祥燃燈智(梵 Dīpaṅkaraśrījñāna)、又作燃燈吉祥智),曾參學於末底若那菩提(梵 Matijñāna bodhi)、智祥友、法護(梵 Dharmarakṣita)、阿嚩都底巴(梵 Avadhūtipa)、寶生寂靜(梵 Ratnakarāsantipa)、小姑薩梨、日比枯舉(藏 Rigs-paḥi khu-byug)諸師。後至摩揭陀國超戒寺(梵 Vikramaśīla)教授大悉地(藏 grub-chen)與大乘諸學。西元一○三八年,應西藏阿里王智光及菩提光之招請,離開摩揭陀國入西藏。當時西藏佛教徒皆修習邪法而不重德行,師爲恢復真正的印度佛教,遂著書立說,振興戒律,統一西藏佛教,創立迦當派,巡化於藏土各地,挽救頹風,樹立新範,西藏佛教之面目爲之一變。師並於其間從事經典翻譯與著述,形成西藏佛教復興之空前盛況。後入寂於拉薩西南之聶塘寺(藏 Sñi-thaṅ),世壽七十三。 所譯之經典有二萬光明論、攝大乘論釋、分別然論、乘寶性論釋,著有菩提道燈論、十不善業道經、行集燈、入二諦論、中觀教授、無垢寶書翰等三十餘部。其中,最重要者爲菩提道燈論一書,民國六十七年(1978)由法尊譯成漢文本出版。師之說法極力提倡持戒、禪定與觀法之兼修,又立「三士教」(藏 skyed-bu gsum-gyi lam-gyi rim-pa)之教判,主張上中下三根中之相應修習次第,此外又特崇文殊化身之信仰。由於師之教學布道,特別重視「業果」之故,世人又尊稱爲「業果論師」。師教化一生,受法弟子極多,最著名者有庫頓(藏 Khu-ses-rab brtson-hgrub)、諾庫(藏 Rnog blo-ldanses-rab)、洛姆東(藏 Ḥbrom-ston)等人。於佛教思想中,師一反向來以龍樹之中論爲主流之當代思想,而鼓吹彌勒之瑜伽思想。教義本甚單調之西藏佛教,受此新刺激之後,除原有之迦當派外,又分出薩迦派(藏 Saskya-pa)與迦爾居派(藏 Bkaḥ-brgyud-pa)。又諸弟子中,洛姆東承師之說,大振迦當派之教說,對後代勃興之西藏佛教諸派影響極大,宗喀巴之開創額爾德派(藏 Dge-lugs-pa)即以師所倡導之教義爲中心,故又被稱爲新迦當派。〔多羅那他印度佛教史、喇嘛教史略(陳天鷗)、邊疆政教之研究(黃奮生)、西藏佛教史(聖嚴)、西藏佛教的迦當派(現代佛教學術叢刊(75))、西藏佛教(竺松單傳)〕",
"Search1": "a đề sa",
"Search2": "a de sa"
},
{
"Id": 135,
"Word": "a đề sa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿提沙) (982-1054?) Phạm: Atiza, tên Tây tạng: Phul-byu. Cũng gọi A-để-giáp, A-để-sa, A-hông-sa. Tổ khai sáng phái Ca đương (Phạm: Bka#- gdam-pa) của Phật giáo Tây Tạng, người nước Tát Hạ (Zahora) Đông Ấn Độ, con thứ của vua Thiện Tường (Tạng:Dge-a#i-dpa), vốn tên là Nguyệt Tạng. Hai mươi chín tuổi, ngài theo Luật sư Giới Hộ (Phạm: Zìlarakwita) xuất gia. Sau khi xuất gia, ngài học rộng các kinh điển của Đại chúng bộ, Thượng tọa bộ, Chính lượng bộ, Nhất thiết hữu bộ và Mật giáo. Pháp danh ngài là Cát Tường Nhiên Đăng Trí (Phạm: Dìpakarazrìjĩàna, cũng gọi Nhiên Đăng Cát Tường Trí). Ngài từng tham học các đại sư Mạt-để-nhã-na-bồ-đề (Phạm:Matijĩàna bodhi), Trí Tường Hữu, Pháp Hộ (Phạm: Dhar-marakwita), A-phạ-đô-để-ba (Phạm: Avadhùtipa), Bảo sinh tịch tĩnh (Phạm: Ratnakaràsantipa), Tiểu-cô-tát-lê, Nhật-tỉ-khô-cử (Tạng: Rigs-pa#i khu-byug). Sau, ngài đến chùa Siêu Giới (Phạm: Vikramazìla) ở nước Ma-yết-đà giảng dạy về Đại-tất-địa và các học thuyết Đại thừa. Năm 1083 Tây lịch, nhận lời mời của vua Tây Tạng là A-lí-trí quang và Bồ-đề quang, ngài rời Ma-yết-đà đi Tây Tạng. Bấy giờ, tín đồ Phật giáo Tây Tạng đều tu theo tà pháp, không trọng đức hạnh, ngài bèn soạn sách, lập thuyết nhằm khôi phục nền Phật giáo Ấn Độ chân chính, chấn hưng giới luật, thống nhất Phật giáo Tây Tạng, sáng lập phái Ca Đương, đi giáo hóa khắp xứ Tây Tạng, cứu vãn phong tục đồi trụy, đặt ra phép tắc mới, bộ mặt Phật giáo Tây Tạng nhờ đó thay đổi hoàn toàn. Trong thời gian ấy ngài phiên dịch kinh điển và soạn thuật, hình thành cuộc phục hưng Phật giáo Tây Tạng trước kia chưa từng có. Về sau, ngài nhập tịch ở chùa Nhiếp Đường (Phạm: Sĩi-tha) phía Tây nam Lạp-tát (Lhasa), thọ 73 tuổi. Những kinh điển do ngài dịch gồm có: luận Nhị Vạn Quang Minh, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích, luận Phân Biệt Nhiên, Thừa Bảo Tính Luận Thích. Ngài soạn thuật hơn ba mươi bộ, như: luận Bồ Đề Đạo Đăng, kinh Thập Bất Thiện Nghiệp Đạo, Hành Tập Đăng, luận Nhập Nhị Đế, Trung Quán Giáo Thụ, Vô Cấu Bảo Thư Hàn...tất cả hơn 30 bộ. Trong số này, luận Bồ Đề Đạo Đăng là trọng yếu hơn cả. Tác phẩm này đã được sư Pháp Tôn dịch ra Hán văn và xuất bản vào năm 1978. Về phương diện tu hành, Ngài cực lực đề xướng gồm tu giữ giới, Thiền định và quán pháp. Ngài còn lập giáo phán Tam sĩ giáo (Tạng: skyed-bus gum-gyi lamgyi rim-pa), chủ trương tu tập theo thứ tự phù hợp với ba căn thượng, trung, hạ. Ngoài ra, ngài đặc biệt tôn sùng tín ngưỡng hóa thân Văn Thù. Trong việc dạy học, truyền đạo, vì ngài đặc biệt coi trọngnghiệp quả, nên người đời còn tôn xưng ngài là Nghiệp quả luận sư. Ngài suốt đời giáo hóa, đệ tử học pháp rất đông, những người nổi tiếng hơn cả thì có: Khố Đốn (Tạng:Khu-ses-rab brtsonhgrub), Nặc Khố (Tạng: Rnog bloldanses-rab), Lạc Mẫu Đông (Tạng: Hbrom-ston) v.v... Trong tư tưởng Phật giáo, ngài một mực phản đối việc trước nay lấy luận Trung Quán của Bồ-tát Long Thụ làm trào lưu chủ yếu của tư tưởng đương thời, mà cổ xúy tư tưởng Du Già của Bồ-tát Di Lặc. Giáo nghĩa của Phật giáo Tây Tạng vốn rất đơn điệu, sau khi được tư tưởng mới này khích thích, thì ngoài phái Ca Đương đã sẵn có, còn chia ra phái Tát-ca (Tạng: Saskya-pa) và phái Ca- nhĩ-cư (Tạng: Bka#- bagyud-pa). Trong các đệ tử, sư Lạc Mẫu Đông kế thừa thuyết của ngài, mở rộng giáo thuyết của phái Ca Đương, có ảnh hưởng rất lớn đối với các phái Phật giáo Tây Tạng phát triển sau này. Ngài Tông Khách Ba khai sáng phái Ngạch Nhĩ Đức (Tạng: Dge-lugs-pa) lấy giáo nghĩa do ngài A-đề-sa đề xướng làm trung tâm, vì thế nên phái Ngạch Nhĩ Đức còn được gọi là phái Ca Đương mới. [X. Đa-la-na-tha Ấn Độ Phật giáo sử; Lạt-ma giáo sử lược (Trần Thiên Âu); Biên Cương Chính Giáo Chi Nghiên Cứu (Hoàng Phấn Sinh); Tây Tạng Phật giáo sử (Thánh Nghiêm); Tây Tạng Phật Giáo Đích Ca Đương Phái (Hiện Đại Phật Giáo Học Thuật Tùng San 75); Tây Tạng Phật Giáo (Trúc Tùng Đơn Truyện)].",
"Search1": "a đề sa",
"Search2": "a de sa"
},
{
"Id": 136,
"Word": "a để sa",
"Dict": 2,
"Mean": "Dipankara-Srijnana (skt). (I) Tiểu sử của A Để Sa—Atisa's biography: Theo Giáo Sư Bapat trong Hai Ngàn Năm Trăm Năm Phật Giáo, tên tuổi của luận sư Dipankara-Srijnana được xếp hàng đầu trong số những người Ấn Độ đã hoạt động nhiệt tình để tạo cho Tây Tạng và Ấn Độ gần gủi nhau hơn về mặt văn hóa. Tại Tây Tạng, danh tiếng ông chỉ đứng sau danh tiếng của Đức Phật và ngài Liên Hoa Sinh (Padmasambhava). Trong số tất cả các học giả Ấn Độ đến Tây Tạng, luận sư A Để Sa là một học giả có công lớn lao trong việc dịch những tác phẩm vô giá từ tiếng Phạn ra tiếng Tây Tạng. Thân phụ của ngài là vua Kalyana Sri và thân mẫu là Sri Prabhavati. Ông sinh năm 982 tại Sahor, miền đông Ấn Độ. Không xa nơi Dipankara chào đời (cung điện Kalyana Sri) là tu viện Vikrama, nơi mà song thân của ngài rất gắn bó. Tu viện nầy rất nổi tiếng vào thời đó. Năm 12 tuổi, ngài xuất gia. Song thân muốn ngài tu tại tu viện Vikramasila, nhưng sau lời khuyên của luận sư Jitari, ngài xin phép song thân để đi đến Na Lan Đà. Tại đây ngài được thầy của trưởng tu viện là Avadhutipada nhận làm đệ tử. Thế là cậu bé Dipankara mười hai tuổi ở lại với Avadhutipada cho đến năm 18 tuổi. Trong thời gian nầy cậu đã nghiên cứu kỹ các kinh sách Phật giáo. Sau đó ngài trở về Vikramasila và hoàn tất việc học hành Phật pháp tại đây, nhưng sự khao khát về kiến thức của ngài vẫn chưa nguôi, nên ngài đi đến tu viện Mati ở Vajrasana và trở thành đệ tử của Mahavinayadhara Silaraksita, một nhà nghiên cứu sâu về luật tạng. Dipankara học về luật tạng trong hai năm. Do đó lúc 31 tuổi, Dipankara đã trở thành nhà tinh hông về Tam Tạng và Mật tông, và trở thành một học giả toàn diện. Tại Vikramasila, Dipankara đã gặp gỡ các học giả nổi tiếng, và có lẽ đã học được nhiều điều từ các môn đệ của ngài Hộ Pháp. Tuy nhiên, nỗi khao khát chu du của ông vẫn chưa thỏa mãn. Từ Bồ Đề Đạo Tràng, ngài đi đến vùng duyên hải, có lẽ là đến Tamralipti, nay là Tamluk, trong quận Midnapur miền tây Bengal. Ngoài ra, ngài còn đi đến Lộc Uyển (Sarnath), Xá Vệ (Sravasti), Câu Thi Na (Kusinara) cùng các thánh địa khác trước khi dong buồm đi Sumatra. Lúc Dipankara du hành sang Sumatra là thời vua Vijayapala đang cai trị xứ Ma Kiệt Đà và Mahmud Ghaznavi đang xâm chiếm Ấn Độ (có lẽ vào năm 1023). Dipankara đi suốt 14 tháng, trong thời gian nầy, có thể ngài đã ghé thăm cả Miến Điện và Mã Lai. Ngày nay, không còn một dấu tích Phật giáo nào tại Sumatra ngoại trừ những đống gạch đổ nát của một vài tu viện cổ. Nhưng khi Dipankara đến đây thì nơi nầy đã nổi tiếng về kiến thức Phật giáo. Các tu sĩ Phật giáo nước ngoài trên đường đến Ấn Độ thường lưu lại Sumatra một thời gian để trau dồi tiếng Phạn. Người ta được biết điều nầy qua các bản tường thuật mà các nhà hành hương Trung Hoa từ bốn thế kỷ trước còn để lại. Năm 44 tuổi ngài rời khỏi Sumatra và quay trở về Vikramasila. Do có kiên thức và năng lực xuất chúng, ngài đã trở thành người đứng đầu nhóm 51 học giả và lãnh đạo 108 đền chùa tại đại tu viện Vikramasila—According to Prof. Bapat in the Twenty-Five Hundred Years of Buddhism, Acarya Dipankara-Srijnana's name stands foremost among the Indians who had worked selflessly to bring Tibet and India closer together culturally. In Tibet, his fame is only next to that of the Buddha and Padmasambhava. Undoubtedly, of all the Indian scholars who went to Tibet from India, Acarya Dipankara-Srijnana was one of the greatest. He made available priceless Sanskrit works in Tibetan. Acarya Dipankara-Srijnana's father was king Kalyana Sri and his mother Sri Prabhavati. He was born in 982 A.D. in eastern India. Not far from the Kalyana Sri palace where Dipankara was born, was the Vikrama-vihara, which was also caled Vikramasila Vihara. The parents of Dipankara were intimately connected with the Vikramasila Vihara which was widely known throughout the Buddhist world in those days. He left home at the age of twelve. His parents wanted him to stay at Vikramasila-Vihara, but after the advice from Acarya Jitari, he wanted to go to Nalanda. He reported himself to Bodhibhadra, head of at Nalanda-vihara. Later, Avadhutipada, the Guru (Bodhibhadra's master), accepted him as a disciple. Dipankara stayed with him until he was eighteen. In this period, he made a thorough study of the scriptures. Later, he returned to Vikramasila Vihara to complete his study, but his thirst for knowledge was not quenched, so he went to the Mati Vihara in Vajrasana and became the disciple of Mahavinayadhara Silaraksita, the great Vinaya-pitaka scholar. He studied Vinaya-pitaka with him for two years. Thus, by the time he reached the age of 31, Dipankara Srijnana had already become a master of the three Pitakas and the Tantras, and an all-round scholar. At Vikramasila, Dipankara had met and learned a lot from the disciples of Acarya Dharmapala. However, his wander lust was not satisfied. From Bodh-Gaya he went to the sea coast, perhaps to Tamralipti, the present Tamluk in the Midnapur district of West Bengal. Besides, Dipankara must have visited Sarnath (Rsipatan), Sravasti, Kusinara and other holy places before he set sail for Sumatra. Dipankara travelled to Sumatra while Vijayapala was the king of Magadha and Mahmud Ghaznavi invaded India (1023). Dipankara travelled for fourteen months and during this period he might have visited Burma and Malaysia also. No vestige of the Buddhist religion is left in Sumatra now except for the ruins of some old viharas, but when Dipankara went there, it was famous for Buddhist learning. It was usual for foreign monks on their way to India to stay in Sumatra for some time to acquire proficiency in Sanskrit. This is known from the account left by Chinese pilgrims four centuries earlier. At the age of forty-four, Dipankara Srijnana left Sumatra and returned to Vikramasila. By virtue of his extraordinary learning and ability, he became the chief among the 51 scholars and the leader of 108 temples in the Vikramasila Vihara. (II) Cuộc sống và công việc của tôn giả A Để Sa tại Tây Tạng—The life and work of Atisa in Tibet: Cuộc sống và công việc của ngài A Để Sa tại Tây Tạng rất quan trọng cho sự phát triển Phật giáo tại nước nầy. Từ khi ông đến Tây Tạng thì Phật giáo nước nầy đã phát triển thành nhiều trường phái bản địa khác nhau. trong số nầy hình thức Phật giáo hỗn tạp và chưa cải cách ban đầu được gọi là Rnin-ma-pa hay là trường phái Cũ với bốn tiểu phái chính. Các tín đồ của trường phái nầy thờ cúng Padmasambhava, xem đây là người sáng lập và là đạo sư của họ, họ tin tưởng vào sự ứng nghiệm của thần linh ma quỷ, họ thường được nhận biết qua chiếc mũ màu đỏ. Các giáo lý cải cách của A Để Sa, dựa trên truyền thống Du Già do Di Lặc và Vô trước sáng lập, dẫn đến sự hình thành của trường phái Bkah-gdams-pa bởi người đệ tử người Tây Tạng của ông là Hbrom-ston. Trường phái nầy có quan điểm tổng hợp của cả Tiểu Thừa lẫn Đại Thừa, buộc các tu sĩ phải sống độc thân và không khuyến chuyện phù phép. Chính trên cơ sở của giáo lý nầy mà nhà cải cách vĩ đại của Tây Tạng là Tông Khách Ba vào thế kỷ thứ 14, đã lập nên trường phái Dge-lugs-pa, qua sự gạn lọc những nghi thức cầu kỳ của Bkah-gdams-pa và đang chiếm ưu thế trong Phật giáo Tây Tạng ngày nay cả về thế tục lẫn tâm linh, qua sự kế vị của các vị Đạt Lai Lạt Ma (Dalai Lamas): The life and work of Atisa in Tibet are very important for the development of Tibetan Buddhism. From the time he came to Tibet, Tibetan Buddhism developed into different indigenous schools. In relation to these, the earlier heterogenous and unreformed type of Buddhism came to be called Rnin-ma-pa or the old school with four main sub-sects. The followers of this schol worship Padmasambhava as their founder and Guru, believe in the fulfilment of both the divine and the demoniacal, and are generally recognized as such by their red caps. Atisa's reformed teachings, based upon the Yogacara traditions founded by Maitreya and Asanga, led to the establishment of the Bkah-gdams-pa school by his Tibetan disciple, Hbrom-ston. It took a synthetic view of the teachings of both Hinayana and Mahayana, enforced celibacy upon the monks and discouraged magic practices. It was on the authoritative basis of this doctrine that the great Tibetan reformer, Tson-kha-pa, founded in the 14th century A.D. the Dge-lugs-pa sect, which purified the Bkah-gdams-pa of much of its elaborate ritualism and today dominates Tibetan Buddhism both temporarily and spiritually, through the religious succession of the Dalai Lamas, of whom the fourteenth is now the head of this theocracy.",
"Search1": "a để sa",
"Search2": "a de sa"
},
{
"Id": 137,
"Word": "a di",
"Dict": 8,
"Mean": "3613<一>梵語 ārya,巴利語 arya 或 ariya。音譯阿梨耶,訛略作阿夷。意譯尊者、聖者。乃對通曉諦理者之敬稱。 <二>爲中印度迦毘羅衛國仙人阿私陀(梵 Asita)之別名。釋尊降生時,阿私陀嘗爲之占相,預言其將成佛。依佛本行集經卷七至卷十所載,此仙五通具足,常出入三十三天集會之所,無不自在。〔方廣大莊嚴經卷三、北本大般涅槃經卷二十七、大智度論卷二十九、高僧法顯傳〕(參閱「阿私陀」3622)",
"Search1": "a di",
"Search2": "a di"
},
{
"Id": 138,
"Word": "a di",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿夷) A di. Phạm: Àrya, Pāli: Arya. Dịch âm: A-lê-da, gọi tắt lầm là A-di. Dịch ý: Tôn giả, Thánh giả. Là tiếng gọi một cách tôn kính những bậc thông hiểu chân lí. A-di. Tên khác của A-tư-đà (Phạm: Asita), vị tiên ở nước Ca-tì-la-vệ trung Ấn Độ. Khi đức Thích tôn giáng sinh, tiên A-tư-đà được mời đến xem tướng cho Ngài và đoán trước là Ngài sẽ thành Phật. Theo kinh Phật Bản Hạnh Tập quyển 7 đến quyển 10, thì vị tiên này có đủ năm thần thông, thường ra vào nơi các trời hội họp trên cõi trời Ba mươi ba (Đao lợi thiên), không nơi nào là không được tự tại. [X. kinh Phương Quảng Đại Trang Nghiêm; kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) Q.27; luận Đại Trí Độ Q.29; truyện Cao Tăng Pháp Hiển]. (xt. A Tư Đà).",
"Search1": "a di",
"Search2": "a di"
},
{
"Id": 139,
"Word": "a di đa",
"Dict": 6,
"Mean": "mitàbha (S). Amita vô lượng immeasurable. Amitàbha vô lượng quang immeasurable splendour.",
"Search1": "a di đa",
"Search2": "a di da"
},
{
"Id": 140,
"Word": "A-di-đà",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 彌 陀; danh từ dịch âm từ chữ amita, dạng viết tắt của hai chữ Phạn (sanskrit) là Amitābha và A­mitāyus. Amitābha nghĩa là Vô Lượng Quang, ánh sáng vô lượng, Amitāyus là Vô Lượng Thọ, là thọ mệnh vô lượng; \r\n Tên của một vị Phật quan trọng, được tôn thờ nhiều nhất trong Ðại thừa (s: ma­hā­yāna). A-di-đà là giáo chủ của cõi Cực lạc (s: su­khāvatī) ở phương Tây. Phật A-di-đà được tôn thờ trong Tịnh độ tông tại Trung Quốc, Nhật Bản, Việt Nam và Tây Tạng, tượng trưng cho Từ bi và Trí huệ.\r\n \r\n H 1: A-di-đà Phật\r\n Trong Phật gia (s: buddhakula) thì Phật A-di-đà được tôn thờ sớm nhất trong lịch sử, vào khoảng thế kỉ thứ nhất sau Công nguyên. Thân hình của Ngài thường được vẽ bằng màu đỏ, tượng trưng cho màu mặt trời lặn phương Tây. Tay của Ngài bắt Ấn thiền định, giữ Bát, dấu hiệu của một giáo chủ. Những trái cây trong bình bát tượng trưng cho trí huệ phong phú của Ngài. Tao sen tượng trưng cho sự thanh tịnh và hai con công là biểu hiện của sự thoát hiểm, thoát khổ. Tại Ấn Ðộ và Tây Tạng, người ta tin rằng con công có thể ăn tất cả những chất độc mà không bị ảnh hưởng gì.\r\n Phật A-di-đà cũng thường được trình bày với hình tượng mang vương miện kết bằng ngọc quý, có khi dưới dạng của Pháp Tạng tỉ-khâu, đầu cạo trọc, một dạng tiền kiếp của Ngài. Thông thường, A-di-đà được vẽ ngồi trên toà sen, tay Ngài bắt ấn thiền hay ấn giáo hoá. Cùng được thờ chung với A-di-đà là hai vị Ðại Bồ Tát, đó là Quán Thế Âm (s: avaloki­te­śva­ra), đứng bên trái và Ðại Thế Chí (s: ma­hā­sthā­ma­prāpta), đứng bên mặt của Ngài. Có khi người ta trình bày Ngài đứng chung với Phật Dược Sư (s: bhai­­ṣajyaguru-­bud­dha). Tương truyền rằng A-di-đà từng là một nhà vua. Sau khi phát tâm mộ đạo, Ngài từ bỏ ngôi báu và trở thành một tỉ-khâu với tên Pháp Tạng (s: dhar­mā­kara). Ngài quyết tâm tu hành thành Phật và nguyện giúp chúng sinh sống trong cõi Cực lạc của mình cũng sẽ thành Phật. Ngài lập 48 đại nguyện nhằm giúp chúng sinh giải thoát. Các lời nguyện quan trọng nhất là:\r\n (18) »Sau khi ta đạt chính quả, chúng sinh trong khắp mười phương thế giới chỉ cần nghe đến tên ta là đã khởi niệm cầu đạt quả vô thượng. Lúc họ chết mà nhớ nghĩ đến ta, ta sẽ hiện đến cùng quyến thuộc xung quanh để giúp họ khỏi sợ hãi. Nếu không được như thế thì ta quyết không thành Phật«; (19) »Sau khi ta đạt chính quả, chúng sinh trong vô số thế giới chỉ cần nghe đến tên ta, muốn thác sinh trong Tịnh độ của ta để trau dồi thiện nghiệp thì họ phải được toại nguyện. Nếu không được như thế thì ta quyết không thành Phật.« Nhờ phúc đức tu học, cuối cùng Pháp Tạng trở thành Phật A-di-đà, giáo chủ cõi Cực lạc.\r\n Trong lịch sử đạo Phật, việc tôn xưng A-di-đà là một mốc phát triển quan trọng. Phép niệm A-di-đà là một cách tu dưỡng mới của Phật tử, không phải trải qua vô số kiếp. Ðây là cách tu dưỡng dựa vào Tha lực, dựa vào đại nguyện của một vị Phật – một phép tu »nhanh chóng, dễ dàng« hơn chứ không phải dựa vào tự lực của chính mình. Ðó là phép tu nhất tâm niệm danh hiệu »Nam-mô A-di-đà Phật« lúc lâm chung để được sinh vào cõi của Ngài.",
"Search1": "a di đà",
"Search2": "a di da"
},
{
"Id": 141,
"Word": "a di đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Amita, Amitabha, or Amitayus (skt). (A) Đức Phật A Di Đà—Amitabha Buddha—See Kinh A Di Dà in Appendix A (1) a) Có nhiều tên gọi Phật A Di Đà, tuy nhiên, Amitabha là tên thường được dùng nhất để gọi Phật Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ. A Di Đà là một vị Phật phi lịch sử, trước thời Phật Thích Ca, được tôn kính bởi các trường phái Đại Thừa. A Di Đà Phật đang chủ trì Tây Phương Tịnh Độ, nơi mà chúng sanh được vãng sanh nhờ thành tâm trì niệm hồng danh của Ngài, nhứt là vào lúc lâm chung. A Di Đà là vị Phật được tôn kính rộng rãi nhất trong các vị Phật phi lịch sử. Kỳ thật, trong các tông phái Tịnh Độ, Ngài che mờ cả Phật Tỳ Lô Giá Na và Đức Phật Lịch Sử Thích Ca Mâu Ni. Ngài còn nhiều tên khác như Amitabha Buddha—Amitayus (skt)—Amida—Amita (p)—There are several names for “A Di Đà Phật” in several other languages; however, Amitabha is the most commonly used name for the Buddha of Infinite Light and Infinite Life. A transhistorical Buddha venerated by most Mahayana schools. He presides over the Western Pure Land where anyone can be reborn through utterly sincere recitation of His Name, particularly at the time of death. Amitabha is the most widely venerated of the non-historical or Dhyani-Buddhas. Indeed, in the Pure Land sects, he overshadows both Vairocana and the historic Buddha Sakyamuni. b) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy - Tín ngưỡng Di Đà tiêu biểu bởi Tịnh Độ Tông của ngài Pháp Nhiên, Chân tông của Thân Loan, và Thời Tông của Nhất Biến cho thấy một sắc thái độc đáo của Phật giáo. Trong lúc tất cả các tông phái khác của Đại Thừa chuyên chú về tự giác, thì các tông phái Tịnh Độ lại dạy y chỉ nơi Phật lực: Amita-peitism, as represented by the Pure Land School of Fa-Ran, the Shingon of Shin-Ran, and Shih-Tsung of I-Bien shows a unique aspect of Buddhism. While all other schools of Mahayana insist on self-enlightenment, these schools teach sole reliance on the Buddha's power. - Đức Phật của những tông phái Phật giáo khác là Đức Thích Ca Mâu Ni, trong lúc Đức Phật của Tịnh Độ tông là A Di Đà hay Vô Lượng Quang hay Vô Lượng Thọ: The Buddha of all other exoteric schools is Sakyamuni, while the Buddha of these schools is Amita, or Amitabha, or Amitayus. - Quốc độ của Đức Phật A Di Đà là Tây Phương Cực Lạc: The Land of Bliss of Amitabha Buddha is laid in the Western Quarter. - Phán giáo theo quan điểm của Pháp Nhiên là chia thành hai thuyết Thánh đạo và Tịnh Độ, nguyên lai do Đạo Xước đề xướng ở Trung Hoa vào khoảng năm 645 sau Tây Lịch. Học thuyết đầu là “Nan Hành Đạo,” trong lúc học thuyết sau là “Dị Hành Đạo” được Long Thọ xác định: The critical division of the Buddha's teaching adopted by Fa-Ran was into the two doctrines of the Holy Path and the Pure Land, originally proposed by T'ao-Ch'o of China in 645 A.D. The former is the difficult way to traverse while the latter is the easy way to travel defined by Nagarjuna. - Còn một lối phân chia khác do ngài Thế Thân đề xướng, và Đạo Xước minh giải, đó là con đường tự lực và tha lực. Tha lực ở đây có nghĩa là năng lực của Đức Phật A Di Đà, chớ không phải của bất cứ ai khác. Ai đi theo Thánh đạo có thể thành Phật quả trong thế gian nầy nếu họ có đầy đủ căn cơ, trong lúc có những người chỉ khát vọng vãng sanh Tịnh Độ và thành Phật tại đó: There is another division which was proposed by Vasubandhu and elucidated by T'ao-Ch'o, that is, the ways of self-power and another's power. Another's power here means the power of Amitabha Buddha, not any other's power. Those who pursue the Holy Path can attain Buddhahood in this world, if they are qualified, while other just want to seek rebirth in the Pure Land and attain the Buddhahood there. See Vô Lượng Thọ. (B) Những tên gọi khác nhau của Đức Phật A Di Đà—Amitabha Buddha also has several other titles 1) Vô Lượng Quang Phật: Buddha of Boundless Light. 2) Vô Biên Quang Phật: Buddha of Unlimited Light. 3) Vô Ngại Quang Phật: Buddha of Irresistable Light. 4) Vô Đối Quang Phật: Buddha of Incomparable Light. 5) Diệm Vương Quang Phật: Buddha of Yama or Flame-King Light. 6) Thanh Tịnh Quang Phật: Buddha of Pure Light. 7) Hoan Hỷ Quang Phật: Buddha of Joyous Light. 8) Trí Huệ Quang Phật: Buddha of Wisdom Light. 9) Bất Đoạn Quang Phật: Buddha of Unending Light. 10) Nan Tư Quang Phật: Buddha of Inconceivable Light. 11) Vô Xưng Quang Phật: Buddha of Indescribable Light. 12) Siêu Nhựt Nguyệt Quang Phật: Buddha of Light Surpassing that of Sun and Moon. 13) Vô Lượng Thọ Phật: Buddha of Boundless Age (Life). 14) Vô Lượng Cam Lộ Vương Như Lai: Buddha of Infinite King of Sweet-Dew—Sweet-Dew King ** For more information, please see Amita inSanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Amitabha in English-Vietnamese Section.",
"Search1": "a di đà",
"Search2": "a di da"
},
{
"Id": 142,
"Word": "a di đà bà",
"Dict": 2,
"Mean": "Amitabha Buddha—See A Di Đà.",
"Search1": "a di đà bà",
"Search2": "a di da ba"
},
{
"Id": 143,
"Word": "a di đà bổn nguyện",
"Dict": 2,
"Mean": "Những lời cầu nguyện căn bản của Đức A Di Đà. Những lời nguyện căn bản trong tứ thập bát nguyện của Ngài—The original vows of Amitabha Buddha—The basic essential vows in his forty-eight vows: 1) Trong cõi Tịnh Độ sẽ không có một điều kiện tái sanh vào cõi thấp kém hay ác đạo: In the Pure Land, there will be no inferior modes or evil path of existence. 2) Trên cõi Tịnh Độ sẽ không có người nữ, người nữ nào được vãng sanh Tịnh độ đều biến thành nam giới: In the Pure Land, there will be no women, as all women who are reborn there will transform at the moment of death into men. 3) Không có sự khác biệt bề ngoài với những chúng sanh Tịnh độ, mọi người đều có 32 tướng hảo: There will be no differences in appearance there, every being is to have 32 marks of perfection. 4) Mỗi chúng sanh Tịnh độ đều có một nhận thức hoàn hảo về tiền kiếp của mình: Every being in the Pure Land posseses perfect knowledge of all past existences. 5) Mọi người đều có Thiên nhãn thông: Every being possesses a Divine eye—See Thiên Nhãn Thông. 6) Mọi người đều có Thiên Nhĩ thông: Every being possesses a Divine Ear—See Thiên Nhĩ Thông. 7) Mọi người đều có Thần túc thông: Every being possesses the ability to move about by supernatural means—See Thần Túc Thông. 8) Mọi người đều có Tha Tâm thông để có thể đọc thấy ý nghĩ của người khác: Every being possesses the ability to know the thoughts of others. 9) Mọi chúng sanh trong mười phương nghe danh hiệu Ngài đều phát bồ đề tâm và nguyện vãng sanh Tây phương Tịnh Độ: All beings of the worlds in all ten directions, upon hearing the name of Amitabha, will arouse Bodhicitta and vow to be reborn in the Western Pure Land after death. 10) Phật A Di Đà cùng Thánh chúng sẽ xuất hiện tiếp dẫn vào lúc lâm chung, những ai đã phát tâm Bồ đề sau khi nghe được hồng danh của Ngài (đây là lời nguyện quan trọng nhất): Amitabha and all saints will appear at the moment of their death to all beings who have aroused Bodhicitta through hearing his name (this is the most important vow). 11) Ngài nguyện sẽ làm cho tất cả những ai khi nghe đến tên Ngài, hướng ý nghĩ của mình về đất Tịnh Độ và tích lũy thiện nghiệp để vãng sanh về cõi Tây phương Cực Lạc: All beings who through hearing his name have directed their minds toward rebirth in his Pure Land and have accumulated wholesome karmic merits will be reborn in the Western Paradise. 12) Sau khi vãng sanh Tịnh Độ, chúng sanh chỉ còn một lần tái sanh duy nhất trước khi lên hẳn Niết Bàn, chúng sanh ở đây không còn rơi vào cõi thấp nữa: After rebirth in the Pure Land, only one further rebirth will be necessary before entry into Nirvana, no more falling back into lower paths.",
"Search1": "a di đà bổn nguyện",
"Search2": "a di da bon nguyen"
},
{
"Id": 144,
"Word": "a di đà bổn nguyện và quang minh lực",
"Dict": 2,
"Mean": "The power of Amitabha Buddha's original vow and his power of light.",
"Search1": "a di đà bổn nguyện và quang minh lực",
"Search2": "a di da bon nguyen va quang minh luc"
},
{
"Id": 145,
"Word": "a di đà chú",
"Dict": 8,
"Mean": "3682即阿彌陀佛之真言。又作阿彌陀大心咒、十甘露咒、拔一切業障根本得生淨土神咒、無量壽如來根本陀羅尼。乃表示無量壽如來之內證、本誓、功德之根本陀羅尼,具有現世安穩、罪障消滅、安養極樂淨土往生等功德。一般所讀誦者爲唐代不空譯之無量壽如來修觀行供養儀軌中之無量壽如來根本陀羅尼。 此外,如劉宋求那跋陀羅所譯拔一切業障根本得生淨土神咒、北魏菩提流支所譯佛說阿彌陀佛根本祕密神咒經、唐阿地瞿多所譯陀羅尼集經、譯者佚名之阿彌陀佛說咒、唐實叉難陀所譯佛說甘露陀羅尼經等均載有此咒,惟文句稍有出入。〔阿彌陀經不思議神力傳〕",
"Search1": "a di đà chú",
"Search2": "a di da chu"
},
{
"Id": 146,
"Word": "a di đà chú",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀咒) Là chân ngôn của đức Phật A di đà. Cũng gọi A di đà đại tâm chú, Thập cam lộ chú, Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú, Vô lượng thọ Như lai căn bản đà-la-ni. Đà-la-ni căn bản biểu tỏ nội chứng, bản thệ, công đức của Vô Lượng Thọ Như Lai, có đủ các công đức hiện đời này được yên ổn, tội chướng tiêu diệt, (sau khi chết) được sinh về cõi Tịnh độ an dưỡng Cực lạc. Bài chú được đọc tụng phổ thông hơn cả là Đà-la-ni căn bản của đức Vô lượng thọ Như lai trong Vô Lượng Thọ Như Lai Tu Quán Hành Cúng Dường Nghi Quĩ do ngài Bất Không đời Đường dịch. Ngoài ra, Bạt nhất thiết nghiệp chướng căn bản đắc sinh tịnh độ thần chú, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch, Phật thuyết A-di-đà Phật căn bản bí mật thần chú kinh, do ngài Bồ-đề-lưu-chi đời Bắc Ngụy dịch, Đà-la-ni tập kinh do ngài A-địa-cù-đa đời Đường dịch, A-di-đà Phật thuyết chú, mất tên người dịch, Phật Thuyết Cam Lộ Đà-la-ni kinh, do ngài Thực-xoa-nan-đà đời Đường dịch v.v... tất cả các kinh trên đây đều có ghi chép bài chú này, duy câu văn có hơi khác nhau. [X. A Di Đà Kinh Bất Tư Nghị Thần Lực truyện].",
"Search1": "a di đà chú",
"Search2": "a di da chu"
},
{
"Id": 147,
"Word": "a di đà cổ âm thanh vương đà la ni kinh",
"Dict": 8,
"Mean": "3685全一卷。譯者不詳。略稱鼓音聲王經、鼓音聲經。收於大正藏第十二冊。內容敘述佛陀在瞻波大城爲諸比丘說西方極樂世界及阿彌陀佛之功德莊嚴,並說阿彌陀佛之國名爲清泰,父名月上,母名殊勝妙顏,子名月明,奉事弟子名爲無垢稱,智慧弟子名爲賢光;次說受持讀誦鼓音聲王大陀羅尼,十日十夜六時專念,十日之中必得見彼阿彌陀佛。此經以載有阿彌陀佛之父母而著稱。〔陀羅尼雜集卷四、歷代三寶紀卷十三、開元釋教錄卷六〕",
"Search1": "a di đà cổ âm thanh vương đà la ni kinh",
"Search2": "a di da co am thanh vuong da la ni kinh"
},
{
"Id": 148,
"Word": "a di đà cổ âm thanh vương đà la ni kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Amita-dundubhi-svararāja-dhāraṇī sūtra (S)Cổ âm thanh vương kinhTên một bộ kinh.",
"Search1": "a di đà cổ âm thanh vương đà la ni kinh",
"Search2": "a di da co am thanh vuong da la ni kinh"
},
{
"Id": 149,
"Word": "a di đà cổ âm thanh vương đà la ni kinh",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀鼓音聲王陀羅尼經) Kinh, 1 quyển. Không rõ người dịch. Gọi tắt: Cổ Âm Thanh Vương kinh, Cổ Âm Thanh kinh, thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Nội dung tường thuật việc đức Phật ở thành Chiêm-ba nói về thế giới Cực Lạc bên phương Tây và công đức trang nghiêm của đức Phật A-di-đà cho các vị Tỉ-khưu nghe. Ngài nói, tên nước của Phật A-di-đà là Thanh Thái, cha là Nguyệt Thượng, mẹ là Thù Thắng Diệu Nhan, con là Nguyệt Minh, đệ tử thị giả là Vô Cấu Xưng, đệ tử trí tuệ là Hiền Quang. Sau hết, Ngài dạy: thụ trì đọc tụng Đại Đà-la-ni Cổ Âm Thanh Vương, sáu giờ chuyên niệm suốt ngày đêm, chỉ trong mười ngày, nhất định được thấy đức Phật A-di- đà. Nhờ có nói về cha mẹ của Phật A-di-đà mà bộ kinh này nổi tiếng. [X. Đà-la-ni Tạp tập Q.4; Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.13; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.6].",
"Search1": "a di đà cổ âm thanh vương đà la ni kinh",
"Search2": "a di da co am thanh vuong da la ni kinh"
},
{
"Id": 150,
"Word": "a di đà đàn na",
"Dict": 2,
"Mean": "Amrtodana (skt)—Cam Lộ Vương, vua xứ Ma Kiệt Đà, cha của A Nậu Lâu Đà, chú của Phật Thích Ca—A king of Magadha, father of Anuruddha and Bhadrika, uncle of Sakyamuni.",
"Search1": "a di đà đàn na",
"Search2": "a di da dan na"
},
{
"Id": 151,
"Word": "a di đà đường",
"Dict": 8,
"Mean": "3682即安置阿彌陀如來尊像之堂宇。略稱彌陀堂。我國始於東晉慧遠,於廬山般若臺精舍安置阿彌陀像,修念佛三昧。其後唐代善導、承遠、法照等建立般舟道場,宋代以後盛行之結社念佛道場,皆稱阿彌陀堂。日本則起自奈良朝,京都法輪寺、奈良法華寺等皆有此堂宇。",
"Search1": "a di đà đường",
"Search2": "a di da duong"
},
{
"Id": 152,
"Word": "a di đà đường",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀堂) Nhà thờ tôn tượng A-di-đà Như Lai. Gọi tắt: Di-đà đường. Ở Trung Quốc, bắt đầu từ ngài Tuệ Viễn đời Đông Tấn, tại Lư Sơn, ngài thờ tượng Di-đà trong tịnh xá đài Bát Nhã, tu tam muội Niệm Phật. Về sau, các ngài Thiện Đạo, Thừa Viễn, Pháp Chiếu v.v... đời Đường kiến lập đạo tràng Bát Chu, từ đời Tống về sau thịnh hành đạo tràng Kết Xã niệm Phật, đều gọi A-di-đà đường. Bên Nhật bản thì bắt đầu từ thời Nại Lương v.v.. đều có Di-đà đường.",
"Search1": "a di đà đường",
"Search2": "a di da duong"
},
{
"Id": 153,
"Word": "a di đà hộ ma",
"Dict": 8,
"Mean": "3686爲密教修法之一。即以阿彌陀佛爲本尊,於尊像前行護摩法,以祈願滅罪生智、往生淨土,或爲亡者祈求冥福而修之祕法。(參閱「護摩」6869)",
"Search1": "a di đà hộ ma",
"Search2": "a di da ho ma"
},
{
"Id": 154,
"Word": "a di đà hộ ma",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀護摩) Một trong những phép tu của Mật giáo. Là phép bí mật lấy Phật A-di- đà làm vị tôn chính, làm phép hộ ma trước tôn tượng Ngài để cầu diệt tội sinh trí, sinh về Tịnh độ, hoặc tu để cầu phúc cõi âm cho người đã khuất. (xt. Hộ Ma).",
"Search1": "a di đà hộ ma",
"Search2": "a di da ho ma"
},
{
"Id": 155,
"Word": "A-di-đà kinh",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 彌 陀 經; S: amitābha-sūtra; chính là bản ngắn của Ðại thừa vô lượng thọ trang nghiêm kinh.\r\n Một trong ba bộ kinh quan trọng nhất của tông Tịnh độ, lưu hành rộng rãi tại Trung Quốc, Nhật và Việt Nam. Kinh này trình bày phương pháp nhất tâm niệm danh hiệu A-di-đà và sẽ được Ngài tiếp độ về cõi Cực lạc lúc lâm chung (Niệm Phật). Ngày nay, nguyên bản Phạn ngữ (sanskrit) của kinh này đã thất lạc, người ta chỉ còn tìm thấy những bản chữ Hán của hai dịch giả lừng danh là Cưu-ma-la-thập và Huyền Trang.",
"Search1": "a di đà kinh",
"Search2": "a di da kinh"
},
{
"Id": 156,
"Word": "a di đà kinh",
"Dict": 8,
"Mean": "3683<一>梵名 Aparimitāyus-sūtra。凡二卷。又稱阿彌陀三耶三佛薩樓佛檀過度人道經、大阿彌陀經。吳(222~280)支謙譯。收於大正藏第十二冊。本經爲無量壽經之異譯,且爲無量壽經諸譯中成立最早之一部。〔歷代三寶紀卷五、開元釋教錄卷二〕(參閱「大阿彌陀經」802) <二>梵名 Sukhāvatyamṛta-vyūha。音譯速迦瓦低阿彌哩怛尾喻訶。全一卷。又稱一切諸佛所護念經、諸佛所護念經、小無量壽經、小經、四紙經。收於大正藏第十二冊。淨土三部經之一。原典約編篡於北印度阿彌陀佛信仰盛行,大無量壽經原型成立後,即在一世紀左右。漢譯本於姚秦弘始四年(402)由鳩摩羅什(梵 Kumārajīva, 344~413)譯出。譯出後異譯有二本,一爲劉宋孝武帝孝建(454~456)初年求那跋陀羅所譯之小無量壽經一卷,早已散軼,現僅存咒文與利益文;二爲唐高宗永徽元年(650)玄奘所譯之稱讚淨土佛攝受經一卷,亦收於大正藏第十二冊。 羅什之譯本,譯文簡潔流麗,故誦讀者最多。內容敘述阿彌陀佛西方淨土之清淨莊嚴,諸佛真誠讚歎眾生之往生淨土、六方諸佛之印證,及持名念佛等,使淨土信仰明確而平易。 本經之注疏甚多,較重要者有智顗之阿彌陀經義記一卷、善導之阿彌陀經法事讚二卷、慧淨之阿彌陀經疏一卷、窺基之阿彌陀經疏一卷及阿彌陀經通讚疏三卷、元曉之阿彌陀經疏一卷等。 近代因牛津大學刊行梵本,日本遂掀起研究之熱潮,如藤波一如著有和英支鮮四國語譯梵文阿彌陀經、荻原雲來著有梵藏和英合璧淨土三部經,及木村秀雄著有 TheSmaller sukhāvatī-vyūha, Description of Sukhāvatī, The Land of Bliss, collaterating Sanskrit, Tibetan, Chinese texts with commentarial foot-notes。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷四、卷五、卷八、至元法寶勘同總錄卷三〕",
"Search1": "a di đà kinh",
"Search2": "a di da kinh"
},
{
"Id": 157,
"Word": "a di đà kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Aparinitayus sūtra (S), , Amitakyo (J), Amitabha SutraA di đà Tam-da-tam Phật-tát-lâu-Phật-đàn quá độ nhân đạo KinhTên một bộ kinh. Đại Chánh Tạng, tập 12, Bộ A di đà Kinh, 2 quyền.",
"Search1": "a di đà kinh",
"Search2": "a di da kinh"
},
{
"Id": 158,
"Word": "a di đà kinh",
"Dict": 6,
"Mean": "Sukhàvatì-vyùha-sùtra. (S) Sùtra of the Amitàbha Buddha.",
"Search1": "a di đà kinh",
"Search2": "a di da kinh"
},
{
"Id": 159,
"Word": "a di đà kinh",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀經) I. A-di-đà kinh, Phạm: Aparimitàyussùtra, 2 quyển. Cũng gọi A-di- đà-tam-da-tam-phật-tát-lâu Phật Đàn Quá Độ Nhân Đạo kinh, Đại A-di- đà kinh. Do ngài Chi Khiêm đời Ngô (222-280) dịch, thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Kinh này là bản dịch khác của kinh Vô Lượng Thọ, và là một bộ kinh được thành lập sớm nhất trong các bản dịch kinh Vô lượng thọ. [X. Lịch Đại Tam Bảo Kỉ Q.5; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.2] (xt. Đại A Di Đà Kinh). II. A-di-đà kinh. Phạm: Sukhàvatyamftavyùha. Dịch âm: Tốc-ca-ngõa-đê-a-di-lí-đát-vĩ-dụ-ha, 1 quyển. Cũng gọi Nhất Thiết Chư Phật Sở Hộ Niệm kinh, Tiểu Vô Lượng Thọ kinh, Tiểu kinh, Tứ Chỉ kinh, thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Một trong ba bộ kinh Tịnh Độ. Kinh này vốn được biên soạn ở miền Bắc Ấn Độ, vào lúc mà tín ngưỡng Phật A-di-đà đang thịnh hành, sau khi kinh Đại Vô Lượng Thọ đã được thành lập, tức vào khoảng thế kỉ thứ nhất. Kinh này đã được ngài Cưu-ma-la-thập (Phạm: Kumàrajìva, 344-414) dịch ra Hán văn vào năm Hoằng Thủy thứ 4 (404) đời Diêu Tần. Sau bản của ngài Cưu-ma-la-thập, có hai bản dịch khác nữa: 1. Kinh Tiểu Vô Lượng Thọ, 1 quyển, do ngài Cầu-na-bạt-đà-la dịch vào đầu năm Hiếu Kiến (454-456) đời Hiếu Vũ Đế nhà Lưu Tống. Bản dịch này đã bị thất lạc từ lâu, hiện chỉ còn văn chú và văn lợi ích. 2. Kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thụ, 1 quyển, do ngài Huyền Trang dịch vào niên hiệu Vĩnh Huy năm đầu (650) đời vua Cao Tông nhà Đường, cũng được thu vào Đại Chính Tạng tập 12. Bản dịch của ngài La-thập, văn dịch ngắn gọn, trong sáng và trôi chảy, nên được rất nhiều người đọc tụng. Nội dung kinh này trình bày sự trong sạch đẹp đẽ ở Tịnh độ phương Tây của Phật A-di-đà, chư Phật chân thành khen ngợi chúng sinh sinh về Tịnh độ, chư Phật ở sáu phương ấn chứng, và trì danh niệm Phật v.v... làm cho tín ngưỡng Tịnh độ được xác nhận rõ ràng và dễ dãi. Có rất nhiều bản chú sớ về kinh này, trọng yếu hơn cả thì có: A- di-đà Kinh Nghĩa Kí 1 quyển của ngài Trí Khải, A-di-đà Kinh Pháp Sự Tán 2 quyển của ngài Thiện Đạo, A-di-đà kinh sớ, 1 quyển của ngài Tuệ Tịnh, A-di-đà kinh sớ 1 quyển và A-di-đà Kinh Thông Tán Sớ 3 quyển của ngài Khuy Cơ, A-di-đà kinh sớ 1 quyển của ngài Nguyên Hiểu v.v... Thời gần đây, nhân việc Đại học Oxford san hành kinh Di-đà bản tiếng Phạm, Nhật Bản bèn dấy lên phong trào nghiên cứu kinh này rất là sôi nổi. Như Đằng Ba Nhất Như soạn kinh A-di-đà văn Phạm được dịch ra bốn thứ tiếng Nhật, Anh, Trung Hoa, Triều Tiên; Địch Nguyên Vân Lai soạn ba bộ kinh Tịnh Độ, Phạm, Tạng, Nhật, Anh đối chiếu, và Mộc thôn Tú hùng soạn The Smaller Sukhàvatìvyùha, Description of Sukhàvatì; The Land of Bliss, collaterating Sanskrit, Tibetant, Chinese texts with commentarial foot-notes. [X. Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.2; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.4, Q.5, Q.8; Chí Nguyên Pháp Bảo Khám Đồng Tổng Lục Q.3].",
"Search1": "a di đà kinh",
"Search2": "a di da kinh"
},
{
"Id": 160,
"Word": "a di đà kinh nghĩa sớ",
"Dict": 8,
"Mean": "3685<一>全一卷。宋代孤山智圓撰。又稱佛說阿彌陀經疏并序。收於大正藏第三十七冊。爲注釋鳩摩羅什所譯之阿彌陀經。正文前立五重玄義,即以此土之世尊與彼土之彌陀的二土果人爲經名,方等實相爲經之體,信願淨業經宗致,捨苦得樂爲用,生蘇方等大乘爲教。全文分序、正宗、流通三科,分別解釋章句。 <二>全一卷。宋代靈芝元照撰。收於大正藏第三十七冊。亦爲注釋鳩摩羅什所譯之阿彌陀經。正文前立教、理、行、果四門:(一)教分教興、教相二種,教興之下,記敘如來出興爲令眾生厭娑婆之苦,欣慕極樂淨土,執持名號而得往生;教相之下,說淨土教門爲大乘圓頓成佛之法。(二)理即教之體,就通而言,指大乘爲所詮之理;就別而言,則以彌陀修因感果之依正莊嚴不可思議功德爲所詮之理。(三)行即教之宗,通則指六度萬行,別則指淨業,本經專示持名之法,便是經宗。(四)果即教之用,近果乃獲法性身,住於同居淨土;遠果乃得不退阿耨菩提,證清淨法身,居於法性土,究竟成佛。",
"Search1": "a di đà kinh nghĩa sớ",
"Search2": "a di da kinh nghia so"
},
{
"Id": 161,
"Word": "a di đà kinh nghĩa sớ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀經義疏) I. A-di-đà kinh nghĩa sớ, 1 quyển. Ngài Cô Sơn Trí Viên đời Tống soạn. Cũng gọi Phật Thuyết A Di Đà Kinh Sớ Tinh Tự, thu vào Đại Chính Tạng tập 37. Là sách chú thích kinh A-di-đà do ngài Cưu-ma-la-thập dịch. Trước khi giải thích phần chính văn, soạn giả lập ra năm lớp nghĩa sâu kín: 1. Lấy hai đức Phật đã chứng quả ở hai cõi là đức Thế tôn ở Ta bà và đức Di đà ở Tịnh độ làm tên kinh. 2. Lấy thực tướng phương đẳng làm thể của kinh. 3. Lấy tín, nguyện, tịnh nghiệp làm tông chỉ của kinh. 4. Lấy bỏ khổ được vui làm dụng. 5. Lấy sinh tô phương đẳng Đại thừa làm giáo. Toàn văn chia làm ba phần: Tựa, Chính tông, Lưu thông, rồi lần lượt theo thứ lớp mà giải thích chương cú. II. A-di-đà kinh nghĩa sớ, 1 quyển. Ngài Linh Chi Nguyên Chiếu đời Tống soạn, thu vào Đại Chính Tạng tập 37. Cũng là sách chú thích bản dịch kinh A-di-đà của ngài Cưu-ma-la-thập. Trước phần chính văn, soạn giả lập ra bốn môn: giáo, lí, hành, quả. 1. Giáo, chia làm hai thứ: Giáo hưng, Giáo tướng. Giáo hưng, trình bày ý nghĩa đức Như Lai ra đời, mục đích là khiến chúng sinh chán nỗi khổ Ta bà, hâm mộ Tịnh độ cực lạc, chấp trì danh hiệu mà được vãng sinh. Giáo tướng, nói rõ giáo môn Tịnh độ là pháp Đại thừa viên đốn thành Phật. 2. Lí, là thể của giáo. Nói về nghĩa chung, Đại thừa là lí được giải thích rõ ràng (lí sở thuyên). Nói về nghĩa riêng, lấy công đức y báo, chính báo trang nghiêm không thể nghĩ bàn của đức Phật A-di-đà tu nhân cảm quả làm lí sở thuyên. 3. Hành, là tông chỉ của giáo. Nói theo nghĩa chung, thì chỉ cho sáu độ muôn hạnh; nói theo nghĩa riêng, thì chỉ cho tịnh nghiệp. Kinh này chuyên nêu rõ pháp trì danh, đó chính là tông chỉ của kinh. 4. Quả, là dụng của giáo. Quả gần, được thân pháp tính, ở Tịnh độ Đồng cư. Quả xa, được A-nậu-bồ-đề không trở lui, chứng pháp thân trong sạch, ở cõi Pháp tính, rốt ráo thành Phật.",
"Search1": "a di đà kinh nghĩa sớ",
"Search2": "a di da kinh nghia so"
},
{
"Id": 162,
"Word": "a di đà kinh sớ",
"Dict": 8,
"Mean": "3684<一>全一卷。唐代窺基撰。收於大正藏第三十七冊。爲注釋鳩摩羅什所譯之阿彌陀經。計分七門:(一)明示彌陀佛身通於報化二身,登地菩薩見佛之受用身,地前菩薩及凡夫唯見應化身。(二)就佛土說法性土、自受用土、他受用土、變化土等四種。(三)論不退轉義。(四)敘偏讚之心,引用隨願往生經之說,謂若十方皆有淨土,眾生之心則便慢緩;若唯顯示一處,心即慇重,故獨讚西方。(五)略述體性,淨土以佛及菩薩之唯識智爲體。(六)敘述部類多少,宗趣所明。(七)判釋本經文義。 <二>全一卷。新羅沙門元曉撰。收於大正藏第三十七冊。亦爲注釋鳩摩羅什所譯之阿彌陀經。初述大意,謂此經乃佛出世之大意,人、天等四輩入道之要門,耳聞經名則入一乘而無返,口誦佛號則出離三界而不還。次釋經宗致,謂此經直以超過三界、二種清淨爲其宗,令諸眾生於無上道得不退轉。復次解釋本文,以正宗分中多善根福德因緣發菩提心爲正行,而以一至七日執持名號爲助行,由此乃得往生。",
"Search1": "a di đà kinh sớ",
"Search2": "a di da kinh so"
},
{
"Id": 163,
"Word": "a di đà kinh sớ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀經疏) I. A-di-đà kinh sớ, 1 quyển. Ngài Khuy Cơ đời Đường soạn, thu vào Đại Chính Tạng tập 37. Là sách chú thích kinh A-di-đà do ngài Cưu-ma- la-thập dịch. Chia làm bảy môn:1. Giải rõ thân Phật A di đà gồm báo thân và hóa thân. Bồ tát Thập địa thấy thân thụ dụng của Phật; Bồ tát dưới Thập địa và phàm phu chỉ thấy thân ứng hóa. 2. Về cõi Phật, giải rõ bốn loại: cõi Pháp tính, cõi Tự thụ dụng, cõi Tha thụ dụng, cõi Biến hóa. 3. Giải rõ nghĩa không trở lui. 4. Giải rõ tâm khen ngợi nghiêng hẳn về một bên, trích dẫn lời trong kinh Tùy Nguyện Vãng Sinh, nếu nói trong mười phương đều có Tịnh độ, thì tâm chúng sinh sẽ lơ là, không vội vã; nếu chỉ nêu rõ một cảnh Tịnh độ, thì tâm chúng sinh ân cần thiên trọng, vì thế nên chỉ khen ngợi Tịnh độ phương Tây. 5. Nói sơ lược về thể tính: Tịnh độ lấy trí duy thức của Phật và Bồ-tát làm thể. 6. Trình bày bộ loại nhiều ít, nêu rõ tông thú.7. Phân tích, giải thích nghĩa văn chính trong kinh. II. A-di-đà kinh sớ, 1 quyển. Sa môn Nguyên Hiểu người nước Tân La (Triều Tiên ngày nay) soạn, thu vào Đại Chính Tạng tập 37. Cũng là sách chú thích kinh A-di-đà bản dịch của ngài Cưu-ma-la-thập. Trước hết, soạn giả trình bày đại ý, bảo kinh này mang ý nghĩa lớn lao của việc đức Phật ra đời, là cửa chính yếu để vào đạo của bốn chúng Tỉ-khưu, Tỉ-khưu-ni, Ưu- bà-tắc, Ưu-bà-di, ... tai nghe tên kinh liền vào một thừa, không còn trở lui; miệng niệm danh hiệu Phật thì ra khỏi ba cõi, không quay lại nữa. Thứ đến, giải thích tông chỉ của kinh, bảo kinh này lấy vượt qua ba cõi và hai thứ trong sạch làm tông chỉ, khiến cho chúng sinh, đối với đạo vô thượng, không còn trở lui. Sau cùng, giải thích văn kinh, lấy nhiều thiện căn phúc đức nhân duyên phát tâm bồ đề trong phần Chính tông làm hạnh tu chính yếu, và lấy việc trì niệm tên hiệu Phật từ một đến bảy ngày làm hạnh tu phụ trợ, nhờ đó mà được vãng sinh.",
"Search1": "a di đà kinh sớ",
"Search2": "a di da kinh so"
},
{
"Id": 164,
"Word": "a di đà kinh sớ sao",
"Dict": 8,
"Mean": "3684凡四卷。明代袾宏撰。收於卍續藏第三十三冊。係就鳩摩羅什所譯之阿彌陀經作疏,更自製鈔以訓釋之,乃倣傚澄觀之華嚴經疏演義鈔。本疏鈔計分通序大意、開章釋文、結釋咒意等三門,其中,釋文部分又有十門:教起所因、藏教等攝、義理深廣、所被階品、能詮體性、宗趣旨歸、部類差別、譯釋誦持、總釋名題、別解文義。以華嚴主旨,推演文理,判定此經爲頓教所攝,兼通終、圓二教。又一一以稱理釋發揮其深義,且說應具足信、願、行。最後列舉劉宋求那跋陀羅譯之得生淨土神咒,勸人誦持。〔佛典疏鈔目錄卷下、淨土真宗教典志卷三〕",
"Search1": "a di đà kinh sớ sao",
"Search2": "a di da kinh so sao"
},
{
"Id": 165,
"Word": "a di đà kinh sớ sao",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀經疏鈔) Sớ sao, 4 quyển. Ngài Châu hoành đời Minh soạn, thu vào Vạn Tục Tạng tập 33. Nội dung sách này là chú giải kinh A-di-đà do ngài Cưu-ma- la-thập dịch, rồi phỏng theo tác phẩm Hoa Nghiêm Kinh Sớ Diễn Nghĩa Sao của ngài Trừng Quán, soạn giả lại tự làm lời sao để giải thích thêm. Bản sớ sao này chia làm ba môn: 1. Thông tự đại ý, trong phần tựa chung, giải thích đại ý của bộ kinh. 2. Khai chương thích văn, mở ra từng chương để giải thích văn kinh. 3. Kết thích chú ý, kết thúc giải thích ý nghĩa chú Vãng sinh. Trong đây, riêng phần giải thích văn kinh lại có mười môn: Giáo khởi sở nhân, Tạng giáo đẳng nhiếp, Nghĩa lí thâm quảng, Sở bị giai phẩm, Năng thuyên thể tính, Tông thú chỉ qui, Bộ loại sai biệt, Dịch thích tụng trì, Tổng thích danh đề, Biệt giải văn nghĩa. Ngài Châu Hoành dựa vào ý chỉ chủ yếu của kinh Hoa Nghiêm mà suy diễn cái lí trong văn kinh, rồi phán định rằng, kinh A-di-đà thuộc về Đốn giáo, thông cả Chung giáo và Viên giáo. Lại mỗi môn đều xứng lí giải thích, phát huy ý nghĩa sâu xa của kinh, và bảo phải đầy đủ cả tín, nguyện, hành. Sau hết, nêu ra thần chú Đắc sinh Tịnh độ, bản dịch của ngài Cầu-na-bạt- đà la đời Lưu Tống, khuyên người trì tụng. [X. Phật Điển Sớ Sao Mục Lục Q.Hạ; Tịnh Độ Chân Tông Giáo Điển Chí Q.3].",
"Search1": "a di đà kinh sớ sao",
"Search2": "a di da kinh so sao"
},
{
"Id": 166,
"Word": "a di đà mạn đà la",
"Dict": 8,
"Mean": "3682即以阿彌陀佛爲主尊而建立之曼陀羅。又作阿彌陀曼荼羅。有金剛界式建立之理趣曼陀羅與胎藏界式建立之九品曼陀羅、八曼陀羅等。(一)理趣曼陀羅︰中央畫阿彌陀佛,前右左後各安金剛法、金剛利、金剛因、金剛語菩薩,四隅內外各安置四內、外供養,東、南、西、北四門各畫天女形表示貪欲,蛇形表示瞋,豬首表示癡,蓮花表示涅槃。(二)九品曼陀羅:中臺八葉開敷蓮華臺上爲上品上生之阿彌陀佛,周匝安置八品之阿彌陀,內院四隅有法、利、因、語四菩薩,第二院有十二光佛、四攝菩薩、四外供養,第三院有二十四菩薩。(三)八曼陀羅:又作八大菩薩曼荼羅。中央畫阿彌陀佛,周匝安置觀自在、慈氏、虛空藏、普賢、金剛手、文殊、除蓋障、地藏等八大菩薩,其外爲四攝、八供。另有九字曼陀羅,乃九品曼陀羅與八曼陀羅之綜合。〔般若波羅蜜多理趣釋卷下、八大菩薩曼陀羅經(不空)、八大菩薩曼荼羅經(善無畏)、無量壽儀軌〕",
"Search1": "a di đà mạn đà la",
"Search2": "a di da man da la"
},
{
"Id": 167,
"Word": "a di đà mạn đà la",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀曼陀羅) Mạn-đà-la lấy Phật A-di-đà làm tôn vị chính để kiến lập. Cũng gọi A-di-đà mạn-đồ-la. Gồm có: Lí thú mạn-đà-la kiến lập theo hình thức Kim cương giới, Cửu phẩm mạn-đồ-la và Bát mạn-đồ-la kiến lập theo hình thức Thai tạng giới. 1. Lí thú mạn-đà-la: chính giữa vẽ Phật A-di-đà, trước, sau và hai bên đều vẽ bốn vị Bồ-tát: Kim cương pháp, Kim cương lợi, Kim cương nhân và Kim cương ngữ. Bên trong và ngoài bốn góc đều đặt bốn Nội, Ngoại cúng dường, bốn cửa Đông, Nam, Tây, Bắc đều vẽ hình Thiên nữ biểu thị tham muốn, hình rắn biểu thị tức giận, đầu lợn (heo) biểu thị ngu dại, và hoa sen biểu thị Niết-bàn. 2. Cửu phẩm mạn-đà- la: trên đài hoa sen nở ở viện Trung đài bát diệp là Phật A-di-đà thượng phẩm thượng sinh, chung quanh đặt tám phẩm A-di-đà, bốn góc viện trong có bốn Bồ-tát Kim cương pháp, Kim cương lợi, Kim cương nhân, Kim cương ngữ. Viện thứ hai có mười hai vị Quang Phật, bốn Nhiếp Bồ- tát, bốn Ngoại cúng dường; viện thứ ba có hai mươi bốn vị Bồ-tát. 3. Bát mạn-đà-la: cũng gọi Bát đại Bồ-tát mạn-đồ-la. Chính giữa vẽ Phật A-di- đà, chung quanh đặt tám vị đại Bồ-tát Quán Tự Tại, Từ Thị, Hư Không Tạng, Phổ Hiền, Kim Cương Thủ, Văn Thù, Trừ Cái Chướng và Địa Tạng, bên ngoài là bốn Nhiếp, tám Cúng. Ngoài ra, còn có Cửu Tự mạn- đà-la là tổng hợp của Cửu phẩm mạn-đà-la và Bát mạn-đà-la. [X. Bát nhã ba-la-mật-đa lí thú thích Q.Hạ; kinh Bát Đại Bồ Tát Mạn-đà-la (Bất Không); kinh Bát Đại Bồ Tát Mạn-đồ-la (Thiện Vô Úy); Vô Lượng Thọ Nghi Quĩ].",
"Search1": "a di đà mạn đà la",
"Search2": "a di da man da la"
},
{
"Id": 168,
"Word": "a di đà ngũ phật",
"Dict": 8,
"Mean": "3679又作阿彌陀五尊曼荼羅。指阿彌陀佛及侍立左右之觀音、勢至、地藏、龍樹等四菩薩,或指以阿彌陀佛爲中尊而安置上記四菩薩爲脅侍之圖像。於經典中未見其出據,依日僧覺禪所作覺禪鈔「阿彌陀卷」載,唐代并州地方之人皆念彌陀,至命終時,此五聖當現前接引。然此說亦不確知有何根據。另依日僧成尋(1011~1081)之參天台五臺山記卷一載,天台山勅護聖禪院之金堂內,有阿彌陀丈六像及脅侍四菩薩像。 今存有銘刻「唐儀鳳三年」等字之阿彌陀五尊石像,及阿彌陀五尊鎚鍱像,於二像中,二比丘與二菩薩並爲脅侍,而左方之比丘面貌老醜,右方之比丘面貌年輕俊美。據推測此二比丘之形像,係仿東魏天平四年(537)、武定元年(543)等之三尊像而作,一般則謂由舍利弗、阿難二人轉化所成。",
"Search1": "a di đà ngũ phật",
"Search2": "a di da ngu phat"
},
{
"Id": 169,
"Word": "a di đà ngũ phật",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀五佛) Cũng gọi A-di-đà ngũ tôn mạn-đồ-la. Chỉ đức Phật A-di-đà và bốn vị Bồ-tát Quan Âm, Thế Chí, Địa Tạng, Long Thụ đứng hầu hai bên; hoặc chỉ bức tranh vẽ lấy Phật A-di-đà làm vị tôn ngồi ở giữa và đặt bốn vị Bồ- tát nói ở trên đứng hầu hai bên. Trong kinh điển chưa thấy xuất xứ của bức tranh này.Cứ theo A-di-đà quyển trong Giác Thiền Sao do vị tăng Nhật Bản là Giác Thiền soạn, thì người ở vùng Tinh Châu đời Đường đều niệm Phật A-di-đà, đến lúc sắp chết, năm vị Thánh này sẽ hiện ở trước mặt để tiếp dẫn. Tuy nhiên, thuyết này cũng không biết chắc đã căn cứ vào đâu. Lại theoTham Thiên Thai Ngũ Đài Sơn Kí quyển 1 của vị tăng Nhật Bản khác là Thành Tầm (1011- 1081) ghi chép, thì trong Kim đường (nhà vàng) của Thiền viện Hộ Thánh do vua ban hiệu ở núi Thiên Thai, có tượng Phật A-di-đà cao một trượng sáu thước và tượng bốn vị Bồ-tát đứng hầu hai bên. Hiện nay còn tượng A-di-đà ngũ tôn bằng đá có khắc dòng chữ: Đường Nghi Phụng tam niên (Năm Nghi Phụng thứ 3 đời Đường) và tượng A-di-đà ngũ tôn bằng đồng lá. Trong hai tượng này, hai vị Tỉ-khưu và hai vị Bồ-tát đều đứng hầu hai bên. Vị Tỉ-khưu bên trái dáng mặt già nua xấu xí, vị Tỉ-khưu bên phải dáng mặt trẻ trung đẹp đẽ. Cứ đó mà suy, thì tượng hai vị Tỉ-khưu này đã được làm phỏng theo tượng Tam tôn thời Đông Ngụy năm Thiên Bình thứ 4 (537) và niên hiệu Vũ Định năm đầu (543). Phổ thông cho rằng, tượng hai vị Tỉ-khưu này là do ngài Xá-lợi-phất và A-nan chuyển hóa mà thành.",
"Search1": "a di đà ngũ phật",
"Search2": "a di da ngu phat"
},
{
"Id": 170,
"Word": "A Di Đà Ngũ Thập Bồ Tát tượng",
"Dict": 10,
"Mean": "(阿彌陀五十菩薩像, Amidagojūbosatsuzō): hay còn gọi là Ngũ Thông Mạn Trà La (五通曼茶羅), một trong đồ hình biến tướng của Tịnh Độ, là bức họa đồ hình lấy đức Phật Di Đà làm trung tâm và chung quanh có 50 vị Phật, Bồ Tát khác. Căn cứ vào quyển trung của bộ Thần Châu Tam Bảo Cảm Thông Lục (神州三寳感通錄) do Đạo Tuyên (道宣, 596-667) nhà Đường (唐, 618-907) thâu tập có ghi rằng xưa kia Ngũ Thông Bồ Tát (五通菩薩) ở Kê Đầu Ma Tự (雞頭摩寺) xứ Thiên Trúc đến thế giới Cực Lạc cung thỉnh đức Phật A Di Đà giáng xuống tượng Phật, khiến cho chúng sanh nào ở cõi Ta Bà nguyện sanh về cõi Tịnh Độ, nhờ có hình tượng Phật mà đạt được nguyện lực của mình, nhân đó Phật hứa khả cho. Vị Bồ Tát này trở về nước thì tượng Phật kia đã đến rồi, có một đức Phật và 50 vị Bồ Tát đều ngồi tòa sen trên lá cây. Ngũ Thông Bồ Tát bèn lấy lá cây ấy đem vẽ ra và cho lưu hành rộng rãi gần xa. Trong khoảng thời gian niên hiệu Vĩnh Bình (58-75) dưới thời Hán Minh Đế, nhân nằm mộng, nhà vua bèn sai sứ sang Tây Vức cầu pháp, thỉnh được Ca Diếp Ma Đằng (s: Kāśyapamātaṅga, 迦葉摩騰, ?-73) sang Lạc Dương (洛陽), sau đó cháu ngoại của Ma Đằng xuất gia làm Sa Môn, có mang bức tượng linh thiêng này sang Trung Quốc; tuy nhiên nó không được lưu truyền rộng rãi cho lắm, vì kể từ thời Ngụy, Tấn trở đi gặp phải nạn diệt pháp, cho nên các kinh tượng theo đó mà bị thất truyền. Vào đầu thời nhà Tùy, Sa Môn Minh Hiến (明憲) may gặp được một bức tượng này từ xứ Đạo Trường (道長) của nước Cao Tề (高齊, tức Bắc Tề), bèn cho đem chép vẽ và lưu hành khắp nơi. Đương thời, Tào Trọng Vưu Thiện (曹仲尤善), họa sĩ trứ danh của Bắc Tề, là người vẽ ra bức tượng này. Từ đó, các nhân sĩ dưới thời nhà Đường cũng bắt đầu sao chép lưu truyền tượng này rất nhiều, lấy nó làm tượng thờ chính. Hơn nữa, các đồ hình biến tướng của A Di Đà Tịnh Độ cũng được lưu bố rất rộng rãi, nhưng xét cho cùng thì đồ hình Ngũ Thông Mạn Trà La này là tối cổ. Trong phần A Di Đà Quyển của bộ Giác Thiền Sao (覺禪鈔) do vị tăng Nhật Bản là Giác Thiền (覺禪, Kakuzen, 1143-?) trước tác, có đồ hình 52 thân tượng của đức Phật A Di Đà; tuy nhiên đây không phải là truyền bản đồ hình Mạn Trà La thời nhà Đường.",
"Search1": "a di đà ngũ thập bồ tát tượng",
"Search2": "a di da ngu thap bo tat tuong"
},
{
"Id": 171,
"Word": "a di đà ngũ thập bồ tát tượng",
"Dict": 8,
"Mean": "3679又作五通曼荼羅。爲淨土變相圖之一。即以阿彌陀佛爲中心而描繪五十尊佛菩薩像之圖畫。依據唐代道宣之集神州三寶感通錄卷中所載,昔時天竺雞頭摩寺之五通菩薩,往極樂世界請阿彌陀佛垂許佛像,令娑婆眾生願生淨土者,藉佛形像而達願力,佛允之。及菩薩回還,其像已至,乃一佛五十菩薩各坐蓮華在樹葉上。菩薩遂取葉於所到之處圖寫之,流布於遠近。 漢明帝永平年中(58~75),因感夢而遣使求法,便獲迦葉摩騰等至洛陽,其後摩騰之甥出家爲沙門,持此瑞像來我國弘傳,未幾齎像西返。然此圖流傳不甚廣,加以魏晉以來年代久遠,又歷經滅法禍患,經、像隨之湮沒。至隋初,沙門明憲從高齊之道長處得此一本,遂說其本起與傳符,是以圖寫流布遍於宇內,當時北齊之畫工曹仲達尤善此畫。唐代人士亦多傳寫此像,以爲本尊。又阿彌陀淨土之變相,流布後代者雖多,而以此五通曼荼羅爲最古。日僧覺禪之覺禪鈔「阿彌陀卷」載有阿彌陀五十二身像之圖樣,然是否即唐代所傳之曼荼羅,則無法確知。〔法苑珠林卷十五、圖像抄卷二〕",
"Search1": "a di đà ngũ thập bồ tát tượng",
"Search2": "a di da ngu thap bo tat tuong"
},
{
"Id": 172,
"Word": "a di đà ngũ thập bồ tát tượng",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀五十菩薩像) Cũng gọi Ngũ thông mạn-đồ-la. Là một trong những bức tranh Tịnh độ biến tướng, lấy Phật A-di-đà làm trung tâm mà vẽ tượng Phật và năm mươi vị Bồ-tát. Cứ theo Tập Thần Châu Tam Bảo Cảm Thông Lục quyển Trung của ngài Đạo Tuyên đời Đường chép, thì xưa kia, Bồ-tát Ngũ Thông ở chùa Kê-đầu-ma bên Thiên Trúc, đến thế giới Cực Lạc, xin đức Phật A-di-đà ban cho tượng của Ngài, khiến chúng sinh cõi Ta-bà nguyện sinh về Tịnh độ, nhờ vào hình tượng của Phật mà đạt được điều ước nguyện. Đức Phật bằng lòng. Khi Bồ-tát trở về, thì tượng Phật đã đến rồi, đó là trên các lá cây có hình tượng Phật và năm mươi vị Bồ tát đều ngồi trên hoa sen. Bồ tát bèn lấy những lá ấy đem về vẽ ra, truyền bá khắp gần xa. Trong năm Vĩnh Bình (58-75), Minh đế nhà Hán, nhân nằm mộng thấy Phật, mới sai sứ đi cầu pháp, đón được ngài Ca-diếp-ma-đằng v.v... về Lạc Dương. Sau đó, cháu của ngài Ma-đằng xuất gia làm Sa-môn, đem tượng Phật và năm mươi vị Bồ-tát ấy đến Trung Quốc truyền bá. Chưa bao lâu, lại mang tượng trở về Ấn Độ. Vì bức tranh này không được lưu truyền rộng lắm, thêm vào đó, từ thời Ngụy Tấn đến nay đã quá lâu, lại trải qua tai nạn diệt pháp, nên kinh tượng cũng do đó mà bị mai một. Đến đầu đời Tùy, Sa-môn Minh Hiến được ngài Đạo Trường ở Cao Tề biếu một bức tranh này, nói rõ nguồn gốc và sự trao truyền, từ đó, bức tranh được vẽ lại và lưu hành khắp trong nước. Người thợ vẽ lúc bấy giờ là Tào Trọng Đạt ở Bắc Tề chuyên vẽ bức tranh này. Các nhân sĩ đời Đường phần nhiều cũng truyền vẽ tượng này để làm tôn vị chính. Lại tranh A-di- đà Tịnh độ biến tướng được lưu truyền ở đời sau tuy nhiều, nhưng phổ thông đều cho Ngũ thông mạn-đồ-la này là xưa nhất. A-di-đà quyển trong Giác Thiền Sao do vị tăng người Nhật là Giác Thiền soạn, có chép kiểu tranh vẽ năm mươi hai thân tượng của Phật A-di-đà, nhưng đó có phải là mạn-đồ-la từ đời Đường truyền lại không, thì không có cách nào biết chắc được. [X. Pháp Uyển Châu Lâm Q.15; Đồ Tượng Sao Q.2].",
"Search1": "a di đà ngũ thập bồ tát tượng",
"Search2": "a di da ngu thap bo tat tuong"
},
{
"Id": 173,
"Word": "a di đà nhị hiếp thị",
"Dict": 8,
"Mean": "3678又作阿彌陀二夾侍。指侍立於阿彌陀佛兩邊之觀音、勢至二菩薩。觀無量壽經(大一二‧三四二下):「無量壽佛住立空中,觀世音、大勢至是二大士,侍立左右。」(參閱「阿彌陀三尊」3679)",
"Search1": "a di đà nhị hiếp thị",
"Search2": "a di da nhi hiep thi"
},
{
"Id": 174,
"Word": "a di đà nhị hiếp thị",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀二脅侍) Cũng gọi A-di-đà nhị giáp thị. Chỉ cho hai vị Bồ-tát Quan Âm, Thế Chí đứng hầu hai bên đức Phật A-di-đà. Kinh Quán Vô Lượng Thọ (Đại 12, 342 Hạ) nói: Đức Phật Vô Lượng Thọ đứng giữa hư không, hai vị Đại sĩ Quan Thế Âm, Đại Thế Chí, đứng hầu hai bên. (xt. A Di Đà Tam Tôn).",
"Search1": "a di đà nhị hiếp thị",
"Search2": "a di da nhi hiep thi"
},
{
"Id": 175,
"Word": "a di đà pháp",
"Dict": 8,
"Mean": "3682密教以阿彌陀如來爲本尊,爲滅罪生善、往生淨土,或爲亡者祈冥福而修之祕法。首先建曼荼羅,次列諸尊於本尊之周圍,依次修三密相應之行。〔無量壽如來修觀行供養儀軌〕",
"Search1": "a di đà pháp",
"Search2": "a di da phap"
},
{
"Id": 176,
"Word": "a di đà pháp",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀法) Là phép tu bí mật của Mật giáo, lấy A-di-đà Như Lai làm tôn vị chính, tu để cầu diệt tội sinh thiện, sinh về Tịnh độ, hoặc để cầu phúc cõi âm cho người đã khuất. Trước hết, lập mạn-đồ-la, kế đến, bày các tôn vị chung quanh tôn vị chính, rồi theo thứ tự tu hành ba mật (thân, ngữ, ý) tương ứng. [X. Vô Lượng Thọ Như Lai Tu Quán Hành Cúng Dường Nghi Quĩ].",
"Search1": "a di đà pháp",
"Search2": "a di da phap"
},
{
"Id": 177,
"Word": "A Di Đà Phật",
"Dict": 10,
"Mean": "(s: Amitāyus, Amitābha; t: Dpag-tu-med, Dpag-yas, j: Amidabutsu, 阿彌陀佛): tên gọi của một vị Phật rất quan trọng trong Phật Giáo Đại Thừa, giáo chủ của thế giới Tây Phương Cực Lạc, còn gọi là A Di Đa Phật (阿彌多佛), A Nhi Đa Phật (阿弭跢佛), thường được gọi là A Di Đà Phật hay A Di Đà Như Lai, gọi tắt là Di Đà. Nguyên bản Sanskrit có hai chữ: Amitāyus có âm dịch là A Di Đa Sưu (阿彌多廋), nghĩa là người có thọ mạng vô hạn hay vô lượng thọ; còn Amitābha có âm dịch là A Di Đa Bà (阿彌多婆), là người có ánh sáng vô hạn hay vô lượng quang; nhưng cả hai đều được phiên âm là A Di Đà. Trên thực tế, nguyên ngữ Amitābha được dùng khá phổ biến. Về xuất xứ của danh hiệu A Di Đà Phật này, trong A Di Đà Kinh (阿彌陀經) do Cưu Ma La Thập (s: Kumārajīva, 鳩摩羅什, 344-413) dịch, có đề cập đến. Vị Phật này có ánh sáng vô lượng, tuổi thọ vô lượng, cho nên được gọi là A Di Đà Phật. Tuy nhiên, nếu căn cứ vào bản tiếng Sanskrit A Di Đà Kinh (阿彌陀經) và Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh (稱讚淨土佛攝受經), vị Phật này có tuổi thọ vô số, ánh sáng vô biên, cho nên được gọi là Vô Lượng Thọ Phật và Vô Lượng Quang Phật. Riêng trong Bình Đẳng Giác Kinh (平等覺經) có bài kệ của A Di Đà Phật, còn trong Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thọ Kinh, v.v., có danh hiệu khác là Vô Lượng Thanh Tịnh Phật hiện trú tại thế giới thanh tịnh tên Cực Lạc. Kinh điển lấy tín ngưỡng A Di Đà Phật làm chủ đề có 3 bộ kinh của Tịnh Độ là Vô Lượng Thọ Kinh (s: Sukhāvatīvyūha-sūtra, 無量壽經), Quán Vô Lượng Thọ Kinh (觀無量壽經) và A Di Đà Kinh (阿彌陀經); cho nên trên cơ sở của ba kinh này Tịnh Độ Giáo được thành lập. Theo Vô Lượng Thọ Kinh, quyển thượng, trong đời quá khứ xa xưa thời đức Thế Tự Tại Vương Phật (世自在王佛) trụ thế, có vị quốc vương phát tâm vô thượng, xả bỏ vương vị xuất gia, tên là Bồ Tát Pháp Tạng (s: Dharmākara, 法藏, hay Tỳ Kheo Pháp Tạng). Vị này theo tu tập với Thế Tự Tại Vương Phật, phát 48 lời thệ nguyện để cứu độ chúng sanh và sau một thời gian tu hành lâu xa, ngài thành tựu bản nguyện của mình và được thành Phật. Vị Phật này chính là A Di Đà Phật. Cho đến hiện tại ngài vẫn đang thuyết pháp tại thế giới gọi là Cực Lạc (s: Sukhāvatī, 極樂), cách đây khoảng 10 vạn ức Phật độ về phía Tây. Ngài thường tiếp dẫn những người niệm Phật vãng sanh về cõi Tây Phương Tịnh Độ, cho nên được gọi là Tiếp Dẫn Phật. Thông thường tượng A Di Đà Tam Tôn có hai vị Bồ Tát Quan Âm (s: Avalokiteśvara, 觀音) và Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 勢至) đứng hầu hai bên, cho nên hai vị này cùng với Phật A Di Đà được gọi là Tây Phương Tam Thánh. Theo Bát Nhã Tam Muội Kinh (般若三昧經) quyển thượng cho biết rằng đức Phật A Di Đà có 32 tướng tốt, ánh sáng chiếu tỏa khắp, hùng tráng không gì sánh bằng. Đặc biệt, theo lời dạy trong Quán Vô Lượng Thọ Kinh cho thấy rằng thân của đức Phật Vô Lượng Thọ có trăm ngàn sắc màu vàng rực như vàng Diêm Phù Đàn (s: jambūnadasuvarṇa, 閻浮檀) của Trời Dạ Ma (s, p: Yāma, 夜摩), cao 60 vạn ức na do tha (s: nayuta, niyuta, 那由他) Hằng hà sa số do tuần (s, p: yojana, 由旬). Giữa hai lông mi của ngài có lông mi trắng uyển chuyển xoay về bên phải, tướng lớn nhỏ của lông mi có độ cao gấp 5 lần núi Tu Di (s, p: Sumeru, 須彌山). Mắt của ngài trong trắng, rõ ràng, có bề ngang rộng gấp 4 lần nước biển lớn. Thân ngài có 84.000 tướng tốt, trong mỗi mỗi tướng như vậy có 84.000 ánh sáng chiếu khắp mười phương thế giới, thâu nhiếp các chúng sanh niệm Phật. Tại Tây Tạng, Phật A Di Đà được xem như hai vị Phật Vô Lượng Quang và Vô Lượng Thọ; nếu ai mong cầu có trí tuệ thì quy y Phật Vô Lượng Quang, ai mong cầu tuổi thọ và phước lạc thì quy y Phật Vô Lượng Thọ. Trong Mật Giáo, Phật A Di Đà được xem như là diệu quang sát trí của Đại Nhật Như Lai (s: Vairocana, 大日如來), được gọi là Cam Lồ Vương (s: Amṛta-rāja, 甘露王). Trong Kim Cang Giới Mạn Trà La (金剛界曼茶羅), ngài được gọi là A Di Đà Như Lai có thân thọ dụng trí tuệ, nằm ở trung ương vòng nguyệt luân phía Tây. Thân của ngài có sắc vàng ròng, tay bắt ấn Tam Ma Địa (s, p: samādhi, 三摩地), chủng tử là hrīḥ, mật hiệu là Thanh Tịnh Kim Cang, và hình Tam Muội Da là hoa sen. Trong Thai Tạng Giới Mạn Trà La (胎藏界曼茶羅), ngài được gọi là Vô Lượng Thọ Như Lai, nằm ở phía Tây, trong đài có 8 cánh sen. Thân ngài có sắc màu vàng trắng hay vàng ròng, mắt nhắm lại, thân nhẹ như tà áo, ngồi xếp bằng trên tòa sen báu, tay bắt ấn nhập định, chủng tử là saṃ, mật hiệu là Thanh Tịnh Kim Cang, và hình Tam Muội Da là hoa sen vừa mới hé nở. Tại An Lạc Lâm (安樂林), Bạch Vân Am (白雲菴), thuộc Từ Khê (慈谿), Ninh Ba (寧波), Tỉnh Triết Giang (浙江省) có câu đối như sau: “Nhất cú Di Đà hữu thể hữu tông hữu dụng, tam thiên thế giới tức không tức giả tức trung (一句彌陀有體有宗有用、三千世界卽空卽假卽中, một câu Di Đà, có thể có tông có dụng, ba ngàn thế giới là không là giả là trung).” Hay tại Phổ Đà Tự (普陀寺) ở Hạ Môn (廈門), Tỉnh Phúc Kiến (福建省南) cũng có câu đối tán thán công hạnh của đức Phật A Di Đà như: “Di Đà thủ tiếp Liên Trì khách, chúng sanh tâm quy Cực Lạc bang (彌陀手接蓮池客、眾生心歸極樂邦, Di Đà tay rước Liên Trì khách, chúng sanh tâm về Cực Lạc bang).” Đào Duy Từ (1572-1634) có câu thơ rằng: “Những khi khói tỏ yên hà, mảng âu mây cuốn Di Đà Tây Thiên.” Hay trong truyện Phan Trần cũng có câu: “Tam Quy Ngũ Giới chứng tình, xem câu nhân quả niệm kinh Di Đà.”",
"Search1": "a di đà phật",
"Search2": "a di da phat"
},
{
"Id": 178,
"Word": "a di đà phật",
"Dict": 8,
"Mean": "3680請參閱 四十八願釋 梵名 Amita-buddha,西藏名 Dpag-tu-med, Dpag-yas。爲西方極樂世界之教主。又作阿彌多佛、阿弭跢佛、阿弭嚲佛。略稱彌陀。梵語 amita,意譯無量。另有梵名 Amitāyus,音譯阿彌多廋,意譯無量壽;梵名 Amitābha,音譯阿彌多婆、阿彌嚲皤,意譯無量光。 關於阿彌陀佛名號之由來,據鳩摩羅什譯之阿彌陀經載,此佛光明無量、壽命無量,故稱阿彌陀佛。然據梵本阿彌陀經及稱讚淨土佛攝受經載,此佛壽命無數、妙光無邊,故稱無量壽佛、無量光佛。一佛而有不同義之二名,爲其他諸佛所未見。又於般舟三昧經、大阿彌陀經、維摩詰經等早期經典中,亦僅有阿彌陀之稱號,故推知無量壽、無量光之稱號,係後代依其名之原義所立。另據平等覺經、後出阿彌陀佛偈、稱讚淨土佛攝受經等載,彌陀號稱無量清淨佛,所在之世界稱爲清淨世界、極樂世界。 阿隬陀佛成道之本緣,據無量壽經卷上載,過去久遠劫世自在王佛住世時,有一國王發無上道心,捨王位出家,名爲法藏比丘,於世自在王佛處修行,熟知諸佛之淨土,歷經五劫之思慮而發殊勝之四十八願。此後,不斷積聚功德,而於距今十劫之前,願行圓滿,成阿彌陀佛,在離此十萬億佛土之西方,報得極樂淨土。迄今仍在彼土說法,即淨土門之教主,能接引念佛人往生西方淨土,故又稱接引佛。阿彌陀三尊像通常以觀音菩薩及大勢至菩薩爲其脅侍,而與此二尊並稱爲西方三聖。 於現存大乘經論中,記載彌陀及其極樂淨土之事者凡有二百餘部,可見有關彌陀信仰及淨土教義之深入人心。據般舟三昧經卷上載,阿彌陀佛有三十二相,光明徹照,端正無比。另據觀無量壽經之說,無量壽佛之身如百千億夜摩天閻浮檀金之色,其身高六十萬億那由他恆河沙由旬。眉間之白毫右旋宛轉,毫相之大小猶如五倍須彌山之高廣;其眼清白分明,眼之大小猶如四倍大海水之縱廣。其身有八萬四千相,一一相中有八萬四千好,一一好中有八萬四千光明,遍照十方世界,攝取念佛之眾生。於西藏,阿彌陀佛被視爲無量光、無量壽二佛,若祈求智慧,則皈依無量光佛;若祈求延壽福樂, 則皈依無量壽佛。 於密教,以阿彌陀佛象徵大日如來法身之妙觀察智,稱爲甘露王。於金剛界曼荼羅中,稱爲受用智慧身阿彌陀如來,居於西方月輪之中央。其身黃金色,結三摩地印,種子爲???(hrīḥ),密號清淨金剛,三昧耶形爲蓮花。於胎藏界曼荼羅中,稱爲無量壽如來,居於中臺八葉之西方。其身爲白黃色或真金色,閉目,身著輕衣,跏趺坐於寶蓮上,結入定印。其種子爲???(saṃ),密號清淨金剛,三昧耶形爲初開之蓮花。〔賴吒和羅所問德光經、決定總持經、賢劫經卷一、卷三、濟諸方等學經、大法炬陀羅尼經卷十七、無量壽經優波提舍、十住毘婆沙論卷五易行品、往生論註、觀經疏(善導)〕",
"Search1": "a di đà phật",
"Search2": "a di da phat"
},
{
"Id": 179,
"Word": "a di đà phật",
"Dict": 7,
"Mean": "Amitābha (S), Buddha of boundless light and life, Amida (J), Amita, Amitabutsu (J), Amida butsu (J), Amitayus (S) , Amida Buddha Vô lượng quang Phật, Tây Phật.- A di đà Phật có 3 tên gọi: Vô lượng quang Phật, Vô lượng Thọ Phật, Cam lộ Vương Như Lai. - Ngoài ra còn có 13 danh hiệu khác: Bất đoạn quang Phật, Diệm quang Phật, Hoan Hỷ Quang Phật, Nan Tư Quang Phật, Siêu Nhật Nguyệt Quang Phật, Diêm vương quang Phật, Vô lượng thọ Phật, Vô ngại quang Phật, Vô Xưng Quang Phật, Vô biên Quang Phật, Vô Đối Quang Phật, Thanh Tịnh Quang Phật, Trí Huệ Quang Phật đều là những hoá thân khác của Phật A di đà. - A di đà Phật ngự phương tây Mạn đà la, tượng trưng Diệu quan sát trí. Da màu đỏ. Quan thế âm Bồ tát và Đại thế chí Bồ tát là hai vị Bồ tát thường được nêu lên chung với Phật A di đà. Theo Tịnh độ tông Trung quốc và Nhật bản, Phật A di đà là trung gian giữa chân lý tuyệt đối và con người, tin tưởng theo A di đà chắc chắn sẽ được vãng sanh vào thiên đường. Theo giáo lý, Phật A di đà chính là tự tính tâm, vãng sanh vào nước tịnh độ chính là sự tỉnh thức bồ đề tâm trong bản thân. Vào thế kỷ thứ 7, ở Trung quốchình ảnh Phật A di đà đã thay thế hẳn Phật Thích ca và Phật Di lặc.",
"Search1": "a di đà phật",
"Search2": "a di da phat"
},
{
"Id": 180,
"Word": "a di đà phật",
"Dict": 6,
"Mean": "Amitàbha Buddha (S). Phật Vô lượng thọ Amitàyus Buddha.",
"Search1": "a di đà phật",
"Search2": "a di da phat"
},
{
"Id": 181,
"Word": "a di đà phật",
"Dict": 2,
"Mean": "Amitabha Buddha—See A Di Đà.",
"Search1": "a di đà phật",
"Search2": "a di da phat"
},
{
"Id": 182,
"Word": "a di đà phật",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀佛) Phạm: Amita-buddha. Tạng: Dpag-tumed, Dpag-yas. Vị giáo chủ của thế giới Cực lạc ở phương Tây. Cũng gọi A-di-đà Phật, A-nhị-đá Phật, A-nhị-đả Phật. Gọi tắt: Di-đà. Amita, dịch ý: Vô lượng. Ngoài ra, còn có tên Phạm: Amitàbha, dịch âm: A-di-đa-bà, A-di-đả-bà, dịch ý: Vô lượng quang. Về lí do tại sao gọi là Phật A-di-đà, cứ theo kinh A-di-đà do ngài Cưu-ma-la-thập dịch, thì đức Phật này có vô lượng ánh sáng và tuổi thọ vô lượng, cho nên gọi là Phật A-di-đà. Nhưng theo kinh A-di-đà bản tiếng Phạm và kinh Xưng Tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thụ, thì đức Phật này tuổi thọ vô số, ánh sáng nhiệm mầu vô biên, cho nên gọi là Phật Vô Lượng Thọ, Phật Vô Lượng Quang. Một đức Phật mà có hai tên gọi nghĩa không giống nhau, trường hợp các đức Phật khác chưa thấy như thế. Trong các kinh điển ở thời kì đầu, như kinh Bát Chu Tam Muội, kinh Đại A-di-đà, kinh Duy-ma-cật v.v... cũng chỉ có danh hiệu A-di-đà, cho nên suy ra có thể biết, tên hiệu Vô Lượng Thọ, Vô Lượng Quang là do đời sau đã dựa theo nghĩa gốc của những danh từ ấy mà đặt ra. Lại theo kinh Bình Đẳng Giác, Hậu xuất A-di-đà Phật kệ, kinh Xưng tán Tịnh Độ Phật Nhiếp Thụ v.v..., thì tên hiệu của Phật A-di-đà là Vô Lượng Thanh Tịnh, thế giới của Ngài ở gọi là thế giới Thanh tịnh, thế giới Cực lạc. Về bản duyên thành đạo của Phật A-di-đà, cứ theo kinh Vô Lượng Thọ quyển Thượng, trong kiếp quá khứ lâu xa, khi đức Phật Thế tự tại vương ở đời, có một quốc vương phát tâm đạo vô thượng, bỏ ngôi vua xuất gia, tên là Tỉ-khưu Pháp Tạng, tu hành ở nơi đức Phật Thế Tự Tại Vương, biết rõ Tịnh độ của chư Phật, trải qua năm kiếp tư duy, rồi phát bốn mươi tám nguyện thù thắng. Từ đó về sau, Ngài không ngừng chứa góp công đức, cách nay mười kiếp, nguyện hành tròn đầy, thành Phật A-di-đà, cách thế giới Ta-bà này mười vạn ức cõi Phật về phía Tây, nhờ phúc báo cảm được Tịnh độ. Đến nay, Ngài vẫn còn đang nói pháp ở cõi ấy; Ngài là giáo chủ của môn Tịnh độ, tiếp dẫn những người niệm Phật sinh về Tịnh độ phương Tây, vì thế còn gọi là Phật Tiếp dẫn. Tượng A-di-đà Tam tôn, thông thường có Bồ-tát Quan Thế Âm và Bồ-tát Đại Thế Chí đứng hầu hai bên. Phật A-di-đà cùng với hai vị Bồ-tát này gọi là Tây Phương Tam Thánh (ba bậc Thánh phương Tây). Trong những kinh luận Đại thừa hiện còn, có tới hơn hai trăm bộ nói về đức Phật A-di-đà và các việc ở Tịnh độ Cực lạc của Ngài, như vậy đủ biết tín ngưỡng Di-đà và giáo nghĩa Tịnh độ đã đi sâu vào lòng người đến mức độ nào rồi. Cứ theo kinh Bát Chu Tam Muội quyển Thượng, thì đức Phật A-di-đà có ba mươi hai tướng, ánh sáng chói lọi, đẹp đẽ không gì sánh kịp. Còn theo kinh Quán Vô Lượng Thọ, thì thân của Phật Vô Lượng Thọ rực rỡ như trăm nghìn ức màu vàng Diêm phù đàn của cõi trời Dạ-ma, và cao sáu mươi vạn ức na do tha hằng hà sa do tuần. Sợi lông trắng ở khoảng giữa hai đầu chân mày quấn tròn về bên phải; tướng lông trắng to rộng gấp năm lần núi Tu di. Mắt Ngài trong sáng rõ ràng và rộng lớn gấp bốn lần đại dương. Thân Ngài có tám vạn bốn nghìn tướng, trong mỗi tướng có tám vạn bốn nghìn nét đẹp, trong mỗi nét đẹp có tám vạn bốn nghìn ánh sáng, soi khắp các thế giới trong mười phương, thu lấy chúng sinh niệm Phật. Ở Tây tạng, đức Phật A di đà được xem như hai Phật: Vô Lượng Quang, Vô Lượng Thọ. Nếu cầu trí tuệ thì qui y Phật Vô Lượng Quang, nếu cầu phúc lạc và sống lâu, thì qui y Phật Vô Lượng Thọ. Trong Mật giáo, Phật A di đà được tượng trưng cho trí Diệu Quan Sát của pháp thân Đại Nhật Như Lai, gọi là Cam Lộ Vương. Trong mạn-đồ-la Kim cương giới, gọi là A-di-đà Như Lai thân Thụ dụng trí tuệ, ngồi chính giữa nguyệt luân (vòng mặt trăng) ở phía Tây. Thân Ngài màu vàng ròng, kết ấn Tam-ma-địa, chủng tử là (hrìh), mật hiệu là Thanh Tịnh Kim Cương, hình Tam-muội-da là hoa sen. Trong mạn-đồ-la Thai tạng giới, gọi là Vô Lượng Thọ Như Lai, ngồi ở mé tây của viện Trung đài bát diệp. Thân Ngài màu vàng lợt hay vàng ròng, mắt nhắm, mình mặc áo mỏng, ngồi kết già trên hoa sen báu, bắt ấn nhập định. Chủng tử là (sam), mật hiệu là Thanh tịnh kim cương, hình Tam-muội-da là hoa sen mới nở. [X. kinh Lại Tra Hòa La Sở Vấn Đức Quang; Kinh Quyết Định Tổng Trì; kinh Hiền kiếp Q.1, Q.3; kinh Tế Chư Phương Đẳng Học; Kinh Đại Pháp Cự Đà La Ni Q.17; Vô Lượng Thọ Kinh Ưu Ba Đề Xá; luận Thập Trụ Tì Bà Sa Q.5 phẩm Dị Hành; Vãng Sinh Luận chú; Quán kinh sớ (Thiện đạo)].",
"Search1": "a di đà phật",
"Search2": "a di da phat"
},
{
"Id": 183,
"Word": "a di đà phật thập tam hiệu",
"Dict": 6,
"Mean": "Thirteen titles of Amitàbha-Buddha: (1) A di đà Phật Infinite-life, light, merit Buddha. (2) Vô lượng quang Phật Buddha of boundless light. (3) Vô biên quang Phật Buddha of unlimited light. (4) Vô ngại quang Phật Buddha of irresistible light. (5) Vô đối quang Phật Buddha of incomparable light. (6) Diệm vương quang Phật Buddha of Yama, or flame-king light. (7) Thanh tịnh quang Phật Buddha of pure light. (8) Hoan hỉ quang Phật Buddha of joyous light. (9) Trí Tuệ quang Phật Buddha of wisdom light. (10) Bất đoạn quang Phật Buddha of unending light. (11) Nan tư quang Phật Buddha of unconceivable light . (12) Vô xứng quang Phật Buddha of indescribable light. (13) Siêu nhật nguyệt quang Phật. Buddha of light surpassing that of sun and moon.",
"Search1": "a di đà phật thập tam hiệu",
"Search2": "a di da phat thap tam hieu"
},
{
"Id": 184,
"Word": "a di đà phật thuyết lâm",
"Dict": 8,
"Mean": "3680凡七卷。日僧善性繼成編於明和七年(1770)。係摘錄大藏中有關阿彌陀佛及其淨土之經論等二百餘部而成。其所引經論書目,密教部占大部分,論部十餘部,華嚴、方等、法華、涅槃部等亦頗多,約達七十部。本書旨在輯錄諸經有關彌陀、極樂之說,以證「諸經所讚多在彌陀」之典據。",
"Search1": "a di đà phật thuyết lâm",
"Search2": "a di da phat thuyet lam"
},
{
"Id": 185,
"Word": "a di đà phật thuyết lâm",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀佛說林) Sách, 7 quyển. Do vị tăng người Nhật là Thiện Tính Kế Thành biên soạn vào năm Minh Hòa thứ 7 (1770). Biên giả đã trích lục hơn hai trăm bộ kinh luận trong Đại tạng nói về đức Phật A-di-đà và Tịnh độ của Ngài mà soạn thành sách này. Trong thư mục các kinh luận mà biên giả đã dẫn, thì Mật giáo bộ chiếm đa số, Luận bộ có hơn mười bộ, các bộ Hoa Nghiêm, Phương Đẳng, Pháp Hoa, Niết Bàn v.v... cũng khá nhiều, tới khoảng bảy mươi bộ. Mục đích của tác phẩm này là thu chép những lời trong các kinh nói về đức Phật A-di-đà và về thế giới Cực Lạc của Ngài, để chứng minh điển cứ Chư kinh sở tán đa tại Di-đà (các kinh phần nhiều khen ngợi đức Phật A-di-đà).",
"Search1": "a di đà phật thuyết lâm",
"Search2": "a di da phat thuyet lam"
},
{
"Id": 186,
"Word": "a di đà phật thuyết lâm",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀佛說林) (trí tuệ), biểu tỏ nghĩa trên cầu bồ đề, vì thế đặt ở bên phải. Ngoài ra, kinh Quán Tự Tại Bồ Tát Tam Thế Tối Thắng Tâm Minh Vương thì nói, bên trái Phật A-di-đà là Quán Tự Tại, bên phải là Kim Cương Thủ.",
"Search1": "a di đà phật thuyết lâm",
"Search2": "a di da phat thuyet lam"
},
{
"Id": 187,
"Word": "a di đà sưu tư",
"Dict": 2,
"Mean": "Amitayus—See A Di Đà.",
"Search1": "a di đà sưu tư",
"Search2": "a di da suu tu"
},
{
"Id": 188,
"Word": "a di đà tam-da-tam phật-tát-lâu-phật-đàn quá độ nhân đạo kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A di đà Kinh.",
"Search1": "a di đà tam da tam phật tát lâu phật đàn quá độ nhân đạo kinh",
"Search2": "a di da tam da tam phat tat lau phat dan qua do nhan dao kinh"
},
{
"Id": 189,
"Word": "a di đà tam muội",
"Dict": 7,
"Mean": "Amida-samādhi (J), Amitābha-samādhi (S).",
"Search1": "a di đà tam muội",
"Search2": "a di da tam muoi"
},
{
"Id": 190,
"Word": "A Di Đà Tam Thập Thất Hiệu",
"Dict": 10,
"Mean": "(阿彌陀三十七號, Amidasanjūnanagō): 37 đức hiệu của đức Phật A Di Đà, do Thân Loan (親鸞, Shinran, 1173-1262), tổ khai sáng Tịnh Độ Chơn Tông (淨土眞宗, Jōdōshin-shū) của Nhật Bản lấy từ bài Kệ Tán A Di Đà của Đàm Loan (曇鸞, 476-?) cho vào trong bản Tịnh Độ Hòa Tán (淨土和讚, Jōdōwasan) của ông. Đó là:(1) Vô Lượng Quang, - (2) Chân Thật Minh, (3) Vô Biên Quang, - (4) Bình Đẳng Giác,(5) Vô Ngại Quang - (6) Nan Tư Nghì, (7) Vô Đối Quang, - (8) Tất Cánh Y, (9) Quang Viêm Vương, - (10) Đại Ứng Cúng, (11) Thanh Tịnh Quang, - (12) Hoan Hỷ Quang,(13) Đại An Úy, - (14) Trí Huệ Quang, (15) Bất Đoạn Quang, - (16) Nan Tư Quang (17) Vô Xưng Quang, - (18) Siêu Nhật Nguyệt Quang,(19) Vô Đẳng Đẳng, - (20) Quảng Đại Hội, (21) Đại Tâm Hải, - (22) Vô Thượng Tôn, (23) Bình Đẳng Lực, - (24) Đại Tâm Lực,(25) Vô Xưng Phật, - (26) Bà Già Bà, (27) Giảng Đường, - (28) Thanh Tịnh Đại Nhiếp Thọ, (29) Bất Khả Tư Nghì Tôn, - (30) Đạo Tràng Thọ, (31) Chơn Vô Lượng, - (32) Thanh Tịnh Lạc, (33) Bản Nguyện Công Đức Tụ, - (34) Thanh Tịnh Huân, (35) Công Đức Tạng, - (36) Vô Cực Tôn, và (37) Nam Mô Bất Khả Tư Nghì Quang.",
"Search1": "a di đà tam thập thất hiệu",
"Search2": "a di da tam thap that hieu"
},
{
"Id": 191,
"Word": "a di đà tam thập thất hiệu",
"Dict": 8,
"Mean": "3678請參閱 十疑論 指阿彌陀佛之三十七種德號。日本淨土真宗親鸞於淨土和讚一書中,依曇鸞之讚阿彌陀偈,列出三十七德號。即:無量光、真實明、無邊光、平等覺、無礙光、難思議、無對光、畢竟依、光炎王、大應供、清淨光、歡喜光、大安慰、智慧光、不斷光、難思光、無稱光、超日月光、無等等、廣大會、大心海、無上尊、平等力、大心力、無稱佛、婆伽婆、講堂、清淨大攝受、不可思議尊、道場樹、真無量、清淨樂、本願功德聚、清淨勳、功德藏、無極尊、南無不可思議光。",
"Search1": "a di đà tam thập thất hiệu",
"Search2": "a di da tam thap that hieu"
},
{
"Id": 192,
"Word": "a di đà tam thập thất hiệu",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀三十七號) Chỉ ba mươi bảy đức hiệu của Phật A-di-đà. Dựa theo Tán A-di-đà kệ của ngài Đàm Loan, trong sách Tịnh độ hòa tán của mình, ngài Thân Loan - vị tăng của Tịnh độ chân tông Nhật Bản - đã nêu ra ba mươi bảy đức hiệu: Vô Lượng Quang, Chân Thực Minh, Vô Biên Quang, Bình Đẳng Giác, Vô Ngại Quang, Nan Tư Nghị, Vô Đối Quang, Tất Kinh Y, Quang Viêm Vương, Đại Ứng Cúng, Thanh Tịnh Quang, Hoan Hỉ Quang, Đại An Uý, Trí Tuệ Quang, Bất Đoạn Quang, Nan Tư Quang, Vô Xứng Quang, Siêu Nhật Nguyệt Quang, Vô Đẳng Đẳng, Quảng Đại Hội, Đại Tâm Hải, Vô Thượng Tôn, Bình Đẳng Lực, Đại Tâm Lực, Vô Xưng Phật, Bà Già Bà, Giảng Đường, Thanh Tịnh Đại Nhiếp Thụ, Bất Khả Tư Nghị Tôn, Đạo Tràng Thụ, Chân Vô Lượng, Thanh Tịnh Lạc, Bản Nguyện Công Đức Tụ, Thanh Tịnh Huân, Công Đức Tạng, Vô Cực Tôn, Na Mô Bất Khả Tư Nghị Quang.",
"Search1": "a di đà tam thập thất hiệu",
"Search2": "a di da tam thap that hieu"
},
{
"Id": 193,
"Word": "A Di Đà Tam Tôn",
"Dict": 10,
"Mean": "(阿彌陀三尊, Amidasanzon): hay còn gọi là Tây Phương Tam Thánh, tức A Di Đà Phật và 2 người hầu hai bên; ở giữa là đức Phật A Di Đà, bên trái là Bồ Tát Quan Thế Âm (s: Avalokiteśvara, 觀世音) và bên phải Bồ Tát Đại Thế Chí (s: Mahāsthāmaprāpta, 大勢至). Dạng thức của Di Đà Tam Tôn này vốn phát xuất từ Ấn Độ, là di phẩm được bảo tồn trên bích họa trong động thứ 9 của thạch động A Chiên Đa (s: Ajantā, p: Ajanta, 阿栴多). Ở Trung Hoa, tượng Di Đà Tam Tôn có sớm nhất được khắc vào năm 538 (Nguyên Tượng [元象] nguyên niên) nhà Đông Ngụy. Tại Nhật Bản, có bức bích họa trong Kim Đường của Pháp Long Tự (法隆寺, Hōryū-ji) và bức Niệm Trì Phật của Quật Phu Nhân là nổi tiếng nhất. Nhìn chung, nghi tướng của chư tôn đều y cứ vào quyển 8 của Kinh Vô Lượng Thọ (無量壽經) mà tạo nên. Kinh dạy rằng quán tưởng đức hai bên đức Phật Di Đà có hai tòa sen, Bồ Tát Quan Thế Âm ngồi trên tòa sen bên tay trái, Bồ Tát Đại Thế Chí ngồi trên tòa sen bên tay phải. Hơn nữa, trong quyển 5 của Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chơn Ngôn Kinh (不空羂索神變眞言經) có dạy rằng tâm thương xót (bi) của Bồ Tát Quan Âm thể hiện cho ý nghĩa dưới hóa độ chúng sanh, nên vị này được đặt bên trái; trí tuệ (trí) của Bồ Tát Thế Chí có ý nghĩa là trên cầu bồ đề, nên vị này được đặt bên phải. Ngoài ra, Quan Thế Âm Bồ Tát Tam Thế Tối Thắng Tâm Minh Vương Kinh (觀世音菩薩三世最勝心明王經) lại cho rằng bên trái của Phật Di Đà là Quán Tự Tại (觀自在), còn bên phải là Kim Cang Thủ (金剛手).",
"Search1": "a di đà tam tôn",
"Search2": "a di da tam ton"
},
{
"Id": 194,
"Word": "a di đà tam tôn",
"Dict": 8,
"Mean": "3679請參閱 阿彌陀經 又稱西方三聖。指阿彌陀佛及其二大脅侍。中尊爲阿彌陀佛,左爲觀世音菩薩,右爲大勢至菩薩。彌陀三尊像之式樣源於印度,阿旃多石窟第九窟之壁畫即保存三尊像之遺品。我國最早的阿彌陀三尊像爲東魏元象元年(538)所造立之三尊刻像。在日本,則以法隆寺金堂內之壁畫及橘夫人念持佛等較爲著名。 一般之儀相皆依觀無量壽經第八觀而作,經中謂觀想彌陀之左右各置大蓮花,觀音坐於左邊之蓮花座上,勢至坐於右邊之蓮花座上。又不空羂索神變真言經卷五亦有此說。蓋觀音主「悲」,表示下化眾生之義,故置於左邊;勢至主「智」,表示上求菩提之義,故置於右邊。此外,觀自在菩薩三世最勝心明王經則謂,彌陀之左爲觀自在,右爲金剛手。",
"Search1": "a di đà tam tôn",
"Search2": "a di da tam ton"
},
{
"Id": 195,
"Word": "a di đà tam tôn",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀三尊) Cũng gọi Tây phương Tam Thánh. Chỉ đức Phật A-di-đà và hai vị đại Bồ-tát đứng hầu hai bên Ngài. Đức Phật A-di-đà đứng giữa, bên trái là Bồ-tát Quan Thế Âm, bên phải là Bồ-tát Đại Thế Chí. Kiểu tượng Di-đà-tam tôn bắt nguồn ở Ấn Độ. Bức tranh vẽ trên vách của hang thứ 9 trong những hang đá ở A-chiên-đa là di phẩm của tượng Tam tôn được giữ gìn. Tượng A-di-đà tam tôn sớm nhất tại Trung Quốc là tượng Tam tôn được khắc vào niên hiệu Nguyên Tượng năm đầu (538) đời Đông Ngụy. Ở Nhật Bản thì bức tranh vẽ trên vách trong Kim đường chùa Pháp Long và Quất phu nhân niệm trì Phật là nổi tiếng hơn cả. Hình tướng phổ thông này đều làm theo phép quán thứ tám trong kinh Quán Vô Lượng Thọ. Kinh nói, quán tưởng hai bên Phật A-di-đà có hoa sen lớn, Bồ-tát Quán Thế Âm ngồi trên tòa sen bên trái; Bồ-tát Đại Thế Chí ngồi trên tòa sen bên phải. Kinh Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chân Ngôn quyển 5 cũng nói như thế. Bởi vì Bồ-tát Quan Thế Âm tượng trưng cho Bi (tình thương), biểu tỏ nghĩa dưới hóa độ chúng sinh, cho nên đặt ở bên trái. Còn Bồ-tát Đại Thế Chí thì tượng trưng cho Trí Tượng A Di Đà Tam Tôn",
"Search1": "a di đà tam tôn",
"Search2": "a di da tam ton"
},
{
"Id": 196,
"Word": "a di đà tịnh độ biến",
"Dict": 8,
"Mean": "3683係表現阿彌陀佛極樂淨土相之圖像。又作西方淨土變、西方變相、淨土曼陀羅、極樂變曼荼羅。我國畫此像始於唐代善導。據善導之觀念法門所載,若有人依觀無量壽經等,畫造淨土莊嚴之變相,日夜觀想寶地,現生念念,能除滅八十億劫生死之罪。 據李白之金銀泥畫淨土變相讚載,馮翊郡秦夫人爲亡夫湖州刺史韋公,以金銀泥畫西方淨土變相。據唐代張彥遠之歷代名畫記所載,安國寺境內大佛殿之西壁,有吳道子所畫之西方變;雲華寺小佛殿內,有趙武瑞所畫之淨土變。至宋代,盛行蓮社念佛及圖繪淨土變。據日本之法然上人傳記卷二載,俊乘房重源來宋,請回觀經曼陀羅。又近代於敦煌發現數種阿彌陀淨土變。 於日本,自白鳳(673~685)時代以後,漸有淨土變之畫作,現存者如法隆寺壁畫,然圖樣簡單,僅有彌陀三尊及天人、寶池往生人之相。阿彌陀院之淨土變則依阿彌陀院寶物帳載,在寶殿內設上下二階,安置彌陀三尊、音聲菩薩十尊、羅漢二尊。又當麻曼陀羅乃現存淨土變中之最詳密完備者。〔往生西方淨土瑞應刪傳、西方要決釋疑通規、觀經九品圖後序(元照)、白氏文集卷七十、卷七十一、酉陽雜俎續集卷五常樂坊趙景公寺條、延曆寺座主圓珍傳、樂邦文類卷二、卷三、拾遺往生傳卷下〕",
"Search1": "a di đà tịnh độ biến",
"Search2": "a di da tinh do bien"
},
{
"Id": 197,
"Word": "a di đà tịnh độ biến",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿彌陀淨土變) Tranh vẽ biểu hiện cảnh Tịnh độ cực lạc của đức Phật A-di-đà. Cũng gọi Tây phương Tịnh độ biến, Tây phương biến tướng, Tịnh độ mạn-đà-la, Cực lạc biến mạn-đồ-la. Ở Trung Quốc, người đầu tiên vẽ tranh này là ngài Thiện Đạo đời Đường. Quán Niệm pháp môn của ngài Thiện đạo nói, nếu có người y theo kinh Quán Vô Lượng Thọ v.v..., vẽ cảnh Tịnh độ trang nghiêm, rồi ngày đêm quán tưởng đất báu, niệm niệm không rời, thì có thể trừ diệt tội sống chết trong tám mươi ức kiếp. Kim Ngân Nê Họa Tịnh Độ Biến Tướng Tán của Lí Bạch nói, Tần phu nhân ở quận Phùng Dực, dùng kim nhũ vẽ Tịnh độ biến tướng phương Tây để cầu siêu cho chồng là Vi Công, quan Thứ sử Hồ Châu. Cứ theo Lịch đại danh họa kí của Trương Ngạn Viễn đời Đường chép, thì trên vách phía tây của Đại Phật điện trong chùa An Quốc, có Tây phương biến do Ngô Đạo Tử vẽ; trong Tiểu Phật điện chùa Vân Hoa, có Tịnh độ biến do Triệu Vũ Thụy vẽ. Đến đời Tống, Liên xã niệm Phật và tranh vẽ Tịnh độ biến khá thịnh hành. Pháp Nhiên Thượng Nhân Truyện Kí quyển 2 của Nhật Bản chép, vào đời Tống, Tuấn-thừa-phòng-trùng-nguyên đến Trung quốc, thỉnh được Quán kinh mạn-đồ-la về Nhật Bản. Lại gần đây, mấy loại tranh A-di-đà tịnh độ biến đã được tìm thấy ở Đôn Hoàng. Ở Nhật Bản, từ thời Bạch Phụng (673-685) về sau, dần dần mới có họa phẩm Tịnh độ biến, như bức tranh vẽ trên vách hiện còn ở chùa Pháp Long, nhưng kiểu tranh đơn giản, chỉ có hình Di-đà tam tôn, các trời và cảnh người vãng sinh trong ao báu. Còn bức tranh Tịnh độ biến ở viện A di đà, cứ theo A-di-đà viện bảo vật trướng chép, thì trong Bảo điện đặt hai bậc trên dưới, thờ Di-đà tam tôn, mười vị Bồ-tát Âm thanh, hai vị La hán. Lại trong những bức tranh Tịnh độ biến hiện còn, thì Đương ma mạn-đồ-la là bức tranh rõ ràng tỉ mỉ và hoàn bị hơn cả. [X. Vãng Sinh Tây Phương Tịnh Độ Thụy Ứng San truyện; Tây Phương Yếu Quyết Thích Nghi Thông Qui; Quán Kinh Cửu Phẩm Đồ Hậu Tự (Nguyên Chiếu); Bạch Thị Văn Tập Q.70, Q.71; Dậu Dương Tạp Trở Tục Tập Q.5 Thường Lạc Phường Triệu Cảnh Công Tự Điều; Diên Lịch Tự Tọa Chủ Viên Trân Truyện; Lạc Bang Văn Loại Q.2, Q.3; Thập Di Vãng Sinh Truyện Q.Hạ].",
"Search1": "a di đà tịnh độ biến",
"Search2": "a di da tinh do bien"
},
{
"Id": 198,
"Word": "A-di-la-bà-để",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-lỵ-la-bạt-đề.",
"Search1": "a di la bà để",
"Search2": "a di la ba de"
},
{
"Id": 199,
"Word": "A-di-la-bạt-đề",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-lỵ-la-bạt-đề.",
"Search1": "a di la bạt đề",
"Search2": "a di la bat de"
},
{
"Id": 200,
"Word": "a địa cù đa",
"Dict": 8,
"Mean": "3613梵名 Atikūṭa。意譯無極高。唐代譯經僧。中印度人,生卒年不詳。高宗永徽三年(652)入長安,受勅住慈恩寺。依沙門彥悰、李世勣等道俗二十八人之請,於慧日寺浮圖院建陀羅尼普集會壇。沙門玄楷等請師譯法會之典據,遂成撮要鈔譯集十二卷,即今陀羅尼集經。〔開元釋教錄卷八、宋高僧傳卷二、六學僧傳卷二、英譯大明三藏聖教目錄〕",
"Search1": "a địa cù đa",
"Search2": "a dia cu da"
},
{
"Id": 201,
"Word": "a địa cù đa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿地瞿多) Phạm: Atikùỉa. Dịch ý là Vô cực cao. Vị tăng dịch kinh ở đời Đường. người Trung Ấn Độ, năm sinh năm mất không rõ. Năm Vĩnh Huy thứ 3(652) đời vua Cao Tông nhà Đường, ngài vào kinh đô Trường An, được vua mời ở chùa Từ Ân. Đáp lời thỉnh cầu của sa môn Ngạn Tông, Lí Thế Tích, tăng tục gồm hai mươi tám người, ngài lập đàn Đà-la-ni phổ tập hội ở viện Phù Đồ, chùa Tuệ Nhật. Sa-môn Huyền Khải v.v... thỉnh ngài dịch điển tích của pháp hội, thành là Toát Yếu Sao Dịch tập 12 quyển, tức là kinh Đà-la-ni Tập hiện nay. [X. Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.8; Tống Cao Tăng Truyện Q.2; Lục Học Tăng Truyện Q.2; Đại Minh Tam Tạng Thánh Giáo Mục Lục].",
"Search1": "a địa cù đa",
"Search2": "a dia cu da"
},
{
"Id": 202,
"Word": "a địa mục đắc ca",
"Dict": 2,
"Mean": "Atimuktata (skt)—Acacia flowers.",
"Search1": "a địa mục đắc ca",
"Search2": "a dia muc dac ca"
},
{
"Id": 203,
"Word": "a điểm bà sí la quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3690阿點婆翅羅,梵名 Ātyanabakhela, Auduṃbaṭira。爲西印度古國。都城爲朅茕伐羅(梵 Khajisvara)。依大唐西域記卷十一所載,此國周長五千餘里,濱臨信度河,近海,風俗淳質,崇敬三寶,伽藍八十餘所,僧徒五千餘人,多學小乘正量部之法,往昔釋尊屢遊化此地。〔A. Cunningham: The Ancient Geographyof India; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, vol. Ⅱ〕",
"Search1": "a điểm bà sí la quốc",
"Search2": "a diem ba si la quoc"
},
{
"Id": 204,
"Word": "a điểm bà sí la quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿點婆翅羅國) A-điểm-bà-sí-la, Phạm: Àtyanabakhela, Auduôbaỉira. Một nước xưa ở Tây Ấn Độ. Thủ đô là Cát-tệ-thấp-phạt-la (Phạm: Khajisvara). Theo Đại Đường Tây Vực Kí quyển 11, nước này chu vi hơn năm nghìn dặm, kề sông Tín Độ, gần biển, phong tục chất phác, sùng kính Tam bảo, có hơn tám mươi ngôi chùa, hơn năm nghìn vị tăng, phần nhiều học pháp của Chính Lượng Bộ Tiểu thừa. Thưở xưa, đã nhiều lần đức Phật đến nước này giáo hóa. [X. A. Cunningham: The Ancient Geography of India; S. Beal: Buddhist Records of the Western World, Vol.II].",
"Search1": "a điểm bà sí la quốc",
"Search2": "a diem ba si la quoc"
},
{
"Id": 205,
"Word": "a diễm để ha la",
"Dict": 2,
"Mean": "Tên của một loài quỷ bị cháy rụi vì lửa nó ăn vào—Name of a demon burnt up by the fire it eats.",
"Search1": "a diễm để ha la",
"Search2": "a diem de ha la"
},
{
"Id": 206,
"Word": "a điên ca",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Nhứt điên ca.",
"Search1": "a điên ca",
"Search2": "a dien ca"
},
{
"Id": 207,
"Word": "a điên ca",
"Dict": 6,
"Mean": "Xem Nhất xiển đề.",
"Search1": "a điên ca",
"Search2": "a dien ca"
},
{
"Id": 208,
"Word": "a điên để ca",
"Dict": 8,
"Mean": "3697請參閱 阿難問事佛吉凶經 請參閱 阿難問事佛吉凶經 梵語 ātyantika。意譯畢竟。爲無性有情之一。義爲畢竟無成佛之性,乃一闡提之異名。成唯識論掌中樞要卷上本(大四三‧六一○下):「阿顛底迦,名爲畢竟,畢竟無涅槃性故。」蓋阿顛底迦或係梵語 icchantika(一闡提)之同類語 aitthaṃtvika 之訛音。〔大莊嚴論經卷一、玄應音義卷二十三〕(參閱「一闡提」85)",
"Search1": "a điên để ca",
"Search2": "a dien de ca"
},
{
"Id": 209,
"Word": "a điên để ca",
"Dict": 2,
"Mean": "Atyamika (skt)—Tất Cánh—Không có cứu cánh để thành Phật—Endless—At the end there is no mind for attaining Buddhahood.",
"Search1": "a điên để ca",
"Search2": "a dien de ca"
},
{
"Id": 210,
"Word": "a điên để ca",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿顛底迦) Phạm: Àtyantika. Dịch ý là rốt ráo. Là một trong các loài hữu tình vô tính, nghĩa là rốt ráo không có tính thành Phật. Là tên gọi khác của Nhất- xiển-đề. Thành Duy Thức Luận Chưởng Trung Xu Yếu quyển Thượng phần đầu (Đại 43, 610 hạ) nói: A-điên-để-ca, hàm ý rốt ráo, nghĩa là rốt ráo không có tính Niết-bàn. A-điển-để-ca có lẽ là tiếng dịch âm lầm của aitthaôtvika là chữ cùng loại với tiếng Phạm icchantika (Nhất-xiển-đề). [X. Đại Trang Nghiêm Luận Kinh Q.1; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.23] (xt. Nhất Xiển Đề).",
"Search1": "a điên để ca",
"Search2": "a dien de ca"
},
{
"Id": 211,
"Word": "a do",
"Dict": 2,
"Mean": "Ayurveda (skt)—Một trong các bộ kinh Vệ Đà, nói về khoa học và trường thọ—One of the Vedas, the science of life or longevity.",
"Search1": "a do",
"Search2": "a do"
},
{
"Id": 212,
"Word": "a đồ bàn đa",
"Dict": 8,
"Mean": "3658梵名 Alaka, Alakamanda,巴利名 Āḷakamandā。於彌蘭陀王問經(巴 Milindapañhā,漢譯那先比丘經)之序文中,讚歎希臘都城沙迦羅之繁榮:「飲食美味,嚼食、噉食、飲食之豐富,猶如北俱盧州;穀類之具足,恰似天上之都阿荼槃多。」阿荼槃多乃印度古神話中財寶神(梵 Kuvela,佛教神話稱爲毘沙門,梵 Vaiśravaṇa,巴 Vessavaṇa,音譯鞞沙門、毘沙門、鞞室羅憊囊,意譯多聞、普聞)之都城。長部經典十六大般涅槃經(巴 Mahāparinibbāna-suttanta)讚美拘尸那羅(巴 Kusinārā):「阿難!此拘尸那羅是大善見王之王城,名爲拘舍婆提(巴 Kusāvatī),(中略)阿難!猶如諸天人之城,名爲阿荼槃多,繁榮富裕,人民眾多,庶民來集,食物豐富。」〔大善見王經(巴 Mahā-sudassana-suttanta)、阿吒曩胝經(巴 Āṭānāṭiya-suttanta)、起世經卷三〕",
"Search1": "a đồ bàn đa",
"Search2": "a do ban da"
},
{
"Id": 213,
"Word": "a đồ bàn đa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿荼槃多) Phạm: Alaka, Alakamanda. Pāli: Àơakamandà. Bài tựa kinh Di-lan- đà Vương Vấn (Pāli: Milindapaĩhà, Hán dịch: Na Tiên Tỉ-khưu Kinh) ca ngợi sự phồn vinh của thủ đô nước Hi Lạp là Sa-ca-la như sau: Thức ăn uống ngon lành, các loại thực phẩm phong phú, như ở châu Bắc-câu-lô, lúa gạo đầy đủ, hệt như đô thành A-đồ-bàn-đa trên cõi trời. A-đồ-bàn-đa là đô thành của thần Tài bảo (Phạm:Kuvela, thần thoại Phật giáo gọi là Tì-sa-môn, Phạm: Vaizvaraịa, Pāli: Vessavaịa, dịch âm: Tì-sa-môn, Bệ-sa-môn, Bệ-thất-la-bại-nang, dịch ý là Đa văn - Nghe nhiều, Phổ văn - Nghe khắp) trong thần thoại của Ấn Độ xưa. Kinh Đại Bát Niết Bàn (Pāli: Mahàparinibbàna-suttanta) trong Trường Bộ kinh 16 khen ngợi thành Câu-thi-na-ra (Pāli: Kusinàrà) như sau: A nan! Câu-thi-na-ra này là kinh đô của vua Đại Thiện Kiến, tên là Câu-xá-bà-đề (Pāli: Kusàvàtì (...). A- nan! Cũng như thành A-đồ-bàn-đa của các người trời, phồn vinh giàu có, nhân dân đông đúc, dân chúng đến họp, thức ăn dồi dào. [X. Kinh Đại Thiện Kiến vương (Pāli: Mahàsudassana-suttanta); Kinh A-tra-nẵng-chi (Pāli: Àỉànàỉiya-suttanta); kinh Khởi Thế Q.2].",
"Search1": "a đồ bàn đa",
"Search2": "a do ban da"
},
{
"Id": 214,
"Word": "a do đa",
"Dict": 2,
"Mean": "See Ayuta in Sanskrit/Pali-Vietenamese Section.",
"Search1": "a do đa",
"Search2": "a do da"
},
{
"Id": 215,
"Word": "a du ca",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Vô Ưu.",
"Search1": "a du ca",
"Search2": "a du ca"
},
{
"Id": 216,
"Word": "a du ca thụ",
"Dict": 8,
"Mean": "3678阿輸迦,梵語 aśoka 之音譯。又作阿叔迦樹、阿舒伽樹。意即無憂樹。學名 Jonesia asoka Roxb。屬荳科之植物,產地分布於喜馬拉雅山、錫蘭(斯里蘭卡)、馬來半島。樹幹直立,其葉似槐,爲羽狀複葉,長約九至二十公分,花開約六至十公分,其色鮮紅,引人注目。果實橢圓,長約二十餘公分。印度文學上,常視之爲瑞徵。據傳悉達多太子於藍毘尼園阿輸迦樹下出生,由於母子均安,故此樹被稱爲無憂樹。一般人誤以畢利叉樹(梵 vṛkṣa,菩提樹)即阿輸迦樹。〔北本涅槃經卷三十二、慧苑音義卷下〕",
"Search1": "a du ca thụ",
"Search2": "a du ca thu"
},
{
"Id": 217,
"Word": "a du ca thụ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿輸迦樹) A-du-ca, Phạm: Azoka. Cũng gọi a-thúc-ca-thụ, a-thư-già-thụ. Dịch ý là cây không lo. Tên khoa học: Jonesia asoka Roxb. Loài thực vật thuộc họ đậu, sinh sản ở núi Tuyết, Tích Lan, bán đảo Mã Lai v.v... Thân cây thẳng tắp, lá giống lá cây hòe, lá mọc từng đôi tựa như cánh chim, dài khoảng chín đến mười hai phân tây, hoa nở độ sáu đến mười phân, màu đỏ tươi, dễ coi, quả hình bầu dục, dài độ hơn hai mươi phân. Trong văn học Ấn Độ, cây này thường được Tranh Tây Phương Tịnh Độ trong hang 172 ở Đôn Hoàng (Trung Quốc) A DU CA THỤ coi là điềm lành. Theo truyền thuyết, Thái tử Tất đạt đa đã sinh ra dưới gốc cây a-du-ca trong vườn Lâm-tì-ni, vì mẹ con đều bình an, nên cây này được gọi là cây không lo. Thông thường người ta hay lầm, cho cây Tất-lợi-xoa (Phạm: vfkwa, cây Bồ-đề) là cây a-du-ca. [X. kinh Niết Bàn (bản Bắc) Q.32; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.Hạ].",
"Search1": "a du ca thụ",
"Search2": "a du ca thu"
},
{
"Id": 218,
"Word": "a du ca, vô ưu hoa thu",
"Dict": 6,
"Mean": "Asoka (S)",
"Search1": "a du ca, vô ưu hoa thu",
"Search2": "a du ca, vo uu hoa thu"
},
{
"Id": 219,
"Word": "a du đà quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3676梵名 Ayodhyā,巴利名 Ayojjhā。中印度古國,其地爲印度古文明中心之一。又作阿毘陀國、阿毘闍國、阿踰闍國、阿喻馱國、阿迎闍國。意譯難勝國、無鬥國、靡勝國、不可戰國。依據大唐西域記卷五所載,此國周長五千餘里,國都周長二十餘里,榖稼豐盛,花果繁茂,伽藍百餘,僧徒三千,兼習二乘之學,有天祠十所,異道寡少。此國曾爲佛教大德止住之地,如室利邏多於都城西北數里之伽藍造經部毘婆沙論。無著於都城西南五六里大菴沒羅林中,聽受彌勒之瑜伽師地論、大乘莊嚴經論、中邊分別論等。世親亦於此地,依無著而歸依大乘,造大乘論百餘部。 阿踰陀國之原語,近世學者亦有主張爲 Ayuda 者。關於其都城,英國考古學家康林罕(A. Cunningham)推定在今孔坡(Cawnpore)西北三十餘公里之喀古旁(Kākūpun)。英國印度學學者史密斯(V.A. Smith) 則認爲當在今法提浦(Fatehpur)東南約五十公里之阿伏伊(Aphui)。〔雜阿含經卷十、水沫所漂經、眾許摩訶帝經卷一、大寶積經卷一一八、婆藪槃豆法師傳、玄應音義卷五、S.N. Majumdar: Cunningham'sAncient Geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang; T.W. Rhys Davids:Buddhist India〕",
"Search1": "a du đà quốc",
"Search2": "a du da quoc"
},
{
"Id": 220,
"Word": "a du đà quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿逾陀國) Phạm: Ayodhyà, Pāli: Ayojjhà. Một nước xưa ở trung Ấn Độ, là một trong những nơi trung tâm văn minh của Ấn Độ cổ đại. Cũng gọi A-tì-đà quốc, A-tì-xà quốc, A-du-xà quốc, A-dụ-đà quốc, A-nghinh-xà quốc. Dịch ý là nước khó thắng, nước không ganh đua, nước không hơn được, nước không thể đánh. Đại Đường Tây Vực Kí quyển 5 chép, nước này chu vi hơn năm nghìn dặm, thủ đô rộng hơn hai mươi dặm, thóc lúa dồi dào, hoa quả xanh tốt, hơn trăm ngôi chùa với ba nghìn vị tăng, học tập cả Đại thừa, Tiểu thừa, có mười ngôi đền thờ trời, các đạo khác rất ít. Nước này từng là nơi nhiều vị đại đức Phật giáo cư trú, như ngài Thất-lợi-la-đa đã làm luận Tì-bà-sa của phái Kinh bộ ở một ngôi chùa cách thủ đô nước này vài dặm về mạn Tây bắc. Ngài Vô trước ở trong rừng Đại-am-một-la cách thủ đô nước này năm, sáu dặm về phía Tây nam, nghe luận Du-già- sư-địa, Đại Trang Nghiêm Kinh luận, luận Trung Biên Phân Biệt v.v... của Bồ-tát Di-lặc. Ngài Thế Thân cũng ở nước này, nghe theo ngài Vô Trước mà trở về với Đại thừa, rồi soạn hơn một trăm bộ luận Đại thừa.Về tiếng gốc, trong giới học giả cận đại, cũng có người chủ trương nước A-du-đà là Ayuda. Về thủ đô nước này, nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham suy đoán là ở Kakùpun, cách Cawnpore hiện nay hơn ba mươi cây số về mạn Tây bắc. Còn nhà học giả Ấn Độ học người Anh là ông V. A. Smith thì cho là ở Aphui, cách Fatehpur hiện nay độ năm mươi cây số về phía Đông nam. [X. kinh Tạp A-hàm Q.10; kinh Thủy Mạt Sở Phiêu; Kinh Chúng Hứa Ma Ha Đế Q.1; Kinh Đại Bảo Tích Q.118; Bà Tẩu Bàn Đậu Pháp Sư Truyện; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.5; S. N. Majumdar: Cunningham’s Ancient Geography of India; T. Watters: On Yuan Chwang; T.W. Rhys Davids: Buddhist India].",
"Search1": "a du đà quốc",
"Search2": "a du da quoc"
},
{
"Id": 221,
"Word": "a du đà, a du xà",
"Dict": 6,
"Mean": "Ayodhyà (S). Name of place.",
"Search1": "a du đà, a du xà",
"Search2": "a du da, a du xa"
},
{
"Id": 222,
"Word": "a du đồ",
"Dict": 2,
"Mean": "Ayodhya (skt)—A Du Đà—A Thâu Đồ—Kinh đô của xứ Kosala, tổng hành dinh của Phật giáo thời cổ, bây giờ là Oudh—The capital of Kosala, headquarters of ancient Buddhism, the present Oudh.",
"Search1": "a du đồ",
"Search2": "a du do"
},
{
"Id": 223,
"Word": "a du già",
"Dict": 2,
"Mean": "Asoka (skt)—See A Dục Vương in Vietnamese-English Section and Asoka in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a du già",
"Search2": "a du gia"
},
{
"Id": 224,
"Word": "a du già thụ",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem cây vô ưu.",
"Search1": "a du già thụ",
"Search2": "a du gia thu"
},
{
"Id": 225,
"Word": "A-dục",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 育; S: aśoka; P: asoka; cũng gọi là A-du-ca, dịch nghĩa là Vô Ưu, không ưu sầu, lo nghĩ;\r\n Tên của một vị vua xứ Maurya miền Bắc Ấn Ðộ, trị vì từ năm 272 đến 236 trước Công nguyên, mất năm 231. Trong lịch sử Ấn Ðộ, ông đã để lại nhiều dấu tích quan trọng. Sau một cuộc viễn chinh đẫm máu năm 260 ông có dịp được nghe Phật pháp và tỉnh ngộ, quyết định thành lập một »Vương quốc phụng sự Phật pháp.« Ông đích thân đi khắp các miền trong nước để bảo vệ luật lệ và chính pháp. Ông cũng là người cổ vũ việc ăn chay và chống tệ nạn giết thú vật cúng tế. Trong thời A-dục vương, đạo Phật phát triển mạnh ở Tích Lan. Người con trai của A-dục vương là Ma-hi-đà (mahinda) cũng góp phần rất nhiều trong việc truyền bá đạo Phật.\r\n Tài liệu về A-dục rất nhiều sai khác. Theo tài liệu từ văn hệ Pā-li thì ông là một quốc vương chỉ phụng sự cho đạo Phật. Theo một số tài liệu của giới khảo cổ, nhất là tư liệu khắc trên đá do chính A-dục cho ghi lại thì ông cũng ủng hộ rất mạnh các giáo phái khác, đúng như trách nhiệm của một nhà vua. Các tư liệu khắc trên đá hay dùng chữ »Pháp« (s: dharma). Người ta thấy rằng Pháp nói ở đây không chỉ phải là Phật pháp mà là một hệ thống luân lí do nhiều trào lưu tôn giáo thời đó tổng hợp lại. Quan điểm của A-dục vương là làm sao thần dân có một cuộc đời hạnh phúc; trong đó gồm sự tự do, lòng từ bi, tránh chém giết, biết tuân lời, tôn trọng sự thật, hướng nội… \r\n Dưới thời A-dục vương có một sự can thiệp của triều đình vào Tăng-già khi Tăng-già đứng trước nạn chia rẽ. Lần đó, một số tỉ-khâu bị loại ra khỏi giáo hội, buộc phải hoàn tục.",
"Search1": "a dục",
"Search2": "a duc"
},
{
"Id": 226,
"Word": "A Dục Vương",
"Dict": 10,
"Mean": "(s: Aśoka, p: Asoka, Aikuō, 阿育王, tại vị khoảng 270-230 ttl): âm dịch là A Du Ca (阿輸迦), ý dịch là Vô Ưu (無憂) gọi tắt là Dục Vương (育王), vị vua đời thứ 3 của vương triều Khổng Tước (s: Maurya, 孔雀) vốn lấy thành phố Pāṭaliputra (tức Hoa Thị Thành [華氏城]) của nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) làm thủ đô. Trong kinh điển Bắc Truyền bằng tiếng Phạn, Hán và Tây Tạng, đại thể ông xuất hiện khoảng hơn 100 năm sau khi đức Phật diệt độ; theo truyền thuyết của thánh điển Pāli thì cho rằng ông tức vị vào năm thứ 128 sau khi đức Phật diệt độ. Niên đại này được suy định từ niên đại của các vị vua Girisha mà có trong bản pháp sắc văn của nhà vua. Khi vua này tại vị, Ấn Độ là quốc gia vĩ đại thống nhất lần đầu tiên và chiếm đại bộ phận nước Ấn Độ dưới thời đại Anh Quốc. Vào thời trai trẻ, ông rất hung bạo đã giết anh em mình để lên làm vua rồi xâm lược các quốc gia lân cận; thế nhưng cuối cùng ông mới phản tỉnh hiểu được rằng bất cứ cuộc chiến tranh nào cũng bi thảm cũng có nhiều người phải hy sinh, cho nên ông tự trách mình và vô cùng ân hận. Chính sự ân hận ấy đã dẫn dắt ông đến với Phật Giáo, biết rõ rằng chính Phật Giáo có lợi ích cho lí tưởng của nhân sinh và hoà bình của xã hội. Vì vậy ông đã qui y và nỗ lực tuyên xướng giáo lý Phật Giáo. Nhà vua đã đặt tên cho giáo lý này là “pháp”, cho biệt phái các vị Pháp Đại Thần cũng như tăng sĩ để đi truyền giảng pháp trong và ngoài nước. Chính đích thân ông cũng đi tuần du khắp nước, tiến hành thuyết pháp và tham bái các Phật tích. Tương truyền rằng ông đã cho xây dựng đầu tiên là A Dục Vương Viên Tự (阿育王園寺) tại thủ đô và kiến lập 84.000 ngôi tháp xá lợi khắp trong nước. Bên cạnh đó, ông còn chuyên tâm làm Phật sự, cho nên Phật Giáo đã nhất thời đi đến hưng thịnh tột đỉnh của nó. Chính nhờ vị vua này mà Phật Giáo cũng đã được lan truyền sang các quốc gia lân cận tại Ấn Độ. Phía Tây Bắc từ địa phương Gandhāra đến Girisha, rồi thông qua vùng trung ương Châu Á và đến tận Trung Quốc. Về phương Nam, Phật Giáo cũng được truyền sang Tích Lan (Sri Lanka), và nơi đây đã trở thành nguyên lưu của Phật Giáo Pāli (Nam Truyền Phật Giáo) của các nước phương Nam. Nhờ có A Dục Vương, Phật Giáo Ấn Độ đã phát triển rất mạnh với tư cách là Phật Giáo quốc tế, cho nên trong lịch sử Phật Giáo ông đã trở thành người có công lao cống hiến và ủng hộ đắc lực nhất. Với tư cách là trưởng lão của Phật Giáo, trong các truyện bằng tiếng Pāli, có nêu lên nhân vật Mục Kiền Liên Tử Đế Tu (p: Moggaliputta-tissa, 目犍連子帝須), còn Phật Giáo Bắc Truyền có nhân vật Ưu Ba Cúc Đa (s, p: Upagupta, 優波毱多), cũng chính là vị vua này.",
"Search1": "a dục vương",
"Search2": "a duc vuong"
},
{
"Id": 227,
"Word": "a dục vương",
"Dict": 8,
"Mean": "3632阿育,梵名 Aśoka,巴利名 Asoka,又作阿輸迦、阿輸伽、阿恕伽、阿戍笴、阿儵。意譯無憂王。又有天愛喜見王(梵 Devānaṃpriya priyadraśi)之稱。爲中印度摩揭陀國孔雀王朝第三世王。西元前三世紀左右出世,統一印度,爲保護佛教最有力之統治者。其祖父即孔雀王朝之開祖旃陀羅笈多大王(梵 Candragupta),其父爲賓頭沙羅王(梵 Bindusāra),其母爲贍波城一婆羅門女阿育薇達那(梵 Aśokāvadāna)。王幼時甚狂暴,不得其父王寵愛,值德叉尸羅國(梵 Takṣaśīla)叛變,父王令彼前往征討,望其戰死。然阿育反能平定叛亂,威權大振。遂於父王崩後,殺其兄弟登上王位。或云,阿育殺死九十九位兄弟,登上王位後仍極狂暴,殺戮大臣及婦女,並造牢獄,殘害無辜百姓,因此被稱爲旃陀(暴惡)阿育王(梵 Caṇḍāśoka)。多羅那他之印度佛教史稱之爲愛欲阿育(梵 Kāmāśoka)。然大磨崖法勅第四、第五、第六章及石柱法勅第七章及皇后法勅等,皆載阿育王統治期間尚有兄弟姊妹。故其殺戮傳說可能爲後世所誇張。王以華氏城爲首都,其統轄範圍包括北印度全部、大夏的一半,南至案達羅,東達海邊,縱橫數千里。且施政得宜,愛好真理,富博愛精神,實是印度有史以來治績空前之統治者。 關於王歸依佛之年月及其因緣有各種異說。阿育王傳卷一謂其因見海比丘(梵 Samudra)之奇蹟而歸依佛。島史第六章及善見律毘婆沙卷一則說是起因於尼瞿陀(巴 Nigrodha)之感化。依多羅那他之印度佛教史等六章謂其由於耶舍(梵 Yaśa)阿羅漢之弟子的奇瑞事蹟而歸依佛。依小磨崖法勅之刻文載,王歸依佛後,二年半有餘雖爲優婆塞而並不精勤信佛,然經一年有餘,即親近僧伽,熱心修道。此段記載與大磨崖法勅第八章所記「灌頂即位過十年往三菩提」之文綜合考查,知王之成爲優婆塞是在即位後第七年左右。但島史第六章載,王之歸依佛是在即位後三年。又依大磨崖法勅第十三章所記,王即位後八年,征服羯结伽(梵 Kalinga),見殺戮之悲慘,乃大爲激動,對於佛教之信念遂更堅固。因此放棄用兵力以求統一之途徑,且在「依法所得之勝利乃是最上之勝利」(大磨崖法勅第十三章所刻)之信念下,致力於佛教之宣傳。故其後半生有達磨(正法)阿育王(梵 Dharmāśoka)之稱。 據傳王於其國內建八萬四千僧伽藍,造八萬四千佛塔。此皆載於島史第六章、善見律毘婆沙卷一、雜阿含經卷二十三、阿育王傳卷一等。而其法勅中則未記此事。又善見律毘婆沙卷二載,王即位十七年於華氏城舉行第三次佛典結集,以目犍連子帝須(巴 Moggaliputta-tissa)爲上座,參與者有長老一千人,經九個月遂竟其功。繼之派遣末闡提(巴 Majjhantika)至罽賓(巴 Kasmīra)及犍陀羅國(巴 Gandhāra),摩訶提婆(巴 Mahādeva)至摩醯娑慢陀羅國(巴 Mahisakamaṇḍala),勒棄多(巴 Rakkhita)至婆那婆私國(巴 Vanavāsi),曇無德(巴 Yonaka-dhammarakkhita)至阿波蘭多迦國(巴 Aparantaka),摩訶曇無德(巴 Mahādhammarakkhita)至摩訶勒咜國(巴 Mahāraṭṭha),摩訶勒棄多(巴 Mahārakkhita)至臾那世界國(巴 Yonaka-loka),末示摩(巴 Majjhima)至雪山邊國(巴 Himavantapadesa),須那迦(巴 Sonaka)及鬱多羅(巴 Uttara)至金地國(巴 Suvaṇṇabhūmi),摩哂陀(巴 Mahinda)、鬱帝夜(巴 Uttiya)、參婆樓(巴 Sambala)、拔陀(巴 Bhaddasāla)至師子國(巴 Tambapaṇṇidīpa),從事傳道工作。又島史第七章記載,巴利論藏之迦他跋偷(巴 Kathāvatthu)爲當時所結集者。然王之法勅中無此記載。但大磨崖法勅第三、第五章及第十三章等,有王每五年召開司法與徵稅之官吏會議,爲法之教勅、法之樹立增長設立法大官(巴 dhamma-mahāmāta)之記載。且其正法之傳播地區遠至敘利亞、埃及、馬其頓(Macedonia)、塞利尼(Cyrene)。至於第三結集之傳說,北方所傳之阿育王傳全無記載。大智度論卷二雖謂(大二五‧七○上):「阿輸迦王作般闍于瑟大會,諸大法師論議異故,有別部名字。」然此亦不能逕認爲係結集之意。故第三結集之傳說,可謂事實不詳。 關於王當時所流傳之經典,在加爾各達拜羅特(Calcutta-Bairāt)之小磨崖法勅刻載,有毘奈耶最勝法說(梵 Vinaya-samukase)、聖種經(梵 Aliya-vasāṇī)、當來怖畏經(梵 Anāgata-bhayāni)、牟尼偈(梵 Muni-gāthā)、寂默行經(梵 Moneya-sūte)、優波帝沙門經(梵 Upatisa-pasine)、說羅睺羅經(梵 Lāghulovada)等七種。此數種相當於巴利律藏中之大品、增支部經、經集、中部經等之一部分。又善見律毘婆沙卷二舉出阿育王派遣赴各地之傳道師在各地方所說之經爲讀譬喻經(巴 Asivisopama-suttanta)、天使經(巴 Devadūta-sutta)、無始經(巴 Anamataggapariyāya-kathā)、火聚譬經(巴 Aggikkhandhopama-suttantakathā)、摩訶那羅陀迦葉本生經(巴 Mahānāradakassapa-jātaka)、迦羅羅摩經(巴 Kālakārāma-suttanta)、初轉法輪經(巴 Dhammacakkappavattana-suttanta)、梵網經(巴 Brahmajāla-suttanta)等八種。島史第八章同樣舉出諸傳道師所說之經,有 Anamataggiya, Aggikkhandhopama-suttakathā, Nāradakassapa-jātakakathā,Kālakārāma-suttantakathā, Dhammacakkappavattana 等五部。此等可說皆爲阿育王時代所流傳之經典。 又依大磨法勅第一章至第四章,及第十一章,石柱法勅第五、第七章記載,王即位後,行二十六次特赦。此外禁殺生、行布施,在路傍植樹、鑿井等事。又存於佛陀誕生地之藍毘尼園石柱上刻有:「灌頂即位後二十年詣此地」之文。尼葛利瓦(巴Nigliva)石柱法勅錄有王參拜拘那含牟尼 佛塔(巴 Konāgamana)並修補此塔之事。阿育王晚年似甚悲慘,據阿育王傳卷三載,王后帝沙羅叉(梵 Tassārakkhā)欲與王子駒那羅(梵 Kuṇāla)私通被拒,因使人挑其眼,王怒而焚殺帝沙羅叉。又王將所有財寶悉數供養盡,已再無可供養之物,最後取半個菴摩羅果(梵 āmalaka)供養於雞雀寺(梵 Kurkuṭa)。 關於王之出生年代,古來有各種異說,而大磨崖法勅第十三章所舉希臘五王國之各王在位之共同年數是西元前二六一年,或自西元前二七二年至前二五八年之十四年間或十五年間。因此其灌頂即位被推定是在西元前二七○年左右。又關於佛陀入滅至王出生間之年數,北傳之雜阿含經卷二十三、賢愚經卷三阿輸迦施土品、僧伽羅剎所集經卷下、雜譬喻經卷上、大莊嚴論經卷十、大智度論卷二等所記爲佛陀入滅百年,異部宗輪論載爲百有餘年,十八部論及部執異論載爲一一六年。又島史第六章、善見律毘婆沙卷二等記載,王即位年代是佛陀入滅後二一八年,而佛陀入滅百年左右,另有迦羅阿育王(梵 Kālāśoka)者在位。西藏文于闐懸記(Liḥi-yul-luṇ-bstan-pa)記載,佛陀入滅後二三四年有達磨阿育王。又島史第五章載阿育王治世年間是三十七年。〔大莊嚴經論卷三、卷四、卷十、撰集百緣經卷十、阿育王傳、阿育王經、阿育王息壞目因緣經、付法藏因緣傳卷三、大唐西域記卷八、阿育王事蹟、印度宗教史考、印度哲學研究卷二、卷四〕",
"Search1": "a dục vương",
"Search2": "a duc vuong"
},
{
"Id": 228,
"Word": "a dục vương",
"Dict": 7,
"Mean": "Aśoka (S), Asoka (P)1- Theo sử ghi trên đá trong xứ của ngài, lên ngôi năm 273BC, thì ngài được tôn vương năm 268 BC, qui y Phật năm 261 BC, thọ Tỳ kheo năm 259BC. Ngài mở đại hội kết tập thứ nhất, ở ngôi 37 năm, tịch năm 256 BC. 2- Hoa Vô Ưu: Hoa A du ca, A thúc ca. Hoa được người Ấn độ ăn hay dâng cúng thần Siva. 3- Vị thị giả Phật Tỳ bà Thi, dịch là: A thúc Ca, Vô Ưu tử Phương Ưng.",
"Search1": "a dục vương",
"Search2": "a duc vuong"
},
{
"Id": 229,
"Word": "a dục vương",
"Dict": 6,
"Mean": "Asoka (S). King Asoka.",
"Search1": "a dục vương",
"Search2": "a duc vuong"
},
{
"Id": 230,
"Word": "a dục vương",
"Dict": 2,
"Mean": "Vị vua thời cổ Ấn Độ, thái tổ của triều đại Maurya. Một quân vương Phật tử, đã cải sang đạo Phật từ Ấn Độ giáo sau một cuộc trường chinh—Emperor of Ancient India, founder of Maurya Dynasty. A great Buddhist ruler, who was converted to Buddhism from Hinduism after a long period of war and conquest.",
"Search1": "a dục vương",
"Search2": "a duc vuong"
},
{
"Id": 231,
"Word": "a dục vương",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿育王) Phạm: Azoka, Pāli: Asoka. Cũng gọi A-du-ca, A-du-già, A-thứ-già, A-thú-khả, A-thúc. Dịch ý: Vô Ưu Vương (vua không lo). Còn có tên Thiên Ái Hỉ Kiến Vương (Phạm: Devànaôpriya priyadrasì, trời thương yêu thấy thì mừng). Là vua đời thứ ba của triều đại Khổng Tước nước Ma-yết-đà Trung Ấn Độ. Vua ra đời khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch, thống nhất Ấn Độ, là nhà bảo hộ Phật giáo mạnh mẽ nhất. Ông nội vua là đại vương Chiên-đà-la-cấp-đa (Phạm: Candragupta), người sáng lập triều đại Khổng Tước; thân phụ là vua Tân-đầu-sa-la (Phạm:Bindusàra), thân mẫu là A-dục-vi-đạt-na (Phạm:Azokàvadàna) con gái của một nhà Bà-la- môn ở thành Thiệm-ba. Lúc còn nhỏ, A-dục rất cuồng bạo, không được vua cha yêu mến. Gặp khi nước Đức-xoa-thi-la (Phạm:Takwazìla) làm phản, vua cha sai ông đi dẹp loạn, cốt ý cho chết ngoài chiến trận. Nhưng không ngờ A-dục lại đánh tan quân phản loạn và quyền uy lừng lẫy. Sau khi vua cha mất, ông giết hết anh em rồi lên làm vua. Có chỗ nói, A-dục giết chết chín mươi chín người anh em; sau khi lên ngôi vẫn rất bạo ác, tàn sát đại thần, phụ nữ, làm thêm nhà ngục, giết hại trăm họ vô tội, bởi thế gọi là Chiên-đà A-dục vương (Phạm: Caịđàzoka - vua A-dục bạo ác). Ấn Độ Phật giáo sử của Đa-la-na-tha gọi ông là Ái dục A-dục (Phạm: Kàmàzokavua A dục tham muốn). Nhưng trong các chương 4, 5, 6 của Pháp sắc khắc trên vách núi lớn, chương 7 trong Pháp sắc khắc trên cột đá và Pháp sắc của Hoàng hậu v.v... đều chép rằng, trong thời gian vua A- dục cai trị, vẫn còn có anh em chị em. Bởi thế, truyền thuyết cho vua A- dục đã giết hết anh em có thể đã do đời sau nói phóng đại. Vua lấy thành Hoa Thị làm thủ đô, phạm vi cai trị bao quát toàn bộ Bắc Ấn Độ, một nửa Đại hạ, phía nam đến Án-đạt-la, phía đông đến bờ biển, ngang dọc vài nghìn dặm. Vua lại thi hành chính sách hợp lòng dân, yêu chuộng chân lí, giàu tinh thần bác ái, thực là từ khi Ấn Độ có lịch sử, vua A-dục là nhà thống trị có thành tích lớn lao mà trước ông chưa ai có được. Về năm tháng và nhân duyên vua qui y Phật, có nhiều thuyết khác nhau. Truyện A-dục vương quyển 1 nói, nhân thấy đạo hạnh của Tỉ-khưu Hải (Phạm: Samudra) mà vua qui y Phật. Chương 6 trong Đảo Sử và Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 1 thì nói, do sự cảm hóa của ngài Ni-cù-đà (Pāli: Nigrodha) mà vua qui y Phật. Chương 6 trong Ấn Độ Phật Giáo Sử của Da-la-na-tha bảo, do sự tích kì lạ của vị đệ tử của A-la-hán Da-xá (Phạm:Yaza) mà vua qui y Phật. Theo Pháp sắc khắc trên vách núi nhỏ ghi, sau khi qui y Phật, hơn hai năm rưỡi, tuy đã là Ưu-bà-tắc, nhưng vua chưa dốc lòng tin Phật, sau hơn một năm, vua mới gần gũi chư tăng và nhiệt tâm tu đạo. Khảo sát chung những đoạn ghi chép trên đây với câu Quán đính lên ngôi hơn mười năm thì đến với tâm Bồ-đề trong chương 8 của Pháp sắc khắc trên vách núi lớn, thì biết vua đã trở thành Ưu-bà-tắc vào khoảng năm thứ bảy kể từ sau khi lên ngôi. Nhưng chương 6 trong Đảo sử thì chép, sau khi lên ngôi được ba năm thì vua qui y Phật. Lại theo chương 13 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn chép, sau khi lên ngôi được tám năm, thì vua chinh phục Yết-lăng-già (Phạm: Kalinga), thấy cảnh giết chóc thảm thương, vua rất xúc động, do vậy mà niềm tin Phật giáo lại càng kiên cố. Từ đó, vua quyết không dùng sức mạnh quân sự để mưu tìm con đường thống nhất nữa, và, với niềm tin sự thắng lợi nhờ chính pháp mà đạt được là sự thắng lợi trên hết (chương 13 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn), vua dốc sức vào việc truyền bá Phật pháp. Do đó, phần nửa đời sau của vua được gọi là Đạt-ma A-dục vương (Phạm: Dharmàzoka- vua A-dục chính pháp). Theo truyền thuyết, vua cho xây dựng tám vạn bốn nghìn ngôi chùa và tám vạn bốn nghìn tháp Phật khắp trong nước. Việc này đều được ghi chép trong chương 6 của Đảo sử, trong Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa quyển 1, trong kinh Tạp A-hàm quyển 23, trong truyện A-dục Vương quyển 1, v.v... Nhưng trong các Pháp sắc của vua thì không thấy ghi việc này. Lại Thiện Kiến Luật Tì-bà- sa quyển 2 cho biết, vua lên ngôi được mười bảy năm thì mở đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba ở thành Hoa Thị, thỉnh ngài Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (Pāli: Moggaliputta-tissa) làm Thượng tọa, có một nghìn vị Trưởng lão tham dự, qua chín tháng mới hoàn thành. Kế đó, vua phái các vị có tên sau đây đi các nơi để truyền đạo: - Mạt-xiển-đề (Pāli: Majjhantika) đến nước Kế Tân (Pāli: Kasmìra) và nước Kiện-đà-la (Pāli: Gandhàra). -Ma-ha-đề-bà (Pāli: Mahàdeva) đến nước Ma-hê-sa Mạn-đà-la (Pāli: Mahisakamaịđala). - Lặc-khí-đa (Pāli: Rakkhita) đến nước Bà-na-bà-tư (Pāli:Vanavàsi). - Đàm Vô Đức (Pāli: Yonaka-dham marakkhita) đến nước A-ba-lan-đa-ca (Pāli:Aparantaka). – Ma-ha Đàm Vô Đức (Pāli: Mahàdham marakkhita) đến nước Ma-ha-lặc-đà (Pāli: Mahàraỉỉha). - Ma ha-lặc-khí-đa (Pāli: Mahàrakkhita) đến nước Du-na thế-giới (Pāli: Yonaka-loka). - Mạt-thị-ma (Pāli: Majjhima) đến nước Tuyết sơn biên (Pāli: Himavantapadesa). – Tu-na-ca (Pāli: Sonaka) và Uất-đa-la (Pāli: Uttara) đến nước Kim Địa (Pāli: Suvaịịabhùmi). – Ma-hi-đà (Pāli: Mahinda), Uất-đế-dạ (Pāli: Uttiya), Tham-bà-lâu (Pāli: Sambala) và Bạt- đà (Pāli: Bhaddasàla) đến nước Sư Tử (Pāli: Tambapaịịidìpa). Lại chương 7 trong Đảo sử có chép, Ca-tha-bạt-thâu (Pāli: Kathàvatthu) trong tạng luận Pāli đã được kết tập vào thời bấy giờ. Nhưng trong các Pháp sắc của vua không thấy ghi chép việc này. Tuy nhiên, các chương 3, 5 và 13 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn có ghi: mỗi năm năm, vua mở hội nghị các quan lại thuộc ngành Tư pháp và Thuế vụ để răn dạy về pháp, thụ lập pháp và đặt thêm các Đại pháp quan (Pāli: dhamma-mahàmàta). Khu vực truyền bá chính pháp xa đến Tự-lợi-á (Syria), Ai Cập, Mã Kì Đốn (Macedonia), Tắc-lợi-ni (Cyrene) v.v... Còn về truyền thuyết kết tập lần thứ ba, thì truyện A-dục vương do phương Bắc truyền hoàn toàn không đề cập gì đến. Luận Đại Trí Độ quyển 2 tuy có nói (Đại 25,70 Thượng): Vua A-du-ca mở đại hội Ban-xà-vu-sắt, các vị đại luận sư nghị luận khác nhau, vì thế có tên là Biệt bộ. Tuy vậy, đây cũng không thể cho là ý kết tập. Do đó, có thể nói, truyền thuyết về cuộc kết tập kinh điển lần thứ ba này, sự thật thế nào chưa được rõ. Về những kinh điển được lưu truyền đương thời vua A-dục, thì trong Pháp sắc khắc trên vách núi nhỏ ở Gia- nhĩ-các-đạt Bái-la-đặc (Calcutta-Bairàt) có ghi bảy thứ: 1. Tì-nại-da tối thắng pháp thuyết (Phạm: Vinaya-samukase). 2. Thánh Chủng kinh (Phạm:Aliya-vasàịì). 3. Đương Lai Bố Uý kinh (Phạm: Anàgata-bhyàni). 4. Mâu-ni kệ (Phạm: Muni-gàthà). 5. Tịch Mặc Hành kinh (Phạm: Moneya-sùte). 6. Ưu-ba-đế Sa-môn kinh (Phạm: Upatisa-pasine). 7. Thuyết La Hầu La kinh (Phạm: Làghulovada). Mấy thứ kinh trên đây, tương đương với: - Đại phẩm trong tạng Luật, - Tăng Chi bộ kinh, - Kinh Tập, một bộ phận trong Trung Bộ kinh thuộc Đại tạng Pāli. Lại Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 2 thì nêu ra các kinh mà những vị sư truyền đạo do vua A-dục phái đi đã giảng nói tại các nơi gồm có tám thứ sau đây: 1. Kinh Độc Thí Dụ (Pāli: Asivisopama-suttanta) 2. Kinh Thiên Sứ (Pāli: Devadùtasutta) 3. Kinh Vô Thủy (Pāli: Anamataggapariyàya-kathà) 4. Kinh Hỏa Tụ Thí (Pāli: Aggikkhandho-pama-suttantakathà) 5. Kinh Ma Ha Na La Đà Ca Diếp Bản Sinh (Pāli: Mahànàradakassapa-jàtaka) 6. Kinh Ca-la-la-ma (Pāli: Kàlakàràmasuttanta) 7. Kinh Sơ Chuyển Pháp Luân (Pāli: Dhammacakkapavattana-suttanta) 8. Kinh Phạm Võng (Pāli: Brahmajàlasuttanta) Chương 8 trong Đảo sử cũng nêu các kinh mà các nhà truyền đạo đã thuyết giảng, gồm có năm bộ: 1. Anamataggiya 2. Aggikkhandhopama-suttakathà 3.Nàradakassapa-jàtakakathà 4. Kàlakaràma-suttantakathà 5. Dhammacakkappavattana. Tất cả các kinh nêu trên, có thể nói, đều là những kinh điển được lưu truyền ờ đương thời vua A-dục. Còn theo các chương 1 đến 4 và 11 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn, các chương 5, 7 trong Pháp sắc khắc trên cột đá ghi chép, thì sau khi lên ngôi, vua đã ban hành hai mươi sáu lần đặc xá. Ngoài ra, vua còn cấm sát sinh, làm việc bố thí, trồng cây hai bên đường, đào giếng v.v... Lại trên cột đá hiện còn ở trong vườn Lâm-tì-ni - nơi đức Phật đản sinh - có khắc câu: Sau khi quán đính lên ngôi được hai mươi năm thì đến nơi này. Pháp sắc khắc trên cột đá ở Ni-cát-lợi-ngõa (Pāli: Nigliva), có chép việc vua tham bái tháp Phật Câu Na Hàm Mâu Ni (Pāli: Konàgamana) và sửa chữa tháp này. Cuối đời, vua A-dục có vẻ rất buồn thảm. Theo truyện A Dục Vương quyển 3 chép, thì Vương hậu Đế-sa-la- xoa (Phạm:Tassàrakkhà) muốn tư thông với Vương tử Câu-na-la (Phạm: Kunàla), nhưng bị cự tuyệt, do đó, bà ta sai người móc mắt Vương tử. Vua nổi giận đốt sống Đế-sa-la-xoa, rồi đem tất cả của báu cúng dường hết, đến nỗi không còn một vật gì để cúng. Cuối cùng, vua lấy một nửa quả Am-ma-la (Phạm: àmalaka) cúng dường chùa Kê Tước (Phạm: Kurkuỉa). Về niên đại vua ra đời, xưa nay có nhiều thuyết khác nhau. Chương 13 trong Pháp sắc khắc trên vách núi lớn nói: Các vua của năm Vương quốc thuộc Hi Lạp ở ngôi cùng số năm là 261 trước Tây lịch, hoặc khoảng 14 hay 15 năm, từ năm 272 đến năm 258 trước Tây lịch. Như vậy, ta có thể suy đoán là vua lên ngôi vào khoảng năm 270 trước Tây lịch. Về số năm từ khi đức Phật nhập diệt đến khi vua A-dục ra đời, thì kinh Tạp A-hàm Bắc truyền quyển 23, kinh Hiền Ngu quyển 3 phẩm A-du-ca Thí Thổ, kinh Tăng Già La Sát Sở Tập quyển Hạ, kinh Tạp Thí Dụ quyển Thượng, Đại Trang Nghiêm kinh luận quyển 10 và luận Đại Trí Độ quyển 2 v.v... ghi là vua ra đời sau đức Phật nhập diệt một trăm năm; luận Dị Bộ Tông Luân thì chép sau Phật nhập diệt hơn một trăm năm; luận Thập Bát bộ và luận Bộ Chấp Dị, thì bảo một trăm mười sáu năm. Lại chương 6 trong Đảo sử và Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 2 chép, sau đức Phật nhập diệt hai trăm mười tám năm thì vua lên ngôi, còn đức Phật nhập diệt khoảng một trăm năm thì có vua Ca-la A-dục (Phạm: Kàlàzoka) đang ở ngôi. Vu Điền Huyền Kí (Li#i-yulluị-bstan-pa) văn Tây Tạng chép, sau đức Phật nhập diệt hai trăm ba mươi tư năm có vua Đạt-ma A-dục. Còn chương 5 trong Đảo sử thì cho biết, thời gian vua A-dục cai trị là ba mươi bảy năm. [X. Đại Trang Nghiêm kinh luận Q.3, Q.4, Q.10; Soạn tập Bách Duyên kinh Q.10; A Dục Vương truyện; A Dục Vương kinh; A Dục Vương Tức Hoại Mục Nhân Duyên kinh; Phó pháp Tạng Nhân Duyên truyện Q.3; Đại Đường Tây Vực Kí Q.8, A Dục Vương Sự Tích; Ấn Độ Tông Giáo Sử khảo; Ấn Độ Triết Học Nghiên Cứu Q.2, Q.4].",
"Search1": "a dục vương",
"Search2": "a duc vuong"
},
{
"Id": 232,
"Word": "a dục vương khắc văn",
"Dict": 8,
"Mean": "3636又稱阿育王法勅。指古印度孔雀王朝阿育王勅令於磨崖、石柱等所刻之教法誥文。刻文年代約爲西元前二五○年。所用文字是接近梵文與巴利文的一種方言。今發現者計有大磨崖、小磨崖各七所、石柱十根、石窟刻銘及石板等五種。除小磨崖法勅有阿育王之名外,餘皆刻以天愛喜見王(梵 Devānaṃpriya priyadraśi,巴 Devānaṃpiya piyadassin)之名。此種法勅刻文,所在範圍甚廣,幾遍及全印度。高僧法顯傳、大唐西域記中屢次提到的石柱即指此,其後湮沒,世人遂無知之者。直至西元一三五六年,回教王菲羅茲夏爾(Fīroz Shāl)在距離德里(Dehli)一百六十餘公里及六十餘公里處各發現一根石柱,並將之移至德里。至百年前爲英領東印度協會之霍爾上尉(Captain Hoare)所注意,爾來又陸續於印度、尼泊爾、阿富汗等地發現。後經普林斯(Prinsep)苦心研讀,至一八三七年得以確認爲阿育王刻文,遂爲印度史及佛教史之研究,大放異彩。 阿育王刻文與錫蘭所傳之大史、島史一致,阿育王之政治領域和弘教施設亦可由此窺知。於此,並反映了阿育王對政治、道德、佛教等之觀點及其行政管理制度。其中,大磨崖刻銘皆刻於大石或岩丘,其中有所缺略,均各有十四章誥文,但也有別刻二章以代替者。所刻文字爲佉盧瑟底(梵 Kharoṣṭhī)古體字或古梵文(梵 Brahmī)。考其記載,可知係阿育王即位十二年至十四年間所刻成。概言之,其大意爲禁止殺生、設立療養院、鑿井、訂定會議制度、頒藥劑並鼓勵栽植藥草、每五年官民共同舉行一次無遮大會、興法利生、確保有司對教法之興隆及民眾之安和幸福、尊重信仰自由、和異教徒之抗爭應謹慎、禁止虛偽背德之儀禮、應舉行正法之式典、爲來世之福樂應脫離先世之罪業。此誥文顯示阿育王痛悔征服羯结迦所帶來之悲慘,因而皈依佛法並熱心於弘揚佛法,相信依教法之征服方是最勝之征服。而其主要目的爲向希臘人傳布佛教。 小磨崖各刻誥文一章或二章,有同有異,但全異於前述之十四章。刻文大意爲對外擴充大法之教域,對內應舉孝順之實;另有別文一章,訓諭摩揭陀國之僧眾應長久持續大法。 十根石柱中,六根刻有相同之誥文六章。其餘四根則刻別文各一章,且於此四石柱之柱頭有鈴形圓板,上置獅子像,側緣有蓮花、鵝等類之彫刻。其長,小者高約八公尺,大者高及十餘公尺。考據諸刻文,乃阿育王即位二十六年至二十九年所製,內容爲禁止殺生,有司應以仁慈爲旨而使賞罰之道不誤,獎掖民眾以正義而脫離惡業,爲王者對待臣民不分種族、階級、信仰,一以慈愛視之。別文則刻記王妃施捨樹林等因緣,或王參拜建柱等事蹟。石窟之銘文,各記其洞崖施捨之事蹟。石窟位於菩提伽耶(梵 Buddha-gaya)北方二十餘公里之帕拉帕爾丘(Barābar),共計有四窟,其中三窟之刻文記載施與洞窟之事蹟。晚近才發現之石板本是奧立沙(Orissa)附近一農家之壁石。上記各種刻文中,特別值得注意者爲磨崖刻文第十三條,內容係阿育王與外國之交涉,文中出現之希臘王約當西元前二六○年至二五八年之人物,以此可推知阿育王出世之年代及佛教之傳布地域。〔印度宗教史考、佛典結集、阿育王事蹟、É. Senart: Inscriptions de Piyadasi; E. Hultzsch: Corpus Inscriptionum Indicarum;V.A. Smith: Asoka〕",
"Search1": "a dục vương khắc văn",
"Search2": "a duc vuong khac van"
},
{
"Id": 233,
"Word": "a dục vương khắc văn",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿育王刻文) Cũng gọi A-dục Vương pháp sắc. Chỉ các bài văn răn dạy, mang nội dung Phật pháp, do vua A-dục thuộc triều đại Khổng Tước ở Ấn Độ đời xưa, ra lệnh khắc ở các vách núi và trên các cột đá. Những bài văn này được khắc vào khoảng năm 250 trước Tây lịch. Văn tự dùng để khắc là một thứ tiếng địa phương (thổ âm) gần với tiếng Phạm và tiếng Pāli. Hiện nay người ta đã phát hiện được năm loại: bảy chỗ vách núi lớn, bảy chỗ vách núi nhỏ, mười cột đá, bài minh khắc trong hang đá và trên bản đá. Chỉ trong các pháp sắc khắc trên vách núi nhỏ là có tên vua A-dục, ngoài ra, các loại khác đều dùng tên Vua Thiên Ái Hỉ Kiến (Phạm: Devànaôpiya piyadrazi, Pāli: Devànaôpiya piyadassin). Loại văn khắc pháp sắc này có phạm vi rất rộng, hầu như rải rác khắp Ấn Độ. Cao tăng Pháp Hiển truyện và Đại Đường Tây Vực Kí đã nhiều lần đề cập đến những cột đá này, về sau bị mai một, nên người đời không còn ai biết đến nữa. Mãi đến năm 1356, vua Hồi giáo là Fìroz Shàl mới phát hiện hai cột đá: một ở nơi cách Dehli hơn một trăm sáu mươi cây số và một ở chỗ khác cách Dehli hơn sáu mươi cây số, tất cả được dời về Dehli. Đến cách nay một trăm năm về trước, hai cột đá này được Thượng úy Hoare thuộc công ty Đông Ấn Độ của người Anh chú ý, rồi từ đó các cột khác được lục tục tìm thấy ở Ấn độ, Népal, A-phú-hãn v.v... Sau nhờ Prinsep khổ công nghiên cứu, đến năm 1837 mới xác nhận được đó là văn khắc của vua A-dục. Việc nghiên cứu lịch sử Ấn Độ và lịch sử Phật giáo từ đó tỏa ra nhiều màu sắc mới lạ. Những văn khắc của vua A-dục hoàn toàn ăn khớp với Đại sử, Đảo sử lưu truyền ở Tích Lan, nhờ đó có thể biết được lĩnh vực chính trị và công việc truyền giáo của vua A-dục. Đồng thời, nó phản ánh quan điểm đối với chính trị, đạo đức, Phật giáo và chế độ quản lí hành chính của vua A-dục. Những bài minh khắc trên vách núi lớn đều khắc trên tảng đá to hoặc trên gò đá, trong đó có chỗ khuyết lược, đều có mười bốn chương cáo văn, nhưng cũng có chỗ khắc riêng hai chương để thay thế. Văn tự dùng để khắc là chữ thể xưa Khư-lô-sắt-để (Phạm: Kharowỉhì) hoặc tiếng Phạm cổ (Phạm: Brahmè). Khảo xét phần ghi chép, có thể biết những văn khắc này được khắc vào khoảng từ mười hai đến mười bốn năm sau khi vua A-dục lên ngôi. Nói một cách khái quát, đại ý của những văn khắc này là cấm chỉ sát sinh, xây dựng các bệnh viện, viện dưỡng lão, đào giếng, sửa lại và định chế độ hội nghị, phát thuốc và khuyến khích trồng cây thuốc. Cứ năm năm một lần, vua mở đại hội Vô giá, quan dân đều tham dự, hoằng pháp lợi sinh, bảo đảm sự hưng thịnh của Phật pháp và hạnh phúc yên vui của nhân dân; tôn trọng tự do tín ngưỡng, khéo léo hòa giải sự xích mích giữa các tín đồ của các tôn giáo khác nhau; cấm chỉ các nghi lễ giả dối trái đạo đức, phải đề cao những nghi thức hợp với chính pháp, vì phúc lạc ở đời sau, phải thoát ly tội nghiệp đời trước. Cáo văn này bày tỏ niềm hối hận sâu xa của vua A-dục về nỗi bi thảm do cuộc chinh phục nước Yết-lăng-ca mang lại. Chính vì đó mà vua qui y Phật giáo và hết lòng hoằng dương chính pháp, tin rằng chỉ có chinh phục bằng chính pháp là sự chinh phục hơn hết. Nhưng mục đích chủ yếu của vua là truyền bá Phật giáo cho người Hi Lạp. Những cáo văn khắc trên vách núi nhỏ có một chương hoặc hai chương, có giống nhau, khác nhau, nhưng hoàn toàn khác với mười bốn chương nói ở trên. Đại ý các văn khắc là: đối với bên ngoài thì mở rộng khu vực truyền bá đại pháp, đối với bên trong thì phải nêu cao sự hiếu thuận chân thực. Ngoài ra, còn có một chương riêng dạy bảo chư tăng nước Ma-yết-đà phải giữ gìn và tiếp nối đại pháp cho lâu dài. Trong mười cột đá, thì trên sáu cột khắc sáu chương cáo văn giống nhau. Bốn cột còn lại, mỗi cột khắc một chương văn khác nhau, và trên đầu cột của bốn cột đá này có tấm đá tròn hình cái chuông, trên để tượng sư tử, chung quanh riềm chạm trổ hoa sen, gỗng v.v... về chiều cao, cột nhỏ cao chừng tám mét, cột lớn cao tới hơn mười mét. Khảo xét những văn khắc, có thể biết vua A-dục đã làm những văn khắc này vào khoảng hai mươi sáu năm đến hai mươi chín năm sau khi lên ngôi. Nội dung cấm chỉ giết hại, các quan phải lấy nhân từ làm chính để làm cho đạo thưởng phạt không lầm; khuyên dân chúng dùng chính nghĩa để xa lìa nghiệp ác; vua đối đãi với thần dân không phân biệt chủng tộc, giai cấp, tín ngưỡng, mà chỉ nhìn họ bằng đôi mắt thương yêu như một. Còn những chương văn khác thì khắc ghi nhân duyên Vương phi bố thí rừng cây v.v... hoặc ghi việc vua tham bái các Phật tích và dựng cột đá. Những văn khắc trong hang đá, đều ghi sự tích bố thí hang động. Ở gò Phạ-lạp-phạ-nhĩ (Baràbar), cách Bồ-đề-già-da (Phạm: Buddha-gaya) hơn hai mươi cây số về mạn Bắc, có bốn hang đá, trong đó, ba hang có văn khắc ghi chép việc bố thí hang động. Bản đá mới tìm thấy gần đây vốn là đá vách của một nhà nông ở gần Orissa. Trong các loại văn khắc trên đây, đặc biệt đáng chú ý là điều 13 trong văn khắc trên vách núi, nội dung nói về việc vua A-dục giao thiệp với nước ngoài. Nhân vật xuất hiện trong văn là ông vua Hi Lạp vào khoảng năm 260 đến 258 trước Tây lịch, nhờ đó có thể suy đoán mà biết niên đại vua A-dục ra đời và khu vực truyền bá Phật giáo. [X. Ấn Độ Tông Giáo Sử Khảo; Phật Điển Kết tập; A-dục Vương Sự Tích; É. Senart: Inscriptions de Piyadasi; E. Hultsch: Corpus Inscriptionum Indicarum; V. A. Smith: Asoka].",
"Search1": "a dục vương khắc văn",
"Search2": "a duc vuong khac van"
},
{
"Id": 234,
"Word": "a dục vương sơn",
"Dict": 8,
"Mean": "3632位於浙江鄞縣東。略稱育王山。舊稱鄮山。西晉武帝太康二年(281,一說三年,或泰始元年),慧達(俗名劉薩訶)至鄮縣之鄮山得古塔一座,認爲係阿育王八萬四千塔之一,遂建精舍供奉該塔,並改稱鄮山爲阿育王山。其後所建精舍,歷經擴增,成爲我國禪宗五山第五位之阿育王寺,至宋代爲臨濟宗之道場,宗杲、德光、師範等先後布教於此,一時稱盛。〔佛祖統紀卷三十六、卷四十三、卷四十五、卷四十七、卷五十三、法苑珠林卷三十八、育王寺志〕(參閱「阿育王寺」3636)",
"Search1": "a dục vương sơn",
"Search2": "a duc vuong son"
},
{
"Id": 235,
"Word": "a dục vương sơn",
"Dict": 7,
"Mean": "Aikuōzan (J), Ayuwang-shan (C).",
"Search1": "a dục vương sơn",
"Search2": "a duc vuong son"
},
{
"Id": 236,
"Word": "a dục vương sơn",
"Dict": 2,
"Mean": "Núi vua A Dục bên Tàu—Asoka Mountain in China.",
"Search1": "a dục vương sơn",
"Search2": "a duc vuong son"
},
{
"Id": 237,
"Word": "a dục vương sơn",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿育王山) Núi nằm về phía Đông huyện Ngân tỉnh Triết Giang Trung Quốc. Gọi tắt là núi Dục Vương, xưa gọi là núi Mậu. Vào năm Thái Khang thứ 2 (281, có thuyết cho là năm thứ 3, hoặc niên hiệu Thái Thủy năm đầu) thời Vũ Đế nhà Tây Tấn, ngài Tuệ Đạt (tên tục là Lưu-tát-ha), đến núi Mậu thuộc huyện Mậu, ngài thấy một ngôi tháp cổ, và cho đó là một trong số tám vạn bốn nghìn tháp do vua A-dục xây dựng, ngài liền cất tịnh xá để thờ tháp này, và đổi núi Mậu là núi A-dục Vương. Tịnh xá của ngài Tuệ Đạt, về sau được mở rộng thêm thành chùa A Dục Vương, là sơn môn thứ năm trong năm sơn môn của Thiền tông Trung Quốc. Đến đời Tống, chùa A Dục Vương là đạo tràng của tông Lâm Tế. Các thiền sư Tông Cảo, Đức Quang, Sư Phạm v.v... đã lần lượt đến truyền giáo đây, qua một thời hưng thịnh. [X.. Phật Tổ Thống Kỉ Q.36, Q.45, Q.47, Q.53; Pháp Uyển Châu Lâm Q.38; Dục Vương Tự Chí] (xt. A Dục Vương Tự).",
"Search1": "a dục vương sơn",
"Search2": "a duc vuong son"
},
{
"Id": 238,
"Word": "a dục vương thạch trụ",
"Dict": 8,
"Mean": "3635西元前三世紀,古印度孔雀王朝阿育王在恆河流域,爲彫刻法勅(梵 dharma-dipi,巴 dhamma-lipi)所建之圓形石柱,至今被發現者共有十柱。其中六柱高度自十至十三公尺不等,所刻法勅共通之內容係尊重佛法、勸善斷惡、禁止殺生、仁慈平等,及有關人類之福祉等六章,此外,各柱亦載有阿育王之事蹟。其餘四柱,高度約七點五公尺,各柱所刻之法勅內容不一,大約爲禁止破和合僧,以及阿育王自身之佛蹟巡禮等記載。石柱上端彫有各種獸類,例如獅像,雖年代久遠,至今依然清晰可辨,而石柱上所彫之古印度年代,尤受學術界重視。(參閱「阿育王刻文」3637)",
"Search1": "a dục vương thạch trụ",
"Search2": "a duc vuong thach tru"
},
{
"Id": 239,
"Word": "a dục vương thạch trụ",
"Dict": 2,
"Mean": "Trụ đá do vua A Dục của Ấn Độ dựng lên năm 250 trước Tây Lịch trong vườn Lâm Tỳ Ni của xứ Nepal, ghi dấu nơi Đức Phật đản sanh năm 624 trước Tây Lịch—Asoka Marble Pillar, a pillar erected by Indian king of Asoka in 250 B.C. in Lumbini garden in present-day Nepal, to show that the Buddha was born here in 624 B.C.",
"Search1": "a dục vương thạch trụ",
"Search2": "a duc vuong thach tru"
},
{
"Id": 240,
"Word": "a dục vương thạch trụ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿育王石柱) Cột đá hình tròn do vua A-dục thuộc Đầu cột trên cột đá của Vua A Dục triều vua Khổng Tước của Ấn Độ xây dựng ở lưu vực sông Hằng vào thế kỉ thứ III trước Tây lịch, để khắc pháp sắc (Phạm: dharma-dipi, Pāli: dhamma-lipi). Đến nay người ta đã phát hiện mười cột. Trong số này, có sáu cột cao từ mười đến mười ba mét không đều nhau. Các pháp sắc được khắc gồm có sáu chương chung một nội dung: tôn trọng Phật pháp, khuyên làm việc lành, dứt bỏ điều ác, cấm chỉ giết hại, nhân từ bình đẳng, tạo phúc lợi cho mọi người... Ngoài ra, trên các cột đá đều có ghi chép sự tích vua A-dục. Bốn cột còn lại cao khoảng bảy mét rưỡi, nội dung pháp sắc trên bốn cột này không giống nhau, đại khái là cấm phá hòa hợp tăng, và ghi việc vua A-dục đi chiêm bái các Phật tích. Trên đầu cột đá có chạm hình các loài thú, chẳng hạn như tượng sư tử. Tuy đã lâu đời, nhưng đến nay, những hình tượng ấy vẫn còn có thể phân biệt được rõ ràng. Và niên đại của Ấn Độ xưa khắc trên các cột đá rất được giới học thuật coi trọng. (xt. A Dục Vương Khắc Văn).",
"Search1": "a dục vương thạch trụ",
"Search2": "a duc vuong thach tru"
},
{
"Id": 241,
"Word": "a dục vương tháp",
"Dict": 8,
"Mean": "3639指阿育王所建之諸塔。阿育王歸依佛以後,大興佛事,到處建立寺塔,奉安佛舍利並供養僧眾。據善見律毘婆沙卷一所載,由於阿育王所統領之國,其數有八萬四千,王詔勅諸國建八萬四千大寺與八萬四千寶塔。阿育王傳卷一及阿育王經卷一載,王由海比丘知佛懸記事,乃詣王舍城,取阿闍世王所埋四升舍利,又悉取其他六處所埋之舍利,造八萬四千寶篋,一篋盛一舍利,復造八萬四千寶甕、八萬四千寶蓋、八萬四千疋綵,建八萬四千寶塔。高僧法顯傳及大唐西域記等,亦皆載王造八萬四千塔。又依雜譬喻經卷上載阿育王爲祈求疾病痊癒,建一千二百寶塔,並每日供養二萬僧徒,引起外道之嫉忌,企圖破壞佛法。上述經典雖載一千二百或八萬四千,其數未必可信,然阿育王實具興教護法之至情,故建立甚多寺塔似是事實。然此等諸塔,經久而悉數湮沒,幾已無存。印度之山琦(梵 Sanchī)古塔,似是其中之一,但未能確定。法顯、玄奘等旅行彼地時,曾目擊許多阿育王所建之窣堵婆,此由大唐西域記及高僧法顯傳即可見之。 又古來亦有阿育王塔留存於中國及日本之傳說。廣弘明集卷十五舉出鄮縣塔等凡十七塔,並以之爲阿育王八萬四千塔內之數塔。又法苑珠林卷三十八舉出鄮縣塔等,總列二十一塔,並云皆阿育王所造。此外,元開之唐大和上東征傳亦有同樣記載。然阿育王之領土,未曾達我國,故其所建之塔留存於此間應無可能。 又日本元亨釋書卷十一載,近江蒲生郡石塔寺即阿育王八萬四千舍利塔之一,此恐係吳越王錢弘俶所造而被訛傳。據佛祖統紀卷四十三載,宋代建隆元年(960)頃,吳越王錢弘俶仰慕阿育王造塔之事,乃以金銀精鋼造八萬四千塔,中藏寶篋印心咒經,擬散布於宇內。約十年完工。其時,有日僧日延至我國,得其中數塔攜回日本,後世或誤信爲阿育王所造之塔。",
"Search1": "a dục vương tháp",
"Search2": "a duc vuong thap"
},
{
"Id": 242,
"Word": "a dục vương tháp",
"Dict": 2,
"Mean": "Ngôi tháp Vua A Dục hay tháp Đại Giác do vua A Dục xây dựng vào thế kỷ thứ ba trước Tây Lịch ở Bồ Đề Đạo Tràng, nơi Đức Phật chứng đạo Vô Thượng Bồ Đề cách nay hơn 2.500 năm tại miền bắc Ấn Độ, bây giờ là một phần của Nepal. Phía sau Tháp Đại Giác, có một tháp nhỏ bằng đá, nằm trong khuôn viên của Bồ Đề Đạo Tràng, với những hình tượng nổi—The stupa of King Asoka or the Maha Bodhi Temple erected by king Asoka in the third century B.C. at Buddha Gaya where the Buddha attained enlightenment over 2,500 years ago in northern India, present-day part of Nepal. Behind the Maha Bodhi Temple at Buddha-Gaya, there is a small stupa, made of stone with the carved images of Buddhas.",
"Search1": "a dục vương tháp",
"Search2": "a duc vuong thap"
},
{
"Id": 243,
"Word": "a dục vương tháp",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿育王塔) Các tháp do vua A-dục xây dựng. Sau khi qui y Phật, vua A-dục làm rất nhiều Phật sự, đến đâu cũng xây dựng chùa tháp thờ Xá-lợi Phật và cúng dường chư tăng. Theo Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 1 chép, lúc bấy giờ có tám vạn bốn nghìn nước dưới quyền thống trị của vua A-dục, nhà vua ra lệnh cho các nước ấy xây dựng tám vạn bốn nghìn chùa lớn và tám vạn bốn nghìn ngôi tháp báu. Truyện A Dục Vương quyển 1 và kinh A Dục Vương quyển 1 chép, vua A-dục nhờ Tỉ-khưu Hải mà biết việc Phật nói trước, liền đến thành Vương Xá, lấy bốn thăng xá lợi do vua A- xà-thế chôn, và lấy hết xá lợi chôn ở sáu chỗ khác, rồi làm tám vạn bốn nghìn cái hộp báu, mỗi hộp đựng một viên xá lợi, lại làm tám vạn bốn nghìn cái lọ báu, tám vạn bốn nghìn cái nắp báu, tám vạn bốn nghìn xếp lụa, xây tám vạn bốn nghìn ngôi tháp báu. Truyện Cao tăng Pháp Hiển và Đại Đường Tây Vực Kí... cũng đều có nói việc vua A-dục xây tám vạn bốn nghìn ngôi tháp. Kinh Tạp thí dụ quyển thượng thì chép, để cầu hết bệnh, vua A-dục đã xây một nghìn hai trăm ngôi chùa và mỗi ngày cúng dường hai mươi nghìn vị tăng, khiến cho ngoại đạo ghen ghét, toan phá hoại Phật pháp. Các kinh điển nêu trên tuy nói một nghìn hai trăm hoặc tám vạn bốn nghìn chùa tháp, con số ấy chưa hẳn tin được; nhưng vì lòng nhiệt thành truyền giáo và bảo hộ chính pháp, mà vua A-dục đã xây dựng rất nhiều chùa tháp, thì đó là việc có thật. Rất tiếc, vì đã lâu đời, nên những chùa tháp ấy hầu hết đã bị mai một. Ngôi tháp cổ ở Sanchi bên Ấn Độ có lẽ là một trong những chùa tháp do vua A-dục dựng, nhưng điều này cũng chưa thể xác dịnh được. Khi các ngài Pháp Hiển, Huyền Trang đến Ấn Độ, đã thấy rất nhiều tháp do vua A-dục xây. Điều này được ghi trong Đại Đường Tây Vực Kí và Cao tăng Pháp Hiển truyện. Lại xưa nay cũng có truyền thuyết rằng, tháp của vua A-dục còn được lưu giữ ở Trung Quốc và Nhật Bản. Quảng hoằng minh tập quyển 13 nêu ra mười bảy ngôi tháp ở huyện Mậu, và cho đó là số tháp trong tám vạn bốn nghìn ngôi tháp của vua A-dục làm. Còn Pháp Uyển Châu Lâm quyển 38 nói, ở huyện Mậu có hai mươi mốt ngôi tháp, và cho tất cả đều do vua A-dục xây. Ngoài ra, Đường Đại Hòa Thượng Đông Chinh truyện của ngài Nguyên Khai cũng ghi chép giống như thế. Nhưng, lãnh thổ của vua A- dục chưa bao giờ được mở rộng đến Trung Quốc, do đó, những ngôi tháp do nhà vua xây còn được giữ lại ở Trung Quốc là điều không thể có. Lại Nguyên Hanh Thích Thư quyển 11 của Nhật Bản nói, chùa Tháp Đá ở quận Sinh gần Giang Phố, là một trong tám vạn bốn nghìn tháp xá-lợi do vua A-dục xây cất. Nhưng đây e là tháp do vua Ngô Việt Tiền hoằng thục làm rồi sau bị truyền lầm. Phật Tổ Thống Kỉ quyển 43 chép, khoảng niên hiệu Kiến Long năm đầu (960) đời Tống, vua Ngô Việt Tiền hoằng thục ngưỡng mộ việc vua A-dục xây tháp, bèn dùng vàng bạc và thép tốt làm tám vạn bốn nghìn tháp nhỏ, bên trong để kinh Bảo Kiếp Ấn Tâm Chú, rồi đem thờ khắp trong nước; khoảng mười năm công việc mới được hoàn thành. Bấy giờ, có vị sư người Nhật là Nhật Diên đến Trung Quốc, đưa được vài cái trong số tháp ấy về Nhật Bản, nên đời sau có người tin lầm là tháp do vua A-dục làm.",
"Search1": "a dục vương tháp",
"Search2": "a duc vuong thap"
},
{
"Id": 244,
"Word": "a dục vương truyện",
"Dict": 8,
"Mean": "3637凡七卷。西晉安法欽譯。收於大正藏第五十冊。本書記述阿育王之事蹟及摩訶迦葉、優波毱多等之因緣。共有十一品:(一)本施土緣,(二)阿育王本緣傳,(三)阿恕伽王弟本緣,(四)駒那羅本緣,(五)半菴羅果因緣,(六)優波毱多因緣,(七)摩訶迦葉涅槃因緣,(八)摩田提因緣,(九)商那和修因緣,(十)優波毱多因緣,(十一)阿育王現報因緣。其異譯本有阿育王經十卷(亦收於大正藏第五十冊),爲梁僧伽婆羅所譯,共有八品:(一)生因緣,(二)見優波笈多因緣,(三)供養菩提樹因緣,(四)鳩那羅因緣,(五)半菴摩勒施僧因緣,(六)佛記優波笈多因緣,(七)佛弟子五人傳授法藏因緣,(八)優波笈多弟子因緣。 其中,阿育王傳之(一)、(二)、(五)、(十)等四品與梵文本 Divyāvadāna(E.B. Cowell, R.A. Neil 等出版於西元一八八六年)之第二十六章至第二十九章,及雜阿含經卷二十三及卷二十五爲同本。又第四品鳩那羅因緣與西藏譯之 Ku-na-laḥi rtogs-pa-brjod-pa 相當。此外,梵文本 Divyāvadāna 中,有關阿育王之紀傳部分,西元一八四五年法人布諾夫(E. Burnouf)將之譯成法語,並刊載於其所著之印度佛教史緒論(Introduction ⑦ l'histoire du Bouddhisme indien)中。藏文本之阿育王傳說,法人菲爾(L. Feer)將之法譯,題爲阿育王傳說(Légende du roi Aśoka),西元一八六五年於法國巴黎刊行。又前述之 Divyāvadāna 之外,另有梵文本 Aśokavadāna,英人密特拉(R. Mitra)於西元一八八二年在其著作尼泊爾佛教文學(Nepalese Buddhist Literature)中譯出其大意。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷二、卷六、佛教史地考論(印順,妙雲集下編(9)第三)〕",
"Search1": "a dục vương truyện",
"Search2": "a duc vuong truyen"
},
{
"Id": 245,
"Word": "a dục vương truyện",
"Dict": 7,
"Mean": "Aśokāvadāna-mālā (S), Legends of King Asoka.",
"Search1": "a dục vương truyện",
"Search2": "a duc vuong truyen"
},
{
"Id": 246,
"Word": "a dục vương truyện",
"Dict": 6,
"Mean": "Asokàvadàna-màlà (S). Garland of the legends of King Asoka.",
"Search1": "a dục vương truyện",
"Search2": "a duc vuong truyen"
},
{
"Id": 247,
"Word": "a dục vương truyện",
"Dict": 2,
"Mean": "Stories of King Asoka.",
"Search1": "a dục vương truyện",
"Search2": "a duc vuong truyen"
},
{
"Id": 248,
"Word": "a dục vương truyện",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿育王傳) Sách truyện gồm 7 quyển, do ngài An Pháp Khâm đời Tây Tấn dịch, thu vào Đại Chính Tạng tập 50. Sách này ghi lại sự tích của vua Có tất cả mười một phẩm: 1. Bản thí thổ duyên. 2. A-dục vương bản duyên A-dục và nhân duyên của các tôn giả Ma-ha-ca-diếp, Ưu-ba-cúc-đa v.v... truyện. 3. A-thứ-già vương đệ bản duyên. 4. Câu-na-la bản duyên. 5. Bán Am-la quả nhân duyên. 6. Ưu-ba-cúc-đa nhân duyên. 7. Ma-ha Ca-diếp Niết-bàn nhân duyên. 8. Ma-điền-đề nhân duyên. 9. Thương-na hòa-tu nhân duyên. 10. Ưu-ba-cúc-đa nhân duyên. 11. A-dục vương hiện báo nhân duyên. Bản dịch khác của tập truyện này là: kinh A Dục Vương 10 quyển (cũng được thu vào Đại Chính Tạng tập 50), do ngài Tăng-già-bà-la dịch vào đời Lương, gồm có 8 phẩm: 1. Sinh nhân duyên. 2. Kiến Ưu-ba-cấp-đa nhân duyên. 3. Cúng dường Bồ-đề thụ nhân duyên. 4. Cưu-na-la nhân duyên. 5. Bán am-ma-lặc thí tăng nhân duyên. 6. Phật kí Ưu-ba-cấp-đa nhân duyên. 7. Phật đệ tử ngũ nhân truyền thụ pháp tạng nhân duyên. 8. Ưu-ba-cấp-đa đệ tử nhân duyên. Trong đây, bốn phẩm 1, 2, 5, 10 trong truyện A-dục vương là cùng bản với chương 26 đến chương 29 trong bản tiếng Phạm Divyàvadàna (do E. B. Cowell, R. A. Neil v.v... xuất bản vào năm 1886 Tây lịch) và quyển 23, 25 trong kinh Tạp A-hàm. Phẩm Cưu- ma-na nhân duyên tương đương với bản dịch Tây Tạng Ku-na-la#i rtogs-pabrjod-pa. Ngoài ra, học giả người Pháp E. Burnouf dịch bộ phận ghi chép truyện vua A-dục trong Divyàvadàna ra tiếng Pháp vào năm 1845 Tây lịch, và in chung trong tác phẩm Ấn Độ Phật Giáo Sử Tự Luận (Introduction à l’histoire du Bouddhisme indien) của ông. Còn L. Feer thì dịch A-dục vương truyền thuyết bản Tây Tạng ra tiếng Pháp, đề là Légende du roi Azoka (A dục vương truyền thuyết), ấn hành ở Paris năm 1865. Lại ngoài Divyàvadàna nói ở trên, còn có bản tiếng Phạm nữa là Azokavadàna, được R. Mitra (người Anh) dịch đại ý trong tác phẩm Nepalese Buddhist Literature (văn học Phật giáo Népal) của ông vào năm 1882. [X. Xuất Tam Tạng Kí tập Q.2; Khai Nguyên Thích Giáo Lục Q.2, Q.6; Phật Giáo Sử Địa Khảo luận (Ấn Thuận, Diệu Vân tập hạ biên 9 đệ tam)].",
"Search1": "a dục vương truyện",
"Search2": "a duc vuong truyen"
},
{
"Id": 249,
"Word": "a dục vương tự",
"Dict": 8,
"Mean": "3635<一>梵名 Aśokārāma。位於中印度摩揭陀國波吒釐子城雞園寺。因其爲阿育王所建,故南傳佛教稱之爲阿育王寺。〔島史第七章〕 <二>位於浙江鄞縣東阿育王山上。據法苑珠林卷三十八載,西晉武帝太康二年(281,一說三年,或泰始元年),有并州離石人,名劉薩訶者,於昏迷中,夢一胡僧,告以其罪當入地獄,宜往會稽頂禮阿育王塔等,以懺悔諸罪。甦醒後即出家,改名慧達。乃往會稽鄮縣尋塔,惟遍尋不獲而悲痛煩悶。某夜,忽聞地下有鐘聲傳來,歷時三日而有寶塔及舍利湧出。該塔非金玉銅鐵,亦非石土。呈紫烏色,其刻鏤異乎尋常,四面刻有薩埵王子變、捨眼變、出腦變、救鴿變等四種。塔上無露盤,中有懸鐘。慧達即於該地建精舍供奉該塔,並精勤禮懺。此爲阿育王山舍利殿之由來。 東晉安帝義熙元年(405),勅造塔、亭,及禪室,並命眾僧住持守護。劉宋元嘉二年(425),道祐奉勅修補該寺並增建浮屠三級。梁武帝普通三年(522),詔建殿堂房廊,賜額「阿育王寺」,其後,歷受簡文帝、陳宣帝、唐中宗、宣宗、懿宗、後周世宗等之敬仰。該寺原係律院,宋真宗時,賜額「廣利禪寺」,遂成十方禪剎。英宗時,大覺懷璉住之,大揚宗風,後經宗杲、介諶、德光、師範等師之經營,臨濟道場一時興盛。明洪武十五年(1382)重修,改名「育王禪寺」,爲天下禪宗五山之第五位。今存舍利殿、天王殿、大雄寶殿等。舍利殿之前茔壁中,嵌有宸奎閣碑、妙喜泉銘、唐阿育王寺常住田碑等。此外,瓜州、青州、河東蒲坂、并州等亦有同名之寺。〔梁高僧傳卷十三、法苑珠林卷三十一、釋氏稽古略卷四、古今圖書集成職方典第九七九〕",
"Search1": "a dục vương tự",
"Search2": "a duc vuong tu"
},
{
"Id": 250,
"Word": "a dục vương tự",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿育王寺) I. A-dục vương tự. Tên Phạm: Azokàràma. Tức chùa Kê Viên ở thành Ba-tra-li-tử nước Ma-yết-đà Trung Ấn Độ. Vì chùa này do vua A- dục xây dựng, nên Phật giáo Nam truyền gọi là chùa vua A-dục. [X. Đảo Sử chương 7]. II. A-dục vương tự. Chùa ở trên núi A-dục vương, phía đông huyện Ngân, thuộc tỉnh Triết Giang bên Trung Quốc. Pháp Uyển Châu Lâm quyển 38 chép, năm Thái Khang thứ 2 (281, có thuyết nói năm thứ 3, hoặc niên hiệu Thái Thủy năm đầu), đời Vũ Đế nhà Tây Tấn, có người xứ Li Thạch thuộc Tinh Châu, tên là Lưu-tát-ha, trong lúc mơ màng thấy một vị tăng người Ấn Độ bảo tội mình nặng, sẽ đọa vào địa ngục, phải đến Cối Kê lễ tháp A dục vương, để sám hối các tội. Sau khi tỉnh dậy ông liền xuất gia, đổi tên là Tuệ Đạt. Rồi đến Cối Kê ở huyện Mậu tìm tháp, nhưng tìm khắp nơi mà không thấy, nên rất phiền muộn buồn bã. Một đêm, bỗng nghe từ đưới đất có tiếng chuông vọng lên. Ba ngày sau thì có tháp báu và xá lợi xuất hiện. Tháp này không phải vàng ngọc đồng sắt, cũng không phải đất đá; mang màu đen tía, chạm trổ khác thường, bốn mặt khắc bốn cảnh: cảnh Vương tử Tát-đỏa, cảnh cho mắt, cảnh bỏ não, cảnh cứu chim câu v.v... Trên tháp không có lộ bàn (vật hình tròn giống như cái mâm đặt trên nóc tháp), bên trong treo chuông. Tuệ Đạt liền cất tịnh xá ở chỗ ấy để cúng dường tháp và dốc lòng lễ bái sám hối. Đó là nguồn gốc của điện Xá-lợi trên núi A-dục vương. Niên hiệu Nghĩa Hi năm đầu (405), vua An Đế nhà Đông Tấn ra sắc chỉ làm tháp, đình và Thiền đường, thỉnh chư tăng trụ trì gìn giữ. Niên hiệu Nguyên Gia thứ 2 (425) đời Lưu Tống, ngài Đạo Hựu vâng mệnh vua sửa sang chùa này và xây thêm ba tầng tháp. Năm Phổ Thông thứ 3 (522), vua Vũ nhà Lương xuống lệnh xây cất điện nhà, phòng xá, hành lang, ban biển hiệu A Dục Vương Tự. Về sau, chùa này đều được các vua Giản Văn Đế, Trần Tuyên Đế, Đường Trung Tông, Đường Tuyên Tông, Đường Ý Tông Và Thế Tông Nhà Hậu Chu kính ngưỡng. Chùa này vốn là viện của Luật tông, nhưng từ khi vua Chân tông nhà Tống ban hiệu Quảng Lợi Thiền Tự thì trở thành Thiền viện của mười phương. Thời vua Anh Tông, ngài Đại Giác Hoài Liễn trụ trì chùa này, phát huy tông phong. Sau, các Thiền sư Tông Cảo, Giới Thầm, Đức Quang, Sư Phạm v.v... lần lượt đến đây truyền pháp, nên đạo tràng Lâm Tế hưng thịnh một thời. Năm Hồng Vũ 15 (1382) đời Minh, chùa này được sửa lại và đổi tên là Dục Vương Thiền Tự, là sơn môn thứ năm trong năm sơn môn của Thiền tông Trung Quốc. Hiện nay, còn điện Xá-lợi, điện Thiên vương, Đại hùng bảo điện, v.v... Điện Xá-lợi có khắc bia gác Thần Khuê, bài minh suối Diệu Hỉ, và bia ruộng thường trụ chùa A-dục Vương khắc vào đời Đường... Ngoài ra, ở Qua Châu, Thanh Châu, huyện Bồ Phản tỉnh Hà Đông, Tinh Châu v.v... cũng có chùa A-dục Vương. [X. Lương Cao Tăng Truyện Q.13; Pháp Uyển Châu Lâm Q.31; Thích Thị Kê Cổ Lược Q.4; Cổ Kim Đồ Thư Tập Thành Chức Phương Điển 979].",
"Search1": "a dục vương tự",
"Search2": "a duc vuong tu"
},
{
"Id": 251,
"Word": "a-dục vương tự",
"Dict": 8,
"Mean": "Chùa nằm ở trấn Bảo Tràng, huyện Ngân, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Bởi trong chùa có cất giữ xá-lợi Phật Thích-ca và bảo tháp xá-lợi xinh xắn tinh vi cho nên nổi tiếng trong ngoài, là chùa Thiền tông nổi tiếng, còn là một trong »Trung Hoa Ngũ Sơn«. Niên hiệu Đại Khang thứ 3 (282) đời Tấn, Lưu Tát Ha (pháp danh Huệ Đạt) được một tháp xá-lợi ở nơi đây, tương truyền là một trong 84.000 tháp do vua A-dục xây cất, bên trong chứa di cốt của Phật Thích-ca sau khi niết bàn. Lưu Tát Ha xây cất tinh xá ngay chỗ có bảo tháp để tu trì hành đạo. Niên hiệu Nghĩa Hi thứ 1 (405) đời Đông Tấn xây tháp đình để cung phụng bảo tháp. Niên hiệu Nguyên Gia thứ 2 (425) đời Lưu Tống, tăng nhân đạo hữu xây cất thêm điện vũ. Niên hiệu Phổ Thông thứ 3 (522) đời Lương, vua ban tấm biển »A-dục Vương Tự«. Vốn là Luật viện, niên hiệu Đại Trung Tường Phù thứ 1 (1008) đời Tống, vua Tống Chân Tông ban cho tấm biển »Quảng Lợi Thiền Tự« liền trở thành Thiền tự. Niên hiệu Hồng Vũ thứ 15 (1382) đời Minh, đặt tên là »Dục Vương Thiền Tự«, tục gọi là »A-dục Vương Tự«. Từ ngàn năm nay, chùa này được sự sùng bái của rất nhiều vua chúa và sự hộ trì các bậc cao tăng. Vua Tống Cao Tông đích thân viết »Phật Đảnh Quang Minh Chi Tháp«, vua Tống Hiếu Tông viết »Diệu Thắng Chi Điện«. Tô Đông Pha làm văn bia về Thần Khuê Các trong chùa, bia dựng bên điện Xá-lợi. Thời vua Tống Anh Tông (1064-1067) Đại Giác Hoài Liễn trụ trì chùa này, nêu cao tông phong, sau đó kinh qua sự tổ chức của các vị Thiền sư như Tông Cảo, Giới Kham, Đức Quang, Sư Phạm đạo tràng Lâm Tế hưng thịnh một thời. Kiến trúc chủ yếu của A-dục Vương Tự có Xá-lợi điện, Đại hùng bảo điện, Thần khuê các, Vân thuỷ đường, Tàng kinh lâu hơn 600 gian. Điện vũ trong chùa hùng vĩ, khí thế nguy nga, mái cong cao vút, lưu li che đỉnh xanh vàng rực rỡ. Xung quanh chùa núi non trùng điệp, tùng bách cao vút, quang cảnh núi sông làm nổi bật ngôi cổ sát ngàn năm.",
"Search1": "a dục vương tự",
"Search2": "a duc vuong tu"
},
{
"Id": 252,
"Word": "a-dục vương tự tháp",
"Dict": 8,
"Mean": "Tháp ở phía tây chùa A-dục Vương thuộc trấn Bảo Tràng, huyện Ngân, thành phố Ninh Ba, tỉnh Chiết Giang, Trung Quốc. Được xây cất vào đời Đường, được xây lại vào niên hiệu Chí Chính thứ 25 (1365) đời Nguyên. Tháp làm bằng gạch cao 36m, hình lục giác bảy tầng theo kiểu lâu các, là một kiến trúc điển hình đời Nguyên. Mỗi tầng đều có khám thờ tượng Phật đắp trên vách, hiện nay không còn nữa. Trong tháp có đường đi lên đỉnh tháp. Một toà trên núi gọi là »Thượng tháp«, một toà dưới núi gọi là »Hạ tháp«. Hai toà này đứng cao vút giữa rừng rậm trúc dài cùng núi non xinh đẹp, điện vũ nguy nga tạo thành một quang cảnh tùng lâm của cổ sát hạng nhất Nam Quốc.",
"Search1": "a dục vương tự tháp",
"Search2": "a duc vuong tu thap"
},
{
"Id": 253,
"Word": "á dương",
"Dict": 2,
"Mean": "A dumb sheep.",
"Search1": "á dương",
"Search2": "a duong"
},
{
"Id": 254,
"Word": "á dương ngoại đạo",
"Dict": 8,
"Mean": "4414印度外道之一種。此外道認為於修行法門中,以如啞羊之不語,為最殊勝。四分律行事鈔卷下三載有(大四○‧一三三中)「僧祇受人禮拜,不得如啞羊不語」一語。行事鈔資持記卷下三(大四○‧三九七中):「如啞羊者,彼有啞羊外道受不語法,世有持不語者,謂為上行,此外道法,宜速捨之。」",
"Search1": "á dương ngoại đạo",
"Search2": "a duong ngoai dao"
},
{
"Id": 255,
"Word": "á dương ngoại đạo",
"Dict": 2,
"Mean": "Một loại ngoại đạo mà giáo đồ của họ tin rằng câm như dê chẳng nói một lời là phép tu thắng hành sẽ đưa họ về thượng giới—A kind of heretic sect, of which followers believe that to be as dumb as a sheep they can go to heaven.",
"Search1": "á dương ngoại đạo",
"Search2": "a duong ngoai dao"
},
{
"Id": 256,
"Word": "á dương ngoại đạo",
"Dict": 1,
"Mean": "(啞羊外道) Một loại ngoại đạo ở Ấn-độ. Ngoại đạo này cho rằng, trong các pháp môn tu hành, pháp môn không nói, như con dê câm, là ưu việt hơn cả. Tứ Phần Luật hành sự sao quyển hạ, phần 3 (Đại 40, 133 trung), nói: Tăng kì nhận sự lễ lạy của người, không được lặng thinh như con dê câm. Hành sự sao tư trì kí quyển hạ phần 3 (Đại 40, 397 trung), nói: Có kẻ ngoại đạo á dương (dê câm) tu pháp môn không nói, đời có kẻ cho tu pháp môn ấy là hạnh cao nhất, nên bỏ ngay pháp môn ấy của ngoại đạo.",
"Search1": "á dương ngoại đạo",
"Search2": "a duong ngoai dao"
},
{
"Id": 257,
"Word": "á dương tăng",
"Dict": 8,
"Mean": "4414梵語 eḍamūka-saṃgha。又作瘂羊僧。指愚癡之僧。四種僧之一。啞羊,即譬喻至愚之人。據大智度論卷三載,雖不破戒,鈍根無慧,無勇猛精進之力,不別好醜,不知輕重,不知有罪無罪,若有僧事,二人共諍,不能斷決,默然無言。譬如白羊,乃至被人殺,不能作聲,故稱為啞羊僧。又根本薩婆多部律攝卷七,謂瘂羊僧即於三藏不能解者。(參閱「四種僧」1817)",
"Search1": "á dương tăng",
"Search2": "a duong tang"
},
{
"Id": 258,
"Word": "á dương tăng",
"Dict": 2,
"Mean": "Một gian đạo sĩ ngu đần như con dê câm, không biết tốt xấu, cũng không biết sám hối tội lỗi—A dumb sheep monk who is stupid and does not know good from bad, nor enough to repent of sin.",
"Search1": "á dương tăng",
"Search2": "a duong tang"
},
{
"Id": 259,
"Word": "á dương tăng",
"Dict": 1,
"Mean": "(啞羊僧) Tăng dê câm. Phạm: Eđamùkasaôgha. Chỉ tăng ngu si. Là một trong bốn loại tăng. Á dương (dê câm), thí dụ người chí ngu. Cứ theo luận Đại Trí Độ quyển 3 chép, thì Á dương tăng tuy không phá giới, nhưng ngây dại không có trí, không có sức hăng hái tiến tới, không phân biệt được xấu tốt, không biết khinh trọng, không biết có tội hay không tội, nếu có việc tăng, hai người cãi nhau, không có khả năng quyết đoán, lặng thinh không nói. Ví như con dê trắng, dù có bị giết cũng không thể kêu thành tiếng, vì thế gọi là Á dương tăng. Lại Căn Bản Tát Bà Đa Bộ Luật Nhiếp quyển 7, thì bảo á dương tăng là người không có khả năng hiểu ba tạng. (xt. Tứ Chủng Tăng).",
"Search1": "á dương tăng",
"Search2": "a duong tang"
},
{
"Id": 260,
"Word": "a duy la đề",
"Dict": 2,
"Mean": "Abhirati (skt)—A Tỳ La Đề—Cõi Tịnh Độ phương Đông của Đức Phật A Súc (Vô Nộ hay Diệu Lạc Phật)—The eastern Pure Land of Aksobhya.",
"Search1": "a duy la đề",
"Search2": "a duy la de"
},
{
"Id": 261,
"Word": "a duy la đề thế giới",
"Dict": 8,
"Mean": "3666阿維羅提,梵名 Abhirati。爲阿閦佛之淨土名。又作阿比羅提世界。意譯歡喜世界、妙樂世界、妙喜世界。位於東方。阿維,無比、殊勝之義;羅提,喜之義。據阿閦佛國經卷上發意受慧品與善快品載,東方過去千佛剎,有世界名阿比羅提,其佛名大目如來無所著等正覺,爲諸菩薩說法;時有阿閦菩薩就大目如來受記,後成佛,其世界名阿比羅提;其土之人皆行善事;其地平正生樹木,無有高下,無有山陵、溪谷,亦無有礫石、崩山;其佛剎之人,皆無有惡色者,亦無有醜者。〔大寶積經卷十九佛剎功德莊嚴品、悲華經卷四、維摩經卷下見阿閦佛品〕(參閱「阿閦佛」3668)",
"Search1": "a duy la đề thế giới",
"Search2": "a duy la de the gioi"
},
{
"Id": 262,
"Word": "a duy la đề thế giới",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿維羅提世界) A-duy-la-đề, Phạm: Abhirati. Tên cõi Tịnh độ của đức Phật A Súc. Cũng gọi A-tỉ-la-đề thế giới. Dịch ý là thế giới hoan hỉ, thế giới diệu lạc, thế giới diệu hỉ. Thế giới ở phương Đông. A-duy, có nghĩa không sánh được, thù thắng. La-đề, có nghĩa là mừng vui. Cứ theo kinh A Súc Phật Quốc quyển Thượng phẩm Phát Ý Thụ Tuệ và phẩm Thiện Khoái chép, thì cách đây một nghìn cõi Phật về phía Đông, có thế giới tên là A-tỉ-la-đề, đức Phật ở cõi ấy hiệu là Đại Mục Như Lai vô sở trước đẳng Chính giác, đang nói pháp cho các Bồ-tát. Bấy giờ có Bồ-tát A Súc được đức Đại Mục Như Lai thụ kí sau này sẽ thành Phật, thế giới tên là A-tỉ-la-đề. Người ở thế giới này đều làm việc lành, mặt đất bằng phẳng, cây mọc um tùm, không cây nào cao, không cây nào thấp, không có gò đống, hang hốc, cũng không có sỏi đá, núi lở. Người ở cõi Phật này, đều không có vẻ hung ác, cũng không ai xấu xí. [X. kinh Đại Bảo Tích quyển 19 phẩm Phật Sái Công Đức Trang Nghiêm; kinh Bi Hoa Q.4; kinh Duy Ma Q. Hạ phẩm Kiến A Súc Phật]. (xt. A Súc Phật).",
"Search1": "a duy la đề thế giới",
"Search2": "a duy la de the gioi"
},
{
"Id": 263,
"Word": "a duy việt trí",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Bất thoái chuyển, Xem Bất thoái chuyển chính đạo",
"Search1": "a duy việt trí",
"Search2": "a duy viet tri"
},
{
"Id": 264,
"Word": "a duy việt trí",
"Dict": 6,
"Mean": "Xem A bệ bạt trí.",
"Search1": "a duy việt trí",
"Search2": "a duy viet tri"
},
{
"Id": 265,
"Word": "a già",
"Dict": 2,
"Mean": "1) Nước: Arhya or Argha (skt)—Water. 2) Nghi thức dâng nước thơm trong các buổi lễ: Ceremonial water, e.g. offerings of scented water, or water containing fragrant flowers in ceremonies.",
"Search1": "a già",
"Search2": "a gia"
},
{
"Id": 266,
"Word": "a già đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Agada (skt)—A Yết Đà—Một thứ thuốc phòng ngừa và trị mọi thứ bệnh, mọi thứ độc—Free from disease, an antidote, a medicine that entirely rids of disease, elixir of life, universal remedy (phổ khử).",
"Search1": "a già đà",
"Search2": "a gia da"
},
{
"Id": 267,
"Word": "a-già-đà",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ agada, cũng đọc là a-kiệt-đà, dịch nghĩa là vô bệnh, bất tử dược hay phổ khử, một loại thần dược có thể phòng ngừa và chữa khỏi nhiều thứ bệnh tật, giải trừ được các loại thuốc độc.",
"Search1": "a già đà",
"Search2": "a gia da"
},
{
"Id": 268,
"Word": "a già đà (dược)",
"Dict": 6,
"Mean": "Agada (S). Free from disease, an antidote, elixir of life, universal remedy.",
"Search1": "a già đà (dược)",
"Search2": "a gia da (duoc)"
},
{
"Id": 269,
"Word": "a già đà dược",
"Dict": 8,
"Mean": "3616阿伽陀,梵語 agada。又作阿揭陀、阿竭陀。原意爲健康、長生不死、無病、普去、無價,後轉用作藥物名稱,尤指解毒藥而言。阿伽陀藥又稱不死藥、丸藥。此藥靈奇,價值無量,服之能普去眾疾。於陀羅尼集經卷八詳載其製法。〔不空羂索神變真言經卷十八蓮華頂阿伽陀品、慧苑音義卷上、慧琳音義卷二十五〕",
"Search1": "a già đà dược",
"Search2": "a gia da duoc"
},
{
"Id": 270,
"Word": "a già đà dược",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿伽陀藥) A-già-đà, Phạm: Agada. Cũng gọi A-yết-đà, A-kiệt-đà. Nguyên ý là mạnh khỏe, sống mãi không chết, không đau ốm, trừ bỏ hết, vô giá, sau được dùng để gọi tên thuốc, đặc biệt chỉ thuốc giải độc. Thuốc A-già-đà cũng gọi là thuốc không chết, thuốc tiên. Thuốc này rất hay, có giá trị vô lượng, uống vào có thể trừ khử hết mọi bệnh. Phương pháp bào chế thuốc này được ghi rõ trong kinh Đà-la-ni Tập quyển 8. [X. kinh Bất Không Quyên Sách Thần Biến Chân Ngôn Q.18 phẩm Liên Hoa Đính a-già-đà; Tuệ Uyển Âm Nghĩa Q.Thượng; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.25].",
"Search1": "a già đà dược",
"Search2": "a gia da duoc"
},
{
"Id": 271,
"Word": "a già đàm",
"Dict": 2,
"Mean": "Aghana (skt)—Không rắn, không đặc—Not solid, not dense.",
"Search1": "a già đàm",
"Search2": "a gia dam"
},
{
"Id": 272,
"Word": "a già đàm ma văn đồ",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Thánh pháp ấn kinh.",
"Search1": "a già đàm ma văn đồ",
"Search2": "a gia dam ma van do"
},
{
"Id": 273,
"Word": "a gia hạ hàm",
"Dict": 8,
"Mean": "3664禪林用語。原指父親之下頷骨。愚癡之子找尋戰死異地之父親骨骸時,錯認驢骨之部分殘片爲其父之下頷骨,而謹慎奉回。此一故事,後轉申爲罵人愚笨、不辨真假之語。從容錄第三十八則(大四八‧二五二中):「以賊爲子,認奴作郎,破木杓豈是先祖髑髏,驢鞍鞽亦非阿爺下頷。」鞍鞽,又作鞍橋,原指馬鞍;馬鞍之形狀似橋,故有此稱。驢鞍鞽,即指驢骨中形狀像馬鞍者。愚癡之子,不辨人獸骨骸之別,誤以驢骨爲其父之遺骨。",
"Search1": "a gia hạ hàm",
"Search2": "a gia ha ham"
},
{
"Id": 274,
"Word": "a gia hạ hàm",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿爺下頷) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Vốn chỉ xương hàm dưới của cha. Đứa con ngu dại khi tìm hài cốt của người cha chết nơi chiến trường, nhận lầm mảnh xương tàn của con lừa là xương hàm dưới của cha mình, rồi kính cẩn mang về. Mẩu truyện cổ này sau được dùng làm lời mắng chửi người ngu dại, không phân biệt được thật, giả. Thung Dung Lục Tắc 38 (Đại 48,52 Trung) chép: Lấy giặc làm con, nhận đứa ở làm chồng. Sao lại coi cái gáo vỡ là đầu lâu của tiên tổ? Cái cầu yên lừa đâu phải là xương hàm dưới của cha mình?. Cầu yên lừa,...... (Lư yên kiều), yên kiều, vốn chỉ cái yên ngựa. Hình dáng cái yên ngựa giống như cây cầu, vì thế gọi là yên kiều. Cầu yên lừa, tức chỉ cái xương con lừa hình dáng như cái yên ngựa. Đứa con ngu si không phân biệt được xương thú vật, cho nên mới lầm xương lừa là di cốt của cha mình.",
"Search1": "a gia hạ hàm",
"Search2": "a gia ha ham"
},
{
"Id": 275,
"Word": "a già la",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Bất động Tôn Bồ tát.",
"Search1": "a già la",
"Search2": "a gia la"
},
{
"Id": 276,
"Word": "a già la già",
"Dict": 2,
"Mean": "Angaraka (skt)—Hỏa tinh—The planet Mars; a star of ill omen; a representation in the Garbhadhatu.",
"Search1": "a già la già",
"Search2": "a gia la gia"
},
{
"Id": 277,
"Word": "a già lâu",
"Dict": 2,
"Mean": "Aguru or Agaru (skt). 1) Một loại trầm hương: Fragrant aloe-wood; the incense that sinks in water. 2) Tên của một ngọn núi: Name of a mountain.",
"Search1": "a già lâu",
"Search2": "a gia lau"
},
{
"Id": 278,
"Word": "a già lợi da",
"Dict": 2,
"Mean": "Acarya (skt)—A Xà Lê—Giáo Thọ—Spiritual teacher—Master—Preceptor. ** For more information, please see Acarya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Ngũ Chủng A Xà Lê in Vietnamese-English Section.",
"Search1": "a già lợi da",
"Search2": "a gia loi da"
},
{
"Id": 279,
"Word": "a già ma",
"Dict": 2,
"Mean": "Agama (skt)—See A Hàm Kinh.",
"Search1": "a già ma",
"Search2": "a gia ma"
},
{
"Id": 280,
"Word": "a già nhất nghễ",
"Dict": 8,
"Mean": "3673指不動明王閉左眼、開右眼之睥睨貌。不動明王之梵名爲 Acala,音譯阿遮羅,略稱阿遮;一睨,謂明王之左目眇。不動明王閉左眼,表生死世界之迷妄;睥睨右眼,表示斷除根本無明之一惑,或表示鑑照染淨不二、邪正一如,或表示一切眾生入阿字一理。祕藏寶鑰卷上(大七七‧三六三上):「阿遮一睨,業壽之風定。」〔大日經具緣品〕(參閱「不動明王」988)",
"Search1": "a già nhất nghễ",
"Search2": "a gia nhat nghe"
},
{
"Id": 281,
"Word": "a già nhất nghễ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿遮一睨) Chỉ dáng mạo của Bất Động Minh Vương, mắt trái nhắm, mắt phải mở liếc nhìn. Tên Phạm của Bất Động Minh Vương là Acala, dịch âm A-giá-la, gọi tắt là A-giá. Nhất nghễ: một mắt liếc nhìn, có nghĩa là mắt trái của Minh Vương bị chột. Bất Động Minh Vương nhắm mắt trái là biểu thị sự mê mờ của thế giới sống chết; mắt phải liếc nhìn, biểu thị dứt trừ một hoặc (phiền não) trong căn bản vô minh, hay biểu thị soi rọi nhơ sạch không hai, tà chính như một, hay biểu thị hết thảy chúng sinh đều hòa vào một lí chữ A. Bí Tạng Bảo Thược quyển 1 (Đại 77, 363 thượng) nói: A-giá nhất nghễ, gió nghiệp thọ không lay động. [X. kinh Đại Nhật phẩm Cụ Duyên]. (xt. Bất Động Minh Vương).",
"Search1": "a già nhất nghễ",
"Search2": "a gia nhat nghe"
},
{
"Id": 282,
"Word": "a già phôi",
"Dict": 2,
"Mean": "Cái bình hay cái bát—The vase or bowl.",
"Search1": "a già phôi",
"Search2": "a gia phoi"
},
{
"Id": 283,
"Word": "a già sắc",
"Dict": 8,
"Mean": "3616又作阿迦色。阿伽,爲梵語 agha 之音譯。含有相反之二義:(一)積集、極礙之義,指積集有形而粗雜之物質(色法),既會受其他物質所障礙,亦會對其他物質構成障礙。依準此義,則以明、闇爲體性之「虛空界之色」即與此種具有障礙性之阿伽色相鄰接,如此方可構成物質存在之意義。蓋自物質存在之樣態而言,世間絕無單獨存在之物,如一棵樹、一座山,乃至小如一粒灰塵,若非鄰接虛空,而另有其他物質相緊鄰,則樹、山、塵加上所鄰接之其他物質,已不再爲樹、山、塵之樣態;唯獨鄰接虛空,方可保有且襯顯出其原本之物質樣態。上記之樹、山、塵等即爲具有障礙性之阿伽色,而虛空界之色即爲緊鄰阿伽色者,故稱爲鄰阿伽色(梵 agha-sāmantaka),意即「鄰於阿伽之色」。(二)無礙之義,此義恰與上義相反,指無形而微細的空界之色,既不爲任何物質所障礙,亦不對任何物質構成障礙。此空界色勢必與其他具有障礙性之物質相鄰,故稱爲鄰阿伽色,意即「鄰近有礙物質之阿伽色」。〔俱舍論卷一、俱舍釋論卷一、俱舍論光記卷一、俱舍論寶疏卷一下、玄應音義卷二十四〕",
"Search1": "a già sắc",
"Search2": "a gia sac"
},
{
"Id": 284,
"Word": "a già sắc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿伽色) Cũng gọi A-ca-sắc. A-già, Phạm: agha. Bao hàm hai nghĩa trái nhau. 1. Nghĩa tích tập, rất chướng ngại. Chỉ sự tích tập những vật chất (sắc pháp) có hình tướng và thô tạp, một mặt chúng bị các thứ vật chất khác làm chướng ngại, mặt khác chúng cũng lại gây chướng ngại cho các thứ vật chất khác. Theo nghĩa này, thì sắc của hư không giới lấy sáng, tối làm thể tính, phải tiếp cận với sắc a-già vốn có tính chướng ngại, thì mới có thể cấu thành ý nghĩa vật chất tồn tại được. Bởi vì, nếu đứng về mặt trạng thái tồn tại của vật chất mà nói, thì trong thế gian tuyệt không có một vật gì tồn tại một cách đơn độc cả, như một cái cây, một trái núi, cho đến nhỏ như một hạt bụi, nếu không tiếp cận hư không, mà chỉ gần sát các vật chất khác, thì cây, núi, bụi lại có thêm các vật chất khác gần sát, chứ không còn là trạng thái cây, núi, bụi như trước nữa. Duy chỉ tiếp cận hư không, mới có thể giữ lại và hiển hiện rõ cái trạng thái vật chất nguyên gốc. Cây, núi, bụi nói trên tức là sắc a-già có đủ tính chướng ngại, còn sắc hư không giới thì gần sát với sắc a-già, vì thế gọi là sắc gần với sắc a-già (Phạm:agha-sàmantaka). 2. Nghĩa không ngại, nghĩa này trái lại với nghĩa trên, chỉ cho sắc hư không giới không có hình tướng và rất nhỏ nhiệm, không bị bất cứ thứ vật chất nào làm trở ngại, cũng không cấu thành chướng ngại đối với bất cứ thứ vật chất nào khác. Sắc hư không giới này thế tất phải gần gũi với các vật chất khác có tính chướng ngại, cho nên gọi là Lân-a-già-sắc, nghĩa là sắc a-già gần sát vật chất có tính chướng ngại. [X. luận Câu Xá Q.1; Câu Xá Thích luận Q.1; Câu xá Luận Quang Kí Q.1; Câu Xá Luận Bảo Sớ Q.1 hạ; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.24].",
"Search1": "a già sắc",
"Search2": "a gia sac"
},
{
"Id": 285,
"Word": "a giác nữ",
"Dict": 8,
"Mean": "Cô gái nhỏ tuổi. Chữ a (丫) còn đọc là nha có nghĩa là xoè ra thành hai góc. A giác chỉ tóc các cô gái còn nhỏ tuổi tết thành hai trái đào trông như hai cái sừng. Tiểu truyện Thiền sư Giác Hải trong TUTA ghi: »阿 角 女 頭 白。報 儞 作 者 識 若 問 佛 境 界。龍 門 遭 點 額 – A giác nữ đầu bạch, Báo nhĩ tác giả thức, Nhược vấn Phật cảnh giới, Long môn tao điểm ngạch – [i]Bé gái đầu bạc phơ, Bảo khách thiền kiệt xuất, Cảnh giới Phật hỏi bàn, Long môn bị điểm trán[/i]«.",
"Search1": "a giác nữ",
"Search2": "a giac nu"
},
{
"Id": 286,
"Word": "a ha ha",
"Dict": 2,
"Mean": "Ahaha (skt)—Âm thanh của tiếng cười—Sound of laughter.",
"Search1": "a ha ha",
"Search2": "a ha ha"
},
{
"Id": 287,
"Word": "A-hàm",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ gama, là tên gọi chung các kinh điển thuộc hệ Nguyên thủy, cũng gọi là hệ kinh điển Tiểu thừa, dịch nghĩa là pháp quy (muôn pháp đều theo về), cũng dịch là vô tỷ pháp (pháp không gì sánh bằng). Cả thảy có bốn bộ A-hàm là: 1. Trường A-hàm, 2. Trung A-hàm, 3. Tạp A-hàm, 4. Tăng nhất A-hàm.",
"Search1": "a hàm",
"Search2": "a ham"
},
{
"Id": 288,
"Word": "A-hàm",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 含; S: āgama; A-hàm là dịch theo âm Hán Việt, dịch nghĩa là Pháp quy, Vô tỉ pháp, tức là cái »gốc của giáo pháp«;\r\n Tên đặt cho các bộ kinh căn bản của Phật giáo viết bằng văn hệ chữ Phạn (sanskrit), nội dung giống các Bộ kinh (p: ni­kā­ya) thuộc văn hệ Pā-li. Có bốn bộ A-hàm: 1. Trường a-hàm (s: dīr­ghāgama) gồm 30 bản kinh; 2. Trung a-hàm (s: mā­dh­­yamā­gama), tập trung về các vấn đề siêu nhiên; 3. Tạp a-hàm (s: saṃyuk­tāga­ma), với nhiều đề tài khác nhau như quán tưởng và thiền định; 4. Tăng nhất a-hàm (s: ekottarikāgama).\r\n A-hàm tập hợp các giáo lí cơ bản của Tiểu thừa mà đức Phật đã từng thuyết giảng như Tứ diệu đế, Bát chính đạo, Mười hai nhân duyên, Nghiệp… Các Bộ kinh thuộc văn hệ Pā-li của Tiểu thừa phần lớn đều trùng hợp với A-hàm, nhưng Bộ kinh thì có thêm phần thứ năm là Tiểu bộ kinh (p: khud­daka-nikāya).",
"Search1": "a hàm",
"Search2": "a ham"
},
{
"Id": 289,
"Word": "a hàm",
"Dict": 8,
"Mean": "3617梵語 āgama,巴利語同。又作阿笈摩、阿伽摩、阿鋡暮、阿鋡。意譯爲法歸、法本、法藏、教法、教分、種種說、無比法、傳教、淨教、趣無、教、傳、歸、來、藏。近代學者更有將阿含之義解釋作來著、趣歸、知識、聖言、聖訓集、經典等。即指所傳承之教說,或集其教說所成之聖典。通常係指原始佛教聖典四阿含或五阿含而言。 各論典對於阿含之解釋如下:瑜伽師地論卷八十五、異部宗輪論述記、成唯識論述記卷四本、俱舍論光記卷二十八、玄應音義卷二十三、卷二十五、瑜伽論記卷六上、慧琳音義卷十八、卷二十六、卷五十一、希麟音義卷八、圓覺經大疏鈔卷四之上等皆釋阿含爲被傳承的教說之意。善見律毘婆沙卷二,以阿含爲容受聚集之義,但此可能是指集會或纂集意之巴利語 nikāya 言,而非 āgama 之釋。又法華論疏卷中舉東晉道安之說,謂阿含名爲趣無,因一切法皆趣於畢竟空法之故;僧肇之阿含經序謂,阿含義爲法歸;可謂皆不合阿含之正意。 蓋傳承教說之阿含,乃佛陀入滅後次第集成,成爲三藏中修多羅藏(梵 Sūtrānta-piṭaka,經藏)之內容,分爲四阿含或五阿含,其中四阿含即般泥洹經卷下、有部毘奈耶雜事卷三十九、大智度論卷二、瑜伽師地論卷八十五、撰集三藏及雜藏傳等所稱之中、長、增一、雜(或相應)。又增一阿含經卷一序品、北本大般涅槃經卷十三、大乘大集地藏十輪經卷二等,亦載有四阿含之名。關於五阿含,在善見律毘婆沙卷一、大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記等,指爲長、中、僧述多(相應)、殃堀多羅(增一)及屈陀迦(雜類)。又五分律卷三十、摩訶僧祇律卷三十二、四分律卷五十四、分別功德論卷一中,將五阿含中之屈陀迦阿含稱爲雜藏。此五阿含相當於巴利佛典中之五部經(pañca-nikāyā),依巴利文毘奈耶小品(Vinaya cūḷavagga)、一切善見(Samanta-pāsādikā I),及長部經註(Sumaṅgala-vilāsinī)序等之記載,五部經爲 Dīgha-nikāya, Majjhima-nikāya, Saṃyutta-nikāya,Aṅguttara-nikāya, Khuddaka-nikāya 等五部,即相當於今之長、中、相應、增支、小等五部阿含。 關於阿含之傳承,長部經註序謂,第一次結集之後,長部經由阿難,中部經由舍利弗,相應部由大迦葉,增支部由阿那律之系統分別傳承。又據異部宗輪論、俱舍論卷二十九、無性之攝大乘論釋卷二、成唯識論卷三等之記載,知諸部所傳之阿含似互不相同。又窺基之法華經玄贊卷一本、大乘法苑義林章卷四末,澄觀之華嚴經疏鈔玄談卷八等記載,四阿含與摩訶僧祇律皆爲大眾部所傳。法幢之俱舍論稽古卷上以爲中阿含及雜阿含是薩婆多部所傳,增一阿含是大眾部所傳,長阿含是化地部所傳,別譯雜阿含是飲光部所傳;但此亦非定論。要之,阿含係由諸部各自傳承,然其後隨大乘經之發達,與之對比,遂以阿含作爲小乘佛典之異名。另據大智度論卷三十三、卷四十九、卷一○○等之記載,知阿含之名稱亦通於大乘,故大般泥洹經卷六有「方等阿含」之稱,而其所謂方等阿含一詞即指大乘經典。〔瑜伽論記卷二十二上、玄應音義卷二十四、希麟音義卷八、翻梵語卷一、出三藏記集卷九、異部宗輪論述記發茓卷上、原始佛教聖典之集成第二章第三節、第四節、第七章(印順)〕(參閱「阿含經」3619)",
"Search1": "a hàm",
"Search2": "a ham"
},
{
"Id": 290,
"Word": "a hàm",
"Dict": 7,
"Mean": "Nikāya (P)Thánh điển Ngũ bộ, Kinh bộ Pali, Bộ tập, Bộ pháiChỉ kinh điển Phật giáo bằng tiếng Pali.",
"Search1": "a hàm",
"Search2": "a ham"
},
{
"Id": 291,
"Word": "a hàm",
"Dict": 6,
"Mean": "Agama (S). A collection of doctrines, general name for the Hinayàna sciptures: - Trường A hàm Dirgàgama, Trung A hàm Màdhyamàgama, Tạp A hàm Samyuktàgama, Tăng nhất A hàm Ekottarikàgama.",
"Search1": "a hàm",
"Search2": "a ham"
},
{
"Id": 292,
"Word": "a hàm",
"Dict": 4,
"Mean": "Bốn thứ kinh Tiểu thừa bằng tiếng Pali gọi là Tứ A Hàm. Gồm Trường A Hàm, Trung A Hàm, Tăng Nhất A Hàm và Tạp A Hàm.",
"Search1": "a hàm",
"Search2": "a ham"
},
{
"Id": 293,
"Word": "a hàm",
"Dict": 2,
"Mean": "Agama (skt)—A Cấp Ma—A Hàm Mộ. (A) Tên gọi chung của Kinh Tiểu Thừa—A collection of doctrines, general name for the Hinayana scriptures. (B) Nghĩa của A Hàm—The meanings of Agama: 1) Pháp Quy: Muôn pháp đều quy về nơi đây mà không sót—The home or collecting-place of the Law or Truth. 2) Vô Tỷ Pháp: Diệu pháp không gì sánh bằng—Peerless Law. 3) Thú Vô: Ý chỉ được nói ra cuối cùng không theo về đâu cả—Ultimate or absolute truth.",
"Search1": "a hàm",
"Search2": "a ham"
},
{
"Id": 294,
"Word": "a hàm",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿含) Phạm, Pāli: Àgama. Cũng gọi A-cấp-ma, A-già-ma, A-hàm-mộ, A- hàm. Dịch ý là Pháp qui, Pháp bản, Pháp tạng, Giáo pháp, Giáo phần, Chủng chủng thuyết, Vô tỉ pháp, Truyền giáo, Tịnh giáo, Thú vô, Giáo, Truyền, Qui, Lai, Tạng. Gần đây, các học giả lại giải thích nghĩa A-hàm là Lai trước, Thú qui, Tri thức, Thánh ngôn, Thánh huấn tập, Kinh điển v.v... Tức chỉ cho những giáo thuyết được truyền thừa, hoặc các Thánh điển do những giáo thuyết tập thành. A-hàm thông thường chỉ bốn bộ A- hàm hoặc năm bộ A-hàm Thánh điển của Phật giáo Nguyên Thủy. Các bộ luận giải thích về A-hàm gồm có: luận Du Già Sư Địa quyển 85, Dị Bộ Tông Luân luận thuật kí, Thành Duy Thức Luận Thuật Kí quyển 4 phần đầu, Câu Xá Luận Quang Kí quyển 28, Huyền Ứng Âm Nghĩa quyển 23, quyển 25, Du Già Luận Kí quyển 6 thượng, Tuệ Lâm Âm Nghĩa quyển 18, quyển 26, quyển 51, Hi Lân Âm Nghĩa quyển 8, Viên Giác Kinh Đại Sớ Sao quyển 4 phần trên, v.v... Những luận nêu trên đều giải thích A- hàm là giáo pháp được truyền thừa. Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 2 thì cho A-hàm là nghĩa dung chứa, tụ tập. Nhưng đây có thể là chỉ cho tiếng Pāli Nikàya có nghĩa tập hội hoặc toản tập, chứ không phải giải thích àgama. Pháp Hoa Luận Sớ quyển Trung có nêu ra thuyết của ngài Đạo An đời Đông Tấn, giải rằng: A-hàm là thú vô, vì tất cả pháp đều qui về pháp Không rốt ráo. Trong bài Tựa kinh A-hàm, ngài Tăng Triệu giải thích A-hàm là pháp qui. Có thể nói, tất cả sự giải thích trên đây đều không đúng với ý chính của chữ A-hàm. Bởi vì A-hàm là giáo pháp được truyền thừa, sau khi đức Phật nhập diệt mới lần lượt được kết tập, thành nội dung của tạng Tu-đa-la (Phạm: Sùtrànta-piỉaka, tạng kinh) trong ba tạng, chia làm bốn A-hàm hoặc năm A-hàm. Trong đây, bốn A-hàm tức là: Trung A-hàm, Trường A-hàm, Tăng Nhất A-hàm, Tạp A-hàm (hoặc Tương Ưng) mà kinh Bát-nê-hoàn quyển Hạ, Hữu Bộ Tì-nại-da Tạp Sự quyển 39, luận Đại Trí Độ quyển 2, luận Du Già Sư Địa quyển 85, Soạn Tập Tam Tạng và Tạp Tạng Truyện v.v... đã đề cập đến. Kinh Tăng Nhất A-hàm quyển 1 phẩm Tựa, kinh Đại Bát Niết Bàn, bản Bắc, quyển 13, kinh Đại Thừa Đại Tập Địa Tạng Thập Luận quyển 2 v.v... cũng có ghi tên của bốn A-hàm.Về năm A-hàm, thì Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 1, Đại A-la-hán Nan-đề-mật-đa-la Sở Thuyết Pháp Trụ Kí v.v... ghi là: Trường A-hàm, Trung A-hàm, Tăng Thuật Đa (Tương Ưng), Ương-quật- đa-la (Tăng nhất) và Khuất-đà-ca (Tạp loại). Luật Ngũ phần quyển 30, luật Ma-ha Tăng Kì quyển 32, luật Tứ phần quyển 54, luận Phân Biệt Công Đức quyển 1 trung, v.v... gọi Khuất-đà-ca A-hàm trong năm A-hàm là Tạp Tạng. Năm A-hàm này tương đương với năm bộ kinh (paĩcanikàya) trong kinh Phật bằng tiếng Pāli. Theo Tì-nại-da Tiểu phẩm (Vinaya cùơavagga), Nhất Thiết Thiện Kiến (Samanta-pàsàdikà I) và bài Tựa của Trường Bộ kinh chú (Sumaígala-vilàsinì), thì năm bộ kinh là: Dìgha-nikàya, Majjhima-nikàya, Saô-yutta-nikàya, Aíguttara-nikàya và Khuddaka-nikàya, tương đương với năm bộ A-hàm: Trường, Trung, Tương Ưng, Tăng Chi và Tiểu Bộ kinh hiện nay. Về sự truyền thừa A- hàm, thì bài tựa Trường Bộ kinh chú cho biết: sau đại hội kết tập lần thứ nhất, Trường Bộ kinh do hệ thống A-nan, Trung Bộ kinh do hệ thống Xá- lợi-phất, Tương Ưng bộ do hệ thống Đại Ca-diếp, Tăng chi bộ do hệ thống A-na-luật lần lượt truyền thừa. Theo luận Dị Bộ Tông Luân, luận Câu Xá quyển 29, Nhiếp Đại Thừa Luận Thích quyển 2 của ngài Vô Tính, luận Thành Duy Thức quyển 3 v.v... thì A-hàm do các bộ phái truyền thừa tựa hồ không giống nhau. Theo Pháp Hoa Kinh Huyền Tán quyển 1 phần đầu của ngài Khuy Cơ, Đại Thừa Pháp Uyển Nghĩa Lâm Chương quyển 4 phần cuối, Hoa Nghiêm Kinh Sớ Sao Huyền Đàm quyển 8 của ngài Trừng Quán, thì bốn bộ A-hàm và luật Ma-ha Tăng Kì đều do Đại chúng bộ truyền. Còn Câu Xá Luận Kê Cổ quyển thượng của ngài Pháp Chàng, thì cho Trung A-hàm và Tạp A-hàm là do Tát-bà-đa bộ truyền, Tăng nhất A-hàm do Đại chúng bộ truyền, Trường A-hàm do Hóa Địa Bộ truyền, Biệt dịch Tạp A-hàm do Ẩm Quang Bộ truyền. Nhưng thuyết này cũng chưa chắc đã đúng. Tóm lại, A-hàm là do các bộ phái đều tự truyền thừa riêng, nhưng sau khi kinh điển Đại thừa phát đạt, so với A-hàm, mới cho A-hàm là tên gọi khác của kinh điển Tiểu thừa. Lại theo luận Đại trí độ quyển 33, quyển 49, quyển 100, thì tên gọi A-hàm cũng chung cho cả Đại thừa, cho nên trong kinh Đại Bát-nê-hoàn quyển 6 mới có từ ngữ Phương đẳng A-hàm. Phương đẳng A-hàm tức là chỉ kinh điển Đại thừa. [X. Du Già luận kí Q.22 Thượng; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.24; Hi Lân Âm Nghĩa Q.8; Phiên Phạm Ngữ Q.1; Xuất Tam Tạng Kí Tập Q.9; Dị Bộ Tông Luân Luận Thuật Kí Phát Nhẫn Q.Thượng; Nguyên thủy Phật giáo thánh điển chi tập thành đệ nhị chương đệ tam tiết, đệ tứ tiết, đệ thất chương (Ấn Thuận)]. (xt. A Hàm Kinh).",
"Search1": "a hàm",
"Search2": "a ham"
},
{
"Id": 295,
"Word": "a hàm bộ",
"Dict": 8,
"Mean": "3619爲對於大藏經中所收小乘部經典之統稱。原爲佛陀所說教法之總稱,大乘佛教於西曆紀元前後興起,遂有大乘經典之成立;相對於此,舉凡有阿含之經名者,皆爲小乘經典,阿含部遂成小乘經典之異名。關於阿含部之內容,南北傳佛教說法各異,北傳佛教謂長、中、雜、增一爲四阿含,總稱阿含部;南傳佛教於四阿含之外,稱雜部爲屈陀迦(巴 Khuddaka)阿含,是爲五阿含。開元釋教錄卷十三舉出小乘經重單合譯一五三部,三九四卷,明藏目錄舉稱小乘阿含部計一三七部。",
"Search1": "a hàm bộ",
"Search2": "a ham bo"
},
{
"Id": 296,
"Word": "a hàm bộ",
"Dict": 2,
"Mean": "See Hinayana in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a hàm bộ",
"Search2": "a ham bo"
},
{
"Id": 297,
"Word": "a hàm bộ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿含部) Tên gọi chung những kinh điển Tiểu thừa được thu vào Đại tạng kinh. A-hàm bộ nguyên là tên gọi chung các giáo pháp do đức Phật nói. Về sau, Phật giáo Đại thừa dấy lên khoảng trước hoặc sau kỉ nguyên Tây lịch, thì kinh điển Đại thừa cũng được thành lập. Từ đó, đối lại với kinh điển Đại thừa, hễ kinh nào có tên là A-hàm đều được xem là kinh điển Tiểu thừa, A-hàm bộ do đó trở thành tên khác của kinh điển Tiểu thừa. Về nội dung của A-hàm bộ, cách gọi của Phật giáo Nam, Bắc truyền có khác nhau: Phật giáo Bắc truyền gọi chung bốn A-hàm Trường, Trung, Tạp, Tăng nhất là A-hàm bộ; Phật giáo Nam truyền, ngoài bốn A-hàm, gọi Tạp bộ là Khuất-đà-ca (Pāli: Khuddaka) A-hàm, đó là năm A-hàm. Khai Nguyên Thích Giáo Lục quyển 13 nêu ra, kinh Tiểu Thừa Kép, Đơn và Hợp dịch gồm 153 bộ, 394 quyển. Mục lục Đại tạng đời Minh nêu, A- hàm bộ Tiểu thừa có 137 bộ.",
"Search1": "a hàm bộ",
"Search2": "a ham bo"
},
{
"Id": 298,
"Word": "a hàm kinh",
"Dict": 8,
"Mean": "3619阿含,梵語 āgama,巴利語同,又作阿笈摩、阿伽摩、阿鋡暮、阿鋡,意譯法本、淨教、歸、法歸、法藏、藏、教法、傳教、趣無、教、傳、來。阿含一詞,意指所傳承之教說,或傳承佛陀教法之聖典;有時與「法」(梵 dharma)同義。稱阿含爲「阿含經」,乃中國古來之慣例。 原始佛教時代,佛弟子及信者往往將所聞之教法,用詩或簡短散文之形式,以口口相傳之方式記憶傳承。換言之,其根據記憶所傳承者,實乃佛陀教說之梗概;復因佛弟子領納之不同,而各有其相異之思想;故至教團確立時,如何將佛陀之教說作一整理、統一,實屬必要之事。其結果,佛陀之教說漸次充實完備,且逐漸發展爲一種特定之文學形式,而終至成爲聖典,此即阿含經之由來。 關於阿含經成立於何時,應就佛典結集之次第而論:(一)佛陀入滅後,第一個夏季,五百阿羅漢會聚於王舍城外之七葉巖,以大迦葉爲上首,舉行第一次結集,由阿難誦出法(即經),優婆離誦出律,此即歷史上著名之「五百結集」。阿含經之淵源,即導源於此時。(二)佛陀入滅百年頃,七百比丘會聚於毘舍離城,以耶舍爲上首,舉行第二次結集。此次結集以律藏爲主,此即著名之「七百結集」。(三)佛陀入滅後二三六年頃,即阿育王之時期,在華氏城以目犍連子帝須爲上首,舉行第三次結集,至此三藏教法始告完成。(四)佛陀入滅後四百年,在迦膩色迦王護持之下,於迦濕彌羅國以脅尊者、世友爲上首,舉行第四次結集,此次結集以論釋三藏爲主。綜上所述,阿含經於第一結集時誦出,於第二結集以後,即西元前三世紀前後,爲阿含經正式成立之時期。 阿含經之文學形式,有九分教、十二分教二種分類。其中九分教如下:(一)經,(二)重頌,(三)記說,(四)偈頌,(五)感興偈,(六)如是語(本事),(七)本生,(八)方廣,(九)未曾有法。以上九項再加因緣、譬喻、論議等三項,則爲十二分教。上述九分教比十二分教較早成立,然佛教聖典之部類學,則以十二分教爲定論。 佛陀入滅後一百年,原始佛教之統一教團分裂爲上座部與大眾部。其後復細分爲小乘二十部,各部派均各有其獨自傳承之經藏。依現今資料之顯示,當時至少有南方上座部、有部、化地部、法藏部、大眾部、飲光部、經量部等所傳之經典存在。然至今日僅有南方上座部之經典完全保存下來,計有五部,係以巴利語書寫,即長部,中部、相應部、增支部、小部(即屈陀迦阿含),此即南傳五部,又稱南傳五阿含。至於北傳方面則匯集其他諸部片斷之經典,成立長阿含、中阿含、增一阿含、雜阿含等四阿含,係以梵文書寫,此即北傳四阿含。其中南傳之長部、中部相當於北傳之長阿含、中阿含,相應部相當於雜阿含,增支部相當於增一阿含。此外,因南傳五部以巴利文書寫,較接近佛世所用之俗語,故一般以爲南傳比北傳更富於原始色彩,故近世學者於原始資料之採證上,多喜用巴利文聖典來對照研究。 傳統上,中國佛教學者,尤其是大乘佛教學者,往往將阿含經視爲小乘經典,故在中國、日本教理史上向來未被重視。直至近世歐洲諸國加以研究,自一八二○年代始漸受重視,而確認阿含經並非僅爲小乘經典,乃是原始佛教之經典,其內容包含佛陀之世界觀、人生觀及實踐之方法條目等,具有多重意義及價值。 北傳之四阿含中,長阿含經共二十二卷,內有四分三十經。第一分諸經爲有關佛陀之記載;第二分爲修行、教理之經典;第三分爲外道之論難;第四分論述世界之生滅成敗。中阿含經共六十卷,內含二二二經,旨在揭示四諦、十二因緣、譬喻,及佛陀與弟子之言行。增一阿含經共五十一卷,係彙集各類法數之經典,因其彙收一法至十一法等諸法數,故稱爲增一。雜阿含經共五十卷,彙集短而雜之經而成,故稱雜阿含。 南傳之五阿含與北傳之四阿含,內容未必全然相符,間亦有彼此出入者。南傳阿含有五分說,北傳則有四分、五分兩說,下圖爲各說之對照表: 四漢譯阿含經之同本異譯、別生經表:〔般泥洹經卷下、北本大般涅槃經卷十三、大智度論卷二、異部宗輪論、俱舍論卷二十九、分別功德論卷一、出三藏記集卷九、玄應音義卷二十三、原始佛教聖典之集成(印順)〕(參閱「阿含」3617、「結集」5187)",
"Search1": "a hàm kinh",
"Search2": "a ham kinh"
},
{
"Id": 299,
"Word": "a hàm kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Āgama sūtra (P).",
"Search1": "a hàm kinh",
"Search2": "a ham kinh"
},
{
"Id": 300,
"Word": "a hàm kinh",
"Dict": 2,
"Mean": "Gồm bốn bộ—Agama (skt) sutras. There are four Agama sutras: 1) Trường A Hàm: Dirghagama (skt)—Tập hợp những kinh văn dài, 22 quyểnLong Treatises on cosmogony, 22 books. 2) Trung A Hàm: Madhya-agama (skt)—Tập hợp các kinh văn không dài không ngắn, 60 quyển—Middle treatises on metaphysics, 60 books. 3) Tạp A Hàm: Samyuktagama (skt)—Hổn hợp của 3 loại A Hàm kia, 50 quyển—Miscellaneous treatises on abstract contemplation, 50 books. 4) Tăng Nhứt A Hàm: Ekottaragama (skt)—Sưu tập số của Pháp Môn, 51 quyển—Numerical treatises subjects treated numerically, 51 books. ** For more information, please see Tứ A Hàm in Vietnamese-English Section, and Agama in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a hàm kinh",
"Search2": "a ham kinh"
},
{
"Id": 301,
"Word": "a hàm kinh",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿含經) A-hàm, Phạm, Pāli: Àgama. Cũng gọi A-cấp-ma, A-già-ma, A-hàm bộ, A-hàm. Dịch ý là Pháp bản, Tịnh giáo, Qui, Pháp qui, Pháp tạng, Tạng, Giáo pháp, Truyền giáo, Thú vô, Giáo, Truyền, Lai, Tạng. A-hàm, chỉ cho giáo pháp được truyền thừa, hoặc là Thánh điển truyền thừa giáo pháp của đức Phật. Có khi nó cùng nghĩa với Pháp (Phạm: dharma). Gọi A-hàm là kinh A-hàm là do thói quen xưa nay của người Trung Quốc. Ở thời đại Phật giáo Nguyên Thủy, các vị đệ tử Phật và tín đồ, thường dùng thể thơ hoặc những đoạn văn xuôi ngắn gọn, hoặc dùng phương thức truyền miệng lẫn nhau, để ghi nhớ và truyền thừa những giáo pháp đã được nghe đức Phật nói. Nói cách khác, cái căn cứ ghi nhớ của những người truyền thừa ấy, chính là giáo thuyết khái quát của đức Phật. Lại vì các đệ tử Phật tiếp thu không giống nhau, nên mới có những tư tưởng khác nhau. Bởi thế, đến khi giáo đoàn được thành lập, thì giáo thuyết của đức Phật phải được chỉnh lí và thống nhất như thế nào, đã trở thành một việc tất yếu. Kết quả, giáo thuyết của đức Phật dần dần được đầy đủ hoàn bị, rồi cũng dần dần phát triển thành một hình thức văn học nhất định và, cuối cùng, trở thành Thánh điển. Đó là nguyên do từ đâu có kinh A-hàm. Kinh A-hàm được thành lập vào thời nào? Vấn đề này phải lần theo thứ tự của các kì kiết tập kinh điển mà bàn, thì mới rõ được:1. Sau khi đức Phật nhập diệt, vào mùa hạ (an cư) đầu tiên, năm trăm vị A-la-hán họp tập ở hang đá Thất Diệp, phía ngoài thành Vương Xá. Ngài Đại Ca-diếp được suy tôn làm Thượng thủ, cử hành kết tập lần thứ nhất, do ngài A-nan tụng lại Pháp (Kinh), ngài Ưu-ba-li tụng lại Luật. Đây là lần kết tập nổi tiếng trong lịch sử và thường được gọi là Ngũ bách kết tập (nghĩa là lần kết tập có năm trăm vị A-la-hán tham dự). 2. Sau đức Phật nhập diệt khoảng một trăm năm, bảy trăm vị Tỉ-khưu hội họp tại thành Tì-xá-li, ngài Da Xá được bầu làm Thượng thủ, cử hành kết tập lần thứ hai. Lần kết tập này chủ yếu là tụng lại tạng Luật. Đây cũng là lần kết tập trứ danh và thường được gọi là Thất bách kết tập (cuộc kết tập có bảy trăm vị Tỉ-khưu tham dự). 3. Sau đức Phật nhập diệt khoảng hai trăm ba mươi sáu năm, tức vào thời vua A-dục, ở thành Hoa Thị, dưới sự chủ tọa của ngài Mục-kiền-liên Tử-đế-tu, cuộc kết tập lần thứ ba đã được tổ chức và, đến đây, ba tạng giáo pháp mới được hoàn thành. 4. Sau Phật nhập diệt bốn trăm năm, ở nước Ca-thấp-di-la, dưới sự hộ trì của vua Ca- nị-sắc-ca, Hiếp Tôn giả và ngài Thế Hữu được suy tôn làm Thượng thủ, cử hành kết tập lần thứ tư. Lần kết tập này chủ yếu là làm Luận để giải thích ba tạng. Tóm lại, kinh A-hàm được tụng lại trong lúc kết tập lần thứ nhất, từ lần kết tập thứ hai về sau, tức khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch, là thời kì kinh A-hàm chính thức được thành lập. Về hình thức văn học của kinh A-hàm, thì chia làm hai loại: chín thể tài, mười hai thể tài. Chín thể tài gồm có: Kinh, Trùng tụng, Kí thuyết, Kệ tụng, Cảm hứng kệ, Như thị ngữ (Bản sự), Bản sinh, Phương quảng, Vị tằng hữu pháp. Mười hai thể tài gồm chín loại trên đây, cộng thêm Nhân duyên, Thí dụ, Luận nghị, thì thành mười hai thể tài. Chín thể tài được thành lập sớm hơn mười hai thể tài, nhưng về bộ loại văn học của Thánh điển Phật giáo, thì lấy mười hai thể tài làm luận cứ nhất định. Sau đức Phật nhập diệt một trăm năm, giáo đoàn thống nhất của Phật giáo nguyên thủy, bị phân hóa thành Thượng tọa bộ và Đại chúng bộ. Về sau lại chia nhỏ ra thành hai mươi bộ phái Tiểu thừa và mỗi bộ phái đều có kinh tạng truyền thừa riêng của mình. Theo những tư liệu hiện nay cho thấy, lúc bấy giờ, ít ra cũng còn tồn tại các kinh điển do Thượng tọa bộ phương Nam, Hữu bộ, Hóa Địa bộ, Pháp Tạng bộ, Đại Chúng bộ, Ẩm Quang bộ và Kinh Lượng bộ truyền. Nhưng cho đến ngày nay, chỉ có kinh điển của Thượng tọa bộ phương Nam là được bảo tồn một cách toàn vẹn, gồm có năm bộ, viết bằng tiếng Pāli, đó là: Trường bộ, Trung bộ, Tương Ưng bộ, Tăng Chi bộ và Tiểu Bộ (tức Khuất-đà-ca A-hàm), đây là năm bộ Nam truyền, cũng gọi là năm A- hàm Nam truyền. Về phương diện Bắc truyền, thì những kinh điển rời rạc lẻ tẻ của các bộ phái được gom lại mà làm thành bốn A-hàm: Trường A- hàm, Trung A-hàm, Tăng Nhất A-hàm và Tạp A-hàm, viết bằng tiếng Phạm, đây là bốn bộ A-hàm Bắc truyền. Trong đó, Trường bộ, Trung bộ của Nam truyền tương đương với Trường A-hàm, Trung A-hàm của Bắc truyền, Tương Ưng bộ tương đương với Tạp A-hàm, Tăng Chi bộ tương đương với Tăng Nhất A-hàm. Ngoài ra, vì năm bộ Nam truyền viết bằng văn Pāli, gần với tiếng nói hằng ngày ở thời đức Phật hơn, nên thông thường người ta cho Nam truyền giàu sắc thái Nguyên thủy hơn Bắc truyền. Và cũng vì thế nên các học giả cận đại, muốn khảo chứng các tư liệu nguyên thủy, phần nhiều thích dùng Thánh điển văn Pāli để đối chiếu nghiên cứu. Về phương diện truyền thống, các học giả Phật giáo Trung Quốc, nhất là các học giả Phật giáo Đại thừa, thường cho kinh A-hàm là kinh điển Tiểu thừa. Bởi vậy, về mặt giáo lí sử, ở Trung Quốc, Nhật bản, các kinh A hàm trước nay vẫn không được coi trọng. Mãi đến thời cận đại các nước châu Âu mới để tâm nghiên cứu, từ năm 1820 dần dần mới coi trọng và xác nhận: Kinh A-hàm không phải chỉ là kinh điển Tiểu thừa, mà còn là kinh điển của Phật giáo Nguyên thủy. Nội dung của nó bao hàm cả thế giới quan, nhân sinh quan và phương pháp thực tiễn của đức Phật, có nhiều ý nghĩa và giá trị quan trọng. Trong bốn A-hàm Bắc truyền, thì: 1. Kinh Trường A-hàm, gồm 22 quyển, chia làm bốn phần ba mươi kinh. Các kinh trong phần thứ nhất nói về đức Phật, phần thứ hai là kinh điển nói về giáo lí và sự tu hành, phần thứ ba là những lời luận nạn của ngoại đạo, phần thứ tư bàn về sự sinh diệt thành bại của thế giới. 2. Kinh Trung A-hàm gồm 60 quyển, có 222 kinh, đại ý nói rõ bốn đế, mười hai nhân duyên, ví dụ, những lời nói và việc làm của đức Phật và các vị đệ tử. 3. Kinh Tăng nhất A-hàm gồm 51 quyển, là kinh gom góp các loại pháp số. Vì kinh này gom thu các pháp số từ một pháp đến mười một pháp, cho nên gọi là Tăng Nhất (thêm một). 4. Kinh Tạp A-hàm gồm 50 quyển, do góp nhặt các kinh ngắn và lẫn lộn nhiều thứ mà thành, cho nên gọi là Tạp A-hàm. Năm A-hàm Nam truyền và bốn A-hàm Bắc truyền, nội dung chưa hẳn đã hoàn toàn giống nhau, mà đôi khi cũng có chỗ hơi khác nhau. A-hàm Nam truyền có thuyết năm phần, A-hàm Bắc truyền thì có hai thuyết bốn phần và năm phần. Đồ biểu đối chiếu các thuyết như sau: I. Thuyết năm Nikàya * Luật nhất thiết thiện kiến văn Pāli: 1. Dìgha nikàya. 2. Majjhima nikàya. 3. Saôyutta nikàya. 4. Aíguttara nikàya. 5. Khuddaka nikàya. II. Thuyết năm A-hàm. * Thiện Kiến luật Tì-bà-sa quyển 1: 1. Trường A-hàm. 2. Trung A-hàm. 3. Tăng-thuật-đa A-hàm. 4. Ương-quật-đa-la A-hàm. 5. Khuất-đà-ca A-hàm. III. Thuyết bốn A-hàm năm bộ. * Luật Ngũ phần quyển 30, Luật Ma-ha Tăng Kì quyển 32, Luật Tứ phần quyển 54: 1. Trường A-hàm. 2. Trung A-hàm. 3. Tạp A-hàm. 4. Tăng Nhất A-hàm. 5. Tạp tạng. IV. Thuyết năm A-cấp-ma. * Pháp trụ kí: 1. Trường A-cấp-ma. 2. Trung A-cấp-ma. 4. Tương ứng A-cấp-ma. 3. Tăng Nhất A-cấp-ma. 5. Tạp loại A-cấp-ma. V. Thuyết bốn A-hàm. * Hữu Bộ Tì-nại-da Tạp Sự quyển 39: 2. Trường. 3. Trung. 1. Tương . 4. Tăng. * Tăng Nhất A-hàm Tự phẩm: 3. Trường. 2. Trung. 4. Tạp. 1. Tăng. * Du Già Sư Địa Luận quyển 85: 3. Trường. 2. Trung. 1.Tạp. 4. Tăng. * Tuyển tập tam tạng và Tạp tạng truyền: 3. Trường. 2. Trung. 4. Tạp. 1. Tăng. * Kinh Ban-nê-hoàn: 2. Trường. 1. Trung. 4. Tạp. 3. Tăng. Bốn kinh A-hàm Hán dịch cùng một bản tiếng Phạm mà dịch khác, và các kinh Biệt sinh được biểu liệt như sau: I. Bản Hán dịch đề tên là Tạp A-hàm và các bản dịch của các bộ phận khác được trích lục (kinh Biệt sinh). 1. Kinh Tạp A-hàm 50 quyển, Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 2. Kinh Biệt Sinh Tạp A-hàm, 16 hay 20 quyển, đời Hậu Tần, mất tên người dịch. 3. Kinh Tạp A-hàm 1 quyển, đời Ngô, mất tên người dịch. 4. Kinh Phật Thuyết Thất Xứ Tam Quán 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 2 và quyển 34), An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 5. Kinh Ngũ Uẩn Giai Không 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 2) Nghĩa Tịnh đời Đường dịch. 6. Kinh Phật Thuyết Thánh Pháp Ấn 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 3) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch.7. Kinh Phật Thuyết Pháp Ấn 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 3) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 8. Kinh Ngũ Ấm Thí Dụ 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 10) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 9. Kinh Phật Thuyết Thủy Mạt Sở Phiêu 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 10) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 10. Kinh Phật Thuyết Bất Tự Thủ Ý 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 11) Chi Khiêm đời Ngô dịch.11. Kinh Phật Thuyết Mãn Nguyện Tử 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 13) đời Đông Tấn, mất tên người dịch. 12. Kinh Phật Thuyết Chuyển Pháp Luân 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 15) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 13. Kinh Tam Chuyển Pháp Luân 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 15) Nghĩa Tịnh đời Đường dịch.14. Kinh Phật Thuyết Tương Ứng Tương Khả 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 16) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 15. Kinh Luân Vương Thất Bảo 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 27) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch.16. Kinh Phật Thuyết Bát Chính Đạo 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 28) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 17. Kinh Nan Đề Thích 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 30) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 18. Kinh Phật Thuyết Mã Hữu Tam Tướng 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 33) Chi Diệu đời Hậu Hán dịch. 19. Kinh Phật Thuyết Mã Hữu Bát Thái Thí Nhân 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 33) Chi Diệu đời Hậu Hán dịch. 20. Kinh Phật Thuyết Giới Đức Hương 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 21. Kinh Phật Thuyết Giới Hương 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 22. Kinh Ương Quật Ma 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 23. Kinh Ương Quật Kế 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 24. Kinh Ương Quật Ma La 4 quyển (Tạp A-hàm quyển 38) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 25. Kinh Nguyệt Dụ 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 41) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 26. Kinh Phạm Chí Kế Thủy Tịnh 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 44) đời Đông Tấn, mất tên người dịch. 27. Kinh Đại Tam Ma Nhạ 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 44) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 28. Kinh Thụ Tân Tuế 1 quyển (Tạp A- hàm quyển 45) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 29. Kinh Tân Tuế 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 45) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 30. Kinh Giải Hạ 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 45) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 31. Kinh Ba Tư Nặc Vương Thái Hậu Băng Trần Thổ Bộn Thân 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 46) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 32. Kinh Phóng Ngưu 1 quyển (Tạp A-hàm quyển 47) Cưu-ma-la-thập đời Hậu Tần dịch. II. Trung A-hàm * Cùng một bản tiếng Phạm nhưng có hai bản Hán dịch khác nhau: 1. Kinh Trung A-hàm 59 quyển, Đàm-ma-nan-đề đời Phù Tần dịch (đã mất). 2. Kinh Trung A-hàm 60 quyển, Tăng-già-đề-bà đời Đông Tấn dịch (hiện còn). * Biệt Sinh kinh, có sáu mươi sáu: 1. Kinh Phật thuyết thất tri 1 quyển (kinh Thiện pháp) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 2. Kinh Phật Thuyết Viên Sinh Thụ 1 quyển (kinh Trú Độ Thụ) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 3. Kinh Phật Thuyết Hàm Thủy Dụ 1 quyển (kinh Thủy Dụ), mất tên người dịch. 4. Kinh Phật Thuyết Tát-bát-đa-tô-li-du-nại-dã 1 quyển (kinh Thất Nhật) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 5. Kinh Phật Thuyết Nhất Thiết Lưu Nhiếp Thủ Nhân (kinh Lậu Tận) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 6. Kinh Phật Thuyết Tứ Đế (kinh Phân Biệt Thánh Đế) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 7. Kinh Phật Thuyết Hằng Thủy (kinh Chiêm Ba) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 8. Kinh Pháp Hải 1 quyển (kinh Chiêm Ba) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 9. Kinh Phật Thuyết Hải Bát Đức 1 quyển (kinh Chiêm Ba) Cưu-ma-la-thập đời Hậu Tần dịch. 10. Kinh Phật Thuyết Bản Tướng Y Trí 1 quyển (kinh Bản Tế) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 11. Kinh Phật Thuyết Duyên Bản Trí 1 quyển (kinh Bản Tế), mất tên người dịch. 12. Kinh Phật Thuyết Luân Vương Thất Bảo 1 quyển (kinh Thất Bảo) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 13. Kinh Phật Thuyết Đỉnh Sinh Vương Cố Sự 1 quyển (kinh Tứ Châu) Đàm Vô Sấm đời Bắc Lương dịch. 14. Kinh Phật Thuyết Văn Đà Kiệt Vương 1 quyển (kinh Tứ Châu) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 15. Kinh Phật thuyết Tần-bà-sa-la Vương 1 quyển (kinh Tần-bà-sa-la Vương Nghinh Phật) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 16. Kinh Phật Thuyết Thiết Thành Nê Lê 1 quyển (kinh Thiên Sứ) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 17. Kinh Phật Thuyết Diêm La Vương Ngũ Thiên Sứ Giả 1 quyển (kinh Thiên Sứ) Tuệ Giản đời Lưu Tống dịch. 18. Kinh Phật Thuyết Cổ Lai Thế Thời 1 quyển (kinh Thuyết Bản), mất tên người dịch.19. Kinh Đại Chính Cú Vương 1 quyển (kinh Bì Tứ) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 20. Kinh Phật Thuyết A Na Luật Bát Niệm 1 quyển (kinh Bát Niệm) Chi Diệu đời Hậu Hán dịch. 21. Kinh Phật Thuyết Li Thụy 1 quyển (kinh Trưởng Lão Thượng Tôn Thụy Miên) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 22. Kinh Phật Thuyết Thị Pháp Phi Pháp 1 quyển (kinh Chân Nhân) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 23. Kinh Phật Thuyết Cầu Dục 1 quyển (kinh Uế Phẩm) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 24. Kinh Phật Thuyết Thụ Tuế 1 quyển (kinh Tỉ Khưu Thỉnh) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 25. Kinh Phật Thuyết Phạm Chí Kế Thủy Tịnh 1 quyển (kinh Thủy Tịnh Phạm Chí), mất tên người dịch. 26. Kinh Phật Thuyết Đại Sinh Nghĩa 1 quyển (kinh Đại nhân) Thí hộ đời Bắc Tống dịch.27. Kinh Phật Thuyết Khổ Ấm 1 quyển (kinh Khổ Ấm), mất tên người dịch. 28. Kinh Phật Thuyết Khổ Ấm Nhân Sự 1 quyển (kinh Khổ Ấm) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch.29. Kinh Phật Thuyết Thích Ma Nam Bản Tứ tử 1 quyển (kinh Khổ Ấm) Chi Khiêm Đời Ngô dịch. 30. Kinh Phật Thuyết Lạc Tưởng 1 quyển (kinh Tưởng) Trúc Pháp Hộ đời Hậu Hán dịch.31. Kinh Phật Thuyết Lậu Phân Bá 1 quyển (kinh Đạt Phạm Hạnh) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 32. Kinh Phật Thuyết A Nậu Phong 1 quyển (kinh A-nô-ba) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 33. Kinh Phật Thuyết Chư Pháp Bản 1 quyển (kinh Chư Pháp Bản) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 34. Kinh Phật Thuyết Cù Đàm Di Kí 1 quyển (kinh Cù Đàm Di) Tuệ Giản đời Lưu Tống dịch. 35. Kinh Phật Thuyết Chiêm Ba Tỉ Khưu 1 quyển (kinh Chiêm Ba) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 36. Kinh Phật Thuyết Phục Dâm 1 quyển (kinh Hành Dục) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 37. Kinh Phật Thuyết Ma Nhiễu Loạn 1 quyển (kinh Hàng Ma), mất tên người dịch. 38. Kinh Tệ Ma Thí Mục Liên 1 quyển (kinh Hàng Ma) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 39. Kinh Phật Thuyết Lại Tra Hòa La 1 quyển (kinh Lại Tra Hòa La) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 40. Kinh Phật Thuyết Hộ Quốc 1 quyển (kinh Lại Tra Hòa La) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 41. Kinh Phật Thuyết Đế Thích Sở Vấn 1 quyển (kinh Thích Vấn) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 42. Kinh Phật Thuyết Số 1 quyển (kinh Toán Số Mục Kiền Liên) Pháp cự đời Tây Tấn dịch. 43. Kinh Phạm Chí Át Ba La Diên Vấn Chủng Tôn (kinh A-nhiếp-hòa) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 44. Kinh Phật Thuyết Tu Đạt 1 quyển (kinh Tu-đạt-đá) Cầu-na-tì- địa đời Tiêu Tề dịch. 45. Kinh Phật Thuyết Trưởng Giả Thí Bảo 1 quyển (kinh Tu-đạt-đá) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 46. Kinh Phật Thuyết Tam Qui Ngũ Giới Từ Tâm Yếm Li Công Đức 1 quyển (kinh Tu-đạt-đá), mất tên người dịch. 47. Kinh Phật Vị Hoàng Trúc Viên Lão Bà La Môn Thuyết Học 1 quyển (kinh Hoàng Lư Viên), mất tên người dịch. 48. Kinh Phạm Ma Du 1 quyển (kinh Phạm-ma) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 49. Kinh Phật Thuyết Tôn Thượng 1 quyển (kinh Thích Trung Thiền Thất Tôn) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 50. Kinh Phật Thuyết Đâu Điều (kinh Anh Vũ), mất tên người dịch. 51. Kinh Phật Thuyết Anh Vũ 1 quyển (kinh Anh Vũ) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 52. Kinh Phật Vị Thủ Ca Trưởng Giả Thuyết Nghiệp Báo Sai Biệt 1 quyển (kinh Anh Vũ) Cù Đàm Pháp Trí đời Tùy dịch. 53. Kinh Phân Biệt Thiện Ác Nghiệp Báo Ứng 2 quyển (kinh Anh Vũ) Thiên Tức Tai đời Bắc Tống dịch. 54. Kinh Phật Thuyết Ý 1 quyển (Tâm kinh) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 55. Kinh Phật Thuyết Ứng Pháp 1 quyển (kinh Thụ Pháp) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 56. Kinh Phật Thuyết Phân Biệt Bố Thí 1 quyển (kinh Cù-đàm-di) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 57. Kinh Phật Thuyết Tức Tránh Nhân Duyên 1 quyển (kinh Chu Na) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 58. Kinh Phật Thuyết Nê Lê 1 quyển (kinh Si Tuệ Địa) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 59. Kinh Phật Thuyết Trai (Phụ Phật Thuyết Trai Kinh Khoa Chú) 1 quyển (kinh Trì Trai) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 60. Kinh Phật Thuyết Ưu Bà Di Đọa Xá Ca 1 quyển (kinh Trì Trai), mất tên người dịch. 6 1. Kinh Phật Thuyết Bát Quan Trai 1 quyển ( Kinh Trì Trai) Thư cừ kinh thanh đời Lưu Tống dịch . 62. Kinh Phật thuyết Tì-ma-tuc1quyển (kinh Tì ma na tu) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 63. Kinh Phật Thuyết Bà La Môn Tư Mệnh Chung Ái Niệm Bất Li 1 quyển (Kinh Ái Sinh) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 6 4. Kinh Phật Thuyết Thập Chi Cư Sĩ Bát Thành Nhân 1 quyển (kinh bát thành) A n thế cao đời Hậu Hán dịch . 65 . Kính Phật thuyết tà kiến 1 quyển (Kiến kinh) , mất tên người dịch . 66 . Kinh Phật thuyết tiễn dụ 1 quyển (kinh Tiển dụ) , mất tên người dịch . * Phân loại nội dung kinh Trung A-hàm (Tăng Triệu): gồm 5 tụng 18 phẩm 22 kinh 60 quyển. 1.Tụng đầu... năm phẩm rưỡi... sáu mươi tư kinh... 12 quyển. 2. Tiểu thổ thành tụng... bốn phẩm rưỡi... ba mươi lăm kinh... 16 quyển. 3. Niệm tụng... một phẩm rưỡi... năm mươi hai kinh... 9 quyển. 4. Phân biệt tụng... hai phẩm, hai nửa phẩm... ba mươi lăm kinh... 11 quyển. 5. Tụng cuối... ba phẩm rưỡi... ba mươi sáu kinh... 12 quyển. III. Trường A-hàm - kinh Biệt Sinh: 1. Kinh Thất Phật 1 quyển (Phần đầu của kinh Đại Bản Duyên) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 2. Kinh Tì Bà Thi Phật 2 quyển (phần sau của kinh Đại Bản Duyên) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 3. Kinh Phật Ban Nê Hoàn 2 quyển (kinh Du Hành) Bạch Pháp tổ đời Tây Tấn dịch. 4. Kinh Đại Bát Niết Bàn 3 quyển (kinh Du Hành) Pháp Hiển đời Đông Tấn dịch. 5. Kinh Ban Nê Hoàn 2 quyển (kinh Du Hành) đời Đông Tấn, mất tên người dịch. 6. Kinh Đại Kiên Cố Bà La Môn Duyên Khởi 2 quyển (kinh Điển Tôn) Thi Hộ đời Bắc Tống dịch. 7. Kinh Nhân Tiên 1 quyển (kinh Xà-ni-sa) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 8. Kinh Bạch Y Kim Chàng Nhị Bà La Môn Duyên Khởi 2 quyển (kinh Tiểu Duyên) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 9. Kinh Ni Câu Đà Phạm Chí 2 quyển (kinh Tán-đà-na) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 10. Kinh Đại Tập Pháp Môn 2 quyển (kinh Chúng Tập) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 11. Kinh Trường A-hàm Thập Báo Pháp (kinh Thập Thượng) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 12. Kinh Nhân Bản Dục Sinh 1 quyển (kinh Đại Duyên Phương Tiện) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 13. Kinh Thi Ca La Việt Lục Phương Lễ 1 quyển (kinh Thiện Sinh) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 14. Kinh Tín Phật Công Đức 1 quyển (kinh Tự Hoan Hỉ) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch.15. Kinh Đại Tam Ma Nhạ 1 quyển (kinh Đại Hội) Pháp Thiên đời Bắc Tống dịch. 16. Kinh Phật Khai Giải Phạm Chí A Bạt 1 quyển (kinh A-ma-trú) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 17. Kinh Phạm Võng Lục Thập Nhị Kiến 1 quyển (kinh Phạm Động) Chi Khiêm đời Ngô dịch.18. Kinh Tịch chí quả 1 quyển (kinh Sa Môn Quả) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 19. Kinh Đại Lâu Thán 6 quyển (kinh Thế Kí) Pháp Cự, Pháp Lập đời Tây Tấn dịch. 20. Kinh Khởi Thế (kinh Thế Kí) Xà Na Quật Đa đời Tùy dịch. 21. Kinh Khởi Thế Nhân Bản 10 quyển (kinh Thế Kí) Đạt-ma-cấp-đa đời Tùy dịch. IV. Tăng nhất A-hàm - kinh Biệt Sinh: 1. Kinh A-la-hán Cụ Đức 1 quyển (phẩm đệ tứ Đệ tử, phẩm đệ ngũ Tỉ-khưu Ni, phẩm đệ lục Thanh tín sĩ, phẩm đệ thất Thanh tín nữ, là cùng bản tiếngPhạm) Pháp Hiền đời Bắc Tống dịch. 2. Kinh Tứ Nhân Xuất Hiện Thế Gian 1 quyển (cùng bản tiếng Phạm với phẩm Tứ ý đoạn) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 3. Kinh Ba-tư-nặc Vương Thái Hậu Băng Trần Thổ Bộn Thân 1 quyển (cùng bản tiếng Phạm với phẩm Tứ ý đoạn) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 4. Kinh Tu-ma-đề-nữ 1 quyển (cùng bản phẩm Tu-đà) Chi Khiêm đời Ngô dịch. 5. Kinh Cấp Cô Trưởng Giả Nữ Đắc Độ Nhân Duyên 1 quyển (cùng bản phẩm Tu-đà) Thí Hộ đời Bắc Tống dịch. 6. Kinh Tam-ma-kiệt 1 quyển (cùng bản phẩm Tu-đà) Trúc Luật Viêm đời Ngô dịch. 7. Kinh Bà La Môn Tị Tử 1 quyển (cùng bản phẩm Tăng thượng) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 8. Kinh Thực Thí Hoạch Ngũ Phúc Báo 1 quyển (cùng bản phẩm Thiện Tụ) đời Đông Tấn, mất tên người dịch. 9. Kinh Tần-tì-sa-la Vương Nghệ Phật Cúng Dường 1 quyển (cùng bản phẩm Đẳng Kiến) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 10. Kinh Trưởng Giả Tử Lục Quá Xuất Gia 1 quyển (cùng bản phẩm Tà Tụ) Tuệ Giản đời Lưu Tống dịch. 11. Kinh Ương Quật Ma 1 quyển (cùng bản phẩm Lực) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 12. Kinh Ương Quất Kế 1 quyển (cùng bản phẩm Lực) Pháp Cự đời Tây Tấn dịch. 13. Kinh Lực Sĩ Di Sơn 1 quyển (cùng bản phẩm Bát Nạn) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 14. Kinh Tứ Vị Tằng Hữu Pháp (cùng bản phẩm Bát Nạn) Trúc Pháp Hộ đời Tây Tấn dịch. 15. Kinh Xá-lợi-phất Ma-ha Mục- liên Du Tứ Cù 1 quyển (cùng bản phẩm Mã Vương) Khang Mạnh Tường đời Hậu Hán dịch. 16. Kinh Thất Phật Phụ Mẫu Tính Tự 1 quyển (cùng bản phẩm Thập Bất Thiện) đời Tào Ngụy, mất tên người dịch. 17. Kinh Phóng Ngưu 1 quyển (cùng bản phẩm Phóng Ngưu) Cưu-ma-la-thập đời Hậu Tần dịch. 18. Kinh Duyên Khởi 1 quyển (cùng bản phẩm Phóng Ngưu) Huyền Trang đời Đường dịch. 19. Kinh Thập Nhất Tưởng Tư Niệm Như Lai 1 quyển (cùng bản phẩm Lễ Tam Bảo) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 20. Kinh Tứ-nê-lê 1 quyển (cùng bản phẩm lễ Tam Bảo) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 21. Kinh A-na-bân-khâu Hóa Thất Tử 1 quyển (cùng bản phẩm Phi Thường) An Thế Cao đời Hậu Hán dịch. 22. Kinh Ngọc Da Nữ 1 quyển (cùng bản phẩm Phi Thường) đời Tây Tấn, mất tên người dịch. 23. Kinh Ngọc Da 1 quyển (cùng bản phẩm Phi Thường) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. 24. Kinh A-sắc-đạt 1 quyển (cùng bản phẩm Phi Thường) Cầu-na-bạt-đà-la đời Lưu Tống dịch. 25. Kinh Đại Ái Đạo Ban Niết Bàn 1 quyển (cùng bản phẩm Đại Ái Đạo Ban Niết Bàn) Tuệ Giản đời Lưu Tống dịch. 26. Kinh Phật Mẫu Ban Nê Hoàn 1 quyển (cùng bản Đại Ái Đạo Ban Niết Bàn) Bạch Pháp tổ đời Tây Tấn dịch. 27. Kinh Xá vệ Quốc Vương Thập Mộng 1 quyển (cùng bản phẩm Đại Ái Đạo Ban Niết Bàn) đời Tây Tấn, mất tên người dịch. 28. Kinh Quốc Vương Bất Lê Tiên Nê Thập Mộng 1 quyển (cùng bản phẩm đại ái đạo ban niết bàn) Trúc Đàm Vô Lan đời Đông Tấn dịch. [X. kinh Ban Nê Hoàn Q.Hạ; Xuất Tam tạng kí tập Q.9; Huyền Ứng Âm Nghĩa Q.23; Nguyên Thủy Phật giáo Thánh Điển Chi Tập Thành (Ấn Thuận)]. (xt. A Hàm, Kết Tập).",
"Search1": "a hàm kinh",
"Search2": "a ham kinh"
},
{
"Id": 302,
"Word": "a hàm thời",
"Dict": 8,
"Mean": "3617又作鹿苑時。乃天台五時判教之第二。指佛陀成道後三七(二十一)日,初住鹿野苑,後往十六大國,對小機宣說小乘教凡十二年。因其間所詮之經爲阿含經,故稱此時期爲阿含時;又因佛陀於此時期最初說法之場所在鹿野苑,故又稱爲鹿苑時。",
"Search1": "a hàm thời",
"Search2": "a ham thoi"
},
{
"Id": 303,
"Word": "a hàm thời",
"Dict": 2,
"Mean": "Một trong năm thời thuyết pháp của Đức Phật. Thời Đức Thế Tôn nói về kinh A Hàm (Lộc Uyển Thời) trong khoảng 12 năm tại vườn Lâm Tỳ Ni—One of the five periods, the period when the Buddha taught Hinayana doctrine in the Lumbini garden during the first twelve years of his ministry.",
"Search1": "a hàm thời",
"Search2": "a ham thoi"
},
{
"Id": 304,
"Word": "a hàm thời",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿含時) Còn gọi là Lộc uyển thời. Là thời thứ hai trong năm thời phán giáo của tông Thiên Thai. Chỉ cho thời gian sau khi đức Phật thành đạo hai mươi mốt ngày, trước hết đức Phật đến vườn Lộc dã, sau Ngài đi khắp mười sáu nước lớn, đối với những người căn cơ nhỏ bé, tuyên thuyết giáo pháp Tiểu thừa, trong mười hai năm. Vì trong khoảng thời gian đó, các kinh được thuyết giảng là kinh A-hàm, cho nên mới gọi là thời A-hàm; lại vì nơi đầu tiên mà đức Phật thuyết pháp trong thời kỳ này là ở vườn Lộc Dã, cho nên cũng gọi là thời Lộc Uyển.",
"Search1": "a hàm thời",
"Search2": "a ham thoi"
},
{
"Id": 305,
"Word": "á hê xiết đát la quốc",
"Dict": 2,
"Mean": "Ahicchatra (skt)—Còn gọi là A Đam Xa Đa La, một kinh đô của vương quốc cổ nằm trong vùng trung Ấn—A citadel of an ancient kingdom in Central India.",
"Search1": "á hê xiết đát la quốc",
"Search2": "a he xiet dat la quoc"
},
{
"Id": 306,
"Word": "a hiệu",
"Dict": 8,
"Mean": "3665日本佛教用語。日本淨土宗、時宗對於過世僧侶之法諱以外所加贈之稱號。全稱阿彌陀佛號、阿彌陀佛名。即於僧侶名字之外,再加上阿彌陀佛之省略字「阿」,稱爲阿號。起源於日本東大寺之俊乘房重源(1121~1206)於聽聞法然說法之後,發願死後若到閻魔王宮,被問起名字時,則唱阿彌陀佛之佛號。由此之故,重源之牌位即寫「大勸進上人南無阿彌陀佛」。其後,又稱南無阿彌陀佛爲空阿彌陀、法阿彌陀,未久即略稱爲空阿、法阿。淨土宗、時宗亦沿襲此種簡稱。〔黑谷上人傳、法然上人行狀畫圖卷十四〕",
"Search1": "a hiệu",
"Search2": "a hieu"
},
{
"Id": 307,
"Word": "a hiệu",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿號) Dụng ngữ của Phật giáo Nhật Bản. Tịnh Độ tông và Thời tông ở Nhật Bản, đối với các vị tăng lữ quá cố, ngoài pháp húy ra, còn tặng thêm A hiệu. Nói đủ là A-di-đà Phật hiệu, A-di-đà Phật danh. Tức ngoài tên chữ của vị tăng lữ ra, lại còn thêm chữ A được nói tắt từ A-di-đà Phật, gọi là A hiệu. Khởi đầu từ Tuấn Thừa Phòng Trùng Nguyên (1121 - 1206) ở chùa Đông Đại, Nhật Bản, sau khi nghe ngài Pháp Nhiên nói pháp, Trùng Nguyên phát nguyện, lúc chết rồi, nếu đến cung vua Diêm ma, khi bị hỏi tên thì nói Phật hiệu A-di-đà Phật. Do đó, bài vị của Trùng Nguyên được viết là Đại khuyến tiến thượng nhân Na mô A di đà Phật. Về sau, Na mô A di đà Phật còn được gọi là Không A-di-đà, Pháp A-di-đà, rồi chẳng bao lâu, lại nói tắt là Không a, Pháp a, tông Tịnh độ và Thời tông cũng noi theo cách gọi tắt ấy. [X. Hắc Cốc Thượng Nhân truyện; Pháp Nhiên Thượng Nhân Hành trạng họa đồ Q.14].",
"Search1": "a hiệu",
"Search2": "a hieu"
},
{
"Id": 308,
"Word": "a hô",
"Dict": 8,
"Mean": "3626爲梵語 ahū 之音譯。意譯奇哉。乃讚美之詞。〔翻譯名義集卷五〕",
"Search1": "a hô",
"Search2": "a ho"
},
{
"Id": 309,
"Word": "a hô",
"Dict": 2,
"Mean": "Ahu (skt)—Tán thán từ—Aho! An interjection.",
"Search1": "a hô",
"Search2": "a ho"
},
{
"Id": 310,
"Word": "a hô",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿呼) Phạm: Ahù. Dịch ý: lạ thay! Là từ khen ngợi. [X. Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.5].",
"Search1": "a hô",
"Search2": "a ho"
},
{
"Id": 311,
"Word": "a hô địa ngục",
"Dict": 8,
"Mean": "3627爲附屬於阿鼻地獄的十小地獄中之一小地獄。又作阿浮地獄。阿鼻地獄又稱無間地獄,乃八大地獄中之第八,墮於此處之眾生,所受之苦無有間隙之時。據起世因本經卷四地獄品載,阿毘脂(阿鼻)地獄除有十六個附隨圍繞之小地獄外,復有十個小地獄,其中第三獄即阿呼地獄。此地獄之眾生受嚴切苦逼時,叫喚而言「阿呼、阿呼」,甚爲苦切,故稱阿呼地獄。此獄眾生與其他諸小地獄眾生皆須受無可計量之長年苦壽,如經中即以「盡二十斛烏麻」爲譬喻,並以遞次之倍數敘述此獄與其他九小獄眾生所應受之年壽果報。〔瑜伽師地論卷四、阿毘達磨藏顯宗論卷十二、諸經要集卷十八、法苑珠林卷七〕",
"Search1": "a hô địa ngục",
"Search2": "a ho dia nguc"
},
{
"Id": 312,
"Word": "a hô địa ngục",
"Dict": 2,
"Mean": "The hell of groaning—See Địa Ngục (4).",
"Search1": "a hô địa ngục",
"Search2": "a ho dia nguc"
},
{
"Id": 313,
"Word": "a hô địa ngục",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿呼地獄) Là một địa ngục nhỏ trong mười tiểu địa ngục phụ thuộc vào địa ngục A-tị. Còn gọi là A-phù địa ngục. Địa ngục A-tị cũng gọi là địa ngục Vô gián, là địa ngục thứ tám trong tám địa ngục lớn, những chúng sinh rơi vào địa ngục này thì phải chịu khổ liên miên, không có lúc nào gián đoạn. Cứ theo kinh Khởi Thế Nhân Bản quyển 4 phẩm Địa Ngục chép, thì địa ngục A-tì-chi (A-tị), ngoài mười sáu địa ngục nhỏ phụ thuộc vây quanh ra, còn có mười tiểu địa ngục nữa, trong đó, ngục thứ ba là địa ngục A-hô. Chúng sinh trong địa ngục này, khi bị khổ não bức thiết quá thì kêu: A hô! A hô! một cách rất đau đớn, vì thế gọi là địa ngục A-hô. Chúng sinh ở địa ngục này và chúng sinh ở các địa ngục nhỏ khác, đều phải chịu những nỗi khổ triền miên, không thể tả được, và số năm chịu khổ thì dài dằng dặc mà trong kinh dùng thí dụ là hết hai mươi hộc hạt vừng (mè), đồng thời, còn gấp bội con số ấy để miêu tả quả báo sống lâu mà chịu khổ của các chúng sinh trong địa ngục A-hô và chín địa ngục nhỏ khác. [X. luận Du Già Sư Địa Q.4; luận A-tì-đạt-ma Tạng Hiển Tông Q.12; Chư Kinh Yếu Tập Q.18; Pháp Uyển Châu Lâm Q.7].",
"Search1": "a hô địa ngục",
"Search2": "a ho dia nguc"
},
{
"Id": 314,
"Word": "a hô hằng hà sơn",
"Dict": 8,
"Mean": "3627梵名 Ahogaṅgā,巴利名同。又作阿哹山、阿吁恆河山、阿休河山、阿烋河山。爲經典第二次結集時,三浮陀商那和修(梵 Sambhūta Sāṇavāsi)所住之山。當「十事非法」興起之際,耶舍(巴 Yasa Kākaṇḍaputta)曾至山上尋訪三浮陀,二人遂共同發起反對運動。在五分律中,曾有「三浮陀在阿哹山上」之說。據巴利本一切善見(巴 Samantapāsādikā)載,目犍連子帝須(巴 Moggaliputta Tissa)曾住在此山,阿育王即由此迎其至首都華氏城(梵 Pātaliputra)。又善見律毘婆沙卷二中,亦曾提及阿烋河山。",
"Search1": "a hô hằng hà sơn",
"Search2": "a ho hang ha son"
},
{
"Id": 315,
"Word": "a hô hằng hà sơn",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿呼恆河山) Phạm, Pāli: Ahogagà. Còn gọi là A-phu-sơn, A-hu Hằng Hà Sơn, A Hưu Hà Sơn. Là ngọn núi mà ngài Tam-phù-đà Thương-na-hòa-tu (Phạm: Sambhùta Sàịavàsi) cư trú trong thời kết tập kinh điển lần thứ hai. Đương lúc Mười điều phi pháp dấy lên, ngài Da-xá (Pāli: Yasa Kàkaịđaputta) lên trên núi thăm ngài Tam-phù-đà, rồi hai người cùng phát khởi cuộc vận động chống lại mười điều phi pháp. Trong luật Ngũ Phần có nói Tam-phù-đà ở trên núi A-phù. Cứ theo Nhất Thiết Thiện Kiến (Pāli: Samantapàsàdikà) bản Pāli chép, thì ngài Mục-kiền-liên Tử-đế-tu (Pāli: Moggaliputta Tissa) đã từng ở núi này và vua A-dục cho người lên đón ngài về thủ đô Hoa Thị Thành (Phạm: Pàtaliputra). Lại trong Thiện Kiến Luật Tì-bà-sa quyển 2 cũng từng đề cập đến núi A-hưu-hà.",
"Search1": "a hô hằng hà sơn",
"Search2": "a ho hang ha son"
},
{
"Id": 316,
"Word": "a hồng",
"Dict": 8,
"Mean": "3617悉曇字??? ???(a hūṃ)。阿爲梵語一切字之母,一切聲之體,爲最初開口之音;吽爲閉口之音,即終極之意。又以阿字有「本不生」之義,吽字有「摧破」之義,故密教多以阿字表萬有發生之理體,以吽字表萬法歸趣之智德;兩字合之,具足甚深微妙之理。於密教中,此二字亦表金剛、胎藏兩部曼荼羅理法身、智法身之德。此外又具有多重相對之意義:(一)阿爲大日如來之種子,吽爲金剛薩埵之種子。(二)阿爲大日經之種子,吽爲金剛頂經之種子。(三)阿吽二字乃出息與入息之風,各表一切眾生本具自證(阿)與化他(吽)之性德。(四)阿爲菩提心之義,吽爲涅槃之義,故阿吽並提即表菩提心與涅槃。(五)以蓮花比喻阿字,表示悉地之果;以水比喻吽字,表示爲使阿字成就之行因。〔大日經卷三成就悉地品、大日經疏卷七、卷十、大日經義釋卷五〕",
"Search1": "a hồng",
"Search2": "a hong"
},
{
"Id": 317,
"Word": "a hồng",
"Dict": 2,
"Mean": "Ahum (skt)—Hai âm “A” và “Hum” là căn bản của hết thảy mọi âm thanh và chữ viết (muôn đức như cát sông Hằng đều bao quát trong hai âm nầy). “A” là sự bắt đầu phát ra âm thanh, “Hum” là sự chấm hết của hơi thở hít vào. Chữ “A” là Đức Tỳ Lô Giá Na, “Hum” là Đức Kim Cang Tát Đỏa, chữ “A” là Bồ Đề Tâm, “Hum” là Niết Bàn, “A” là tuyệt đối hay chân đế, “Hum” là hiện tượng hay thế tục—The supposed foundation of all sounds and writing, “A” being the open and “hum” the closed sound. “A” is the seed of Vairocana, “hum” that of Vajrasattva, “A” being the bodhicitta and “hum” the nirvana, and both have other indications. “A” represents the absolute, “hum” the particular, or phenomenal.",
"Search1": "a hồng",
"Search2": "a hong"
},
{
"Id": 318,
"Word": "a hồng",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿吽) Chữ Tất đàm (a hùô). A là mẹ của tất cả chữ trong Phạm ngữ, là thể của hết thảy tiếng, là tiếng mở miệng đầu tiên. Hồng là tiếng ngậm miệng, tức là ý chung cục. Lại vì chữ A có nghĩa vốn chẳng sinh, chữ Hồng có nghĩa hủy phá, cho nên, Mật giáo phần nhiều dùng chữ A để biểu thị lí thể phát sinh của vạn hữu, và chữ Hồng biểu thị trí đức qui thú của vạn pháp; hợp cả hai chữ lại thì đầy đủ cái lí rất sâu xa vi diệu. Trong Mật giáo, hai chữ này cũng biểu thị cái đức của Lí pháp thân và Trí pháp thân trong Mạn-đồ-la thuộc hai bộ Kim cương, Thai tạng. Ngoài ra, còn nhiều ý nghĩa tương đối quan trọng: 1. A là chủng tử của Đại Nhật Như Lai, Hồng là chủng tử của Kim Cương Tát-đỏa. 2. A là chủng tử của kinh Đại Nhật, Hồng là chủng tử của kinh Kim Cương Đính. 3. Hai chữ A, Hồng là hơi thở ra thở vào, biểu thị hết thảy chúng sinh đều có đủ tính đức tự chứng (A) và hóa tha (Hồng). 4. A là nghĩa tâm Bồ-đề, Hồng là nghĩa Niết-bàn, vì thế, cùng một lúc, nói A Hồng tức biểu thị tâm Bồ-đề và Niết-bàn. 5. Dùng hoa sen thí dụ chữ A, biểu thị quả Tất-địa, dùng nước thí dụ chữ Hồng, biểu thị nhân tu hành khiến cho chữ A thành tựu. [X. kinh Đại Nhật Q.3 phẩm Thành Tựu Tất Địa; Đại Nhật kinh sớ Q.7, Q.10; Đại Nhật kinh nghĩa thích Q.5].",
"Search1": "a hồng",
"Search2": "a hong"
},
{
"Id": 319,
"Word": "a hùm",
"Dict": 6,
"Mean": "The supposed foundation of all sounds and writings. \"A\" being the open and \"Hùm\" the closed sound. \"A\" is the seed of Vairocana, \"Hùm\" that of Vajrasattva Kim cương tát đỏa, and boh have other indications. \"A\" represents the absolute, \"Hùm\" the particular, or phenomenal.",
"Search1": "a hùm",
"Search2": "a hum"
},
{
"Id": 320,
"Word": "A-jan-ta",
"Dict": 5,
"Mean": "S: ajaṇṭā; Hán Việt: A-chiên-đà;\r\n Một thành phố phía Tây Ấn Ðộ, nổi tiếng với những hang động có di tích đạo Phật. Cố đô này được kiến tạo giữa năm 200 và 700 sau Công nguyên. Người ta tìm thấy tổng cộng 29 động, dài trên 5,6 km với các bức tranh vẽ trên tường, được xem là còn nguyên vẹn nhất trên thế giới. Ðây là di tích quý báu nhất của Ấn Ðộ về nghệ thuật hội hoạ Phật giáo, cho phép người ta tìm hiểu sự phát triển của nền nghệ thuật này suốt gần một thế kỉ.\r\n Các bức tranh trên tường diễn tả lại cuộc đời của Phật Thích-ca Cồ-đàm như kinh sách truyền lại: Thái tử Tất-đạt-đa ra bốn cửa thành; hành động mê hoặc của Ma vương; lúc Ngài sắp thành đạo, nhập Niết-bàn… Một số tranh khác diễn tả các tiền kiếp của Ngài. Qua các bức tranh, người ta có thể biết thêm về cuộc sống Ấn Ðộ trong thời gian đầu Công nguyên. Ðặc biệt trong bốn hang động, người ta còn tìm thấy các dạng Tháp (s: stūpa) thời đó.\r\n",
"Search1": "a jan ta",
"Search2": "a jan ta"
},
{
"Id": 321,
"Word": "A-jô-gi",
"Dict": 5,
"Mean": "S: ajogi, āyogipāda, với biệt danh là »Kẻ vô dụng bị hất hủi.«\r\nMột trong 84 vị Tất-đạt (s: siddha) Ấn Ðộ, sống ở Hoa Thị thành (s: pāṭa¬lipu¬tra). \r\nÔng là người lười biếng vô cùng, chỉ biết ăn ngủ đến nỗi người mập phệ. Ông không làm được việc gì, hoàn toàn vô tích sự, đến mức cha mẹ cho ra ở trên bãi thiêu xác. Một Du-già sư (s: yogin) đi ngang, chỉ ông phép quán tưởng như sau: »Hãy tưởng tượng một chấm tròn, không lớn hơn một hạt cải, chấm đó nằm trên đầu mũi ngươi, trên cửa hơi thở ra vào của ngươi, và quán tưởng trong hạt cải đó một trăm triệu thế giới.« \r\nA-jô-gi nghe lời và sau chín năm thiền định tinh cần, ông đạt Ðại thủ ấn tất-địa (s: mahāmudrāsiddhi). Phép quán tưởng mà ông tu học chính là phép quán tính Không, để cho tư tưởng hoà tan trong Không. Ðối tượng quán sát này cũng làm ta nhớ lời Phật, đại ý »trên đầu ngọn cỏ là cả một thế giới.«\r\nChứng đạo ca của A-jô-gi như sau:\r\nTheo lời dạy của thầy,\r\nquán trên mũi điểm Không.\r\nKhi tâm đọng trên điểm,\r\nthì thế gian tan biến.\r\n",
"Search1": "a jô gi",
"Search2": "a jo gi"
},
{
"Id": 322,
"Word": "á khả tỉ",
"Dict": 8,
"Mean": "3046(Jacobi, Hermann Georg; 1850~1937)爲德國之印度學學者、語言學者。曾任明斯特(Münster, 1876)、基爾(Kiel, 1885)、波昂(Bonn, 1889)、加爾各答(Calcutta, 1913~1914)等各大學教授。研究範圍廣至印歐語、印度哲學、佛教、耆那教、二大敘事詩(摩訶婆羅多、羅摩耶那)、古典梵文學、天文學、修辭學、韻律學等,對耆那教聖典之翻譯,貢獻尤鉅。 亞可比之論著頗多,重要者如下:De astrologiae Indicae, 1872; Bhadrabāhu's Kalpasūtra, 1879;Das Rāmāyaṇa, 1893; Das Mahābhārata, 1903; Jaina Sūtras(SBE), 1884~1895; The Metaphysics and Ethics of the Jainas, 1908;Jainismus, 1915; Kompositum und Nebensatz, Studien über die indogermanischen Sprachentwicklung, 1897;Die Entwicklung der Gottesidee bei den Indern ,1923; Upamitibhava-prapañca-katha; Samarāicca-kahā; Samarāditya-Samkṣepa, 1926;Mīmāṃsā und Vaiśeṣika, 1929 等。",
"Search1": "á khả tỉ",
"Search2": "a kha ti"
},
{
"Id": 323,
"Word": "a khắc ba",
"Dict": 8,
"Mean": "3617(Akbar, Jalāl ud-dīn Muhammad; 1542~1605)西元十六世紀印度蒙兀兒帝國(Magul)第三代皇帝。專心致力於開拓疆土,統一印度,並征服阿富汗大部分領土,完成蒙兀兒帝國。阿克巴對宗教採取寬大政策,融合接納互相敵視之印度教、耆那教、伊斯蘭教、祅教、基督教等,並極力庇護獎勵文學及藝術。",
"Search1": "a khắc ba",
"Search2": "a khac ba"
},
{
"Id": 324,
"Word": "a khắc ba",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿克巴) AKBAR, Jalāl ud-Dīn Muḥammad (1542 - 1605) Là Hoàng đế đời thứ 3 của đế quốc Ấn Độ Mông Ngột Nhi (Magul) vào thế kỉ thứ XVI. Ông chú tâm dốc sức vào việc mở rộng biên cương, thống nhất Ấn Độ, đồng thời, chinh phục đại bộ phận lãnh thổ Phú Hãn, hoàn thành đế quốc Mông Ngột Nhi. A-khắc-ba, đối với các tôn giáo, thi hành chính sách rộng lượng, dung hợp và tiếp nhận tất cả các tôn giáo vốn kì thị lẫn nhau, như: Ấn Độ giáo, Kì-na giáo, Y-tư-lan giáo, Thiên giáo, Cơ Đốc giáo v.v... và hết sức bảo hộ, tưởng thưởng văn học và nghệ thuật.",
"Search1": "a khắc ba",
"Search2": "a khac ba"
},
{
"Id": 325,
"Word": "a khảm",
"Dict": 8,
"Mean": "3619請參閱 四阿含暮抄解 (Hackin, Joseph; 1886~1941)法國人,東方考古學家。跟隨萊維(S. Lévi)及弗修爾(A. Foucher)研習東方古代學,曾數度至阿富汗考古,勘察哈答(Haḍḍa)、巴米揚(Bamiyan)、貝格拉姆(Begram)等遺蹟,研究初期佛教藝術型態所受希臘風東漸之影響。主要著作有 La peinture chinoise au Musée Guimet,1910; Mythologie asiatique-illustré, 1928; Recherches archéologiques ⑦ Begram, 1939, 2 vols.等。",
"Search1": "a khảm",
"Search2": "a kham"
},
{
"Id": 326,
"Word": "a kì đa kê sa khâm bà lị",
"Dict": 6,
"Mean": "Ajita Kesakambalì (S). One of the six famous leaders of heterical sects.",
"Search1": "a kì đa kê sa khâm bà lị",
"Search2": "a ki da ke sa kham ba li"
},
{
"Id": 327,
"Word": "a kì đa sí xá khâm bà la",
"Dict": 8,
"Mean": "3657梵名 Ajitakeśakambala,巴利名 Ajitakesakambala 之音譯。古代印度六師外道之一,十師外道之一。又作阿市多雞舍甘跋羅、阿支羅翅舍甘婆羅、阿夷陀翅舍欣婆羅、阿浮陀翅舍金披羅、稽舍今陂梨。略稱阿耆多。意譯無勝髮褐。釋尊之時代,居於中印度,爲婆羅門教中極具勢力之一派。其學說,據北本大般涅槃經卷十九、長阿含卷十七沙門果經、巴利長部之沙門果經等所載,此外道主張心物二元共歸斷滅,否認有善惡禍福、因緣果報、過去未來等,唯於現世盡其快樂,亦即所謂順世外道中之斷滅論、唯物論、感覺論、快樂說。然另據維摩經略疏卷四、注維摩經卷三、希麟音義卷九等所說,則謂之爲苦行外道之一,主張現世受苦爲來世受樂之因,故著敝衣,自披髮,以五熱炙身,行種種苦行。〔雜阿含經卷三十五、寂志果經、翻譯名義集卷五、慧琳音義卷二十六〕",
"Search1": "a kì đa sí xá khâm bà la",
"Search2": "a ki da si xa kham ba la"
},
{
"Id": 328,
"Word": "a kì đa sí xá khâm bà la",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耆多翅舍欽婆羅) Phạm: Ajitakezakambala, Pāli: Ajitakesakambala. Là một trong sáu phái ngoại đạo của Ấn Độ đời xưa, một trong mười thầy ngoại đạo. Còn gọi là A-thị-đa-kê-xá-cam-bạt-la, A-chi-la-sí-xá-cam-bà-la, A-di-đà-sí-xá –khâm-bà-la, A-phù-đà-sí-xá-kim-phi-la, Kê-xá-kim-pha-lê. Gọi tắt là A- kì-đa. Dịch là Vô Thắng Phát Hạt .(có tóc màu vàng sẫm không ai hơn). Là một phái rất có thế lực trong Bà-la-môn giáo ở Trung Ấn Độ vào thời đại đức Phật. Cứ theo kinh Đại Bát Niết Bàn (bản Bắc) quyển 19, Trường A-hàm quyển 17 kinh Sa Môn Quả, Trường bộ văn Pāli kinh Sa môn chép, thì học thuyết của phái ngoại đạo này chủ trương cả tâm lẫn vật đều tiêu diệt hết, không nhận có thiện ác họa phúc, nhân duyên quả báo, quá khứ vị lai v.v... mà chỉ chủ trương tận hưởng các thú vui ở đời hiện tại, tức cũng như Đoạn diệt luận, Duy vật luận, Cảm giác luận, Khoái lạc thuyết trong phái ngoại đạo Thuận thế. Song, lại cứ theo Duy ma kinh lược sớ quyển 4, Chú duy ma kinh quyển 3, Hi Lân âm nghĩa quyển 9 v.v... nói, thì phái này là một trong các phái ngoại đạo khổ hạnh, chủ trương đời này chịu khổ là cái nhân của sự sung sướng ở đời sau, cho nên mặc áo rách, xõa tóc, phơi mình ngoài nắng, làm mọi thứ khổ hạnh. [X. kinh Tạp a hàm Q.35; kinh Tịch Chí Quả; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.5; Tệ Lâm Âm Nghĩa Q.26].",
"Search1": "a kì đa sí xá khâm bà la",
"Search2": "a ki da si xa kham ba la"
},
{
"Id": 329,
"Word": "a kì ni",
"Dict": 8,
"Mean": "3656梵名 Agni。<一>印度婆羅門教之火神。又作阿哦那、惡祁尼、阿衹尼。意譯作火。據梨俱吠陀記載,其來源或存在形式有三種,即三界中,於天界爲太陽,於空界爲雷電之火,於地界則爲祭火。此爲印度教梵天、毘濕奴、濕婆三神思想之萌芽。於梨俱吠陀中,特別讚美火神之讚歌佔全部讚歌之五分之一,僅次於因陀羅。祭祀時能把祭品傳送給諸神,故被視爲諸神與人之間的使者。除人類、禽獸之外,火神亦普遍存於植物、水中;祭典之外,亦常於誕生、入門、結婚之時祭拜之。全身呈紅色,發光如太陽,面色如奶酪,無頭無足或三頭七舌,十方皆面、金眼、千眼等。於諸神中與人類之關係最密切,能破除黑暗,燒盡不淨,降魔除怪,亦被稱爲「羅剎(惡魔)之殺戮者」。此外,能降恩予崇拜者,並解救危難。 <二>即阿耆尼國。位於西域之古國名。又作烏耆國、焉耆國。東鄰高昌,西接龜茲。其地即今新疆天山南路東北部之喀喇沙爾(Karashahr)。(參閱「阿耆尼國」3657)",
"Search1": "a kì ni",
"Search2": "a ki ni"
},
{
"Id": 330,
"Word": "a kì ni",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem hỏa thần.",
"Search1": "a kì ni",
"Search2": "a ki ni"
},
{
"Id": 331,
"Word": "a kì ni",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耆尼) Phạm: Agni. I. A-kì-ni. Hỏa thần trong Bà-la-môn giáo của Ấn Độ. Còn gọi là A-nga-na, Ác-kì-ni. Dịch ý là lửa. Cứ theo Lê-câu-phệ-đà chép, thì nguồn gốc hoặc hình thức tồn tại của thần lửa có ba loại, tức trong ba cõi, ở cõi trời là thái dương, ở cõi không là ánh chớp, ở cõi đất là lửa tế lễ. Đây là mầm mống của tư tưởng về ba thần trong Ấn Độ giáo là Phạm thiên, Tì-thấp-nô và Thấp-bà. Trong Lê-câu-phệ-đà, đặc biệt các bài ca tán tụng thần lửa đã chiếm một phần trong toàn bộ năm phần của các bài ca tán, chỉ đứng sau Nhân-đà-la. Khi tế tự, thần lửa có khả năng đưa các phẩm vật cúng tế đi phân phát cho các thần, vì thế, thần lửa được coi là sứ giả giữa các thần và người. Trừ loài người và cầm thú ra, thần lửa cũng tồn tại khắp trong ác thực vật và trong nước; ngoài sự tế lễ theo phép tắc nhất định, thần lửa còn được cúng tế vào những dịp sinh nhật, sang nhà mới và kết hôn. Toàn thân màu hồng, phát ra ánh sáng như mặt trời, sắc mặt mầu sữa, không đầu không chân, hoặc ba đầu bảy lưỡi, có mặt khắp mười phương, mắt vàng, nghìn mắt v.v... Trong các thần, mối quan hệ giữa loài người và thần lửa gần gũi nhất, có khả năng phá trừ bóng tối, đốt hết những vật nhơ bẩn, hàng ma trừ quái, cũng được coi là người tiêu diệt loài La-sát (ác ma). Ngoài ra, có thể ban ân cho những người sùng bái và giải cứu nguy nan. II. A-kì-ni. Tức là nước A-kì-ni, một nước xưa ở vùng Tây Vực. Cũng gọi là Ô-kì quốc, Yên-kì quốc. Phía Đông giáp Cao Xương, phía Tây giáp Cưu Tư. Nay tức là vùng đất Khách lạt-sa-nhĩ (Karashahr), về phía Đông bắc con đường ở nam núi Thiên Sơn thuộc Tân Cương. (xt. A Kì Ni Quốc).",
"Search1": "a kì ni",
"Search2": "a ki ni"
},
{
"Id": 332,
"Word": "a kì ni quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3657阿耆尼,梵名 Agni 或 Akni。位於西域之古國名。又作烏耆國、烏夷國、焉耆國、嬰夷國。東鄰高昌,西接龜茲,以今新疆天山南路東北部之喀喇沙爾(Karashahr)爲中心。大唐西域記卷一載,阿耆尼國東西長六百餘里,南北寬四百餘里。國之都城周長六、七里,四面據山,道險易守,泉流交帶,引水爲田,出產穈黍、宿麥、香棗、蒲萄、梨奈等物。氣候和暢,風俗質直。文字取之於印度。其國人民勇而寡略,好自稱伐。國無綱紀,法不整肅。伽藍十餘所,僧徒二千餘人,習學小乘教之說一切有部,經教律儀概遵印度。蓋阿耆尼國之名稱,係由於焉耆、烏耆等名含有火之意,玄奘乃因此附會梵語 agin(火)而音譯爲阿耆尼。〔高僧法顯傳、翻譯名義集卷七、慧琳音義卷八十二、漢書西域傳第六十六下、後漢書西域傳第七十八、S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol. I; T. Watters: On Yuan Chwang, vol. I〕",
"Search1": "a kì ni quốc",
"Search2": "a ki ni quoc"
},
{
"Id": 333,
"Word": "a kì ni quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耆尼國) A-kì-ni, Phạm Agni, hoặc Akni. Tên một nước xưa ở vùng Tây Vực. Còn gọi là Ô-kì quốc, Ô-di quốc, Yên-kì quốc, Anh-di quốc. Đông giáp Cao Xương, Tây giáp Cưu Tư, lấy Khách-lạt-sa-nhĩ (Karashahr) ở phía Đông Bắc con đường nam núi Thiên Sơn thuộc Tân Cương hiện nay làm trung tâm. Đại Đường Tây Vực Kí Quyển 1 chép, nước A-kì-ni chiều Đông Tây dài hơn sáu trăm dặm, chiều Nam Bắc rộng hơn bốn trăm dặm, đô thành chu vi sáu, bảy dặm, có núi bao chung quanh, đường sá hiểm trở, dễ phòng thủ, các dòng suối chảy giao nhau, dẫn nước vào ruộng, sản xuất các thực vật như lúa nước, lúa mì, táo, nho, lê v.v... Khí hậu ôn hòa, phong tục thuần phác, văn tự dùng chữ Ấn độ. Người trong nước khỏe mạnh nhưng ít mưu lược, luật pháp không nghiêm túc. Có hơn mười ngôi chùa, tăng chúng hơn hai nghìn người, học tập giáo nghĩa Tiểu thừa của Thuyết Nhất Thiết Hữu bộ, kinh giáo luật nghi, đại khái đều theo Ấn Độ. Vì tên nước A-kì-ni là do từ các tên Yên-kì, Ô-kì, hàm ý là lửa, nên ngài Huyền Trang mới theo tiếng Phạm Agni (lửa) mà dịch âm là A-kì-ni. [X. Cao tăng Pháp Hiển truyện; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.7; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.82; Hán Thư Tây Vực Truyện thứ 66 phần dưới; Hậu Hán Thư Tây Vực Truyện thứ 78; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, Vol.I; T. Watters: On Yuan Chwang, Vol.I].",
"Search1": "a kì ni quốc",
"Search2": "a ki ni quoc"
},
{
"Id": 334,
"Word": "a kiệt đa",
"Dict": 2,
"Mean": "Agastya (skt). 1) Vòm Sao Canopus: The star Canopus 2) Tiếng Sét: Lightning.",
"Search1": "a kiệt đa",
"Search2": "a kiet da"
},
{
"Id": 335,
"Word": "a-kiệt-đà",
"Dict": 9,
"Mean": "xem a-già-đà.",
"Search1": "a kiệt đà",
"Search2": "a kiet da"
},
{
"Id": 336,
"Word": "a kiệt đa tiên",
"Dict": 2,
"Mean": "Agastya-rsi (skt)—Theo Kinh Niết Bàn, A Kiệt Đa là một vị Tiên có sức thần thông dừng nước sông Hằng trong 12 năm, bằng cách cho dòng nước ấy chảy vào một trong hai lổ tai của ông—According to the Nirvana sutra, agastya was one of the genii, who stopped the flow of the Ganges for twelve years by allowing it run into one of his ears.",
"Search1": "a kiệt đa tiên",
"Search2": "a kiet da tien"
},
{
"Id": 337,
"Word": "a kỳ đa",
"Dict": 2,
"Mean": "See Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a kỳ đa",
"Search2": "a ky da"
},
{
"Id": 338,
"Word": "a kỳ đa kê sa khâm bà lị",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A kỳ đa Sí xá khâm bà la.",
"Search1": "a kỳ đa kê sa khâm bà lị",
"Search2": "a ky da ke sa kham ba li"
},
{
"Id": 339,
"Word": "a kỳ đa kỳ xá khâm bà la",
"Dict": 7,
"Mean": ", Ajita Kesa-kambaṃli (P).",
"Search1": "a kỳ đa kỳ xá khâm bà la",
"Search2": "a ky da ky xa kham ba la"
},
{
"Id": 340,
"Word": "A-kỳ-đa Sí-xá Khâm-bà-la",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ tên Phạn ngữ là Ajita-keśa-kambara, là một trong sáu vị thầy ngoại đạo thời đức Phật. Ngài Huyền Trang dịch nghĩa tên ông này là “Vô Thắng Phát Hạt”.",
"Search1": "a kỳ đa sí xá khâm bà la",
"Search2": "a ky da si xa kham ba la"
},
{
"Id": 341,
"Word": "a kỳ đa sí xá khâm bà la",
"Dict": 7,
"Mean": "Ajita Keśakambalī (S), Ajita Kesakambala (P)A kỳ đa Kê Sa Khâm Bà Lị.",
"Search1": "a kỳ đa sí xá khâm bà la",
"Search2": "a ky da si xa kham ba la"
},
{
"Id": 342,
"Word": "a kỳ nễ",
"Dict": 2,
"Mean": "Agni (skt)—A Kỳ Ni. 1) Lửa: Fire. 2) Thần Lửa: Vị Thần tối cao trong các vị thần trong thần thoại Ấn Độ—The fire-deva.",
"Search1": "a kỳ nễ",
"Search2": "a ky ne"
},
{
"Id": 343,
"Word": "a kỳ ni",
"Dict": 2,
"Mean": "Agni (skt)—See Ác Ký Ni, and A Kỳ Nễ.",
"Search1": "a kỳ ni",
"Search2": "a ky ni"
},
{
"Id": 344,
"Word": "a la ca",
"Dict": 2,
"Mean": "Arka (skt)—A Ca—A Già—Hoa trắng—White flower.",
"Search1": "a la ca",
"Search2": "a la ca"
},
{
"Id": 345,
"Word": "a la ca hoa",
"Dict": 8,
"Mean": "3691阿羅歌,梵語 arka 之音譯。又作阿迦花、遏迦花。意譯爲白花。生長於印度,葉大,印人多以其葉供作祭祀用。俗名 mādār,學名 Calotropis gigantea,或 Asclepias gigantea。〔瑜伽師地論卷四十四、慧琳音義卷四十五、翻譯名義集卷八〕",
"Search1": "a la ca hoa",
"Search2": "a la ca hoa"
},
{
"Id": 346,
"Word": "a la ca hoa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿羅歌花) A-la-ca, Phạm: Arka. Còn gọi là A-ca-hoa, Át-ca-hoa. Dịch ý là hoa trắng. Sinh sản ở Ấn Độ, lá to, người Ấn Độ phần nhiều lấy lá cây này để dùng vào việc tế tự. Tên thường là màdàr, tên khoa học là Calotropis gigantea, hoặc asclepias gigantea. [X. luận Du Già Sư Địa Q.44; Tuệ Lâm Âm Nghĩa Q.45; Phiên Dịch Danh Nghĩa Tập Q.8].",
"Search1": "a la ca hoa",
"Search2": "a la ca hoa"
},
{
"Id": 347,
"Word": "a la già",
"Dict": 2,
"Mean": "Raga (skt). - Tham muốn: Desire. - Cảm thọ: Feeling. - Xan tham: Greed. - Giận dữ: Anger.",
"Search1": "a la già",
"Search2": "a la gia"
},
{
"Id": 348,
"Word": "a la ha",
"Dict": 2,
"Mean": "Arahant (p)—Arhat (skt)—Ứng Cúng, một trong những danh hiệu của Đức Phật—One of the titles of Buddha, the arhan who has overcome mortality—See A La Hán.",
"Search1": "a la ha",
"Search2": "a la ha"
},
{
"Id": 349,
"Word": "a la ha, a la hán",
"Dict": 6,
"Mean": "Arhat (S). One who has attained the final stage of the Path.",
"Search1": "a la ha, a la hán",
"Search2": "a la ha, a la han"
},
{
"Id": 350,
"Word": "A La Hán",
"Dict": 10,
"Mean": "(s: arhat, p: arahant, j: arakan, 阿羅漢): âm dịch là Ứng Cúng, Phước Điền, Sát Tặc, Vô Học, là người đã đoạn tận hết tất cả phiền não, đã hoàn thành tất cả những việc mình nên làm. Là một vị thánh giả tối cao của đệ tử Phật (Thanh Văn), vị này chứng quả A La Hán thứ 8 của tứ hướng và tứ quả (quả vị được phân loại thành 8 giai đoạn theo cảnh giới mà vị ấy đạt được). Bên cạnh đó đây còn là một trong mười danh hiệu của một đấng Như Lai. Cho nên A La Hán còn được dùng chỉ cho tự thân của đức Phật, trong trường hợp này từ ứng cúng được dùng nhiều hơn. Nguyên gốc của từ này có nghĩa là “người có tư cách”, vì vậy người này xứng đáng để thọ nhận sự cúng dường về y thực, v.v., của hàng tín đồ. Cho nên được gọi là ứng cúng. Hơn nữa, nhờ có sự cúng dường của hàng tín đồ mà có công đức to lớn, người này được ví dụ như là mảnh ruộng ban phước cho tín đồ, nên được gọi là phước điền. Lại nữa, người này đã giết hết loại giặc phiền não nên cũng được gọi là sát tặc. Vị này đã đoạn sạch hết tất cả phiền não không còn gì để học nữa nên được gọi là vô học. Trong quyển I của Kinh Tạp A Hàm (雜阿含經) giải thích người đã chứng quả A La Hán là “Ngã sanh dĩ tận, phạm hạnh dĩ lập, sở tác dĩ tác, tự tri bất thọ hậu hữu (我生巳盡、梵行巳立、所作巳作、自知不受後有, mạng sống của ta đã hết, phạm hạnh đã thành lập, những điều nên làm đã làm, tự biết không còn thọ sanh về sau nữa),” và gọi người ấy là người đã đạt được tận trí, vô sanh trí. Sau này trong A Tỳ Đạt Ma (阿毘達磨), tùy theo trí tuệ và căn cơ của vị A La Hán, người ta phân ra làm sáu loại gồm: Thối Pháp, Tư Pháp, Hộ Pháp, An Trú Pháp, Kham Đạt Pháp và Bất Động Pháp.",
"Search1": "a la hán",
"Search2": "a la han"
},
{
"Id": 351,
"Word": "A-la-hán",
"Dict": 9,
"Mean": "xem Bốn quả thánh.",
"Search1": "a la hán",
"Search2": "a la han"
},
{
"Id": 352,
"Word": "A-la-hán",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 羅 漢; S: arhat; P: arahat, arahant; T: dgra com pa; dịch nghĩa là Sát Tặc (殺 賊), là diệt hết bọn giặc phiền não, ô nhiễm; Ứng Cung (應 供), là người đáng được cúng dường; Bất Sinh (不 生) hoặc Vô Sinh (無 生), là người đã đạt Niết-bàn, đoạn diệt sinh tử.\r\nA-la-hán là danh từ chỉ một Thánh nhân, người đã đạt cấp »vô học« của Thánh đạo (s: āryamārga; p: ariyamagga), không bị ô nhiễm (s: āśrava; p: āsava) và Phiền não (s: kleśa; p: kilesa) chi phối. Thánh quả A-la-hán có khi được gọi là Hữu dư niết-bàn (s: sopadhiśeṣanirvāṇa; p: savupadisesanibbāna).\r\nA-la-hán là hiện thân của sự Giác ngộ trong thời Phật giáo nguyên thuỷ. Khác với hình ảnh của Bồ Tát, hiện thân của Phật giáo Ðại thừa của thời hậu thế với mục đích Giải thoát mọi chúng sinh, A-la-hán tu tập nhằm giải thoát riêng mình. A-la-hán là các vị đã giải thoát 10 Trói buộc thế gian như: Ngã kiến, Nghi ngờ, chấp đắm giới luật, tham, sân hận, sắc tham, vô sắc tham, kiêu mạn, hồi hộp không yên (trạo), Vô minh. A-la-hán được xem là người đã từ bỏ ô nhiễm, bỏ các gánh nặng, đã đạt mục đích và tâm thức đã được giải thoát.\r\n",
"Search1": "a la hán",
"Search2": "a la han"
},
{
"Id": 353,
"Word": "a la hán",
"Dict": 8,
"Mean": "3692梵語 arhat,巴利語 arahant。爲聲聞四果之一,如來十號之一。又作阿盧漢、阿羅訶、阿囉呵、阿黎呵、遏囉曷帝。略稱羅漢、囉呵。意譯應、應供、應真、殺賊、不生、無生、無學、真人。指斷盡三界見、思之惑,證得盡智,而堪受世間大供養之聖者。此果位通於大、小二乘,然一般皆作狹義之解釋,專指小乘佛教中所得之最高果位而言。若廣義言之,則泛指大、小乘佛教中之最高果位。 據成唯識論卷三載,阿羅漢通攝三乘之無學果位,故爲佛之異名,亦即如來十號之一。另據俱舍論卷二十四舉出,阿羅漢乃聲聞四果(四沙門果)之一,爲小乘之極果。可分爲二種,即:(一)阿羅漢向,指尚在修行階段,而趨向於阿羅漢果者。(二)阿羅漢果,指斷盡一切煩惱,得盡智而受世間大供養之聖者。證入此果位者,四智圓融無礙而無法可學,故稱無學、無學果、無學位;若再完成無學正見乃至無學正定之八聖道,以及無學解脫、無學正智等十種無漏法,則稱爲十無學支。 關於阿羅漢之語義,據大智度論卷三、大乘義章卷十七本、翻譯名義集卷一、卷二等舉出殺賊、不生、應供三義,稱爲阿羅漢三義,爲自古以來最常見之說。即:(一)殺賊,賊,指見、思之惑。阿羅漢能斷除三界見、思之惑,故稱殺賊。(二)不生,即無生。阿羅漢證入涅槃,而不復受生於三界中,故稱不生。(三)應供,阿羅漢得漏盡,斷除一切煩惱,應受人天之供養,故稱應供。梵語 arhan,爲梵語 arhat(阿羅漢)之單數主格,意譯受供養、受尊敬,故上述三義中,以應供一義較爲適切。此外,慧遠於大乘義章卷二十末亦以應化一切眾生、斷盡諸惑等四義解釋阿羅漢。又善見律毘婆沙卷四則舉出打壞三界車輻、遠離一切惡業、無覆藏等五種阿羅漢之釋義。 另就阿羅漢之種類而論,聲聞四果中之阿羅漢,依其根性利鈍之差別,可分爲六種。據雜阿毘曇心論卷五、俱舍論卷二十五等所舉,即:(一)退法阿羅漢,又作退相阿羅漢,指遭遇小惡緣即容易退失所得之果位者。(二)思法阿羅漢,又作死相阿羅漢,指由於憂懼退失果位而思自害者。(三)護法阿羅漢,又作守相阿羅漢,指能守護而不致退失果位者。(四)安住法阿羅漢,又作住相阿羅漢,指不退亦不進,而安住於果位者。(五)堪達法阿羅漢,又作可進相阿羅漢,指能迅速精進,而達於不動法者。(六)不動法阿羅漢,又作不壞相阿羅漢,指永不退失所得之法者。 上述六種阿羅漢中,前五種爲鈍根者,故得時解脫或時愛心解脫,而後者係屬利根者,故得不時解脫或不動心解脫。詳言之,倘若能遇善因緣而得入定之解脫,稱爲時解脫;隨時可入定,而無須等待某種特定因緣之解脫,稱爲不時解脫。又善護自己所得之阿羅漢果,並解脫煩惱者,稱爲時愛心解脫;不再由於煩惱而退失果位之解脫者,稱爲不動心解脫。此外,不動法阿羅漢以其利根之形成,又分爲兩種,即:(一)本來生就不動種性者,稱爲不退法阿羅漢、不退相阿羅漢。(二)由精進修行而達不動法者,稱爲不動法阿羅漢。此二者合上述之五者共爲七種阿羅漢。若再加緣覺、佛,則總稱九種阿羅漢,又稱爲九無學。 另據中阿含經卷三十、成實論卷一等所舉,以慧解脫、俱解脫取代緣覺、佛,而形成另一種九無學。其中,藉智慧力以解脫煩惱之阿羅漢,稱爲慧解脫阿羅漢。若得滅盡定,而於心、智慧兩方面悉皆解脫之阿羅漢,則稱俱解脫阿羅漢。此二者再加無疑解脫阿羅漢(在俱解脫中通達一切文義,而得四無礙解者),則成三種阿羅漢。〔佛本行集經卷三十四、卷四十二、北本涅槃經卷十八、彌勒上生經、大乘阿毘達磨集論卷十四、甘露味論卷上、大毘婆沙論卷九十四、法華義記卷一、成唯識論述記卷三末、法華義疏卷一、大日經疏卷一、翻梵語卷一、玄應音義卷八〕(參閱「九無學」147、「六種性」1302、「四向四果」1683)",
"Search1": "a la hán",
"Search2": "a la han"
},
{
"Id": 354,
"Word": "a la hán",
"Dict": 4,
"Mean": "A La Hán là quả vị của Thanh Văn thừa. Tiểu thừa dứt trừ kiến hoặc và tư hoặc của tam giới thì chứng được Hữu Dư Niết Bàn gọi là A La Hán, dịch là Bất Lai, nghĩa là chẳng đến thọ sanh nơi tam giới nữa.",
"Search1": "a la hán",
"Search2": "a la han"
},
{
"Id": 355,
"Word": "a la hán",
"Dict": 2,
"Mean": "Arhat (skt)—Arahat (p)—Arahant (p)—The perfect one—The worthy one—The perfect understanding one—A saintly man. (I) Nghĩa của A La Hán—The meanings of Arhat: 1) Một trong những quả vị trên bước đường tu tập—One of the fruitions of the path of cultivation—See A La Hán Quả in Vietnamese-English Section. 2) Vô Học (Bất Học): No longer learning. 3) Theo Thượng Bộ, A La Hán là một bậc hoàn thiện hoàn mỹ; nhưng theo Đại Chúng Bộ, A La Hán chưa phải là bậc hoàn mỹ, họ vẫn còn bị những nghi hoặc quấy nhiễu và vẫn còn rất nhiều điều chưa được liễu giải. Chính vì thế mà Phật Giáo Đại Thừa khuyên Phật tử không nên đề cao lý tưởng A La Hán. Thay vì vậy, nên noi gương những bậc đã hiến trọn đời mình, đã hy sinh tự ngã và không ngừng cố gắng nhằm đạt đến mục đích cứu độ chúng sanh cũng như cảnh giới của chư Phật—According to the Sthaviras, Arhats are perfect beings; but according to the Mahasanghikas, Arhats are not perfect, they are still troubled by doubts and are ignorant of many things. Thus, Mahayana Buddhism advises Buddhists not to hold up Arhats as ideals. Rather those should be emulated as ideals who during aeons of self-sacrifice and continuous struggle to save sentient beings and to attain Buddhahood. 4) A-la-hán còn có ba nghĩa—Arhat still has three meanings: a. Ứng Cúng: Người xứng đáng được cúng dường—Worthy of offerings—Worthy of worship, or respect. b. Bố Ma: Sát Tặc—Phá si—Người đã tiêu diệt hết ma chướng não phiền—Killer of the demons of ignorance—Slayer of the enemy. c. Vô sanh: Không còn tái sanh vì đã diệt hết nghiệp luân hồi sanh tử—Without birth—Not to be reborn, having destroyed the karma of reincarnation. (II) Những lời Phật dạy về A La Hán trong kinh Pháp Cú—The Buddha's teachings on Arhat in the Dharmapada Sutra: 1) Người đã giải thoát hết thảy, đã dứt hết thảy buộc ràng, là người đi đường đã đến đích—There is no more suffering for him who has completed the journey; he who is sorrowless and wholly free from everything; who has destroyed all fetters (Dharmapada 90). 2) Kẻ dũng mãnh chánh niệm, tâm không ưa thích tại gia, ví như con ngỗng khi ra khỏi ao, chúng bỏ lại cái nhà ao hồ của chúng không chút nhớ tiếc—The mindful exert themselves, they do not enjoy in an abode; like swans who have left their pools without any regret (Dharmapada 91). 3) Những vị A-la-hán không chất chứa tài sản, biết rõ mục đích sự ăn uống, tự tại đi trong cảnh giới “không, vô tướng, giải thoát” như chim bay giữa hư không—Arhats for whom there is no accumulation, who reflect well over their food, who have perceived void, signless and deliverance, and their path is like that of birds in the air which cannot be traced (Dharmapada 92). 4) Những vị A-la-hán, dứt sạch các hoặc lậu, không tham đắm uống ăn, tự tại đi trong cảnh giới “không, vô tướng, giải thoát” như chim bay giữa hư không—Arhats whose afflictions are destroyed, who are not attached to food, who have perceived void, signless and deliverance, and their path is like that of birds in the air which cannot be traced (Dharmapada 93). 5) Những vị A-la-hán đã tịch tịnh được các căn, như tên kỵ mã đã điều luyện được ngựa lành, nên không còn phiền não ngã mạn và được các hàng nhơn thiên kính mộ—The gods even pay homage to Arhats whose senses are subdued, like steeds well-trained by a charioteer, those whose pride and afflictions are destroyed (Dharmapada 94). 6) Những vị A-la-hán đã bỏ hết lòng sân hận, tâm như cõi đất bằng, lại chí thành kiên cố như nhân đà yết la, như ao báu không bùn, nên chẳng còn bị luân hồi xoay chuyển—Like the earth, Arhats who are balanced and well-disciplined, resent not. He is like a pool without mud; no new births are in store for him (Dharmapada 95). 7) Những vị A-la-hán ý nghiệp thường vắng lặng, ngữ nghiệp hành nghiệp thường vắng lặng, lại có chánh trí giải thoát, nên được an ổn luôn—Those Arhats whose mind is calm, whose speech and deed are calm. They have also obtained right knowing, they have thus become quiet men (Dharmapada 96). 8) Những vị A-la-hán chẳng còn phải tin ai, đã thấu hiểu đạo vô vi, dứt trừ vĩnh viễn nguyên nhân, cùng quả báo ràng buộc, lòng tham dục cũng xa lìa. Chính đó là bậc Vô thượng sĩ—The man who is not credulous, but knows the uncreated, who has cut off all links and retributions, and renounces all desires. He is indeed a supreme man (Dharmapada 97). 9) Dù ở xóm làng, dù ở rừng núi, dù ở đất bằng, dù ở gò trủng, dù ở biển cả hay đất khô, dù ở bất cứ chốn nào mà có vị A-la-hán, thì ở đó đầy dẫy cảnh tượng yên vui—In a village or in a forest, in a valley or on the hills, on the sea or on the dry land, wherever Arhats dwell, that place is delightful (Dharmapada 98). 10) Lâm dã là cảnh rất vui đối với vị A-la-hán, nhưng người đời chẳng ưa thích, trái lại dục lạc là cảnh ưa thích đối với người đời, vị A-la-hán lại lánh xa—For Arhats, delightful are the forests, where common people find no delight. There the passionless will rejoice, for they seek no desires nor sensual pleasures (Dharmapada 99).",
"Search1": "a la hán",
"Search2": "a la han"
},
{
"Id": 356,
"Word": "a la hán",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿羅漢) Phạm: Arhat, Pāli: Arahant. Là một trong bốn quả Thanh văn, một trong mười hiệu của Như Lai. Còn gọi là A-lư-hán , A-la-ha, A-ra-ha, A- lê-ha, Át-ra-hạt-đế, gọi tắt là La-hán, Ra-ha. Dịch ý lá Ứng, Ứng cúng, Ứng chân, Sát tặc, Bất sinh, Vô sinh, Vô học, Chân nhân. Chỉ bậc Thánh đã dứt hết hai hoặc Kiến, Tư trong ba cõi, chứng được tận trí, xứng đáng nhận lãnh sự cúng dường của người đời. Quả này chung cả Đại thừa và Tiểu thừa, song thông thường đều giải thích theo nghĩa hẹp, mà chuyên chỉ quả vị cao nhất chứng được trong Phật giáo Tiểu thừa. Nếu nói theo nghĩa rộng, thì chỉ riêng cho quả tối cao trong cả Phật giáo Đại thừa và Tiểu thừa. Cứ theo luận Thành Duy Thức quyển 3 chép, thì A-la-hán là quả vị vô học thông cả ba thừa, cho nên là tên gọi khác của đức Phật, cũng tức là một trong mười hiệu của Như Lai. Còn cứ theo luận Câu Xá quyển 24, thì A-la-hán là một trong bốn quả Thanh văn (Tứ sa-môn quả), là quả cao nhất của Tiểu thừa. Có thể được chia làm hai loại:1. A la hán hướng, chỉ những người vẫn còn ở giai đoạn tu hành mà xu hướng tới quả vị A la hán. 2. A la hán quả, chỉ các bậc Thánh đã đoạn trừ hết thảy mọi phiền não, được tận trí và nhận lãnh sự cúng dường của người đời. Những người đã chứng được quả vị này, thì bốn trí dung thông vô ngại và không còn pháp nào phải học nữa, vì thế gọi là Vô học, Vô học quả, Vô học vị; nếu lại hoàn thành tám Thánh đạo từ vô học chính kiến đến vô học chính định, và mười pháp vô lậu vô học giải thoát, vô học chính trí v.v.. thì gọi là Thập vô học chi. (Mười chi vô học). Về nghĩa của từ A la hán, cứ theo luận Đại trí độ quyển 3, Đại thừa nghĩa chương quyển 37 phần đầu, Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1, quyển 2, nêu ra ba nghĩa là sát tặc (giết giặc), bất sinh, ứng cúng, gọi là ba nghĩa A la hán, từ xưa đến nay, thuyết này thường thấy nhất. Tức là: 1. Sát tặc (giết giặc): giặc, chỉ các hoặc Kiến và Tư. A la hán có khả năng đoạn trừ các hoặc Kiến, Tư trong ba cõi; cho nên gọi là giết giặc. 2. Bất sinh, tức vô sinh. A la hán chứng vào Niết bàn, không còn chịu sinh lại trong ba cõi nữa, cho nên gọi là bất sinh. 3. Ứng cúng, A la hán đã được lậu tận, dứt trừ tất cả phiền não, xứng đáng lãnh nhận sự cúng dường của người và trời, cho nên gọi là Ứng cúng. Phạmarhan là chủ từ số ít của chữ Phạmarhat (A la hán), dịch ý là nhận sự cúng dường, nhận sự tôn kính, vì thế, trong ba nghĩa kể trên, nghĩa ứng cúng tương đối thích hợp hơn cả. Ngoài ra, trong Đại thừa nghĩa chương quyển 20 phần cuối, ngài Tuệ viễn dùng bốn nghĩa ứng hóa hết thảy chúng sinh, dứt hết các hoặc, để giải thích A la hán. Lại Thiện kiến luật tì bà sa quyển 4 thì nêu ra giải nghĩa về năm loại A la hán, như bẻ nát nan hoa bánh xe ba cõi, xa lìa tất cả nghiệp ác, không che giấu v.v... Lại nói về chủng loại A la hán, thì A la hán trong bốn quả Thanh văn, tùy sự khác nhau về căn tính bén nhạy hay chậm lụt, mà có thể chia làm sáu loại. Cứ theo luận Tạp a tì đàm tâm quyển 5, luận Câu xá quyển 25, thì đó là: 1.Thoái pháp A la hán, cũng gọi Thoái tướng A la hán, chỉ những người mới chỉ gặp một chút ác duyên đã dễ dàng đánh mất quả vị đã chứng được. 2. Tư pháp A la hán, cũng gọi Tử tướng A la hán, chỉ những người vì lo sợ sẽ mất quả vị mà nghĩ đến việc tự sát. 3. Hộ pháp A la hán, cũng gọi Thủ tướng A la hán, chỉ những người có khả năng giữ gìn mà không để mất quả vị. 4. An trụ pháp A la hán, cũng gọi là Trụ tướng A la hán, chỉ những người không lui cũng không tiến, mà ở yên nơi quả vị. 5. Kham đạt pháp A la hán, cũng gọi là Khả tiến tướng A la hán, chỉ những người có khả năng tiến tới nhanh chóng mà đạt đến pháp bất động. 6. Bất động pháp A la hán, cũng gọi là Bất hoại tướng A la hán, chỉ những người vĩnh viễn không đánh mất pháp đã chứng được. Trong sáu loại A la hán được tường thuật ở trên, năm loại trước là những người độn căn, cho nên được Thời giải thoát hoặc Thời ái tâm giải thoát, còn loại sau cùng là thuộc những người lợi căn, cho nên được Bất thời giải thoát hoặc Bất động tâm giải thoát. Nói cách rõ ràng hơn, nếu gặp được nhân duyên tốt mà vào định giải thoát thì gọi làThời giải thoát, còn bất cứ lúc nào cũng có thể vào định, mà không cần phải đợi chờ một nhân duyên đặc biệt nào mới được giải thoát, thì gọi làBất thời giải thoát. Lại những người tự mình khéo giữ gìn quả A la hán đã chứng được và giải thoát mọi phiền não, thì gọi làThời ái tâm giải thoát, còn những người đã giải thoát rồi không bị phiền não quấy rối trở lại, làm mất quả vị, thì gọi là bất động tâm giải thoát. Ngoài ra, Bất động pháp A la hán, vì sự hình thành lợi căn, nên lại chia làm hai loại, đó là: 1. Những người bẩm sinh là bất động chủng tính, gọi là Bất thoái pháp A la hán, Bất thoái tướng A la hán. 2. Những người nhờ tu hành tinh tiến mà đạt đến pháp bất động, gọi là Bất động pháp A la hán. Hai loại này cộng với năm loại thuật ở trên thành là bảy loại A la hán. Nếu lại thêm Duyên giác và Phật nữa, thì gọi chung là chín loại A la hán, hoặc gọi là chín Vô học. Lại nữa, kinh Trung A hàm quyển 30, luận Thành thật quyển 1, đem Tuệ giải thoát, Câu giải thoát thay cho Duyên giác và Phật mà thành chín Vô học. Trong đó, A la hán dùng sức trí tuệ để giải thoát phiền não, thì gọi là Tuệ giải thoát A la hán. Nếu A la hán đã được định Diệt tận, mà cả hai phương diện tâm và tuệ đều được giải thoát, thì gọi là Câu giải thoát A la hán. Hai loại này, nếu lại thêm Vô nghi giải thoát A la hán (những người trong Câu giải thoát thông suốt tất cả văn nghĩa mà được bốn vô ngại giải), thì thành là ba loại A la hán. [X. kinh Phật bản hạnh tập Q.34, Q.42; kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.18; kinh Di lặc thượng sinh; luận Đại thừa a tì đạt ma tập Q.14; luận Cam lộ vị Q.thượng; luận Đại tì ba sa Q.94; Pháp hoa nghĩa sớ Q.1; Đại nhật kinh sớ Q.1; Phiên phạm ngữ Q.1; Huyền ứng âm nghĩa Q.8]. (xt. Cửu Vô Học, Lục Chủng Tính, Tứ Hướng Tứ Quả).",
"Search1": "a la hán",
"Search2": "a la han"
},
{
"Id": 357,
"Word": "a la hán a la hán",
"Dict": 7,
"Mean": "Arhat (S), Arhat (S), Arahant (P), dgra com pa (T)Đấng Ứng cúngLà quả vị của người chứng đắc đã thoát ly khỏi vòng luân hồi sanh tử. Quả vị này là mục tiêu của Phật giáo nguyên thuỷ.",
"Search1": "a la hán a la hán",
"Search2": "a la han a la han"
},
{
"Id": 358,
"Word": "a la hán đạo",
"Dict": 7,
"Mean": "Arahat-magga (P), Path of Holiness.",
"Search1": "a la hán đạo",
"Search2": "a la han dao"
},
{
"Id": 359,
"Word": "a la hán ha",
"Dict": 2,
"Mean": "Arhat (skt)—See A La Ha and A La Hán.",
"Search1": "a la hán ha",
"Search2": "a la han ha"
},
{
"Id": 360,
"Word": "a la hán hướng",
"Dict": 8,
"Mean": "3692爲四向之第四。即趨向阿羅漢果之「因位」。得第三果「阿那含果」之人於斷除三界之見惑及欲界九品之思惑後,更起加行,斷除色界、無色界之惑,其間即稱爲阿羅漢向。由斷除有頂九品之惑,而滅盡三界見、思之惑,證入阿羅漢果。 又阿羅漢果爲四果之第四,於解脫道已生盡智,四智圓融無礙而無法可學,昇至極位,故稱爲無學。在四向四果中,此果乃聲聞乘之極果,其餘之四向三果則稱爲有學。〔俱舍論卷二十四、大毘婆沙論卷二十八〕(參閱「四向四果」1683)",
"Search1": "a la hán hướng",
"Search2": "a la han huong"
},
{
"Id": 361,
"Word": "a la hán hướng",
"Dict": 2,
"Mean": "Một trong bốn hướng. Bậc Thánh của Bất Hoàn tiến lên cắt đứt mọi tàn dư phiền não mà hướng đến quả A La Hán—The direction leading to arhatship, by cutting off all illusion in the realms of form and beyond form. ** For more information, please see Tứ Thánh Quả.",
"Search1": "a la hán hướng",
"Search2": "a la han huong"
},
{
"Id": 362,
"Word": "a la hán hướng",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿羅漢向) Là hướng thứ tư trong bốn Hướng. Tức là Nhân vị, (giai vị tu nhân) hướng tới quả A la hán. Những người đã được quả A na hàm thứ ba, sau khi dứt trừ Kiến hoặc trong ba cõi và chín phẩm Tư hoặc ở Dục giới, lại khởi gia hành (chuẩn bị) diệt trừ các hoặc ở Sắc giới và Vô sắc giới, quãng thời gian này gọi là A la hán hướng. Do đoạn trừ chín phẩm hoặc Hữu đính và diệt hết các hoặc Kiến, Tư trong ba cõi mà chứng vào quả A la hán. Lại quả A la hán là quả thứ tư trong bốn quả, đối với đạo giải thoát, đã sinh tận trí, bốn trí viên dung vô ngại và không còn pháp nào phải học, lên đến cực vị, cho nên gọi là Vô học. Trong bốn ướng bốn quả, quả này là quả cao nhất của Thanh văn thừa, còn bốn hướng ba quả kia thì gọi là Hữu học. [X. luận Câu xá Q.24; luận Đại tì bà sa Q.28]. (xt. Tứ Hướng Tứ Quả).",
"Search1": "a la hán hướng",
"Search2": "a la han huong"
},
{
"Id": 363,
"Word": "a la hán quả",
"Dict": 7,
"Mean": "Arhatship, Sainthood.",
"Search1": "a la hán quả",
"Search2": "a la han qua"
},
{
"Id": 364,
"Word": "a la hán quả",
"Dict": 2,
"Mean": "Ariyaphalam (p)—Arahattvaphala (skt)—Người đã đạt được Thánh quả vị thứ tư, không còn tái sanh. Sau khi chết người ấy vào Niết bàn. Đây là quả vị cao nhất cho các hàng Thanh văn. A La Hán là một vị Thánh đã giải thoát khỏi luân hồi sanh tử, bằng cách sống đời tịnh hạnh đúng theo lời Phật dạy. Đây là mục tiêu tối thượng của trường phái Theravada, đối lại với quả vị Bồ Tát trong trường phái Đại thừa—Arahanthood—The fruition of arahantship—The fruit of Arhat discipline—Who attains the fourth stage of Sainthood, and is no more reborn anywhere. After his death he attains Parinirvana. The highest rank attained by Sravakas. An Arhat is a Buddhist saint who has attained liberation from the cycle of Birth and Death, generally through living a monastic life in accordance with the Buddha's teachings. This is the supreme goal of Theravada practice, as contrasted with Bodhisattvahood in Mahayana practice.",
"Search1": "a la hán quả",
"Search2": "a la han qua"
},
{
"Id": 365,
"Word": "a la hán trưởng lão",
"Dict": 8,
"Mean": "3693十一世紀之緬甸僧人。有關其原籍說法不一,或謂錫蘭,或謂卑謬、下緬甸。原住於緬甸直通王國(Thaton),從事巴利文三藏之編訂。後至蒲甘宣傳上座部佛教,爲國王阿奴律陀(?~1077)尊爲國師,奉旨組織佛教學者將巴利文三藏譯成緬文,又協助阿奴律陀於全國各地創建佛教僧團,建塔造寺。",
"Search1": "a la hán trưởng lão",
"Search2": "a la han truong lao"
},
{
"Id": 366,
"Word": "a la hán trưởng lão",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿羅漢長老) Là vị Tăng người Miến điện ở thế kỉ thứ XI. Về quốc tịch của ngài, có nhiều thuyết bất nhất. Có thuyết cho là người Tích lan, có thuyết cho là người Ti mậu, thuộc miền xuôi Miến điện. Ngài vốn ở Vương quốc Trực thông (Thaton) Miến điện, làm việc biên chép và sửa lại ba tạng kinh văn Pāli. Sau Ngài đến Bồ cam truyền bá Phật giáo Thượng tọa bộ, ược quốc vương A nô luật đà (? - 1077) tôn làm quốc sư. Ngài vâng chiếu chỉ tổ chức các học giả đem ba tạng kinh Pāli dịch ra tiếng Miến điện, lại giúp vua A nô luật đà thành lập Tăng đoàn Phật giáo và xây dựng chùa tháp trên khắp nước.",
"Search1": "a la hán trưởng lão",
"Search2": "a la han truong lao"
},
{
"Id": 367,
"Word": "A-la-la",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ là rḍa-klma, cũng đọc là A-lam, A-lam-ca-lam hay Ca-la-ma, Hán dịch nghĩa là Tự đản hay Giải đãi, là vị tiên nhân mà thái tử Tất-đạt-đa tìm đến tham học trước tiên. Thái tử Tất-đạt-đa đã ở lại chỗ vị này nhiều tháng, sau đó không hài lòng với giáo pháp do ông truyền dạy nên mới từ giã tìm đến chỗ ông Uất-đà-già. Sau khi thành Phật, ngài có ý muốn hóa độ các vị này trước hết, nhưng khi ấy thì các ông đều đã qua đời.",
"Search1": "a la la",
"Search2": "a la la"
},
{
"Id": 368,
"Word": "a la la",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Uất đà ca la la.",
"Search1": "a la la",
"Search2": "a la la"
},
{
"Id": 369,
"Word": "a la la",
"Dict": 2,
"Mean": "Arada-kalama (skt)—Alara-kalama (p)—A La La là tên vị đạo sĩ mà thái tử Sĩ Đạt Đa đã đến hỏi đạo giải thoát ngay sau khi Ngài rời hoàng cung xuất gia để trở thành nhà tu khổ hạnh. Người ta nói đạo sĩ A La La là một triết gia theo phái Số Luận và sống gần thành Tỳ Xá Ly, nay là thành phố Besarh trong quận Muzzaffapur, tiểu bang Bihar, vùng đông bắc Ấn Độ—The name of the hermit to whom Prince Siddhartha visited and asked about the enlightenment immediately after he left his royal palace and became an ascetic. Arada-kalama is said to have been a Samkhya philosopher and to have lived near the Vesali city, modern Besarh in the Muzzaffapur district of Bihar state in the northeast India.",
"Search1": "a la la",
"Search2": "a la la"
},
{
"Id": 370,
"Word": "a la lá",
"Dict": 7,
"Mean": "Arata-Kalama (S).",
"Search1": "a la lá",
"Search2": "a la la"
},
{
"Id": 371,
"Word": "a la la ca lam",
"Dict": 8,
"Mean": "3694梵名 Ārāḍa-kālāma,巴利名 Āḷāra-kālāma。爲釋尊初出王宮時,最先問道之外道仙人,係印度毘舍離城人(一說王舍城附近之人)。又作阿囉拏迦羅摩、阿藍迦藍、阿羅邏、阿藍、羅迦藍、迦羅摩、迦蘭、伽藍、阿蘭。意譯作自誕、懈怠之意。與鬱陀羅摩子並稱於世。爲數論派學者,於當時六師外道中頗負盛名。欲斷除生死之根本而出家持戒,行謙卑忍辱,於空閑處修禪定。惟釋尊不能滿意其說,居止數月,即往訪鬱陀羅摩子。釋尊成道轉法輪時,欲先教化此仙人,然此仙人已逝世。 迦藍之教義,諸佛經中多以無所有處爲其所謂究竟之涅槃。推知其涅槃思想爲當時印度一般之思潮。又原始佛教將修禪階段分爲九段,於過去現在因果經卷三,迦藍即列舉四禪、空處、識處、無所有處、非想非非想處等八段之說,後再加滅盡定而成九段。〔中阿含卷五十六羅摩經、眾許摩訶帝經卷六、六度集經卷七、出曜經卷七、方廣大莊嚴經卷七頻婆娑羅王勸受俗利品、佛般泥洹經卷下、北本涅槃經卷二十七〕",
"Search1": "a la la ca lam",
"Search2": "a la la ca lam"
},
{
"Id": 372,
"Word": "a la la ca lam",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿羅邏迦藍) Phạm:Àràđa-Kàlàma, Pāli: Àơàrakàlàma. Người tiên ngoại đạo đầu tiên mà đức Phật đến hỏi đạo sau khi dời khỏi cung vua, là người ở thành Tì xá li (cũng có thuyết nói là người ở ngoại ô thành Vương xá) thuộc Ấn độ xưa. Còn gọi là A ra noa ca la ma, A lam ca lam, A la la, A lam, La ca lam, Ca la ma, Ca lan, Già lam, A lan. Dịch ý là tự dối, lười biếng. Cùng với Uất đà la ma tử nổi tiếng ở đời. Là học giả phái Số luận, rất nổi danh trong phái Lục sư ngoại đạo đương thời. Ông muốn chặt đứt gốc rễ của sự sống chết mà xuất gia giữ giới, tu hành nhún nhường nhẫn nhục, ngồi thiền định ở nơi vắng vẻ. Vì đức Phật không thỏa mãn với học thuyết của ông, nên Ngài ở vài tháng rồi từ biệt, và đến hỏi đạo nơi Uất đà la ma tử. Khi đức Phật thành đạo, chuyển pháp luân, Ngài định đến giáo hóa cho A la ra ca lam trước nhất, nhưng ông đã qua đời rồi. Về giáo nghĩa của Ca lam, trong các kinh Phật, phần nhiều bảo ông ấy cho cõi Vô sở hữu (Vô sở hữu xứ) là Niết bàn rốt ráo. Suy đó thì biết, tư tưởng Niết bàn là tư trào phổ thông tại Ấn độ đương thời. Lại Phật giáo Nguyên thủy chia các giai đoạn tu Thiền làm chín đoạn, thì trong kinh Quá khứ hiện tại nhân quả quyển 3, Ca lam nêu lên thuyết tám đoạn là: Tứ thiền, Không xứ, Thức xứ, Vô sở hữu xứ, Phi tưởng phi phi tưởng xứ, sau lại thêm Diệt tận định mà thành chín đoạn. [X. Trung a hàm Q.56 kinh La ma; kinh Chúng hứa ma ha đế Q.6; kinh Lục độ tập Q.7; kinh Xuất diệu Q.7; kinh Phương quảng đại trang nghiêm Q.7 phẩm Tần bà sa la vương khuyến thụ tục lợi; kinh Phật ban nê hoàn Q.hạ; kinh Niết bàn (bản Bắc) Q.27].",
"Search1": "a la la ca lam",
"Search2": "a la la ca lam"
},
{
"Id": 373,
"Word": "a la la địa ngục",
"Dict": 7,
"Mean": "Alala (S), Apapa (S)A bà bà địa ngục.",
"Search1": "a la la địa ngục",
"Search2": "a la la dia nguc"
},
{
"Id": 374,
"Word": "a la ra ca lam",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Uất đà ca la la.",
"Search1": "a la ra ca lam",
"Search2": "a la ra ca lam"
},
{
"Id": 375,
"Word": "a la thuyết bộ",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Tây sơn trụ bộ.",
"Search1": "a la thuyết bộ",
"Search2": "a la thuyet bo"
},
{
"Id": 376,
"Word": "a la tì quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3691阿羅毘,梵名 Aḷāvī,巴利名 Āḷavī。爲印度古國,濱臨恆河。又作阿羅鞞國、阿荼睥國,阿羅婆伽國、阿羅鞞伽羅國。意譯林、大野、曠野、曠野禽獸住處。南傳巴利文長老偈經(Thera-gāthā)一二六三偈述及阿迦羅瓦寺(Aggālav-chetiya),該寺乃阿羅毘國著名之寺院。依此偈之註所說阿羅毘國之位置,位於由波羅奈斯(梵 Vāraṇasī)沿恆河上溯十二由旬,舍衛城之南三十由旬之恆河沿岸。 據巴利文相應部十三之三十三所述,長者呵多阿羅婆(Hatthaka Āḷavak)曾爲此國住民。又據阿羅漢具德經載,賀悉多哥(呵多阿羅婆)長者及阿吒嚩哥同住於大野。據巴利文增支部八之二十三載,釋尊在阿迦羅瓦寺時,賀悉多哥長者讚揚世尊具足八未曾有法。據大智度論卷二十七載,阿羅毘國氣候寒冷又多蒺藜,佛坐臥其間不以爲苦。佛弟子中之詩人婆耆舍(巴 Vaṅgīsa)之師尼瞿陀劫波(巴 Nigrodha Kappa)在阿迦羅瓦寺逝世,婆耆舍請問釋尊關於其師死後去處,此事載於前述之長老偈經中。 此外,九十二波逸提之第十掘地戒、第十一伐戒樹即在此地制定,係由於比丘在阿迦羅瓦寺爲建築而自行掘地,並令人掘地及伐樹以致招非難之故。又有關阿羅毘國之事蹟亦見於長老尼偈經(巴 Therī-gāthā)、增支部八之二十四、相應部十之十二、雜阿含經卷四十五、別譯雜阿含經卷十三、五分律、十誦律、摩訶僧祇律、有部毘奈耶等書。",
"Search1": "a la tì quốc",
"Search2": "a la ti quoc"
},
{
"Id": 377,
"Word": "a la tì quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿羅毗國) A la tì, Phạm:Aơàvì, Pāli: Àơavì. Tên một nước xưa ở Ấn độ, gần sông Hằng. Còn gọi là A la bề quốc, A đồ tì quốc, A la bà già quốc, A la bề già la quốc. Dịch ý là rừng, đồng nội, đồng không, là nơi chim muông ở. Kinh Trưởng lão kệ (Theragàthà) Nam truyền vănPāli, bài kệ thứ 1263 có đề cập đến chùa A ca la ngõa (Aggàlav-chetiya), là ngôi chùa nổi tiếng ở nước A la tì. Cứ theo chú thích của bài kệ trên nói, thì vị trí nước A la tì nằm dọc theo bờ sông Hằng, cách nước Ba la nại tư (Phạm:Vàraịasì) ngược dòng sông Hằng, mười hai do tuần, và về phía nam thành Xá vệ ba mươi do tuần. Cứ theo Tương ứng bộ 13 kinh 33 văn Pāli tường thuật, thì Trưởng giả Ha đa a la bà (Hatthaka Àơavak) từng là công dân nước này. Lại cứ theo kinh A la hán cụ đức chép, thì Trưởng giả Hạ tất đa ca (Ha đa a la bà) và A tra phạ ca cùng ở nước A la ti. Cứ theo Tăng chi bộ 8 kinh 23 văn Pāli chép, thì khi đức Phật ở chùa A ca la ngõa, trưởng giả Hạ tất ca tán dương đức Thế Tôn có đủ tám pháp chưa từng có. Cứ theo luận Đại trí độ quyển 27 chép, thì nước A la tì khí hậu lạnh lẽo, lại nhiều cỏ tật lê, khi đức Phật ngồi, nằm không lấy thế làm khó chịu. Thầy của Bà kì xá (Pāli: Vagìsa) là Ni cù đà kiếp ba (Pāli: Nigrodha Kappa) qua đời tại chùa A ca la ngõa, Bà kì xá bèn hỏi đức Phật về nơi đi đến của thầy mình sau khi chết, việc này được chép trong kinh Trưởng lão kệ nói trên. Ngoài ra, giới cấm đào đất thứ 10, giới cấm chặt cây thứ 11 trong chín mươi hai Ba dật đề, chính đã được chế định tại nước này. Lí do: các tỉ khưu ở chùa A ca la ngõa, để cất nhà cửa, bèn tự mình đào đất, và sai người đào đất, chặt cây đến nỗi bị chê trách. Các sự tích về nước A la tì cũng còn được thấy trong kinh Trưởng lão ni kệ (Pāli: Therì-gàthà, Tăng chi bộ 8 kinh 24, Tương ứng bộ 10 kinh 12, kinh Tạp a hàm quyển 45, kinh Biệt dịch tạp a hàm quyển 13, luật Ngũ phần, luật Thập tụng, luật Ma ha tăng kì, và Hữu bộ tì nại da v.v...",
"Search1": "a la tì quốc",
"Search2": "a la ti quoc"
},
{
"Id": 378,
"Word": "a lại da",
"Dict": 6,
"Mean": "Alaya (S), an abode, receptacle, resting place (hence Himalaya, the store house of snow). Tiềm tàng.",
"Search1": "a lại da",
"Search2": "a lai da"
},
{
"Id": 379,
"Word": "a lại da",
"Dict": 2,
"Mean": "Alaya-vijnana (skt)—See A Lại Da Thức.",
"Search1": "a lại da",
"Search2": "a lai da"
},
{
"Id": 380,
"Word": "a lại da ngoại đạo",
"Dict": 2,
"Mean": "Một trong 30 loại ngoại đạo, xem A Lại Da là một chất liệu truờng tồn, sáng tạo và chứa đựng tất cả. Khi được xem như là hiện tượng, thì A Lại Da bao trùm khắp vũ trụ—The alaya heresy, one of the thirty heretical sects which considered the alaya is a sort of eternal substance or matter, creatives and containing all forms; when considered “unrolled,” or phenomenal, it fills the universe. It seems to be of the nature of materialism as opposed to the idealistic conception of the Alaya-vijnana.",
"Search1": "a lại da ngoại đạo",
"Search2": "a lai da ngoai dao"
},
{
"Id": 381,
"Word": "A Lại Da Thức",
"Dict": 10,
"Mean": "(s: ālaya-vijñāna, p: ālaya-viññāṇa, j: arayashiki, 阿賴耶識): từ hợp thành bởi âm tả ālaya và âm dịch vijñāna, còn gọi là A Lê Da Thức (阿黎耶識), được dịch là Tạng Thức (藏識). Theo giáo nghĩa độc đáo của Duy Thức Pháp Tướng Tông, nó được xếp vào hàng thứ tám trong 8 thức (Nhãn, Nhĩ, Tỷ, Thiệt, Thân, Ý, Mạt Na và A Lại Da Thức), là thức có căn bản của tồn tại cá nhân. Từ ālaya có nghĩa là nơi chốn, chổ ở, vì nó là nơi chứa đựng chủng tử của tất cả các pháp, nên được gọi là Tạng Thức. Từ điểm này, nó còn được gọi là Nhất Thiết Chủng Tử Thức (一切種子識, thức chứa đựng hết thảy chủng tử). Từ chủng tử ấy, A Lại Da Thức sanh khởi các pháp của thế giới hiện tượng (hiện hành pháp [現行法]), rồi các pháp này lại tạo ấn tượng (huân tập) cho A Lại Da Thức để hình thành nên chủng tử và tương tục sanh diệt trong từng sát na. Với tư cách là trung tâm của tồn tại cá nhân, thức này có đẩy đủ các cơ năng đa dạng và tùy theo cơ năng của nó mà có nhiều tên gọi khác. Từ điểm sanh khởi làm quả báo của nghiệp quá khứ (dị thục [異熟]), nó được gọi là Dị Thục Thức (異熟識); từ điểm là cơ sở sanh ra các thức khác, nó có tên là Căn Bản Thức (根本識); hay từ điểm duy trì cơ quan của thân tâm, nó là A Đà Na Thức (s: ādāna-vijñāna, 阿陀那識, tức Duy Trì Thức [維持識]). Duy Thức Pháp Tướng Tông thuyết về triết học duy tâm cho rằng vạn hữu vốn duyên khởi từ A Lại Da Thức. Thức này là chủ tể của thế giới mê muội, nhưng các pháp giác ngộ cũng hình thành nhờ nó. Chính vì vậy, đã nảy sinh luận tranh cho rằng đời sau bản chất của A Lại Da Thức sẽ là chơn thức trong sạch hay vọng thức nhơ nhớp.",
"Search1": "a lại da thức",
"Search2": "a lai da thuc"
},
{
"Id": 382,
"Word": "A-lại-da thức",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 賴 耶 識; S: ālayavijñāna; dịch nghĩa là Tạng thức (藏).\r\nKhái niệm quan trọng của Duy thức tông (s: vijñānavāda), một trong hai nhánh chính của Phật giáo Ðại thừa (s: ma-hāyāna). Trong trường phái này, A-lại-da thức được xem là thức căn bản của mọi hiện tượng. Thức này chứa đựng mọi kinh nghiệm của đời sống mỗi con người và nguồn gốc tất cả các hiện tượng tinh thần.\r\nKhái niệm A-lại-da thức là cơ sở của Duy thức tông, qua đó người ta giải thích sự hiện hữu của »con người«, của »cá nhân«. Theo đó, các Chủng tử (s: bīja) của Nghiệp (s: karma; p: kamma) được chứa đựng trong A-lại-da thức và đợi nhân duyên đầy đủ sẽ hiện thành tư tưởng. Các tư tưởng có tính riêng tư đó tác động trong mối liên hệ với Vô minh (s: avidyā) và Ngã (s: ātman) chấp làm cho mỗi người tưởng rằng có một con người đứng sau mọi hành động của mình. Tư tưởng đó lại gây tiếp các chủng tử của nghiệp, và nghiệp lại tiếp tục tạo tác. Vòng lẩn quẩn này chỉ được đối trị bằng quan điểm cho rằng, không hề có một thế giới độc lập ngoài Tâm. Theo đó thế giới chỉ là phản ánh của A-lại-da thức, con người chỉ thấy bóng dáng của chính tâm thức nó. A-lại-da thức thường được xem như là »sự thật cuối cùng«, có khi được gọi là Chân như (s: tathatā). Theo một quan điểm Phật giáo khác thì A-lại-da thức chỉ là nơi tập hợp của mọi nghiệp xưa cũ (Pháp tướng tông).\r\n",
"Search1": "a lại da thức",
"Search2": "a lai da thuc"
},
{
"Id": 383,
"Word": "a lại da thức",
"Dict": 8,
"Mean": "3676阿賴耶,梵語 ālaya 之音譯。爲八識(眼、耳、鼻、舌、身、意、末那、阿賴耶等識)之一,九識(八識及阿摩羅識)之一。又作阿羅耶識、阿黎耶識、阿剌耶識、阿梨耶識。略稱賴耶、梨耶。舊譯作無沒識,新譯作藏識。或作第八識、本識、宅識。無沒識意謂執持諸法而不迷失心性;以其爲諸法之根本,故亦稱本識;以其爲諸識作用之最強者,故亦稱識主。此識爲宇宙萬有之本,含藏萬有,使之存而不失,故稱藏識。又因其能含藏生長萬有之種子,故亦稱種子識。 此外,阿賴耶識亦稱初剎那識、初能變、第一識。因宇宙萬物生成之最初一剎那,唯有此第八識而已,故稱初剎那識。而此識亦爲能變現諸境之心識,故亦稱初能變。由本向末數爲第一,故稱第一識。由於有阿賴耶識才能變現萬有,故唯識學主張一切萬有皆緣起於阿賴耶識,此亦爲唯心論之一種。至於阿賴耶識爲清淨之真識,或染污之妄識,乃佛學界所爭論之一大問題。 據攝大乘論本卷上所引增一阿含經之說,及俱舍論卷十六所引契經(或即指雜阿含經)之說,可知阿賴耶思想之萌芽,源於原始佛教時代。據轉識論、攝大乘論本卷上、佛本行集經卷三十三、俱舍論卷十六、大毘婆沙論卷一四五等所舉,部派佛教時代之諸師皆依愛欲緣起說,將阿賴耶解釋爲愛著、貪愛,或爲愛、樂、欣、喜等。然至大乘佛教時代,則先後有馬鳴造大乘起信論以論釋阿賴耶識之義,彌勒、無著、世親等亦分別造論闡述唯識緣起說,以一切萬有皆緣起於阿賴耶識,遂成立唯識哲學之思想系統。其中,無著依阿毘達磨大乘經、解深密經等,解說第八根本識(阿賴耶識)爲有情總報之果體,並於所著顯揚聖教論卷十七中,舉出八種理由以論證阿賴耶識之存在。 無著於其另一著作攝大乘論本卷上,將阿賴耶識分爲自相、因相、果相三種,並提出迷、悟二種境界,皆由熏習於阿賴耶識中之種子所生起,此即「種子熏習說」,亦即主張阿賴耶識爲真妄和合之說。又世親著之唯識三十頌,至唯識分流時代,有二十八家之注釋,而較聞名者則爲護法、安慧等十大論師之注釋;玄奘即以護法之注釋爲主,糅合其餘諸師之說,編譯出成唯識論十卷,對我國、日本、韓國之唯識思想影響甚深。 據成唯識論卷二所舉,阿賴耶識具有能藏、所藏、執藏三義。即︰(一)能藏,謂第八識善於自體中含藏一切萬法之種子。(二)所藏,指現行熏種子義而說,亦即此識爲七轉識熏習諸法種子之場所。(三)執藏,謂第八識恆被第七末那識妄執爲實我、實法,故又稱我愛執藏。 此外,窺基根據成唯識論所述,於所著成唯識論述記卷二末,就自相、因相、果相三相,舉出阿賴耶識體之三位,即︰(一)我愛執藏現行位,指第八識之自相而言。因第八識自無始以來,恆被第七識愛執爲我,故稱我愛執藏現行位。下自凡夫,上至七地以前之菩薩,或二乘中之有學聖者皆屬此位。(二)善惡業果位,指第八識之果相而言。因第八識係由無始以來之善惡業所招感之異熟果,故稱善惡業果位。此位通至十地菩薩之金剛心,或二乘之無學聖者。(三)相續執持位,指第八識之因相而言。此位通至佛果以及盡未來際。因第八識持色心之萬法種子,令五根不斷失,故稱相續執持位。依此,從凡夫以至佛之轉迷開悟,第八識爲眾生所依止,故阿賴耶識又稱所知依。護法之唯識思想,由其弟子戒賢論師傳予玄奘,而盛行於我國。 我國各宗派對阿賴耶識亦有多種說法,如︰(一)地論宗,以世親之十地經論爲主要根據。主張阿賴耶識爲真常淨識,視同於佛性如來藏。(二)攝論宗,以無著之攝大乘論爲主要根據,乃由真諦所譯。主張如來藏緣起,阿賴耶識則爲無常有漏法,乃一切煩惱之根本,並於前八識外加上阿摩羅識成爲第九識,而以前八識爲虛妄,九識爲真實。然真諦亦參酌大乘起信論,而以阿賴耶識爲無記無明隨眠之識,乃真妄和合之識,以第八識具有解性義爲真,具有果報義爲妄,故真諦之思想,乃融合真、妄二說而成。(三)法相唯識宗,以成唯識論爲主要根據。玄奘爲新譯唯識之代表,排斥如來藏緣起,主張阿賴耶緣起,並立五種種姓,說人、法二空。此種新論說,不僅使我國之唯識思想發生新的大轉變, 亦影響日本之唯識思想。〔入楞伽經卷二、卷七、決定藏論卷上、法華經玄義卷五下、中觀論疏卷七本、大乘義章卷三末、華嚴孔目章卷一、唯識了義燈卷四本〕(參閱「賴耶三相」6314、「賴耶四分」6314)",
"Search1": "a lại da thức",
"Search2": "a lai da thuc"
},
{
"Id": 384,
"Word": "a lại da thức",
"Dict": 7,
"Mean": "Ālaya viāṇa (P), kūn shi nam she (T), Ālaya vijāna (S), Ālaya (S), Alaya consciousnessHàm tàng thức, Tàng thức, Bản thức, Chấp trì thức, Chủng tử thức, dị thục thức, đệ bát thức, đệ nhất thức, hiện thức, sở tri y, trạch thức, Vô cấu thức, Vô một thức, A lị da thức, Tạng, TàngThức thứ tám của con người nơi tàng trữ nghiệp báo. Con người có 8 thức: nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân, ý, mạt na thức, a lại da thức. Nơi tàng chứa tất cả chủng tử thiện, ác, vô ký, do thức thứ sáu lãnh đạo, năm thức trước (nhãn, nhĩ, tỷ, thiệt, thân) tạo tác. Xem Dị thục thức. Xem A đà na thức",
"Search1": "a lại da thức",
"Search2": "a lai da thuc"
},
{
"Id": 385,
"Word": "a lại da thức",
"Dict": 6,
"Mean": "Alaya-vijnàna (S). The receptacle intellect or consciousness, basic consciousness. Eighth consciousness, subconsciousness, store consciousness. Duy A lại da, Alayavijnàmàtram Alya only.",
"Search1": "a lại da thức",
"Search2": "a lai da thuc"
},
{
"Id": 386,
"Word": "a lại da thức",
"Dict": 2,
"Mean": "Alaya-vijnana (skt)—A Lợi Da—A Lê Da—A Lạt Da. (I) Theo Keith trong Trung Anh Phật Học Từ Điển của Giáo Sư Soothill, A Lại Da Thức được diễn dịch như sau—According to Keith in The Dictionary of Chinese-English Buddhist terms composed by Professor Soothill, Alaya-vijnana is interpreted as: 1) A Đàn Na Thức: Adana-vijnana—See Chấp Trì Thức. 2) Bản Thức: Gốc rễ của chư pháp—Original mind, because it is the root of all things. 3) Chấp Trì Thức: Nó giữ lấy tất cả các nhân thiện ác và giữ cho thân thể của hữu tình chúng luôn luân lưu trong luân hồi sanh tử—It holds together, or is the seed of another rebirth, or phenomena, the causal nexus. 4) Dị Thục Thức: Gọi là Dị Thục Thức vì nó chứa đựng và làm chín mùi những thiện ác nghiệp, từ đó có thể dẫn đến luân hồi sanh tử—It contains good and bad karma which in turns produces the rounds of mortality. 5) Đệ Bát Thức: Thức cuối cùng trong tám thức—It is the last of the eight vijnanas. 6) Đệ Nhất Thức: Đệ nhất thức từ gốc trở về ngọn (tầm quan trọng đệ nhất của A Lại Da Thức)—The prime or supreme mind or consciousness. 7) Hiện Thức: Chư pháp đều hiển hiện trên bản thức—Manifested mind, because all things are revealed in or by it. 8) Hữu Tình Căn Bản Chi Tâm Thức: Tâm thức căn bản của loài hữu tình—The fundamental mind-consciousness of conscious beings, which lay hold of all the experiences of the individual life. 9) Chủng Tử Thức: Chủng tử thứ cơ bản vì từ đó mà phát sanh ra mọi pháp, mọi vật; giống như từ hạt giống nầy mà sanh ra cây cối hoa quả—Seeds mind, because from it spring all individualities, or particulars. 10) Sở Tri Y Thức: Gọi là Sở Tri Y thức vì nó là cơ sở cho mọi pháp thiện ác dựa vào—Alaya-vijnana is the basis of all knowledge. 11) Tàng thức—Store Consciousness: a) Tiềm thức hay tạng thức, thức thứ tám hay Nghiệp thức. Tất cả nghiệp được thành lập trong hiện đời và quá khứ đều được tàng trữ trong A Lại Da thức—A Lại Da thức hành xử như nơi tồn chứa tất cả những dữ kiện được Mạt Na thức thâu thập. Khi một sinh vật chết thì bảy thức kia sẽ chết theo, nhưng A-Lại-Da thức vẫn tiếp tục. Nó là quyết định tối hậu cho cho sự đầu thai trong lục đạo—Alaya consciousness—Eighth consciousness—The storehouse consciousness—Karma respiratory—The all-conserving mind—All karma created in the present and previous lifetime is stored in the Alaya Consciousness—This is like a storage space receiving all information collected in the Mana consciousness. When a sentient being dies, the first seven consciousnesses die with it, but the Alaya-Consciousness carries on. It is the supreme ruler of one existence which ultimately determines where one will gain rebirth in the six realms of existence. b) Tàng thức là nơi tích lũy—The storehouse-consciousness is a place where stores: - Tất cả những ấn tượng: All impressions. - Tất cả những hạt giống ký ức: All memory-seeds. - Tất cả những hạt giống nghiệp: All karmic seeds. 12) Tâm Thức: Tâm là tên khác của a Lại Da Thức vì cả hai đều tích tụ các hạt giống của chư pháp và làm cho chúng khởi lên—Mind is another name for Alaya-vijnana, as they both store and give rise to all seeds of phenomena and knowledge. 13) Trạch Thức: Là nhà ở của các hạt giống—Abode of consciousness. 14) Vô Cấu Thức: Cực thanh tịnh thức ở bậc “Như Lai Địa,” nơi nương tựa của các pháp vô lậu—Unsullied consciousness when considered in the absolute, i.e. the Tathagata. 15) Vô Một Thức: Tất cả các chủng tử không bị mất mát (không mất, không tan)—Inexhaustible mind, because none of its seeds, or products is lost (non-disappearing, perhaps non-melting). 16) Như Lai Tạng: Tathagata-garbha (skt)—See Như Lai Tạng. (II) Theo Giáo Sư Junjiro Takakusu trong Cương Yếu Triết Học Phật Giáo, khi vạn vật phản chiếu trong tâm trí ta, thì thế lực phân biệt hay tưởng tượng của tâm ta sẽ sẳn sàng hoạt động ngay. Đây gọi là “thức” (vijnana). Chính vì thức kết hợp với tất cả yếu tố phản chiếu, tàng chứa chúng, nên được gọi là A Lại Da Thức hay “thức tạng.” Tạng thức chính nó là sự hiện hữu của tập hợp nhân quả và những tâm sở thanh tịnh hoặc nhiễm ô, được tập hợp hay lẫn lộn với chúng theo tương quan nhân quả. Khi tạng thức bắt đầu hoạt động và bước xuống thế giới thường nhật nầy, thì chúng ta có hiện hữu đa dạng vốn chỉ là thế giới tưởng tượng. Tạng thức, vốn là chủng tử thức, là trung tâm ý thức; và thế giới do thức biểu hiện là môi trường của nó. Chỉ có ở nơi sự giác ngộ viên mãn của Phật, thức thanh tịnh mới bừng chiếu lên. Tịnh thức nầy có thể tẩy sạch phần ô nhiễm của tạng thức và còn khai triển thế lực trí tuệ của nó. Thế giới của tưởng tượng và thế giới hỗ tương liên hệ được đưa đến chân lý chân thật, tức Viên Thành Thật tánh (parinispanna). Sau khi đạt đến đó, chủng tử tạng, tức là thức, sẽ biến mất và cuối cùng đưa đến trạng thái nơi mà chủ thể và đối tượng không còn phân biệt. Đấy là vô phân biệt trí (avikalpa-vijnana). Trạng thái tối hậu là Vô Trụ Niết Bàn (apratisthita-nirvana) nghĩa là sự thành tựu tự do hoàn toàn, không còn bị ràng buộc ở nơi nào nữa—According to Prof. Junjiro Takakusu in The Essentials of Buddhist Philosophy, when all things are reflected on our mind, our discriminating or imaginating power is already at work. This called our consciousness (vijnana). Since the consciousness co-ordinating all reflected elements stores them, it is called the store-consciousness or ideation-store. The ideation-store itself is an existence of causal combination, and in it the pure and tainted elements are causally combined or intermingled. When the ideation-store begins to move and descend to the everyday world, then we have the manifold existence that is only an imagined world. The ideation-store, which is the seed-consciousness, is the conscious center and the world manifested by ideation is its environment. It is only from the Buddha's Perfect Enlightenment that pure ideation flashed out. This pure ideation can purify the tainted portion of the ideation-store and further develop its power of understanding. The world of imagination and the world of interdependence will be brought to the real truth (parinispanna). This having been attained, the seed-store, as consciousness, will disappear altogether and ultimately will reach the state where there is no distinction between subject and object. The knowledge so gained has no discrimination (Avikalpa-vijnana). This ultimate state is the Nirvana of No Abode (apratisthita-nirvana), that is to say, the attainment of perfect freedom, not being bound to one place. (III) Theo Bồ Tát Mã Minh trong Đại Thừa Khởi Tín Luận và Nhiếp Luận Tông, A Lại Da thức là nơi hòa hợp chân vọng. Khi nó trở nên thanh tịnh và không còn ô nhiễm, nó chính là “Chân Như.”—According to Asvaghosa Bodhisattva in the Awakening of Faith and the Samparigraha, the Alaya or store id the consciousness in which the true and the false unite. When Alaya Consciousness becomes pure and taintless, it is Tathata (Thusness).",
"Search1": "a lại da thức",
"Search2": "a lai da thuc"
},
{
"Id": 387,
"Word": "a lại da thức",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿賴耶識) A lại da, Phạm: Àlaya. Là một trong tám thức (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, mạtna, a lại da), một trong chín thức (tám thức và thức A ma la) Còn gọi là A la da thức, A lê da thức, A lạt da thức. Gọi tắt là Lại da, Lê da. Các nhà dịch cũ gọi là Vô một thức , các nhà dịch mới gọi là Tàng thức. Hoặc gọi là Đệ bát thức, Bản thức, Trạch thức. Vô một thức hàm ý là nắm giữ các pháp mà không mê mất tâm tính; vì nó là gốc rễ của các pháp, cho nên gọi là Bản thức, vì nó là tác dụng mạnh nhất trong các thức, cho nên cũng gọi là Thức chủ. Thức này là gốc của vũ trụ vạn hữu, ngậm chứa muôn vật khiến cho không bị mất mát, cho nên gọi là Tàng thức. Lại vì nó là hạt giống có khả năng ngậm chứa và sinh trưởng muôn vật, cho nên cũng gọi là Chủng tử thức (thức hạt giống). Ngoài ra, A lại da cũng được gọi là Sơ sát na thức, Sơ năng biến, Đệ nhất thức. Vì ở sát na đầu tiên khi muôn vật trong vũ trụ sinh thành, thì duy chỉ có thức thứ tám này mà thôi, cho nên gọi là Sơ sát na thức. Mà thức này cũng là tâm thức hay biến hiện ra các cảnh, cho nên cũng gọi là Sơ năng biến. Từ gốc đến ngọn, nó được kể là thứ nhất, cho nên gọi Đệ nhất thức. Do ở nơi thức A lại da mới có thể biến hiện ra muôn vật, vì thế, các nhà Duy thức học chủ trương hết thảy vạn hữu đều bắt nguồn từ thức A lại da, đây cũng là một thứ Duy tâm luận. Còn như thức A lại da là chân thức trong sạch hay là vọng thức nhơ bẩn, thì đây là một vấn đề lớn đã được bàn đến rất nhiều trong giới Phật học. Cứ theo luận Nhiếp đại thừa quyển thượng phần đầu trích dẫn thuyết trong kinh Tăng nhất a hàm, và luận Câu xá quyển 16 rích dẫn thuyết trong Khế kinh (hoặc chỉ kinh Tạp a hàm), thì có thể thấy manh nha tư tưởng A lại da đã bắt nguồn từ thời đại Phật giáo nguyên thủy. Cứ theo luận Chuyển thức, luận Nhiếp đại thừa quyển thượng phần đầu, kinh Phật bản hạnh tập quyển 33, luận Câu xá quyển 16, luận Đại tì bà sa quyển 145 v.v... nói, thì các sư của thời đại Bộ phái Phật giáo đều dựa vào thuyết Ái dục duyên khởi mà giải thích A lại da là ái trước, tham ái, hoặc là ái, lạc, hân, hỉ v.v... Nhưng đến thời đại Phật giáo Đại thừa, thì lần lượt có ngài Mã minh viết luận Đại thừa khởi tín để bàn và giải thích nghĩa của thức A lại da, rồi đến các ngài Di lặc, Vô trước, Thế thân cũng đều làm luận để phát huy thuyết Duy thức duyên khởi, chủ trương hết thảy muôn vật đều bắt nguồn từ thức A lại da, mà thành lập hệ thống tư tưởng của triết học Duy thức. Trong đó, ngài Vô trước dựa vào kinh A tì đạt ma đại thừa, kinh Giải thâm mật để giải thích và cho rằng thức căn bản thứ tám (thức A lại da) là quả thể tổng báo của hữu tình, đồng thời, trong tác phẩm Hiển dương thánh giáo luận quyển 17, ngài Vô trước đã nêu ra tám lí do để biện chứng cho sự tồn tại của thức A lại da. Lại trong Nhiếp đại thừa luận quyển thượng phần đầu, ngài Vô trước chia thức A lại da làm ba loại là Tự tướng, Nhân tướng và Quả tướng, và cho hai cảnh giới mê, ngộ đều do những hạt giống được ươm (huân tập) trong thức A lại da phát sinh, đây tức là thuyếtChủng tử huân tập, cũng tức là thuyết chủ trương thức A lại da là chân vọng hỗn hợp. Lại tác phẩm Duy thức tam thập tụng của ngài Thế thân, đến thời đại Duy thức chia dòng, có hai mươi tám nhà chú thích, mà trội hơn cả thì có các bản chú thích của mười vị đại luận sư Hộ pháp, An tuệ v.v... Ngài Huyền trang lấy bản chú thích của ngài Hộ pháp làm chính, rồi hỗn hợp thuyết của các luận sư khác mà biên dịch nên bộ luận Thành duy thức 10 quyển, đối với tư tưởng Duy thức ở Trung quốc, Hàn quốc và Nhật bản, đã có ảnh hưởng rất sâu xa. Cứ theo luận Thành duy thức quyển 2, thì thức A lại da có đủ ba nghĩa là Năng tàng, Sở tàng và Chấp tàng. 1.Năng tàng, nghĩa là, trong tự thể thức thứ tám ngậm chứa các hạt giống của hết thảy muôn pháp. 2.Sở tàng, nói theo nghĩa hiện hành ươm hạt giống, thì thức này cũng tức là chỗ để cho bảy chuyển thức ươm hạt giống của muôn pháp. 3.Chấp tàng, nghĩa là, thức thứ tám thường bị thức mạt na thứ bảy chấp bậy làm thực ngã, thực pháp, vì thế cũng gọi là Ngã ái chấp tàng. Ngoài ra, sư Khuy cơ dựa theo những điều được trình bày trong luận Thành duy thức, rồi trong Thành duy thức luận thuật kí quyển 2 phần cuối từ ba tướng Tự tướng, Nhân tướng và Quả tướng mà đề xuất ba vị thức thể của A lại da, đó là: 1. Ngã ái chấp tàng hiện hành vị, chỉ tự tướng của thức thứ tám. Vì từ vô thủy đến nay, thức thứ tám thường bị thức thứ bảy chấp làm ngã, cho nên gọi là Ngã ái chấp tàng vị. Từ phàm phu, đến các Bồ tát dưới Thất địa, hoặc các bậc Thánh hữu học trong Nhị thừa, đều thuộc vị này. 2. Thiện ác nghiệp quả vị, chỉ quả tướng của thức thứ tám. Vì từ vô thủy đến nay, do nghiệp thiện ác của thức thứ tám mà đưa đến quả dị thục, cho nên gọi là Thiện ác nghiệp quả vị. Vị này suốt đến tâm kim cương của hàng Bồ tát Thập địa hoặc các bậc Thánh vô học của Nhị thừa. 3. Tương tục chấp trì vị, chỉ Nhân tướng của thức thứ tám. Vị này thông đến Phật quả và suốt đến vị lai vô tận. Vì thức thứ tám nắm giữ hạt giống sắc, tâm của muôn pháp, khiến năm căn không dứt mất, cho nên gọi là Tương tục chấp trì vị. Nương vào đó mà từ phàm phu đến Phật mới thực hiện được cuộc chuyển mê khai ngộ, nó là nơi nương tựa của chúng sinh, vì thế, thức A lại da còn được gọi làSở tri y . Tư tưởng Duy thức của ngài Hộ pháp được học trò là luận sư Giới hiền truyền cho ngài Huyền trang, nhờ đó mà thịnh hành ở Trung quốc. Tại Trung quốc, các tông phái đối với thức A lại da cũng có nhiều thuyết khác nhau, chẳng hạn như: 1.Tông Địa luận, lấy Thập địa kinh luận của ngài Thế thân làm căn cứ chủ yếu. Chủ trương thức A lại da là thức chân thường thanh tịnh, cũng như Phật tính Như lai tạng. 2.Tông Nhiếp luận, lấy luận Nhiếp đại thừa của ngài Vô trước làm căn cứ chủ yếu (bản dịch của ngài Chân đế). Chủ trương Như lai tạng duyên khởi cho thức A lại da là pháp vô thường hữu lậu, là nguồn gốc của hết thảy phiền não, đồng thời, ngoài tám thức trước ra, lại thêm thức A ma la nữa thành thức thứ chín, và cho tám thức trước là hư vọng, thức thứ chín là chân thực. Tuy nhiên, ngài Chân đế cũng tham chước luận Đại thừa khởi tín, mà cho thức A lại da là thức vôkí vô minh tùy miên ., là thức chân vọng lẫn lộn, cho thức thứ tám có đủ nghĩa tính hiểu biết là chân, có đủ nghĩa quả báo là vọng, cho nên tư tưởng của ngài Chân đế là dung hợp cả hai thuyết chân vọng mà thành. 3.Tông Pháp tướng duy thức, lấy luận Thành duy thức làm căn cứ chủ yếu. Ngài Huyền trang là đại biểu cho các nhà dịch Duy thức mới, bác thuyết Như lai tạng duyên khởi, chủ trương A lại da duyên khởi, đồng thời, lập ra năm loại chủng tính, bảo nhân, pháp đều không. Loại luận thuyết mới này, không những khiến cho tư tưởng Duy thức tại Trung quốc phát sinh một chuyển biến lớn, mà cũng còn ảnh hưởng đến cả tư tưởng Duy thức tại Nhật bản nữa. [X. kinhNhập lăng già Q.2, Q.7; luận Quyết định tạng Q.thượng; Pháp hoa huyền nghĩa Q.5 phần dưới; Trung quán luận sớ Q.7 phần đầu. Đại thừa nghĩa chương Q.3 phần cuối; Hoa nghiêm khổng mục chương Q.1; Duy thức liễu nghĩa đăng Q.4 phần đầu]. (xt. Lại Da Tam Tướng, Lại Da Tứ Phần).",
"Search1": "a lại da thức",
"Search2": "a lai da thuc"
},
{
"Id": 388,
"Word": "a lại da thức tam chủng cảnh",
"Dict": 2,
"Mean": "The three categories of the Alayavijnana. 1) Chủng tử: Sinh ra hạt giống của tất cả hiện hành pháp hữu lậu và vô lậu—The seed, or cause, of all phenomena—See Chủng Tử. 2) Ngũ Căn: The five organs of sensation—See Ngũ Căn. 3) Khí Giới: Quả báo của tất cả chúng sanh (núi, sông, cây, cỏ, khí cụ, ăn uống, vân vân)—The material environmenton which they depend.",
"Search1": "a lại da thức tam chủng cảnh",
"Search2": "a lai da thuc tam chung canh"
},
{
"Id": 389,
"Word": "a lại thức",
"Dict": 4,
"Mean": "Là thức thứ tám, cũng gọi là Tạng thức, tức là tất cả chủng tử thiện, ác, vô ký, do thức thứ sáu lãnh đạo năm thức trước (nhãn, nhĩ, tỹ, thiệt, thân) làm ra đều chứa trong đó.",
"Search1": "a lại thức",
"Search2": "a lai thuc"
},
{
"Id": 390,
"Word": "A-lam",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-la-la.",
"Search1": "a lam",
"Search2": "a lam"
},
{
"Id": 391,
"Word": "a lam",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Uất đà ca la la.",
"Search1": "a lam",
"Search2": "a lam"
},
{
"Id": 392,
"Word": "a lam bà",
"Dict": 8,
"Mean": "3690梵語 aratilambha 之音譯。意譯作汁藥。爲一種藥草。全稱阿羅底藍婆。略稱藍婆。產於印度之香山、雪山一帶。一般取其草汁塗身,可去患得喜,故又譯爲得喜。〔新華嚴經卷七十八、慧苑音義卷下、枳橘易土集卷二〕",
"Search1": "a lam bà",
"Search2": "a lam ba"
},
{
"Id": 393,
"Word": "a lam bà",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿藍婆) Phạm: Aratilambha. Dịch ý là thuốc nước, là một loại cỏ thuốc. Nói đủ là A la để lam bà, nói tắt là Lam bà. Sinh sản trên núi Hương và núi Tuyết tại Ấn độ. Thông thường, người ta dùng nước cốt của loại cỏ này thoa lên mình, thì có thể hết lo, được mừng, vì thế còn được dịch là đắc hỉ (được mừng). [X. kinh Tân hoa nghiêm Q.78; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ; Chỉ quật dịch thổ tập Q.2]",
"Search1": "a lam bà",
"Search2": "a lam ba"
},
{
"Id": 394,
"Word": "A-lam-ca-lam",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-la-la.",
"Search1": "a lam ca lam",
"Search2": "a lam ca lam"
},
{
"Id": 395,
"Word": "a lan nhã",
"Dict": 8,
"Mean": "3697梵語 araṇya,巴利語 arañña 之音譯。又作阿練茹、阿練若、阿蘭那、阿蘭攘、阿蘭拏。略稱蘭若、練若。譯爲山林、荒野。指適合於出家人修行與居住之僻靜場所。又譯爲遠離處、寂靜處、最閑處、無諍處。即距離聚落一俱盧舍而適於修行之空閒處。其住處或居住者,即稱阿蘭若迦(梵 āraṇyaka)。 據慧苑音義卷上載,阿蘭若有三種:(一)達磨阿蘭若(梵 dharma-araṇya),乃求菩提之道場。(二)摩登伽阿蘭若(梵 mātaṅga-araṇya),即墳場,或距村落一俱盧舍,即大牛之吼聲不能聽聞之處。(三)檀陀伽阿蘭若(梵 daṇḍaka-araṇya),即無人煙之沙磧。至後代,一般之寺院精舍亦稱阿蘭若,多位於遠離繁囂城市,而又便於出家、在家人出入之僻靜郊野。此外,比丘爲修行而常居於阿蘭若,稱阿蘭若行,屬於十二頭陀行之一。〔大毘婆沙論卷一三六、有部毘奈耶卷二十四、薩婆多毘尼毘婆沙卷五、大日經疏卷三、俱舍論光記卷十三、大乘義章卷十五、玄應音義卷二十三〕",
"Search1": "a lan nhã",
"Search2": "a lan nha"
},
{
"Id": 396,
"Word": "a lan nhã",
"Dict": 7,
"Mean": "Araa (P), Forest, Āraṇya (S), Āranya (S), Arinya (S), Araakanga (P), Araa (P), Remote place Không nhàn xứ, Nhàn cư xứ, A lan nhã xứ, Nhàn xứ, Lan nhã, Sâm lâm thư, Nơi hoang dã.",
"Search1": "a lan nhã",
"Search2": "a lan nha"
},
{
"Id": 397,
"Word": "a lan nhã",
"Dict": 6,
"Mean": "Aranya (S) A hermitage, or place of retirement for meditation.",
"Search1": "a lan nhã",
"Search2": "a lan nha"
},
{
"Id": 398,
"Word": "a lan nhã",
"Dict": 4,
"Mean": "Dịch là chỗ Tịch tịnh (xa lìa náo nhiệt), cũng là chùa nơi Tỳ kheo cư trú.",
"Search1": "a lan nhã",
"Search2": "a lan nha"
},
{
"Id": 399,
"Word": "a lan nhã",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿蘭若) Phạm: Araịya, Pāli: Araĩĩa. Còn gọi là A luyện như, A luyện nhã, A lan na, A la nhưỡng, A lan noa. Nói tắt là Lan nhã, Luyện nhã. Dịch là núi rừng, đồng hoang. Chỉ những nơi yên tĩnh vắng vẻ, thích hợp với những người xuất gia tu hành để cư trú. Còn dịch là nơi xa lìa, nơi vắng lặng, nơi rất thong thả, nơi không tranh giành. Tức là nơi vắng vẻ cách xa làng mạc một câu lư xá, thích hợp cho người tu hành. Chỗ ấy, hoặc người ở nơi ấy thì gọi là A lan nhã ca (Phạm: Àraịyaka). Cứ theo Tuệ uyển âm nghĩa quyển thượng chép, thì A lan nhã có ba loại: 1. Đạt ma a lan nhã (Phạm: Dharma araịya), là đạo tràng cầu Bồ đề. 2. Ma đăng già a lan nhã (Phạm: Màtaga-araịya), là nơi tha ma hoặc là nơi cách xa làng mạc một câu lư xá, tức một quãng xa mà tiếng bò kêu không nghe thấy.3. Đàn đà già a lan nhã (Phạm: Daịđaka-araịya), tức nơi bãi cát xa xôi không thấy khói của người ta đun nấu. Đến đời sau, tất cả chùa chiền tinh xá đều gọi là A lan nhã, phần nhiều cách xa nơi phồn hoa đô hội, là những chỗ yên tĩnh tiện cho người xuất gia tu hành, và người tại gia ra vào lễ bái. Ngoài ra, các tỉ khưu tu hành mà thường xuyên ở nơi A lan nhã, thì gọi là A lan nhã hạnh, là một trong mười hai hạnh đầu đà. [X. luận Đại tì bà sa Q.136; Hữu bộ tì nại da Q.24; Tát bà đa tì ni tì bà sa Q.5; Đại nhật kinh sớ Q.3; Câu xá luận quang kí Q.13; Đại thừa nghĩa chương Q.15; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].",
"Search1": "a lan nhã",
"Search2": "a lan nha"
},
{
"Id": 400,
"Word": "a-lan-nhã",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ là Araya, cũng đọc là a-luyện-nhã, dịch nghĩa là không nhàn, nhàn cư, chỉ những nơi trống vắng như mồ mã, đồng hoang, rừng vắng, núi cao... là nơi những bậc xuất gia tu hành quyết chí đi đến để tập trung tu tập thiền định tịch tĩnh, tránh xa mọi sự tranh chấp. Ngoài cách dùng a-lan-nhã xứ để chỉ những nơi như thế, trong kinh luận còn dùng a-lan-nhã pháp và a-lan-nhã hạnh để chỉ pháp tu và công hạnh của những vị này.",
"Search1": "a lan nhã",
"Search2": "a lan nha"
},
{
"Id": 401,
"Word": "a lan nhã xứ",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A luyện nhã, A lan nhã",
"Search1": "a lan nhã xứ",
"Search2": "a lan nha xu"
},
{
"Id": 402,
"Word": "a lật trá",
"Dict": 8,
"Mean": "3655巴利名 Ariṭṭha。西元前三世紀人。又作阿栗叉。爲錫蘭天愛帝須王(巴 Devānaṃpiya Tissa,約 250 B.C.~210 B.C.在位)之外甥。曾出使印度,迎請摩哂陀之妹僧伽密多(巴 Saṅghamittā),返國後出家爲僧,從摩哂陀學法,精研戒律。被摩哂陀選定爲僧團領袖,並得摩哂陀付與律藏。〔善見律毘婆沙卷三、卷四哂〕",
"Search1": "a lật trá",
"Search2": "a lat tra"
},
{
"Id": 403,
"Word": "a lật trá",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿栗咤) Pāli: Ariỉỉha. Người ở thế kỉ thứ III trước Tây lịch. Còn gọi là A lật xoa. Là cháu ngoại của vua Tích lan Thiên ái đế tu (Pāli: Devà-naôpiya Tissa, ở ngôi khoảng từ 250 trước Tây lịch - 210 trước Tây lịch). Từng đi sứ Ấn độ để đón rước em gái của ngài Ma hi đà là Tăng già mật đa (Pāli: Saghamittà), sau khi về nước, xuất gia làm tăng, theo học giáo pháp với ngài Ma hi đà, nghiên cứu giới luật. Ngài Ma hi đà tuyển chọn làm lãnh tụ Tăng đoàn và được trao phó tạng luật. [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.3, Q.4].",
"Search1": "a lật trá",
"Search2": "a lat tra"
},
{
"Id": 404,
"Word": "a lê da",
"Dict": 8,
"Mean": "3663梵語 ārya,巴利語 arya 或 ariya 之音譯。又作阿哩夜、阿離耶、阿離野、阿棃阿、阿黎耶、阿略、阿夷。意譯聖者、出苦者、賢者、大德、遠惡。爲通曉道理的賢人之尊稱。稱友(梵 Yaśomitra)於梵文俱舍釋論中,曾舉出 Āryājñātakauṇḍinya(聖阿若憍陳如)、Ārya-Mahākāśyapa(聖摩訶迦葉)之尊稱。師子賢(梵 Haribhadra)於梵文八千頌般若釋論中,亦記有 Ārya-nāgārjuna(聖龍樹)、Āryāsaṅga(聖無著)之稱。 又佛教經典,亦有於經名前冠上此語者,如宋代施護所譯之「聖八千頌般若波羅蜜多一百八名真實圓義陀羅尼經」,此類經名亦散見於梵文及西藏譯大藏經中。此外,阿賴耶識(梵 ālaya)之舊譯(陳代真諦譯)亦簡稱爲阿棃耶。〔四分律疏飾宗義記卷十本、仁王護國般若波羅蜜多經疏卷三、大日經義釋演密鈔卷六、如來大藏經總目錄、玄應音義卷一、慧琳音義卷四十二〕",
"Search1": "a lê da",
"Search2": "a le da"
},
{
"Id": 405,
"Word": "a lê da",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Tôn giả.",
"Search1": "a lê da",
"Search2": "a le da"
},
{
"Id": 406,
"Word": "a lê da",
"Dict": 6,
"Mean": "Arya (S). Saint, Venerable.",
"Search1": "a lê da",
"Search2": "a le da"
},
{
"Id": 407,
"Word": "a lê da",
"Dict": 2,
"Mean": "Arya (skt)—A Li Da—A Li Dã—A Lược—A Di—Thánh giả, Thánh nhân hay tôn giả (người đã ra khỏi cảnh khổ)—Loyal, honourable, noble—A man who has thought on the four chief principles of Buddhism and lives according to them. a) Thánh: Sage—Sacred—Saintly. b) Tôn: Honourable.",
"Search1": "a lê da",
"Search2": "a le da"
},
{
"Id": 408,
"Word": "a lê da",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿棃耶) Phạm:Arya, Pāli: Arya hoặcàriya. Còn gọi là A lí dạ, A li da, A li dã, A lê a, A lược, A di. Dịch ý là Thánh giả, xuất khổ giả (người ra khỏi khổ), Hiền giả, Đại đức, Viễn ác (xa điều ác). Là tiếng tôn xưng các bậc hiền nhân thông hiểu đạo lí. Ngài Xứng hữu .(Phạm:Yazomitra), trong Câu xá thích luận bằng văn Phạm, từng đề xuất những tiếng tôn xưng như: Àryàjĩàtakauịđinya (Thánh A nhã kiều trần như),Àrya-Mahàkàzyapa (Thánh Ma ha ca diếp). Ngài Sư tử hiền (Phạm: Haribhadra), trong Bát thiên tụng bát nhã thích luận văn Phạm, cũng ghi các tiếng tôn xưng như: Àrya-Nàgàrjuna (Thánh Long thụ) vàÀryàsaga(Thánh Vô trước). Lại các kinh điển Phật giáo, cũng có từ ngữ này được đặt trước tên kinh, như kinh Thánh bát thiên tụng bát nhã ba la mật đa nhất bách bát danh chân thực viên nghĩa đà la ni do ngài Thí hộ......đời Tống dịch; loại tên kinh này cũng được thấy rải rác trong các kinh tiếng Phạm và Đại tạng kinh bản dịch Tây tạng. Ngoài ra, thức A lại da (Phạm:àlaya) cũng được các nhà dịch cũ (Chân đế đời Trần dịch) gọi tắt là A lê da. [X. Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí Q.10 phần đầu; Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh sớ Q.3; Đại nhật kinh nghĩa thích diễn mật sao Q.6; Như lai đại tạng kinh tổng mục lục; Huyền ứng âm nghĩa Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.42].",
"Search1": "a lê da",
"Search2": "a le da"
},
{
"Id": 409,
"Word": "a lê da đà sa",
"Dict": 2,
"Mean": "Aryadasa (skt)—Một vị sư của trường phái Đại Chúng Bộ—A monk of the Mahasanghikah.",
"Search1": "a lê da đà sa",
"Search2": "a le da da sa"
},
{
"Id": 410,
"Word": "a lê da phạt ma",
"Dict": 8,
"Mean": "3663梵名 Ārya-varman。迦畢試國之僧。生於西元七世紀頃。意譯聖冑、聖鎧。爲薩婆多部之論師,曾作毘婆沙論之章疏。玄奘西遊之際,曾應迦畢試國輕藝羅王之請,於一大乘寺法集時會見論師,論師雖爲薩婆多部之上首,然其學識不兼二乘,僅偏一理。〔大慈恩寺三藏法師傳卷二〕",
"Search1": "a lê da phạt ma",
"Search2": "a le da phat ma"
},
{
"Id": 411,
"Word": "a lê da phạt ma",
"Dict": 2,
"Mean": "Aryavarman (skt)—Một vị sư nổi tiếng của phái Đại Chúng Bộ, tác giả của bộ A Tỳ Đạt Ma Luận Giải hay Vi Diệu Pháp Luận Giải—A famous monk of the Sarvastivadin school, author of a work on the Vaibhasika philosophy.",
"Search1": "a lê da phạt ma",
"Search2": "a le da phat ma"
},
{
"Id": 412,
"Word": "a lê da phạt ma",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿梨耶伐摩) Phạm: Àrya Varman. Vị tăng người nước Ca tất thí. Sinh vào khoảng thế kỉ thứ VII. Dịch ý: Thánh trụ, Thánh khải. Luận sư của Tát bà đa bộ, từng soạn chương sớ của luận Tì bà sa. Thời gian ngài Huyền trang Tây du, có nhận lời mời của vua Khinh nghệ la nước Ca tất thí đến dự các buổi thuyết pháp tại một ngôi chùa Đại thừa và gặp luận sư Thánh trụ. Luận sư tuy là bậc Thượng thủ của Tát bà đa bộ, nhưng học thức của ngài không gồm cả hai thừa mà chỉ thiên trọng một lí. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.2].",
"Search1": "a lê da phạt ma",
"Search2": "a le da phat ma"
},
{
"Id": 413,
"Word": "a lê da tư na",
"Dict": 8,
"Mean": "3664梵名 Ārya-sena。印度梵衍那國之僧。生於西元七世紀頃。又作阿梨斯那。意譯聖軍。爲摩訶僧祇部之師,通法相學。玄奘西遊到梵衍那國時,師曾與阿棃耶馱娑(梵 Ārya-dāsa,意譯聖使)共同款待玄奘。〔大慈恩寺三藏法師傳卷二〕",
"Search1": "a lê da tư na",
"Search2": "a le da tu na"
},
{
"Id": 414,
"Word": "a lê da tư na",
"Dict": 2,
"Mean": "Aryasena (skt)—Một vị sư nổi tiếng của trường phái Đại Chúng Bộ—A famous monk of the Mahasanghikah.",
"Search1": "a lê da tư na",
"Search2": "a le da tu na"
},
{
"Id": 415,
"Word": "a lê da tư na",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿梨耶斯那) Phạm: Àrya-sena.Vị tăng người nước Phạm diễn na ở Ấnđộ. Sinh vào khoảng thế kỉ thứ VII. Dịch ý: Thánh quân. Sư thuộc Ma ha tăng kì bộ, thông Pháp tướng học. Khi ngài Huyền trang Tây du đến nước Phạm diễn na, sư cùng với sư A lê da đà sa (Phạm: Àrya-dàsa, dịch ý là Thánh sứ) cùng đón tiếp ngài Huyền trang. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.2].",
"Search1": "a lê da tư na",
"Search2": "a le da tu na"
},
{
"Id": 416,
"Word": "a lê nghi",
"Dict": 8,
"Mean": "3663梵語 āliṅgita。意譯爲擁抱,即男女擁抱之意。又作阿梨宜。華嚴經探玄記卷十九(大三五‧四七一上):「阿梨宜者,此云抱持摩觸,是攝受之相。」",
"Search1": "a lê nghi",
"Search2": "a le nghi"
},
{
"Id": 417,
"Word": "a lê nghi",
"Dict": 2,
"Mean": "Alingi (skt). 1) Ôm ấp: To embrace. 2) Cái trống nhỏ: A small drum. 3) Một loại thiền Mật giáo: A kind of esoteric meditation.",
"Search1": "a lê nghi",
"Search2": "a le nghi"
},
{
"Id": 418,
"Word": "a lê nghi",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿梨宜) Phạm:Àligita. Dịch ý là ôm, tức hàm ý trai gái ôm nhau. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 19 (Đại 35, 471 thượng): A lê nghi, Hán dịch là ôm cầm đụng chạm, là tướng nhiếp thụ.",
"Search1": "a lê nghi",
"Search2": "a le nghi"
},
{
"Id": 419,
"Word": "a lê thọ",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Hương cúc.",
"Search1": "a lê thọ",
"Search2": "a le tho"
},
{
"Id": 420,
"Word": "a lê thụ",
"Dict": 2,
"Mean": "Arjaka (skt)—Một loại cây có hoa thơm—A tree with white scented flowers, said to fall in seven parts, like an epidendrum.",
"Search1": "a lê thụ",
"Search2": "a le thu"
},
{
"Id": 421,
"Word": "a lê thụ chi",
"Dict": 8,
"Mean": "3662阿梨,梵語 arjaka,意譯爲蘭。乃香樹之名。又作阿棃樹枝。法華經卷七陀羅尼品(大九‧五九中):「若不順我咒,惱亂說法者,頭破作七分,如阿梨樹枝。」其中,阿梨樹枝相當於梵文法華經之 mañjarī(曼折利),於正法華經卷十總持品中譯爲華菜。然義淨譯之大孔雀咒王經卷上之夾注(大一九‧四六二中):「梵云頞杜迦曼折利,頞杜迦,蘭香也;曼折利,蕱頭也。舊云阿梨樹枝者,既不善本音,復不識其事,故致久迷。然聞西方無阿梨樹。」又不空之佛母大孔雀明王經卷上亦譯之爲蘭香蕱。蓋 arjaka 之梵語可指 sitaparṇasa, varvarībheda, sāmānyatulasī等諸種植物,故易生異說。〔孔雀王咒經卷上、慧琳音義卷三十五〕",
"Search1": "a lê thụ chi",
"Search2": "a le thu chi"
},
{
"Id": 422,
"Word": "a lê thụ chi",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿梨樹枝) A lê, Phạm:Arjaka, dịch ý là lan. Tên cây có mùi thơm. Kinh Pháp hoa quyển 7, phẩm Đà la ni (Đại 9, 59 trung): Nếu không theo chú của ta, mà quấy rối người nói pháp, thì đầu sẽ vỡ làm bảy phần như cành cây A lê. Trong đây, A lê thụ chi tương đương vớimaĩjarì (mạn chiết lị) trong kinh Pháp hoa bản tiếng Phạm, còn kinh Chính pháp hoa quyển 10, trong phẩm Tổng trì dịch là Hoa thái. Nhưng, chú thích bên cạnh trong kinh Đại khổng tước chú vương quyển thượng do ngài Nghĩa tịnh dịch (Đại 19, 462 trung) thì nói: Tiếng Phạm là Át đỗ ca mạn chiết lị, Át đỗ ca là lan hương; mạn chiết lị là rễ cây sen. Các nhà dịch cũ bảo là cành cây a lê, không những không thạo âm gốc mà cũng không hiểu sự thực, cho nên cứ lầm lẫn mãi. Song, nghe bên phương Tây không có cây A lê. Lại trong kinh Phật mẫu đại khổng tước minh vương quyển thượng, ngài Bất không cũng dịch là rễ cây lan hương. Bởi vì chữarjaka trong tiếng Phạm có thể chỉ nhiều loại thực vật như: sitaparịasa varvarìbheda, sàmànyatulasìv.v... ho nên dễ sinh các ý khác nhau. [X. kinh Khổng tước vương chú Q.thượng; Tuệ lâm âm nghĩa Q.35].",
"Search1": "a lê thụ chi",
"Search2": "a le thu chi"
},
{
"Id": 423,
"Word": "a lê tra",
"Dict": 6,
"Mean": "Aristaka (S). Vô tướng, name of a heretic monk.",
"Search1": "a lê tra",
"Search2": "a le tra"
},
{
"Id": 424,
"Word": "a li da bạt ma",
"Dict": 8,
"Mean": "3694梵名 Ārya-varman。新羅僧。生卒年不詳。唐貞觀(627~649)年間,爲追求正教及親禮釋尊聖蹟,乃遠涉中印度,止於那爛陀寺。廣學律論,抄寫諸經。雖欲歸國,而所期不契。後示寂於那爛陀寺,世壽七十餘。〔大唐西域求法高僧傳卷上、海東高僧傳卷二〕",
"Search1": "a li da bạt ma",
"Search2": "a li da bat ma"
},
{
"Id": 425,
"Word": "a li da bạt ma",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿離耶跋摩) Phạm: Àrya-varman. Vị tăng người Tân la (nay là Triều tiên). Năm sinh năm mất không rõ. Khoảng năm Trinh quán (627 - 649) đời Đường, vì mục đích cầu pháp và chiêm bái các Phật tích, sư đến trung Ấn độ và nghỉ tại chùa Na lan đà. Học rộng luật luận và sao chép các kinh. Tuy muốn về nước nhưng không được như nguyện. Sau, sư tịch ở chùa Na lan đà, thọ hơn bảy mươi tuổi. [X. Đại đường tây vực cầu pháp cao tăng truyện Q.thượng; Hải đông cao tăng truyện Q.2]. A LỊ NI QUỐC A lị ni, Phạm: Arni hoặcAhreng. Nằm về phía bắc A phú hãn ngày nay, một nước cổ xưa ở lưu vực sông Áo khắc tát tư (Oxus). Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 12 chép, thì nước này là đất cũ của nước Đổ hóa la (Tokhara), trên hai bờ sông Phọc xu, chu vi hơn ba trăm dặm, đô thành rộng mười bốn, mười lăm dặm. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.5; Giải thuyết tây vực kí; T. Watters: On Yoan Chwang Vol.II].",
"Search1": "a li da bạt ma",
"Search2": "a li da bat ma"
},
{
"Id": 426,
"Word": "a lị da thức",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A lại da thức.",
"Search1": "a lị da thức",
"Search2": "a li da thuc"
},
{
"Id": 427,
"Word": "a lị sa kệ",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Tự nhiên thành tựu chơn ngôn.",
"Search1": "a lị sa kệ",
"Search2": "a li sa ke"
},
{
"Id": 428,
"Word": "á lịch sơn đại",
"Dict": 8,
"Mean": "3047(Alexander The Great; 356 B.C.~323 B.C.)爲西元前四世紀時希臘北部馬其頓之國王。弒父自立。於西元前三三四至三三一年間連續征服小亞細亞、敘利亞、埃及、波斯。西元前三二六年(周顯王四十三年)渡印度河向東攻印,塔克西拉王(Taxila)出城請降。亞氏復大敗普魯國(Purus),乃率軍更向東進發,直抵東部之比阿斯(Beas),軍隊不肯復前,王乃西歸。西元前三二三年歸返巴比倫城,未久即逝。 亞氏原欲融合東西文明與民族,建立希臘化時代,然因早逝,欲將旁遮普併入帝國版圖之計劃乃告中斷。死後帝國由部下分割,於印度所建立之政權旋即消滅,印度古代書籍中無一字提及亞氏征印之事。",
"Search1": "á lịch sơn đại",
"Search2": "a lich son dai"
},
{
"Id": 429,
"Word": "á lịch sơn đại",
"Dict": 1,
"Mean": "(亞歷山大) (ALEXANDER THE GREAT; 356tr. T.L - 323 tr. T.L) Là quốc vương của Macedonia thuộc miền bắc Hi Lạp vào thế kỉ thứ tư trước Tây lịch. Giết cha chiếm ngôi. Vào khoảng năm 334 đến 331 trước Tây lịch, ông liên tiếp chinh phục Tiểu Á Tế Á, Syria, Ai Cập và Ba Tư. Năm 326 trước Tây lịch (năm thứ 43 đời Chu Hiển Vương), ông vượt sông Ấn Độ để đánh nước Ấn, vua nước Tháp Khắc Tây Lạp (Taxila) ra xin hàng. Họ Á lại đánh bại nước Phổ Lỗ (Purus), rồi thúc quân tiến tới phía đông, thẳng đến đông bộ Tỉ A Tư (Beas), tới đây, quân binh không chịu tiến thêm nữa, nhà vua bèn quay về Tây. Năm 323 trước Tây lịch, về đến thành Ba Tỉ Luân (Babylon) chưa được bao lâu thì chết. Họ Á vốn muốn dung hợp văn minh và dân tộc Đông Tây, tạo dựng một thời đại Hi Lạp hóa, nhưng vì mất sớm, nên cái kế hoạch định sáp nhập tỉnh Bàng Già Phổ (Punjab) vào bản đồ Đế quốc nửa chừng bị bỏ dở. Sau khi Á Lịch Sơn chết, đế quốc bị các bộ hạ chia cắt, chính quyền đã được thiết lập ở Ấn Độ liền tiêu diệt, trong các thư tịch của Ấn Độ cổ đại, không thấy có một chữ nào nói đến việc họ chinh phục Ấn Độ.",
"Search1": "á lịch sơn đại",
"Search2": "a lich son dai"
},
{
"Id": 430,
"Word": "a lộ ba",
"Dict": 2,
"Mean": "Rupya (skt)—Bạc—Silver.",
"Search1": "a lộ ba",
"Search2": "a lo ba"
},
{
"Id": 431,
"Word": "a lô na",
"Dict": 8,
"Mean": "3673梵語 aruṇa。又作阿留那、阿樓那。意譯日、將曉、明相。<一>爲「紅」之形容詞。因日出時東天發紅,故稱紅,如紅蓮花謂之阿盧那花,紅香謂之阿樓那香。〔四分律開宗記卷三末、慧苑音義卷上〕 <二>植物名。於印度,同名爲阿盧那之植物有四種︰(一)學名 Rubia manjith,可爲藥品,樹皮可作染料用。(二)學名 Convolvulus turpethum,可作藥用。(三)草名,半赤半黑,其果實如豆粒大小,甚美。(四)學名 Colocynth 之樹。〔慧苑音義卷上、卷下、翻譯名義集卷八〕",
"Search1": "a lô na",
"Search2": "a lo na"
},
{
"Id": 432,
"Word": "a lô na",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿盧那) Phạm: Aruịa. Còn gọi là A lưu na, a lâu na. Dịch ý: ngày, gần sáng, mờ mờ sáng. I. A lô na. Là hình dung từ tả màu đỏ lợt. Vì khi mặt trời mọc thì phía đông hừng đỏ, nên gọi là màu đỏ lợt, như hoa sen đỏ lợt gọi là hoa a lô na, hương đỏ lợt gọi là hương a lâu na. [X. Tứ phần luật khai tông kí Q.3, phần cuối; Tuệ lâm âm nghĩa Q.thượng]. II. A lô na. Tên thực vật. Tại Ấn độ, có bốn loại thực vật cùng có tên là a lô na: 1. Tên khoa học: Rubia manjith, có thể làm dược phẩm, vỏ cây có thể dùng làm thuốc nhuộm. 2. Tên khoa học: Convolvulusturpethum, có thể dùng làm thuốc. 3. Tên loài cỏ, nửa đỏ nửa đen, hạt nó to bằng hạt đậu, rất đẹp. 4. Tên khoa học: Colocynth. [X. Tuệ lâm âm nghĩa Q.thượng, Q.hạ; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.8].",
"Search1": "a lô na",
"Search2": "a lo na"
},
{
"Id": 433,
"Word": "a lộc lộc địa",
"Dict": 8,
"Mean": "Chữ Lộc cũng viết 轆. ① Trạng thái tự do tự tại. Tắc 53, [i]Bích Nham lục[/i] q. 6 ghi: »我 適 來 哭、如 今 却 笑、看 他 悟 後、阿 漉 漉 地、羅 籠 不 住、自 然 玲 瓏。– [i]›Vừa rồi tôi khóc, bây giờ lại cười‹. Xem ông ta (Bách Trượng) sau khi ngộ tự do tự tại, không ai khống chế được, tự nhiên linh hoạt[/i]«. Theo: PQĐTĐ của nhóm Từ Di. 2. Trạng thái mềm và ướt, dùng để hình dung thiền tăng căn cơ chậm lụt. Tiết Bảo Phong Khắc Văn Thiền sư trong NĐHN q. 17 ghi: »馬 祖 下 尊 宿、一 箇 箇 阿 漉 漉 地、唯 有 歸 宗 老 較 些 子。– [i]Các vị tôn túc môn hạ Mã Tổ, ai nấy cũng chậm lụt, chỉ có Quy Tông là khá hơn một chút[/i]«. Theo: TTTĐ của nhóm Viên Tân.",
"Search1": "a lộc lộc địa",
"Search2": "a loc loc dia"
},
{
"Id": 434,
"Word": "a lộc lộc địa",
"Dict": 8,
"Mean": "3691禪林用語。又作轉轆轆地。阿,語助詞;轆轆,車輪滑行之聲音;地,語尾助詞。即事物不停滯而一直在進行之中;形容無礙自由,圓轉自在之境地。此外,形容口才無礙亦稱阿轆轆地。碧巖錄第五十三則(大四八‧一八八上):「丈云:『我適來哭,如今卻笑。看他悟後阿轆轆地,羅籠不住,自然玲瓏。』」",
"Search1": "a lộc lộc địa",
"Search2": "a loc loc dia"
},
{
"Id": 435,
"Word": "a lộc lộc địa",
"Dict": 2,
"Mean": "Nơi mà tất cả mọi thứ đều diễn biến tốt đẹp theo như ý muốn—A land where all goes smoothly along at will.",
"Search1": "a lộc lộc địa",
"Search2": "a loc loc dia"
},
{
"Id": 436,
"Word": "a lộc lộc địa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿轆轆地) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Còn gọi là Chuyển lộc lộc địa, A là trợ từ, lộc lộc là tiếng bánh xe chạy mau; địa là vĩ ngữ trợ từ. Tức là sự vật trong trạng thái tiến hành một mạch chứ không ngưng trệ; hình dung cảnh giới tự do vô ngại, xoay chuyển tự tại. Ngoài ra, hình dung tài biện bác lưu loát cũng gọi là A lộc lộc địa. Bích nham lục, tắc 53 (Đại 48, 188 thượng): Ta thình lình khóc, như nay đang khóc. Thấy ông ta sau khi ngộ a lộc lộc địa, chẳng ở lưới lồng, tự nhiên lung linh (lời ngài Bách trượng).",
"Search1": "a lộc lộc địa",
"Search2": "a loc loc dia"
},
{
"Id": 437,
"Word": "A-lợi-bạt-đề",
"Dict": 9,
"Mean": "tên một con sông, các kinh sách khác gọi đây là sông Ni-liên hay Ni-liên-thiền, phiên âm từ Phạn ngữ là Nairađjana, cũng đọc là Ni-liên-thiền-na. Đức Phật sau khi từ bỏ pháp tu khổ hạnh đã xuống tắm ở sông này. Kinh Quá khứ hiện tại nhân quả (過去現在因果經), quyển 3 và quyển 4 kể rằng khi ngài xuống sông tắm rửa xong thì do thân thể quá suy nhược nên không thể lên được, liền có chư thiên xuất hiện nâng đỡ ngài lên, sau đó ngài mới thọ nhận bát sữa cúng dường của cô Nan-đà-ba-la (難陀波羅).",
"Search1": "a lợi bạt đề",
"Search2": "a loi bat de"
},
{
"Id": 438,
"Word": "a lợi da",
"Dict": 2,
"Mean": "Alaya (skt)—See A Lại Da Thức.",
"Search1": "a lợi da",
"Search2": "a loi da"
},
{
"Id": 439,
"Word": "a lợi da đa la",
"Dict": 2,
"Mean": "Arya-tara or Aryavalokitesvara (skt)—Một trong những danh hiệu của Đức Quán Âm—One of the titles of Kuan-Yin.",
"Search1": "a lợi da đa la",
"Search2": "a loi da da la"
},
{
"Id": 440,
"Word": "a lợi ni",
"Dict": 2,
"Mean": "Alni or Arni (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, Arni là một phần của vương quốc cổ Tukhara, tọa lạc nơi nguồn của dòng Oxus—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Buddhist Terms, Arni was a kingdom which formed part of ancient Tukhara, situated near to the source of the Oxus.",
"Search1": "a lợi ni",
"Search2": "a loi ni"
},
{
"Id": 441,
"Word": "a lợi ni quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3617阿利尼,梵名 Arni 或 Ahreng。位於今阿富汗之北,奧克薩斯河(Oxus)流域之古國。據大唐西域記卷十二所載,此國即在睹貨邏國(Tokhara)之故地,縛芻河兩岸,周長三百餘里,都城周長十四、五里。〔大慈恩寺三藏法師傳卷五、解說西麆O、T. Watters: On Yuan Chwang vol. Ⅱ〕",
"Search1": "a lợi ni quốc",
"Search2": "a loi ni quoc"
},
{
"Id": 442,
"Word": "a lợi sa",
"Dict": 2,
"Mean": "Arca (skt)—Có liên hệ đến Tiên nhân hay Thánh nhân; đặc biệt chân ngôn thành tựu của các bậc cổ tiên được ghi lại bằng kệ—Connected with the rsi, or holy men; especially their religious utterences in verse.",
"Search1": "a lợi sa",
"Search2": "a loi sa"
},
{
"Id": 443,
"Word": "a lợi sa kệ",
"Dict": 2,
"Mean": "1) Chân ngôn thành tựu của các bậc cổ tiên Thánh hiền: The utterances of the rsi or holy ment written in verse. 2) Danh hiệu của Đức Phật: A title of a Buddha.",
"Search1": "a lợi sa kệ",
"Search2": "a loi sa ke"
},
{
"Id": 444,
"Word": "a lợi sa trụ xứ",
"Dict": 2,
"Mean": "Trụ xứ hay thành tựu cao nhất—Perfection or the highest position of achievement.",
"Search1": "a lợi sa trụ xứ",
"Search2": "a loi sa tru xu"
},
{
"Id": 445,
"Word": "a lư na",
"Dict": 2,
"Mean": "Aruna (skt)—A Lưu Na. 1) Màu đỏ ửng: Ruddy. 2) Màu ửng hồng của rạng đông: Dawn-colour. 3) Lửa: Fire. 4) Hỏa tinh: Mars. 5) Hướng nam: South.",
"Search1": "a lư na",
"Search2": "a lu na"
},
{
"Id": 446,
"Word": "a lư na bạt để",
"Dict": 2,
"Mean": "Loại nhang có màu đỏ—A red-coloured incense.",
"Search1": "a lư na bạt để",
"Search2": "a lu na bat de"
},
{
"Id": 447,
"Word": "a lư na hoa",
"Dict": 2,
"Mean": "Aruna-kamala (skt)—Bông sen đỏ—The red lotus.",
"Search1": "a lư na hoa",
"Search2": "a lu na hoa"
},
{
"Id": 448,
"Word": "a-luyện-nhã",
"Dict": 9,
"Mean": "xem a-lan-nhã",
"Search1": "a luyện nhã",
"Search2": "a luyen nha"
},
{
"Id": 449,
"Word": "a-luyện-nhã tỳ kheo",
"Dict": 2,
"Mean": "Aranya-bhiksu (skt)—Lâm Tăng hay Sơn Tăng, vị Tỳ Kheo sống độc cư trong rừng—A forest Bhiksu—A monk who lives a solitary life in the forest.",
"Search1": "a luyện nhã tỳ kheo",
"Search2": "a luyen nha ty kheo"
},
{
"Id": 450,
"Word": "a luyện nhã.",
"Dict": 6,
"Mean": "xem A lan nhã.",
"Search1": "a luyện nhã.",
"Search2": "a luyen nha."
},
{
"Id": 451,
"Word": "a ly bạt đề",
"Dict": 7,
"Mean": "Airavati (P).",
"Search1": "a ly bạt đề",
"Search2": "a ly bat de"
},
{
"Id": 452,
"Word": "A-lỵ-la-bạt-đề",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ là Ajirvati, cũng đọc là Ê-lan-nhã, A-di-la-bạt-đề, A-thị-đa-phạt-để, A-di-la-bà-để, A-chi-la-bà-đề, Thi-lạt-noa-phạt-để, dịch nghĩa là “vô thắng”, “hữu kim”, là tên một con sông ở Ấn Độ, gần thành Câu-thi-na, gần bờ sông có mọc rất nhiều cây sa-la. Trong các bản dịch của ngài Pháp Hiển gọi sông này là sông Hy-liên, phiên âm từ Phạn ngữ là Hiraṇyavatỵ.",
"Search1": "a lỵ la bạt đề",
"Search2": "a ly la bat de"
},
{
"Id": 453,
"Word": "a lỵ la bạt đề",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Ê lan nhã.",
"Search1": "a lỵ la bạt đề",
"Search2": "a ly la bat de"
},
{
"Id": 454,
"Word": "a ma",
"Dict": 8,
"Mean": "3669梵語 ambā,巴利語 ammā。意譯母、善女。翻譯名義集卷二(大五四‧一○八二中):「阿摩,此云女母。」又據善見律毘婆沙卷六載,阿摩意爲「母」。於日本,則由阿摩一詞轉稱比丘尼爲阿摩尼。〔四分律刪繁補闕行事鈔卷二、正像末和讚〕",
"Search1": "a ma",
"Search2": "a ma"
},
{
"Id": 455,
"Word": "a ma",
"Dict": 2,
"Mean": "Amba (skt)—Mẹ, một danh hiệu tôn kính—Mother, a title of respect.",
"Search1": "a ma",
"Search2": "a ma"
},
{
"Id": 456,
"Word": "a ma",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿摩) Phạm:Ambà.Pāli: Ammà.Dịch ý là mẹ, người con gái lành. Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2 (Đại 54, 1082 trung): A ma, Hán dịch là nữ mẫu. Lại cứ theo Thiện kiến luật tì bà sa quyển 6 chép, thì a ma ý là mẹ. Ở Nhật bản thì do từ A ma được chuyển dụng mà gọi Tỉ khưu ni là A ma ni. [X. Tứ phần luật san phồn bổ khuyết hành sự sao Q.2; Chính tượng mạt hòa tán].",
"Search1": "a ma",
"Search2": "a ma"
},
{
"Id": 457,
"Word": "a ma đa đa",
"Dict": 2,
"Mean": "Mẹ cha—Mother and father.",
"Search1": "a ma đa đa",
"Search2": "a ma da da"
},
{
"Id": 458,
"Word": "a ma đề bồ tát",
"Dict": 7,
"Mean": "Abhetti (S), Abhetri A ma lai Quán tự tại Bồ tát, Khoan Quảng Bồ tát, Vô Uý Bồ tátTên gọi khác của Bồ tát Quán Âm.",
"Search1": "a ma đề bồ tát",
"Search2": "a ma de bo tat"
},
{
"Id": 459,
"Word": "a ma đề quan âm",
"Dict": 8,
"Mean": "3670三十三觀音之一。又作阿麼提觀音、阿磨",
"Search1": "a ma đề quan âm",
"Search2": "a ma de quan am"
},
{
"Id": 460,
"Word": "a ma đề quan âm",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿摩提觀音) Là một trong ba mươi ba hóa thân Quan âm. Còn gọi là A mạ đề Quan âm, A ma đài Quan âm, Am ma đài Quan âm. Dịch ý là Vô úy quan âm, Khoan quảng quan âm. Tức Vô úy quán tự tại Bồ tát. Hình tượng là ba đầu, bốn cánh tay, cỡi sư tử trắng quay mặt về phía trái, đầu đội mũ báu, trang điểm bằng hoa sen trắng, hai tay trước cầm nhạc cụ đầu con phượng, trong bàn tay trái trên đặt con cá ma kiệt, tay phải trên cầm con chim cát tường màu trắng, chân trái co lại gác lên đầu sư tử, chân phải thõng xuống, khắp mình phát ra ánh sáng, mà dáng mạo thì hiền lành. Chủng tử là (a) hoặc (sa). [X. Quán tự tại bồ tát a mạ đài pháp; A ma đề quan âm nghi quĩ; Đồ tượng sao Q.7]. (xt. Tam Thập Tam Quan Âm).",
"Search1": "a ma đề quan âm",
"Search2": "a ma de quan am"
},
{
"Id": 461,
"Word": "a ma la",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Vô cấu.",
"Search1": "a ma la",
"Search2": "a ma la"
},
{
"Id": 462,
"Word": "a ma la",
"Dict": 6,
"Mean": "Amala (S). Vô cấu, without stain or fault.",
"Search1": "a ma la",
"Search2": "a ma la"
},
{
"Id": 463,
"Word": "a ma la",
"Dict": 2,
"Mean": "Amala (skt). 1) Vô cấu: Unstained—Spotless. 2) Thanh Tịnh: Pure. 3) Thường Hằng: Không thay đổi—Permanent and unchanging.",
"Search1": "a ma la",
"Search2": "a ma la"
},
{
"Id": 464,
"Word": "a ma la bà đề",
"Dict": 8,
"Mean": "3670梵名 Amarāvatī。又譯作阿馬拉瓦蒂。爲古代印度馱那羯磔迦國(梵 Dhānyakaṭaka)之都城。位於南印度基斯特納河(Kistna,古名 Kṛṣṇa)下游。阿摩羅婆提自薰迦王朝以來即爲佛教文化、美術之中心。該地以西元一七九七年麥肯尼基上校(Mackenjie)所發現之大塔爲重心。 據傳該塔建於二世紀頃,或傳此爲阿育王時代(西元前三世紀頃)所建。爲古代印度三大佛塔之一。塔式爲覆鉢形,然大多荒廢,今僅存塔址與周圍之石欄。石欄有內外二重,爲大理石所製,高約四公尺,內外兩面均有雕刻,所雕者有佛之本生譚及龍蛇樹木等,可見當時亦盛行龍蛇樹木等之崇拜。或謂此塔即大唐西域記卷十所載之阿伐羅勢羅僧伽藍之遺址。此外,從所發現浮雕佛陀像之美術手法中,可以推知西北印度之犍陀羅,以迄中印度之摩偷羅一帶,均曾受希臘美術之影響。 於此城發掘之佛像及塔寺,其造型與錫蘭(斯里蘭卡)、泰國、印度尼西亞等地所發現之佛像、塔寺相類似。學術界將此種類型稱爲阿摩羅婆提型。又除塔寺、佛像外,並發掘出大量之佛經。〔解說西域記、佛教之美術及歷史〕",
"Search1": "a ma la bà đề",
"Search2": "a ma la ba de"
},
{
"Id": 465,
"Word": "a ma la bà đề",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿摩羅婆提) Phạm:Amaràvatì. Còn gọi là A mã lạp ngõa. Đô thành của nước Đà na yết trách ca (Phạm:Dhànyakaỉaka) cổ xưa ở Ấn Độ. Nằm ở miền hạ du sôngKistna (tên xưa là Kfwịa) phía nam Ấn độ. Từ triều đại Huân ca vương đến nay, Am ma la bà đề là trung tâm văn hóa và mĩ thuật của Phật giáo. Tại đây, năm 1797, Chuẩn tướng Mackenjie đã phát hiện một ngôi tháp lớn. Cứ theo truyền thuyết thì ngôi tháp được dựng vào khoảng thế kỉ thứ II, hoặc cho là được xây cất từ thời đại vua A dục (khoảng thế kỉ thứ III trước Tây lịch). Là một trong ba ngôi tháp Phật cỡ lớn tại Ấn độ cổ đại. Hình tháp là hình bát úp, nhưng phần nhiều đã hư nát, nay chỉ còn nền tháp và lan can bằng đá bao chung quanh. Lan can có hai lớp trong và ngoài, làm bằng những tảng đá nhẵn, cao độ bốn mét, hai mặt trong ngoài đều có chạm trổ, các hình được chạm trổ là tiền thân của đức Phật (Bản sinh đàm), rồng rắn cây cối, xem thế đủ biết đương thời, sự sùng bái rồng rắn cây cối cũng thịnh hành. Cũng có thuyết cho rằng ngôi tháp này tức là dấu vết nền cũ còn sót lại của ngôi chùa A phạt la thế la được ghi chép trong Đại đường tây vực kí quyển 10. Ngoài ra, theo mĩ thuật chạm trổ hình tượng nổi của đức Phật được phát hiện, người ta có thể biết, suốt một giải từ Kiền đà la ở phía tây bắc Ấn độ, đến Ma thâu la ở trung Ấn độ, đều đã chịu ảnh hưởng của mĩ thuật Hi lạp. Những tượng Phật và chùa tháp được tìm thấy ở thành này, về cách tạo hình, cũng tương tự như tượng Phật và chùa tháp được phát hiện tại Tích lan, Thái lan và Nam dương. Giới học thuật gọi các loại hình này là hình A ma la bà đề. Lại ngoài tượng Phật và chùa tháp ra, người ta còn đào thấy rất nhiều kinh Phật. [X. Giải thuyết tây vực kí; Phật giáo chi mĩ thuật cập lịch sử].",
"Search1": "a ma la bà đề",
"Search2": "a ma la ba de"
},
{
"Id": 466,
"Word": "a ma la phổ la phái",
"Dict": 8,
"Mean": "3670巴利名 Amarapura-nikāya。錫蘭(斯里蘭卡)現代三大佛教派別之一。屬上座部佛教。係由被暹羅派開除之非「瞿維伽姆種姓」比丘,於一七九九至一八一八年間創建於緬甸之阿摩羅普羅城。僅於僧伽羅族之迦羅婆(漁民)、杜羅婆(肉桂加工者)及薩羅伽摩(製酒工人)三種種姓中授戒。此派又分珠羅乾汀派(巴 Cullaganthi-nikāya)、穆羅旺薩派(巴 Mūlavaṃsa-nikāya)、伐耆羅旺薩派(巴 Vajiravaṃsa-nikāya)、薩達摩旺薩派(巴 Saddhammavaṃsa-nikāya)等。各派之首領稱爲大導師及副導師,比丘一般終身出家,寺廟集中於錫蘭西部與南部平原地區,擁有大量土地,並經營商業等。",
"Search1": "a ma la phổ la phái",
"Search2": "a ma la pho la phai"
},
{
"Id": 467,
"Word": "a ma la phổ la phái",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿摩羅普羅派) Pāli:Amarapura nikàya. Là một trong ba phái lớn của Phật giáo Tích lan hiện nay, thuộc Phật giáo Thượng tọa bộ. Phái này được sáng lập tại thành A ma la phổ la thuộc Miến điện từ khoảng năm 1799 đến năm 1818, chỉ cho phép những người trong ba chủng tính: Ca la bà (dân chài), Đỗ la bà (những người đi lấy quế) và Tát la già ma (người nấu rượu), thuộc tộc Tăng già la, được thụ giới. Phái này lại chia thành các hệ phái như: phái Châu la càn đinh (Pāli: Cullaganthi nikàya), phái Mục la vượng tát (Pāli: Mùlavaôsa nikàya), phái Tát đạt ma vượng tát (Pāli: Saddhammavaôsa nikàya) v.v... Lãnh tụ của các phái được gọi là Đại đạo sư, Phó đạo sư. Các tỉ khưu thông thường xuất gia trọn đời, chùa chiền tập trung ở vùng đồng bằng phía tây và phía nam Tích lan; chùa có nhiều ruộng và kinh doanh thương nghiệp.",
"Search1": "a ma la phổ la phái",
"Search2": "a ma la pho la phai"
},
{
"Id": 468,
"Word": "a ma la quốc",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem La Ma quốc.",
"Search1": "a ma la quốc",
"Search2": "a ma la quoc"
},
{
"Id": 469,
"Word": "a ma la thức",
"Dict": 8,
"Mean": "3671梵語 amala-vijñāna。即第九識。又作阿末羅識、菴摩羅識、唵摩羅識、庵摩羅識。意譯無垢識、清淨識、如來識。此識爲真諦系之攝論宗所立。人心之本來面目乃遠離迷惑而本自清淨,故攝論宗認爲轉阿賴耶識之迷而回歸覺悟之清淨階位,即阿摩羅識。 據三無性論卷上載,唯阿摩羅識無顛倒、變異,故謂之如如。轉識論則謂,實性即阿摩羅識。又據十八空論載,阿摩羅識乃自性清淨心,然爲客塵所染,而謂之不淨。據金剛三昧經載,眾生一切之情識皆轉入庵摩羅。至於阿摩羅識之體性,據圓測之解深密經疏卷三及四分律疏飾宗義記卷三本等所說,真諦三藏以真如與真如智爲阿摩羅識之體性。然唐代福成寺之道基於攝論章(華嚴孔目章發悟記卷十五之引文)駁斥真諦之主張,謂阿摩羅識僅以如如之理法爲體性。 在唯識學中,六識之外尚有末那識及阿賴耶識,並稱八識;攝論宗又在八識之外另立第九識阿摩羅識,地論宗、天台宗亦有採此說者。而玄奘系統則認爲第八識即已包括清淨之一面,故不另立第九識。又宋譯楞伽經卷一所說之真識,即第九識。〔大佛頂首楞嚴經卷四、入楞伽經卷二、大乘玄論卷五、梁譯攝大乘論卷中、成唯識論述記卷一本、大乘法苑義林章卷一、法華經玄義卷五下〕(參閱「九識義」160)",
"Search1": "a ma la thức",
"Search2": "a ma la thuc"
},
{
"Id": 470,
"Word": "a ma la thức",
"Dict": 6,
"Mean": "Amala-vijnàna (S). Vô cấu thức, Purity of Consciouness.",
"Search1": "a ma la thức",
"Search2": "a ma la thuc"
},
{
"Id": 471,
"Word": "a ma la thức",
"Dict": 4,
"Mean": "Tiếng Hán dịch là Vô cấu, tức là cái thức thanh tịnh vô cấu, cũng gọi là thức thứ chín.",
"Search1": "a ma la thức",
"Search2": "a ma la thuc"
},
{
"Id": 472,
"Word": "a ma la thức",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿摩羅識) Phạm:Amala-vijĩàna. Tức là thức thứ chín. Còn gọi là A mạt la thức, Am ma la thức, Án ma la thức. Dịch ý là Vô cấu thức (thức không cáu bẩn), Thanh tịnh thức, Như lai thức. Thức này do tông Nhiếp luận thuộc hệ Chân đế lập ra. Tâm người ta xưa nay vốn tự thanh tịnh, xa lìa mọi mê hoặc, vì thế, tông Nhiếp luận cho giai vị chuyển thức A lại da mê hoặc trở về sự giác ngộ thanh tịnh, tức là A ma la thức.Cứ theo luận Tam vô tính quyển thượng chép, thì duy chỉ có thức A ma la là không điên đảo, không biến dị, cho nên gọi là Như như. Luận chuyển thức thì bảo thực tính tức là thức A ma la. Lại cứ theo luận Thập bát không chép, thì thức A ma la chính là tâm tự tính thanh tịnh, chỉ vì khách trần làm bẩn mà nói là bất tịnh. Cứ theo kinh Kim cương tam muội chép thì hết thảy tình thức của chúng sinh đều chuyển vào Am ma la. Còn về thể tính của thức A ma la, thì Giải thâm mật kinh sớ quyển 3 của ngài Viên trắc và Tứ phần luật sớ sức tông nghĩa kí quyển 3 phần đầu, nói là ngài Chân đế lấy chân như và chân như trí làm thể tính của thức A ma la. Nhưng, trong Nhiếp luận chương (trích dẫn Hoa nghiêm khổng mục chương phát ngộ kí quyển 15), ngài Đạo cơ ở chùa Phúc thành đời Đường, đã bác chủ trương của ngài Chân đế, và bảo thức A ma la chỉ lấy lí pháp như như làm thể tính. Trong Duy thức học, ngoài sáu thức ra, còn có thức Mạt na và thức A lại da, gọi chung là tám thức. Tông Nhiếp luận, ngoài tám thức còn lập riêng thức thứ chín là thức A ma la. Tông Địa luận, tông Thiên thai cũng có người thu dụng thuyết này. Còn hệ thống Huyền trang thì cho thức thứ tám đã bao hàm phương diện thanh tịnh rồi, cho nên không cần lập riêng thức thứ chín nữa. Lại kinh Lăng già quyển 1, bản dịch đời Tống, bảo chân thức tức là thức thứ chín. [X. kinh Đại Phật đính thủ lăng nghiêm Q.4; kinh Nhập lăng già Q.2; Đại thừa huyền luận Q.5; luận Nhiếp đại thừa Q.trung, bản dịch đời Lương; Thành duy thức luận thuật kí Q.1 phần đầu; Đại thừa pháp uyển nghĩa lâm chương Q.1; Pháp hoa kinh huyền nghĩa Q.5 phần dưới]. (xt. Cửu Thức Nghĩa).",
"Search1": "a ma la thức",
"Search2": "a ma la thuc"
},
{
"Id": 473,
"Word": "a ma la từ điển",
"Dict": 8,
"Mean": "3671梵名 Amara-Kośa。原意爲阿摩羅字庫。爲印度阿摩羅辛哈(Amara-siṃha,被推定爲五五○年至七五○年間之人)所著之梵語辭典 Nāmaliṅgānuśāsana(關於名與性之研究)之通稱。又稱德黎坎底(梵 Trikāṇḍi)。全書共由三部所成,內容如次:第一部收集有關神、天界、星、時之分類、思惟、感情、音樂、語言、舞蹈、地界、地獄等之語彙;第二部收集有關水、海、魚、植物、尺度、道路、都市、山、蔬菜、男女、裝飾品、四姓、疾病、宗教、戰爭、農事、商業等語彙;第三部收集人名、物名、同義語、同音異義語及有關語性之法則等。全篇採用 Anuṣṭubh 調之韻文,總計一萬三千語。本書在現存梵語之類語及同音異義語辭典中,不但爲最古最完備者,亦爲類書中之傑作,至今仍被視爲梵語文法之權威辭書。其注釋書據傳有五十部,其中最重要者有:十一世紀之 Kṣirasvāmin、十二世紀之 Maheśvara 與 Subhūti(-candra)、Sarvānanda、十五世紀之 Rāyamukuṭa 等。又西藏大藏經丹珠爾中亦收有本書及其注釋書之藏譯本。〔 A.A. Macdonell: Historyof Sanscrit Literature; India's Past-A Survey of her Literature, Religions,Languages and Antiquities; M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd. III〕",
"Search1": "a ma la từ điển",
"Search2": "a ma la tu dien"
},
{
"Id": 474,
"Word": "a ma la từ điển",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿摩羅辭典) Phạm: Amara-koza. Nguyên ý là kho chữ A ma la, tên gọi chung của bộ từ điển tiếng Phạm:Nàmaligànuzàsana (nghiên cứu về danh và tính), do Amara-siôha (ở khoảng từ 550 đến 750), người Ấn độ, soạn. Còn gọi là Đức lê khảm để (Phạm: Trikàịđi). Tất cả do ba bộ cấu thành, nội dung như sau: Bộ thứ nhất thu tập các ngữ vựng liên quan đến sự phân loại về thần, cõi trời, sao, thời gian, tư duy, cảm tình, âm nhạc, ngôn ngữ, vũ điệu, cõi đất, địa ngục v.v... Bộ thứ hai thu tập các ngữ vựng về nước, bể, cá, thực vật, đo lường, đường sá, đô thị, núi, rau cỏ, trai gái, trang sức phẩm, bốn họ, bệnh tật, tôn giáo, chiến tranh, nông nghiệp, thương nghiệp v.v... Bộ thứ ba thu tập các tiếng về tên người, tên vật, tiếng đồng nghĩa, tiếng đồng âm khác nghĩa và pháp tắc có liên quan đến tính chất của ngôn ngữ. Toàn thiên dùng vận văn điệu Anuwỉubh, tất cả có một vạn ba nghìn lời. Các loại tự và các chữ đồng âm khác nghĩa trong tiếng Phạm hiện còn, khiến cho bộ từ điển, không những là xưa nhất, hoàn bị nhất, mà cũng còn là kiệt tác trong loại sách này, đến nay vẫn được coi là bộ từ điển có uy tín về văn pháp tiếng Phạm. Về các chú thích của sách này, cứ theo truyền thuyết, có năm mươi bộ, trong đó, trọng yếu hơn cả thì có:Kwirasvàmin, thế kỉ XI, Mahezvara và Subhùti (-candra), Sarvànanda, thế kỉ XII, Ràyamukuỉa, thế kỉ XV. Lại trong Đại tạng kinh Đan châu nhĩ của Tây tạng, cũng có bộ từ điển này và có bản dịch tiếng Tây tạng của các sách chú thích. [X. A. A. Macdonell: History of Sancrit Literature –India's past - A survey of her Literature, Religions, Languages and Antiquities; M. Winternitz: Geschichte der indischen Literatur, Bd.III ].",
"Search1": "a ma la từ điển",
"Search2": "a ma la tu dien"
},
{
"Id": 475,
"Word": "a ma lặc",
"Dict": 6,
"Mean": "Amalaka (S) Phyllanthus emblica, whose nuts are valued medicinally.",
"Search1": "a ma lặc",
"Search2": "a ma lac"
},
{
"Id": 476,
"Word": "a-ma-lặc",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ là mra, cũng đọc là a-mạt-la (阿末羅), am-la, yểm-ma-la, là tên một loại trái cây giống như trái hồ đào, vị chua và ngọt, có thể dùng làm thuốc.",
"Search1": "a ma lặc",
"Search2": "a ma lac"
},
{
"Id": 477,
"Word": "a ma lặc thụ",
"Dict": 8,
"Mean": "3669阿摩勒,梵語 āmala, āmlikā, āmlīkā, amlaphala,巴利語 āmalaka。又作阿末羅、阿摩羅、菴摩羅、菴摩洛迦。一般譯爲「餘甘子」。學名 Tamarindus indica,屬荳科之果樹,其枝葉頗類於合歡木,爲產於印度、馬來西亞、非洲等地之熱帶植物。該樹所結之果實有若豆莢,長約十餘公分,具有酸味,稱爲阿摩勒果,可供食用,亦可作藥用。一般人常易將阿摩勒樹與菴沒羅樹(梵 āmra)混淆。〔大樓炭經卷一閻浮利品,善見律毘婆沙卷一、大唐西域記卷二、玄應音義卷八〕",
"Search1": "a ma lặc thụ",
"Search2": "a ma lac thu"
},
{
"Id": 478,
"Word": "a ma lặc thụ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿摩勒樹) A ma lặc, Phạm: Àmala, àmlikà, àmlìkà, amlaphala,Pāli:àmalaka. Còn gọi là A mạt la, A ma la, Am ma la, Am ma lạc ca. Thông thường dịch là Dư cam tử. Tên khoa học: Tamarindus indica, cây quả thuộc loại đậu, cành lá giống cây hợp hoan, là thực vật nhiệt đới, sinh sản ở Ấn độ, Mã lai và Phi châu. Quả giống quả đậu, dài độ hơn mười phân tây, có vị chua, gọi là quả a ma lặc, có thể dùng làm thức ăn, cũng có thể dùng làm thuốc. Thông thường người ta dễ lầm lẫn cây Am malặc với cây Am một la (Phạm:Àmra).[X. kinh Đại lâu thán Q.1 phẩm Diêm phù lợi; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; Đại đường tây vực kí Q.2; Huyền ứng âm nghĩa Q.8].",
"Search1": "a ma lặc thụ",
"Search2": "a ma lac thu"
},
{
"Id": 479,
"Word": "a ma lai quán tự tại bồ tát",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A ma đề Bồ tát.",
"Search1": "a ma lai quán tự tại bồ tát",
"Search2": "a ma lai quan tu tai bo tat"
},
{
"Id": 480,
"Word": "a mã nhĩ đạt tư",
"Dict": 8,
"Mean": "3658(Amar Das, 1479~1574)印度錫克教第三代祖師。大揚錫克教,教徒遍布旁遮普省。把教徒分成二十二個教區,並分區向教徒徵收稅捐,用作共同基金。提倡一夫一妻制,鼓勵不同種姓間通婚與寡婦改嫁。反對婦女戴面紗及夫死殉葬之陋習。死後由其女婿羅姆達斯繼承。",
"Search1": "a mã nhĩ đạt tư",
"Search2": "a ma nhi dat tu"
},
{
"Id": 481,
"Word": "A-ma-ra-va-ti",
"Dict": 5,
"Mean": "S: amāravatī; Hán Việt: A-ma-la-bà-đề 阿 摩 羅 婆 提;\r\nThành phố miền Nam Ấn Ðộ, là một trung tâm nghệ thuật Phật giáo quan trọng ở thế kỉ 2-3. Những di tích ở đây phản ánh lại thời gian đầu của Ðại thừa Phật pháp. Sự nối tiếp giữa nghệ thuật thời Phật giáo nguyên thuỷ và nghệ thuật vùng Càn-đà-la (s: gandhāra) đã gây ảnh hưởng lớn cho nền văn hoá nghệ thuật ở những vùng Nam á, nhất là ở Thái Lan, Nam Dương (indonesia) và Tích Lan (śrī laṅkā).\r\nDi tích nghệ thuật quan trọng nhất của vùng này là một Bảo Tháp (s: stūpa) nằm ở phía Ðông, theo truyền thuyết có chứa đựng Xá-lị của đức Phật lịch sử. Việc phát hiện một trụ đá với những lời viết của vua A-dục (s: aśoka) chứng tỏ rằng, ông chính là người thúc đẩy việc xây dựng Bảo tháp này. A-ma-ra-va-ti cũng là trung tâm của Ðại chúng bộ (s: mahāsāṅghika). Các người hành hương mộ đạo từ mọi nơi – ngay cả Hoa Thị thành (s: pāṭaliputra) – đều đến chiêm bái trung tâm Phật học này. Tam Tạng Pháp sư Huyền Trang thuật lại rằng, trong thời hưng thịnh, hơn 20 tu viện tầm cỡ được kiến lập tại đây.\r\n",
"Search1": "a ma ra va ti",
"Search2": "a ma ra va ti"
},
{
"Id": 482,
"Word": "a ma yết đà",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Vô hại độc.",
"Search1": "a ma yết đà",
"Search2": "a ma yet da"
},
{
"Id": 483,
"Word": "a mạt la",
"Dict": 2,
"Mean": "Amala (skt)—See Am Ma La.",
"Search1": "a mạt la",
"Search2": "a mat la"
},
{
"Id": 484,
"Word": "a mạt la thức",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Vô cấu thức.",
"Search1": "a mạt la thức",
"Search2": "a mat la thuc"
},
{
"Id": 485,
"Word": "a mật lật đa",
"Dict": 8,
"Mean": "3667請參閱 西方陀羅尼藏中金剛族阿蜜哩多軍荼利法 梵語 amṛta,巴利語 amata。又作阿弭哩多、啞蜜哩達、阿沒㗚睹。意譯作神酒。此語常見於梨俱吠陀,原意係指「達於不死之位」、「不滅」,一般皆直譯爲不死或甘露。佛典中,以此語比喻諸天所用之不死妙藥,或表示佛法之妙味與妙法。〔注維摩結經卷七〕(參閱「甘露」2052)",
"Search1": "a mật lật đa",
"Search2": "a mat lat da"
},
{
"Id": 486,
"Word": "a mật lật đa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿蜜栗多) Phạm: Amfta, Pāli:Amata. Còn gọi A nhĩ lí đa, Á mật lí đạt, A một lật đổ. Dịch ý là rượu thần. Từ này thường thấy trong Lê câu phệ đà, nguyên ý là chỉ sự đạt đến địa vị bất tử, bất diệt, thông thường đều dịch là bất tử hoặc cam lộ. Trong kinh Phật,từ này được dùng để thí dụ loại thuốc màu nhiệm bất tử do chư thiên dùng, hoặc biểu thị diệu vị và diệu pháp của Phật pháp. [X. Chú duy ma cật kinh Q.7] (xt. Cam Lộ).",
"Search1": "a mật lật đa",
"Search2": "a mat lat da"
},
{
"Id": 487,
"Word": "a mật lý đa",
"Dict": 2,
"Mean": "Amrta (skt)—Mật Hoa—Nectar—Ambrosia.",
"Search1": "a mật lý đa",
"Search2": "a mat ly da"
},
{
"Id": 488,
"Word": "a-mật-lý-đa",
"Dict": 9,
"Mean": "xem cam lộ.",
"Search1": "a mật lý đa",
"Search2": "a mat ly da"
},
{
"Id": 489,
"Word": "a mật lý đa quân trà lợi",
"Dict": 2,
"Mean": "Một trong ngũ Minh Vương—One of the five rajas.",
"Search1": "a mật lý đa quân trà lợi",
"Search2": "a mat ly da quan tra loi"
},
{
"Id": 490,
"Word": "a mật rí đa",
"Dict": 6,
"Mean": "Amrta (S) Ambrosy",
"Search1": "a mật rí đa",
"Search2": "a mat ri da"
},
{
"Id": 491,
"Word": "a mật rị đa",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Cam lộ.",
"Search1": "a mật rị đa",
"Search2": "a mat ri da"
},
{
"Id": 492,
"Word": "a một la lâm",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Am một la.",
"Search1": "a một la lâm",
"Search2": "a mot la lam"
},
{
"Id": 493,
"Word": "a mục khư",
"Dict": 2,
"Mean": "Amogha (skt)—See A Mục Khư Bạt Chiết La.",
"Search1": "a mục khư",
"Search2": "a muc khu"
},
{
"Id": 494,
"Word": "a mục khư bạt chiết la",
"Dict": 2,
"Mean": "Amogha or Amoghavajra (skt)—Vị Tăng tên Bất Không Kim Cang (Amoghavajra), người Bắc Ấn, đệ tử của trường phái Mật Giáo Phổ Hiền. Ngài Kim Cang Trí rất nổi tiếng và đã sáng lập ra trường phái Mật Giáo Du Già ở Trung Quốc vào khoảng những năm 719-720 sau Tây Lịch. Bất Không kế thừa lãnh đạo trường phái nầy vào năm 732. Trong cuộc hành hương xuyên Ấn và Tích Lan từ năm 741 đến 746, ông đã mang về Trung Quốc 500 quyển kinh luận; giới thiệu phương pháp chuyển ngữ mới từ Phạn sang Hoa ngữ, ông đã xuất bản 108 tác phẩm. Ông là người có công trạng giới thiệu ngày lễ Vu Lan Bồn, ngày rằm tháng bảy vào truyền thống Trung Quốc. Ông là người đại diện chính của Phật giáo Mật Tông ở Trung Hoa, hoằng hóa rộng rãi qua ba triều vua nhà Đường, được phong danh hiệu Quốc Sư. Ông thị tịch vào năm 774—Amoghavajra, a monk from northern India, a follower of the mystic teachings of Samantabhadra. Vajramati is reputed to have founded the Yogacarya or Tantric school in China about 719-720 A.D. Amogha succeeded him in its leadership in 732. From a journey through India and Ceylon from 741 to 746, he brought back to China more than 500 sutras and sastras; introduced a new form for transliterating Sanskrit and published 108 works. He is credited with the introduction of the Ullambana festival of All Souls, 15th of 7th moon. He is the chief representative of Buddhist mysticism in China, spreading it widely through the patronage of three successive emperors during the T'ang dynasty. He died in 774 and was given a title of a Minister of State.",
"Search1": "a mục khư bạt chiết la",
"Search2": "a muc khu bat chiet la"
},
{
"Id": 495,
"Word": "a na",
"Dict": 2,
"Mean": "Ana (skt)—Hít vào (thở vào)—Inhalation.",
"Search1": "a na",
"Search2": "a na"
},
{
"Id": 496,
"Word": "a nã",
"Dict": 2,
"Mean": "Anu (skt)—Phân tử hay thành phần gồm bảy nguyên tử—Minute—Infinitesimal—The smallest aggregation of matter—A molecule consisting of seven atoms.",
"Search1": "a nã",
"Search2": "a na"
},
{
"Id": 497,
"Word": "A-na-bà-đạp-đa",
"Dict": 9,
"Mean": "tên suối và tên một hồ lớn thường được nhắc đến trong nhiều kinh luận, nằm trên đỉnh núi Hy-mã-lạp. A-na-bà-đạp-đa được phiên âm từ tiếng Phạn là Anavatapta, cũng đọc là A-nậu-đạt, dịch nghĩa là Vô nhiệt hay Vô não nhiệt.",
"Search1": "a na bà đạp đa",
"Search2": "a na ba dap da"
},
{
"Id": 498,
"Word": "a na bà đạt đa",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A na bà đạt đa Long vương.",
"Search1": "a na bà đạt đa",
"Search2": "a na ba dat da"
},
{
"Id": 499,
"Word": "a na bà đạt da long vương",
"Dict": 6,
"Mean": "Anavatàpta-nàga-ràja (S). A dragon-king.",
"Search1": "a na bà đạt da long vương",
"Search2": "a na ba dat da long vuong"
},
{
"Id": 500,
"Word": "a na bà đạt đa long vương",
"Dict": 7,
"Mean": "Anavadatta (S). Xem A nâu đạt.",
"Search1": "a na bà đạt đa long vương",
"Search2": "a na ba dat da long vuong"
},
{
"Id": 501,
"Word": "a na bà lâu cát để du",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Quán Thế Âm Bồ tát.",
"Search1": "a na bà lâu cát để du",
"Search2": "a na ba lau cat de du"
},
{
"Id": 502,
"Word": "a na ba na",
"Dict": 8,
"Mean": "3623梵語 ānāpāna。乃入出息之義。又作安那般那、阿那阿波那。略稱安般。āna,原爲遣來之意,轉指入息;apāna,原爲遣去之意,轉指出息。阿那波那,即數息觀,乃數入息、出息以鎮心之觀法。俱舍論卷二十二(大二九‧一一八上):「言阿那者,謂持息入,是引外風令入身義;阿波那者,謂持息出,是引內風令出身義。」〔雜阿含經卷二十九、大安般守意經卷上、大乘義章卷十二、慧琳音義卷二十六〕(參閱「數息觀」6090)",
"Search1": "a na ba na",
"Search2": "a na ba na"
},
{
"Id": 503,
"Word": "a na ba na",
"Dict": 2,
"Mean": "Anapana (skt)—Sổ tức quán—Breathing meditation (exhalation and inhalation)—See Quán Sổ Tức.",
"Search1": "a na ba na",
"Search2": "a na ba na"
},
{
"Id": 504,
"Word": "a na ba na",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿那波那) Phạm:Ànàpàna. Có nghĩa hơi thở ra thở vào. Còn gọi An na ban na, A na a ba na, gọi tắt làAn ban.Àna, nguyên ý là lùa đến, được chuyển dụng để chỉ hơi thở vào,apàna, nguyên ý là lùa đi, được chuyển dụng để chỉ hơi thở ra.A na ba na, tức là sổ tức quán, phép quán đếm hơi thở vào, hơi thở ra để định tâm. Câu Xá quyển 22 (Đại 29, 118 thượng): A na nghĩa là hơi thở vào, có nghĩa đưa gió ở bên ngoài vào mình; a ba na nghĩa là giữ hơi thở ra, là nghĩa đưa gió ở bên trong ra khỏi mình. [X. kinh Tạp a hàm Q.29; kinh Đại an ban thủ ý Q.thượng; Đại thừa nghĩa chương Q.12; Tuệ lâm âm nghĩa Q.26]. (xt. Sổ Tức Quán).",
"Search1": "a na ba na",
"Search2": "a na ba na"
},
{
"Id": 505,
"Word": "a na ba na, an ban",
"Dict": 6,
"Mean": "Ana (S) Inhalation. Anàpanà (S).Breathing, especially controlled breathing.",
"Search1": "a na ba na, an ban",
"Search2": "a na ba na, an ban"
},
{
"Id": 506,
"Word": "a na bàn đàn, cấp cô độc",
"Dict": 6,
"Mean": "Anathapindika (S).",
"Search1": "a na bàn đàn, cấp cô độc",
"Search2": "a na ban dan, cap co doc"
},
{
"Id": 507,
"Word": "A-na-bân-để",
"Dict": 9,
"Mean": "(阿那邠坻), phiên âm từ Phạn ngữ Antapindika, tên một tinh xá lớn thời đức Phật, thường gọi là tinh xá Kỳ Viên, cũng gọi là Kỳ thọ Cấp Cô Độc viên, một trong các trú xứ lớn của chư tăng vào thời đức Phật, tên Phạn ngữ đầy đủ là Jetavana-anthapiṇḍasyrma. Xem Tinh xá Kỳ-hoàn.",
"Search1": "a na bân để",
"Search2": "a na ban de"
},
{
"Id": 508,
"Word": "a na bàn đi tinh xá, kì thọ cấp cô độc viên",
"Dict": 6,
"Mean": "Anàthapindika-Vihàra.",
"Search1": "a na bàn đi tinh xá, kì thọ cấp cô độc viên",
"Search2": "a na ban di tinh xa, ki tho cap co doc vien"
},
{
"Id": 509,
"Word": "A-na Bồ-đề",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 那 菩 提; S: ānabodhi;\r\nTổ thứ 12 của Thiền tông Ấn Ðộ, là Mã Minh (aśvaghoṣa).\r\n",
"Search1": "a na bồ đề",
"Search2": "a na bo de"
},
{
"Id": 510,
"Word": "a na đà bạt đa",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A na bà đạt đa Long vương.",
"Search1": "a na đà bạt đa",
"Search2": "a na da bat da"
},
{
"Id": 511,
"Word": "a na già mê",
"Dict": 2,
"Mean": "Anagamin (skt)—Bất Lai—Non-coming—Bất Hoàn—Non-returning—See Anagamin in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and A Na Hàm in Vietnamese-English Section.",
"Search1": "a na già mê",
"Search2": "a na gia me"
},
{
"Id": 512,
"Word": "A-na-ha-na",
"Dict": 5,
"Mean": "J: anahana; S: ānāpāna;\r\nCách đọc tiếng Nhật của chữ Phạn ānāpāna, nói về sự kiểm soát hơi thở trong Du-già Ấn Ðộ. Ngược với Du-già Ấn Ðộ, trong Thiền tông người ta không kiểm soát hay điều hoà hơi thở, A-na-ha-na có mục đích để cho hơi thở ở trong dạng tự nhiên nhất của nó. Trong phép Toạ thiền (j: zazen), hơi thở đóng một vai trò quan trọng, nhưng hành giả chỉ ý thức và tỉnh giác về nó, chứ không hề tìm cách điều khiển theo ý mình.\r\nNếu Du-già Ấn Ðộ cho rằng sự kiểm soát hơi thở kéo theo một tâm thức sâu lắng thì Thiền tông cho rằng sự tỉnh giác tâm ý sẽ đưa hơi thở trở về trạng thái tự nhiên và cho rằng sự cố ý kiểm soát hơi thở chỉ gây thêm căng thẳng nội tâm và chỉ làm hành giả mất tỉnh giác. Vì vậy, hành giả Thiền tông thường chỉ học phép đếm hơi thở và không áp dụng thêm các thuật khác của Du-già (An-ban thủ ý).\r\n",
"Search1": "a na ha na",
"Search2": "a na ha na"
},
{
"Id": 513,
"Word": "A-na-hàm",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ là Angmin, quả vị thứ ba trong Bốn thánh quả Tiểu thừa, chỉ còn dưới dưới quả A-la-hán. A-na-hàm dịch nghĩa là Bất hoàn hoặc Bất lai, vì người chứng đắc quả vị này không còn tái sinh trong Dục giới, sau khi xả thân này liền thọ thân ở Sắc giới hoặc Vô sắc giới rồi nhập Niết-bàn. Người chứng đắc quả vị A-na-hàm tùy theo trạng thái sẽ nhập Niết-bàn mà phân ra năm hạng, gọi chung là Ngũ chủng Bất hoàn (五種不還), gồm có: Trung bát (中般- antara-pariṇirvyin), Sanh bát (生般- up-apdya-pa), Hữu hành bát (有行般- sabhisaṃskra-pa), Vô hành bát (無行般- anabhisaṃskra-pa) và Thượng lưu bát (上流般- rd-hvasrota-pa). Xem Bốn quả thánh.",
"Search1": "a na hàm",
"Search2": "a na ham"
},
{
"Id": 514,
"Word": "A-na-hàm",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 那 含; S, P: anāgāmin; dịch ý là Bất hoàn;\r\nBất hoàn.\r\n",
"Search1": "a na hàm",
"Search2": "a na ham"
},
{
"Id": 515,
"Word": "a na hàm",
"Dict": 8,
"Mean": "3622梵語 anāgāmin。舊譯作阿那伽彌、阿那伽迷。略稱那含。意譯不還、不來、不來相。乃聲聞四果中第三果之聖者。彼等已斷盡欲界九品之惑,不再還來欲界受生。此階位之聖者中,若九品之惑全部斷盡,則稱阿那含果;若斷除七品或八品,則稱阿那含向;若斷除七、八品,而所餘之一、二品尚須對治成無漏之根,更須一度受生至欲界,稱爲一間(梵 ekavīcika)。又於阿那含果中,復有五種不還、七種不還、九種不還等別。〔中阿含經卷三伽藍經、大智度論卷三十二、大乘義章卷十一、慧苑音義卷上〕(參閱「五種不還」1176)",
"Search1": "a na hàm",
"Search2": "a na ham"
},
{
"Id": 516,
"Word": "a na hàm",
"Dict": 7,
"Mean": "Anāgāmi (S), Non-returner (S, P)Bất lai quả, Bất hoàn quả, A na hàm quả vịTrong 4 quả: Tu đà hoàn, Tư đà hàm, A na hàm, A la hán Quả chứng đắc thứ ba. Quả thứ tư là quả A la hán, mục tiêu tối thượng của Phật giáo nguyên thuỷ. Người đạt quả vị này sẽ không còn sanh vào cõi vật chất hay phi vật chất và không còn trở lại cõi người, sẽ được sanh lên cõi trời Ngũ bất hoàn, tu cho đến khi chứng quả A la hán.",
"Search1": "a na hàm",
"Search2": "a na ham"
},
{
"Id": 517,
"Word": "a na hàm",
"Dict": 2,
"Mean": "Bất Lai, người không còn trở lại, người đã được miễn trừ khỏi dòng sanh tử. Bất lai là quả vị thứ ba trong bốn Thánh quả vị của trường phái Tiểu thừa, người không còn tái sanh trong thế giới nầy nữa. Sau khi lâm chung thì người ấy sẽ vãng sanh Tịnh Độ hay vào cõi trời sắc giới và vô sắc giới cho đến khi đạt được quả vị A La Hán hay niết bàn—Anagamin—One who does not return—One exempt from transmigration—Never-Returner—Who attains the third stage of Sainthood in Hinayana schools, who is no more reborn in this world. After death he is born in the Pure Lands (Abodes) or in the rupa or arupa heavens until he attains Arhatship or nirvana—See Tứ Thánh Quả (B) (3) in Vietnamese-English Section.",
"Search1": "a na hàm",
"Search2": "a na ham"
},
{
"Id": 518,
"Word": "a na hàm",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿那含) Phạm: Anàgàmin. Các nhà dịch cũ phiên là A na già di, A na già mê. Gọi tắt là Na hàm. Dịch ý là Bất hoàn, Bất lai, Bất lai tướng. Là bậc Thánh quả thứ ba trong bốn quả Thanh văn. Bậc này đã dứt hết chín phẩm hoặc ở Dục giới, không còn trở lại thụ sinh ở Dục giới nữa. Các bậc Thánh trong giai vị này, nếu đã dứt hết toàn bộ chín phẩm hoặc, thì gọi là A na hàm quả, nếu mới đoạn trừ được bảy phẩm hay tám phẩm, thì gọi là A na hàm hướng; nếu đoạn trừ được bảy, tám phẩm, còn một, hai phẩm nữa, thì cần phải đối trị để trở thành căn vô lậu, lại phải một lần nữa thụ sinh ở Dục giới, gọi là Nhất gián (Phạm:Ekavìcika). Lại quả A na hàm còn có năm loại Bất hoàn, bảy loại Bất hoàn và chín loại Bất hoàn khác nhau. [X. Trung a hàm Q.3 kinh Già lam; luận Đại trí độ Q.32; Đại thừa nghĩa chương Q.11; Tuệ lâm âm nghĩa Q.thượng]. (xt. Ngũ Chủng Bất Hoàn).",
"Search1": "a na hàm",
"Search2": "a na ham"
},
{
"Id": 519,
"Word": "a na hàm đạo",
"Dict": 7,
"Mean": "Anagami magga (P), Path of non-returner.",
"Search1": "a na hàm đạo",
"Search2": "a na ham dao"
},
{
"Id": 520,
"Word": "a na hàm hướng",
"Dict": 2,
"Mean": "Nguời tu hành hướng về quả vị A Na Hàm (hướng vào quả bất lai mà tu hành là hướng thứ ba trong bốn hướng)—One who is aiming at the Anagamin or the fruit of non-returning. ** For more information, please see Tứ Hướng (3) and Tứ Thánh Quả (3).",
"Search1": "a na hàm hướng",
"Search2": "a na ham huong"
},
{
"Id": 521,
"Word": "a na hàm quả",
"Dict": 2,
"Mean": "Quả vị thứ ba trong bốn quả vị Thánh (Tiểu Thừa)—The third of the four fruits (Hinayana)—See Tứ Thánh Quả (3).",
"Search1": "a na hàm quả",
"Search2": "a na ham qua"
},
{
"Id": 522,
"Word": "a na hàm, bất lai",
"Dict": 6,
"Mean": "Anàgàmin (S) Non coming. One who has attaained the 3rd stage of the Path.",
"Search1": "a na hàm, bất lai",
"Search2": "a na ham, bat lai"
},
{
"Id": 523,
"Word": "A Na Luật",
"Dict": 10,
"Mean": "(阿那律): xem A Nậu Lâu Đà (s: Aniruddha, p: Anuruddha, 阿冕樓馱) bên dưới.",
"Search1": "a na luật",
"Search2": "a na luat"
},
{
"Id": 524,
"Word": "A-na-luật",
"Dict": 9,
"Mean": "(阿那律), phiên âm từ Phạn ngữ Aniruddha, nguyên bản Hán văn dùng A-nê-lâu-đậu (阿泥樓豆) hoặc Lâu-đậu, cũng đều chính là vị này. Ngoài ra còn có rất nhiều cách phiên âm khác như A-ni-lâu-đà, A-nê-luật-đà, A-nê-lâu-đà, A-nô-luật-đà, A-na-luật-đề... Danh xưng này được dịch nghĩa là Vô Diệt, Như Ý, Vô Tham, Vô Chướng, Thiện Ý... Đây là một trong mười vị đại đệ tử của Phật (Thập đại đệ tử), được Phật ngợi khen là Thiên nhãn đệ nhất. Ông cũng là một trong các vương tử xuất gia cùng lúc với ngài A-nan.",
"Search1": "a na luật",
"Search2": "a na luat"
},
{
"Id": 525,
"Word": "A-na-luật",
"Dict": 5,
"Mean": "1. 阿 那 律; S, P: aniruddha; gọi đủ là A-na Luật-đà, dịch nghĩa là Như Ý, Vô Tham;\r\nEm họ và một trong Mười đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni. Trong mười đại đệ tử của đức Phật, mỗi vị đều có một thứ bậc cao nhất và A-na-luật là Thiên nhãn đệ nhất.\r\n2. 阿 那 律; S, P: anuruddha;\r\nMột Luận sư của Thượng toạ bộ (p: the-ravāda), sống giữa thế kỉ thứ 8 và 12, là người biên soạn tác phẩm danh tiếng A-tì-đạt-ma giáo nghĩa cương yếu (阿 毘 達 摩 教 義 綱 要; p: abhidhammatthasaṅgaha), luận giải toàn bộ giáo pháp của phái này. Trong nhiều điểm, quan niệm của Sư rất giống với Thanh tịnh đạo (p: visuddhimagga) của Phật Âm (s: buddhaghoṣa; p: buddhaghosa) nhưng cách trình bày ngắn hơn, khó hiểu hơn. Trong bộ luận này, Sư chú trọng nhiều đến những khía cạnh tâm lí của Phật pháp.\r\nNgười ta cũng xem Sư là tác giả của hai bộ luận khác là Nāmarūpapariccheda (»Danh và sắc, hai yếu tố tạo một cá nhân«) và Paramatthavinicchaya (»Lượng định về đệ nhất nghĩa«).\r\n\r\n",
"Search1": "a na luật",
"Search2": "a na luat"
},
{
"Id": 526,
"Word": "a na luật",
"Dict": 8,
"Mean": "3624梵名 Aniruddha,巴利名 Anuruddha。又作阿尼盧陀、阿㝹樓馱、阿難律、阿樓陀。意譯無滅、如意、無障、無貪、隨順義人、不爭有無。乃佛陀十大弟子之一。古代印度迦毘羅衛城之釋氏,佛陀之從弟。關於其身世,起世經卷十、五分律卷十五、眾許摩訶帝經卷二等載爲斛飯王之子,佛本行集經卷十一、大智度論卷三則載爲甘露飯王之子。佛陀成道後歸鄉,阿那律與阿難、難陀、優波離等,即於其時出家爲佛弟子。出家後之阿那律,修道精進,堪稱模範。彼嘗於佛說法中酣睡,爲佛所呵責,遂立誓不眠,而罹眼疾,至於失明。然以修行益進,心眼漸開,終成佛弟子中天眼第一,能見天上地下六道眾生。〔中阿含卷十八「八念經」、長阿含卷四遊行經、佛本行集經卷五十八、佛五百弟子自說本起經阿那律品、大智度論卷十一〕",
"Search1": "a na luật",
"Search2": "a na luat"
},
{
"Id": 527,
"Word": "a na luật",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A nậu lâu đà.",
"Search1": "a na luật",
"Search2": "a na luat"
},
{
"Id": 528,
"Word": "a na luật",
"Dict": 6,
"Mean": "Anurudha (S). One of the ten great disciples of the Buddha.",
"Search1": "a na luật",
"Search2": "a na luat"
},
{
"Id": 529,
"Word": "a na luật",
"Dict": 2,
"Mean": "Aniruddha (skt)—See A Nậu Lâu Đà.",
"Search1": "a na luật",
"Search2": "a na luat"
},
{
"Id": 530,
"Word": "a na luật",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿那律) Phạm: Aniruddha, Pāli: Anuruddha. Còn gọi là A ni lư đà, A nâu lâu đà, A nan luật, A lâu đà. Dịch ý là vô diệt, như ý, vô chướng, vô tham, người theo nghĩa thuận, không tranh có không. Một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật. Là em họ của Phật, giòng họ Thích, người thành Ca tì la vệ thuộc Ấn độ cổ đại. Về thân thế của ngài, kinh Khởi thế quyển 10, luật Ngũ phần quyển 15, kinh Chúng hứa ma ha đế quyển 2, bảo ngài là con vua Hộc phạn, còn kinh Phật bản hạnh tập quyển 11, luận Đại trí độ quyển 3, thì nói ngài là con vua Cam lộ phạn. Sau khi thành đạo, đức Phật về cố hương, và chính vào thời kì ấy, các ngài A na luật, A nan, Nan đà và Ưu ba li đã xuất gia làm đệ tử Phật. Sau khi xuất gia, A na luật hăng hái tu đạo, có thể gọi là bậc mô phạm. Trong khi nghe đức Phật nói pháp, A na luật thường hay ngủ gật, bị Phật quở trách, bèn thề không ngủ, đến nỗi đau mắt rồi mất ánh sáng. Nhưng nhờ sự tu hành càng ngày càng tiến, con mắt tâm dần dần khơi mở, và cuối cùng, ngài đã trở thành thiên nhãn đệ nhất trong hàng ngũ đệ tử Phật, có khả năng thấy suốt trên trời, dưới đất và chúng sinh trong sáu đường. [X. Trung a hàm Q.18 kinh Bát niệm; Trường a hàm Q.4 kinh Du hành; kinh Phật bản hạnh tập Q.5; kinh Phật ngũ bách đệ tử tự thuyết bản khởi phẩm A na luật, luận Đại trí độ Q.11].",
"Search1": "a na luật",
"Search2": "a na luat"
},
{
"Id": 531,
"Word": "A-na-luật-đề",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-na-luật.",
"Search1": "a na luật đề",
"Search2": "a na luat de"
},
{
"Id": 532,
"Word": "a na luật độ",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A nậu lâu đà.",
"Search1": "a na luật độ",
"Search2": "a na luat do"
},
{
"Id": 533,
"Word": "a na luật tôn giả",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A Nậu Lâu Đà.",
"Search1": "a na luật tôn giả",
"Search2": "a na luat ton gia"
},
{
"Id": 534,
"Word": "a na sa đạt đa long vương",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Vô nhiệt não Long vương. Xem A nâu đạt.",
"Search1": "a na sa đạt đa long vương",
"Search2": "a na sa dat da long vuong"
},
{
"Id": 535,
"Word": "a na tha tân đồ đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Anathapindada (skt)—A Na Đà Tân Đồ Đà—Một trưởng giả giàu có trong thành Sravasti, nổi tiếng về tánh tình hào phóng hay giúp đở người nghèo, và sự cúng dường Kỳ Thọ Cấp Cô Độc Viên cho Đức Phật. Tên của ông là Tu Đạt Đa và vợ là Tỳ Xá Khư—A wealthy elder of Sravasti, famous for liberality to the needy, and his gift of the Jetavana with its gardens and buildings to the Buddha. His original name was Sudatta and his wife Visakha. ** For more information, please see Cấp Cô Độc in Vietnamese-English Section and Anathapindada in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a na tha tân đồ đà",
"Search2": "a na tha tan do da"
},
{
"Id": 536,
"Word": "a nặc đức",
"Dict": 8,
"Mean": "3675(Arnold, Edwin; 1832~1904)英國詩人。就學於倫敦、牛津二大學,曾任印度波那(Poona)之梵語學校校長。藉詩文介紹東方生活及思想,並翻譯各種梵文古詩、故事等。最著名者爲長篇無韻詩「亞洲之光」(The Light of Asia, 1879),歌頌釋迦之生涯及敘說佛教教理。另有印度田園詩(Indian Idylls)、信仰的真珠(Pearls of the Faith)、再訪印度(India Revisited, 1886)等。〔Earl Miner:The Japanese Tradition in British and American Literature, 1958〕",
"Search1": "a nặc đức",
"Search2": "a nac duc"
},
{
"Id": 537,
"Word": "a nặc đức",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿諾德) ARNOLD, EDWIN (1832 - 1904) Một nhà thơ người Anh, học tại các Đại học Luân đôn và Oxford. Từng là Hiệu trưởng của trường Phạm ngữ ở Ba na (Poona) Ấn độ. Ông dùng thi ca để giới thiệu sinh hoạt và tư tưởng Đông phương, đồng thời, phiên dịch các thơ và truyện cổ trong tiếng Phạm. Nổi tiếng nhất là thi phẩm trường thiên không vần Ánh Sáng Châu Á (The Light of Asia, 1879), ca tụng cuộc đời của đức Thích ca và trình bày giáo lí Phật giáo. Ngoài ra, ông còn có các tác phẩm khác như: Ấn độ điền viên thi (Indian Idylls, Thơ ruộng vườn Ấn độ), Tín ngưỡng đích trân châu (The Pearls of the Faith, những viên ngọc tín ngưỡng), Tái phỏng Ấn độ (India Revisited 1886, thăm lại Ấn độ) v.v... [X. Earl Miner: The Japanese Tradition in British and American Literature, 1958].",
"Search1": "a nặc đức",
"Search2": "a nac duc"
},
{
"Id": 538,
"Word": "a nam đức phổ nhĩ tích khắc giáo đồ đại hội",
"Dict": 8,
"Mean": "3640西元一六九九年,錫克教之第十代祖師哥賓德辛格於阿南德普爾城(Anandapur,位於今之旁遮普省)召開大會,會中宣布錫克教完全脫離印度教,建立獨立之軍事宗教組織「卡爾莎」,廢除祖師世襲制,並對錫克教之儀式與習俗進行改革。",
"Search1": "a nam đức phổ nhĩ tích khắc giáo đồ đại hội",
"Search2": "a nam duc pho nhi tich khac giao do dai hoi"
},
{
"Id": 539,
"Word": "A Nan",
"Dict": 10,
"Mean": "(s, p: Ānanda, 阿難): từ gọi tắt của âm dịch A Nan Đà (阿難陀), ý dịch là Khánh Hỷ (慶喜), Vô Nhiễm (無染), con trai của vương tộc Sĩ Cam Lộ Phạn (s: Amṛtodana, 士甘露飯, còn gọi là Bạch Phạn Vương [白飯王]) thuộc dòng họ Thích Ca (s: Śākya, p: Sakya, 釋迦), anh em với Đề Bà Đạt Đa (s, p: Devadatta, 提婆達多), anh em chú bác với đức Phật, là thị giả hầu cận Ngài trong một thời gian lâu dài. Ngày đức Thế Tôn thành đạo là ngày A Nan ra đời; Ngài giảng kinh xong 20 năm thì khi ấy A Nan mới xuất gia. Sau khi thành đạo, lần đầu tiên đức Thế Tôn trở về thành Ca Tỳ La Vệ (s: Kapilavastu, p: Kapilavatthu, 迦毘羅衛), khi Ngài trú tại Vườn Xoài (s: Āmrapāli-vana, p: Ambapāli-vana, 菴婆波梨園, tức Am Bà Ba Lợi Viên), Tôn giả A Nan đã cùng với các vương tử thuộc dòng họ Thích Ca và người thợ hớt tóc Ưu Ba Ly (s, p: Upāli, 優波離) xin xuất gia theo Phật. Từ đó trở đi, Tôn giả thường hầu hạ bên đức Thích Tôn, phần nhiều nghe được những lời dạy của Ngài, nên được xưng tụng là Đa Văn Đệ Nhất (多聞第一, nghe nhiều số một). Có thuyết cho rằng Tôn giả đã tu đắc pháp gọi là Tánh Giác Tự Tại Tam Muội (性覺自在三昧), có thể ở trong định thấu hiểu các pháp; cho nên khi kết tập Pháp Tạng thì A Nan được suy cử. Khi dưỡng mẫu của Phật là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề (s: Mahāprajāpatī Gautamī, s: Mahāpajāpatī Gotamī, 摩訶波闍波提) cầu xin xuất gia nhưng không được phép, chính Tôn giả đã đích thân xin Phật và sau khi được phép thì Tôn giả là người đã tận lực sáng lập giáo đoàn Tỳ Kheo Ni đầu tiên. Vào tháng thứ 2 sau khi Phật diệt độ, khi cuộc kết tập lần đầu tiên được tiến hành tại Hang Thất Diệp (s: Sapta-parṇa-guhā, 七葉窟) ngoài Thành Vương Xá (s: Rājagṛha, p: Rājagaha, 王舍城), Tôn giả đã cùng tham dự với 499 vị đệ tử của đức Phật chứng quả A La Hán. Khi đức Phật diệt độ, tương lai của giáo đoàn được phó thác lại cho Ma Ha Ca Diếp (s: Mahākāśyapa, p: Mahākassapa, 摩訶迦葉), cho nên A Nan được Ca Diếp truyền trao giáo pháp cho và trở thành vị tổ thứ 2 của Thiền Tông Tây Thiên. Theo các tài liệu như Cứu Bạt Diệm Khẩu Ngạ Quỷ Đà La Ni Kinh (救拔焰口餓鬼陀羅尼經, Taishō 1313), Cứu Diện Nhiên Ngạ Quỷ Đà La Ni Thần Chú Kinh (救面燃餓鬼陀羅尼神呪經, Taishō 1314), Du Già Tập Yếu Cứu A Nan Đà La Ni Diệm Khẩu Nghi Quỹ Kinh (瑜伽集要救阿難陀羅尼焰口儀軌經, Taishō 1318), Du Già Tập Yếu Diệm Khẩu Thí Thực Khởi Giáo A Nan Đà Duyên Do (瑜伽集要焰口施食起敎阿難陀緣由, Taishō 1319), có dẫn về nguồn gốc cúng thí thực Ngạ Quỷ, âm linh cô hồn. Câu chuyện kể rằng có một đêm nọ trong khi đang hành Thiền định quán chiếu những lời dạy của Đức Phật, vào canh ba tôn giả A Nan chợt nhìn thấy một con quỷ đói thật hung tợn tên là Diệm Khẩu (s: Ulkā-mukha, 焰口) có thân hình gầy ốm, miệng rực cháy lửa và cổ họng của nó nhỏ như cây kim. Con quỷ ấy đến trước mặt tôn giả thưa rằng ba ngày sau mạng của tôn giả sẽ hết và sanh vào thế giới ngạ quỷ (ma đói). Nghe vậy, tôn giả A Nan vô cùng ngạc nhiên và lấy làm sợ hãi, bèn hỏi con quỷ kia xem có cách nào thoát khỏi tai họa ấy không. Con quỷ trả lởi rằng: “Vào sáng ngày mai nếu tôn giả có thể cúng dường thức ăn và nước uống cho trăm ngàn ức chúng ngạ quỷ nhiều như cát sông Hằng, cho vô số đạo sĩ Bà La Môn, cho chư thiên và các vị thần cai quản việc làm của con người, cho quá cố các vong linh, dùng cái hộc của nước Ma Kiệt Đà (s, p: Magadha, 摩掲陀) để cúng dường cho họ 49 hộc thức ăn và nước uống, và vì họ mà cúng dường cho Tam Bảo, như vậy tôn giả sẽ được tăng thêm tuổi thọ, cùng lúc đó sẽ làm cho chúng tôi thoát khỏi cảnh khổ đau của Ngạ Quỷ và sanh lên cõi trời.” Trên cơ sở của nguồn gốc này, nghi lễ Cúng Thí Thực cho âm linh cô hồn Ngạ Quỷ ra đời cho đến ngày nay.",
"Search1": "a nan",
"Search2": "a nan"
},
{
"Id": 540,
"Word": "a nan",
"Dict": 8,
"Mean": "3694梵名 Ānanda,巴利名同。爲佛陀十大弟子之一。全稱阿難陀。意譯爲歡喜、慶喜、無染。係佛陀之堂弟,出家後二十餘年間爲佛陀之常隨弟子,善記憶,對於佛陀之說法多能朗朗記誦,故譽爲多聞第一。阿難天生容貌端正,面如滿月,眼如青蓮花,其身光淨如明鏡,故雖已出家,卻屢遭婦女之誘惑,然阿難志操堅固,終得保全梵行。 於佛陀生前未能開悟,佛陀入滅時悲而慟哭;後受摩訶迦葉教誡,發憤用功而開悟。於首次經典結集會中被選爲誦出經文者,對於經法之傳持,功績極大。初時,佛陀之姨母摩訶波闍波提欲入教團,阿難即從中斡旋,終蒙佛陀許可,對比丘尼教團之成立,功勞至鉅。 又據付法藏因緣傳卷二載,佛陀傳法予摩訶迦葉,摩訶迦葉後又傳法予阿難,故阿難爲付法藏之第二祖。阿難於佛陀入滅後二十年至二十五年間於殑伽河中游示寂,入寂前,將法付囑於商那和修。〔雜阿含經卷四十四、中阿含卷三十三侍者經、增一阿含經卷四弟子品、阿難同學經、佛本行集經卷十一、五分律卷三、卷二十九、大智度論卷三、大唐西域記卷六、卷七〕",
"Search1": "a nan",
"Search2": "a nan"
},
{
"Id": 541,
"Word": "a nan",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿難) Pāli, Phạm: Ànanda. Là một trong mười vị đệ tử lớn của đức Phật. Nói đủ là A nan đà. Dịch ý là hoan hỉ, khánh hỉ, vô nhiễm. Em họ của Phật, sau khi xuất gia, thường ở bên cạnh Phật hơn hai mươi năm, kí ức rất tốt, đối với lời Phật nói pháp, có thể ghi nhớ rõ ràng, cho nên được gọi à Đa văn đệ nhất. Ngài A nan dung mạo đẹp đẽ, mặt như trăng tròn, mắt như hoa sen xanh, thân hình sáng rỡ như gương, vì thế, tuy đã xuất gia, nhưng thường bị phụ nữ cám dỗ, tuy nhiên, nhờ chí khí kiên cố, cuối cùng, A nan đã bảo toàn được Phạm hạnh. Khi đức Phật còn sinh tiền, ngài A nan vẫn chưa khai ngộ, khi Phật nhập diệt, buồn rầu mà khóc; sau nhờ tôn giả Ma ha ca diếp dạy bảo, cố sức dụng công mới khai ngộ. Trong đại hội kết tập kinh điển lần đầu tiên, ngài A nan được chọn là người thuật lại kinh, đối với sự nghiệp truyền trì kinh pháp, tôn giả A nan đã có công lao rất lớn. Lúc đầu, di mẫu của Phật là bà Ma ha ba xà ba đề muốn xuất gia, A nan liền sắp đặt lo liệu, cuối cùng được đức Phật cho phép, đối với sự thành lập giáo đoàn tỉ khưu ni, ngài A nan cũng có công tích rất lớn. Lại cứ theo Phó pháp tạng nhân duyên truyện quyển 2 chép, thì đức Phật truyền pháp cho tôn giả Ma ha ca diếp, Ma ha ca diếp truyền pháp cho ngài A nan, như vậy, A nan là tổ thứ hai trong Phó pháp tạng. Sau đức Phật nhập diệt khoảng từ hai mươi đến hai mươi lăm năm, ngài A nan thị tịch tại miền trung du sông Hằng, trước khi nhập tịch, ngài đem pháp phó chúc cho ngài Thương na hòa tu. [X. kinh Tạp a hàm Q.44; Trung a hàm Q.33 kinh Thị giả; kinh Tăng nhất a hàm Q.4 phẩm Đệ tử; kinh A nan đồng học; kinh Phật bản hạnh tập Q.11; luật Ngũ phần Q.3, Q.29; luận Đại trí độ Q.3; Đại đường tây vực kí Q.6, Q.7].",
"Search1": "a nan",
"Search2": "a nan"
},
{
"Id": 542,
"Word": "a nan bạt đà",
"Dict": 7,
"Mean": "Ānandabhadrā (S).",
"Search1": "a nan bạt đà",
"Search2": "a nan bat da"
},
{
"Id": 543,
"Word": "a nan bồ đề thụ",
"Dict": 2,
"Mean": "Còn gọi là cây Bồ Đề A Nan, vì chính ngài A Nan đã trồng nó. Trong thời Đức Phật còn tại thế, thiện tín đến thăm viếng Phật đều mang theo bông hay những tràng hoa để cúng dường. Trong những lúc Đức Phật đi vắng thì thiện tín đặt những thứ hoa ấy trước cửa tịnh thất của Phật rồi ra về. Trưởng giả Cấp Cô Độc thấy vậy thỉnh cầu Đại Đức A Nan bạch với Phật tìm một nơi nào khác để thiện tín có thể đến lễ bái cúng dường trong lúc Đức Phật đi chu du hoằng pháp. A Nan bèn bạch với Đức Phật cho phép ông lấy một hạt Bồ Đề gieo thành cây ngay trước cổng tịnh xá làm biểu tượng của Phật cho thiện tín đến lễ bái cúng dường khi Phật bận đi hoằng hóa phương xa. Cây Bồ Đề ấy đến nay vẫn còn và được gọi là “cây Bồ Đề A Nan”—Ananda Bodhi Tree, so called because it was Venerable Ananda who was responsible for the planting of the tree. In the absence of the Buddha, devout followers, who used to bring flowers and garlands, laid them at the entrance to the fragrant chamber and departed with much rejoicing. Anathapindika heard of it and requested Venerable Ananda to inquire from the Buddha whether there was a possibility of finding a place where his devotees might pay obeisance to the Buddha when he is away on his preaching tours. Venerable Ananda mentioned this matter to the Buddha and asked if he might bring a seed from the great Bodhi Tree and plant at the entrance to Jetavana, as a symbol of the Buddha for people to pay homage when the Buddha was on his preaching tours. The Buddha agreed. The tree that sprang up in that place was known as the Ananda-Bodhi.",
"Search1": "a nan bồ đề thụ",
"Search2": "a nan bo de thu"
},
{
"Id": 544,
"Word": "a nan cụ bát pháp",
"Dict": 8,
"Mean": "3695據北本涅槃經卷四十載,佛對文殊師利說阿難具足八法,能持十二部經(十二分教),故稱阿難爲多聞藏。八法即:(一)信根堅固,信,即信順;根,即能生之義。謂阿難聽聞如來所說十二部經,信受堅固,由此信心則能生長一切善法功德。(二)其心質直,質,質朴之義。謂阿難聽聞十二部經後,則其心質直,常依正法而住,永離虛妄邪曲之見。(三)身無病苦,謂阿難累劫熏修,其利他之善行莫可測知,故身無病苦。(四)常勤精進,以不雜爲精,無間爲進。謂阿難聽聞十二部經後,一心受持,如法修習而無懈怠。(五)具足念心,謂阿難聽聞十二部經後,心常憶念思惟而不令忘失。(六)心無憍慢,謂阿難聽聞十二部經後,皆能憶持而心不放逸,亦不憍慢於大眾。(七)成就定意,謂阿難聽聞十二部經後,能依此法修攝其心而成就禪定。(八)從聞生智,謂阿難聽聞十二部經後,義趣無量,使智慧增明而無不了達。此外,由於阿難爲佛陀之常隨弟子,後世叢林遂以其所具足之八法爲擔任侍者職位之人所必須具備之德行。",
"Search1": "a nan cụ bát pháp",
"Search2": "a nan cu bat phap"
},
{
"Id": 545,
"Word": "a nan cụ bát pháp",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿難具八法) Cứ theo kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 40 chép, thì đức Phật nói với bồ tát Văn thù sư lợi là ngài A nan có đủ tám pháp, có thể giữ mười hai bộ kinh (mười hai phần giáo), cho nên gọi A nan là Đa văn tạng. Tám pháp ấy là: 1.Tín căn kiên cố, tín tức là tín thuận, căn tức là năng sinh. Nghĩa là, A nan nghe Như lai nói mười hai bộ kinh, tin chịu vững chắc, do lòng tin ấy mà hết thảy công đức thiện pháp có thể sinh trưởng. 2.Kì tâm chất trực, chất, là nghĩa chất phác. Tức là, A nan sau khi nghe mười hai bộ kinh, thì tâm ngay thẳng thường nương nơi chính pháp, mãi mãi xa lìa mọi kiến giải hư dối quanh co. 3.Thân vô bệnh khổ, nghĩa là A nan đã nhiều kiếp tu hành, những việc thiện làm lợi cho người không thể tính được, vì thế thân không có bệnh khổ. 4.Thường cần tinh tiến, không lẫn lộn là tinh, không xen hở là tiến. Nghĩa là A nan sau khi nghe mười hai bộ kinh, một lòng thụ trì, tu tập đúng như pháp mà không biếng nhác. 5.Cụ túc niệm tâm, nghĩa là, sau khi nghe mười hai bộ kinh, A nan thường tâm niệm tư duy, ghi nhớ không để quên mất.6.Tâm vô kiêu mạn, nghĩa là, sau khi nghe mười hai bộ kinh, A nan đều có thể ghi nhớ mà lòng không buông thả, cũng không kiêu căng đối với đại chúng. 7.Thành tựu định ý, nghĩa là, sau khi nghe mười hai bộ kinh, A nan có thể dựa vào pháp ấy mà tu nhiếp tâm mình để thành tựu Thiền định. 8.Tòng văn sinh trí, nghĩa là, sau khi nghe mười hai bộ kinh, A nan hiểu vô lượng nghĩa khiến trí tuệ càng thêm sáng và không một điều gì mà không thấu suốt. Ngoài ra, vì ngài A nan là vị đệ tử thường theo hầu bên cạnh đức Phật, lại có đầy đủ tám pháp, cho nên đời sau, trong các Tùng lâm, những người đảm nhiệm chức vụ thị giả, tất phải đầy đủ đức hạnh.",
"Search1": "a nan cụ bát pháp",
"Search2": "a nan cu bat phap"
},
{
"Id": 546,
"Word": "a nan đa",
"Dict": 6,
"Mean": "nanda (S). Khánh hỉ, Joy. Younger brother of Devadatta; he was noted as the most learned disciple of Buddha.",
"Search1": "a nan đa",
"Search2": "a nan da"
},
{
"Id": 547,
"Word": "A-nan-đà",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 難 陀; S, P: ānanda; cũng gọi ngắn là A-nan, dịch nghĩa là Khánh Hỉ (慶 喜), Hoan Hỉ (歡 喜);\r\n1. Một trong Mười đại đệ tử của Phật Thích-ca Mâu-ni. Cùng họ với Phật, A-nan-đà gia nhập giáo hội hai năm sau ngày thành lập, trở thành người hầu cận của Ðức Phật. Tôn giả nổi tiếng với trí nhớ phi thường về những lời Phật dạy. Tôn giả là người xây dựng cơ bản giáo pháp trong lần kết tập thứ nhất và được xem là Nhị tổ của Thiền tông Ấn Ðộ.\r\nTheo kinh sách, A-nan-đà được xem là người rất nhẫn nhục, hết lòng phụng sự đức Phật. Tôn giả chỉ chấp nhận làm người hầu cận cho Phật khi được Phật hứa rằng, không vì thế mà được quan tâm hơn các vị khác. A-nan-đà cũng chính là người khám phá và trừ bỏ âm mưu giết Phật của Ðề-bà Ðạt-đa. Hơn ai hết, A-nan-đà bênh vực cho việc nữ giới được học hỏi giáo pháp. Nhờ sự can thiệp của Tôn giả mà Phật chấp nhận thành lập ni đoàn. Chính vì điều này mà trong lần Kết tập thứ nhất, A-nan-đà bị Tăng-già chê trách. Tương truyền rằng, sau khi Phật nhập Niết-bàn, A-nan-đà mới giác ngộ, đắc quả A-la-hán trong đêm trước lần kết tập thứ nhất.\r\n2. Nếu định nghĩa theo Ấn Ðộ giáo (e: hindu-ism) thì A-nan-đà không phải là tâm trạng khánh hỉ được tạo ra bởi một đối tượng mà hơn nữa, nó là một niềm vui của một trạng thái nằm trên mọi tư duy nhị nguyên, những cặp đối đãi. Hệ thống triết lí Vê-đan-ta (s: vedānta) quan niệm rằng, một tâm thức thoát khỏi suy nghĩ – nghĩa là tâm thức không còn vướng mắc những khái niệm như sinh, tử, khổ não, nói chung là mọi tư duy – chính là A-nan-đà, sự an vui thuần tuý. Khi mô tả, diễn giải những danh từ rất trừu tượng như »Brahman«, hệ thống Vê-đan-ta sử dụng thành ngữ »Sat-Cit-Ānanda«, nghĩa là »Chân lí – Nhận thức tuyệt đối – A-nan-đà« và A-na-đà ở đây là sự an vui tuyệt đối, vô lượng mà hành giả chỉ có thể cảm nhận được trong lúc nhập Ðịnh (s: samādhi). Trong các dòng tu theo truyền thống của Ðại sư Shan-ka-ra (s: śaṅkara) thì A-nan-đà là chữ cuối của nhiều danh hiệu, ví dụ như Vi-ve-ka-a-nan-đà (s: vivekānanda).\r\n",
"Search1": "a nan đà",
"Search2": "a nan da"
},
{
"Id": 548,
"Word": "a nan đà",
"Dict": 7,
"Mean": "Ānanda (S), Joy (S, P), Prīti (S)Khánh Hỷ Tôn Giả, Phúc lạc1- Một trong thập đại đại đệ tử. Là anh em họ đức Phật, anh em ruột với Devadatta (Đề bà đạt ta), làm thị giả Phật hơn 20 năm, đắc quả A la hán sau khi Phật nhập diệt. Ông nổi tiếng nhờ tài nhớ giỏi và đã thuyết lại kinh Phật trong thời kỳ kết tập thứ nhất, ông cũng là Tổ đời thứ nhì Phật giáo tại Ấn độ. 2-Phúc lạc.",
"Search1": "a nan đà",
"Search2": "a nan da"
},
{
"Id": 549,
"Word": "a nan đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Ananda (skt & p)—Hoan Hỷ. (I) A Nan là con vua Hộc Phạn (em trai của vua Tịnh Phạn). A Nan là em ruột của Đề Bà Đạt Đa. Ông được biết đến như là Thiện Hoan Hỷ vì khi ông sanh ra mang lại hoan hỷ cho mọi người nên mới được đặt tên là A Nan. Ngài là em họ của Phật Thích Ca và cũng là một trong thập đại đệ tử của Ngài. Hai năm sau ngày Phật thành đạo, A Nan đã cùng với năm vị hoàng thân khác của dòng Thích Ca (Anuruddha, Devadatta, Bhaddiya, Bhagu, và Kimbala) đã xin xuất gia với Đức Phật. Khi Đức Phật được 55 tuổi ông A Nan đã theo làm thị giả cho Ngài trên hai mươi năm. A Nan nổi tiếng nhờ trí nhớ xuất sắc, có khả năng nhớ từng chữ trong những thời thuyết giảng của Phật, rồi sau nầy được trùng tụng thành kinh điển. Ông được chọn trùng tụng về Kinh điển trong lần Đại hội kết tập kinh điển đầu tiên (4 tháng sau ngày Phật nhập diệt). Người ta nói chính ngài A Nan đã đọc thuộc lòng những bài thuyết pháp của Đức Phật mà về sau được ghi lại thành Kinh Tạng. Ngài là vị Tổ thứ hai sau Đại Ca Diếp. Nguời ta nói ngài A Nan chứng đạo sau khi Phật đã nhập diệt và ông sống đến 120 tuổi. Phật thọ ký cho ngài sau nầy thành Phật hiệu là Sơn Hải Tự Tại Thông Vương Phật—Ananda was the son of Dronodana-raja (a younger brother of King Suddhodana). Ananda was a younger brother of Devadatta. He was known as Sundarananda or Beautiful Nanda, as he was born bringing happiness to all his kinsfolk, he was named Ananda. He was a cousin of Sakyamuni and one of the Buddha's ten great disciples. In the second year of the Buddha's ministry, Ananda entered the Sangha together with the other Sakya Nobles (Anuruddha, Devadatta, Bhaddiya, Bhagu, and Kimbala). When the Buddha was fifty-five years old, Venerable Ananda became his chief attendant (he was personal attendant to the Lord Buddha for more than twenty years). Ananda volunteered to become a personal attendant for Lord Buddha on condition the Buddha would grant the following eight things: 1) Đức Phật không ban cho ngài những bộ y mà thiện tín đã dâng cúng cho Phật: The Buddha should not give him robes which people offered to the Buddha. 2) Đức Phật không ban cho ngài vật thực mà thiện tín đã cúng dường cho Phật: The Buddha should not give him food which people offered to the Buddha. 3) Đức Phật không cho phép ngài cùng ở trong một tịnh thất với Phật: The Buddha should not allow him to dwell in the same fragrant chamber. 4) Đức Phật không cho phép ngài đi cùng với Đức Phật những nơi nào mà thí chủ thỉnh Đức Phật: The Buddha should not take him with him wherever the Buddha is invited. 5) Đức Phật sẽ hoan hỷ cùng ngài đi đến nơi nào mà thí chủ thỉnh ngài đến: The Buddha should kindly go with him wherever he is invited. 6) Đức Phật hoan hỷ cho phép ngài được tiến dẫn những vị khách từ phương xa đến viếng Phật: The Buddha should give him permission to introduce visitors that come from afar to see the Buddha. 7) Đức Phật hoan hỷ cho phép ngài đến bạch Đức Phật mỗi khi có điều hoài nghi phát sanh: The Buddha should kindly grant him permission to approach him whenever any doubt should arise. 8) Đức Phật hoan hỷ lập lại bài pháp mà Đức Phật đã giảng lúc ngài vắng mặt: The Buddha should kindly repeat to him the discourses that were declared in his absence. He was famous (famed) for his extraordinary (excellent) memory, capable of remembering every word ever spoken by the Buddha in his sermons, which were later recorded as sutras. Who was chosen to recite the Dharma at the First Council (4 months after the cremation of Buddha sacred body). He is said to have recited all the Buddhas's sermons which were later recorded as “Basket of Buddhist Scriptures.” He was the second patriarch in India, after Mahakasyapa. Ananda is said to have attained enlightenment after the passing of the Buddha and to have lived to the age of 120. The Buddha predicted that Ananada will become a Buddha named Saga-ravara-dhara-buddhi-vikridi-tabhidjina. (II) Thời Đức Phật còn tại thế, lúc Thế Tôn thân hơi có bệnh phải dùng sữa bò, A Nan bèn cầm bát đến đứng trước cửa nhà người Đại Bà La Môn để xin sữa— At the time of the Buddha, once when the World Honoured One had a slight indisposition and needed some cow milk, Ananda took a bowl and went to a Brahmin family where he stood at the door. - Lúc ấy ông Duy Ma Cật đến bảo A Nan: “Này A Nan! Làm gì cầm bát đứng đây sớm thế?”—Vimalakirti came and asked Ananda: “Why are you out so early holding a bowl in your hand?” - A Nan đáp: “Cư sĩ, Thế Tôn thân hơi có bệnh phải dùng sữa bò, nên tôi đến đây xin sữa.”—Ananda replied: 'Venerable Upasaka, the World Honoured One is slightly indisposed and wants some cow milk; this is why I have come here.' - Ông Duy Ma Cật nói: “Thôi thôi! Ngài A Nan chớ nói lời ấy! Thân Như Lai là thể kim cang, các ác đã dứt, các lành khắp nhóm, còn có bệnh gì, còn có não gì? Im lặng bước đi, ngài A Nan! Chớ có phỉ báng Như Lai, chớ cho người khác nghe lời nói thô ấy, chớ làm cho các trời oai đức lớn và các Bồ Tát từ Tịnh Độ phương khác đếnđây nghe được lời ấy! Ngài A Nan! Chuyển Luân Thánh Vương có ít phước báu còn không tật bệnh, huống chi Như Lai phước báu nhiều hơn tất cả đấy ư? Hãy đi ngài A Nan! Chớ làm cho chúng tôi chịu sự nhục đó, hàng ngoại đạo Phạm chí nếu nghe lời ấy, chắc sẽ nghĩ rằng 'Sao gọi là Thầy, bệnh của mình không cứu nổi mà cứu được bệnh người khác ư?' Nên lén đi mau, chớ để cho người nghe! Ngài A Nan! Phải biết thân Như Lai, chính là Pháp thân, không phải thân tư dục, Phật là bực Thế Tôn hơn hết ba cõi, thân Phật là vô lậu, các lậu đã hết, thân Phật là vô vi, không mắc vào các số lượng, thân như thế còn có bệnh gì?”—Vimalakirti said: 'Stop, Ananda, stop speaking these words. The Tathahata's body is as strong as a diamond for He has cut off all evils and has achieved all good. What kind of indisposition and trouble doe He still have? Ananda, do not slander the Tathagata and do not let other people hear such coarse language. Don not let the god (devas) as well as the Bodhisattvas of other pure lands hear about it. Ananda, world ruler (cakravarti) who has accumulated only a fe little merits is already free from all ailments; how much more so is the Tathagata who has earned countless merits and has achieved all moral excellences? Go away, Ananda, do not cover us all with shame. If the Brahmins heard you they would say: “How can this man be a saviour if he cannot cure his own illness; how can he pretend to heal the sick?” Get away unnoticed and quickly and do not let others hear what you have said. Ananda, you should know that the body of the Tathagata is the Dharmakaya and does not come from (the illusion of) thought and desire. The Buddha is the World Honoured One (Bhagavat); His body is above and beyond the three realms (of desire, form and beyond form) and is outside the stream of transmigratory suffering. The Buddha body is transcendental (we wei) and is beyond destiny. How then can such a body be ill?' - Lúc đó A Nan thật quá hổ thẹn tự nghĩ không lẽ ngài gần Phật bấy lâu nay mà nghe lầm ư? A Nan liền nghe trên hư không có tiếng nói rằng: “A Nan! Đúng như lời cư sĩ đã nói, chỉ vì Phật ứng ra đời ác đủ năm món trược nên hiện ra viêc ấy, để độ thoát chúng sanh thôi. A Nan! Hãy đi lấy sữa chớ có thẹn.”—At that time, Vimalakirti's words covered him with shame and he asked himself if he had not wrongly understood the Buddha's order. Thereat, a voice was heard in the air above, saying: “Ananda, the upasaka is right, but since the Buddha appears in the five kasaya (or periods of turbidity on earth), He uses this (expedient) method (upaya) to liberate living beings. Ananda, go and beg for the cow milk without shame.” (III) Trong Hội Nghị Kết Tập Kinh Điển lần thứ nhất—In the First Council: Ngài A Nan, người đệ tử thân cận nhất của Phật trong suốt 25 năm, thiên phú với một trí nhớ xuất sắc. Lúc đầu đã không được xếp vào thành viên Hội Nghị. Theo Kinh Tiểu Phẩm, sau đó vì có sự phản đối của các Tỳ Kheo quyết liệt bênh vực cho A Nan, mặc dù ông nầy chưa đắc quả A La Hán, bởi vì ông có phẩm chất đạo đức cao và cũng vì ông đã được học kinh tạng và luật tạng từ chính Đức Bổn Sư. Sau cùng A Nan đã được Đại Ca Diếp chấp nhận vào Hội Nghị. A Nan đã trùng tụng lại tất cả những gì mà Đức Phật nói. Tuy nhiên, tại Hội Nghị nầy, A Nan đã bị các Tỳ Kheo trách cứ nhiều tội mà ông đã giải thích như sau —Venerable Ananda, the closest disciple and the attendant of the Buddha for 25 years. He was endowed with a remarkable memory. First Ananda was not admitted to the First Council. According to the Cullavagga, later other Bhikhus objected the decision. They strongly interceded for Ananda, though he had not attained Arhathood, because of the high moral standard he had reached and also because he had learnt the Dharma and vinaya from the Buddha himself. Ananda was eventually accepted by Mahakasyapa into the Council, and was able to recite what was spoken by the Buddha (sutras and doctrines). However, Ananda was charged by other Bhikshus several charges which he explained as follows: 1) Ông không thể kể lại được hết các giới luật nhỏ nhặt mà Đức Phật nói là có thể bỏ bớt sau khi Ngài nhập diệt, bởi vì ông quá đau buồn trước sự nhập diệt sắp xãy ra của Đức Bổn Sư: He could not formulate the lesser and minor precepts, as he was overwhelmed with grief at the imminent death of the Master. 2) Ông phải đạp chân lên áo của Đức Phật lúc vá áo vì không có ai cầm giúp ông: He had to tread upon the garment of the Master while sewing it as there was no one to help him. 3) Ông đã cho phép nữ giới lễ xá lợi Đức Phật trước những người khác vì ông không muốn giữ họ lại lâu. Ông làm như thế cũng là để khai trí cho họ, giúp họ mong muốn được cải thân người nam ở kiếp sau: He permitted women to salute first the body of the Master, because he did not want to detain them. He also did for their edification. 4) Vì bị quỷ ma che mờ tâm trí nên ông đã quên không cầu xin Đức Bổn sư cho ông có thể tiếp tục học đạo cho đến suốt đời: He was under the influence of the evil one when he forgot to request the Master to enable him to continue his study for a kalpa. 5) Ông đã xin cho nữ giới là bà Ma Ha Ba Xà Ba Đề gia nhập Tăng đoàn trái với luật lệ, bởi vì bà ta đã nuôi dưỡng Đức Bổn sư khi Ngài còn bé: He had to plead for the admission of women into the Order out of consideration for Mahaprapati Gautami who nursed the Master in his infancy. Tuy nhiên, theo bộ Dulva thì Ngài A Nan còn bị gán thêm hai tội nữa—However, according to the Dulva, two other charges also seem to have brought against Ananda 6) Ông đã không lấy nước uống cho Đức Phật mặc dù ngài đã ba lần đòi uống. Ông làm như thế vì bấy giờ nước sông đang đục không thể lấy cho Đức Phật uống được 7) Ông đã để cho nam và nữ giới thuộc hàng hạ phẩm được xem âm tàng của Đức Phật. Ông nói sự để lộ âm tàng của Đức Thế Tôn nhằm giải thoát cho những kẻ còn bận tâm về chuyện ái dục: He showed the privy parts of the Buddha to men and women of low character. He said that the exhibition of the privy parts of the Buddha would rid those concerned of their sensuality. ** For more information, please see Ananda in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section, and Kết Tập Kinh Điển in Vietnamese-English Section.",
"Search1": "a nan đà",
"Search2": "a nan da"
},
{
"Id": 550,
"Word": "a nan đà bổ la",
"Dict": 2,
"Mean": "Anandapura (skt)—Theo Eitel trong Trung Anh Phật Học Từ Điển, A Nan Đà Bổ La nằm về hướng đông bắc của Gujerat (bây giờ là Barnagar), gần Kurree, một trong những cứ địa hùng mạnh của phái Jain (ngoại đạo)—According to Eitel in The Dictionary of Chinese-English Budhist Terms, Anandapura was a place, northeast of Gujerat (presently Barnagar), near Kurree, which was one of the strongholds of the Jain sect (externalists).",
"Search1": "a nan đà bổ la",
"Search2": "a nan da bo la"
},
{
"Id": 551,
"Word": "a nan đà bổ la quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3695請參閱 出無量門持經 請參閱 出無量門持經 梵名 Anandapura 或 Ānandapura。爲西印度古國。據大唐西域記卷十一所載,此國周長二千餘里,都城周長二十餘里,人戶殷盛,家室富饒,有伽藍十餘所,僧徒約千人,多學小乘正量部教義;有天祠數十所,異道雜居其間。此國之位置,據英國考古學家康林罕(A. Cunningham)之考證,認爲此國位於今沙巴馬提河(Sabarmati)至巴那斯河(Banas)口之間,學者華特(T. Watters)亦從其說。〔S. Beal: Buddhist Records of the Western World, vol. Ⅱ; S. Julien:Mémories sur les Contrées Occidentales〕",
"Search1": "a nan đà bổ la quốc",
"Search2": "a nan da bo la quoc"
},
{
"Id": 552,
"Word": "a nan đà bổ la quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿難陀補羅國) Phạm: Anandapura hoặc Ànandapura. Là một nước xưa ở miền tây Ấn độ. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 11 chép, thì nước này chu vi hơn hai nghìn dặm, đô thành rộng hơn hai mươi dặm, dân số đông đúc, nhà cửa giàu có, hơn mười ngôi chùa, độ một nghìn tăng chúng, phần nhiều học giáo nghĩa của Chính lượng bộ Tiểu thừa. Có vài mươi ngôi đền thờ trời, ngoại đạo ở lẫn lộn. Cứ theo sự khảo chứng của nhà khảo cổ học người Anh là A. Cunningham, thì vị trí nước này nằm ở khoảng giữa cửa hai con sông Sa ba mã đề (Sabarmati) đến sông Ba na tư (Banas) hiện nay. Học giả T. Watters cũng đồng ý với thuyết này. [X. S. Beal: Buddhist Records of the Western World, Vol.II; S. Julien: Mémoires sur les Contrées Occidentales].",
"Search1": "a nan đà bổ la quốc",
"Search2": "a nan da bo la quoc"
},
{
"Id": 553,
"Word": "a nan đà dạ xoa",
"Dict": 2,
"Mean": "Bạch Xỉ Dạ Xoa hay Dạ Xoa răng trắng—A yaksa, called White Teeth.",
"Search1": "a nan đà dạ xoa",
"Search2": "a nan da da xoa"
},
{
"Id": 554,
"Word": "a nan đà kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Ānanda sutta (P), Sutra To Ananda (on Mindfulness of Breathing) Tên một bộ kinh.",
"Search1": "a nan đà kinh",
"Search2": "a nan da kinh"
},
{
"Id": 555,
"Word": "a nan đà mục khư ni ha li đà la ni kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Anantamukha-nirhāra-dhāraṇi sūtra (S)Một trong 9 bản dịch khác tên của bộ kinh Anantamukha-nirhara-dharani-vyakhyana-karika trong Đại tạng Trung quốc.",
"Search1": "a nan đà mục khư ni ha li đà la ni kinh",
"Search2": "a nan da muc khu ni ha li da la ni kinh"
},
{
"Id": 556,
"Word": "a nan đà tháp tự",
"Dict": 8,
"Mean": "3696阿難陀,梵名 Ānanda。位於緬甸蒲甘(Pagan),爲蒲甘王康瑟達(Kyanzittha)建立於西元一○九○年。乃全緬第一大寺,塔之外壁共有壁畫一千五百幅,所敘故事皆取材於本生經,每幅並附有巴利文及荙文說明。塔內通道設有八十座佛龕,全供石刻佛像。西側廊供有巨大佛像,佛前有阿羅漢國師及康瑟達王之石雕跪像。塔寺面積六四○公畝,塔高五十餘公尺,據考證係依據印度奧立沙(Orissa)佛教石窟模型所建。",
"Search1": "a nan đà tháp tự",
"Search2": "a nan da thap tu"
},
{
"Id": 557,
"Word": "a nan đà tháp tự",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿難陀塔寺) A nan đà, Phạm: Ànanda. Chùa tháp ở Bồ cam (Pagan) thuộc Miến điện, do vua Bồ cam là Khang sắt đạt (Kyanzittha) xây dựng vào năm 1090. Là ngôi chùa lớn vào bậc nhất trên toàn cõi Miến điện, trên vách phía ngoài của ngôi tháp, có tất cả một nghìn năm trăm bức bích họa, những sự tích được miêu tả đều lấy tư liệu từ kinh Bản sinh, các bức họa đều được thuyết minh bằng tiếng Pālivà Mạnh văn. Trong tháp đặt tám mươi tòa Phật khám suốt các lối đi, tượng Phật toàn khắc bằng đá. Cạnh hành lang phía tây, có pho tượng Phật rất lớn, trước mặt đức Phật, có tượng của quốc sư A la hán và của vua Khang sắt đạt, cũng bằng đá, đang quì. Toàn diện tích của chùa và tháp là sáu trăm bốn mươi mẫu tây, tháp cao hơn năm mươi mét, cứ theo sự khảo chứng của các nhà khảo cổ học, thì ngôi tháp này được kiến thiết theo mô hình hang đá Phật giáo ở Áo lập sa (Orissa) thuộc Ấn độ.",
"Search1": "a nan đà tháp tự",
"Search2": "a nan da thap tu"
},
{
"Id": 558,
"Word": "A-nan-ga-pa",
"Dict": 5,
"Mean": "S: anaṅgapa, với biệt danh là »Kẻ cuồng bảnh trai«;\r\nMột Ma-ha Tất-đạt trong 84 vị Tất-đạt Ấn Ðộ, có lẽ sống giữa thế kỉ thứ 9, sống tại Gau-đa (s: gauḍa).\r\nNhờ nghiệp nhẫn nhục đời trước, ông là người rất bảnh trai và rất hãnh diện với vẻ đẹp của mình. Ngày nọ có một Du-già sư khất thực đi qua, ông cho mời vào nhà tiếp đãi nồng hậu. Hỏi ý kiến vị này về cuộc đời hai người, ông nghe vị này phê bình mình là kẻ dại dột kiêu hãnh về những điều không thật, không sáng tạo. Trong lúc đó vị Du-già sư là người tu tập Phật pháp, có đầy đủ khả năng, kể cả khả năng đạt những hảo tướng của một vị Phật. Ông cầu khẩn xin học và sẵn sàng ngồi yên thiền định. Vị này truyền cho ông bí mật của Cha-kra sam-va-ra tan-tra và thuyết giảng cho ông về các trí nằm trong sáu giác quan:\r\nMọi hiện tượng muôn vẻ,\r\nchẳng là gì khác hơn,\r\nTự tính của tâm thức.\r\nHãy để yên đối tượng,\r\ncủa cả sáu giác quan,\r\nvà an trú trong niệm,\r\ntự tại không dính mắc.\r\nA-nan-ga-pa thực hành Nghi quỹ (s: sādhana) như được dạy và chỉ sáu tháng sau, ông đạt thánh quả. Bài kệ ngộ đạo của ông như sau:\r\nSinh tử như giấc mộng,\r\nkhông có gì thật chất.\r\nThân thể như cầu vồng,\r\nnhiễm độc Tham Sân Si\r\nVì thế ham bám giữ,\r\nthấy ảo ảnh, tưởng thật.\r\nHãy thoát vòng vướng mắc,\r\nnhư giấc mơ độc địa,\r\nSinh tử thoắt biến thành,\r\nPháp thân thường thường trụ.\r\n",
"Search1": "a nan ga pa",
"Search2": "a nan ga pa"
},
{
"Id": 559,
"Word": "a nan hữu tam nhân",
"Dict": 8,
"Mean": "3694又作阿難三名。謂佛陀十大弟子之一的阿難,在佛典中之名稱有三種。(一)據法華文句卷一上載:(1)阿難陀(梵 Ānanda),譯作歡喜,受持小乘藏。(2)阿難跋陀(梵 Ānandabhadra),又作阿難陀跋陀羅,譯作歡喜賢,受持雜藏。(3)阿難娑伽(梵 Ānandasāgara),譯作歡喜海,受持佛藏。又引用阿含經,舉出「典藏阿難」之名,而謂有四種阿難。(二)華嚴玄談卷八引用集法經,舉出阿難、阿難跋陁、阿難迦羅等三種。(三)華嚴經探玄記卷二則引用阿闍世王懺悔經,舉出阿難陀、阿難跋陁、阿難娑伽羅等三種,分別受持下、中、上三乘。 另據翻譯名義集卷一之十大弟子篇第八所載,阿難能持三種不同之法藏,隨其功德而受稱,故有三名。即:(一)阿難,譯作慶喜,以能傳持聲聞藏而得此名。(二)阿難跋陀,譯作喜賢,以能傳持緣覺藏而得此名。(三)阿難迦羅,譯作喜海,以能傳持菩薩藏而得此名。又據圓覺經略疏之解釋,阿難善能受持、弘傳佛陀一代大小之法藏,世人由所傳之法而讚歎其德,故有阿難三名之說,非謂阿難有三人、四人之別。",
"Search1": "a nan hữu tam nhân",
"Search2": "a nan huu tam nhan"
},
{
"Id": 560,
"Word": "a nan hữu tam nhân",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿難有三人) Còn gọi là A nan tam danh. Nghĩa là, ngài A nan là một trong mười đệ tử lớn của đức Phật, về danh xưng, trong các kinh điển, có ba loại. 1. Cứ theo Pháp hoa văn cú quyển 1 phần trên chép: a. A nan đà (Phạm:Ànanda), dịch là Hoan hỉ, thụ trì tạng Tiểu thừa. b. A nan bạt đà (Phạm:Ànandabhadra), còn gọi là A nan đà bạt đà la, dịch là Hoan hỉ hiền, thụ trì Tạp tạng. c. A nan sa già (Phạm:Ànandasàgara), dịch là Hoan hỉ hải, thụ trì Phật tạng. Pháp hoa văn cú còn dẫn kinh A hàm, nêu thêm danh xưng Điển tạng A nan mà nói là có bốn loại A nan. 2. Hoa nghiêm huyền đàm quyển 8, dẫn kinh Tập pháp, nêu ra ba loại: A nan, A nan bạt đà và A nan ca la. 3. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 2 thì dẫn kinh A xà thế vương sám hối, cũng nêu ba loại: A Nan Đà, A Nan bạt đà và A nan sa già, lần lượt thụ trì ba thừa Hạ, Trung, Thượng. Ngoài ra, cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 1 thiên Thập đại đệ tử chép, thì A nan có khả năng thụ trì ba loại pháp tạng khác nhau, tùy theo công đức mà được xưng hô, cho nên mới có ba tên. Tức là: 1. A nan, dịch là Khánh hỉ, vì có thể truyền trì tạng Thanh văn mà có tên này. 2. A nan bạt đà, dịch là Hỉ hiền, vì có thể truyền trì tạng Duyên giác mà được tên này.3. A nan ca la, dịch là Hỉ hải, vì có thể truyền trì tạng Bồ tát mà được tên này. Lại cứ theo sự giải thích trong kinh Viên giác lược sớ, thì A nan có khả năng thụ trì, truyền bá pháp tạng lớn, nhỏ của một đời đức Phật, người đời theo pháp được truyền mà tán thán cái đức của ngài, nên có thuyết A nan tam danh (A nan có ba tên), chứ không phải A nan có ba người, bốn người khác nhau.",
"Search1": "a nan hữu tam nhân",
"Search2": "a nan huu tam nhan"
},
{
"Id": 561,
"Word": "a nan ta già",
"Dict": 7,
"Mean": "Ānandaśāgāra (S)Tên một vị sư.",
"Search1": "a nan ta già",
"Search2": "a nan ta gia"
},
{
"Id": 562,
"Word": "a nan vấn sự phật cát hung kinh",
"Dict": 8,
"Mean": "3696全一卷。略稱阿難問事佛經、阿難問事經。後漢安世高譯。收於大正藏第十四冊。內容敘述信佛者若能就教明師、持戒精進、朝夕恭敬等,則諸事和諧,謂之吉;反之則諸事不諧,謂之凶。本經之高麗本與宋、元、明等三本之內容一致,惟文句有異。〔歷代三寶紀卷四、大唐內典錄卷一〕",
"Search1": "a nan vấn sự phật cát hung kinh",
"Search2": "a nan van su phat cat hung kinh"
},
{
"Id": 563,
"Word": "a nan vấn sự phật cát hung kinh",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿難問事佛吉凶經) Kinh 1 quyển. Gọi tắt là A nan vấn sự Phật kinh, A nan vấn sự kinh. Ngài An thế cao đời Hậu Hán dịch, thu vào Đại chính tạng tập 14. Nội dung trình bày những người tin Phật, nếu có thể y theo lời dạy của minh sư, tinh tiến giữ giới, sớm hôm cung kính, thì mọi việc được hòa hài, gọi là cát (lành); trái lại thì mọi việc không hòa hài, gọi là hung (dữ). Nội dung kinh này trong bản Cao li và ba bản Tống, Nguyên, Minh đều nhất trí, duy câu văn thì có khác. [X. Lịch đại tam bảo kỉ Q.4; Đại đường nội điển lục Q.1].",
"Search1": "a nan vấn sự phật cát hung kinh",
"Search2": "a nan van su phat cat hung kinh"
},
{
"Id": 564,
"Word": "a nậu",
"Dict": 7,
"Mean": "Aṇu (S), Atomic element Anurāja (S)A noa, cực vi, vi trần.",
"Search1": "a nậu",
"Search2": "a nau"
},
{
"Id": 565,
"Word": "a nậu bạt đề (hà)",
"Dict": 6,
"Mean": "sông Ni liên thiền",
"Search1": "a nậu bạt đề (hà)",
"Search2": "a nau bat de (ha)"
},
{
"Id": 566,
"Word": "a nậu đa la",
"Dict": 7,
"Mean": "Anuttara (P), Unsurpassed One Vô thượng sĩMột trong những danh hiệu được dùng để chỉ đứcPhật. Một trong 10 Phật hiệu.",
"Search1": "a nậu đa la",
"Search2": "a nau da la"
},
{
"Id": 567,
"Word": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đe",
"Dict": 6,
"Mean": "஠Anuttara-Samyas-Sambòdhi (S). Supreme and perfect enlightenment.",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đe",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 568,
"Word": "A Nậu Đa La Tam Miệu Tam Bồ Đề",
"Dict": 10,
"Mean": "(s: anuttara-samyak-sambodhi, p: anuttara-sammā-sambodhi, j: anokutarasammyakusambodai, 阿耨多羅三藐三菩提): cựu ý dịch là Vô Thượng Chánh Biến Tri (無上正遍[徧]知), Vô Thượng Chánh Biến Đạo (無上正遍[徧]道); tân ý dịch là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác (無上正等正覺); gọi tắt là A Nậu Tam Bồ Đề (阿耨三菩提), A Nậu Bồ Đề (阿耨菩提), v.v. Do vì nội dung của từ này không thể hiện một cách chính xác, nên trong kinh điển phần nhiều người ta vẫn dùng nguyên âm. Cụm từ này có nghĩa là đức Phật thoát ly khỏi thế giới mê muội, chứng được giác trí viên mãn, trong chân lý bình đẳng không có nơi nào không biết đến, cho nên trên thế gian ngài là bậc vô thượng (không ai trên ngài).",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 569,
"Word": "A-nậu-đa-la Tam-miệu Tam-bồ-đề",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ là Anuttar-saṃyak-saṃbodhi, Hán dịch là Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác (無上正等正覺), chỉ quả vị Phật.",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 570,
"Word": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Dict": 8,
"Mean": "3674梵語 anuttara-samyak-saṃbodhi,巴利語 anuttara-sammāsambodhi 之音譯。略稱阿耨三菩提、阿耨菩提。意譯無上正等正覺、無上正等覺、無上正真道、無上正遍知。「阿耨多羅」意譯爲「無上」,「三藐三菩提」意譯爲「正遍知」。乃佛陀所覺悟之智慧;含有平等、圓滿之意。以其所悟之道爲至高,故稱無上;以其道周遍而無所不包,故稱正遍知。大乘菩薩行之全部內容,即在成就此種覺悟。菩薩發阿耨多羅三藐三菩提心,則譯爲「無上正真道意」。 又梵語 anuttara-samyak-saṃbuddha,音譯阿耨多羅三藐三佛陀,意指完成阿耨多羅三藐三菩提之人,故一般譯爲「無上正等覺者」。此係佛陀之尊稱。又可省略阿耨多羅,而僅作三藐三佛陀,或三耶三佛、三耶三佛陀等。〔大智度論卷二、卷八十五、往生論註卷下、法華經文句卷二上、法華經玄贊卷二本、慧苑音義卷上、慧琳音義卷二十六、卷二十七〕(參閱「正遍知」2001、「正覺」2005)",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 571,
"Word": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A nậu Đa la Tam muội Tam bồ đề.",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 572,
"Word": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Dict": 7,
"Mean": "Annutara-samyak-saṃbodhi (P).",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 573,
"Word": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Dict": 4,
"Mean": "A Nậu Đa La dịch là vô thượng, Tam Miệu dịch là chánh đẳng, Tam Bồ Đề dịch là chánh giác. Giác ngộ cuối cùng dịch là Vô thượng chánh đẳng Chánh giác.",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 574,
"Word": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Dict": 2,
"Mean": "Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh giác, trạng thái chứng ngộ của chư Phật—Anuttara-Samyak-Sambodhi (skt)—Supreme—Perfect wisdom—The truth—The state of truth—A state of enlightenment reserved only for Buddhas.",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 575,
"Word": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耨多羅三藐三菩提) Phạm: Anuttara samyak - saôbodhi, Pāli: Anuttara - sammàsambodhi. Nói tắt là A nậu tam bồ đề, A nậu bồ đề. Dịch ý: vô thượng chính đẳng chính giác, vô thượng chính chân đạo, vô thượng chính biến tri. A nậu đa la dịch ý là vô thượng, tam miệu tam bồ đề, dịch ý là chính biến tri. Là trí tuệ giác ngộ của đức Phật, hàm ý là bình đẳng, viên mãn. Vì cái đạo mà Ngài ngộ được là rất cao, cho nên gọi là vô thượng; vì đạo ấy chu biến, bao quát hết thảy, cho nên gọi là chính biến tri. Toàn bộ nội dung tu hành của Bồ tát Đại thừa là để thành tựu loại giác ngộ này. Bồ tát phát A nậu đa la tam miệu tam bồ đề tâm, thì dịch là Vô thượng chính chân đạo ý. Còn tiếng Phạm: Anuttara-samyaksaôbudha, dịch âm là A nậu đa la tam miệu tam phật đà, ý là chỉ người đã hoàn thành A nậu đa la tam miệu tam bồ đề, cho nên thông thường dịch là vô thượng chính đẳng chính giác giả. Đây là tiếng tôn xưng đức Phật, tức là bậc vô thượng chính đẳng chính giác. Cũng có thể bỏ bớt A nậu đa la mà chỉ nói Tam miệu tam Phật đà, hoặc Tam da tam Phật, Tam da tam Phật đà v.v... [X. luận Đại trí độ Q.2, Q.85; Vãng sinh luận chú Q.hạ; Pháp hoa kinh văn cú Q.2 phần trên; Pháp hoa kinh huyền tán Q.2 phần đầu; Tuệ uyển âm nghĩa Q.26, Q.27]. (xt. Chính Biến Tri, Chính Giác).",
"Search1": "a nậu đa la tam miệu tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam mieu tam bo de"
},
{
"Id": 576,
"Word": "a nậu đa la tam muội tam bồ đề",
"Dict": 7,
"Mean": "Anuttara-samayak-saṃbodhi (S), Aṇubodhi (S), Complete enlightenment, Unsurpassed Perfectly Englightened One Aṇubodhi (S), Anuttara-samma-saṃbodhi (P)Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. A Nậu Đa La dịch là vô thượng, Tam Miệu dịch là chánh đẳng, Tam Bồ Đề dịch là chánh giác. Giác ngô cuối cùng gọi là Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.",
"Search1": "a nậu đa la tam muội tam bồ đề",
"Search2": "a nau da la tam muoi tam bo de"
},
{
"Id": 577,
"Word": "a nâu đạt",
"Dict": 7,
"Mean": "Anavatāpta (S), Anavatāpta-nāgarāja (S)A na bà đạt đa Long vương, Vô nhiệt não Long vương, A na sa đạt đa Long vương1- ao Vô nhiệt, trong núi Tuyết sơn, nước có đủ 8 công dức. 2- A na bà đạt đa Long vương: Tên một vị long vương. Một trong Bát đại Long vương, gồm: Hoan Hỷ Long vương, Hiền Hỷ Long vương, Long vương hải, Bảo Hữu Long vương, Đa Thiệt Long vương, Vô nhiệt não Long vương, Đại ý Long vương, Thanh Liên Long vương. 3- A na đà đáp đa, A nậu đạt, A na đà đạt đa, A na bà đạt đa 4- Tên một cái ao ở cõi Diêm phù.",
"Search1": "a nâu đạt",
"Search2": "a nau dat"
},
{
"Id": 578,
"Word": "A-nậu-đạt",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-na-bà-đạp-đa.",
"Search1": "a nậu đạt",
"Search2": "a nau dat"
},
{
"Id": 579,
"Word": "a nậu đạt",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A na bà đạt đa Long vương.",
"Search1": "a nậu đạt",
"Search2": "a nau dat"
},
{
"Id": 580,
"Word": "a nậu đạt long vương",
"Dict": 8,
"Mean": "3675阿耨達,梵名 Anavatapta,巴利名 Anotatta。爲八大龍王之一。住於阿耨達池,遠離三患,於諸馬形龍王中其德最勝。據長阿含經卷十八載,閻浮提所有龍王除阿耨達龍外,盡有如下之三患︰(一)諸龍皆被熱風熱沙著身,燒其皮肉及骨髓,極爲苦惱。(二)所有龍宮於惡風暴起吹其宮內時,盡失寶飾衣而龍身自現,極爲苦惱。(三)所有龍王各在宮中相娛樂時,金翅大鳥常入宮騷擾。故諸龍常懷怖懼、熱惱,而阿耨達龍卻無此憂患。〔起世經卷一、舊華嚴經卷二、大智度論卷七、大唐西域記卷一、慧苑音義卷下〕(參閱「阿耨達池」3675)",
"Search1": "a nậu đạt long vương",
"Search2": "a nau dat long vuong"
},
{
"Id": 581,
"Word": "a nậu đạt long vương",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耨達龍王) A nậu đạt, Phạm: Anavatapta, Pāli: Anotatta. Là một trong tám Long vương lớn, trú ở hồ A nậu đạt, thoát khỏi được ba cái tai nạn, trong các long vương hình ngựa, đức của long vương này là hơn hết. Cứ theo kinh Trường a hàm quyển 18 chép, thì trừ long vương A nậu đạt ra, còn tất cả các long vương ở cõi Diêm phù đề đều có ba tai nạn như sau: 1. Các rồng đều bị gió nóng, cát nóng bám vào mình, đốt cháy da thịt và xương tủy, rất là khổ não. 2. Trong các cung điện của rồng, khi cuồng phong thổi tới, thì tất cả quần áo quí báu mặc trên mình đều bay hết mà thân rồng tự hiện, rất là khổ não. 3. Trong cung điện, khi các rồng đang vui chơi, thì chim đại kim sí thường bay vào cung quấy nhiễu, cho nên các rồng thường sợ hãi, buồn rầu. Rồng A nậu đạt không bị các tai họa trên. [X. kinh Khởi thế Q.1; kinh Hoa nghiêm (bản dịch cũ) Q.2; luận Đại trí độ Q.7; Đại đường tây vực kí Q.1; Tuệ uyển âm nghĩa Q.hạ]. (xt. A Nậu Đạt Trì).",
"Search1": "a nậu đạt long vương",
"Search2": "a nau dat long vuong"
},
{
"Id": 582,
"Word": "a nậu đạt trì",
"Dict": 8,
"Mean": "3674阿耨達,梵名 Anavatapta,巴利名 Anotatta。相傳爲閻浮提四大河之發源地。又作阿耨大泉、阿那達池、阿那婆答多池、阿那婆踏池。略稱阿耨。意譯清涼池、無熱惱池。據大毘婆沙論卷十五與俱舍論卷十一所載,此池位於大雪山之北,香醉山(梵 Gandhamādana,推定爲現在之 Kailana 山)以南,稱爲無熱惱池,周圍凡八百里,以金、銀、琉璃、頗梨等四寶裝飾岸邊,其池金沙瀰漫,清波皎鏡,有龍王居之,名爲阿耨達,池中能出清冷之水。池東爲恆河(梵 Gaṅgā)出口,南爲信度河(梵 Sindhu),西爲縳芻河(梵 Vakṣa),北爲徙多河(梵 Śītā)。〔長阿含經卷十八、起世經卷一、大樓炭經卷一、善見律毘婆沙卷一、卷二、大智度論卷三、卷七、大唐西域記卷一、慧琳音義卷一、卷二十五、卷二十七、翻譯名義集卷七〕(參閱「四河」1713)",
"Search1": "a nậu đạt trì",
"Search2": "a nau dat tri"
},
{
"Id": 583,
"Word": "a nậu đạt trì",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耨達池) A nậu đạt, Phạm: Anavatapta, Pāli: Anotatta. Tương truyền là nơi phát nguyên của bốn con sông lớn ở Diêm phù đề. Còn gọi là A nậu đại tuyền, A na đạt trì, A na bà đáp đa trì, A na bà đạp trì, nói tắt là A nậu. Dịch ý là hồ mát mẻ, hồ không nhiệt não. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 15 và luận Câu xá quyển 11 chép, thì hồ này nằm về phía bắc núi Đại tuyết, phía nam núi Hương túy (Phạm: Gandhamàdana, nay là núi Kailana), gọi là hồ không nhiệt não, chu vi tám trăm dặm, bờ hồ được trang hoàng bằng bốn thứ báu là vàng, bạc, lưu li và pha lê, hồ đầy cát vàng, sóng gợn trong suốt như gương, có rồng chúa ở, tên là A nậu đạt, nước hồ trong và mát. Phía đông hồ có cửa sông Hằng (Phạm: Gagà), phía nam là sông Tín độ (Phạm: Sindhu), phía tây là sông Phọc sô (Phạm: Vakwa), phía bắc là sông Sí đa (Phạm:Zìta). [X. kinh Trường a hàm Q.18; kinh Khởi thế Q.1; kinh Đại lâu thán Q.1; Thiện kiến luật tì bà sa Q.1, Q.2; luận Đại trí độ Q.3, Q.7; Đại đường tây vực kí Q.1; Tuệ lâm âm nghĩa Q.1, Q.25, Q.27; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7]. (xt. Tứ Hà).",
"Search1": "a nậu đạt trì",
"Search2": "a nau dat tri"
},
{
"Id": 584,
"Word": "a nậu đạt trì, vô nhiệt não",
"Dict": 6,
"Mean": "Anavatapta (S)",
"Search1": "a nậu đạt trì, vô nhiệt não",
"Search2": "a nau dat tri, vo nhiet nao"
},
{
"Id": 585,
"Word": "a nậu la đà bổ la",
"Dict": 8,
"Mean": "3659梵名 Anurādhapura,巴利名同。又作阿㝹羅國城、阿㝹羅陀國。或譯作阿努拉達普拉。爲錫蘭(斯里蘭卡)古都,並爲佛教聖地。位於今中北省(North Central Province)之中央,距坎底市(Kandy)以北約一四○公里。現爲該省省會。據大史(巴 Mahāvaṃsa)十所載,西元前五四三年頃,毘舍耶王(巴 Vijaya)初建王國。歷傳至半荼迦婆耶王(巴 Paṇḍukābhaya,377 B.C.~307 B.C.)時,於此築 城,設城門、園林等,始具首府之外觀。西元前三世紀,天愛帝須王(巴 Devānaṃpiyatissa 247 B.C.~207 B.C.)登位,大興佛教。因阿育王之摩哂陀(巴 Mahinda)首次於城東之眉沙迦山(巴 Missaka-pabbata,今稱 Mihintale)爲王及諸臣說法,王即皈依三寶,此乃錫蘭佛教興隆之濫觴。又依王后阿㝹羅(巴Anulā)之願力,遣使至印度華氏城(巴 Pupphapura),請摩哂陀之妹僧伽蜜多比丘尼(巴 Saṅghamittā)來化;僧伽蜜多並授與菩提樹,王即親植於城南大眉伽林(巴 Mahāmegha-vana)中,並於此創立大寺(巴 Mahā-vihāra),此處遂成爲上座部佛教中心。其後諸王亦虔信佛法,陸續於王城附近建築寺、塔等,以供養僧眾、舍利。 自佛教初傳以來至西元八世紀末,本城向爲錫蘭首府。九世紀時,因塔米爾(Tamil)人入侵,王都遷至波羅那魯瓦(Polonnaruwa)。城乃日趨荒蕪。十五世紀初,因歐人入侵,王城再遷至坎底。直至一八七二年,始成爲中北省省會。歷代國王於阿㝹羅陀補羅修建大量寺廟與佛塔,現今尚存者有塔園(巴 Thūpārāma)、無畏山寺(巴 Abhayagiri)、楞伽寺(巴 Laṅkārāma)、蕃椒塔(Mirisaveti Dagoba)、金粉塔(Ruwanweli Dagoba)、銅殿、大菩提樹等,號稱八聖處。另有大寺、摩哂陀墓等佛教遺蹟。〔善見律毘婆沙卷二、卷三、大唐西域記卷十一、G.E. Mitton: The Lost Cities of Ceylon; W. Geiger: Mahāvaṃsa〕(參閱「錫蘭佛教」6327)",
"Search1": "a nậu la đà bổ la",
"Search2": "a nau la da bo la"
},
{
"Id": 586,
"Word": "a nậu la đà bổ la",
"Dict": 2,
"Mean": "Anuradhapura (skt)—Kinh đô cổ của nước Tích Lan, nằm về bắc đảo. Vùng nầy là thủ phủ của Tích Lan và là khởi điểm truyền bá của Phật giáo từ khi mới truyền vào cho mãi đến cuối thế kỷ thứ 8—A northern city and the old capital of Ceylon, at which tradition says Buddhism was introduced into the island until the end of the eighth century.",
"Search1": "a nậu la đà bổ la",
"Search2": "a nau la da bo la"
},
{
"Id": 587,
"Word": "a nậu la đà bổ la",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿㝹羅陀補羅) Phạm, Pāli: Anuràdhapura. Còn gọi là A nâu la quốc thành, A nâu la đà quốc. Hoặc phiên là A nỗ lạp đạt phổ lạp. Cố đô của Tích lan, đồng thời, là Thánh địa Phật giáo. Nằm ở giữa tỉnh Trung bắc (North Central Province) hiện nay, và cách Kandy về phía bắc khoảng một trăm bốn mươi cây số. Cứ theo Đại sử (Pāli: Mahàvaôsa) 10 chép, thì khoảng năm 543 trước Tây lịch, vua Tì xá da (Pāli: Vijaya) bắt đầu lập vương quốc. Trải qua thời gian, truyền đến đời vua Bán đồ ca bà da (Pāli: Paịđukàbhaya, 377 tr. T.L - 307 tr. T.L) mới xây thành ở đây, mở các cửa thành, lập các công viên, thì lúc đó bề ngoài mới có vẻ là một Thủ phủ. Thế kỉ thứ III trước Tây lịch, vua Thiên ái đế tu (Pāli: Devànaôpiyatissa, 247 tr. T.L - 207 tr. T.L) lên ngôi và mở mang Phật giáo. Nhân con của hoàng đế A dục là Ma hi đà (Pāli: Mahinda) lần đầu tiên đến núi Mi sa ca (Pāli: Missaka-pabbata, nay gọi là A Nan Vấn Sự Phật Cát Hung Kinh Mihintale) ở phía đông thành, nói pháp cho vua và quần thần nghe, nhà vua liền qui y Tam bảo: đó là đầu mối của nền Phật giáo hưng long tại Tích lan. Lại theo nguyện lực của Vương hậu A nâu la (Pāli: Anulà), nhà vua sai sứ đến thành Hoa thị (Pāli: Pupphapura), tại Ấn độ, mời em gái của Ma hi đà là Tăng già mật đa tỉ khưu ni (Pāli: Saghamittà) sang Tích lan giáo hóa. Nhân dịp này, Tăng già mật đa mang tặng vua cây Bồ đề, nhà vua bèn tự tay đem trồng trong rừng Đại mi già (Pāli: Mahàmegha-vana), đồng thời, sáng lập chùa Đại tự (Mahà vihàra) ở đây, nơi này bèn trở thành trung tâm của Phật giáo Thượng tọa bộ. Về sau, các triều vua đều sùng tín Phật pháp, lần lượt xây dựng các chùa, tháp gần vương thành để cúng dường chúng tăng và xá lợi. Từ khi Phật giáo mới du nhập cho đến cuối thế kỉ thứ VIII Tây lịch, thành này vẫn là Thủ phủ của Tích lan. Đến thế kỉ thứ IX, vì người Tháp mễ nhĩ (Tamil) xâm nhập, kinh đô phải dời đến Ba la na lỗ ngõa (Polonnaruwa). Từ đó, thành cổ A nâu la đà bổ la mỗi ngày một hoang vu. Đầu thế kỉ XV, vì người Âu xâm nhập, nên kinh đô lại được dời đến Kandy. Mãi đến năm 1872 A nâu la đà bổ la mới trở thành tỉnh lị của tỉnh Trung bắc. Trải qua các đời vua, tại A nâu la đà bổ la, một số lớn các chùa tháp đã được xây dựng và tu bổ, hiện nay còn lại có vườn tháp (Pāli: Thùpàràma), chùa núi Vô úy (Pāli: Abhayagiri), chùa Lăng già (Pāli: Lakàràma), tháp Phồn tiêu (Pāli: Mirisaveti Dagoba), tháp Vu phần (Pāli: Ruwanweli Dagoba), điện Đồng, cây Đại bồ đề v.v... gọi là Bát Thánh xứ (tám nơi Thánh). Ngoài ra, còn có các di tích chùa Đại tự, mộ Ma hi đà, v.v... [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.2, Q.3; Đại đường tây vực kí Q.11; G. E. Mitton: The Lost Cities of Ceylon; W. Geiger: Mahàvaôsa]. (xt. Tích Lan Phật Giáo).",
"Search1": "a nậu la đà bổ la",
"Search2": "a nau la da bo la"
},
{
"Id": 588,
"Word": "a nâu lâu đà",
"Dict": 6,
"Mean": "xem A na luật.",
"Search1": "a nâu lâu đà",
"Search2": "a nau lau da"
},
{
"Id": 589,
"Word": "a nâu lâu đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Aniruddha (skt)—See A Nậu Lâu Đà.",
"Search1": "a nâu lâu đà",
"Search2": "a nau lau da"
},
{
"Id": 590,
"Word": "A Nậu Lâu Đà",
"Dict": 10,
"Mean": "(s: Aniruddha, p: Anuruddha, 阿冕樓馱): còn gọi là A Na Luật (阿那律), A Nan Luật (阿難律), A Lâu Đà (阿樓陀), hay A Ni Luật Đà (阿尼律陀), A Nê Lô Đậu (阿泥盧豆); ý dịch là Vô Diệt (無滅), Vô Tham (無貪), Vô Chướng (無障), Như Ý (如意), Thiện Ý (善意), Bất Tranh Hữu Vô (不爭有無); là người em họ của Đức Phật, một trong các vị đại đệ tử của Phật. Về xuất xứ tên Vô Tham của Tôn Giả, do đời trước xa xưa đói khát, ông thường lấy thức ăn của mình cúng dường cho một vị Bích Chi Phật (辟支佛), do đó, 7 đời sanh lên cõi trời đều làm Thiên Vương; 7 đời sanh vào cõi người đều làm vua, đời đời về sau mọi cầu mong đều được như ý, và trong 91 kiếp không chịu nỗi khổ nghèo cùng, khốn khổ. Về thân thế của Tôn Giả, Khởi Thế Kinh (起世經) quyển 10, Ngũ Phần Luật (五分律) quyển 15, Chúng Hứa Ma Ha Đế Kinh (眾許摩訶帝經) quyển 2, v.v., cho biết rằng Tôn Giả là con của Hộc Phạn Vương (斛飯王). Tuy nhiên, Phật Bản Hạnh Tập Kinh (佛本行集經) quyển 11, Đại Trí Độ Luận (大智度論) quyển 3 lại cho rằng Tôn Giả là con Cam Lồ Phạn Vương (甘露飯王). Sau khi thành đạo, đức Phật trở về thăm cố hương, lúc đó A Na Luật cùng với A Nan (阿難), Nan Đà (難陀), Ưu Ba Ly (優波離), v.v., xuất gia làm đệ tử đức Phật. Tôn Giả cũng giống như A Nan và rất nhiều người trong giòng họ xuất gia theo Phật. Tôn Giả có tật vừa nghe thuyết pháp vừa ngủ gục nên một lần kia bị Đức Phật quở mắng, Ngài phát thệ nguyện từ đó trở đi, tuyệt đối không ngủ nghỉ, đến nỗi, về sau Tôn Giả bị mù cả hai mắt. Tuy nhiên, do kết quả của sự tinh tấn tu hành như vậy, Tôn Giả đã chứng được Thiên Nhãn. Tôn Giả thông cả Bát Đại Niệm (八大念, tức tám điều giác ngộ của bậc đại nhân) và Tứ Niệm Xứ (四念處, bốn phép Thiền Quán). Tôn Giả được liệt vào 10 vị đại đệ tử và được xem là người có Thiên Nhãn Đệ Nhất. Khi Đức Phật nhập diệt thì Tôn Giả đã cùng với A Nan và các đệ tử khác hầu cận một bên.",
"Search1": "a nậu lâu đà",
"Search2": "a nau lau da"
},
{
"Id": 591,
"Word": "a nậu lâu đà",
"Dict": 7,
"Mean": "Anurudha (S), Anuruddha (P)A na Luật Tôn giả, A na luật độ, A na luật, A na luật tôn giả, A nê lô đậu, A nê lâu đậuMột trong thập đại đại đệ tử. Ngài là bà con chú bác với đức Phật. Ngài cùng các ông Bạt đề, Kim tỳ La, A nan đa, Đề bà đạt đa đến gặp đức Phật xin xuất gia sau khi nghe tin đức Phật thành đạo. Ngài là một trong những đệ tử lớn tuổi nhất, được khen là Thiên nhãn đệ nhất.",
"Search1": "a nậu lâu đà",
"Search2": "a nau lau da"
},
{
"Id": 592,
"Word": "a nậu lâu đà",
"Dict": 7,
"Mean": "Aniruddha (P), Unobstructed. Anurudha (S)Tên một vị đệ tử của đức Phật. A na luậtKhông bị hủy hoại",
"Search1": "a nậu lâu đà",
"Search2": "a nau lau da"
},
{
"Id": 593,
"Word": "a nậu lâu đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Anuruddha (skt). 1) Vô Diệt: Unceasing. 2) Như Ý Vô Tham: Able to gratify every wish and without desire. 3) Một vị Tăng nổi tiếng cũng là một trong mười đệ tử lớn của Phật—A famous monk who is one of the ten distinguished disciples of the Buddha: - Là em họ của Phật Thích Ca và cũng là một trong thập đại đệ tử của Ngài—Anuruddha—A cousin of Sakyamuni and one of the Buddha's ten great disciples. - Một trong sáu hoàng tử của dòng Thích Ca, đệ nhứt thiên nhãn trong số những đệ tử A-La-Hán của Phật—One of the six princes in the Sakyamuni Buddha throne to cultivate the Way. He had the greatest vision (deva insight) among all Buddha's Arhat disciples. - Đức Phật thọ ký A Nậu Lâu Đà sau nầy sẽ thành Phật hiệu là Phổ Minh Như Lai—The Buddha predicted Anuruddha to reappear as the Buddha Samantaprabhasa. ** For more information, please see Anuruddha in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a nậu lâu đà",
"Search2": "a nau lau da"
},
{
"Id": 594,
"Word": "a nậu quan âm",
"Dict": 8,
"Mean": "3675三十三觀音之一。其像爲坐於巖上而作觀海之狀。法華經卷七普門品(大九‧五七下)︰「或漂流巨海,龍、魚、諸鬼難,念彼觀音力,波浪不能沒。」蓋以巨海、龍、魚於阿耨達池有因緣,故稱阿耨。",
"Search1": "a nậu quan âm",
"Search2": "a nau quan am"
},
{
"Id": 595,
"Word": "a nậu quan âm",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿耨觀音) Là một trong ba mươi ba hóa thân Quan âm. Tượng Ngài ngồi trên núi đá cao dốc trong dáng nhìn xuống bể. Kinh Pháp hoa quyển 7 phẩm Phổ môn (Đại 9, 57 hạ): Hoặc trôi giạt biển lớn, rồng, cá, các quỉ nạn, nhớ đến sức Quan âm, sóng nước không thể chìm. Bởi vì biển lớn, rồng, cá có nhân duyên với hồ A nậu đạt, cho nên gọi là A nậu.",
"Search1": "a nậu quan âm",
"Search2": "a nau quan am"
},
{
"Id": 596,
"Word": "a nễ chân na",
"Dict": 8,
"Mean": "3673(?~721)梵名 Maṇicinta,或 Ratnacinta。意譯寶思惟。爲唐代譯經家。北印度迦濕彌羅國之剎帝利種,自幼出家,修習禪要,受具足戒後則專習律品。師慧解超群,學兼真俗,尤擅長咒術,而以化導爲志。長壽二年(693)至洛陽,奉勅住天宮寺。未久,於天宮、佛授記、福光等寺譯出不空羂索陀羅尼經等七部九卷。天冊萬歲元年(695),參與武周刊定眾經目錄之編纂工作。其後,不再譯經,唯精勤禮誦,修諸福業,衣鉢以外之物,隨得隨施。後於龍門山建天竺寺,與門人同住。開元九年示寂,世壽一百餘。〔開元釋教錄卷九、宋高僧傳卷三〕",
"Search1": "a nễ chân na",
"Search2": "a ne chan na"
},
{
"Id": 597,
"Word": "a nễ chân na",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿你真那) (? - 721) Phạm: Maịicinta, hoặc Ratnacinta. Dịch ý là Bảo tư duy, nhà dịch kinh ở đời Đường. Sư thuộc dòng Sát đế lợi nước Ca thấp di la bắc Ấn độ, xuất gia từ nhỏ, tu tập thiền yếu, sau khi thụ giới cụ túc thì chuyên học luật phẩm, trí tuệ của sư vượt bực, kiêm học cả đời lẫn đạo, đặc biệt sở trường chú thuật và lập chí ở việc hóa đạo. Năm Trường thọ thứ 2 (693) sư đến Lạc dương, vâng mệnh nhà vua ở chùa Thiên cung. Sau đó không lâu, sư ở các chùa Thiên cung, Phật thụ kí và Phúc quang dịch kinh Bất không quyên sách đà la ni bảy bộ chín quyển. Niên hiệu Thiên sách vạn tuế năm đầu (695), sư tham gia công việc biên soạn Vũ chu san định chúng kinh mục lục. Về sau, sư không dịch kinh nữa, chỉ chuyên cần lễ tụng, tu mọi phúc nghiệp, ngoài áo bát ra, ai cho gì ăn nấy. Sau cất chùa Thiên trúc trên núi Long môn, cùng ở với học trò. Năm Khai nguyên thứ chín thì sư tịch, thọ trên một trăm tuổi. [X. Khai nguyên thích giáo lục Q.9; Tống cao tăng truyện Q.3].",
"Search1": "a nễ chân na",
"Search2": "a ne chan na"
},
{
"Id": 598,
"Word": "A-nê-lâu-đà",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-na-luật.",
"Search1": "a nê lâu đà",
"Search2": "a ne lau da"
},
{
"Id": 599,
"Word": "A-nê-lâu-đậu",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-na-luật.",
"Search1": "a nê lâu đậu",
"Search2": "a ne lau dau"
},
{
"Id": 600,
"Word": "a nê lâu đậu",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A Nậu Lâu Đà.",
"Search1": "a nê lâu đậu",
"Search2": "a ne lau dau"
},
{
"Id": 601,
"Word": "a nê lô đậu",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A Nậu Lâu Đà.",
"Search1": "a nê lô đậu",
"Search2": "a ne lo dau"
},
{
"Id": 602,
"Word": "A-nê-luật-đà",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-na-luật.",
"Search1": "a nê luật đà",
"Search2": "a ne luat da"
},
{
"Id": 603,
"Word": "a nghệ la tiên",
"Dict": 8,
"Mean": "3665阿詣羅,梵名 Aṅgiras。古印度仙人。又作鴦耆羅仙、鴦竭羅私仙、鴦祇剌四仙、應疑羅娑仙。意譯身汗液仙。七大仙之一,十大仙之一,十鉢羅闍鉢底(梵 Prajāpati)之一。不從胎生,以從汗液生而得名。中阿含卷三十八鸚鵡經、卷四十頭那經、大毘婆沙論卷四十等,均曾舉出其名。在密教中爲火天眷屬之一,安於胎藏界曼荼羅外金剛部之南。形像爲右掌側豎,食指、中指、無名指等三指彎屈,又小指稍屈而置於胸前,臂置於右膝上。左手安放於臍側,作拳狀持蓮花,花上置有胡瓶。面向右方,右膝豎立,兩腳交叉而坐。〔大孔雀咒王經卷下,大日經疏卷十六、諸說不同記卷九、胎藏界七集卷下〕",
"Search1": "a nghệ la tiên",
"Search2": "a nghe la tien"
},
{
"Id": 604,
"Word": "a nghệ la tiên",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿詣羅仙) A nghệ la, Phạm: Agiras. Người tiên tại Ấn độ cổ đại. Còn gọi là Ương kì la tiên, Ương kiệt la tư tiên, Ương kì lạt tứ tiên, Ứng nghi la sa tiên. Dịch ý là thân hãn dịch tiên (tiên mình mồ hôi). Là một trong bảy tiên lớn, một trong mười tiên lớn, một trong mười Bát la xà bát để (Phạm: Prajàpati). Không từ bào thai sinh ra, mà theo nước mồ hôi sinh ra, cho nên có tên là Thân hãn dịch. Trung a hàm quyển 38 kinh Anh vũ, quyển 40 kinh Đầu na, luận Đại tì bà sa quyển 40, đều có nói đến tên của vị tiên này. Trong Mật giáo, vị tiên này là một trong quyến thuộc của Hỏa thiên, đặt ở phía nam trên Thai tạng giới mạn đồ la Kim cương bộ ngoài. Hình tượng là tay phải dựng thẳng mà bàn tay hơi nghiêng, ngón tay trỏ, ngón giữa và ngón vô danh co lại, còn ngón út hơi co và đặt trước ngực, khủyu tay đặt lên đầu gối bên phải. Tay trái để buông trên cạnh đùi, với dáng nắm tay cầm hoa sen, trên hoa đặt một cái lọ. Mặt quay về bên phải, đầu gối bên phải dựng thẳng, hai chân tréo nhau. [X. kinh Đại khổng tước chú vương Q.hạ; Đại nhật kinh sớ Q.16; Chư thuyết bất đồng kí Q.9; Thai tạng giới thất tập Q.hạ].",
"Search1": "a nghệ la tiên",
"Search2": "a nghe la tien"
},
{
"Id": 605,
"Word": "a nghĩ ni",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem hỏa thần.",
"Search1": "a nghĩ ni",
"Search2": "a nghi ni"
},
{
"Id": 606,
"Word": "a nguỵ",
"Dict": 8,
"Mean": "3691爲一種藥品。又作阿虞、阿魏藥。產於北印度、伊朗等地之大草本植物「興渠」(梵 hiṅgu),若截斷其莖枝,斷口處即滲出汁液,待凝固後供作藥用,此藥即稱爲阿魏,可殺小蟲、除惡臭,然於人無害,類似今之樟腦。〔正宗贊卷二保寧仁勇章、玄應音義卷十九、慧琳音義卷六十八〕(參閱「興渠」6281)",
"Search1": "a nguỵ",
"Search2": "a nguy"
},
{
"Id": 607,
"Word": "a nguỵ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿魏) Là một loại dược phẩm. Còn gọi là A ngu, A ngụy dược. Là loài thực vật hưng cừ (Phạm:Higu), sinh sản ở Ấn độ và Y lãng (Iraq), nếu chặt thân cây hoặc cành thì chỗ chặt sẽ chảy nhựa, chờ sau khi nhựa khô, lấy dùng làm thuốc, thuốc ấy tức là thuốc A ngụy, có thể sát trùng, trừ mùi hôi thối, nhưng đối với người thì vô hại, giống như chất băng phiến (long não) ngày nay. [X. Chính tông tán Q.2 Bảo ninh nhân dũng chương; Huyền ứng âm nghĩa Q.19; Tuệ lâm âm nghĩa Q.68]. (xt. Hưng Cừ).",
"Search1": "a nguỵ",
"Search2": "a nguy"
},
{
"Id": 608,
"Word": "a nhã câu lân",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Kiều trần Như.",
"Search1": "a nhã câu lân",
"Search2": "a nha cau lan"
},
{
"Id": 609,
"Word": "A-nhã Kiều-trần-như",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ jđta Kauṇḍinya. Kiều-trần-như là họ của vị này, nên theo đây mà xét thì tên A-nhã là do đức Phật đặt cho sau khi vị này hiểu đạo. Chữ A-nhã được dịch sang chữ Hán là giải, dĩ tri hay liễu bổn tế, đều có nghĩa là “đã thấu rõ, đã hiểu biết”.",
"Search1": "a nhã kiều trần như",
"Search2": "a nha kieu tran nhu"
},
{
"Id": 610,
"Word": "a nhã kiều trần như",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Kiều trần Như.",
"Search1": "a nhã kiều trần như",
"Search2": "a nha kieu tran nhu"
},
{
"Id": 611,
"Word": "a nhã kiều trần như",
"Dict": 6,
"Mean": "Ajnàta-Kaundinya (S). One of the five first disciples of the Buddha.",
"Search1": "a nhã kiều trần như",
"Search2": "a nha kieu tran nhu"
},
{
"Id": 612,
"Word": "a nhã kiều trần như",
"Dict": 2,
"Mean": "Ashavajit (skt)—Người đã từng cùng tu khổ hạnh với Thái tử Sĩ Đạt Đa trước khi Ngài thành Phật. Kiều Trần Như là một trong năm đệ tử đầu tiên của Phật trong vườn Lộc Uyển—Ashavajit, one who used to practice asceticism with Prince Siddhartha before he became Buddha. He is one of the first five disciples of the Buddha in the Deer Park.",
"Search1": "a nhã kiều trần như",
"Search2": "a nha kieu tran nhu"
},
{
"Id": 613,
"Word": "A Nhất",
"Dict": 10,
"Mean": "(阿一, Aichi, ?-?): vị tăng của Chơn Ngôn Luật Tông Nhật Bản, sống vào khoảng giữa và cuối thời đại Liêm Thương (鎌倉, Kamakura), húy là A Nhất (阿一), tự Như Duyên (如緣). Ông theo Duệ Tôn (叡尊, Eison, thông xưng là Hưng Chánh Bồ Tát [興正菩薩]) ở Tây Đại Tự (西大寺, Saidai-ji) học về giới luật và Mật Giáo. Đến năm 1276, ông thọ Cụ Túc giới. Sau đó, ông đến trú tại Giáo Hưng Tự (敎興寺) vùng Hà Nội (河內, Kawachi) và bắt đầu tuyên dương giới luật. Năm 1286, ông thọ nhận lễ Quán Đãnh. Vào năm 1322, ông trước tác cuốn Hưng Chánh Bồ Tát Giảng Thức (興正菩薩講式), 1 quyển, để tán dương đức độ của Duệ Tôn.",
"Search1": "a nhất",
"Search2": "a nhat"
},
{
"Id": 614,
"Word": "a nhĩ đa",
"Dict": 8,
"Mean": "3666梵名 Ajitā。又作阿耳多。意譯無勝。爲四姊妹女天之一,文殊菩薩之眷屬。位於密教胎藏界曼荼羅文殊院童母盧之左方,阿波羅爾多之上方。種子爲???(a),三昧耶形爲棒,密號金剛。其形像爲身呈肉色,童子形,左拳叉腰,右手持獨股棒,面向左方,交腳而坐。又於理趣經曼荼羅,此尊則爲左拳抵臍,右手持蓮花,跏趺坐於荷葉。〔理趣釋卷下、理趣經祕註、諸說不同記卷五、胎藏界七集卷中〕",
"Search1": "a nhĩ đa",
"Search2": "a nhi da"
},
{
"Id": 615,
"Word": "a nhĩ đa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿爾多) Phạm:Ajità. Dịch ý là Vô thắng. Là một trong bốn chị em Nữ thiên, quyến thuộc của bồ tát Văn thù. Được đặt ở phía trái của Đồng mẫu lư, phía trên A ba la nhĩ đa, trong viện Văn thù, trên mạn đồ la Thai tạng giới, Mật giáo. Chủng tử là (a), hình tam muội da là gậy (bổng), mật hiệu là Kim cương. Thân sắc trắng, hình đồng tử, nắm tay trái chống vào cạnh sườn, tay phải cầm gậy một chẽ, mặt quay phía trái, ngồi tréo chân. Còn trong Lí thú kinh mạn đồ la, thì vị tôn này nắm tay trái đặt ở rốn, tay phải cầm hoa sen, ngồi xếp bằng trên lá sen. [X. Lí thú thích Q.hạ; Lí thú kinh bí chú; Chư thuyết bất đồng kí Q.5; Thai tạng giới thất tập Q.trung].",
"Search1": "a nhĩ đa",
"Search2": "a nhi da"
},
{
"Id": 616,
"Word": "a nhĩ quỳnh",
"Dict": 8,
"Mean": "3666(Arjan Mal, 1563~1606)又稱阿爾珠。印度錫克教第五代祖師。係一詩人。主張絕對服從祖師,並崇拜祖師爲神。創立專員(Masand,音譯馬遜德)制度,向信徒徵收稅捐。西元一五八九年至一六○一年間,於阿穆利薩(Amritsar,今印度旁遮普省之西北部)興建黃金寺(Darbar Sāhib),一說係四祖拉姆達斯(Rām Dās, 1534~1581)所建。又於一六○四年編成錫克教聖書,即「根本聖典」(Ādi Granth)。後受皇帝查罕杰猜忌而被處死。其子哈爾哥賓德爲繼承人。",
"Search1": "a nhĩ quỳnh",
"Search2": "a nhi quynh"
},
{
"Id": 617,
"Word": "a ni ca",
"Dict": 8,
"Mean": "3612(1244~?)又稱阿納噶木、阿尼訶。元代佛師。尼婆羅國人。幼敏悟,及長,善繪畫、鑄佛像。中統元年(1260),帝師八思巴命建黃金塔於吐蕃,尼婆羅選匠百人,未滿其數,阿尼哥時年十七,自請同行。翌年塔成,八思巴度之爲弟子,伴歸中國。時正補修明堂之針灸銅像,帝命其參與。至元二年(1265)新像修成,關鬲脈絡皆備,當時金工嘆其天巧,無不愧服。自此,兩京寺觀之像多出其手。卒年不詳,諡敏慧。自阿尼哥來華,中國佛像遂有漢式、梵式二種分別,梵式即阿尼哥所傳。門人劉正奉亦以塑藝馳名天下,元朝因之特設梵像提舉司,專管繪畫佛像及土木彫刻之工匠。〔元史卷二○三方伎傳、元史列傳第九十工藝傳、造像量度經(工布查布)〕",
"Search1": "a ni ca",
"Search2": "a ni ca"
},
{
"Id": 618,
"Word": "A-ni-lâu-đà",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-na-luật.",
"Search1": "a ni lâu đà",
"Search2": "a ni lau da"
},
{
"Id": 619,
"Word": "a nô ba thôn",
"Dict": 8,
"Mean": "3611梵名 Anupriyā,巴利名 Anupiyā。又作阿㝹夷土、阿奴夷、阿㝹、阿",
"Search1": "a nô ba thôn",
"Search2": "a no ba thon"
},
{
"Id": 620,
"Word": "a nô ba thôn",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿奴波村) Phạm:Anupriyà, Pāli: Anupiyà. Còn gọi là A nâu di thổ, A nô di, A nâu, A nậu phong. Nằm dọc theo bờ sông A nô ma (Pāli: Anomà), là thôn làng của chủng tộc A nô lạp. Sau khi cởi bỏ đồ trang phục trên bờ sông A nô ma, đức Thích tôn đến rừng cây Nại (Pāli: Amba-vana), thôn A nô ba ở lại bảy ngày rồi mới đến thành Vương xá (Pāli: Ràjagaha). Cứ theo Pháp cú kinh chú (Pāli: Dhammapada aỉỉhakathà) quyển 1 chép, thì sau khi đức Thích tôn thành đạo, đã về nước Ca tì la vệ, nhưng chưa bao lâu, lại dời đến ở rừng cây Nại, tại đây, bảy người đã theo Phật xuất gia, đó là; Bạt đề (Pāli: Bhaddiya), A nâu lâu đà (Pāli: Anurudha), A nan đà (Pāli: Ànanda), Bà cữu (Pāli: Bhagu), Kim tì la (Pāli: Kimbila), Đề bà đạt đa (Pāli: Devadatta) và Ưu ba li (Pāli: UPāli). [X. luật Ngũ phần Q.3, luật Tứ phần Q.4].",
"Search1": "a nô ba thôn",
"Search2": "a no ba thon"
},
{
"Id": 621,
"Word": "A-nô-luật-đà",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-na-luật.",
"Search1": "a nô luật đà",
"Search2": "a no luat da"
},
{
"Id": 622,
"Word": "a nô luật đà",
"Dict": 8,
"Mean": "3611(?~1077)又作阿那律陀。十一世紀之緬甸國王。西元一○四四年統一緬甸,建立蒲甘王朝,尊上座部佛教僧人阿羅漢長老爲國師。曾遣使赴錫蘭求經,組織學僧校勘並譯爲緬文。確立上座部佛教爲國教,於全國各地興塔造寺,創建僧團。一○七○年應錫蘭王毘舍耶婆訶一世(Vija-yabāhu I.)之請求,派僧前往協助重建僧團。",
"Search1": "a nô luật đà",
"Search2": "a no luat da"
},
{
"Id": 623,
"Word": "a nô luật đà",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿奴律陀) (? - 1077) Còn gọi là A na luật đà. Là vua nước Miến điện vào thế kỉ thứ XI. Năm 1044, thống nhất Miến điện, lập nên Vương triều Bồ cam, tôn một vị trưởng lão A la hán thuộc Thượng tọa bộ Phật giáo làm quốc sư. Từng sai sứ sang Tích lan thỉnh kinh, tổ chức các vị tăng học giả xem xét so sánh rồi dịch ra tiếng Miến điện. Xác lập Thượng tọa bộ Phật giáo làm quốc giáo, kiến tạo chùa tháp tại các nơi trên toàn quốc và thành lập giáo đoàn. Năm 1070, nhận lời thỉnh cầu của vua Tích lan là Tì xá da bà ha đệ nhất (Vija-yabàhu I), nhà vua phái chư tăng sang Tích lan để giúp việc tổ chức lại Tăng đoàn.",
"Search1": "a nô luật đà",
"Search2": "a no luat da"
},
{
"Id": 624,
"Word": "a nô ma hà",
"Dict": 8,
"Mean": "3612梵名 Anavamā,巴利名 Anomā。據經集註(巴 Suttanipāta Aṭṭhakathā)載,悉達多太子(即尚未成道的釋尊)在此河岸將裝飾物一概捨去之時,有一梵天(巴 Ghaṭikāra)奉上比丘八物。由此河到王舍城距離三十由旬,釋尊走七日即到達該城。據本生經(梵 Jātaka,巴同)之記載,迦毘羅衛國距離此河有三十由旬,當時還是太子的釋尊,一夜即到達此河岸。",
"Search1": "a nô ma hà",
"Search2": "a no ma ha"
},
{
"Id": 625,
"Word": "a nô ma hà",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿奴摩河) Phạm: Anavamà, Pāli: Anomà. Cứ theo Kinh tập chú (Pāli: Suttanipàta aỉỉhakathà) chép, thì Thái tử Tất đạt đa (tức đức Thích ca lúc chưa thành đạo), khi cởi bỏ tất cả đồ trang sức trên mình tại bờ sông này, thì có một vị Phạm thiên (Pāli: Ghaỉikàra) dâng tám vật của tỉ khưu. Từ con sông này đến thành Vương xá cách xa ba mươi do tuần, đức Thích tôn đi hết bảy ngày mới đến thành ấy. Cứ theo kinh Bản sinh (Phạm, Pāli: Jàtaka) chép, thì nước Ca tì la vệ cách con sông này ba mươi do tuần, mà Thái tử Tất đạt đa chỉ đi trong một đêm, sau khi dời cung vua, đã đến bờ sông này (vì đi ngựa, còn đến thành Vương xá là đi bộ).",
"Search1": "a nô ma hà",
"Search2": "a no ma ha"
},
{
"Id": 626,
"Word": "a noa",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A nậu.",
"Search1": "a noa",
"Search2": "a noa"
},
{
"Id": 627,
"Word": "A-nu-ra-đa-pu-ra",
"Dict": 5,
"Mean": "S, P: anurādhapura; Hán Việt: A-nô-la-đà;\r\nÐến thế kỉ thứ 10 là thủ đô của Tích Lan. Ðây cũng là trung tâm của Phật giáo với hai chùa danh tiếng là Ðại tự (p: mahāvihāra) và Vô Uý Sơn tự (p: abhayagiri-vihāra). Trong lúc truyền bá Phật pháp sang Tích Lan, con trai của A-dục vương (s: aśoka) là Ma-hi-đà (s, p: mahinda) có kế hoạch xây dựng một đạo trường tại đây. Ðạo trường này chính là Ðại tự, một trung tâm văn hoá, giáo dục quan trọng của Thượng toạ bộ (p: thera-vāda). Về mặt giáo lí thì trường phái chùa Vô Uý Sơn nghiêng về Ðại thừa Phật pháp. Khi Tích Lan dời thủ đô, thành phố A-nu-ra-đa-pu-ra đã rơi vào quên lãng. Những di tích lịch sử Phật giáo quan trọng ở đây cũng mới được nghiên cứu từ thế kỉ 19 đến nay.\r\nNơi đây, người ta có thể chiêm ngưỡng hai Bảo tháp vĩ đại là Kim Phấn (ruwanweli) và Tháp Viên (p: thūparāma). Hai Tháp này đã được xây dựng trước Công nguyên, tượng trưng cho dạng Bảo tháp nguyên thuỷ nhất trong lịch sử Phật giáo. Tương truyền cây con của cây Bồ-đề, nơi thái tử Tất-đạt-đa đắc đạo thành Phật, đã được mang đến đây trồng.\r\n",
"Search1": "a nu ra đa pu ra",
"Search2": "a nu ra da pu ra"
},
{
"Id": 628,
"Word": "a phạ lư tích đế thấp phạt la",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Quán Thế Âm Bồ tát.",
"Search1": "a phạ lư tích đế thấp phạt la",
"Search2": "a pha lu tich de thap phat la"
},
{
"Id": 629,
"Word": "a phan",
"Dict": 8,
"Mean": "3672東漢之比丘尼。洛陽人。爲我國最早受三歸依之出家尼之一。其餘事蹟不詳。據大宋僧史略卷上東夏出家條載,漢明帝(58~75 在位)允許陽城侯劉峻等出家,及洛陽婦女阿潘等出家,是爲僧、尼之始。",
"Search1": "a phan",
"Search2": "a phan"
},
{
"Id": 630,
"Word": "a phan",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿潘) Vị tỉ khưu ni đời Đông Hán. Người Lạc dương. Là vị ni xuất gia thụ ba qui y sớm nhất tại Trung quốc. Các sự tích khác về ni không được rõ. Cứ theo Đại tống tăng sử lược quyển thượng Đông hạ xuất gia điều chép, thì vua Minh đế nhà Hán (ở ngôi 58 - 75), cho phép Dương thành hầu, Lưu tuấn xuất gia và cho đàn bà Lạc dương A phan xuất gia, tăng, ni bắt đầu có từ đó.",
"Search1": "a phan",
"Search2": "a phan"
},
{
"Id": 631,
"Word": "á pháp",
"Dict": 8,
"Mean": "4415乃指不言語之修行法。又作瘂法。為外道之修行方法。佛門弟子若修此法,則同於外道,為小乘律法所禁止。四分律羯磨疏濟緣記卷二十一(卍續六四‧四九二下):「十誦云,若受瘂法偷蘭,以同外道故,(中略)僧祇中不得受不語法,若欲方便少事,不語得至半月,於布薩時應共語、問訊、問事、答事、咒願等也。過布薩已,續復如初。若憍慢瞋恚而不語者,越毘尼。若為年少欲折伏者,聽十五日不共語論,至布薩時還共語。」然大乘則不禁之。〔十誦律卷二十三、四分律卷三十七、五分律卷十九〕",
"Search1": "á pháp",
"Search2": "a phap"
},
{
"Id": 632,
"Word": "á pháp",
"Dict": 2,
"Mean": "Pháp câm điếc, không thể tuyên lưu được—The doctrine of a deaf and dumb person, which he cannot proclaim.",
"Search1": "á pháp",
"Search2": "a phap"
},
{
"Id": 633,
"Word": "á pháp",
"Dict": 1,
"Mean": "(啞法) Chỉ phương pháp tu hành cấm khẩu, là phương pháp tu hành của ngoại đạo. Nếu đệ tử của Phật mà tu hành pháp ấy thì cũng đồng như ngoại đạo, bị luật pháp Tiểu thừa cấm chỉ. Tứ Phần Luật Yết Ma Sớ Tế Duyên Kí quyển 21 (Vạn tục 64, 492 hạ), nói: Thập tụng chép: nếu thụ Á pháp thâu lan thì đồng như ngoại đạo, (...) trong Tăng Kì không được thụ pháp cấm khẩu, nếu cần có chút việc phương tiện, thì chỉ được cấm khẩu đến nửa tháng, sau đó, đến giờ bố tát, phải nói năng, thăm hỏi, hỏi việc, đáp việc, chú nguyện v.v... Xong bố tát rồi, tiếp tục nói năng. Nếu kiêu mạn giận tức mà không nói, là người phạm luật. Nếu để chiết phục sự kiêu mạn của người trẻ tuổi, thì cho phép được mười lăm ngày không cùng nói năng với người đó, nhưng đến ngày bố tát thì lại được nói. Song, Đại thừa thì không cấm. [X. luật Thập Tụng Q.23; luật Tứ phần Q.37; luật Ngũ phần Q.19].",
"Search1": "á pháp",
"Search2": "a phap"
},
{
"Id": 634,
"Word": "a phạt la thế la",
"Dict": 2,
"Mean": "Avarasailah (skt)—Trường phái Đường Tháp của những người bên Tây Sơn Tự ở nước Đà Na Yết Kiệt Ca (vùng phía nam Ấn Độ). Đây là một nhánh của trường phái Tiểu Thừa Nguyên Thủy—The school of the dwellers in the Western mountains in Dhankataka (south of India); it was a subdivision of Mahasanghika.",
"Search1": "a phạt la thế la",
"Search2": "a phat la the la"
},
{
"Id": 635,
"Word": "a phạt la thế la tăng già lam",
"Dict": 8,
"Mean": "3612梵名 Avaraśaila-saṅghārāma。意譯西山眾園。位於南印度馱那羯磔迦國。大唐西域記卷十載,馱那羯磔迦國都城城西之山有阿伐羅勢羅僧伽藍,乃馱那羯磔迦國之先王爲佛陀而創建此寺。自佛陀寂滅後之一千年內,每年皆有千名凡夫僧同入安居,解夏之日,則同證羅漢,以神通力凌虛而去。千年之後,凡聖同居。再百餘年之後,無復有僧侶。關於其確實之位置,則異說甚多。塞威爾(R. Sewell)以爲是吉斯特那河(Kistna)北岸之貝茲瓦代市(Bezwada)西方山上之鑿岩墟之遺址;費葛森(J. Fergusson)以爲是位於吉斯特那河南岸貝茲瓦代以西二十七公里之阿摩羅婆提塔(梵 Amaravati);高桑駒吉則認爲應是在阿摩羅婆提塔西方之陀羅尼科達(Dharanikota)之古城。異部宗輪論所說之西山住部即以此僧伽藍爲根據地。〔大慈恩寺三藏法師傳卷四、釋迦方志卷下、解說西域記、東南印度諸國の研究〕",
"Search1": "a phạt la thế la tăng già lam",
"Search2": "a phat la the la tang gia lam"
},
{
"Id": 636,
"Word": "a phạt la thế la tăng già lam",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿伐羅勢羅僧伽藍) Phạm: Avarazaila saghàràma. Dịch ý là Tây sơn chúng viên. Chùa ở nước Đà na yết trách ca thuộc nam Ấn độ. Đại đường tây vực kí quyển 10 chép, ở trên núi phía tây đô thành của nước Đà na yết trách ca, có chùa A phạt la thế la, do tiên vương nước Đà na yết trách ca sáng lập để cúng dường đức Phật. Trong một nghìn năm sau đức Phật nhập diệt, mỗi năm đều có một nghìn vị tăng phàm phu cùng về an cư tại chùa này, đến ngày tán hạ thì cùng chứng La hán, rồi dùng sức thần thông lướt trên hư không mà đi. Một nghìn năm sau, phàm Thánh cùng ở. Lại sau hơn một trăm năm, không có tăng lữ nữa. Về vị trí đích thực của ngôi chùa này, có rất nhiều thuyết khác nhau. R. Sewell cho đó là di chỉ của gò Tạc nham ở trên núi phía tây thị trấn Bezwada, bắc ngạn sông Kistna; J. Fergusson thì cho đó là tháp A ma la bà đề (Phạm: Amaravati), cách Bezwada hai mươi bảy cây số về phía tây, nam ngạn sông Kistna; Cao tang câu cát thì cho đó phải là ngôi cổ thành Đà la ni khoa đạt (Dharanikota) ở phía tây tháp A ma la bà đề. Tây sơn trụ bộ được nói đến trong luận Dị bộ tôn luân, đã lấy ngôi chùa này làm căn cứ địa. [X. Đại từ ân tự tam tạng pháp sư truyện Q.4; Thích ca phương chí Q.hạ; Giải thuyết tây vực kí; Đông nam Ấn độ chư quốc đích nghiên cứu].",
"Search1": "a phạt la thế la tăng già lam",
"Search2": "a phat la the la tang gia lam"
},
{
"Id": 637,
"Word": "á phất liệt hi đô",
"Dict": 8,
"Mean": "3047(Aufrecht, Theodor; 1822~1907)德國之語言學家、梵語學者。生於西利西亞(Silesia,今屬於波蘭)。一八五二年,至英國愛丁堡(Edinburgh)大學,任梵語及語言學教授。對於寫本目錄之製作及印度學之發展頗有貢獻。 其著作有:De accentu compositorum Sanskriticorum, 1847; Die umbrische Sprachdenkmäler, 2 vols., 1849~1851; Catalogicodicum Manuscriptorum Bibliothecae Bodleianae Pars Octava,Codices Sanscriticos, Oxonii, 1859~1864 等。",
"Search1": "á phất liệt hi đô",
"Search2": "a phat liet hi do"
},
{
"Id": 638,
"Word": "á phi",
"Dict": 2,
"Mean": "Afro-Asian.",
"Search1": "á phi",
"Search2": "a phi"
},
{
"Id": 639,
"Word": "a phọc la ha khư",
"Dict": 8,
"Mean": "3674悉曇字???(a)???(va)???(ra)嵔(ha)???(kha)等五字之音譯。又作阿縛羅賀迦。於密教,此五字即地、水、火、風、空等五大之種子。大日經疏卷一(大三九‧五八六中):「???阿字門爲地,??? 嚩字門爲水,???囉字門爲火,嵔訶字門爲風,???佉字門爲空。」",
"Search1": "a phọc la ha khư",
"Search2": "a phoc la ha khu"
},
{
"Id": 640,
"Word": "a phọc la ha khư",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿縛羅呵佉) Là dịch âm của năm chữ Tất đàm: (a) (va) (ra) (ha) (kha). Còn gọi là a phọc la hạ ca. Trong Mật giáo, năm chữ trên đây tức là chủng tử của năm yếu tố đất, nước, lửa, gió, không. Đại nhật kinh sớ Q.1 (Đại 39, 586 trung): Chữ a là đất, chữ phọc là nước, chữ la là lửa, chữ hạ là gió, chữ khư là không.",
"Search1": "a phọc la ha khư",
"Search2": "a phoc la ha khu"
},
{
"Id": 641,
"Word": "a phọc lô chỉ đê thấp phạt la",
"Dict": 8,
"Mean": "3674梵名 Avalokiteśvara 之音譯。又作阿婆盧吉低舍婆羅。意譯觀自在、觀世音。略稱觀音。觀照世人稱其名而垂救,故稱觀世音。〔法華經玄贊卷六、玄應音義卷五〕(參閱「觀世音菩薩」6953)",
"Search1": "a phọc lô chỉ đê thấp phạt la",
"Search2": "a phoc lo chi de thap phat la"
},
{
"Id": 642,
"Word": "a phọc lô chỉ đê thấp phạt la",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿縛盧枳低濕伐邏) Phạm:Avalokitezvara. Còn gọi là A bà lô cát đê xá bà la. Dịch ý là Quán tự tại, Quán thế âm. Nói tắt là Quán âm. Xem xét những người đời niệm danh hiệu của Ngài để cứu giúp, nên gọi là Quán thế âm. [X. Pháp hoa kinh huyền tán Q.6; Huyền ứng âm nghĩa Q.5]. (xt. Quán Thế Âm Bồ Tát).",
"Search1": "a phọc lô chỉ đê thấp phạt la",
"Search2": "a phoc lo chi de thap phat la"
},
{
"Id": 643,
"Word": "A-phù-đà-đạt-ma",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ là Adbhta-dharma, dịch nghĩa là ‘vị tằng hữu’, chưa từng có.",
"Search1": "a phù đà đạt ma",
"Search2": "a phu da dat ma"
},
{
"Id": 644,
"Word": "a phù đà đạt ma",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Hy pháp. Xem A phù đạt ma.",
"Search1": "a phù đà đạt ma",
"Search2": "a phu da dat ma"
},
{
"Id": 645,
"Word": "a phù đà đạt ma (kinh), vị tằng hữu",
"Dict": 6,
"Mean": "Adbhutadharma (S)",
"Search1": "a phù đà đạt ma (kinh), vị tằng hữu",
"Search2": "a phu da dat ma (kinh), vi tang huu"
},
{
"Id": 646,
"Word": "a phù đà đạt ma kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Kinh Vị tằng hữu pháp.",
"Search1": "a phù đà đạt ma kinh",
"Search2": "a phu da dat ma kinh"
},
{
"Id": 647,
"Word": "a phù đạt ma",
"Dict": 7,
"Mean": "Abbhūtadhamma (P), Super-atural phenomenon A phù đà đạt ma, Vị tằng hữu hi phápTên một trong 9 bộ kinh điển Phật giáo.",
"Search1": "a phù đạt ma",
"Search2": "a phu dat ma"
},
{
"Id": 648,
"Word": "a phược la ha khư",
"Dict": 2,
"Mean": "Avarahakha (skt)—Một loại chú kết hợp sức mạnh của đất, nước, lửa, gió, và hư không—A spell uniting of the powers respectively of earth, water, fire, air, and space.",
"Search1": "a phược la ha khư",
"Search2": "a phuoc la ha khu"
},
{
"Id": 649,
"Word": "a sa ca na sơn",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Mã nhĩ sơn.",
"Search1": "a sa ca na sơn",
"Search2": "a sa ca na son"
},
{
"Id": 650,
"Word": "a sa đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Asadha (skt). 1) Tháng tư của Ấn Độ, khoảng tháng sáu và tháng bảy:The fourth month of India, part of June and July—See Thập Nhị Nguyệt. 2) Chòm sao của Ấn Độ gồm sao “Ky” và sao “Đẩu.”—Asadha, an Indian constellation in Sagittarius. 3) Tên của một vị Tỳ Kheo Ấn Độ. Người ta nói ông A Sa Đà được độ bởi một vị Tỳ Kheo Ni—Name of an Indian monk. It is said he was converted by a nun.",
"Search1": "a sa đà",
"Search2": "a sa da"
},
{
"Id": 651,
"Word": "a sa đồ nguyệt",
"Dict": 8,
"Mean": "3653阿娑荼,梵名 Āṣāḍha,巴利名 Āsāḷhā。又作額沙荼月、阿沙姹月、阿沙姹麼洗月。爲印度曆法十二月中之第四月。相當於我國農曆四月十六日至五月十五日。〔大唐西域記卷二〕(參閱「曆」6227)",
"Search1": "a sa đồ nguyệt",
"Search2": "a sa do nguyet"
},
{
"Id": 652,
"Word": "a sa đồ nguyệt",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿娑荼月) A Sa đồ, Phạm:Awàđha, Pāli: Àsàơhà. Còn gọi là Ngạch sa đồ nguyệt, A sa xá nguyệt, A sa xá ma tẩy nguyệt. Là tháng thứ tư trong mười hai tháng theo lịch pháp Ấn độ. Tương đương với ngày mười sáu tháng tư đến ngày rằm tháng năm Âm lịch. [X. Đại đường tây vực kí Q.2]. (xt. Lịch).",
"Search1": "a sa đồ nguyệt",
"Search2": "a sa do nguyet"
},
{
"Id": 653,
"Word": "a sa la",
"Dict": 2,
"Mean": "Asaru or Asara (skt)—Cây thầu dầu—The castor-oil plant.",
"Search1": "a sa la",
"Search2": "a sa la"
},
{
"Id": 654,
"Word": "a sa ma",
"Dict": 8,
"Mean": "3653梵語 asama。爲佛之德號。又作阿娑麼、阿娑磨。意譯無等,乃指佛而言。因佛之果位爲任何眾生都無法與之相等者。(參閱「阿娑磨沙摩」3653)",
"Search1": "a sa ma",
"Search2": "a sa ma"
},
{
"Id": 655,
"Word": "a sa ma",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿娑摩) Phạm:Asama. Là đức hiệu của Phật. Còn gọi là A sa mạ. Dịch ý là Vô đẳng (không ngang bằng), chỉ đức Phật. Vì quả vị của Phật không một chúng sinh nào có thể sánh bằng. (xt. A Sa Ma Sa Ma).",
"Search1": "a sa ma",
"Search2": "a sa ma"
},
{
"Id": 656,
"Word": "a sa ma bổ đa",
"Dict": 2,
"Mean": "Asamapta (skt)—Không dứt—Incomplete—Unended.",
"Search1": "a sa ma bổ đa",
"Search2": "a sa ma bo da"
},
{
"Id": 657,
"Word": "a sa ma sa ma",
"Dict": 8,
"Mean": "3653梵語 asamasama。爲佛之德號。又作阿娑摩沙摩。意譯無等等。佛之煩惱淨盡,且神力廣大,非其餘眾生所能等同,故稱爲無等;佛與佛之果位平等,故稱無等等。〔大智度論卷二、十地經論卷二、瑜伽師地論卷八十二〕",
"Search1": "a sa ma sa ma",
"Search2": "a sa ma sa ma"
},
{
"Id": 658,
"Word": "a sa ma sa ma",
"Dict": 2,
"Mean": "Asamasama (skt)—Một trong những danh hiệu của Đức Phật, được định nghĩa là “Vô Đẳng Đẳng”—One of the titles of a Buddha; it is defined as “Unequalled Rank.”",
"Search1": "a sa ma sa ma",
"Search2": "a sa ma sa ma"
},
{
"Id": 659,
"Word": "a sa ma sa ma",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿娑磨沙摩) Phạm: Asamasama. Là đức hiệu của Phật. Dịch ý là Vô đẳng đẳng. Đức Phật đã sạch hết mọi phiền não và thần lực rộng lớn, không một chúng sinh nào khác có thể sánh cùng, cho nên gọi là vô đẳng. Quả vị của Phật và Phật bằng đẳng, cho nên gọi là vô đẳng đẳng. [X. luận Đại trí độ Q.2; Thập địa kinh luận Q.2; luận Du già sư địa Q.82].",
"Search1": "a sa ma sa ma",
"Search2": "a sa ma sa ma"
},
{
"Id": 660,
"Word": "a sá nhĩ tự",
"Dict": 8,
"Mean": "3611印度興地語 Akal Takht,意譯爲「無時寶座」。又稱阿卡爾旁伽(興地語 Akal Bunga)。印度錫克教寺廟之一。位於阿姆利則(今旁遮普省西北部)。原係錫克教第六代祖師哈爾哥賓德之宮殿,建於西元一六○九年,被稱爲「錫克教權威之寶座」,錫克教之重要決策皆於此議定。寺內有錫克教之重要珍寶與紀念性武器,爲錫克教徒朝拜的聖地之一。",
"Search1": "a sá nhĩ tự",
"Search2": "a sa nhi tu"
},
{
"Id": 661,
"Word": "a sa phạ",
"Dict": 2,
"Mean": "Asava (skt)—Ba phần thống nhiếp tất cả chân ngôn của Thai tạng Giới—A formula covering the three sections of the Garbhadhatu: 1) Chữ “A” của Mật giáo là Như Lai: “A” the Tathagata section. 2) Chữ “Sa” là Liên Hoa bộ: “Sa” the Lotus section. 3) Chữ “Phạ” là Kim Cang Bộ: “Va” the Diamond section.",
"Search1": "a sa phạ",
"Search2": "a sa pha"
},
{
"Id": 662,
"Word": "a sa phả na già",
"Dict": 2,
"Mean": "Asvasa-apanaka (skt)—Quán sổ tức—Contemplation by counting the breathings—See Quán Sổ Tức.",
"Search1": "a sa phả na già",
"Search2": "a sa pha na gia"
},
{
"Id": 663,
"Word": "a sa phọc",
"Dict": 8,
"Mean": "3653即悉曇字???(a)???(ṣa)???(va)。又作阿娑縛。阿娑嚩三字爲佛部等三部之通號,故以之相配於三部,即阿字爲佛部、娑字爲蓮華部、嚩字爲金剛部之種子,以此三字而統攝胎藏界之一切真言。大日經疏卷五(大三九‧六三二上):「入阿字門,一切諸法不生,是法身義;入娑字門,一切諸法無染著,是蓮花義;入嚩字門,一切諸法離言說,是金剛義。如下字輪品中,以此三字統攝百明,意在此也。」",
"Search1": "a sa phọc",
"Search2": "a sa phoc"
},
{
"Id": 664,
"Word": "a sa phọc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿娑縛) Tức là các chữ Tất đàm (a) (wa) (va). A SA PHẠ Còn gọi là A sa phọc. Ba chữ A, Sa, Phạ là hiệu chung của ba bộ, cho nên dùng để phối trí với ba bộ. Tức chữ a là chủng tử của Phật bộ, chữwa là chủng tử của Liên hoa bộ, chữ phạ là chủng tử của Kim cương bộ, dùng ba chữ này để thống nhiếp tất cả chân ngôn của Thai tạng giới. Đại nhật kinh sớ quyển 5 (Đại 39, 622 thượng): Vào cửa chữ A, hết thảy các pháp chẳng sinh, là nghĩa Pháp thân, vào cửa chữ Sa, hết thảy các pháp không nhiễm trước, là nghĩa hoa sen, vào cửa chữ Phạ, hết thảy các pháp lìa lời nói, là nghĩa kim cương. Như trong phẩm Tự luân sau đây, dùng ba chữ này thống nhiếp trăm minh (thần chú), ý ở đó vậy.",
"Search1": "a sa phọc",
"Search2": "a sa phoc"
},
{
"Id": 665,
"Word": "a sa phọc sao",
"Dict": 8,
"Mean": "3653凡二二八卷。日本天台宗僧承澄編撰。收於大日本佛教全書第三十五卷至第四十一卷及大正藏第九十四冊圖像部第九。爲台密諸流教相、事相之集大成,可媲美東密之覺禪抄。蓋阿字爲佛部、娑字爲蓮華部、縛字爲金剛部之種子,此三字即全書全部事相之象徵。",
"Search1": "a sa phọc sao",
"Search2": "a sa phoc sao"
},
{
"Id": 666,
"Word": "a sa phọc sao",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿娑縛抄) Gồm hai trăm hai mươi tám quyển. Do vị tăng thuộc tông Thiên thai Nhật bản là Thừa trừng biên soạn, thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 35 đến quyển 41, và Đại chính tạng tập 49 Đồ tượng bộ thứ 9. Là tập đại thành về giáo tướng và sự tướng của các dòng Thai mật, có thể sánh ngang với Giác thiền sao của Đông mật. Bởi vì chữ A là chủng tử của Phật bộ, chữ Wa là chủng tử của Liên hoa bộ, chữ Phạ là chủng tử của Kim cương bộ, ba chữ này tức là tượng trưng cho toàn bộ sự tướng của toàn bộ sách.",
"Search1": "a sa phọc sao",
"Search2": "a sa phoc sao"
},
{
"Id": 667,
"Word": "a sa phọc sao minh tượng đẳng lược truyện",
"Dict": 8,
"Mean": "3653凡三卷。日本天台宗僧承澄撰。收於大日本佛教全書第四十一卷。略述印度、中國、日本三國之高僧事蹟。上卷始自釋尊及迦葉、阿難、舍利弗、目犍連、優婆毱多、天親、馬鳴、龍樹、龍智、清辨、護法、竺法護、羅什、達磨、善無畏、金剛智、不空等印度高僧十八人,以及中國高僧惠思、慧遠、智顗、章安、玄奘、道宣、善導、一行、義林、玄超、惠果、順曉、道邃、行滿、義操、法潤、義真、法全等十八人。中、下二卷收錄日本高僧三十六人。本書所引用之書目,多已散軼、故其所具之佛教史料價值甚高。",
"Search1": "a sa phọc sao minh tượng đẳng lược truyện",
"Search2": "a sa phoc sao minh tuong dang luoc truyen"
},
{
"Id": 668,
"Word": "a sa phọc sao minh tượng đẳng lược truyện",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿娑縛抄明匠等略傳) Gồm ba quyển. Do vị tăng Nhật bản thuộc tông Thiên thai là Thừa trừng soạn, thu vào Đại nhật bản Phật giáo toàn thư quyển 41. Nội dung lược thuật sự tích của các bậc cao tăng tại ba nước Ấn độ, Trung quốc và Nhật bản. Quyển thượng gồm mười tám vị cao tăng Ấn độ bắt đầu từ đức Thế tôn đến các ngài Ca diếp, A nan, Xá lợi phất, Mục kiền liên, Ưu ba cúc đa, Thiên thân, Mã minh, Long thụ, Long trí, Thanh biện, Hộ pháp, Trúc pháp hộ, La thập, Đạt ma, Thiện vô úy, Kim cương trí và Bất không, rồi đến mười tám vị cao tăng Trung quốc là các sư Huệ tư, Tuệ viễn, Trí khải, Chương an, Huyền trang, Đạo tuyên, Thiện đạo, Nhất hạnh, Nghĩa lâm, Huyền siêu, Huệ quả, Thuận hiểu, Đạo thúy, Hành mãn, Nghĩa tháo, Pháp nhuận, Nghĩa chân và Pháp toàn. Hai quyển Trung và Hạ thu chép ba mươi sáu vị cao tăng Nhật bản. Các thư mục được dẫn dụng trong bộ sách này phần nhiều đã mất mát, tuy nhiên, bộ sách vẫn có giá trị rất cao về sử liệu của Phật giáo. A Súc Như Lai Niêm Tụng Cúng Dường Pháp Có một quyển. Do ngài Bất không đời Đường dịch. Còn gọi là A súc cúng dường pháp, A súc Như lai niệm tụng pháp, A súc niệm tụng nghi quĩ, A súc quĩ, thu vào Đại chính tạng tập 19. Tức là pháp khuyến thỉnh cúng dường A súc Như lai. Nội dung chỉ bày người hành giả, trước hết, vào tinh xá của Bản tôn, quay mặt phía đông, quì gối chắp tay, sám hối, tùy hỉ, khuyến thỉnh, hồi hướng, phát nguyện. Sau đó, đến trước tượng của Bản tôn, ngồi kết già hoặc bán già, tụng các chân ngôn một cách rõ ràng để cầu cho hết thảy chúng sinh được yên vui và mau chứng Vô thượng bồ đề tất địa. [X. Trinh nguyên tân định thích giáo mục lục Q.15].",
"Search1": "a sa phọc sao minh tượng đẳng lược truyện",
"Search2": "a sa phoc sao minh tuong dang luoc truyen"
},
{
"Id": 669,
"Word": "a sai mạt",
"Dict": 2,
"Mean": "Aksayamati (skt). 1) Bất Thối Chuyển: Unceasing devotion, with an unfailing mind. 2) Tên của một vị Bồ Tát: Name of a Bodhisattva.",
"Search1": "a sai mạt",
"Search2": "a sai mat"
},
{
"Id": 670,
"Word": "a sư",
"Dict": 8,
"Mean": "Tiếng thân thiết để gọi một vị tăng. A là phát ngữ từ (từ đầu). Tiết Đạo Nhất, đời thứ 2 dưới Đại Giám trong CTTNL q. 1 ghi: »師 曰:這 鈍 根 阿 師。 – [i]Sư bảo: Cái ông tăng chậm lụt này![/i]«.",
"Search1": "a sư",
"Search2": "a su"
},
{
"Id": 671,
"Word": "a sư",
"Dict": 8,
"Mean": "3654禪林用語。禪林中對和尚之親切稱呼。阿爲發語詞,如阿誰、阿娘;師指師家。臨濟錄示眾(大四七‧四九九下):「後生小阿師不會,便即信這般野狐精魅。」",
"Search1": "a sư",
"Search2": "a su"
},
{
"Id": 672,
"Word": "a sư",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿師) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Tiếng xưng hô đối với các vị hòa thượng thân thiết trong Thiền lâm. A là tiếng bắt đầu, sư chỉ sư gia (nhà thầy). Lâm tế lục thị chúng (Đại 47, 499 hạ): Hậu sinh tiểu a sư không hiểu, bèn tin sự tinh quái của con cáo già này.",
"Search1": "a sư",
"Search2": "a su"
},
{
"Id": 673,
"Word": "a súc",
"Dict": 2,
"Mean": "Aksobhya (skt)—A Súc Tỳ—A Súc Bà. (A) Một trong năm vị Phật, ngài trụ tại cõi nước A Tỷ La Đề hay Thiện Khoái Quốc ở phương đông. Trong Kinh Pháp Hoa, ngài là Bồ Tát Trí Tích, con trai của Đại Thông Trí Thắng trước khi thành Phật—One of the five Buddhas, hia realm Abhirata, Delightful, now being in the east. He represented in the Lotus Sutra as the eldest son of Mahabhijnabhibhu, and was the Jnanakara Bodhisattva before he became Buddha. (B) Bản chất của Ngài gồm—His natures include: 1) Bất Động: Unmoved. 2) Vô Động: Imperturbable. 3) Vô Nộ: Free fromanger. ** For more information, please see Aksobhya in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section and Ngũ Phật.",
"Search1": "a súc",
"Search2": "a suc"
},
{
"Id": 674,
"Word": "a súc bà phật",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Phật A súc bệ.",
"Search1": "a súc bà phật",
"Search2": "a suc ba phat"
},
{
"Id": 675,
"Word": "a súc bất động như lai",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Phật A súc bệ.",
"Search1": "a súc bất động như lai",
"Search2": "a suc bat dong nhu lai"
},
{
"Id": 676,
"Word": "a súc như lai niệm tụng cung dưỡng pháp",
"Dict": 8,
"Mean": "3667全一卷。唐朝不空譯。又稱阿閦供養法、阿閦如來念誦法、阿閦念誦儀軌、阿閦軌。收於大正藏第十九冊。即勸請供養阿閦如來之法。內容敘述行者先入本尊之精舍,面向東方,長跪合掌、懺悔、隨喜、勸請、迴向、發願,其次於本尊像前結跏趺坐,或半跏坐,爲救濟安樂一切有情,令速證無上菩提悉地,明示誦諸真言等法。〔貞元新定釋教目錄卷十五〕",
"Search1": "a súc như lai niệm tụng cung dưỡng pháp",
"Search2": "a suc nhu lai niem tung cung duong phap"
},
{
"Id": 677,
"Word": "A Súc Phật",
"Dict": 10,
"Mean": "(s: Akṣhobhya-buddha, t: Saṅs-rgyas mi-ḥkhrugs-pa, 阿閦佛): gọi tắt là A Súc (阿閦), còn gọi là A Súc Tì Phật (阿閦鞞佛), A Sô Tì Da Phật (阿芻鞞耶佛), Ác Khất Sô Tỳ Dã Phật (噁乞蒭毘也佛); ý dịch là Bất Động Phật (不動佛), Vô Động Phật (無動佛), hay Vô Nộ Phật (無怒佛), Vô Sân Nhuế Phật (無瞋恚佛); là tên gọi của một trong 5 vị Phật ở 5 phương khác nhau; vị này thường ngự ở phương Đông. Theo Phẩm Phát Ý Thọ Tuệ (發意受慧) và Thiện Khoái (善快) của A Súc Phật Quốc Kinh (阿閦佛國經, Taishō Vol. 11, No. 313) quyển Thượng, vào thời quá khứ cách hơn Phật quốc độ về phương Đông có thế giới tên gọi là A Tỷ La Đề (s: Abhirati, 阿比羅提), đức Đại Mục Như Lai (大目如來) xuất hiện trong thế giới ấy, vì các Bồ Tát thuyết về hạnh Lục Độ Vô Cực (六度無極). Khi ấy có một vị Bồ Tát nhân khi nghe pháp bèn phát tâm vô thượng chánh chân; đức Đại Mục Như Lai thấy vậy rất hoan hỷ nên ban cho hiệu là A Súc. Bồ Tát A Súc thành Phật ở thế giới A Tỷ La Đề, cho đến hiện tại vẫn còn đang thuyết pháp tại quốc độ của Ngài. Hơn nữa, lại căn cứ vào Phẩm Hóa Thành Dụ (化城喩品) của Pháp Hoa Kinh (s: Saddharma-puṇḍarīka-sūtra, 法華經, Taishō Vol. 9, No. 262) cho hay rằng khi chưa xuất gia, đức Đại Thông Trí Thắng Phật (大通智勝佛) có 16 vương tử, về sau tất cả đều xuất gia làm Sa Di; trong đó người con thứ nhất tên Trí Tích (智積), tức là A Súc, thành Phật tại nước Hoan Hỷ ở phương Đông. Bi Hoa Kinh (s: Karuṇā-puṇḍarīka-sūtra, 悲華經, Taishō Vol. 3, No. 157) quyển 4 có ghi rằng đức A Di Đà Phật (s: Amitāyus, Amitābha, 阿彌陀佛) trong thời quá khứ khi làm vua Vô Tránh Niệm (無諍念), có cả ngàn người con, trong đó người con thứ 9 tên Mật Tô (蜜蘇), tức là A Súc, thành Phật ở phương Đông, cõi nước tên là Diệu Lạc (妙樂). Mật Giáo xem A Súc Phật này là một trong 5 vị Phật của Kim Cang Giới (金剛界), tượng trưng cho Đại Viên Cảnh Trí (大圓境智), hay Kim Cang Trí (金剛智). Ngài ngự ở trung ương chánh Đông Nguyệt Luân trong Ngũ Giải Thoát Luân (五解脫輪), phía trước là Kim Cang Tát Đỏa (金剛薩埵), bên phải là Kim Cang Vương Bồ Tát (金剛王菩薩), bên trái là Kim Cang Ái Bồ Tát (金剛愛菩薩), phía sau là Kim Cang Hỷ Bồ Tát (金剛喜菩薩). Hình tượng của Ngài màu vàng kim, tay trái bắt ấn để trên bắp vế, tay phải buông xuống chạm đất, nên được gọi là A Súc Xúc Địa ấn (阿閦觸地印). Mật hiệu của Ngài là Bất Động Kim Cang (不動金剛); chủng tử là hūṃ. Chơn ngôn là “án ác khất sô tỳ dã hồng (唵噁乞蒭毘也吽).” Thân Ngài màu xanh, như trong Phật Mẫu Khổng Tước Tôn Kinh Khoa Thức (佛母孔雀尊經科式, 卍 Tục Tạng Kinh Vol. 74, No. 1479) có đoạn rằng: “Phụng thỉnh Đông phương A Súc Phật, kỳ thân thanh sắc phóng quang minh, thủ ấn chấp trì Hàng Ma Chử, chúng đẳng chí tâm quy mạng lễ (奉請東方阿閦佛、其身青色放光明、手印執持降魔杵、眾等志心歸命禮, cung thỉnh Đông phương A Súc Phật, thân Ngài sắc xanh phóng hào quang, tay ấn cầm giữ Chày Hàng Ma, chúng con chí tâm cung kính lễ).” Trong Diệu Cát Tường Bình Đẳng Bí Mật Tối Thượng Quán Môn Đại Giáo Vương Kinh (妙吉祥平等祕密最上觀門大敎王經, Taishō Vol. 20, No. 1192) quyển 4 lại dạy thêm rằng: “Cầu trường thọ thư A Súc Phật Chủng Trí tự (求長壽書阿閦佛種智字, nếu cầu sống lâu thì viết chữ Chủng Trí của A Súc Phật).” Trong Kim Cang Đảnh Du Già Tam Thập Thất Tôn Lễ (金剛頂瑜伽三十七尊禮, Taishō Vol. 18, No. 879) có đảnh lễ danh hiệu của Ngài: “Nam Mộ Kim Cang Kiên Cố Tự Tánh Thân A Súc Phật (南慕金剛堅固自性身阿閦佛, Kính Lễ Phật A Súc Thân Tự Tánh Kiên Cố Như Kim Cang).”",
"Search1": "a súc phật",
"Search2": "a suc phat"
},
{
"Id": 678,
"Word": "A-súc Phật",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 閦 佛; S: akṣobhya, là tên dịch âm Hán Việt, dịch nghĩa là Bất Ðộng Phật 不 動 佛.\r\nBất Ðộng Phật.\r\n",
"Search1": "a súc phật",
"Search2": "a suc phat"
},
{
"Id": 679,
"Word": "a súc phật",
"Dict": 8,
"Mean": "3668請參閱 阿閦如來念誦供養法 梵名 Akṣ obhya-buddha,西藏名 Saṅs-rgyas mi-ḥkhrugs-pa。爲東方現在佛名。略稱阿閦。又稱阿閦鞞佛、阿芻鞞耶佛、噁乞蒭毘也佛。意譯不動佛、無動佛,或無怒佛、無瞋恚佛。依據阿閦佛國經卷上發意受慧品與善快品所載,過去東方去此千佛剎,有阿比羅提世界(梵 Abhirati),大目如來出現其中,爲諸菩薩說六度無極之行,其時有一菩薩,於聞法後發無上正真道意,發願斷瞋恚、斷淫欲,乃至成最正覺,大目如來歡喜而賜號阿閦。阿閦菩薩逐於東方阿比羅提世界成佛,現今仍於彼土說法。又據法華經卷三化城喻品載,大通智勝佛未出家時有十六王子,後皆出家而爲沙彌,其第一子名爲智積,即阿閦,於東方歡喜國成佛。悲華經卷四載,阿彌陀佛於過去世爲無諍念王時有千子,其第九子蜜蘇即阿閦,在東方成佛,國號妙樂。 密教以此佛爲金剛界五佛之一,象徵大圓鏡智。位於五解脫輪中之正東月輪中央,前方爲金剛薩埵,右方金剛王菩薩,左方金剛愛菩薩,後方金剛喜菩薩。形像爲黃金色,左手作拳安於臍前,垂右手觸地,即所謂阿閦觸地印。密號爲不動金剛。種子爲???(hūṃ)。三昧耶形爲五股杵。真言爲「唵噁乞蒭毘也吽」。〔大寶積經不動如來會、道行般若經卷六、卷九、首楞嚴三昧經卷上、維摩經卷下、淨土與禪(印順,妙雲集下編(4))〕",
"Search1": "a súc phật",
"Search2": "a suc phat"
},
{
"Id": 680,
"Word": "a súc phật",
"Dict": 6,
"Mean": "Aksobhya-buddha (S). Bất động Phật Imperturbable Buddha.",
"Search1": "a súc phật",
"Search2": "a suc phat"
},
{
"Id": 681,
"Word": "a súc phật",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿閦佛) Phạm: Akwobhya buddha. Tạng: Sas- rgyas-mi-#krugs pa. Là tên đức Phật hiện tại ở phương đông. Gọi tắt là A súc. Còn gọi là A súc bệ Phật, A sô tì da Phật, Á khất sô tì dã Phật. Dịch ý là Bất động Phật, Vô động Phật, hoặc là Vô nộ Phật, Vô sân huệ Phật. Cứ theo kinh A súc phật quốc quyển thượng phẩm Phát ý thụ tuệ và phẩm Thiện khoái chép, thì ở quá khứ, cách đây một nghìn cõi Phật về phương đông, có thế giới A tì la đề (Phạm: Abhirati), trong đó, có đức Đại mục Như lai xuất hiện, Ngài vì các Bồ tát mà nói pháp tu hành sáu độ cao tột. Lúc bấy giờ, có một vị Bồ tát, sau khi nghe pháp, phát tâm đạo vô thượng chính chân, nguyện dứt sân hận, đoạn dâm dục, cho đến thành đại chính giác, Đại mục Như lai vui mừng và ban hiệu là A súc. Bồ tát A súc liền thành Phật trong thế giới A tì la đề ở phương đông, và hiện nay vẫn đang thuyết pháp ở cõi đó. Lại cứ theo kinh Pháp hoa quyển 3 phẩm Hóa thành dụ chép, thì đức Phật Đại thông trí thắng, khi chưa xuất gia, có mười sáu vương tử, sau đều xuất gia làmsa di, người con thứ nhất tên là Trí tích, tức là A súc, thành Phật tại nước Hoan hỉ ở phương đông. Kinh Bi hoa quyển 4 chép, Phật A di đà ở đời quá khứ là vua Vô tránh niệm, có một nghìn người con, người con thứ chín là Mật tô, tức A súc, thành Phật tại phương đông, tên nước là Diệu lạc. Mật giáo lấy đức Phật này làm một trong năm vị Phật ở Kim cương giới, tượng trưng cho Đại viên kính trí. Ngài được tôn trí ở giữa nguyệt luân chính đông, trong năm luân giải thoát, phía trước là Kim cương tát đỏa, phía phải là Kim cương vương bồ tát, phía trái là Kim cương ái bồ tát, phía sau là Kim cương hỉ bồ tát. Hình tượng màu vàng ròng, tay trái nắm lại đặt ở trước rốn, tay phải thõng xuống chạm đất, tức là A súc xúc địa ấn (Ấn A súc chạm đất). Mật hiệu là Bất động kim cương. Chủng tử là (Hùô). Hình tam muội da là chày năm chẽ. Chân ngôn là Án á khất sô tì dã hồng. [X. kinh Đại bảo tích hội bất động Như lai; kinh Đạo hành bát nhã Q.6, Q.9; kinh Thủ lăng nghiêm tam muội Q.thượng; kinh Duy ma Q.hạ; Tịnh độ dữ Thiền (Ấn thuận, Diệu vân tập hạ biên 4)].",
"Search1": "a súc phật",
"Search2": "a suc phat"
},
{
"Id": 682,
"Word": "a súc phật quốc kinh",
"Dict": 8,
"Mean": "3668梵名 Akṣobhya-tathāgatasya-vyūha。凡二卷。後漢支婁迦讖譯。略稱阿閦經。收於大正藏第十一冊。敘述阿閦菩薩於過去因地時,在大目如來會座聽聞六度無極之法,乃立大誓願,行無瞋恚、無覺意、無淫欲等,經多劫修行後,遂於七寶樹下成道,今住東方妙喜世界。並勸讚欲生此一東方淨土者,當行六度及發願。 此經凡有三譯,初譯即阿閦佛國經。第二譯爲東晉支道根所出,題爲阿閦佛剎諸菩薩學成品經(二卷,闕本)。第三譯爲唐代菩提流志所譯大寶積經不動如來會二卷。此經爲現存淨土諸經中最古者,與大般若經、維摩經等有密切之關係,或爲大阿彌陀經等之先驅。〔出三藏記集卷二、開元釋教錄卷一、卷三、卷九〕",
"Search1": "a súc phật quốc kinh",
"Search2": "a suc phat quoc kinh"
},
{
"Id": 683,
"Word": "a súc phật quốc kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Akṣobhya-tathāgatasya-vyūha sūtra (S)Kinh A súc, Kinh A súcPhật quốc Sát Chư Bồ tát Học Thành Phẩm, Kinh Đại bảo tích Bất động Như lai Hội.Tên một cõi giới.",
"Search1": "a súc phật quốc kinh",
"Search2": "a suc phat quoc kinh"
},
{
"Id": 684,
"Word": "a súc phật quốc kinh",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿閦佛國經) Phạm: Akwobhya - tathàgatasya - vyùha. Gồm hai quyển. Do ngài Chi lâu ca sấm đời Hậu Hán dịch. Gọi tắt là A súc kinh, thu vào Đại chính tạng tập 11. Nội dung trình bày việc bồ tát A súc, lúc còn ở Nhân địa..... đời quá khứ, tại pháp hội của Đại mục Như lai, được nghe pháp lục độ vô cực, bèn lập thệ nguyện lớn, tu hạnh không tức giận, không dâm dục, trải qua nhiều kiếp tu hành, sau thành đạo dưới cây thất bảo, nay ở thế giới Diệu hỉ phương đông. Đồng thời, khuyên những ai muốn sinh về cõi Tịnh độ phương đông thì phải tu hành sáu độ và phát nguyện. Bộ kinh này có ba bản dịch, bản dịch đầu là A súc Phật quốc kinh. Bản thứ hai do ngài Chi đạo căn đời Đông Tấn dịch, đề là A súc Phật sát chư bồ tát học thành phẩm kinh (2 quyển, khuyết bản). Bản thứ ba do ngài Bồ đề lưu chi đời Đường dịch từ Đại bảo tích kinh Bất động Như lai hội 2 quyển. Kinh này là kinh xưa nhất trong các kinh Tịnh độ hiện còn, cùng với kinh Đại bát nhã, kinh Duy ma, có quan hệ mật thiết hoặc là tiên khu của kinh Đại A di đà. [X. Xuất tam tạng kí tập Q.2; Khai nguyên thích giáo lục Q.1, Q.3, Q.9].",
"Search1": "a súc phật quốc kinh",
"Search2": "a suc phat quoc kinh"
},
{
"Id": 685,
"Word": "a tăng",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Vô trước Bồ tát.",
"Search1": "a tăng",
"Search2": "a tang"
},
{
"Id": 686,
"Word": "a tăng gia",
"Dict": 6,
"Mean": "sanga, Aryàsanga (S). Vô trước, unattached, free; lived probably the fourth century A.D. said to be the eldest brother of Thiên Thân Vasubhandu, whom he converted to Mahàyàna. He was first a follower of the Mahìsàsaka school, but founded the Yogàcàrya, or Tantric school with his Yogà-càrabhùmi-sàstra Du già sư địa luận, which in the Tam Tạng Truyện is said to have been dictated to him by Maitreya in the Tusita heaven, alomg with the Trang nghiêm đại thừa luận and Trung biên phân biệt luận.",
"Search1": "a tăng gia",
"Search2": "a tang gia"
},
{
"Id": 687,
"Word": "a tăng già",
"Dict": 2,
"Mean": "Asanga (skt)—See Vô Trước.",
"Search1": "a tăng già",
"Search2": "a tang gia"
},
{
"Id": 688,
"Word": "a tăng khư",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Vô trước Bồ tát.",
"Search1": "a tăng khư",
"Search2": "a tang khu"
},
{
"Id": 689,
"Word": "a tăng kì",
"Dict": 8,
"Mean": "3666梵語 asaṃkhya 之音譯。爲印度數目之一,無量數或極大數之意。又作阿僧伽、阿僧企耶、阿僧、僧衹。意譯不可算計,或無量數、無央數。據稱一阿僧祇有一千萬萬萬萬萬萬萬萬兆(萬萬爲億,萬億爲兆),於印度六十種數目單位中,阿僧衹爲第五十二數。據大毘婆沙論卷一七七載,有三種阿僧企耶,即:(一)劫阿僧企耶,以大劫爲一,積至洛叉俱胝,輾轉乃至過婆揭羅數。(二)生阿僧企耶,指一一劫經無數生。(三)妙行阿僧企耶,於一一劫修無數妙行。由此三種阿僧企耶證無上覺。〔新華嚴經卷四十五阿僧祇品、俱舍論卷十二分別世間品、大智度論卷四〕(參閱「五十二數」1046)",
"Search1": "a tăng kì",
"Search2": "a tang ki"
},
{
"Id": 690,
"Word": "a tăng kì",
"Dict": 6,
"Mean": "Asankhya, Asankhyeya (S). Innumerable, countless.",
"Search1": "a tăng kì",
"Search2": "a tang ki"
},
{
"Id": 691,
"Word": "a tăng kì",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿僧祇) Phạm:Asaôkhya. Là một trong những số mục của Ấn độ, hàm ý là số vô lượng, hoặc là số cực lớn. Còn gọi là A tăng già, A tăng xí da, A tăng, Tăng kì. Dịch ý là không thể tính đếm, hoặc là vô lượng số, vô ương số. Cứ gọi một A tăng kì thì có một nghìn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn vạn triệu (vạn vạn là ức, vạn ức là triệu), trong sáu mươi loại đơn vị số mục của Ấn độ, A tăng kì là số thứ 52. Cứ theo luận Đại tì bà sa quyển 177 chép, thì có ba loại A tăng xí da, tức là: 1. Kiếp a tăng xí da, lấy đại kiếp làm một, tích chứa đến Lạc xoa câu chi, dần dà cho đến quá số Bà yết la. 2. Sinh a tăng xí da, chỉ mỗi mỗi kiếp trải vô số đời. 3. Diệu hành a tăng xí da, trong mỗi mỗi kiếp tu vô số diệu hạnh. Do ba loại a tăng xí da ấy mà chứng Vô thượng giác. [X. kinh Hoa nghiêm (bản dịch mới) Q.45 phẩm A tăng kì; luận Câu xá Q.12 phẩm Phân biệt thế gian; luận Đại trí độ Q.4]. (xt. Ngũ Thập Nhị Số).",
"Search1": "a tăng kì",
"Search2": "a tang ki"
},
{
"Id": 692,
"Word": "a tăng kỳ",
"Dict": 7,
"Mean": "Asankhya (S). Asaṃkhyā (S), Innumberable. Aeon Một khoảng thời gian dài không đếm được",
"Search1": "a tăng kỳ",
"Search2": "a tang ky"
},
{
"Id": 693,
"Word": "a tăng kỳ",
"Dict": 2,
"Mean": "Asankhya (skt)—Vô lượng—Vô số kể—Có 47 con số “không” theo sau số “một” làm thành một A Tăng Kỳ—Innumerable—Countless—There are 47 number “zero” after number “1” to make one asankhya.",
"Search1": "a tăng kỳ",
"Search2": "a tang ky"
},
{
"Id": 694,
"Word": "a tăng kỳ kiếp",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem a tăng kỳ.",
"Search1": "a tăng kỳ kiếp",
"Search2": "a tang ky kiep"
},
{
"Id": 695,
"Word": "a tăng kỳ kiếp",
"Dict": 4,
"Mean": "Là số thời gian lâu vô lượng.",
"Search1": "a tăng kỳ kiếp",
"Search2": "a tang ky kiep"
},
{
"Id": 696,
"Word": "a tăng kỳ kiếp",
"Dict": 2,
"Mean": "Vô lượng kiếp—Asankhyeya kalpas (skt)—Countless eons.",
"Search1": "a tăng kỳ kiếp",
"Search2": "a tang ky kiep"
},
{
"Id": 697,
"Word": "a tăng kỳ sinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Asaṁkhyeya (P).",
"Search1": "a tăng kỳ sinh",
"Search2": "a tang ky sinh"
},
{
"Id": 698,
"Word": "a tha bà phệ đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Atharvaveda or Atharvana (skt)—A Đạt Ba Tỳ Đà—A Thát Ba Đà—Kinh Vệ Đà thứ tư. Kinh nầy nói về thuật chú loại bỏ tai ương (đây là giáo điển của Bà La Môn ghi chép chú văn của việc tế tự và phép cầu đảo để tránh ác quỷ hay tai họa)—The fourth Veda, dealing with sorcery or magic.",
"Search1": "a tha bà phệ đà",
"Search2": "a tha ba phe da"
},
{
"Id": 699,
"Word": "á thánh",
"Dict": 2,
"Mean": "Bậc Thánh hàng thứ hai—Saint of second degree.",
"Search1": "á thánh",
"Search2": "a thanh"
},
{
"Id": 700,
"Word": "a thấp ba",
"Dict": 8,
"Mean": "3686梵名 Aśvinau。意譯雙馬童。爲日天(梵 Sūrya)與天女所化牝馬阿濕毘膩(梵 Aśvinī)所生之雙生子。據佛所行讚卷二入苦行林品載,釋尊將入仙人處時,諸梵志見其端嚴相,八婆藪天、二阿濕波,乃至日月天子等皆驚喜相告。於印度神話中,阿濕波乃擬人化之曙光,或駕馬,或駕鳥,乘金色車,而爲黎明神(梵 Uṣas)之前驅。 阿濕波兄弟年輕俊美,聰明靈巧,頭戴蓮花冠,每日黎明時出現,駕車駛過天空。二者之形像有時作一對並肩相連之小馬,頭爲兩顆明亮之星。能救苦救難,尤善治病,使盲人復明、殘廢復全;又能使沈船獲救、婦女生子、老女得夫等。於梨俱吠陀中,對阿濕波之歌誦有五十餘首。〔The Buddha-carita of Aśvaghosha(S.B.F., vol. XLIX); V. Fausböll: Indian Mythology〕",
"Search1": "a thấp ba",
"Search2": "a thap ba"
},
{
"Id": 701,
"Word": "a thấp ba",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿濕波) Phạm:Azvinau. Dịch ý là song mã đồng . Là con sinh đôi do Nhật thiên (Phạm:Sùrya) và Thiên nữ hóa ra ngựa cái A thấp tì ni (Phạm:Azvinì) sinh ra. Cứ theo Phật sở hành tán quyển 2 phẩm Nhập khổ hạnh lâm chép, thì khi đức Thích tôn sắp vào chỗ người tiên, các Phạm chí thấy hình tưóng của Ngài đẹp đẽ trang nghiêm, tám Bà tẩu thiên, hai Ba thấp ba, cho đến Nhật nguyệt thiên tử đều ngạc nhiên và vui mừng. Trong thần thoại Ấn độ, Ba thấp ba là ánh sáng rạng đông được nhân cách hóa, hoặc cưỡi ngựa, hoặc ngồi trên lưng chim, ngồi xe sắc vàng, là tiền khu của thần Lê minh (Phạm: Uwas). Anh em Ba thấp ba tuổi trẻ đẹp trai, thông minh linh lợi, đầu đội mũ hoa sen, mỗi ngày, lúc mờ mờ sáng, cưỡi ngựa lướt qua thiên không. Hình tượng của cả hai, có khi là một đôi ngựa con, đứng song song bằng vai nhau, đầu là hai ngôi sao sáng rực. Có thể cứu khổ cứu nạn, đặc biệt trị bệnh giỏi; khiến người mù lấy lại được ánh sáng, người tàn tật được lành lặn trở lại. Cũng có khả năng khiến người đắm thuyền được cứu sống, đàn bà sinh con, con gái lỡ thì lấy được chồng v.v... Trong Lê câu phệ đà, có hơn năm mươi bài thơ ca tụng Ba thấp ba [X. The Buddha - Carita of Azvaghosha (S.B.F., Vol. XLIX; V. Fausbôll: Indian Mythology].",
"Search1": "a thấp ba",
"Search2": "a thap ba"
},
{
"Id": 702,
"Word": "a thấp bà",
"Dict": 2,
"Mean": "Asva (skt)—Con ngựa—A horse.",
"Search1": "a thấp bà",
"Search2": "a thap ba"
},
{
"Id": 703,
"Word": "a thấp bà củ sa",
"Dict": 2,
"Mean": "Asvaghosa (skt)—Mã Minh Bồ Tát—Asvaghosa Bodhisattva.",
"Search1": "a thấp bà củ sa",
"Search2": "a thap ba cu sa"
},
{
"Id": 704,
"Word": "a thấp bà mê đà",
"Dict": 2,
"Mean": "Asvamedha (skt)—Tục lệ tế ngựa cổ truyền của Hoàng Gia Ấn Độ—The ancient Indian royal horse-sacrifice.",
"Search1": "a thấp bà mê đà",
"Search2": "a thap ba me da"
},
{
"Id": 705,
"Word": "a thấp ba quốc",
"Dict": 8,
"Mean": "3686梵名 Aśmakā, Aśvakā,巴利名 Assakā。又作頗漯波國、阿攝具國、阿濕摩伽國。爲佛世時印度十六大國之一,南印度案達羅國(梵 Andhara)之一部分。位於瞿陀河(梵 Godāvarī,巴 Godhāvarī)沿岸,都城爲補怛洛迦(梵 Potalaka, Potala,巴 Potali, Potana)。由南傳巴利文長部十九大典尊經(Mahāgovinda-suttanta)所說七王之一的梵豫王(Brahmadatta)統治此國。在本生經(巴 Jātaka)五,以阿濕波國與阿槃提國之關係比擬鴦伽國與摩揭陀國之關係,因此推測阿濕波爲阿槃提之屬國。 又依經集註(巴 Suttanipāta Aṭṭhakathā)所說,博學之婆羅門波婆梨(巴 Bāvarī)出身此國,居於迦比達園林(巴 Kapiṭṭavana),聞釋尊名聲,派十六位上首弟子往釋尊所求法。彼等到達釋尊處即各各發問,釋尊則一一解答,問答內容即經集第五章彼岸道品(巴 Pārāyana-vagga)。其後彼等皆成爲釋尊之弟子。〔中阿含卷五十五持齋經、長阿含卷五闍尼沙經、四分律卷三十九、五分律卷二十一〕",
"Search1": "a thấp ba quốc",
"Search2": "a thap ba quoc"
},
{
"Id": 706,
"Word": "a thấp ba quốc",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿濕波國) Phạm: Azmakà, azvakà, Pāli: Assakà. Còn gọi là Phả tháp ba quốc, A nhiếp cụ quốc, A thấp ma già quốc. Là một trong mười sáu nước lớn tại Ấn độ thời đức Phật, là một phần của nước Án đạt la (Phạm: Andhara) thuộc nam Ấn độ. Nằm dọc theo bờ sông Cù đà (Phạm:Godàvarì, Pāli: Godhàvarì), đô thành là Bổ đát lạc ca (Phạm:Potalaka, Potala, Pāli: Potali, Potana). Nước này được cai trị bởi vua Phạm dự (Phạm:Brahmadatta), là một trong bảy vì vua được nói đến trong kinh Đại điển tôn (Mahàgovinda-suttanta) trong Trường bộ 19 văn Pāli Nam truyền. Trong kinh Bản sinh (Pāli: Jàtaka) 5, đem so sánh mối quan hệ giữa nước Ba thấp ba và nước A bàn đề với mối quan hệ giữa nước Ương già và nước Ma yết đà, suy đó thì biết, Ba thấp ba phụ thuộc nước A bàn đề. Lại theo Kinh tập chú (Pāli: Suttanipàta Aỉỉhakathànói, thì nhà bác học Bà la môn tên là Ba-bà-lê (Pāli: Bàvarì) đã xuất thân từ nước này, đang ở tại rừng Ca tỉ đạt (Pāli: Kapiỉỉavana), nghe thanh danh của đức Thế tôn, bèn sai muời sáu người đệ tử hàng đầu đến cầu pháp đức Thế tôn. Sau khi đến nơi, họ liền đặt các câu hỏi và đều được đức Thế tôn giải đáp; nội dung cuộc vấn đáp ấy tức là kinh Tập chương 5, phẩm Bỉ ngạn đạo (Pāli: Pàràyana - vagga). Sau họ đều trở thành đệ tử của đức Thế tôn. [X. Trung a hàm Q.55 kinh Trì trai; Trường a hàm Q.5 kinh Xà ni sa; luật Tứ phần Q.39; luật Ngũ phần Q.21].",
"Search1": "a thấp ba quốc",
"Search2": "a thap ba quoc"
},
{
"Id": 707,
"Word": "a thấp ma",
"Dict": 2,
"Mean": "Asman (skt)—Hòn sỏi, cục đá—A stone—A rock.",
"Search1": "a thấp ma",
"Search2": "a thap ma"
},
{
"Id": 708,
"Word": "a thấp ma yết bà",
"Dict": 2,
"Mean": "Asmagarbha (skt). 1) Ngọc Bích: Emerald. 2) Mã Não: Agate.",
"Search1": "a thấp ma yết bà",
"Search2": "a thap ma yet ba"
},
{
"Id": 709,
"Word": "a thấp phạ du nhã",
"Dict": 2,
"Mean": "Asvayuja (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (7).",
"Search1": "a thấp phạ du nhã",
"Search2": "a thap pha du nha"
},
{
"Id": 710,
"Word": "a thấp phạ phạt đa",
"Dict": 2,
"Mean": "Asvajit (skt)—A Thấp Bà Thị Đa—A Thuyết Thị—A Thấp Bà Thị. 1) Đoạt được ngựa trong cuộc tranh tài: Gaining horses by conquest. 2) Bồ Tát Mã Thắng là thầy của ngài Xá Lợi Phất, cũng là một trong năm vị Tỳ Kheo có cùng huyết tộc với Đức Phật: Name of one of the first five disciples and relative of Sakyamuni; teacher of Sariputra.",
"Search1": "a thấp phạ phạt đa",
"Search2": "a thap pha phat da"
},
{
"Id": 711,
"Word": "a thấp phọc dữu xà",
"Dict": 8,
"Mean": "3686梵名 Aśvayuja,巴利名 Assayuja。印度曆法十二月中之第七月。又作阿濕嚩喻若麼洗、阿濕婆廋闍。相當於我國農曆七月十六日至八月十五日。〔十二緣生祥瑞經、大唐西域記卷二、翻譯名義集卷二〕(參閱「曆」6227)",
"Search1": "a thấp phọc dữu xà",
"Search2": "a thap phoc duu xa"
},
{
"Id": 712,
"Word": "a thấp phọc dữu xà",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿濕縛庾闍) Phạm:Azvayuja, Pāli: Assayuja. Là tháng thứ bảy trong mười hai tháng theo lịch pháp Ấn độ. Còn gọi là A thấp phạ dụ nhã mạ tẩy, Ba thấp bà dữu xà. Tương đương từ ngày mười sáutháng bảy đến ngày rằm tháng tám Âm lịch. [X. kinh Thập nhị nhân duyên tường thụy; Đại đường tây vực kí Q.2; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.2]. (xt. Lịch).",
"Search1": "a thấp phọc dữu xà",
"Search2": "a thap phoc duu xa"
},
{
"Id": 713,
"Word": "a thấp phược thị",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A Thuyết Thị.",
"Search1": "a thấp phược thị",
"Search2": "a thap phuoc thi"
},
{
"Id": 714,
"Word": "a thát bà phệ đà",
"Dict": 8,
"Mean": "3698梵名 Atharva-veda。吠陀本集之一。爲巫術、咒語之匯集。計收讚歌七百三十一首,其中約六分之一爲梨俱吠陀中已出現者。主要爲祈福禳災之咒法與巫術,然亦包含若干哲學與科學之思想。「阿闥婆」(梵 Atharva)或係傳授此種吠陀的婆羅門家族之名字,一般認爲該書成書年代較其他吠陀本集爲遲。(參閱「吠陀」2820)",
"Search1": "a thát bà phệ đà",
"Search2": "a that ba phe da"
},
{
"Id": 715,
"Word": "a thát bà phệ đà",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿闥婆吠陀) Phạm: Atharva-veda. Một trong các tập chính của sách Phệ đà. Là tập đồng cốt và chú thuật. Có bảy trăm ba mươi mốt bài ca tán, trong đó, khoảng một phần sáu đã thấy xuất hiện trong kinh Lê câu phệ đà. Chủ yếu là đồng cốt và chú thuật cầu phúc trừ tai, nhưng cũng bao hàm một ít tư tưởng triết học và khoa học. A thát bà (Phạm: Atharva) có thể là tên chữ của gia tộc Bà la môn trao truyền loại Phệ đà này. Thông thường, người ta cho niên đại hoàn thành sách này, so với các tập chính khác của Phệ đà, có muộn hơn. (xt. Phệ Đà).",
"Search1": "a thát bà phệ đà",
"Search2": "a that ba phe da"
},
{
"Id": 716,
"Word": "a thát bà phệ đà kinh",
"Dict": 7,
"Mean": "Atharva-veda (S)Tên một bộ kinh. Vệ đà phái.",
"Search1": "a thát bà phệ đà kinh",
"Search2": "a that ba phe da kinh"
},
{
"Id": 717,
"Word": "a thát vệ đà",
"Dict": 6,
"Mean": "Atharva-Veda (S). The fourth Veda, dealing with sorcery or magic.",
"Search1": "a thát vệ đà",
"Search2": "a that ve da"
},
{
"Id": 718,
"Word": "a thâu kha",
"Dict": 2,
"Mean": "Em trai vua A Dục. Người ta nói Ma Thâu Kha lên ngôi được bảy ngày thì nhường ngôi cho vua A Dục—Younger brother of Asoka. He is said to have reigned for seven days and then resigned to Asoka.",
"Search1": "a thâu kha",
"Search2": "a thau kha"
},
{
"Id": 719,
"Word": "a thế da",
"Dict": 8,
"Mean": "3611梵語 āśaya。意譯意樂。又作阿奢也。指喜好貪欲之意念。顯揚聖教論卷三舉出貪阿世耶、瞋阿世耶、癡阿世耶、等分阿世耶等。又俱舍論卷十四立善阿世耶與不善阿世耶之別。此外,亦有將阿世耶譯爲種子者。〔俱舍論光記卷十四、玄應音義卷二十三〕",
"Search1": "a thế da",
"Search2": "a the da"
},
{
"Id": 720,
"Word": "a thế da",
"Dict": 6,
"Mean": "Asaya (S). Disposition, mind; pleased to, desire to, pleasure.",
"Search1": "a thế da",
"Search2": "a the da"
},
{
"Id": 721,
"Word": "a thế da",
"Dict": 2,
"Mean": "Asaya (skt). 1) Ý lạc: Pleased to—Desire to—Pleasure. 2) Chủng tử: Seed.",
"Search1": "a thế da",
"Search2": "a the da"
},
{
"Id": 722,
"Word": "a thế da",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿世耶) Phạm:Àzaya. Dịch ý là ưa. Còn gọi là A xa dã. Chỉ ý niệm ưa thích tham dục. Luận Hiển dương thánh giáo quyển 3 nêu ra tham a thế da, sân a thế da, si a thế da và đẳng phần a thế da. Còn luận Câu xá quyển 14 thì lập thiện a thế da và bất thiện a thế da. Ngoài ra, cũng có chỗ A thế da được dịch là hạt giống. [X. Câu xá luận quang kí Q.14; Huyền ứng âm nghĩa Q.23].",
"Search1": "a thế da",
"Search2": "a the da"
},
{
"Id": 723,
"Word": "a thị đa",
"Dict": 8,
"Mean": "3610梵名 Ajita。又作呵逸多。爲受佛勅永住此世濟度眾生之十六羅漢中第十五尊,與其眷屬一千五百阿羅漢共住於鷲峰山,爲護持正法,饒益有情之聖者。其形像有不同之描繪,據唐代禪月大師貫休所畫,爲雙手抱膝,開口仰視,齒牙畢露,脫掉數枚。西藏所傳爲十六羅漢中之第二尊,住於優尸羅山。〔大阿羅漢難提蜜多羅所說法住記、大明三藏法數卷四十五、羅漢圖讚集、E. Pander: Das Pantheon des Tschangtscha Hutuktu〕(參閱「十六羅漢」394)",
"Search1": "a thị đa",
"Search2": "a thi da"
},
{
"Id": 724,
"Word": "a thị đa",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A dật Đa.",
"Search1": "a thị đa",
"Search2": "a thi da"
},
{
"Id": 725,
"Word": "a thị đa",
"Dict": 2,
"Mean": "See Ajita in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a thị đa",
"Search2": "a thi da"
},
{
"Id": 726,
"Word": "a thị đa",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿氏多) Phạm:Ajita. Còn gọi A dật đa. Là tôn giả thứ mười lăm trong mười sáu vị La hán nhận giáo sắc của Phật, ở thế gian mãi mãi để cứu độ chúng sinh, cùng với một nghìn năm trăm vị La hán quyến thuộc cùng ở trên núi Linh thứu, là các bậc Thánh hộ trì chính pháp và làm lợi ích cho hữu tình. Hình tượng của ngài được vẽ tả không giống nhau. Cứ theo bức vẽ của Thiền nguyệt đại sư Quán hưu đời Đường, thì hai tay ôm đầu gối, miệng mở và nhìn lên, hàm răng để lộ và đã gãy một vài chiếc. Tây tạng truyền thì A thị đa là tôn giả thứ hai trong mười sáu vị La hán, ở trên núi Ưu thi la. [X. Đại A la hán Nan đề mật đa la sở thuyết pháp trụ kí; Đại minh tam tạng pháp số Q.45; La hán A Thị Đa đồ tán tập; E. Pander: Das Pantheon des Tschangtscha Hutuktu]. (xt. Thập Lục La Hán).",
"Search1": "a thị đa",
"Search2": "a thi da"
},
{
"Id": 727,
"Word": "A-thị-đa-phạt-để",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-lỵ-la-bạt-đề.",
"Search1": "a thị đa phạt để",
"Search2": "a thi da phat de"
},
{
"Id": 728,
"Word": "a thị đa phạt để",
"Dict": 2,
"Mean": "Ajiravati (skt)—A Li Da Bạt Đề—A Thị Da Phạt Để—A Chi La Bà Đề—Tên sông A Li La Bạt Đề (thời Đường gọi sông nầy là Vô Thắng, Đức Thế Tôn đã nhập diệt bên bờ sông nầy)—The river Hiranyavati.",
"Search1": "a thị đa phạt để",
"Search2": "a thi da phat de"
},
{
"Id": 729,
"Word": "a thị đa phạt để hà",
"Dict": 8,
"Mean": "3640阿恃多伐底,梵名 Ajitavatī,意譯無勝。位於中印度拘尸那揭羅國。又作阿恃多跋底河、阿爾多嚩底河。略稱跋提河。釋尊於此河西岸涅槃,此河因之著名。 此河亦有譯作阿利羅跋河,大唐西域記卷六之註(大五一‧九○三中):「舊云阿利羅跋提河,訛也,典言謂之尸賴拏伐底河,譯曰有金河。」阿利羅跋提河之譯名出於北本涅槃經卷一,而於南本涅槃經卷一則將之譯爲阿夷羅跋提河。又四分律卷三十六等作阿夷羅婆提河,五分律卷七、卷八作阿夷羅河,善見律毘婆沙卷七作阿寅羅波帝夜江,有部毘奈耶卷四十作阿市羅跋底河。此或爲巴利名 Aciravatī 之音譯。此外,尸賴拏伐底河又作[⿰酉 香]連然鉢底河、熙連若婆底河、熙連禪河、希連禪河、醯連溪水,相當於巴利名 Hiraññavatī,梵名 Hiraṇyavatī,含「有金」之義。總之,玄奘將 Ajitavatī, Hiraṇyavatī, Aciravatī 等三名視爲同一河。 關於此河之位置,華特士(T. Watters)以爲係今之干達克河(Gandak);巴嗄杜魯(R. Bahādur)則以今之小拉普提河(Little Rapti)爲古之阿夷羅跋提河,而以干達克河爲古之尸賴拏伐底河。〔高僧法顯傳、翻譯名義集卷七、解說西域記、印度佛蹟實寫解說、T. Watters: On Yuan Chwang, vol. Ⅱ〕",
"Search1": "a thị đa phạt để hà",
"Search2": "a thi da phat de ha"
},
{
"Id": 730,
"Word": "a thị đa phạt để hà",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿恃多伐底河) A thị đa phạt để, Phạm: Ajitavatì. Dịch ý là Vô thắng. Con sông ở nước Câu thi na yết la thuộc trung Ấn độ. Còn gọi là A thị đa bạt để hà, A nhĩ đa phạ để hà. Nói tắt là Bạt đề hà. Đức Thế tôn nhập Niết bàn bên tây ngạn con sông này, vì thế nó được nổi tiếng. Sông này cũng có người phiên là A lị la bạt đề hà. Đại đường tây vực kí chú quyển 6 (Đại 51, 903 trung): Các nhà dịch cũ phiên A lị la bạt đề hà là sai, trong sách nói Thi lại noa phạt để hà, dịch là sông có vàng. Tên dịch A lị la bạt để hà có xuất xứ từ kinh Niết bàn (bản Bắc) quyển 1, nhưng trong kinh Niết bàn (bản Nam) quyển 1, thì lại dịch là A di la bạt đề hà. Lại luật Tứ phần quyển 36 thì gọi là A di la bà đề hà, luật Ngũ phần quyển 7, quyển 8, thì gọi là A di la hà. Thiện kiến luật tì bà sa quyển 7 gọi là A dần la ba đế dạ giang, Hữu bộ tì nại da quyển 40, gọi là A thị la bạt-để hà. Đây có thể là tên dịch âm trong tiếngPāli Aciravatì. Ngoài ra, Thi lại noa phạt để hà còn được gọi là Hinh liên nhiên bát để hà, Hi liên nhã bà để hà, Hi liên thiền hà, Hê liên khê thủy, tương đương với tên Pāli Hiraĩĩavatì, tên PhạmHiraịyavatì, hàm nghĩa là có vàng. Tóm lại, ngài Huyền trang coi ba tênAjitavatì,Hiraịyavatì vàAciravatì cùng là một con sông. Về vị trí của con sông này, thì T. Watters cho là sông Can-đạt-khắc (Gandak) ngày nay; R. Bahàdur thì cho sông Tiểu lạp phổ đề (Little Rapti) ngày nay tức là sông A di la bạt đề ngày xưa, và cho sông Can đạt khắc là sông Thi lại noa phạt để ngày xưa. [X. Cao tăng Pháp hiển truyện; Phiên dịch danh nghĩa tập Q.7; Giải thuyết tây vực kí; Ấn độ Phật tích thực tả giải thuyết; T. Watters: On Yuan Chwang, Vol.II].",
"Search1": "a thị đa phạt để hà",
"Search2": "a thi da phat de ha"
},
{
"Id": 731,
"Word": "a thi la bà na",
"Dict": 2,
"Mean": "Sravana (skt)—See Thập Nhị Nguyệt (5).",
"Search1": "a thi la bà na",
"Search2": "a thi la ba na"
},
{
"Id": 732,
"Word": "a thỉ tống niệu",
"Dict": 8,
"Mean": "4514禪林用語。如廁大便謂屙屎,小便謂送尿。臨濟慧照禪師語錄(大四七‧四九八上):「屙屎送尿,著衣喫飯,困來即臥,愚人笑我,智乃知焉。」此係禪林中常用以表示日常生活無非佛作佛行之用語。林間錄卷上則載(卍續一四八‧三○一上):「慈明訶曰:『著衣喫飯不是畢竟,痾屎送尿不是畢竟。』」",
"Search1": "a thỉ tống niệu",
"Search2": "a thi tong nieu"
},
{
"Id": 733,
"Word": "a thỉ tống niệu",
"Dict": 8,
"Mean": "Khi đi tiêu gọi là a thỉ, đi tiểu gọi là tống niệu. [i]Lâm Tế Huệ Chiếu Thiền sư ngữ lục[/i] (Đại 47, 458 thượng) ghi: »屙 屎 送 尿、著 衣 喫 飯、困 來 即 臥、愚 人 笑 我、智 乃 知 焉。– [i]Đi tiêu đi tiểu, mặc áo ăn cơm, mệt mỏi thì nằm nghỉ, kẻ ngu cười ta, người trí biết ta[/i]«. Đây là thuật ngữ thường dùng Thiền để biểu thị mọi sinh hoạt hàng ngày đều là việc làm của Phật, hạnh của Phật. Lâm Gian lục, q. thượng (Vạn Tục 148, 301 thượng) ghi: »慈 明 呵 曰:著 衣 喫 飯、不 是 畢 竟、屙 屎 送 尿、不 是 畢 竟。– [i]Từ Minh mắng rằng: Mặc áo ăn cơm chẳng phải là cứu cánh, đi tiêu đi tiểu chẳng phải là cứu cánh[/i]«.",
"Search1": "a thỉ tống niệu",
"Search2": "a thi tong nieu"
},
{
"Id": 734,
"Word": "a thỉ tống niệu",
"Dict": 1,
"Mean": "(屙屎送尿) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Như đi đại tiện gọi là a thỉ, đi tiểu tiện gọi là tống niệu. Lâm tế Tuệ chiếu thiền sư ngữ lục (Đại 47, 498 thượng): A thỉ tống niệu (đi ngoài, đi giải), mặc áo ăn cơm, nhọc mệt thì nằm, kẻ ngu cười ta, người trí mới biết. Từ ngữ này được dùng trong Thiền lâm để biểu thị sự sinh hoạt hàng ngày, không một việc gì không là việc Phật, không một hạnh gì không là hạnh Phật. Lâm gian lục quyển thượng thì chép (Vạn tục 148, 301 thượng): Từ Minh quở rằng: Mặc áo ăn cơm chẳng là rốt ráo, đi đại, đi tiểu (a thỉ tống niệu) chẳng là rốt ráo.",
"Search1": "a thỉ tống niệu",
"Search2": "a thi tong nieu"
},
{
"Id": 735,
"Word": "a thời phọc ca phái",
"Dict": 8,
"Mean": "3654阿時縛迦,梵名 Ājīvika 或 Ājīvaka,意譯「爲得生活而修行者」。又稱阿時婆迦派、阿寅婆迦派。乃佛教興起時期,古印度自由思想學派之一,與順世外道(梵 Lokāyata,音譯路伽耶陀)地位同等重要。以佛教立場觀之,爲一邪命派、邪命外道。此派代表爲外道六師之一的末伽梨拘舍梨子(梵 Maskarī Gośālīputra)。佛陀時代,與佛教、耆那教並行於世。此派主張無因論、自然論,強調人類世界之苦樂並無原因,只是一種自然的結合,結合時爲「得」,分散時則爲「失」,並承認有地、水、火、風、虛空、靈魂。今流傳者僅爲片段,從末伽梨拘舍梨子之思想背景推斷,爲一種傾向無因無緣之宿命論。",
"Search1": "a thời phọc ca phái",
"Search2": "a thoi phoc ca phai"
},
{
"Id": 736,
"Word": "a thời phọc ca phái",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿時縛迦派) A thời phọc ca, Phạm: Àjìvika, hoặc Àjìvaka. Dịch ý là người được sinh sống mà tu hành. Còn gọi là A thời bà ca phái, A dần bà ca phái. Là một trong những học phái tự do tư tưởng tại Ấn độ xưa, vào thời kì Phật giáo hưng khởi, địa vị của phái này trọng yếu ngang với phái Thuận thế ngoại đạo (Phạm: Lokàyata, dịch âm là Lộ già da đà). Đứng trên lập trường của Phật giáo mà nhận xét, thì đây là một phái tà mệnh, tà mệnh ngoại đạo. Đại biểu cho phái này là Mạt già Lê câu xá lê tử (Phạm: Maskarì Gozàlìputra), là một trong sáu phái ngoại đạo. Vào thời đại đức Phật, phái này cùng thịnh hành ở đời, song song với Phật giáo và Kì na giáo. Phái này chủ trương Vô nhân luận , Tự nhiên luận, cho rằng sự khổ vui của con người trong thế gian chẳng có nguyên nhân gì cả, chỉ là sự kết hợp tự nhiên, khi kết hợp thì là được, mà khi phân tán thì là mất, đồng thời, thừa nhận có đất, nước, lửa, gió, hư không và linh hồn. Tư tưởng của phái này nay chỉ còn lờ mờ bàng bạc, đứt nối vụn vặt; nếu từ bối cảnh tư tưởng của Mạt già lê câu xá lê tử mà suy đoán, thì chủ trương của phái này là một loại Túc mệnh luận...... phủ định nhân quả.",
"Search1": "a thời phọc ca phái",
"Search2": "a thoi phoc ca phai"
},
{
"Id": 737,
"Word": "a thuận na",
"Dict": 2,
"Mean": "Arjuna (skt). 1) Màu trắng bạc: White—Silvery. 2) Một loại cây: A kind of tree—See Arjuna in Sanskrit/Pali-Vietnamese Section.",
"Search1": "a thuận na",
"Search2": "a thuan na"
},
{
"Id": 738,
"Word": "a thuận na thụ",
"Dict": 8,
"Mean": "3664阿順那,梵語 arjuna。又作額順那。學名 Pentaptera arjuna。係產於印度之喬木,樹皮光滑,葉片大而呈對生,寬約三公分,長約十六至二十公分。其果實爲長方形,不可食用。傳說龍樹菩薩即出生於該種樹木之下。〔龍樹菩薩傳、中觀論疏卷一本、十二門論宗致義記卷上〕",
"Search1": "a thuận na thụ",
"Search2": "a thuan na thu"
},
{
"Id": 739,
"Word": "a thuận na thụ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿順那樹) A thuận na, Phạm:Arjuna. Còn gọi là Ngạch thuận na. Tên khoa học là Dentaptera arjuna. Là loại kiều mộc sinh sản ở Ấn độ, da cây láng bóng, mảnh lá to và sinh cặp đôi; rộng khoảng ba phân tây, dài độ mười sáu đến hai mươi phân tây, quả dài và hình vuông, không ăn được. Tương truyền là bồ tát Long thụ đã sinh ra ở dưới gốc cây này. [X. Long thụ bồ tát truyện; Trung quán luận sớ Q.1 phần đầu; Thập nhị môn luận Tông trí nghĩa kí Q.thượng].",
"Search1": "a thuận na thụ",
"Search2": "a thuan na thu"
},
{
"Id": 740,
"Word": "a thuật đạt",
"Dict": 8,
"Mean": "3658梵名 Asuddharta。意譯無愁憂、無畏德。爲佛世時,摩揭陀國阿闍世王之女。十二歲即能論大道。據阿術達菩薩經載,此女年十二,端正姣好,光色第一,能論大道,有神猛之行,供養無央數之佛。",
"Search1": "a thuật đạt",
"Search2": "a thuat dat"
},
{
"Id": 741,
"Word": "a thuật đạt",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿術達) Phạm: Asuddharta. Dịch ý là Vô sầu ưu (không lo sầu), Vô úy đức (đức không sợ). Là con gái của vua A xà thế, nước Ma yết đà, ở thời đại Phật. Lên mười hai tuổi đã có khả năng bàn luận đạo lớn. Cứ theo kinh A thuật đạt bồ tát chép, thì người con gái này năm mười hai tuổi, tướng mạo đẹp đẽ, nhan sắc bậc nhất, có thể luận bàn đạo lớn, mạnh dạn như thần, cúng dường vô ương số Phật.",
"Search1": "a thuật đạt",
"Search2": "a thuat dat"
},
{
"Id": 742,
"Word": "a thúc ca",
"Dict": 7,
"Mean": "1- Theo sử ghi trên đá trong xứ của ngài, lên ngôi năm 273BC, thì ngài được tôn vương năm 268 BC, qui y Phật năm 261 BC, thọ Tỳ kheo năm 259BC. Ngài mở đại hội kết tập thứ nhất, ở ngôi 37 năm, tịch năm 256 BC. 2- Hoa Vô Ưu: Hoa A du ca, A thúc ca. Hoa được người Ấn độ ăn hay dâng cúng thần Siva. 3- Vị thị giả Phật Tỳ bà Thi, dịch là: A thúc Ca, Vô Ưu tử Phương Ưng.",
"Search1": "a thúc ca",
"Search2": "a thuc ca"
},
{
"Id": 743,
"Word": "a thuỳ",
"Dict": 8,
"Mean": "3673禪林用語。意即「誰」。「阿」字乃發語詞,其音爲「屋」,對人親暱之稱多冠以「阿」。魏晉以後,其風尤盛,或冠於名上,或冠於字上,或冠於姓上,如三國志所載吳國呂蒙有「吳下阿蒙」之稱,乃至於俗呼小兒常稱阿某,故「阿誰」即爲「誰」,乃「何人」之意。於禪林中,常用來轉指佛性,如「他是阿誰」、「阿誰話斷紙」,均爲參究公案時之口頭用語。蓋參究人人本具之佛性乃宗門之大事,於「他是阿誰」一語中,特以原爲疑問用語之「阿誰」作爲「佛性」之代稱,並以之爲參究對象,令學人領悟「他是阿誰」之主詞「他」,既非向外求取可得者,亦非執著內心而能求得者。如禪宗無門關第四十五則(大四八‧二九八下)︰「東山演祖師曰︰『釋迦、彌勒猶是他奴,且道他是阿誰?』」",
"Search1": "a thuỳ",
"Search2": "a thuy"
},
{
"Id": 744,
"Word": "a thuỳ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿誰) Tiếng dùng trong Thiền lâm. Hàm ý là ai?. Chữ A là tiếng đầu tiên, âm là ốc, cách xưng hô đối với những người thân thiết, phần nhiều bắt đầu bằng tiếng A. Đời Ngụy Tấn trở về sau, phong tục này càng thịnh hành, hoặc đặt nó trên tên người, hoặc đặt trước tên chữ, hoặc đặt trước họ, như trong Tam quốc chí chép Ngô quốc Lữ mông, gọi là: A mông nước Ngô, cho đến người đời gọi trẻ con thường gọi A mỗ, vì thế A thùy hàm ý là ai?, ai đó?. Trong Thiền lâm, từ này thường được chuyển dụng để chỉ Phật tính, như Tha thị a thùy? (Người ấy là ai?), A thùy thoại đoạn chỉ? (Ai nói chuyện dứt giấy?), đều là những tiếng trên cửa miệng khi tham cứu các công án. Bởi vì, sự tham cứu về tính Phật mà ai ai cũng vốn có, là một việc lớn của Thiền môn. Đối với mệnh đề Tha thị a thùy? (Người ấy là ai?), đặc biệt dùng nghi vấn từ A thùy (ai?) để gọi thay Phật tính, đồng thời, lấy đó làm đối tượng tham cứu, khiến người ọc hiểu rằng, chủ từ Người ấy trong mệnh đề Người ấy là ai?, chẳng phải tìm cầu ở bên ngoài mà được, cũng chẳng phải chấp trước trong nội tâm mà có thể tìm được. Như Thiền tông vô môn quan, tắc 45 (Đại 48, 298 hạ): Thích ca, Di lặc cũng là đầy tớ của người ấy, thử nói người ấy là ai? (Lời của Đông sơn Diễn tổ sư).",
"Search1": "a thuỳ",
"Search2": "a thuy"
},
{
"Id": 745,
"Word": "a thuyết la bộ",
"Dict": 2,
"Mean": "Aisvarikas (skt)—Một trường phái thờ Thần ở Népal, đặt A Đề Phật lên hàng Tối Thánh—A theistic school of Nepal, which set up Adi-Buddha as a supreme divinity.",
"Search1": "a thuyết la bộ",
"Search2": "a thuyet la bo"
},
{
"Id": 746,
"Word": "a thuyết tha",
"Dict": 2,
"Mean": "Asvattha (skt)—A Thấp Ba Tha—A Xá Ba Đà—A Thâu Tha. 1) Cây Bồ Đề: Bodhi-tree. 2) Vô Tội Thụ: Gọi là cây vô tội vì bất cứ ai đi quanh nó ba vòng sẽ hoàn toàn rũ bỏ mọi tội lỗi—No-sin tree, because whoever goes around it three times is rid of sin.",
"Search1": "a thuyết tha",
"Search2": "a thuyet tha"
},
{
"Id": 747,
"Word": "a thuyết tha thụ",
"Dict": 8,
"Mean": "3667阿說他,梵語 aśvattha。又作閼說他樹、阿濕波他樹。意譯爲吉祥樹、無罪樹。學名 Ficus religiosa。乃畢波羅樹(梵 pippala)之異稱。釋迦牟尼佛曾於阿說他樹下成正覺,故又稱菩提樹。華嚴經探玄記卷二十(大三五‧四八二上):「阿說他樹,此云無罪樹。謂遶三匝,能滅罪障。此是菩提樹。」此樹爲釋迦牟尼佛成道之聖樹,不僅佛教徒尊崇,印度自古即視爲神木,用以造供具,或供火時用作護摩木。〔佛所行讚卷三、蘇悉地羯羅供養法、有部毘奈耶藥事卷一、高僧法顯傳〕(參閱「菩提樹」5208)",
"Search1": "a thuyết tha thụ",
"Search2": "a thuyet tha thu"
},
{
"Id": 748,
"Word": "a thuyết tha thụ",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿說他樹) A thuyết tha, Phạm:azvattha. Còn gọi là At thuyết tha thụ, Ba thấp ba tha thụ. Dịch ý là Cát tường thụ (cây tốt lành), Vô tội thụ (cây vô tội). Tên khoa học là Ficus religiosa. Là tên gọi khác của cây Tất ba la (Phạm: Pippala). Đức Phật Thích ca mâu ni đã thành chính giác dưới gốc cây A thuyết tha, vì thế còn gọi là cây Bồ đề. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 20 (Đại 35, 482 thượng): Cây A thuyết tha, Hán dịch là cây vô tội. Nghĩa là đi quanh cây này ba vòng có thể diệt được tội chướng, đó là cây Bồ đề. Vì đức Phật Thích ca mâu ni ngồi dưới gốc cây này mà thành đạo, cho nên, không những chỉ tín đồ Phật giáo tôn sùng, mà từ xưa cả Ấn độ cũng coi là cây Thần, dùng để làm các đồ cúng dường, hoặc khi cúng lửa thì dùng làm cây hộ ma. [X. Phật sở hành tán Q.3; Tô tất địa yết la cúng dường pháp; Hữu bộ tì-nại-da dược sự Q.1; Cao tăng Pháp hiển truyện] (xt. Bồ Đề Thụ).",
"Search1": "a thuyết tha thụ",
"Search2": "a thuyet tha thu"
},
{
"Id": 749,
"Word": "a thuyết thị",
"Dict": 8,
"Mean": "3667梵名 Aśvajit,巴利名 Assaji。五比丘之一。又作阿濕婆氏多、阿濕縛伐多、阿濕婆、阿鞞。意譯馬勝、馬星。敬稱「尊者正願」。其威容端正,行步穩重,爲時人所稱歎;一日,舍利弗邂逅之,因感其威儀殊勝,乃問其所從師法爲誰,阿說示乃告以佛陀開示之因緣生滅道理,舍利弗遂歸依佛門,後證得法眼淨。〔增一阿含經卷三、佛本行集經卷二十五、卷三十四、卷四十八、大智度論卷十八〕",
"Search1": "a thuyết thị",
"Search2": "a thuyet thi"
},
{
"Id": 750,
"Word": "a thuyết thị",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem A xả bà thệ.",
"Search1": "a thuyết thị",
"Search2": "a thuyet thi"
},
{
"Id": 751,
"Word": "a thuyết thị",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿說示) Phạm:Azvajit, Pāli: Assaji. Là một trong năm vị tỉ khưu. Còn gọi là Ba thấp bà thị đa, A thấp phọc phạt đa, Ba thấp bà, A tì. Dịch ý là Mã thắng, Mã tinh...... Được kính xưng là Tôn giả Chính nguyện. Nghi dung đoan chính, đi đứng nghiêm trang, được người đương thời kính trọng. Một hôm, ngài gặp Xá lợi phất, vì thấy uy nghi khác thường, Xá lợi phất mới hỏi thầy của A thuyết thị là ai, nhân đó, A thuyết thị liền nói về đạo lí nhân duyên sinh diệt mà đức Phật đã dạy. Nghe rồi, Xá lợi phất bèn quay về theo Phật, sau chứng được Pháp nhãn tịnh. [X. kinh Tăng nhất a hàm Q.3; kinh Phật bản hạnh tập Q.25, Q.34, Q.48; luận Đại trí độ Q.18].",
"Search1": "a thuyết thị",
"Search2": "a thuyet thi"
},
{
"Id": 752,
"Word": "a tì",
"Dict": 6,
"Mean": "Avici (S) The last and deepest of the eight hot hells, where the culprits suffer, die, and are instantly reborn to suffering without interruption.",
"Search1": "a tì",
"Search2": "a ti"
},
{
"Id": 753,
"Word": "a tì bạt trí",
"Dict": 7,
"Mean": "Xem Bất thoái.",
"Search1": "a tì bạt trí",
"Search2": "a ti bat tri"
},
{
"Id": 754,
"Word": "a tì bạt trí",
"Dict": 6,
"Mean": "Xem A bệ bạt trí.",
"Search1": "a tì bạt trí",
"Search2": "a ti bat tri"
},
{
"Id": 755,
"Word": "a tị đà yết lạt nã tăng già lam",
"Dict": 8,
"Mean": "3687梵名 Aviddhakarṇa-saṃghārāma。意譯不穿耳眾園。位於中印度婆羅痆斯國(梵 Vārāṇasī)以東,戰主國(梵 Yuddhapati,巴同)首府(今之 Ghā-zīpur)東方六十餘公里處。據大唐西域記卷七謂,該伽藍周垣不廣,然雕飾甚棈美,花木與清池交錯,亭臺與樓閣櫛比鱗次,僧徒行止肅穆,眾儀庠序。 關於寺名之由來,據傳大雪山北面之睹貨邏國有樂學沙門二、三人共同發願至印度巡拜聖蹟,由於被視爲邊鄙人而遭輕蔑,不得寄宿於伽藍內,頻遭饑餓風寒之苦,以致容顏憔悴。適逢國王出遊近郊,見彼等未穿耳孔,不戴環飾,形貌垢污疲弊,驚怪而問其情由,遂起悲憫之心,即於此地建立伽藍,親自題書記載三寶之恩,並令該伽藍專充作不穿耳僧止宿之所,並禁止穿耳僧止住。是爲此寺得名及創建之由來。〔解說西域記、S. Beal: Buddhist Records of The Western World, vol. Ⅱ〕",
"Search1": "a tị đà yết lạt nã tăng già lam",
"Search2": "a ti da yet lat na tang gia lam"
},
{
"Id": 756,
"Word": "a tị đà yết lạt nã tăng già lam",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿避陀羯剌拿僧伽藍) Phạm: Avidhakarịa-saôghàràma. Dịch ý là Chùa không xỏ vòng tai. Chùa ở phía đông nước Ba la ni tư (Phạm: Vàràịasì) thuộc trung Ấn độ, cách thủ phủ (nay làGhàzìpur) nước Chiến chủ (Phạm, Pāli: Yudhapati) hơn sáu mươi cây số về phía đông. Cứ theo Đại đường tây vực kí quyển 7 nói, thì ngôi chùa này không được rộng lắm, nhưng chạm trổ rất tinh vi mĩ thuật, cây cối hoa lá và hồ nước trong giao hòa nhau, đình đài lầu gác thiết kế rất thứ lớp, tăng chúng đi đứng nghiêm túc, uy nghi tề chỉnh.Về nguyên do tên ngôi chùa từ đâu mà ra, thì cứ theo truyền thuyết, có hai, ba sa môn hiếu học, người nước Đổ hóa la ở phía bắc Đại tuyết sơn, cùng phát nguyện đến Ấn độ đi chiêm bái các nơi Phật tích, vì bị coi là người biên địa hèn hạ nên bị khinh miệt, không được phép ngủ nghỉ trong chùa, đói khát rét mướt đến nỗi thân hình tiều tụy. Một hôm, nhà vua tuần du qua đó, thấy họ chưa xỏ tai, không đeo vòng, quần áo rách rưới, thân hình nhơ bẩn, nhà vua lấy làm lạ bèn hỏi nguyên do, khi biết được rồi thì sinhh lòng thương xót, vua mới cho xây cất ngôi chùa tại nơi đó, rồi ra lệnh ngôi chùa này chỉ dành riêng cho các tăng không xuyên tai ở và cấm chỉ các tăng xỏ tai không được ở. Đó là nguyên do sáng lập và đặt tên ngôi chùa. [X. Giải thuyết tây vực kí; S. Beal: Buddhist Records of The Western World, Vol.II]",
"Search1": "a tị đà yết lạt nã tăng già lam",
"Search2": "a ti da yet lat na tang gia lam"
},
{
"Id": 757,
"Word": "A-tì-đàm",
"Dict": 9,
"Mean": "phiên âm từ Phạn ngữ Abhidharma, tức Luận tạng, một trong Tam tạng kinh điển, cũng đọc là A-tì-đạt-ma.",
"Search1": "a tì đàm",
"Search2": "a ti dam"
},
{
"Id": 758,
"Word": "a tì đàm",
"Dict": 6,
"Mean": "Abhidharma (S). Vi diệu pháp Analytic doctrine of Buddhist Canon.",
"Search1": "a tì đàm",
"Search2": "a ti dam"
},
{
"Id": 759,
"Word": "a tì đàm bát kiền độ luận",
"Dict": 8,
"Mean": "3649請參閱 小乘論 或 論 凡三十卷。印度迦㫋延子造,苻秦僧伽提婆與竺佛念共譯於建元十九年(383)。收於大正藏第二十六冊。本書乃阿毘達磨發智論之異譯本。犍度,意譯爲聚,積聚之義。以其篇章共有八聚,故稱八犍度論。(參閱「阿毘達磨發智論」3647)",
"Search1": "a tì đàm bát kiền độ luận",
"Search2": "a ti dam bat kien do luan"
},
{
"Id": 760,
"Word": "a tì đàm bát kiền độ luận",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿毗曇八犍度論) Gồm ba mươi quyển. Do ngài Ca chiên diên tử trước tác, các ngài Tăng già đề bà và Trúc phật niệm cùng dịch vào năm Kiến nguyên thứ 19 (383) đời Phù Tần, thu vào Đại chính tạng tập 26. Sách này là bản dịch khác của bộ A tì đạt ma phát trí luận. Kiền độ, dịch ý là tụ, có nghĩa là chứa nhóm. Vì các thiên, chương trong bộ luận này cộng có tám tụ, cho nên gọi là Bát kiền độ luận. (xt. A Tì Đạt Ma Phát Trí Luận).",
"Search1": "a tì đàm bát kiền độ luận",
"Search2": "a ti dam bat kien do luan"
},
{
"Id": 761,
"Word": "a tì đàm môn",
"Dict": 8,
"Mean": "3650請參閱 甘露味論 謂發智、六足等論爲通入涅槃之門,稱爲阿毘曇門。與「蜫勒門」、「空門」相對。大智度論卷十八(大二五‧一九二下):「阿毘曇門,或佛自說諸法義,或佛自說諸法名,諸弟子種種集,述解其義。」依此阿毘曇門而建立之宗,稱爲毘曇宗。〔大智度論卷二〕(參閱「蜫勒門」5911)",
"Search1": "a tì đàm môn",
"Search2": "a ti dam mon"
},
{
"Id": 762,
"Word": "a tì đàm môn",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿毗曇門) Có nghĩa là các bộ luận Phát trí và Lục túc là cửa đi thông vào Niếtbàn, cho nên gọi là A tì đàm môn. Tương đối với Côn lặc môn và Không môn. Luận Đại trí độ quyển 18 (Đại 25, 192 hạ): A tì đàm môn, hoặc Phật tự nói nghĩa các pháp, hoặc Phật tự nói tên các pháp, rồi các đệ tử thu tập lại mà giải thích nghĩa lí. Nương vào A tì đàm môn mà thành lập tông, gọi là A tì đàm tông. [X. luận Đại trí độ Q.2]. (xt. Côn Lặc Môn).",
"Search1": "a tì đàm môn",
"Search2": "a ti dam mon"
},
{
"Id": 763,
"Word": "a tì đàm sư",
"Dict": 8,
"Mean": "3650梵語 ābhidhārmika 或 ābhidharmika。意譯作論師。指博通論藏,又擅長論議者。世尊亦嘗被稱爲論師。古來以法救、妙音、世友、覺天等四師,合稱婆沙會四大論師。大乘佛教以馬鳴、龍樹、提婆、童受等四師,合稱四日論師;又以護法、德慧等十師,合稱唯識十大論師。又據翻譯名義集卷二載,上述四日論師加上勝受論師,稱爲五論師。〔大毘婆沙論卷一○五、成唯識論述記卷二、大唐西域記卷四、卷十二〕(參閱「五論師」1198)",
"Search1": "a tì đàm sư",
"Search2": "a ti dam su"
},
{
"Id": 764,
"Word": "a tì đàm sư",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿毗曇師) Phạm: Àbhidhàrmika, hoặc Àbhidharmika. Dịch ý là Luận sư. Chỉ người thông suốt Luận tạng, hoặc giỏi nghị luận. Đức Thế tôn cũng thường được xưng là luận sư. Xưa nay lấy các ngài Pháp cứu, Diệu âm, Thế hữu và Giác thiên gọi chung là Bà sa hội tứ đại luận sư (bốn vị luận sư lớn của hội Bàsa). Phật giáo Đại thừa lấy các ngài Mã-minh, Long thụ, Đề bà và Đồng thụ gọi chung là Tứ nhật luận sư (bốn vị luận sư mặt trời); lại lấy mười sư Hộ pháp, Đức tuệ v.v... gọi chung là Duy thức thập đại luận sư(mười luận sư lớn của Duy thức học). Lại cứ theo Phiên dịch danh nghĩa tập quyển 2 chép, thì Tứ nhật luận sư thêm Thắng thụ luận sư nữa, gọi là Ngũ luận sư. [X. luận Đại tì bà sa Q.105; luận Thành duy thức thuật kí Q.2; Đại đường tây vực kí Q.4, Q.12]. (xt. Ngũ Luận Sư).",
"Search1": "a tì đàm sư",
"Search2": "a ti dam su"
},
{
"Id": 765,
"Word": "a tì đàm tâm luận",
"Dict": 8,
"Mean": "3649梵名 Abhidharmahṛdaya-śāstra。凡四卷。略稱心論。印度法勝造,東晉僧伽提婆及慧遠合譯。收於大正藏第二十八冊。以發智論、六足論爲基礎的說一切有部,因大毘婆沙論之編集而確立了說一切有部之立場。由於大毘婆沙論太博大,法勝遂於西元二五○年將該書濃縮爲二五○偈,爲說一切有部重要論書之一。對小乘佛教基本概念如有漏、無漏、色法、十八界、十二因緣、三十七道品等進行論釋。計分爲十品,即:界品、行品、業品、使品、賢聖品、智品、定品、契經品、雜品、論品。於印度,此論之研習曾盛行一時,其釋論亦有數部。東晉孝武帝太元九年(384)僧伽提婆譯爲中文,十六年慧遠整理成四卷。異譯本有北齊那連提耶舍與法智共譯之阿毘曇心論經六卷、劉宋僧伽跋摩等譯之雜阿毘曇心論十一卷,皆收於大正藏第二十八冊。〔三論玄義、出三藏記集卷二、法經錄卷五、開元釋教錄卷三、至元法寶勘同總錄卷九〕",
"Search1": "a tì đàm tâm luận",
"Search2": "a ti dam tam luan"
},
{
"Id": 766,
"Word": "a tì đàm tâm luận",
"Dict": 6,
"Mean": "Abhidharma-hrdaya-sàstra (S). Book of Elements.",
"Search1": "a tì đàm tâm luận",
"Search2": "a ti dam tam luan"
},
{
"Id": 767,
"Word": "a tì đàm tâm luận",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿毗曇心論) Phạm: Abhidharmahfdaya - zàstra. Gồm bốn quyển. Gọi tắt là Tâm luận. Do ngài Pháp thắng trước tác, các ngài Tăng già đề bà và Tuệ viễn đời Đông Tấn cùng dịch,thu vào Đại chính tạng tập 28. Thuyết nhất thiết hữu bộ lấy luận Phát trí, luận Lục túc làm cơ sở, rồi biên tập luận Đại tìbàsa mà xác định rõ lập trường của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Vì luận Đại tì bà sa quá to lớn nên, năm 520, ngài Pháp thắng đem tóm tắt bằng hai trăm năm mươi bài kệ mà thành luận này, là một trong các bộ luận trọng yếu của Thuyết nhất thiết hữu bộ. Luận này giải thích các khái niệm cơ bản của Phật giáo Tiểu thừa, như: hữu lậu, vô lậu, sắc pháp, mười tám giới, mười hai nhân duyên, ba mươi bảy đạo phẩm. Nội dung chia làm mười phẩm, tức Giới phẩm, Hành phẩm, Nghiệp phẩm, Sử phẩm, Hiền thánh phẩm, Trí phẩm, Định phẩm, Khế kinh phẩm, Tạp phẩm và Luận phẩm. Tại Ấn độ, sự nghiên cứu và học tập bộ luận này, đã từng thịnh hành một thời, và có mấy bộ luận giải thích về nó. Vào năm Thái nguyên thứ 9 (384) đời Hiếu vũ đế nhà Đông Tấn, ngài Tăng già đềbà đem dịch ra Hán văn, đến năm thứ 16, ngài Tuệ viễn chỉnh lí thành bốn quyển. Các bản dịch khác thì có A tì đàm tâm luận kinh, 6 quyển, do các ngài Naliênđềdaxá và Pháp trí cùng dịch vào đời Bắc Tề; Tạp a tì đàm tâm luận 11 quyển, do ngài Tăng già bạt ma dịch vào đời Lưu Tống, đều thu vào Đại chính tạng tập 28. [X. Tam luận huyền nghĩa; Xuất tam tạng kí tập Q.2; Pháp kinh lục Q.5; Khai nguyên thích giáo lục Q.3; Chí nguyên pháp bảo khám đồng tổng lục Q.9].",
"Search1": "a tì đàm tâm luận",
"Search2": "a ti dam tam luan"
},
{
"Id": 768,
"Word": "a tì đàm tâm luận kinh",
"Dict": 6,
"Mean": "Abhidharma-hrdaya-sàstra-sùtra (S). -id-",
"Search1": "a tì đàm tâm luận kinh",
"Search2": "a ti dam tam luan kinh"
},
{
"Id": 769,
"Word": "a tì đàm tì bà sa luận",
"Dict": 8,
"Mean": "3650請參閱 鞞婆沙論 凡六十卷。北涼浮陀跋摩、道泰等共譯。收於大正藏第二十八冊。爲阿毘達磨大毘婆沙論之異譯本。依道挻所作之序載,本論旨在注釋八犍度,初譯成百卷,惟以北魏太武帝攻破北涼之故,經書、什物皆燒燬,其後零落收拾而僅得六十卷。六十卷中唯注釋雜、使、智等三犍度,其餘五犍度均已逸失。後世稱此論爲舊婆沙。新譯本則爲唐玄奘之阿毘達磨大毘婆沙論二百卷。(參閱「阿毘達磨大毘婆沙論」3642)",
"Search1": "a tì đàm tì bà sa luận",
"Search2": "a ti dam ti ba sa luan"
},
{
"Id": 770,
"Word": "a tì đàm tì bà sa luận",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿毗曇毗婆沙論) Gồm sáu mươi quyển. Do các ngài Phù đà bạt ma và Đạo thái đời Bắc Lương cùng dịch, thu vào Đại chính tạng tập 28. Là bản dịch khác của luận A tì đạt ma đại tì bà sa. Cứ theo bài tựa của ngài Đạo đĩnh nói, thì luận này nhằm chú thích tám Kiền độ, lúc đầu dịch thành một trăm quyển, nhưng vì Thái vũ đế nhà Bắc Ngụy đánh phá Bắc Lương, nên kinh sách bị thiêu hủy cả, về sau rơi rớt chỉ còn thu nhặt lại được có sáu mươi quyển. Trong sáu mươi quyển, chỉ chú thích có ba Kiền độ Tạp, Sử, Trí, còn năm Kiền độ kia đều bị mất. Đời sau gọi luận này là Bà sa cũ. Còn bản dịch mới là A tì đạt ma đại tì bà sa luận, hai trăm quyển, do ngài Huyền trang dịch. (xt. A Tì Đạt Ma Đại Tì Bà Sa Luận).",
"Search1": "a tì đàm tì bà sa luận",
"Search2": "a ti dam ti ba sa luan"
},
{
"Id": 771,
"Word": "A-tì-đạt-ma",
"Dict": 9,
"Mean": "xem A-tì-đàm.",
"Search1": "a tì đạt ma",
"Search2": "a ti dat ma"
},
{
"Id": 772,
"Word": "A-tì-đạt-ma",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 毗 達 磨; S: abhidharma; P: abhidhamma; T: chos mngon pa; cũng được gọi là A-tì-đàm (阿 毗 曇). Dịch nghĩa là Luận tạng, Thắng pháp tập yếu luận, có nghĩa là Thắng pháp (勝 法) hoặc là Vô tỉ pháp (無 比 法), vì nó vượt (abhi) trên các Pháp (dharma), giải thích Trí huệ;\r\nTên của tạng thứ ba trong Tam tạng. Tạng này chứa đựng các bài giảng của đức Phật và các đệ tử với các bài phân tích về Tâm và hiện tượng của tâm. A-tì-đạt-ma là gốc của Tiểu thừa lẫn Ðại thừa, xem như được thành hình giữa thế kỉ thứ 3 trước và thế kỉ thứ 3 sau Công nguyên. Lần kết tập cuối cùng của A-tì-đạt-ma là khoảng giữa năm 400 và 450 sau Công nguyên. Có nhiều dạng A-tì-đạt-ma như dạng của Thượng toạ bộ (p: theravāda), của Nhất thiết hữu bộ (s: sarvās-tivāda)… A-tì-đạt-ma là gốc của mọi trường phái và người ta dùng nó để luận giảng các bài Kinh (s: sūtra; p: sutta). \r\nA-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ được Phật Âm (佛 音; s: buddhaghoṣa) hoàn chỉnh, được viết bằng văn hệ Pā-li và bao gồm bảy bộ: 1. Pháp tập luận (法 集 論; p: dhammasaṅgaṇi): nói về các tâm pháp, sắp xếp theo từng cách thiền định khác nhau và các pháp bên ngoài, xắp xếp theo nhóm; 2. Phân biệt luận (分 別 論; p: vibhaṅga): nêu và giảng nghĩa, phân biệt những thuật ngữ như Ngũ uẩn (五 蘊; p: pañcakhandha), Xứ (處; s, p: āyatana), Căn (根; s, p: indriya) v.v.; 3. Luận sự (論 事; p: kathāvatthu): nêu 219 quan điểm được tranh luận nhiều nhất và đóng góp nhiều cho nền triết lí Phật giáo; 4. Nhân thi thiết luận (人 施 設 論; p: puggalapaññati): nói về các hạng người và Thánh nhân; 5. Giới thuyết luận (界 說 論; p: dhātukathā): nói về các Giới (界; s, p: dhātu); 6. Song luận (雙 論; p: yamaka): luận về các câu hỏi bằng hai cách, phủ định và xác định; 7. Phát thú luận (發 趣 論; paṭṭhāna hoặc mahāprakaraṇa): nói về những mối liên hệ giữa các Pháp (p: dhamma).\r\nTrong Nhất thiết hữu bộ, A-tì-đạt-ma được viết bằng Phạn ngữ (sanskrit) và Thế Thân (世 親; s: vasubandhu) là người tổng hợp. A-tì-đạt-ma này cũng bao gồm bảy bộ khác nhau, cụ thể là: 1. Tập dị môn túc luận (集 異 門 足 論; s: saṅgītipar-yāya): bao gồm những bài giảng theo hệ thống số, tương tự như Tăng-nhất bộ kinh; 2. Pháp uẩn túc luận (法 蘊 足 論; s: dharmaskandha): gần giống như Phân biệt luận trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ; 3. Thi thiết túc luận (施 設 足 論; s: pra-jñaptiśāstra): trình bày dưới dạng Kệ những bằng chứng cho những sự việc siêu nhiên, thần bí; 4. Thức thân túc luận (識 身 足 論; s: vijñānakāya): nói về các vấn đề nhận thức. Có vài chương nói về những điểm tranh luận giống Luận sự (kathāvat-thu), Giới luận (dhātukathā) và Phát thú luận (paṭṭhāna) trong A-tì-đạt-ma của Thượng toạ bộ; 5. Giới thân túc luận (界 身 足 論; s: dhātukāya): gần giống Giới thuyết luận (p: dhātukathā) của Thượng toạ bộ; 6. Phẩm loại túc luận (品 類 足 論; s: prakaraṇa): bao gồm cách xác định những thành phần được giảng dạy và sự phân loại của chúng; 7. Phát trí luận (發 智 論; s: jñānaprasthāna): xử lí những khía cạnh tâm lí của Phật pháp như Tuỳ miên (隨 眠; s: anuśaya), Trí (智; jñāna), Thiền (禪; s: dhyāna) v.v… (xem thêm Tâm sở).\r\n",
"Search1": "a tì đạt ma",
"Search2": "a ti dat ma"
},
{
"Id": 773,
"Word": "a tì đạt ma",
"Dict": 8,
"Mean": "3641梵語 abhidharma,巴利語 abhidhamma。三藏之一。又作阿毘曇、阿鼻達磨、毘曇。意譯爲對法、大法、無比法、向法、勝法、論。與經(梵 sūtra)、律(梵 vinaya)合稱爲三藏(佛教聖典之總稱),故偶以阿毘達磨藏、阿毘曇藏、對法藏或論藏等見稱。阿毘達磨原指有關教法之研究。若研究律藏者,則稱爲阿鼻奈耶。其後廣至對於經、律二藏之論述,皆稱爲阿毘達磨。其成立約於西元前後,最初僅爲簡單歸納一些佛教名詞,後卻逐漸演成解釋之形式。直到部派佛教時代,各個有力之部派皆成立各自之阿毘達磨,深奧繁瑣之哲學式教學於是展開。 俱舍論卷一載,勝義之阿毘達磨係以智慧對觀四諦之理,而對向涅槃之最高智慧,具有慧、無漏之意義。現存之阿毘達磨,主要有上座部(巴利文)與說一切有部(以漢譯爲主)二類,尤以後者孕育出大乘佛教,更其有其特殊之意義。華嚴經探玄記卷一舉出阿毘達磨之七義:(一)對法(對向、對觀),(二)數法,(三)伏法,(四)通法,(五)無比法,(六)大法,(七)釋法。〔善見律毘婆沙卷一、大毘婆沙論卷一、分別功德論卷一、俱舍論疏卷一(神泰)、大乘義章卷一〕",
"Search1": "a tì đạt ma",
"Search2": "a ti dat ma"
},
{
"Id": 774,
"Word": "a tì đạt ma",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿毗達磨) Phạm: Abhidharma, Pāli: Abhidhamma. Là một trong ba tạng. Còn gọi là A tì đàm, A tị đạt ma, Tì đàm. Dịch ý là Đối pháp, Đại pháp, Vô tỉ pháp, Hướng pháp, Thắng pháp, Luận. Cùng với Kinh (Phạm: Sùtra), Luật (Phạm:Vinaya) gọi chung là ba tạng (nói chung về Thánh điển của Phật giáo), cho nên cũng gọi là A tì đạt ma tạng, A tì đàm tạng, Đối pháp tạng hoặc Luận tạng v.v... A tì đạt ma vốn chỉ sự nghiên cứu giáo pháp. Nếu nghiên cứu tạng Luật, thì gọi là A tị nại da. Về sau, nói rộng đến cả việc tường thuật, luận cứu hai tạng Kinh và Luật đều cũng gọi là A tì đạt ma. Nó được thành lập vào khoảng trước sau Tây lịch, lúc đầu, chỉ đơn giản qui nạp một số danh từ Phật giáo, sau dần dần trở thành hình thức giải thích. Mãi đến thời đại Phật giáo bộ phái, thì các phái có thế lực, đều thành lập A tì đạt ma riêng của mình, từ đó, giáo học theo hình thức triết học thâm thúy phồn tạp bắt đầu khai triển. Luận Câu xá quyển 1 chép, A tì đạt ma thắng nghĩa là dùng trí tuệ đối quán lí bốn đế, là trí tuệ đối hướng Niết bàn tối cao, có đủ ý nghĩa tuệ, vô lậu. A tì đạt ma hiện còn, chủ yếu có hai loại là Thượng tọa bộ (văn Pāli) và Thuyết nhất thiết hữu bộ (lấy Hán dịch làm chủ), nhất là loại sau đã phôi thai ra Phật giáo Đại thừa, nên lại càng có một ý nghĩa đặc biệt. Hoa nghiêm kinh thám huyền kí quyển 1, nêu lên bảy nghĩa của A tì đạt ma: 1. Đối pháp (đối hướng, đối quán) 2. Sổ pháp 3. Phục pháp 4. Thông pháp 5. Vô tỉ pháp 6. Đại pháp 7.Thích pháp [X. Thiện kiến luật tì bà sa Q.1; luận Đại tì bà sa Q.1; luận Phân biệt công đức Q.1; Câu xá luận sớ Q.1 (Thần thái); Đại thừa nghĩa chương Q.1].",
"Search1": "a tì đạt ma",
"Search2": "a ti dat ma"
},
{
"Id": 775,
"Word": "a tì đạt ma câu xa",
"Dict": 6,
"Mean": "bhidharma-kosa (S). -id-",
"Search1": "a tì đạt ma câu xa",
"Search2": "a ti dat ma cau xa"
},
{
"Id": 776,
"Word": "a tì đạt ma câu xá hiển tông luận",
"Dict": 6,
"Mean": "Abhidharma-kosa-samaya-pradipika-sàstra (S).",
"Search1": "a tì đạt ma câu xá hiển tông luận",
"Search2": "a ti dat ma cau xa hien tong luan"
},
{
"Id": 777,
"Word": "A-tì-đạt-ma câu-xá luận",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 毗 達 磨 俱 舍 論; S: abhidharmakośa-śā-stra, thường được gọi tắt là Câu-xá luận, nghĩa là »Báu vật của A-tì-đạt-ma«, Thông minh luận (通 明 論); \r\nBộ luận quan trọng nhất của Nhất thiết hữu bộ, được Thế Thân (s: vasubandhu) soạn vào thế kỉ thứ 5 sau Công nguyên tại Kashmir. Luận gồm có hai phần: sưu tập khoảng 600 kệ A-tì-đạt-ma câu-xá luận bản tụng (s: abhidharmakośa-kārikā) và A-tì-đạt-ma câu-xá luận thích (abhidharmakośa-bhāṣya), bình giải về những câu kệ đó. Ngày nay người ta còn giữ bản tiếng Hán và tiếng Tây Tạng của luận này, đó là những tác phẩm đầy đủ nhất để trả lời các câu hỏi về kinh điển.\r\nA-tì-đạt-ma câu-xá luận phản ánh sự tiếp nối của giáo lí từ Tiểu thừa đến Ðại thừa và cũng là tác phẩm nền tảng của các tông phái Phật giáo Trung Quốc, đóng góp phần chính trong việc truyền bá và phát triển đạo Phật nơi này. Có 9 điểm được phân tích và xử lí trong luận: 1. Giới phẩm (界 品; s: dhātunirdeśa): nói về cái thể của các Giới (pháp); 2. Căn phẩm (根 品; s: indriyanirdeśa): nói về cái dụng của chư pháp; Hai phẩm trên nói về thể và dụng chung cho Hữu lậu (有 漏; s: sāśrava, tức là còn bị Ô nhiễm) và Vô lậu (無 漏; s: anāśrava, không bị ô nhiễm); 3. Thế gian phẩm (世 間 品; s: lokanirdeśa): nói về các thế giới, Lục đạo, Ba thế giới; 4. Nghiệp phẩm (業 品; s: karmanirdeśa); 5. Tuỳ miên phẩm (隨 眠 品; s: anuśayanirdeśa); Các điểm 3., 4. và 5. nói về Hữu lậu, trong đó 3. là Quả (果; kết quả), 4. là Nhân (因) và 5. là Duyên (緣); 6. Hiền thánh phẩm (賢 聖 品; s: pudgalamārga-nirdeśa); 7. Trí phẩm (智 品; s: jñānanirdeśa): nói về mười loại trí; 8. Ðịnh phẩm (定 品; s: samādhi-nirdeśa); Các điểm 6., 7. và 8. nói về Vô lậu, trong đó 6. là Quả, 7. là Nhân và 8. là Duyên; 9. Phá ngã phẩm (破 我 品; s: pudgalaviniścaya): nói về lí Vô ngã (s: anātman), phá tà, chống lại thuyết của Ðộc Tử bộ. Phẩm này là một phẩm độc lập và cũng là phẩm cuối của bộ luận.\r\n",
"Search1": "a tì đạt ma câu xá luận",
"Search2": "a ti dat ma cau xa luan"
},
{
"Id": 778,
"Word": "a tì đạt ma câu xá luận",
"Dict": 8,
"Mean": "3644梵名 Abhidharmakośa-śāstra。略稱俱舍論。意譯對法藏論、聰明論。乃部派佛教教理之集大成,大毘婆沙論之綱要書。西元四五○年世親菩薩(梵 Vasubandhu)所著。漢譯本有二,一爲陳天嘉四年(563),真諦所譯之阿毘達磨俱舍釋論二十二卷,世稱舊俱舍;對之,唐永徽二年(651)玄奘所譯之三十卷,歷來爲法相宗之基本教本,則稱新俱舍。兩本均收於大正藏第二十九冊。 本論在印度、西藏、中國、日本均廣受研究,優良之注釋書亦多。要理解部派佛教,以及大乘佛教之基礎,則俱舍論之價值甚大。世親雖一面以說一切有部教學爲標準,然亦以批判態度介紹經量部與大眾部等學說,以「理長爲宗」之立場造俱舍論。又大乘經典及大乘論書以有部教學爲基礎,或爲破斥有部而作的佔多數。故此一以批判態度將繁雜之有部教學整理而成之俱舍論,乃廣受大小乘學者之珍視。本論之教理多採自大毘婆沙論,又本論之體系與教理之整理方法,傳說曾受法救所造雜阿毘曇心論之影響。 本書基本反映當時流行於迦濕彌羅之有部關於世界、人生及修行之主要學說,並吸收經量部之許多觀點。內容由界、根、世間、業、隨眠、賢聖、智、定等八品構成,另又附錄破我品,則成九品。其中:(一)界品與(二)根品,說明現實世界(物質與精神界)成立之要素「法」,並說明有爲、無爲、五蘊、十二處、十八界、二十二根、六因四緣等名相。(三)世間品,說明地獄乃至天界之生物世界(有情世界)與物理世界(器世界),並介紹印度之宇宙觀及地理說,此外,更解說十二緣起,說明輪迴之相狀,此即業感緣起論。(四)業品,說明輪迴之原因,並細分業之種類。(五)隨眠品,敘述煩惱,將其分類爲六大煩惱、十隨眠、八十八使、百八煩惱,並介紹過去、未來、現在等三世實有論,而加以破斥。世間、隨眠、業等三品係明示迷之世界(有漏),至於(六)賢聖品,則將悟入之階位分爲凡夫位之三賢、四善根,聖者位之四雙八輩,又說明悟入之觀法即四諦十六現觀。(七)智品,則是說明世俗智、法智、類智等十智爲獲得開悟之智慧,並說明十八不共法。(八)定品,除說明產生聖智基礎之禪定外,復說明四禪、四無色定、三解脫門、四無量心等其他禪定。(九)破我品,則是站在無我之立場,以破斥犢子部之非即非離蘊我及勝論之我等,即明示無我之道理。 如上所說,本論將廣博繁雜之毘婆沙教理技巧地整理爲八品,體系嚴整,論旨明徹,冠於諸論,爲有部教學之綱要書。蓋古來諸師論及本論之宗,或謂屬於有部,或爲二十部中之理長爲宗,或爲經部之別宗,或謂稟承依有部,意許取理長等諸異說。 在我國,俱舍論譯出後即取代前此之毘曇宗。日本於奈良時代傳入俱舍論而成立俱舍宗之一派,且以俱舍論爲基礎之研學傳統延續至現代。在印度以及西藏佛教亦盛行研究此論。梵本已於西藏發現,然僅刊行偈頌(V.V. Gokhale: The Text of the Abhidharmakośakārikā of Vasubandhu, 1946),俱舍本論則在印度巴特那(Patna)出版(P. Pradhan: Abhidharmakośa-bhāṣya of Vasubandhu, 1967)。偈頌與俱舍論均有西藏譯本,即:Chos-mṅon-paḥimdsod-kyi tshig leḥur byas-pa(Abhidharmakośa-kārikā,北京版 115, pp. 115~127 與 Chos-mṅon-paḥi mdsod-kyi bśad-pa(Abhidharmakośa-bhāṣya,北京版 115, pp. 127~283)。 據傳在印度曾有德慧、世友、安慧、陳那、稱友、滿增(梵 Pūrṇavardhana)、寂天(梵 Śamathadeva)等之注釋,現存者唯稱友所作。又有 U. Wogihara:Sphuṭārthā Abhidharmakośavyākhyā, 1~7(Tokyo, 1932~1936),此釋本亦有西藏譯本,頗受重視。即:Chos-mṅon-paḥi mdsod-kyi ḥgrel-bśad(Abhidharmakoṣa-ṭīkā,北京版 116, pp. 43~117),西藏譯除此外猶保存有滿增、寂天、陳那等之注釋。 漢譯有安慧俱舍論實義疏之殘本五卷,敦煌本有此書(收於大正藏第二十九冊),真諦注舊俱舍之疏十六卷、義疏五十三卷等已逸失。注釋玄奘之譯著,有普光之俱舍論記三十卷及法寶之俱舍論疏三十卷,向來被視爲研究俱舍論之指南書。圓輝之俱舍論頌疏三十卷亦受珍視,此疏省略爭論部分,簡明地解釋有部之教理,故容易理解。近年日人旭雅撰冠導俱舍論一書亦常被利用;法宣著俱舍論講義十卷,對初學者極有助益。我國有演培之俱舍論頌講記一書。〔大唐西域記卷四、歷代三寶紀卷九、開元釋教錄卷七、卷八、阿毘達磨論の研究(木村泰賢)、小乘仏教思想論(木村泰賢著,演培譯)、俱舍論講義(舟橋一哉)、俱舍論の教義及び其發達(舟橋一哉)、俱舍論の原典解明(山口益、舟橋一哉)、Th. Stcherbatsky: The central conception of Buddhism and the meaning of the word“Dharma”, London, 1923; O. Rosenberg: Die Probleme der buddhistischen Philosophie, Heidelberg, 1924〕",
"Search1": "a tì đạt ma câu xá luận",
"Search2": "a ti dat ma cau xa luan"
},
{
"Id": 779,
"Word": "a tì đạt ma câu xá luận",
"Dict": 6,
"Mean": "Abhidharma-kosa-sàatra (S). -id-",
"Search1": "a tì đạt ma câu xá luận",
"Search2": "a ti dat ma cau xa luan"
},
{
"Id": 780,
"Word": "a tì đạt ma câu xá luận",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿毗達磨俱舍論) Phạm: Abhidharmakoza-zàstra. Gọi tắt là Câu xá luận. Dịch ý là Đối pháp tạng luận, Thông minh luận. Là tập đại thành giáo lí của Phật giáo bộ phái, là sách cương yếu của luận Đại tì bà sa. Bồ tát Thế thân (Phạm: Vasubandhu) trước tác vào năm 450 Tây lịch. Hán dịch có hai bản, một do ngài Chân đế dịch vào năm Thiên gia thứ 4 (563) đời Trần là A tì đạt ma câu xá thích luận 22 quyển, đời gọi là Câu xá cũ; một do ngài Huyền trang dịch vào năm Vĩnh huy thứ 2 (651) đời Đường, 30 quyển, là giáo pháp chủ yếu trước nay của tông Pháp tướng, đời gọi là Câu xá mới. Cả hai bản đều được thu vào Đại chính tạng tập 29. Bộ luận này được nghiên cứu rộng rãi cả ở Ấn dộ, Trung quốc, Tây tạng và Nhật bản, những sách chú thích ưu tú cũng rất nhiều. Đối với việc lí giải Phật giáo Bộ phái và nền tảng của Phật giáo Đại thừa, luận Câu xá có một giá trị rất lớn. Ngài Thế thân tuy một mặt lấy giáo học của Thuyết nhất thiết hữu bộ làm tiêu chuẩn, nhưng, mặt khác, cũng lấy thái độ phê phán để giới thiệu học thuyết của Kinh lượng bộ và Đại chúng bộ, đứng trên lập trườnglí trường vi tông mà viết luận Câu xá. Lại các kinh điển Đại thừa và các luận thư Đại thừa lấy giáo học của Hữu bộ làm cơ sở, hoặc để bác xích Hữu bộ mà viết ra, cũng chiếm đa số. Vì lẽ luận Câu xá là kết quả của thái độ phê phán, đem giáo học phồn tạp của Hữu bộ chỉnh lí mà thành, cho nên nó được các học giả của cả Đại thừa và Tiểu thừa trân trọng. Giáo lí của bộ luận này, phần nhiều được trích ra từ luận Đại tì bà sa và, theo truyền thuyết, thể hệ và phương pháp chỉnh lí giáo lí trong luận này đã chịu ảnh hưởng của luận Tạp a tì đàm tâm của ngài Pháp cứu. Luận Câu xá căn bản là phản ánh cái học thuyết chủ yếu của Hữu bộ về thế giới, nhân sinh và tu hành mà hiện đang lưu hành tại Ca thấp di la vào thời bấy giờ, đồng thời, hấp thu nhiều quan điểm của Kinh lượng bộ. Nội dung được cấu thành bởi tám phẩm Giới, Căn, Thế gian, Nghiệp, Tùy miên, Hiền Thánh, Trí và Định, ngoài ra, lại phụ thêm phẩm Phá ngã mà thành chín phẩm. Trong đó: 1.Giới phẩm 2.Căn phẩm, thuyết minh thế giới hiện thực (vật chất và tinh thần giới), thành lập yếu tố Pháp, đồng thời, thuyết minh các danh tướng hữu vi, vô vi, năm uẩn, mười hai xứ, mười tám giới, hai mươi hai căn, sáu nhân bốn duyên v.v... 3.Thế gian phẩm, thuyết minh thế giới sinh vật (hữu tình) từ địa ngục cho đến các cõi trời, và thế giới vật lí (khí thế giới), đồng thời, giới thiệu vũ trụ quan và địa lí thuyết của Ấn độ, ngoài ra, còn giải thuyết mười hai duyên khởi, thuyết minh tướng trạng luân hồi, đó tức là Nghiệp cảm duyên khởi luận.4.Nghiệp phẩm, thuyết minh nguyên nhân của luân hồi, và chia nhỏ các chủng loại nghiệp. 5.Tùy miên phẩm, tường thuật phiền não, phân loại thành sáu đại phiền não, mười tùy miên, tám mươi tám sử, một trăm lẻ tám phiền não, đồng thời, giới thiệu quá khứ, vị lai, hiện tại, ba đời thực có để mà bác bỏ. Ba phẩm Thế gian, Tùy miên và Nghiệp là chỉ bày rõ cái thế giới mê vọng (hữu lậu). 6.Phẩm Hiền thánh, thì chia các giai vị ngộ nhập làm vị phàm phu là am hiền, Tứ thiện căn, Thánh vị là Tứ song bát bối, rồi thuyết minh phép quán để ngộ nhập, tức là Tứ đế thập lục hiện quán. 7.Trí phẩm, thuyết minh mười trí là thế tục trí, pháp trí và loại trí v.v... là trí tuệ đạt được khai ngộ, đồng thời, thuyết minh mười tám pháp bất cộng. 8.Định phẩm, ngoài sự thuyết minh Thiền định căn bản đưa đến Thánh trí, còn thuyết minh các Thiền định khác, như Tứ thiền, Tứ vô sắc định, Tam giải thoát môn và Tứ vô lượng tâm v.v... 9.Phá ngã phẩm, thì đứng trên lập trường vô ngã để bác bỏ cái phi tức phi li uẩn ngã của Độc tử bộ và cái ngã của Thắng luận, rồi trình bày rõ đạo lí vô ngã. Như trên đã nói, luận Câu xá đem giáo lí bao la phồn tạp của Tì bà sa chỉnh lí thành tám phẩm một cách tuyệt kĩ, thể hệ nghiêm chỉnh, luận chỉ rõ ràng, đứng đầu các luận, là sách cương yếu của giáo học Hữu bộ. Các học giả xưa nay, khi bàn về tông chỉ của luận Câu xá, thì có người bảo nó thuộc Hữu bộ, có người cho trong hai mươi bộ, Câu xá chỉ lấy đạo lí làm tông chỉ, có người bảo nó là tông khác của Kinh bộ, lại có người cho là vâng theo Hữu bộ v.v... ý kiến rất khác nhau. Tại Trung quốc, sau khi luận Câu xá được dịch ra thì lấy nó thay cho tông Tì đàm. Luận Câu xá được truyền đến Nhật bản vào thời đại Nại lương và thành lập tông Câu xá, và cái truyền thống lấy luận Câu xá làm nền tảng cho sự nghiên cứu học tập vẫn còn kéo dài đến ngày nay. Phật giáo Ấn độ và Tây tạng cũng nghiên cứu luận này một cách rộng rãi. Nguyên bản tiếng Phạm đã được phát hiện ở Tây tạng, nhưng chỉ ấn hành kệ tụng mà thôi. (V.V. Gokhale: The Text of the Abhidharmakozakàrikà of Vasubandhu, 1946), luận Câu xá gốc thì được xuất bản tại Ba đặc na (Patna) Ấn độ (P. Pradhan: Abhidharmakoza-bhàwya of Vasubandhu, 1967). Kệ tụng và luận Câu xá đều có bản dịch Tây tạng, đó là: Chos-mon-pa#i mdsod-kyi tshig le#ur byas-pa (Abhidharmakozakàrikà, bản Bắc kinh 115, pp. 115 - 127) và Chos-mon-pa#i mdsos-kyi bzad-pa (Abhidharmakoza-bàwya, bản Bắc kinh 115, pp. 127 - 283). Cứ theo truyền thuyết, tại Ấn độ đã từng có các ngài Đức tuệ, Thế hữu, An tuệ, Trần na, Xứng hữu, Tăng mãn (Phạm: Pùrnavardhana), Tịch thiên (Phạm: Zamathadeva) v.v... chú thích Câu xá, nhưng hiện nay chỉ còn bản của ngài Xứng hữu. Còn có U. Wogihara: Sphuỉàrthà Abhidharmakozavyàkhyà, 1 - 7 (Tokyo, 1932 - 1936), bản chú thích này cũng có bản dịch Tây tạng và rất được coi trọng. Tức là: Chos-monpa#i mdsod-kyi hgrel-bzad (Abhid-harmakozatikà, bản Bắc kinh 116, pp. 43 - 117). Ngoài bản chú thích này ra, Tây tạng vẫn còn giữ được các bản chú thích của các ngài Tăng mãn, Tịch thiên và Trần na. Hán dịch thì có: Câu xá luận thực nghĩa sớ của An tuệ, năm quyển nhưng thiếu sót, bản Đôn hoàng có sách này (thu vào Đại chính tạng tập 29), Chú sớ câu xá của Chân đế mười sáu quyển, Nghĩa sớ 53 quyển đã thất lạc. Các chú thích bản dịch của ngài Huyền trang thì có: Câu xá luận kí ba mươi quyển của Phổ quang và Câu xá luận sớ ba mươi quyển của Pháp bảo, trước nay được coi là sách chỉ nam cho việc nghiên cứu luận Câu xá. Câu xá luận tụng sớ ba mươi quyển của sư Viên huy cũng được coi trọng, bản sớ này bỏ bớt các phần tranh luận, giải thích giáo lí của Hữu bộ một cách rõ ràng và đơn giản, vì thế dễ hiểu. Năm gần đây, người Nhật tên là Húc nhã soạn bộ Quán đạo câu xá luận cũng thường dẫn dụng sách của Viên huy. Pháp tuyên soạn Câu xá luận giảng nghĩa, giúp ích rất nhiều cho người mới học. Trung quốc thì có bộ Câu xá luận tụng giảng kí của Diễn bồi. [X. Đại đường tây vực kí Q.4; Lịch đại tam bảo kỉ Q.9; Khai nguyên thích giáo lục Q.7, Q.8; A tìđạt ma luận đích nghiên cứu (Mộc thôn thái hiền), Tiểu thừa Phật giáo tư tưởng luận (Mộc thôn thái hiền viết, Diễn bồi dịch); Câu xá luận đích nguyên điển giải minh (Sơn khẩu ích, Chu kiều nhất tai); Th. Stcherbasky: The Central Conception of Buddhism and the Meaning of the word Dharma, London 1923; O. Rosenberg: Die Probleme der buddhistischen Philosophie, Heidelberg, 1924].",
"Search1": "a tì đạt ma câu xá luận",
"Search2": "a ti dat ma cau xa luan"
},
{
"Id": 781,
"Word": "a tì đạt ma câu xá luận bản tụng",
"Dict": 7,
"Mean": "Abhidharma-kośa-kārikā (S)Tên một bộ luận kinh.",
"Search1": "a tì đạt ma câu xá luận bản tụng",
"Search2": "a ti dat ma cau xa luan ban tung"
},
{
"Id": 782,
"Word": "a tì đạt ma câu xá luận chú yếu nghĩa đăng",
"Dict": 7,
"Mean": "Abhidharmakośa-marmapradīpa (S)Tên một bộ luận kinh do Ngài Trần Na biên soạn.",
"Search1": "a tì đạt ma câu xá luận chú yếu nghĩa đăng",
"Search2": "a ti dat ma cau xa luan chu yeu nghia dang"
},
{
"Id": 783,
"Word": "a tì đạt ma đại thừa kinh",
"Dict": 8,
"Mean": "3642西藏名 Chos-mṅon-pa theg-pa-chen-poḥi mdo。又作阿毘達磨經(梵 Abhidharma-sūtra)、大乘阿毘達磨。本經之梵本、藏譯本、漢譯本俱不存,僅於瑜伽派之論書中,曾被援引或述說。曾引用本書之佛典,梵本有安慧之唯識三十頌釋(梵 Triṃśikā-bhāṣya)引用一處,中邊分別論疏(梵 Madhyāntavibhāga-ṭīkā)引用二處。漢譯則有攝大乘論本引用八處,大乘阿毘達磨集論卷七、大乘阿毘達磨雜集論卷十六、無性之攝大乘論釋卷一、唯識二十論述記等各有一處援引,又廣釋菩提心論所引之無盡意經亦見阿毘達磨經之名。 本經與攝大乘論之關係,依攝大乘論本之開頭與結尾經文而知,無著造攝大乘論係以暢達義理而略釋本經之攝大乘品,然南朝陳‧真諦譯之攝大乘論謂(大三一‧一一三中):「攝大乘論,即是阿毘達磨教及大乘修多羅。」由此可推測非指特定之阿毘達磨大乘一經。然一般認爲,攝大乘論本是根據阿毘達磨大乘經敘述之十勝相,以概說大乘一般之要義。〔漢譯四本對照攝大乘論(佐佐木月樵)、心意識論より見たゐ唯識思想史(結城令聞)、攝大乘論研究(宇井伯壽)、根本中と空(宮本正尊)〕",
"Search1": "a tì đạt ma đại thừa kinh",
"Search2": "a ti dat ma dai thua kinh"
},
{
"Id": 784,
"Word": "a tì đạt ma đại thừa kinh",
"Dict": 1,
"Mean": "(阿毗達磨大乘經) Tây tạng: Chos-mon-pa theg-pachen-po#i mdo. Còn gọi là A tì đạt ma kinh (Phạm:Abhidharma-sùtra), Đại thừa a tì đạt ma. Bản gốc tiếng Phạm, bản dịch Tây tạng và bản Hán dịch của kinh này đều không còn, chỉ còn được viện dẫn hoặc trích thuật trong sách luận của phái Du già. Các Phật điển đã từng dẫn dụng kinh này thì có Duy thức tam thập tụng thích (Phạm: Triôzikà-bhàwya) bằng tiếng Phạm của ngài An tuệ, dẫn dụng một chỗ, Trung biên phân biệt luận sớ (Phạm: Madhyàntavibhàgaỉikà) dẫn dụng hai chỗ. Hán dịch thì có Nhiếp đại thừa luận bản dẫn dụng tám chỗ, Đại thừa a tì đạt ma tập luận quyển 7, Đại thừa a tì đạt ma tạp tập luận quyển 16, Nhiếp đại thừa luận thích quyển 1 của ngài Vô tính, Duy thức nhị thập tụng thuật kí v.v..., mỗi bộ đều viện dẫn một chỗ, lại trong kinh Vô tận ý được dẫn ở luận Quảng thích bồ đề tâm, cũng thấy có tên A tì đạt ma kinh. Sự quan hệ giữa bộ kinh này và luận Nhiếp đại thừa, cứ dựa vào đoạn kinh văn mở đầu và kết thúc trong Nhiếp đại thừa luận bản thì biết, ngài Vô trước viết luận Nhiếp đại thừa là để thông suốt nghĩa lí mà giải thích tóm tắt kinh này trong phẩm Nhiếp đại thừa, nhưng, ngài Chân đế đời Trần, dịch luận Nhiếp đại thừa bảo (Đại 31, 113 trung): Luận Nhiếp đại thừa tức là giáo lí của A tì đạt ma và Đại thừa tu đa la. Từ đó suy ra thì biết, A tì đạt ma đại thừa không phải là một bộ kinh đặc biệt nào. Tuy nhiên, thông thường người ta cho rằng, Nhiếp đại thừa luận bản là căn cứ vào Thập thắng tướng được trình bày trong kinh A tì đạt ma đại thừa để bàn một cách khái quát về yếu nghĩa chung của Đại thừa. [X. Hán dịch tứ bản đối chiếu Nhiếp đại thừa luận (Tá tá mộc nguyệt tiều); Nhiếp đại thừa luận nghiên cứu (Vũ tỉnh bá thọ); Căn bản trung dữ không (Cung bản chính tôn)].",
"Search1": "a tì đạt ma đại thừa kinh",
"Search2": "a ti dat ma dai thua kinh"
},
{
"Id": 785,
"Word": "A-tì-đạt-ma đại tì-bà-sa luận",
"Dict": 5,
"Mean": "阿 毗 達 磨 大 毗 婆 沙 論; S: abhidharma-ma-hāvibhāṣā; cũng được gọi là Ðại tì-bà-sa luận hoặc Tì-bà-sa luận.\r\nMột bài luận do 500 vị A-la-hán biên soạn trong một cuộc hội họp do vua Ca-nị-sắc-ca (s: kaniṣka) ở nước Càn-đà-la (s: gandhāra) đề xướng. Luận này giảng giải Phát trí luận (s: jñānaprasthāna-śāstra) của Già-đa-diễn-ni tử (s: kātyāyanīputra), được Huyền Trang dịch sang Hán ngữ.\r\n",
"Search1": "a tì đạt ma đại tì bà sa luận",
"Search2": "a ti dat ma dai ti ba sa luan"
},
{
"Id": 786,
"Word": "a tì đạt ma đại tì bà sa luận",
"Dict": 8,
"Mean": "3641梵名 Abhidharmamahāvibhāṣā-śāstra。凡二百卷。略稱大毘婆沙論、婆沙論、婆沙。唐玄奘譯。收於大正藏第二十七冊。本論乃注釋印度迦多衍尼子之阿毘達磨發智論,廣明法義,備列諸種異說。自西元一○○年至一五○年間於北印度迦濕彌羅(梵 Kaśmīra,今克什米爾)編輯而作,爲部派佛教教理之集大成者。相傳係貴霜王朝迦膩色迦王與脅尊者(梵 Pārśva)招集五百阿羅漢,經十二年而成,即第四次之經典結集。 本論之內容係收集諸論師對說一切有部佛教根本聖典發智論之注釋, 與發智論同樣分雜、結、智、業、大種、根、定、見等八蘊(八章)。系統地總結「說一切有部」之理論主張,並對大眾部、法藏部、化地部、飲光部、犢子部、分別說部等部派,以及數論、勝論、順世論、耆那教等之觀點進行批駁。其中心問題爲三世實有與法體恆有論。 由於此婆沙論之編輯,部派佛教教義遂因而廣爲宣揚,對大乘佛教亦產生極大影響。異譯本爲阿毘曇毘婆沙論,凡六十卷,相當於玄奘譯本卷一一一以前之部分,爲北涼浮陀跋摩、道泰等合譯,世稱爲舊婆沙,收於大正藏第二十八冊。二論皆爲研究部派佛教之珍貴資料。〔大智度論卷二、俱舍論光記卷二、大唐西域記卷二、卷三、出三藏記集卷十、大唐內典錄卷五〕",
"Search1": "a tì đạt ma đại tì bà sa luận",
"Search2": "a ti dat ma dai ti ba sa luan"
},
{
"Id": 787,
"Word": "a tì đạt ma đại tì bà sa luận",
"Dict": 7,
"Mean": "Abhiharmahāvibhāṣā-śāstra (S)Tên một bộ luận kinh.",
"Search1": "a tì đạt ma đại tì bà sa luận",